We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 22 March 2012

Chuyện Kể Hoài Không Hết : Quê hương là trùm khế ngọt..?

Người Việt kỳ thị người Việt!




Nhân đọc bài viết của một người Nhật nhận xét về người Trung Quốc mà phần bình luận đăng trên Bauxite Việt Nam có liên hệ với đặc tính của người Việt Nam hiện nay, tôi muốn góp nhặt mấy mẩu chuyện tai nghe mắt thấy sau đây.

Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói “xí bô xí ba” gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!

Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu “Việt kiều” 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người “gốc Việt” nên không có… giá cao!

Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch Tp Hồ Chí Minh, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thư ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít “Yes, sir” và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện! Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!

Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam! Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?

Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bữa “nhậu”, ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi ếch, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được hai viên cảnh sát Mỹ “hết sức lể phép, trân trọng, và nhiệt tình” giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng “Sir”, tức là “ngài”. Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!

Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và… không nói gì cả! Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại ba câu chuyện:

Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật ba ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy hai cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!

Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, … anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là “anh em XHCN” của Việt Nam mấy năm trước đây!

Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tò ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là “người Việt Nam”, thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô… bán hoa mà cũng… đối với người Việt Nam như vậy!

Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe ba câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại qui cho tôi tội “theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc” thì mệt lắm!

Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?

Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là “trí thức”, thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có qui định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ “da trắng’ và xin được giải thích thêm. Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có hai trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người “da trắng”. Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện “đẳng cấp” của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!

Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với qui định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại “đẳng cấp” man rợ! Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường “quốc tế” như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người “da trắng” của hai vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ “quí tộc” Việt vô cùng… quái đản!

Kề lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ! Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ “tha hương” – người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!
*K. H.* *BVN*.

