We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 25 March 2012

Chủ Đề 30.4: Phương Nam, Ánh Sao Nơi Cuối Trời, Tháng 4-1975, Phần 1-2: Lệnh Triệt Thoái Bất Ngờ

Cựu MX Lâm Tài Thạnh  TĐ 9 TQLC

(Tự truyện  20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẳng đến Vũng Tàu -- từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)  
                                                                     
Đường đi khó                                                                                                    
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông (Ng. BáHọc)

Xin đừng hỏi vì sao, Tôi vẫn nhớ
Mỹ Khê chiều sóng dậy, pháo rền vang
Quân triệt thoái, Tàu không vào bến đỗ
Lối sanh đào, vượt thoát phá vòng vây
Trên đầu súng, khói vương niềm uất hận
Chiến trận tàn, báo tử thiếu hồi chuông
Đà thành mất, sử xanh còn ghi dấu
Mãnh Hổ tình, huynh đệ nói chia ly
Tim rướm máu, xót đau lời tan
Cố tìm về quê Mẹ, đất phương Nam.  (Tây Đô )
Những ngày trong tháng 3 và tháng 4-1975.
1. - Thành phố bỏ ngõ trong ngỡ ngàng.
                                                                                                                                 
Tuyến kháng cự,  phòng thủ sau cùng của Tiểu Đoàn 9 TQLC là đại chủng viện thánh Phaolồ (thuộc nhà thờ Chánh Tòa Công Giáo Đà Nẳng ) nằm dọc theo bãi biển Mỹ Khê, Non Nước trong bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng  đây là một kiến trúc kiên cố với những bức tường che chắn,  vững chắc có thể hạn chế sự  xuyên thủng của các loại vũ khí cá nhân,  tạo sự an toàn tối thiểu cho các quân nhân đang sẳn sàng chiến đấu,  vị trí nầy được liên kết với nhau bằng nhiều dãy nhà cao tầng, rất tiện lợi và hữu ích cho việc quan sát, phòng thủ,  ngăn chận các đợt tiến công, trong cuộc trì hoãn chiến không cân sức nhưng cần thiết nầy. (Xin xem Trận chiến sau cùng của TĐ 9TQLC / ĐSST 2004.  Tác giả Cựu ĐÚy Đoàn Văn Tịnh Trưởng Ban 3 / TĐ 9).
                                                                                                                                          
Kể từ 11:30 sáng Ngày 29 Tháng 03 Năm 1975,  mọi cố gắng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 369 TQLC và các đơn vị yểm trợ,  chỉ được trả lời bằng sự im lặng khó hiểu. Trong lúc đang di chuyển ngang qua một phi đạo cũ trong căn cứ Non Nước,  tình cờ Tôi gặp Đ/Úy Trần Văn Hên là bạn cùng Khoá 17TĐ, Đại ĐộiTrưởng Đại Đội Duyên Hải thuộc Tiểu ĐoànYểm Trợ Thủy Bộ TQLC.

Đ/Úy Hên là người nhận lệnh và có trọng trách thiết lập đầu cầu di tản,  triệt thoái, v,v… (Trích thư của Đ/Úy Hên : Chiều ngày 26 tháng 3 năm 1975 nhận lệnh của Sư Đoàn, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ chuẩn bị lập đầu cầu di tản cho các đơn vị TQLC tại bãi biển Non Nước vào sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.  ĐĐ Duyên Hải phụ trách an ninh bãi và phương tiện cấp cứu trên biển như áo phao, xuồng máy  an toàn bải v..v..) (Tiểu Đoàn 9 hoàn toàn không biết về Lệnh HQ nầy).
Tôi và Hên cùng nhau trao đổi một số chi tiết liên quan đến tình hình triệt thoái, lui binh. Hên khuyên Tôi phải rời căn cứ Non Nước,  tìm một phương cách, giải pháp khác, để bảo toàn đơn vị.  Chúng tôi chia tay nhau mà chưa ai biết được cuộc diện và số phận sẽ ra sao.  Cuối cùng khoảng 12:30 trưa qua tần số liên lạc truyền tin với các đơn vị bạn,  Tôi tiếp xúc được với Hà Nội ( Cố Thiếu Tá Trần Văn Hợp Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2 TQLC đã chết trong Trại Tù khổ sai Cộng Sản ở miền Bắc vào năm 1978 ). *** sau đây là đàm thoại giữa Tôi và Th / Tá Hợp mà Tôi còn nhớ như mới xảy ra.
***
----!!! _ Hà Nội đây Tây Đô.                                                                                                                                                   
** Tôi nghe Tây Đô 5 / 5.
----!!! _Hà Nội đang ở đâu?                                                                                                                                         
** Tôi đang cưỡi cá. (lúc nầy các loa tăng âm của máy truyền tin PRC 25 theo lệnh Tôi đã được tháo bỏ để tránh sự xôn xao,  bàn tán,  bất lợi cho đơn vị ).                                                                                                                                                                                           
----!!! _ Hà Nội có số nhà của Hồng Hà Quang Trung    ( Hải Quân ) cho Tôi,  để Tôi 2 lần Lê Lai (liên lạc)  yêu cầu họ vào  “ Zulu ” ( di chuyển ) con cái Tôi.                                                                                                                 Im lặng trong vòng 1 phút .                                                                                                                                         
** Tây Đô sẳn sàng chưa?                                           
 Tôi ra dấu cho âm thoại viên Lương (?) chuẩn bị ghi xuống.
----!!! _ Hà Nội cho qua.                                                                                                                                              Sau khi lập lại 4 con số chính xác cho âm thoại viên Lương.  Tôi nhờ Anh Hợp báo cho phía Hải Quân biết trước,  danh hiệu liên lạc của Tôi,  nhằm tránh sự        “ hiểu lầm địch xen vào tần số”.                                     ** Anh Hợp trả lời OK và chúc Tây Đô may mắn.   Cuộc điện đàm chấm dứt trong tiếng đạn nổ rền vang bởi các đợt pháo kích của pháo binh Cộng Sản,  nhằm chuẩn bị mở đường cho các đơn vị chánh quy bộ binh Bắc Việt,  còn đang trên đường “ tiến quân ” từ xa vào thành phố Đà Nẳng.                                                                                                                                                                                          
Tôi lặng lẽ,  trao trả ống liên hợp cho âm thoại viên Lương và tự hỏi với chính  mình  --- Làm sao đây? --- Kế hoạch nào có thể thực hiện được? --- để đưa đơn vị ra biển với tình hình gần như tuyệt vọng nầy,  trong khi Đại Đội 3 ĐĐT là Tr / Úy Trương Văn Ba và Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc Tiểu Đoàn Phó còn đang cố gắng,  tìm về với BCH Tiểu Đoàn 9,  hiện nay “dậm chân” tại chổ vì các xuồng cao su của Công Binh TQLC có nhiệm vụ đưa toàn bộ Tiểu Đoàn 9 vượt qua nhánh nhỏ sông Hàn,  nằm kế bên một trại cưa  theo lộ trình,  kế hoạch lui binh,  triệt thoái của … để ra bãi biển Non Nước,  đã không còn ai phụ trách,  những quân nhân làm nhiệm vụ đã bỏ nhiệm sở,  sự việc nầy gây khó khăn,  làm chậm bước tiến của ĐĐ3,  trên đường tìm về hội tụ cùng BCH Tiểu Đoàn  lúc nầy đang chuẩn bị di chuyển  hướng về vị trí phòng thủ sau cùng ở đại chủng viện (trước đó khi được báo tin về tình hình biến chuyển,  không thuận lợi cho ĐĐ3 và Th / Tá Tiểu Đoàn Phó,  Tôi đã bàn thảo với Th/Tá  Lộc cho ĐĐ3 đổi hướng,  len lỏi trong các xóm nhà ngoại ô,  đi ngược về phía cầu Trịnh Minh Thế tìm đường khác đến điểm hẹn ).  Tôi xử dụng máy liên lạc với không lực,  chuyển qua tần số của Hải Quân.  Sau vài lần gọi,  Tôi nói chuyện được với hạm trưởng Hải vận hạm Ninh Giang 403 (Thiếu Tá Nam,  ám danh đàm thoại là Nam Hổ?).  Hiểu được sự cần thiết phải nhờ cậy Hải Quân,  trong giây phút sanh tử nầy,  nên Tôi phải xuống giọng gần như  “năn nỉ ” hầu có thể cứu lấy đơn vị,  nhưng tiếc thay với  lý do địch pháo kích,  thiếu an toàn nên Hải quân không thể vào “ủi bãi ” đón TĐ 9 trước 8 giờ tốí nay Ngày 29 Tháng 3 Năm 1975.

--- Cái gì ---
*** Qua ống liên hợp Tôi hét lên  --- Nam Hổ đây Tây Đô,  các đơn vị chánh quy Bắc Việt chưa vào Đà Nẳng nếu chờ đến - 8 giờ tối - Tôi nghĩ rằng quá trể cho việc “ zulu ”; Nam Hổ có “ủi bãi ” thì chỉ vào lấy xác chúng tôi mà thôi ----

***. Im lặng trong khoảng một phút : --- Tây Đô đây Nam Hổ --- Tôi nghe ---  Rất tiếc,  lệnh trên không cho “ ủi bãi” lúc này,  bạn ráng chờ đến tối,  chúc may mắn.  Không có sự lựa chọn nào khác,  như dòng sông phải đổ ra biển,  như cuộc tình khi không còn mộng đẹp ban đầu thì phải nói lời chia tay.  Tôi đồng ý và khẳng định với hạm trưởng Hải Quân là TĐ9 TQLC sẽ giữ vững phòng tuyến cố thủ,  chờ đợi đến giờ hẹn.