Về vấn đề Tôn giáo ở Việt nam hiện nay


“Sẽ có người hỏi tại sao ở Việt Nam bây giờ các cơ sở tín ngưỡng, chùa quá nhiều, nhà thờ cũng quá nhiều mà lại bảo là không có tự do tôn giáo. Xin thưa sự thực không phải như vậy, đó là chính sách mị dân, chính sách đánh lạc hướng của người cộng sản đối với tôn giáo.”
Mấy ngày vừa qua, trên mạng internet có loan truyền clip video “Thầy trò Đường Tăng đi thỉnh bao cao su” có nội dung rất phản cảm, clip video gây bức xúc trong giới Tăng Ni, Phật tử, mặc dù đoạn video này được cho là nhằm tuyên truyền sức khỏe sinh sản theo chủ trương của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhưng có nội dung báng bổ Phật giáo. Được biết clip video “Thầy trò Đường Tăng đi thỉnh bao cao su” do các sinh viên thuộc Học viện Báo chí tuyên truyền thực hiện để tham dự cuộc thi tìm kiếm thông điệp xuất sắc cho dự án “Friendly Condom” (Bao cao su thân thiện) của Ngôi nhà Tuổi trẻ – Trung tâm chăm sóc, tư vấn sức khỏe sinh sản thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” và được ban giám khảo đánh giá cao và giành giải xuất sắc.
Sự kiện này chỉ là một bằng chứng cho thấy sự suy đồi băng hoại trong đạo đức của con người XHCN đối với vấn đề tín ngưỡng tôn giáo, điều này nó xuất hiện không chỉ ở các bạn trẻ là sinh viên học sinh, mà cả ở người lớn (những người là thành viên ban giám khảo, báo chí truyền thông của nhà nước v.v…) khi cho loan tải các tin tức có nội dung xấu này mà họ không hề có suy nghĩ. Qua đó cũng thấy được sự thành công của đảng CSVN và chính quyền trong chủ trương bôi nhọ, bài xích, kỳ thị các tôn giáo ở Việt nam. Cái mà họ coi là thuốc phiện, là vấn đề nhạy cảm đối với sự tồn tại của sự lãnh đạo độc tôn của họ, có lẽ do vậy chính sách của đảng CSVN là cần phải biến tất cả các tôn giáo trở thành tôn giáo quốc doanh, chịu sự lãnh đạo toàn diện của đảng. Và ngược lại các tổ chức tôn giáo như của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật giáo Hòa Hảo v.v… không chịu khuất phục thì đều bị khủng bố và đàn áp mọt cách thô bạo và trắng trợn.
Tình trạng và chính sách nói trên đối với các tôn giáo diễn ra trong một thời gian tương đối dài 58 năm ở miền Bắc và 37 năm ở miền Nam, dẫn tới tình trạng một số lượng người không nhỏ trên toàn quốc không hiểu tôn giáo là gì, mục đích và vai trò của tôn giáo trong cuộc sống ra sao? Đa số mọi người dân không biết rằng tôn giáo là một lĩnh vực ảnh hưởng tới xã hội nhất, tới đời sống tinh thần của mọi người dân và tôn giáo là cái rất là sâu xa, sâu sắc, nó gắn liền với tinh thần dân tộc, gắn liền với đạo đức của con người. Bởi vì đảng CSVN rất lo sợ mất vị thế độc tôn trong việc lãnh đạo đất nước, đảng CSVN quá hiểu rằng nếu để tự do tôn giáo, để cái tinh thần tôn giáo, cái tư tưởng tôn giáo nằm trong tinh thần đấu tranh và họ lại càng không muốn người dân đi theo tư tưởng của một tôn giáo nào đó, vì mục đích của bất kỳ tôn giáo nào cũng là từ bi, là bác ái, là tình thương, là sự tha thứ và sự chia sẻ. Và bên cạnh đó là tính công bằng giữa con người với con người, đó là cái mà người cộng sản họ không bao giờ muốn có. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là chính quyền không muốn người dân vì tinh thần bác ái, từ bi hoặc bình đẳng của một tôn giáo sẽ làm cho người dân họ nghiêng về tinh thần dân tộc, từ đó dẫn tới việc quần chúng xa rời niềm tin của họ vào đảng CSVN.
Trên thực tế những suy nghĩ kiểu của đảng CSVN và chính quyền của họ là sai lầm, nếu như vì họ sợ tư tưởng thần quyền trong tôn giáo, thì tôn giáo không đáng sợ như họ nghĩ mà dẫu có thì thời đó cũng đã qua lâu rồi. Bây giờ trên thực tế ngoài Iran và Tòa thánh Vatican thì hầu hết tôn giáo không bao giờ muốn cầm quyền. Tôn giáo là một văn hóa phổ quát chỉ dạy con người ta đi đến chỗ tình thương bao la, chia sẻ cho nhau, chứ tôn giáo không bao giờ gây hiềm khích thù địch hay kích động bạo lực. Nhưng người cộng sản thì khác, họ nghĩ rằng nếu như tôn giáo mà mạnh lên thì tinh thần từ bi, bác ái, rộng lượng, bình đẳng của tôn giáo sẽ đè bẹp cái tinh thần đấu tranh của họ, cho nên lý do để họ không muốn tôn giáo phát triển mạnh là ở chỗ đó.
Nếu hiểu Tôn giáo là một văn hóa phổ quát, do đó nên nó đóng vai trò quan trọng trong xã hội loài người, tôn giáo là một định chế xã hội và có các chức năng kết hợp xã hội: tôn giáo có các giá trị, tiêu chuẩn về đạo đức của nó, vì thế những người có cùng một tôn giáo gắn bó với nhau hơn nhờ những giá trị và tiêu chuẩn chung ấy. Đồng thời Tôn giáo còn có chức năng hỗ trợ xã hội: dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnh tật v.v… Trong những lúc như thế, cuộc sống rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn. Chính vì vậy Tôn giáo đã trở thành một thứ nhu cầu không thể thiếu được của người dân trong một xã hội coi trọng nền tảng đạo đức và ngược lại nó cũng trở thành trở ngại cho một nhà nước luôn muốn giữ và giành vị trid độc tôn về một học thuyết chủ đạo của chính họ. Đó chính là lý do khi chủ thuyết cộng sản xuất hiện ở đâu, thì lập tức ở đó mọi thứ tôn giáo chính thống đều bị bóp nghẹt và suy thoái. Thay vào đó là những thứ tôn giáo trá hình chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản.
Người dân đi lễ ở một ngôi Chùa Phật giáo
Thế hệ chúng tôi nói chung và cá nhân tôi nói riêng đến với tôn giáo như một sự tình cờ, vốn chịu ảnh hưởng của gia đình từ ngày xưa. Còn nhớ mùa đông năm 1972, khi cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ đánh phá miền Bắc ở giai đoạn ác liệt nhất, khi ấy mẹ tôi đã đi sơ tán theo cơ quan ở Phú thọ, cha tôi đang ở trong chiến trường miền Nam. Người của khối phố đến yêu cầu bà ngoại tôi đưa bốn anh chị em chúng tôi rời Hà nội đi sơ tán về quê gấp để tránh bom đạn, vì nghe người lớn bảo lần này Mỹ sẽ ném bom hủy diệt Hà nội. Chiều tối hôm đó, cơ quan bố tôi cho xe ô tô đưa mấy bà cháu về quê ngay trong đêm, còn nhớ khi ấy người Hà nội đều bỏ nhà cửa, bỏ thành phố đi sơ tán. Các dòng người, xe đạp, xe bò, xe ngựa, xe xích lô … chất đầy đồ đạc lỉnh kỉnh nối đuôi nhau chạy ra các cửa ô, trong không khí căng thẳng nhưng im lặng và trật tự, màn đêm tối mò xe ô tô chạy trong đêm chỉ có đèn gầm.
Quê ngoại tôi không xa Hà nội lắm, khi ấy còn nhớ mỗi lần máy bay Mỹ bay qua thì đồng thời tiếng nổ lớn của pháo cao xạ phòng không các loại nổ inh tai nhức óc. Mỗi khi như vậy là bà ngoại lớn tiếng kêu mấy anh chị em chúng tôi xuống cái hầm chữ A ở dưới bụi tre sau nhà để tránh máy bay. Bà ngoại tôi khi ấy ngoài 60 mà nhanh chân lắm, vừa chạy vừa gọi anh chị em tôi ơi ới, vậy mà khi chúng tôi xuống đến hầm đã nghe bà tôi ngồi lẩm bẩm tụng kinh, miệng “Nam mô a di đà Phật…” luôn mồm. Lúc ấy lũ chúng tôi còn bé, khoảng 9-10 tuổi vì con nhà lính nên “giỏi” về khoản súng đạn lắm, nghe tiếng súng phòng không nổ cũng biết là tiếng nổ của pháo trung cao, đại cao, 12ly7 hay tên lửa. Ngồi trong hầm mấy anh em cứ cãi nhau tiếng ấy tiếng pháo gì, mỗi lần như thế là bà ngoại tôi gắt lên bảo ngồi im, bà bảo đừng nói to, nếu không máy bay Mỹ nó nghe thấy nó quẳng bom vào thì chết. Khi ấy chúng tôi cũng tưởng thật, ngồi im thin thít vì sợ.
Nhà bà ngoại tôi ở quê, nhưng khi bà lấy chồng thì lên Hà nội ở, ngôi nhà bỏ không chả có người ở từ lúc các cụ thân sinh bà ngoại tôi qua đời, hàng năm chỉ dịp giỗ tết mới có các bác các chú họ hàng đến quét tước dọn dẹp. Đó là căn nhà gỗ ba gian hai trái, lợp ngói âm dương, trước nhà là một cái sân gạch có cái bể nước mưa dưới mấy gốc cau và mấy cây bưởi, cây nhãn. Ngày ấy làng bà tôi mọi đường xá ngõ ngách đều lát gạch sạch sẽ lắm, trước cửa nhà có bắc hai phiến đá to và rộng vượt qua cái rãnh nước. Nghe bà bảo làng bà tôi có tục khi con gái làng lấy chồng, thì nhà trai (rể) phải bỏ tiền làm cho làng 20 m đường lát gạch nên mới được như vậy. Về quê ngày rằm mùng một hàng tháng, bà ngoại tôi mặc áo dài nâu, đầu vấn khăn đi lễ chùa Cả cùng các ông các bà trong làng. Chùa Cả làng tôi lớn lắm, trong Chùa có nhiều tượng phật dọc hai hành lang, ở gian chính có tượng Phật ngồi trong trướng, hai bên còn có nhiều tượng Phật khác nhau, ngoài cùng có hai tượng ông Thiện, ông Ác to lắm. Thời ấy, các dãy nhà bên cánh gà chùa Cả thì tượng Phật bị dẹp bỏ hết để làm lớp học cho học sinh, hay làm nhà kho của hợp tác xã nông nghiệp.
Đến khi ấy chúng tôi mới lơ mơ biết về Chùa, về Phật và biết thế nào là Đình, Chùa, Đền hay Miếu cũng do bà ngoại dạy cho. Còn nhớ bà bảo Đình làng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân, Chùa là nơi thờ Phật, Đền là nơi thờ tự một anh hùng có công với đất nước hay công đức với địa phương, và Miếu là nơi thờ thần thánh. Làm gì sai, không đúng bà ngoại tôi thường nhắc “Đừng làm thế mà phải tội” rồi bà nói cho nghe ai làm điều thiện thì khi chết được lên thiên đàng, là điều ác sẽ phải xuống địa ngục v.v… Những điều đó cũng là những bài học vỡ lòng cho tuổi thơ ấu của chúng tôi về Phật giáo. Điều mà bây giờ ít người ở Việt nam hiểu biết được.
Ở Việt nam bây giờ những người coi mình là phật tử hay tăng ni (không được giáo dục có bài bản) người ta dùng chung một động từ đi lễ, bất kể là đình, chùa, đến, miếu. Trừ một số nhỏ trong một vài chục năm gần đây tụ tập thành các nhóm đi chùa đọc kinh, ngồi thiền nhằm tĩnh tâm. Còn lại đa số đi lễ để cầu tài cầu lộc, quan chức hay viên chức thì đi lễ cầu thăng quan tiến chức, cầu trúng quả, cánh thương lái thì cầu tiền bạc chảy vào như nước, chảy ra nhỏ giọt, đám sinh viên học sinh thì cầu nhưng thi đỗ v.v… Nói chung là để cầu xin thánh thần ban bổng lộc cho cá nhân mình, điều này hầu như trái vớii trết lý của đạo Phật là là từ bi, là bác ái, là tình thương và sự chia sẻ cho người khác thì có phúc.
Kami đi lễ tại Đền Thánh Mẫu, thành phố Hà Giang đầu Xuân Nhâm Thìn 2012
Tôi mới đây cũng đã thử là nạn nhân của sự mê tín, chẳng là Tết vừa rồi có người thấy tôi ốm đau, liền mách cho đi lễ ở thành phố Hà Giang, đó là Đền Mẫu thờ Mẫu Thánh Mẫu Liễu Hạnh – Đền Mẫu sơn hình thành có tên chữ Hán là “ Cấm Sơn Linh Từ” còn thờ Đức Thánh Trần và Đền Thác Con có cách đây khoảng trên 300 năm, lúc đầu là am nhỏ thờ Thần chủ của Đền Thác Con Chầu Bà Đệ Nhị. Theo truyền thuyết thì Bà thuộc nhân thần, có công đóng góp lương thực, tiền bạc giúp vua Lê chống giặc Minh ở vùng biên ải Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng nên sau khi bà hóa, Vua Lê đã phong tặng cho bà dang hiệu “Thượng Ngàn Thánh Mẫu” với dân gian tôn kính bà làm Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Ngàn). Theo họ hai Đền này thiêng lắm, cầu được ước thấy, phần cũng mong nhanh khỏi bệnh, phần cũng nể lời người thân, phần nhân dịp cũng muốn xuất hành đầu xuân Nhâm thìn tôi cũng đi cho vui lòng mình và lòng mọi người. Cũng mong có sự huyền bí bất ngờ nào đó để mình mau lành bệnh thì cũng tốt.
Cảnh các bà, các chị, các cô ở các đền chùa vào những ngày lễ tết, ngày rằm mùng một, khi hai tay bưng lễ vật, chen lấn, xô đẩy rồi xuýt xoa khấn vái cầu tài cầu lộc là chuyện bình thường. Nhưng đi chùa lễ Phật mà họ chửi nhau ngay trong Chùa thì không thể chấp nhận được, tôi từng chứng kiến trong đám người đứng cầu khấn có hai bà xồn xồn, mặt hoa da phấn chửi nhau. Một bà không hiểu sao chửi bà bên cạnh “Tiên sư con đ. ĩ, khấn đe’o gì to thế không để cho bà mày khấn với, định ăn một mình phải không?”. Đạo Phật ở Việt nam minh bây giờ lại là như thế sao? Hình như đạo Phật của người Việt và người Trung quốc giống nhau ở Văn hóa hối lộ thần linh, người đi lễ luôn nghĩ phải có mâm cao cỗ đầy cũng như tiền công đức, tất cả đều mang tính kinh doanh dâng lễ một để xin lãi mười.
Không như phật tử ở Thái lan, Myanmar, Lào hay Camphuchia buổi sáng hàng ngày các Phật tử họ nấu cơm, xôi, thức ăn, hoa quả chờ nhà sư đi qua cửa nhà để tắc bạt (dâng đồ ăn, vật dụng cho nhà sư), hay đi lễ Chùa ngày Phật (có 5 ngày/tháng) cũng vậy họ mang theo các cặp lồng cơm, thức ăn, hoa, quả để dâng cho nhà sư. Nhà sư dùng không hết thì để dành cho người nghèo quanh chùa đến lấy về ăn. Phật tử họ chủ yếu làm công đức bằng tiền bạc, tiền công đức được công bố ngay sau khi hết buổi lễ và gửi vào nhà bank do một hội đồng quản lý chi tiêu. Đó là lý do vì sao ở các xứ của họ chùa chiền nhiều và đẹp như thế. Phật tử xứ họ quan niệm cho người khác càng nhiều càng có phúc cho mình và con cái nên họ không tiếc.
Sẽ có người hỏi tại sao ở Việt Nam bây giờ các cơ sở tín ngưỡng, chùa quá nhiều, nhà thờ cũng quá nhiều mà lại bảo là không có tự do tôn giáo. Xin thưa sự thực không phải như vậy, đó là chính sách mị dân, chính sách đánh lạc hướng của người cộng sản đối với tôn giáo. Họ đang cố tình biến hình ảnh của tôn giáo thành một thứ tín ngưỡng hỗn tạp, hòng cho người dân mê muội và dần không có khả năng phân biệt đâu là tôn giáo, đâu là tâm linh và đâu là mê tín dị đoan. Ví như khi một đứa trẻ mới sinh ra, trong người của nó không có sẵn một chút mê tín dị đoan nào cả, nhưng khi lớn lên, đứa trẻ từ từ học được những hành động, những phản ứng, những cách suy nghĩ này qua gia đình và xã hội chung quanh. Những người có nhiều mong muốn và mơ ước cao xa quá khả năng của mình, những người có thu nhập càng bấp bênh, cuộc sống càng tùy thuộc vào các yếu tố khách quan khác thì thường càng có nhiều thủ tục mê tín gắn liền vào cách thức, lề lối sinh sống hàng ngày của họ.
Cho dù Điều 18 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Việt nam tham gia với tư cách thành viên có nêu rõ “Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.”. Thế nhưng chính quyền Việt nam không bao giờ nghiêm chỉnh thực hiện những cam kết nói trên về vấn đề tôn giáo.
Tôn giáo hay bất cứ vấn đề gì ở đất nước này cũng phải chịu sự lãnh đạo, tuyệt đối của đảng CSVN vì đó là nguyên tắc bất di bất dịch. Đừng bao giờ trách họ nói một đằng làm một nẻo cũng vì theo nguyên tắc trên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2012
© Kami
————————

Chủ Đề 30.4: Ngày Đau Thương Của Cả Nước.

30 Tháng Tư Năm 1975 : Ngày Đau Thương Của Cả Nước

http://ongvove.files.wordpress.com/2011/04/saigonthatthu-30thang4-dinhdoclap-300x186.jpgLịch sử nước Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử hơn 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Mỗi giai đoạn biến đổi đều có một mốc thời gian nhất định để đất nước chuyển từ trạng huống này sang trạng huống khác, nói một cách rõ hơn là sự thay đổi của một chính thể hay một thể chế.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 là một dấu mốc lịch sử, là một bước ngoặc đổi thay cả một thể chế 20 năm Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam. Kể từ đó, Cộng sản Việt nam tiến hành cưỡng đặt chính thể Việt nam Dân chủ Cộng hòa trên địa bàn cả nước (sau này đổi thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, một danh xưng “mỹ miều” của chủ nghĩa Cộng sản).

Đi sâu hoặc phân tích để tìm hiểu cái hay , cái dở của từng chính thể hẳn phải đòi hỏi nhiều thời gian và tài liệu nghiên cứu.

Trong phạm vi của bài cảm nghĩ hôm nay, thử tìm hiểu xem ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày thế nào, hằn chứa những suy tư và ý nghĩa gì ?

Sau khi Tổng Thống (3 ngày) Dương Văn Minh ra lệnh cho toàn thể Quân, Cán, Chính ngưng mọi sinh hoạt để sẵn sàng bàn giao nhiệm sở cho “cái gọi là” lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam (hay theo ngôn từ của Tổng Thống Minh là “người anh em phía bên kia), thì tâm trạng của toàn quân, toàn dân miền Nam Việt Nam đều ngỡ ngàng và uất nghẹn. Sự uất nghẹn và ngỡ ngàng đó thậm chí đã làm cho một số Tướng lãnh, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và Cảnh sát tìm cái chết oanh liệt của họ là tự sát hay cố chiến đấu đến gần hơi thở cuối cùng rồi quay súng tự kết liễu đời mình.

Sau đó, rồi tới những chuỗi ngày tiếp nối, Sĩ quan các cấp (quân đội cũng như cảnh sát), các Hạ sĩ quan thuộc các thành phần nguy hiểm (theo đánh giá của Việt cộng lúc bấy giờ), các vị chỉ huy hành chánh , các cán binh Cộng sản chiêu hồi , các cảnh sát viên đặc biệt bị lùa vào các trại tập trung cải tạo bằng những thông cáo với ngôn từ mập mờ làm cho mọi người hiểu rằng chỉ đi học tập cải tạo 10 ngày (đối với sĩ quan cấp úy trở xuống) và một tháng (đối với sĩ quan cấp tá trở lên).

Về phần dân chúng thì không an tâm, lúc nào cũng nơm nớp về các vụ đấu tố hay tịch biên gia sản. Nên không ai bảo ai, lũ lượt mang các đồ đạc, tiện nghi trong nhà đi bán.

Thế rồi việc gì đến đã đến.

Những người gọi là đi học tập cải tạo đã không phải là 10 ngày hay một tháng mà bằng những thời gian không hạn định rõ rệt. “Các anh cứ học tập tốt, lao động tốt, rồi sẽ được nhà nước khoan hồng cho trở về xum họp với gia đình để xây dựng cuộc sống mới”. Đại để là ở trại tập trung nào, cán bộ quản giáo (bộ đội hay công an) cũng đều đưa ra những “khuyên nhủ” như vậy để vỗ về và trấn an.

Không có gì ngạc nhiên khi có một số anh em đã tìm cách trốn trại. Ai may mắn thì thoát, người xấu xố thì bị bắt lại hay bị bắn chết.Nguyên do chỉ vì học tập mà không biết thế nào là tiến bộ, mà chỉ biết được rằng khi nào được gọi tên thả về đấy là lúc mình đã học tập tiến bộ.( Điều này phù hợp với câu nói của một số cán bộ quản giáo : “Anh nào được nhà nước cho về tức là đã tiến bộ”.)