Tôi cũng yêu cầu hạm trưởng Hải Quân giữ liên lạc thường xuyên với
Tôi.     
                                                                                                                                               
Một cảm nhận chua chát,  cay đắng đè nặng lồng ngực,  khi nghe  lời chúc may mắn lần thứ hai trong ngày, từ hạm trưởng Hải Quân.  Liệu có chiếc đũa thần nào,  phép lạ nào mang lại may mắn cho cùng một lúc hơn 700 trăm chiến sĩ  đang trong tuyệt tử lộ,  với sự lạnh lùng,  quên lãng như các cơn sóng vô tình không cảm xúc,  đang đập vào bờ,  cuốn trôi theo toàn bộ những gì đã bị bỏ lại,  dọc theo bãi biển Mỹ Khê,  kể cả những thân xác con người bất hạnh,  nằm rải rác hay đang trôi nổi bồng  bềnh ngoài biển khơi.  Thật tội nghiệp,  họ cũng chỉ là những con người bình thường,  cũng    “tham sanh húy tử ” như mọi con người khác,  nhưng lúc nào cũng cố gắng thi hành “quân lệnh” đến khi biết,  họ chỉ là những  “con chốt chậm chân” trong ván cờ “báo tử thiếu hồi chuông” họ tìm sanh lộ,  trong hy vọng tìm một lối về,  đoàn tụ gia đình tổ ấm,  với nắng đẹp phương Nam,  tiếc thay sự may mắn đã không đến với họ. Tiếng kèn truy điệu,  lá cờ của tổ quốc thân yêu,  mãi mãi là  “món nợ muôn đời”  không thể trả,  cho những “anh hùng vô danh” đã chết vào những giờ phút sau cùng của cuộc chiến.  Báo cáo nào?  Quân sử nào?    sẽ ghi lại toàn bộ sự    “lạnh lùng,  tàn nhẫn  của chiến tranh đây”.

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người 
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.  ( Chinh phụ ngâm )

Sau vài phút suy nghĩ,  Tôi tự lấy máy liên lạc nội bộ,  đứng riêng ra một góc,  không quá gần các quân nhân trong ban  chỉ huy Tiểu Đoàn.  Tôi không muốn những đối thoại,  trao đổi giữa Tôi và Th/ Tá Lộc TĐPhó sẽ làm cho tinh thần    quân nhân dưới quyền bị giao động. Tôi kể lại cuộc đối thoại giữa Tôi và Th/ Tá Hợp TĐ 2 cũng như lời hứa của Hải Quân…!! Chúng ta không thể kỳ vọng vào lời hứa của họ. Chúng ta phải tự lo liệu mà cứu lấy đơn vị!!  Tôi kết luận    và nói với Th/ Tá Lộc về kế hoạch “tự cứu” như sau : ĐĐ 3 dưới sự điều động của TĐPhó Lộc phải đổi  hướng di   chuyển,  khi đi đến các xóm nhà có đông dân cư hành nghề đi biển,  dọc theo con sông Hàn, bằng bất cứ giá nào,  kể       cả dùng “vũ lực ” thu,  gom tất cả các phương tiện ghe,  xuồng dùng vào việc đi  biển và nếu cần thiết,  bắt giữ luôn các ngư dân biết xử dụng các phương tiện đó,  rồi xuôi theo nhánh sông Hàn ra điểm hẹn gặp. Tôi tại tọa độ X. Th / Tá Lộc cho biết: hiện nay ĐĐ3 đang bị quấy rối bắn tỉa bởi bọn đặc công Cộng Sản nằm vùng và du kích địa phương đang bám sát,  dẩn đường cho quân chánh quy Bắc Việt truy kích.  Anh còn cho biết thêm,  qua tin tức của dân chúng chạy loạn,  Thành Phố Đà Nẳng đã hoàn toàn bỏ ngỏ,  toàn bộ các đơn vị của Quân Khu 1 đã “tan hàng” lúc giữa trưa mà chẳng có “trận đánh giữ sĩ diện nào được thực hiện” ngoại trừ 2 cánh quân còn đội hình và sẵn sàng tác chiến của Tiểu Đoàn 9 TQLC. Anh hoàn toàn đồng ý với kế hoạch Tôi đề xướng và sẽ cho  Đại Đội 3 thi hành ngay lập tức.  (--- Thiếu tá Lâm   tài Thạnh, Tiểu Đoàn Trưởng/ TĐ9 TQLC người anh cả của đơn vị,  cho tập hợp từ Tiểu Đội Trưởng trở lên nói những lời chân tình trước thuộc cấp --- tôi không bỏ đơn vị được,  giờ phút nầy tôi và các anh em hãy tự lo liệu ! (Trích thư  của Tr / Úy Lưu minh Quan).                                                                                                                                                                                  
3 giờ chiều Ngày 29 Tháng 03 Năm 1975,  Tôi ra lệnh cho nhân viên truyền tin (Hạ sĩ 1Kim Anh và Vũ quang Bình   người phụ trách quay đầu bò ) xử dụng máy truyền tin PRC 79.  gởi công điện cuối cùng cho Tr/ úy  Trần Trung (Chỉ huy hậu cứ TĐ 9 TQLC) nhằm mục đích cho hậu cứ biết rõ tình hình của đơn vị,  còn đang tiếp tục chiến đấu,  chưa bị thiệt hại nhiều,  cũng như các tin tức liên quan đến những giây phút cuối cùng của Tiểu Đoàn.  Tôi chỉ thị trong công   điện là đích thân chỉ huy hậu cứ,  phải thông báo cho thân nhân của mọi quân nhân Tiểu Đoàn 9 TQLC hiểu rõ tình  trạng của đơn vị,  hầu sau nầy trong tình huống xấu nhất,  các thân nhân còn có  được một sự an tâm tối thiểu về sinh mạng của người  thân,  kể cả có ngày để nhớ  cho “lể giỗ” sau nầy!!!                                                                                                                                 