Thực tế thì đã có một số được cho về sớm không phải vì lý do “học tập tiến bộ” mà vì họ là những chuyên viên kỹ thuật hay những chuyên viên các ngành mà nhà nước cần sử dụng cấp thời để làm việc hay huấn luyện cho các cán binh Cộng sản trong lúc nhu cầu

cho các hoạt động cần thiết đòi hỏi.Một số khác về sớm là vì có giây mơ giẫy má với “gia đình cách mạng”, hoặc giả thuộc thành phần sức khoẻ quá nguy kịch (bệnh nặng, hay sắp chết) không tiện lưu giữ trong trại.

Phải thẳng thắn mà nói rằng những sĩ quan , các hạ sĩ quan, các

công chức cao cấp cùng thành phần cảnh sát viên đặc biệt, cán binh chiêu hồi, đã bị cầm tù không tuyên án trong các trại tập trung dưới một mỹ từ “cải tạo” để che mắt nhân dân trong nướcvà dư luận thế giới.

Còn về phần dân chúng và gia đình các tù nhân (cải tạo) thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sao ? Nhà nước Cộng sản đã minh định

: các gia đình giàu có là những thành phần tư sản mại bản, làm giàu trên xương máu của đồng bào. Còn gia đình của các tù nhân

thuộc chế độ cũ là thành phần “ngồi mát ăn bát vàng”, phi lao động.

Do đó, họ (Cộng sản) đã trắng trợn tịch biên gia sản của những người giàu có đồng thời mở ra những buổi học tập ngắn hạn trong các phường, khóm lên lớp và tuyên truyền, thậm chí nếu cần cưỡng bức dân chúng thuộc các đối tượng nêu trên đi các vùng kinh tế mới với lý luận muốn giúp họ tạo dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn theo đạo đức “xã hội chủ nghĩa”. Sự thật quá tàn nhẫn và đau thương khôn xiết khi những gia đình gọi là “tư sản mại bản” sau khi bị cướp đoạt của cải và nhà cửa đã phải lần lượt theo chân các gia đình tù nhân cải tạo đi về các vùng đất hoang vu “gọi là vùng kinh tế mới” để cuốc đất trồng khoai với những trợ giúp quá hạn hẹp của cơ quan chính quyền. Một số không ít những thương gia trước kia, vì quá uất ức, đã tìm cách quyên sinh để giải quyết nợ đời. Một số không nhỏ các gia đình khác vì không chịu được cảnh thiếu thốn quá cơ cực đã phải tìm cách trở về thành phố hay trôi dạt đến những vùng tương đối dễ kiếm sống hơn.

Chính sách “xây dựng các khu kinh tế mới” nhìn một cách khách quan giống như hình thức trả thù cho bõ ghét đối với một số “thành phần” nhất định của miền Nam Viêt Nam. Một vài chứng minh cụ thể (về sự trả thù) không chối cãi được : đó là, ngay sau khi có mặt tại Sài gòn, Cộng sản đã không ngần ngại sua đuổi các anh thương binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa ra khỏi các quân y viện, bệnh xá ngay lập tức dẫu rằng có thương binh vết thương còn đang rỉ máu chưa kịp được băng bó.

Rồi khi tình hình tạm ổn định, việc học được tiếp tục thì các em thuộc thành phần “gia đình ngụy quân ngụy quyền”thì không được thu nhận vào các trường đại học. Ngay cả, việc xin vào làm việc ở các xí nghiệp, công sở cũng bị phân biệt đối sử.

Cộng sản đã áp dụng guồng máy cai trị kềm kẹp một cách hết sức chặt chẽ qua hình thức “tổ dân phố” dưới sự giám sát của tổ trưởng, tổ phó, công an khu vực. Nhân dân trong mỗi tổ dân phố người người đều có một suy nghĩ tự đề phòng và cảnh giác , chỉ sợ nhỡ ra vô ý, sẽ bị có kẻ tố giác mình thế này, thế nọ.

Sau này, qua sự biến đổi của tình hình thế giới, nhất là sau khi có sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản ở các nước Đông Âu và sự sụp đổ của Đế quốc Liên sô ( cái nôi của chủ nghĩa cộng sản quái gở), tình hình chính trị ở Việt nam có phần nào thay đổi : dân tình dễ chịu hơn, các tù nhân cải tạo được lần lượt cho về xum họp với gia đình và cùng xuất ngoại sang định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO

(Humanitarian Organization Program) dựa trên sự thỏa thuận giữa

hai chính phủ Hoa kỳ và Cộng sản Việt nam.

Tuy đổi mới theo xu thế của thời đại, nhưng nhân dân Việt nam vẫn bị cai trị, kềm kẹp bởi một tập đoàn lãnh đạo bảo thủ thiếu văn hoá. Bộ máy cai trị từ thượng tầng xuống đến cơ sở gồm đa số các cán bộ có “máu” hủ hoá, quan liêu, cửa quyền nhất nhì Đông Nam Á. Chính những thành phần “sâu dân mọt nước” này đã là những thủ phạm tạo cho Việt nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó nhất với mức thu nhập bình quân của nhân dân vào hạng gần chót trên thế giới.

Việt nam ngày nay đã bị liệt kê là một quốc gia không có dân chủ và nhân quyền. Các tệ nạn tham ô nhũng lạm đã là quốc nạn trên địa bàn cả nước. Cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma tuý,(kể cả căn bệnh hiểm nghèo AIDS) lan tràn đều khắp từ thành thị xuống đến thôn quê, từ đồng bằng ngược lên miền cao, những thiếu nữ đã phải ngậm đắng nuốt cay liều thân chấp nhận trong các cuộc hôn nhân gượng ép với đàn ông Đài loan, Đại hàn bất kể không tương xứng về gia cảnh, tưổi tác miễn là có ít tiền giúp gia đình trang trải những khó khăn cấp thời. Rồi những công nhân phải chạy đôn chạy đáo hay chấp nhận vay nợ cắt cổ để được xuất ngoại lao động cũng với mong mỏi giải quyết được những khó khăn vật chất của gia đình.

Tập đoàn lãnh đạo đã cố tình hay làm ngơ trước việc những phần da thịt của Tổ quốc Việt nam bị xâm phạm và gậm nhấm dần. Hiện tượng khai thác Bâu xít ở Cao nguyên Trung phần theo sự nhận dịnh và phân tích của các vị thức giả, của các khoa học gia là một hình thức xâm phạm chủ quyền Việt nam một cách dưới chiêu bài “hợp tác” kinh tế và phát triển khoa học. Dù rằng nhà cầm quyền Việt nam có bao biện cách nào đi chăng nữa nhưng nhân dân Việt nam và “những người bàng quang’ trên thế giới đều có một nhận định tương tự : Nước Việt nam đang bị xâm thực .

Nhìn vào hoàn cảnh cụ thể ở Trường sa, Hoàng sa, lãnh hải vịnh Bắc bộ, những Nam quan, Bản giốc nơi biên giới Việt Trung, có phải da thịt Mẹ Việt Nam đang bị Phương Bắc gậm nhấm không ?

Dân tộc ta rõ bị một cổ hai tròng : giặc ngoài thì xâm lấn biển, đất, bên trong thì bị “cường hào ác bá tân thời” cưỡng chiếm ruộng vườn mà khiếu kiệu bao năm cũng chẳng đi tới đâu.

Những tỉ phú đô la Việt nam, những thành phần lãnh đạo Việt nam

từ 1975 đến nay hẳn biết rõ hơn ai hết về thực trạng của tổ quốc mình.

Làm một việc so sánh cuộc sống của nhân dân miền Nam giữa hai chế độ : Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau 1975 thì rõ ràng cuộc sống trước 1975 tự do, thoải mái hơn nhiều so với cuộc sống hiện tại.