Trong bóng chiều,  ánh nắng cuối ngày,  tắt dần về hướng Tây,  mặt trời còn chút màu đỏ ráng,  chiếu các tia nắng  sau cùng trên các hàng cây nhấp nhô,  mênh mông như một biển máu đang chờ đợi những con người “chí không nản,      lòng không sờn” dù biết niềm tin khó thành hiện thực,  khi dỏi mắt nhìn theo hình dạng các con tàu,  xa dần nơi biển khơi.  Tôi thật sự nát lòng,  khi ra lệnh phá hủy máy truyền tin PRC79,  phương tiện còn lại duy nhất có thể liên lạc tầm xa với thế giới tự do,  vùng đất quê mẹ phương Nam,  nơi đã sản sinh,  nuôi dưởng,  đào tạo Tôi nên người,  để có một vị trí chỉ  huy như hôm nay; đó cũng là nơi chan chứa những yêu thương vô vàn gắn bó,  ràng buộc của Mẹ,  Cha,  Anh,        Em,  Bè bạn,  của tình Chồng,  nghĩa Vợ,  của tiếng cười,  khóc vô tư,  hồn nhiên con trẻ.  Nay mọi thứ đã bị cuốn  trôi theo  “cơn hồng thủy nghiệt ngã nầy” trong nổi nghẹn ngào,  uất ức của những  chứng nhân bất đắc dĩ.

Cuối cùng Tiểu Đoàn 9 TQLC đã không hoàn tất được cả 2 kế hoạch lui binh triệt thoái của chính đơn vị và của mình.  (Riêng Tiểu Đoàn 9 TQLC vì phải bảo vệ cho 2 Tiểu Đoàn 2 và 6 rút nên bị địch tấn công,  sau cùng bị kẹt lại trên bờ.  **Trích “ Can trường trong chiến bại ” của phó đề đốc HVKỳ Thoại. Trang 271 dòng 18 - 20 ** )

Toàn thể chúng tôi        trở thành tù binh của lực lượng võ trang Tỉnh Đội Quảng Nam Đà Nẵng rạng sáng Ngày 30 Tháng 3 Năm 1975 .  (**Trích thư của cựu Tr/úy Lưu minh Quan Cựu ĐĐT / ĐĐ1 / TĐ 9: Bãi biển Mỹ khê,  địa danh mà tôi phải ghi nhớ trong đời. .Trời càng tối, đêm hôm ấy tôi,  Tây Đô (Th/tá Thạnh),  Tân an (Đ/Úy Tịnh) Phú sĩ (Đ/ Úy Phán) phải luồn lách trong những đám rau lang và cây chuối để tìm lối ra lại TP Đà Nẵng hơn 1 giờ sáng thì bị du kích bắt giữ**). (**Trích thư T/ Úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin TĐ9: Em có nhớ một chi tiết,  xin nhắc anh,  xem anh còn   nhớ không,  sự việc xảy ra chỉ có anh,  Đ /úy Tịnh,  truyền tin mang máy và tài xế của anh,  việc xẩy ra trên đường trở      về,  sau khi anh xuống Lữ Đoàn 369 họp (Thứ Tư 26 tháng 3 năm 1975) có một con mễn (con mang) chận đầu xe       của anh,  sau này nghiệm lại thấy trùng hợp với câu người đời thường nói “ mễn (mang) lạc,  nát làng” chỉ vài ngày                     sau Tiểu Đoàn mình tan hàng **) –(-Ghi chú : Sáng Ngày 28 Tháng 03 Năm 1975 T / Úy Trương phước Dĩnh, Sĩ quan truyền tin của TĐ9 nguyên quán ở Hội An,  được Tôi cho đi phép để xem tình hình gia đình,  cha,  mẹ ra sao,  không      ngờ bất thình lình,  lệnh tử thủ trong phiên họp 26 Tháng 03 Năm 1975 bị hủy bỏ,  với lệnh mới TĐ9 TQLC phải cho    phá hủy đạn dược dự trữ,  cấp tốc di chuyển lúc 1130 tối Ngày 28 Tháng 3 Năm 1975 để về phòng thủ giữ Đà Nẵng.      Sau cùng T/Úy Dĩnh may mắn lội ra biển,  lên được tàu HQ với TĐ2 TQLC trong ngày 29 / 3 / 1975 ).
--------
  Phần 2.
 Cựu MX Lâm Tài Thạnh  TĐ 9 TQLC
(Tự truyện  20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)

                                   
           Cựu Thiếu tá Lâm Tài Thanh,cựu Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 9 TQLC-Hình chụp tháng 1-1975
Tiếng gà gáy sáng, văng vẳng bên ngoài, báo hiệu một ngày mới...

... với những bất trắc, rủi ro không lường trước, đang chờ đợi kẻ chiến bại trong tức tưởi, xen lẩn cay đắng. Những người mới hôm qua đây, còn là một đoàn binh kiêu hùng với tinh thần chiến đấu cao độ, vũ khí đạn dược còn đủ, để giáng trả kẻ thù những đòn sấm sét và chận bước chúng như đã từng làm trước đây, thế mà  bổng chốc trở thành kẻ trắng tay trong một cuộc triệt thoái, lui binh, thật sự không có trong binh pháp.
Dưới  ánh sáng chiếu le lói qua các khung cửa  sổ Tôi chăm chú nhìn vào mặt dạ quang của cái đồng hồ Seiko 5, tài sản duy nhất còn sót lại, sau khi bị bắt rạng sáng hôm nay, nhờ bọn du kích chủ     yếu tìm vũ khí nên không lục soát kỹ, 06:00 giờ sáng, cảm giác thiếu vắng ly cà phê và điếu thuốc đầu ngày khiến Tôi  bức rức, khó chịu. Tôi không cảm thấy mệt mỏi, dù gần như thức trắng, trong khoảng thời gian chờ đợi sáng, thức   đêm mới biết đêm dài, bao nhiêu suy tư lẩn lộn, cứ nhảy múa lung tung trong đầu óc, kể cả từ trong tiềm thức.
Tôi chợt nhớ đến trong khoảng năm 1961 - 1962 Tôi có được xem một phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến với tựa đề: Dunkirk evacuation (Cuộc di tản triệt thoái ở Dunkirk / Dukerque) nội dung kể lại cuộc di tản các đoàn quân Đồng Minh gồm Anh, Pháp    và Nam Tư tại bải biển Dukerque nước Pháp, trước viển ảnh bị quân Đức bao vây và tiêu diệt. Lệnh di   tản do chính Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Sir Winton Churchill ban hành Dưới sự yểm trợ tối đa hỏa lực của hải pháo và không  lực Hoàng Gia Anh, sau 9 ngày (trong khi chỉ trong 9 Ngày Quân Đoàn 1 VNCH  hoàn toàn bị xóa sổ) đã di  tản được tổng số 338.226 quân nhân của Anh, Pháp : The next day, the BBC reported,  Major-General Harold Alexander  (the commander of the rearguard “chỉ huy trưởng quân đoạn hậu”) inspected the shores of Dunkirk  from a  motorboat  this morning to make sure no-one was left behind before boarding the last ship back to  Britain (Trích tài liệu từ trang web Wikipedia).
Tiếng vo ve của những con muỗi lượn quanh, đang cố gắng tìm mồi trước khi bình minh rọi sáng giúp Tôi trở về thực  tế. Tôi nhìn quanh căn phòng nhỏ hẹp đang dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh. Tôi biết đây là một lớp học của một Trường Tiểu học VNCH nằm trong khu vực Non Nước, hiện nay có khoảng 40 quân nhân cùng chung số phận “bị bỏ  rơi”, hơn phân nửa là TQLC, trong số nầy có người mặc quần áo dân sự, có người mặc quần trận áo thun hay áo trận quần ngắn, những khuôn mặt thất thần, mệt mỏi, lo lắng với các ánh mắt dò hỏi, ngần ngại không biết phải xưng hô như thế nào cho phải lẽ, bởi sự thay đổi đến quá bất ngờ như trong giấc mộng, tiếng chắc lưỡi, thở dài cho sự thiếu    may mắn, chậm chưn, bên cạnh cũng không thiếu vắng những tiếng chưởi thề để giải tỏa sự bực tức. Tôi thông cảm và hiểu được vì các quân nhân ấy cũng chỉ là những con người bình thường với hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, nay bổng nhiên mất hết tự do và mạng sống đang bị de dọa trầm trọng.
Tiếng hỏi thì thầm khe khẽ của một quân nhân: Ông Thầy bây giờ tính làm sao? Không biết tụi nó đối xử với mình như thế nào Thiếu tá; tụi nó xem mình là tù binh hay hàng binh, Ông Thầy? cách xưng hô bất nhất cho thấy sự kích động, chứa đựng sự âu  như thế nầy là điều dễ hiểu.    
Tôi nhìn thẳng vào mặt người quân nhân đang mặc áo thun, quần trận và chậm rãi nói lớn cho mọi người cùng nghe: Em đừng có quá lo lắng, chúng ta vẫn còn Chính Phủ, còn Sài Gòn, còn Vùng 3 và 4, còn hiệp định ngưng bắn Paris 1973 thì thế nào Quốc Tế và người Mỹ cũng phải lên tiếng can thiệp, để ngưng bắn và trao trả tù binh, phải giữ vững    tinh thần, chịu đựng những khó khăn, thiệt thòi hiện nay, cũng như luôn cầu nguyện theo tôn giáo của em. Sau câu  nói của Tôi, tình hình trong phòng giảm bớt sự căng thẳng. Riêng Tôi tự hỏi: có phải đây là một câu nói để tự an ủi, trấn an cho chính mình?  