Việt nam ngày nay, nếu chỉ nhìn vào những thay đổi và sinh hoạt nơi phố thị thì sẽ không phủ nhận có nhiều tiến bộ đáng kể. nhưng nếu nhìn dưới một lăng kính tổng thể, nghĩa là “đi sâu đi sát” vào quần chúng, phónh tầm nhìn vào những hang cùng ngõ hẻm “vùng xôi đậu” của thành thị, tỉnh lỵ hay xa hơn nữa nơi các làng mạc xã ấp vùng ngoại ô, vùng đồng bằng , chốn cao nguyên hay những nơi xa chốn đô hội thì người trung thực sẽ khách quan đánh giá : sự phồn vinh hiện hữu chỉ là giả tạo giữa hai bức tranh tương phản “thành thị và thôn quê”. Cái sự thay da đổi thịt nơi chốn phồn hoa

không khác gì một thiếu nữ cố trau truốt nhan sắc để thu hút nhãn quan của tha nhân.

Những xa hoa, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đang diễn ra ở thành phố, thị trấn chỉ có thể hiểu được là phát xuất từ những kẻ giàu tiền lắm bạc, của những doanh gia, của những thế lực cầm quyền, của những con ông cháu cha, của những người tiêu xài vô tội vạ do đô la đổ về từ thân nhân sống tha hương nơi xứ người, chứ không phải từ đại đa số quần chúng nghèo khó sống bữa nay lo bữa mai.

Mọi người dân Việt nam, ở hải ngoại cũng như trong nước, ngoại trừ một số ít vinh thân phì gia, gió chiều nào theo chiều đó ( không cần biết ý nghĩa của các chữ “tổ quốc” và “dân tộc” là gì ), thảy đều mong muốn một nước Việt nam có TỰ DO, DÂN CHỦ thực sự, được lãnh đạo bởi những người biết vì dân, vì nước, biết tôn trọng nhân quyền, một lòng một dạ đưa dân tộc đến ấm no, hạnh phúc như dân tộc của các nước tiên tiến trên thế giới.

Ngày nào mà nước Việt nam vẫn còn là một Quốc gia thiếu dân chủ và không có nhân quyền thì nhân dân vẫn coi “30 THÁNG TƯ NĂM 1975 LÀ NGÀY ĐAU THƯƠNG CỦA CẢ NƯỚC”.
Trần -Tinh Bạch Thái Tường.

Chủ Đề 30.4: Tháng Tư Đen Ngày Vong Uất Hận

Tháng Tư Đen Ngày Vong Uất Hận , Chiều 30 Đất Nước Phủ Màu Tang !