Từ phía cuối phòng, khi ánh sáng còn chưa đủ để nhận diện là ai, một người đến sát bên  Tôi và nói nhỏ: Thiếu Tá hãy thay bộ đồ nầy, cho đỡ nguy hiểm. Tôi nhìn các thứ đang nằm trên tay của B1 Phụng   (cần vụ) đó là một cái áo gió loại mỏng và một cái quần jeans. Tôi buộc miệng hỏi: Phụng hả? Sao cũng ở đây? Làm sao mà có các thứ nầy? Phụng cho biết: khi TĐ9 vào trong chủng viện, lúc Tôi đang lo điều động việc bố trí phòng thủ, Phụng nhận thấy tình hình quá nguy cấp, khó thể thoát thân, Phụng đã đi xin quần áo dân sự, từ các nhóm người tản cư vì chiến loạn đang tá túc trong chủng viện, phòng khi cần đến cho Tôi. Tôi cầm lấy những vật dụng có thể giúp Tôi tạm thời không còn là cái gai trong mắt của những kẻ đang chiến thắng trong “ngạc nhiên và bất ngờ”. Tôi nói tiếng cám ơn trong cảm động, bùi ngùi gần rơi lệ. Tôi nghiệm ra một điều, có lẽ trước đây Tôi chưa cảm nhận được, đó là trong cuộc sống của 11 năm quân ngủ, bên cạnh những con người chỉ biết có lợi ích của bản thân (khi  mâm tiệc còn đủ món ngon, vật lạ thì chiếu trên, chiếu dưới  giành nhau công trạng nhưng đến khi tiệc tàn, rượu hết, bình vơi, chỉ còn lại xương xẩu, khó ăn, khó nuốt, thì đến lời nói ủi an cũng chẳng màng) vẫn còn có những tấmlòng chân chất, trung thực, dễ thương; tặng phẩm bất ngờ của B1 Phụng trong một đổi đời, lúc mà, chưa ai biết  được số mệnh sẽ đi về đâu là biểu trưng vô giá cho tình chiến hữu, sống chết có nhau, hoạn nạn cùng chia sẻ với một ý tưởng đơn giản duy nhất, giúp ngụy trang phần nào lai lịch, nhằm che chắn cho sinh mạng, đang bị nhiều đe dọa  của Tôi, trong lúc Tôi chỉ còn là con số không vô giá trị. Ôi thật cao quý cho nghĩa cử tương thân, tương ái nầy, bây giờ Tôi mới thấu hiểu sâu sắc câu nói của người xưa: Trong nghèo khổ mới biết ai là người con hiếu  thảo. Lúc đất  nước lâm nguy mới biết ai là trung thần  (Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần). Tôi tự hỏi với chính mình: biết đâu, trong quá khứ B1 Phụng đã từng bị Tôi quở trách vì một lổi lầm nào đó, thế mà bây giờ trong hoàn cảnh “tù binh” giống nhau, thế thì điều gì đã khiến Phụng còn lo lắng cho Tôi đến giờ nầy? Phải chăng đó là “tình người cao  cả”? .
Tiếng động mở dây xích dùng để khóa cửa phòng giam, mọi người ngưng nói chuyện. Tôi nhìn đồng hồ 07:00 giờ sáng của Ngày 30 Tháng 03 Năm 1975, trong im lặng chờ đợi, hai người có dáng dấp trung bình, quần áo dân sự bình thường với vũ khí trên tay là 1 AK47 và 1 K54 bước vào phòng, đứng cách xa chúng tôi khoảng 3 thước, một người có dáng vẻ là chỉ huy lên tiếng trong âm ngữ miền Trung khó nghe, thông báo là Cách mạng đã thành công v…v…; sau    vài phút khoát lác, khoe khoan thành tích, đột nhiên hắn ngưng lại: Trong các ông có ai là sĩ quan không? Bất chợt hắn buông ra câu hỏi và im lặng chờ đợi.  Tôi quyết định thật nhanh và lên tiếng: Có ; trước các khuôn mặt đầy căng thẳng, lo lắng của mọi quân nhân trong phòng (khi bị bắt giải về Trường học Tôi đã lạc mất Đ/úyTịnh, Đ/úy Phán và Tr/ Úy Quan) .
 .- Quân hàm của Ông là gì? Tôi chẳng hiểu hắn hỏi điều gì, nên chưa trả lời. Tên cùng đi có lẽ là “ nằm vùng, hoạt động nội thành” thấy thế liền lên tiếng: Cấp bậc của Anh là gì? Tôi trả lời: Thiếu Tá. Cả hai cùng nhìn nhau và tên kia hỏi tiếp: Cấp chức của Ông? Tôi trả lời trước khi tên kia diển dịch: Tôi không biết chữ cấp chức Ông dùng là gì nhưng chức vụ của Tôi là Tiểu Đoàn Trưởng. Phiên hiệu của đơn vị Ông? Tôi lại “chới với” vì chẳng biết phiên hiệu     là cái giống gì !! Tên nằm vùng lập lại câu hỏi: Anh thuộc quân binh chủng nào của Sài gòn? Tôi trả lời Thủy Quân    Lục Chiến. Khi nghe Tôi trả lời, hắn nói ngay với tên có vẻ là chỉ huy Anh ta là Lính Thủy đánh bộ. Tên chỉ huy phán ngay một câu: Bọn lính ngoan cố, ác ôn đấy à!!!Tôi không trả lời nhưng cảm thấy tim đập nhanh hơn, một ý nghỉ thoáng qua: Không lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình !! Những hình ảnh thãm sát kinh hoàng trong Tết Mậu thân 1968 tại Huế, chợt trở về trong trí nhớ. Tôi tự nhủ với chính mình – phải tìm cách thoát thân bằng mọi giá dù phải đánh đổi mạng sống - .

--- Còn ai là sĩ quan trong phòng nầy không ?
Mọi người cùng im lặng. Tên chỉ huy nói thêm vài điều quy định nơi giam giữ cũng như hứa sẽ có người mang  nước uống, thực phẫm đến cho tù binh.
--- Anh đi theo chúng tôi. Tên chỉ huy nói và ra hiệu cho tên mang AK47 tiến về phía Tôi, áp giải Tôi ra khỏi phòng, trong những tiếng chất vấn của B1 Phụng và một số quân nhân khác thuộc TĐ9TQLC .
Tôi bước ra  ngoài, cửa  phòng giam đóng, khóa lại, luồng gió mát của không khí trong lành buổi sáng giúp Tôi thấy dễ chịu, sự tự do thong thả không còn bị giam giữ trong bốn bức tường dù chỉ tạm bợ trong chốc lát cũng cho Tôi thêm nghị lực và sẳn sàng đối phó với tình huống xấu. Nhìn một lượt quang cảnh chung quanh, Tôi thấy có khoảng 8 – 10  Lớp học được dùng làm nơi tạm giam giữ tù binh, các du kích địa phương bao gồm đàn ông lẩn đàn bà tới lui chuyện trò ồn ào, khoe khoan thành tích cũng như các loại vũ khí chúng thu gom được dọc theo bải biển Mỹ Khê Non Nước, chúng xưng hô với nhau: anh Tư, chị Sáu, chú Mười trong sự đắc chí, hả hê, nghe mà nóng mặt, Tôi tự nhủ lòng: ngày nào có cơ hội trở lại đây thì chắc là giết lầm hơn bỏ sót.…
Phải quyết định nhanh, trước khi chúng nổ súng, bắn sau lưng mình. Tôi đi chậm bước và xoay người lại khi đang hướng về lớp học nằm cuối dãy. Tôi hỏi tên nằm vùng: -- Có thuốc hút cho Tôi một điếu? Cả 2 tên dừng lại, tên chỉ  huy hỏi: Có hút được thuốc lá cẩm lệ không? --- Tôi lắc đầu, vừa tính lợi dụng sự chểnh mảng của bọn chúng khi   đang nói chuyện  để “liều mạng cướp súng” thì tên chỉ huy nói tiếp đồng chí chủ tịch ủy ban quân quản, bảo phải “ cách ly” các sĩ quan, để chiều nay giao lại cho bộ đội Sư 304. (Sư đoàn 304 Bắc Việt ).Tôi thở phào nhẹ nhõm, như thế là chưa tàn đời, đến lớp học cuối cùng, chúng giam Tôi vào trong đó, bỏ đi sau khi hứa sẽ có người mang cơm, nước đến cho Tôi .
Tù binh tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 3 VNCH Trại Hoà Cầm.-
Qua hai mươi bốn tiếng đồng hồ đầy căng thẳng, xen lẩn các câu tự hỏi mà không có câu trả lời. Tôi ngã lưng, nằm dài trên chiếc bàn học sinh, sau khi bao tử tạm ổn với 1 vắt cơm có con cá khô nhỏ và ca nhựa nước .!! Làm sao có thể  tin được các lời nói của tên Việt Cộng có vẻ là chỉ huy? Hắn nói để cho Tôi  yên tâm “ chờ chết ” hay như thế nào?
Họ có áp dụng “đúng đắn quy chế Geneve về tù binh” hay không? Phần quân ta liệu có còn cơ hội phản công hay không? Tôi rơi vào giấc ngủ ngắn, buổi trưa  với tâm tư xốn xang, bồn chồn. Đột nhiên những âm thanh vang dội của các loại xe vận tải lớn, ầm ỉ bên ngoài lớp học khiến Tôi giật mình tỉnh giấc, tiếp theo là những tiếng quát tháo, thúc dục, dọa nạt với giọng nói sặc mùi Bắc Việt, tiếng lên cơ bẩm các loại súng cá nhân, tiếng chân người chạy tới lui các    dãy phòng lớp học, tiếng loa cầm tay nghe rõ ràng với lệnh là tất cả các tù binh ra khỏi phòng, tập trung ở sân trường  Tôi đoán biết là quân chánh quy Bắc Việt đã tới để áp giải tù binh. Tôi cảm thấy an tâm phần nào, vì dù sao với một số lượng tù binh đông đảo, cũng như giữa buổi trưa như thế này thì chắc chắn họ không thể “ thủ tiêu ” tù binh được. Tôi nhìn đồng hồ 2 giờ chiều Ngày 30 Tháng 3 Năm 1975. 