http://files.myopera.com/Vivi99/blog/r2rkvp.jpgThêm một lần nữa tháng tư lại về, tháng tư lần nầy đánh dấu một chặng đường dài lưu lạc của biết bao người Việt tha hương.Thời gian 34 năm quá dài so với đời sống con người, nhưng quá ngắn so với dòng sử của một dân tộc.Bao nhiêu năm mất nước là bấy nhiêu năm cả dân tộc bị đọa đày.
Tháng tư năm 2009 cùng chiến dịch “tháng tư đen” của tập thể Người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cọng Sản tại hải ngoại, tất cả cùng nhau đồng một lòng kiên quyết không về Việt Nam, cũng như ngưng gửi tiền cho thân nhân trong những ngày kỹ niệm tháng tư đen đau buồn nầy, như một hình thức bày tỏ sự phẩn nộ và lên án tẩy chay trước sự cai trị ngày càng dã man của một chế độ độc tài, buôn dân bán nước chưa bao giờ xảy ra qua các triều đại lịch sử.Tháng tư một đạo luật về nhân quyền vừa được ký bởi Thống đốc Tim Kaine của tiểu bang Virginia, ông cũng là chủ tịch đảng Dân Chủ toàn quốc Hoa Kỳ. Đạo luật có tên là HB-2594 để xác nhận chính thức ngày 11-5 hàng năm là ngày Nhân Quyền Việt Nam.
Tháng tư xứ người nắng ấm, tháng của đất trời vào Xuân, chim hót líu lo với những cụm hoa dại khoe sắc màu khắp nơi.Màu cỏ xanh mát cùng những cơn mưa nhẹ bất chợt buổi chiều đủ để gợi nhớ một thoáng buồn trong lòng người xa xứ.Qua rồi những ngày Ðông giá buốt buồn thảm lê thê.Tháng tư xứ người chạnh nhớ tháng tư xứ mình của đúng 34 năm về trước, tháng của làn sóng đỏ cộng sản xua quân cưỡng chiếm miền Nam.Tháng tư đó đã là một vết nhơ trong lịch sữ của dòng tộc Việt Nam. Cả một chế độ Cộng Hòa sau hơn 20 năm gầy dựng cùng bao xương máu đã đổ ra, phút chốc tan tành theo mây khói.Cuộc tháo chạy của các lực lượng Ðồng minh đã làm cả miền Nam bàng hoàng, sửng sốt. Người dân không còn kềm nỗi sợ hãi nên đã bỏ của chạy lấy thân.Những xác người lánh nạn cộng sản tìm tự do lênh đênh ngoài biển cả hoặc bỏ nắm xương tàn mãi tận rừng sâu, cả đất nước trở thành biển máu từ khi bọn rừng rú tràn vào.
Những tên khố rách áo ôm quê mùa dốt nát phút chốc bỗng trở nên làm chủ đất nước, bao nhiêu năm thiếu thốn cơ cực lầm than, giờ đây là cơ hội tốt nhất để ra sức vơ vét, hành hạ trả thù. Nhiều chiến sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ thủ đô đến những giờ phút cuối, cùng sự chấp nhận hiểm nguy của hàng triệu người dân miền Nam trốn chạy cộng sản. Tất cả những biến động đó đã làm nên thảm cảnh 30-4-1975 lịch sữ.
Tháng tư tại thành phố Dallas, Texas nơi tôi đang cư ngu, một buổi lễ gây quỹ giúp những chiến sĩ bất hạnh Thương phế binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa do nhóm trẻ “Thiện Tâm”, những con cháu thuộc thế hệ thứ hai của Quân Dân Cán Chính miền Nam đã thành công một cách tốt đẹp ngoài dự tính của nhiều người.Đây là lần thứ hai các em tổ chức.Những thế hệ mới đã bắt đầu nhập cuộc để thay thế cha, anh. Với số người tham dự khoảng 500, tiền thu được khoảng trên dưới 30 ngàn mỹ kim trong thời buổi kinh tế khó khăn nầy, quả là điều quý hiếm. Điều đáng ghi nhận có rất nhiều ân nhân trong đó có một vị ẩn danh đã ủng hộ một chi phiếu 10 ngàn mỹ kim. Nhiều người đã không cầm được nước mắt khi bắt gặp lại hình ảnh đau thương của các Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, vào cái ngày oan nghiệt của 34 năm về trước. Họ bị xua đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hòa khi vết thương còn đang rĩ máu, anh mù cõng anh què, anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay, họ đã đi về đâu khi bóng hoàng hôn chụp xuống thành phố xơ xác điêu tàn. Không ai có thể biết được số phận họ rồi sẽ ra sao, khi người lành lặng nguyên vẹn vẫn chưa có thể tin được vào số phận mình!
Những người lính Nhẩy Dù trại Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau khi vị tổng thống “tạm quyền”Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, cùng hàng trăm tướng tá của chế độ Cộng hòa miền Nam cũng đã tự sát.Đau thương nhất là cả gia đình một vị đại tá đã tự tìm cho mình cái chết khi biết rằng không thể nào sống với cộng sản. Những người lính Thủy Quân Lục Chiến sau khi đơn vị tan hàng, đã cùng nhau nối vòng tay lớn bung chốt lựu đạn cùng chết bên nhau tại ngã tư Hàng xanh, bên cầu xa lộ. Còn, còn nhiều lắm những chiến sĩ vô danh tự tìm cho mình một cái chết vinh hơn sống nhục trên mọi miền đất nước.Những giọt nước mắt rồi sẽ được tiếp tục nhỏ xuống để tiếc thương, để nhớ về những oan khúc cho những người lính anh hùng, cùng biết bao chiến sĩ đồng bào vô danh khác, chính họ đã viết nên trang sử đen tối nhưng vô cùng hãnh diện vì họ không bao giờ chấp nhận chế độ cộng sản phi nhân.
Cộng đồng Người Việt khắp nơi tưởng niệm ngày 30-4 Quốc hận, để đánh dấu cột mốc khởi đầu cho quảng đời tỵ nạn của mình. Một ngày đau buồn đáng nhớ để từ đó mọi người phải có bổn phận biết rằng vì sao phải bỏ nước ra đi. Tháng tư hằng năm, như thông lệ hai Cộng đồng Dallas và Fort Worth bận rộn với lễ tưởng niệm Quốc tổ Hùng Vương và ngày Quốc hận 30 tháng Tư. Đặc biệt năm nay, để khuyến khích cho giới trẻ tham gia, ban tổ chức có treo giãi thưởng tượng trưng bằng những bài viết với chủ đề “Nghĩ và làm gì về ngày Quốc hận 30-4?”, cùng chiến dịch treo cờ vàng ba soc đỏ vào tuần lể cuối của tháng.Lần nầy cũng có sự đóng góp của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, những chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi từ khắp nơi. Không phải đây là lần đầu tiên họ về đây, mà đã nhiều lần lắm rồi trong quá khứ.Họ đến với tất cả bầu nhiệt quyết và bằng khí thế đấu tranh sôi sục, và họ đi như những chiến sĩ vừa hòan thành xuất sắc sau một trận chiến đấu. Họ đã tự nguyện đi đấu tranh nhiều nơi từ nhiều thập niên qua chỉ bằng tấm lòng yêu nước của mình; họ mang lời ca tiếng hát để làm sáng tỏ chính nghĩa Quốc gia và tiếp tục tranh đấu cho một quê hương Việt Nam không cộng sản. Nơi nào có sự xuất hiện của Việt gian và cộng sản là nơi đó có họ đấu tranh.Thời gian có dài, sức người có hạn, nhưng lòng yêu nước đã là tiếng gọi của con tim.Những lời ca hùng tráng đúng lúc để đòi lại đất tổ quê hương cùng lên án bọn tay sai đã dâng đất dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp dân tộc, bọn bá quyền Trung Quốc. Ðất nước là tài sản quý báu do cha ông để lại, không là của riêng của một nhóm người nào, của một nhóm quyền lực nào, hoặc bất cứ tổ chức nào Không đòi ai trả núi sông ta.
Tháng tư một cuộc triển lãm gần 300 tư liệu, hiện vật về công tác phân ranh cắm mốc giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hà Nội, để đảng cộng sản Việt Nam phân minh về chuyện dâng đất dâng biển cho ngoại bang, trong lúc lòng câm thù của toàn thể dân tộc chất cao như núi. Trong một bản thông báo Hà Nội cho rằng chuyện Việt Nam phải nhượng cho Trung Cộng một số đất lớn, là chiếu theo những công ước từ năm 1887 đến năm 1895 giữa chính phủ Pháp và triều đình Mãn Thanh là theo đúng văn bản pháp lý quốc tế. Nhưng còn chuyện cựu thủ tướng Việt Cộng Phạm văn Đồng trong một công hàm gửi cho Trung Quốc năm 1958, thừa nhận chủ quyền của Tàu cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì sao? Không thấy Hà Nội nhắc đến.
Tháng tư có lắm người vui nhưng cũng có triệu người buồn. Lời nói nầy được phát xuất từ sự ăn năn, hối hận của một tên tội phạm, cựu thủ tướng cộng sản. Tại hải ngọai nầy đã biết bao nhiêu lần những tên đàng điếm chính trị, muốn xóa sổ quên đi. Họ muốn biến ngày 30-4 thành ngày Tỵ nạn, hay ngày Tự Do để từ bỏ một sự kiện lịch sử quan trọng đã làm điên đầu kẻ luôn tự xưng mình là chiến thắng. Họ muốn chúng ta xóa bỏ hận thù cùng bắt tay với họ để quên đi quá khứ, một quá khứ dơ bẩn do chính họ gây ra và bây giờ không muốn nhìn lại. Họ hô hào nghị quyết 36 để nối vòng tay lớn nơi chúng ta, những kiều bào hải ngoại, nhưng cũng chính họ dùng tiền của cướp giật của nhân dân trong nước để tiếp tục đánh phá chúng ta.
Tháng tư một điệp khúc buồn hằng năm, chẳng ai muốn nhớ nhưng không thể nào quên được Ba mươi bốn năm sau, công tác chống cộng của Người Việt Quốc Gia càng ngày càng trở nên khó khăn phức tạp trước sự mọc rễ quá lâu của chế độ cộng sản đương quyền. Ở trong nước dù bị bắt bớ tù đày, dù bị đàn áp thô bạo của lưỡi lê nòng súng, nhưng những chiến sĩ quả cảm đấu tranh cho Dân chủ Tự Do vẫn chiến đấu kiên cường.Lần đầu tiên kể từ ngày mất nước vào dịp tháng tư đen, lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho “Tự do-Dân chủ” và biểu ngữ “Đả Đảo Bọn Độc Tài Tham Nhũng” đã bay trên bầu trời Sàigon, cùng nhiều nơi rải truyền đơn kêu gọi đa nguyên, đa đảng. Một Nguyễn văn Lý, một Nguyễn văn Ðài, một Lê thị Công Nhân, một Lê nguyên Sang, một Nguyễn xuân Nghĩa, một Điếu Cày… đã đi vào lịch sử của những người trí thức bất khuất trước họng súng bạo quyền. Một điều mà ngày nay ai trong chúng ta cũng phải công nhận, là muốn giải thể chế độ cộng sản, muốn đòi lại Tự Do nhân quyền cho dân tộc thì chỉ có người dân trong nước mới có khả năng làm nên điều đó, song song với sự yểm trợ của hơn ba triệu Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại.
Các nhà đấu tranh dân chủ trong nước dù phải chịu cảnh bắt bớ ngồi tù, nhưng họ vẫn một lòng sắt son yêu nước. Người Việt hải ngoại chống cộng dù với tất cả tấm lòng nhưng chẳng thấm vào đâu so với những khổ cực hiểm nguy của các nhà đấu tranh trong nước.
Chúng ta phải hết lòng biết ơn và ngưỡng mộ họ! Hãy làm bất cứ điều gì có thể làm được để giúp đỡ và bảo vệ họ! Không có tiếng nói của chúng ta, không có sự can thiệp ủng hộ của các chính quyền dân chủ thế giới thì công cuộc đấu tranh của họ sẽ gặp muôn vàn khó khăn.Họ bất khuất ngạo nghễ trước bầy thú dữ gian ác nhất trong lịch sữ loài người. Họ xứng đáng là những anh hùng trong công cuộc giải thể chế độ cộng sản, một chế độ tàn nhẫn nhất, phi nhân nhất cần phải bị loại trừ.
Tháng tư năm nay,đánh dấu một thời điểm khá dài của đúng 34 năm sau ngày mất nước. Tòan thể dân tộc vẫn khổ sở lầm than hứng chịu mọi nỗi khổ đau trước sự cai trị tàn nhẫn của bạo quyền.Một tập đoàn cai trị độc tài tham nhũng thối nát, ươn hèn cam tâm dâng đất dâng biển cho ngoại bang. Mặc dầu bị phản đối bởi các nhà trí thức, giáo sư sữ học, các chuyên gia, trong đó có sự lên án của tên đại tướng Việt Cộng Võ nguyên Giáp, đại lão hòa thượng Thích Quảng Độ nhưng bọn cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn câm, vẫn điếc, để mặc nhiên cho bọn bành trướng Bắc Kinh ngang nhiên mang người, của, khí cụ vào đào bới khai thác Bauxite ở các vùng cao nguyên, phá hoại tài nguyên quốc gia và làm ô nhiễm môi trường. Tội ác lớn lao nầy chắc chắn rồi đây chúng phải đền tội trước quốc dân và lịch sữ.Hơn ba thập niên thao túng quyền hành, độc tài toàn trị, người dân vẫn đói mang thân lưu lạc khắp nơi để tìm miếng cơm manh áo qua các dịch vụ lường gạt trắng trợn của các tổ chức buôn người.Dân oan vẫn đi tìm công lý hết nơi nầy đến nơi khác, phụ nữ và trẻ em vẫn tiếp tục bị buôn bán trao đổi như một món hàng.Các nhà đấu tranh dân chủ lần lượt đi vào tù bất chấp mọi sự can thiệp từ những tổ chức nhân quyền thế giới.
Người cộng sản với chiêu bài “không gì quý hơn độc lập tự do” chỉ là câu xáo ngữ lường gạt mọi người.Việc đem quân cưỡng chiếm miền Nam nay hiện nguyên hình là một âm mưu thâm độc của một lũ người ăn cướp, với mỹ từ là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vào những ngày đầu tranh tối tranh sáng, bọn chúng chơi trò ma giáo quỷ quyệt vừa ăn cướp vừa la làng. Chúng cùng nhau vơ vét tất cả tài sản của chính quyền miền Nam để mang về làm của riêng Chuyện vu cáo cho vị tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đã ăn cấp 16 tấn vàng để chạy ra nước ngoài, là một trò lố lăng nhảm nhí. Chủ thuyết cộng sản muôn đời dựa trên sự nói láo và lường gạt, bằng sức mạnh của nòng súng và lực lượng chó vàng công an.Sau 34 năm áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho cả nước, Việt Nam vẫn còn là một quốc gia nghèo, chậm tiến, tham nhũng, độc tài toàn trị và liên tục vi phạm các quyền làm người.Các nhà lảnh đạo cộng sản cam tâm làm tôi tớ cho ngoại bang, dãy giang sơn gấm vóc của tiền nhân để lại đang có nguy cơ làm mồi cho bọn giặc Tàu phương Bắc.
Ngày tháng tư đau buồn nầy, chúng ta nghiêng mình tưởng niệm những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống vì lý tưởng Tự Do, ngậm ngùi và ghi ơn các chiến sĩ đấu tranh Dân chũ tại quê nhà đang bị chịu cảnh tù đày. Hãy cùng nhau đốt nén hương lòng, cầu nguyện vong linh của những anh hùng quá vảng, độ trì cho toàn thể dân tộc Việt Nam tiếp bước đoạn đường đấu tranh. Không gì minh bạch rõ ràng bằng lời tự thú của ông Bùi Tín cựu đại tá cộng sản, người đã có mặt tại dinh Độc lập trong những giờ phút hấp hối của miền Nam “Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết. Để làm gì cơ chứ? để đất nước ra nông nổi nầy ư? độc lập không! tự do không!chủ quyền không? về mặt nào cũng dưới 100 nước khác! Ngày nào bọn cầm đầu Bắc bộ phủ sẽ sáng mắt ra như thế, còn tuỳ thuộc vào sức mạnh và sự đoàn kết của toàn dân..
Arlington, Texas. Quốc Hận 30.4
 Phạm Văn Tiền

Một người Việt tỵ nạn vào giải chung kết di dân hàng đầu của Canada


Một thuyền nhân Việt ở Philippines, anh Trần Thiên Ái, đến định cư tại Canada chưa được mười hai năm, đang có nhiều hy vọng thắng giải di dân hàng đầu nhờ nổ lực vươn lên của bản thân cũng như quá trình đóng góp và phục vụ xã hội cho đất nước Canada.
Photo from Thien Ai
Anh Trần Thiên Ái chụp ngày tốt nghiệp Đại học Mc Gill ở Canada.

Một trong những tổ chức đứng ra bảo trợ cho giải thưởng này là báo Canadian Immigrant bên cạnh các đại diện chính phủ. Thanh Trúc thuật lại câu chuyện như sau:

Giải hai mươi lăm di dân hàng đầu của Canada được thiết lập từ năm 2009. Đây là một giải quốc gia, tuyển chọn những gương mặt mà người ta coi như có đóng góp nhiều trong cộng đồng của họ và cho xã hội Canada nói chung.

Theo như em biết năm 2012 này có trên năm trăm người được đề cử từ các cộng đồng sắc tộc khác nhau khắp Canada. Ban tổ chức là của tạp chí Canadian Immigrant, cộng thêm với những người từng thắng giải này trước đây và những lãnh đạo của các cộng đồng mà họ tuyển chọn vào trong ban tổ chức. Thì cuối cùng họ chọn ra bảy mươi lăm người vào vòng chung kết. Bởi vì giải này gọi là “public choice award ” tức là do công chúng chọn lựa, do đó bảy mươi lăm người trong vòng chung kết này phải được chọn lựa online và hai mươi lăm người được nhiều phiếu nhất sẽ là hai mươi lăm người thắng cuộc.

Ngoài vấn đề dựa trên số phiếu của những người thắng cuộc ra thì ban tuyển chọn cũng sẽ xem xét lại sau khi cuộc bỏ phiếu chấm dứt, và họ sẽ chọn ra hai mươi lăm di dân hàng đầu của Canada.

Sức mạnh của ý chí


Đó là lời Trần Thiên Ái, quê ở Qui Nhơn, vượt biển đến Philippines năm 1989 khi được hai mươi tuổi. Kẹt lại Philippines mười một năm, một mình bương chải tìm kế sinh nhai trong hy vọng đến một quốc gia thứ ba, năm 2001 Trần Thiên Ái được chính phủ Canada chấp thuận cho qua định cư tại Montreal thuộc tỉnh bang Quebec.

Đến Montreal hai tuần sau thì em bắt đầu đi kiếm việc, em đi tới rất nhiều nhà máy và hãng xưởng,cuối cùng em xin được vào trong một hãng sản xuất mẫu mã xây dựng. Thì em vào làm một công nhân bình thường thôi.
Và trong quá trình làm toàn thời gian như vậy vào ban ngày thì buổi tối em đi học tại trường đại học McGill. Đến tháng Chín 2007 thì em xin nghỉ để đi học toàn thời gian tại đại học McGill.
Anh Trần Thiên Ái

Làm việc tại đây gần một năm, Trần Thiên Ái được ban giam đốc đưa lên làm việc trên văn phòng của hãng, phụ với những người trong ban quản đốc để thực hiện các dự án liên quan đến vấn đề sản xuất mẫu mã. Được mấy tháng sau thì người nhân viên văn phòng, chuyên lo việc thâu nhận công nhân cho hãng, đến tuổi về hưu:

Em cũng không hiểu tại sao lúc đó ban giám đốc lại quyết định chọn em, họ nói là bây giờ họ muốn em thử cái “job” tuyển chọn người này đi. Em nói với ông manager của em lúc đó là em không biết nói tiếng Pháp, mà ở Montreal là phải nói tiếng Pháp, thì làm sao em có thể làm công việc tuyển chọn người như vậy. Ông manager của em nói là ban giám đốc đã bàn với nhau và họ nghĩ rằng em có thể làm được, họ muốn em thử.

Em nhận lời và không ngờ cuối cùng em làm được công việc rất là tốt. Sau đó thì em làm công việc của một human resource coordinator, một người điều phối về nhân sự cho hãng, em lo tất cả vấn đề nhận người cho
Anh Trần
 Thiên Ái chụp tại Ottawa năm 2011. Photo from Thien Ai
Anh Trần Thiên Ái chụp tại Ottawa năm 2011. Photo from Thien Ai
hãng đó, có khoảng một trăm ba mươi nhân viên. Và trong quá trình làm toàn thời gian như vậy vào ban ngày thì buổi tối em đi học tại trường đại học McGill. Đến tháng Chín 2007 thì em xin nghỉ để đi học toàn thời gian tại đại học McGill.


Con đường vào đại học Canada không dễ dàng cho một người mới đến Canada chưa được vài năm và chưa có bằng cấp . Làm thế nào để đến năm 2004 thì anh được nhận vào đại học McGill:
Lần đầu bị từ chối em mới phải vào học tại trường cao đẳng Dawson, em lấy một số “cua” trong đó và không ngờ những “cua” em lấy đều được những điểm rất cao, trong đó có “cua” Introduction To Psychology Dẫn Nhập Tâm Lý em lấy được điểm toàn phần cuối năm là 99/100.
Anh Trần Thiên Ái

Nhưng mà trước đó khi em nộp đơn lần đầu thì đại học McGill bác đơn, nói rằng em không có đủ những “cua” học ở Canada để chứng minh cho họ thấy điểm của em. Em cũng xin nói trước khi em qua Canada thì em may mắn thi đậu vào một đại học tư thục tại Manila là trường Trinity College và em học ngành Tâm Lý, đó là vào năm 2000. Thì em là một trong rất ít những thuyền nhân kẹt lại Philippines mà có khả năng và được may mắn thi đậu vào đại học và có thể học chương trình đại học. Học tới 2001 tức là hết năm đầu thì em sang Canada.

Em mới chuyển cái credit từ trường đại học Trinity bên Philippines sang McGill. Họ cũng nhận một vài credit nhưng mà họ vẫn muốn em phải có những “cua” học tại Canada này. Lần đầu bị từ chối em mới phải vào học tại trường cao đẳng Dawson, em lấy một số “cua” trong đó và không ngờ những “cua” em lấy đều được những điểm rất cao, trong đó có “cua” Introduction To Psychology Dẫn Nhập Tâm Lý em lấy được điểm toàn phần cuối năm là 99/100.


Nhờ đó mà đến 2004, dùng những điểm cao tại trường Dawson, Trần Thiên Ái nộp đơn vào đại học McGill lần thứ hai và được nhận ngay. Lúc đó anh vẫn đi làm việc ban ngày và đi học ban đêm ở McGill như đã kể. Khi được đại học McGill nhận cho học toàn thời gian, Trần Thiên Ái ghi danh vào chương trình Social Work, Công Tác Xã Hội.

Thành quả của sự quyết tâm


Năm 2006, Trần Thiên Ái đạt điểm GPA 4 tức điểm cao nhất tại McGill, được vào top 15% của chương trình học. Nhờ thành quả học tập này, anh được Golden Key International Honor Society, một tổ chức chuyên vinh danh những sinh viên ưu tú trên khắp thế giới, nhận làm lifetime member tức thành viên suốt đời. Thừa cơ hội đó, Trần Thiên Ái nộp đơn xin học bổng của Golden Key International Honor Society:

Mà học bổng này chỉ dành cho những thành viên của Gloden Key thôi, những thành viên từ các trường đại học người ta chọn vào tổ chức. Rất may mắn em thắng được học bổng quốc tế đó và em là một trong mười sinh viên trên toàn thế giới thắng giải đó.
Năm 2006, Trần Thiên Ái đạt điểm GPA 4 tức điểm cao nhất tại McGill,được vào top 15% của chương trình học. Nhờ thành quả học tập này, anhđược Golden Key International Honor Society, một tổ chức chuyên vinh danh những sinh viên ưu tú trên khắp thế giới, nhận làm lifetime member

Để có đủ tiêu chuẩn tốt nghiệp đại học McGill, từ 2005 đến 2009 Trần Thiên Ái phải thực tập nhiều trăm giờ cho khoa Công Tác Xã Hội, một chương trình học cử nhân. Anh đã thực tập tại nhiều nhà dưỡng lão, và các
Anh Trần Thiên Ái chụp hồi còn ở trại tỵ nạn Philippines cùng với một số thiện nguyện viên quốc
 tế
Anh Trần Thiên Ái chụp hồi còn ở trại tỵ nạn Philippines cùng với một số thiện nguyện viên quốc tế
khu gia cư của những người có thu nhập thấp. Trong thời gian đó, một giáo sư đại học nhân thấy năng lực cùng ý chí làm việc của Trần Thiên Ái nên đã có ý đề cử anh vào giải di dân hàng đầu Canada.

Năm 2008, Trần Thiên Ái được đại học McGill chỉ định làm phụ tá nghiên cứu tại đại học McGill vẫn trong bộ môn Công tác Xã Hội. Đây là kết quả ba năm làm việc đắc lực để giúp đỡ người già cả thuộc các sắc dân khác nhau chứ không riêng Việt Nam. Năm 2009, anh được giải thưởng Sadie Aronof về Phẩm Chất Lãnh Đạo. Đây là giải thưởng mà trường đại học McGill chỉ dành cho một sinh viên tốt nghiệp mỗi năm mà thôi.

Cũng trong năm đó, 2009, Trần Thiên Ái tốt nghiệp đại học McGill với bằng danh dự. Những bước thành công về học lực, việc làm, những hoạt động trong lãnh vực giúp đỡ bảo vệ người cao tuổi đã giúp Trần Thiên Ái đạt nhiều bằng khen . Anh trở thành chủ tịch của Liên Hội Người Việt Canada và Trung Tâm Việt Nam Canada năm 2009.
Em cảm thấy vinh dự khi được đề cử giải thưởng di dân hàng đầu Canada, và em cũng cảm thấy rất vinh dư là em được chọn vào vòng chung kết. Em muốn chia sẻ giải thưởng này với người Việt ở Canada, đặc biệt với thuyền nhân cùng cảnh ngộ với em và từng sống với em tại Philippines
Anh Trần Thiên Ái

Tháng Mười Một 2011, Trần Thiên Ái được Uỷ Ban Cải Huấn Canada (Correctional Service Of Canada) công nhận về những hoạt động thiện nguyện của anh từ 2010 đến 2011 trong Uỷ Ban Cố Vấn Công Dân Canada. Anh trở thành người sắc tộc duy nhất trong Uỷ Ban này.

Đối với một người có nhiều ý chí phấn đấu như Trần Thiên Ái, nỗi khó khăn lớn nhất không phải chuyện vươn lên ở xứ người mà là sự xa cách cha mẹ trong hai mươi năm. Nay thì anh đã đoàn tụ cùng song thân trên đất nước Canada đã nuôi nấng anh vững chải và trưởng thành:

Em cảm thấy vinh dự khi được đề cử giải thưởng di dân hàng đầu Canada, và em cũng cảm thấy rất vinh dư là em được chọn vào vòng chung kết. Em muốn chia sẻ giải thưởng này với người Việt ở Canada, đặc biệt với thuyền nhân cùng cảnh ngộ với em và từng sống với em tại Philippines trong những năm tháng rất dài mà không có định hướng tương lai.

Nếu như em trở thành một trong hai mươi lăm di dân hàng đầu ở Canada thì em hy vọng rằng những nỗ lực mà em cố gắng và em đạt được, những thành tựu mà em có được hôm nay sẽ là một động lực nào đó không chỉ là cho người trẻ của Việt Nam mà đặc biệt cho những người di dân đến một đất nước mới.Nếu như em có thể lực để vượt qua những khó khăn thì những người khác chắc chắn cũng sẽ làm được như vậy.


Được biết hạn cuối để bầu chọn từ bảy mươi lăm người vào chung kết ra hai mươi lăm người di dân hàng đầu Canada là ngày 13 tháng Tư. Kết quả chính thức sẽ được công bố cuối tháng Năm tới. 
 
Thanh Trúc, phóng viên RFA
2012-03-21

Chủ Đề 30.4: Thổn thức, Nghẹn ngào cho Việt Nam

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.
Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?
Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu
kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.
Vietnam, A portrait of its people at war
Nguồn: media.us.macmillan. com
------------ --------- --------- --------- --------- --------- -
Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.
Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.
Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.
Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã
chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.
Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi
cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).
Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.
Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ
chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.
Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại
dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.
Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu
tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.
Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.
Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!
Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.
Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.
Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.
Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng
thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.
Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.
Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ
nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.
Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng
của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:
‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.’
(Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).
Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.
Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.
Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.
Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.
Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt
vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.
Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.
Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.
Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.
Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir
------------ --------- --------- --------- --------- --------- -
Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí
thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.
Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.
Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.
Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.
Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.
Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi
vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.
Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.
Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, 'Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho
tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.
Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng
được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.
Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

-Tác giả: Đoàn Văn Toại - Felix lược dịch

Bài Xem Nhiều