Tiếng mở cửa phòng với sự xuất hiện trở lại của tên có vẻ là chỉ huy của lực lượng điạ phương đã bắt Tôi . -- Anh ra ngoài và “khẩn trương chuẩn bị hành quân đi về Trại giam. Chúng tôi đã hoàn thành công tác bước đầu v…” Tôi muốn bật cười ra tiếng, vì cái lối nói nghe trái tai, ngộ nghĩnh của hắn. Tôi vừa bước ra sân cũng là lúc các tên lính Bắc Việt mặt mũi non choẹt (khoảng 16 – 18 tuổi) đang đi tới, đi lui nhắc nhở các quy định trên đường “hành quân  về trại tù binh ”  và --- Anh nào cố tình làm sai quy định sẽ bị xử lý ngay ---. Thấp thoáng ở đầu sân trường Tôi nhìn  thấy hình dáng của Phán, Tịnh và Quan. Khoảng  gần 3 giờ chiều, đoàn tù binh bắt đầu rời khu vực Mỹ Khê Non  Nước, trong sự bố trí canh giữ, nghiêm ngặt  của nhiều đơn vị chánh quy quân  Bắc Việt.
Trong 30 năm của đời sống, chưa bao giờ Tôi cảm nhận được sự nhục nhã đến ê chề, tủi thẹn đến tê tái cả người, khi bị dẫn giải qua những khu phố của TP Đà Nẵng, trước hàng đoàn người dân, đứng dọc theo lộ trình tù binh đi qua với những lời bàn tán khen, chê, chỉ chỏ, cười đùa, có kẻ còn thốt ra những lời chướng tai, ngụ ý cho đáng đời lính ác ôn tuy nhiên cũng có những ánh mắt đỏ hoe ái ngại, lặng lẽ quay mặt, che dấu những giòng lệ thương cảm cho thân phận “ cá chậu, chim lồng ” trong đó có cả thân nhân của họ. Tôi không trách những con người vô tình, thiếu sự  hiểu biết, trong hoàn cảnh gió chiều nào, che chiều ấy của buổi giao thời với những bất chợt thay đổi trong nghiệt ngã và không tưởng ; có trách chăng là trách chính chúng tôi  những người với các mỹ từ đẹp đẻ là chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã không vuông tròn trách nhiệm bảo quốc, an dân, để mất đi một  phần lãnh thổ của Miền Nam trong tinh thần chủ bại và hổn loạn. Quân sử nào sẽ ghi lại đầy đủ nổi đau thương, mất mát không đáng có và nhục nhả nầy?
Đoàn tù binh cuối cùng được đưa vào giam giữ ở Trại Hòa Cầm, đây là nơi trú đóng của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH, các dãy doanh trại hầu như đều còn nguyên vẹn ngoại trừ một vài chổ có khói nhỏ bốc lên do việc thiêu hủy hồ sơ. Sau khi tất cả tù binh đã vào bên trong, ở 2 cổng ra vào, được ngăn chận lại bởi các cuộn dây kẽm gai khoanh tròn (concertina) với một vài  lính chánh quy  mang súng AK47 đứng gác, các thành phần áp giải lần lượt rút đi. Trong khu vực rộng lớn của doanh trại cũ, các tù binh bắt đầu thoải mái đi tìm bạn bè cùng đơn vị, tiếng gọi trong ngạc nhiên, tiếng cười trong mừng rỡ khi gặp lại nhau để biết rằng bản thân và những người quen biết vẫn còn sống.Tôi ước  tính có vào khoảng 4,000 – 5,000 tù binh đủ các  quân binh chủng bị giam giữ tại đây.
Gần 6 giờ chiều thì Tôi gặp lại   hầu hết các sĩ quan đầu não thuộc TĐ9 gồm có Đ/ Úy Tịnh Tr Ban 3, Đ/Úy Phán ĐĐT/ĐĐ2, Tr/Úy Lưu minh Quan ĐĐT/ĐĐ1, Đ/Úy Lê hồng Quang ĐĐT/ĐĐCH, Tr/Úy Công ĐĐT/ĐĐ4, T/Úy Xuân Trưởng Ban 2 (phần Th / Tá Lộc TĐPhó và TR/Úy Ba ĐĐT/ĐĐ3 thì ngày hôm sau mới gặp lại nhau ở ngoài  phố chợ Đà Nẵng ).
Chúng tôi quy tụ lại, chọn một khu vực riêng biệt để cùng nhau bàn bạc, phải làm gì khi có cơ hội. Tôi bảo T / Úy Dương thanh Xuân đi vòng quanh, tìm hiểu, nghe ngóng các tin tức từ các quân nhân khác, cũng như để ý đến việc bố trí canh gác của Viêt Cộng. Khoảnghơn 6 giờ tối, có một nhóm quân Bắc Việt đến với những xe GMC tịch thu được chở theo rất nhiều quần áo trận còn mới, lấy được từ các kho dự trữ của Quân Đoàn 1. Họ phân phát cho những tù binh nào chỉ có áo thung, quần ngắn (sau nầy mới biết họ có chủ đích muốn quay phim để tuyên truyền, làm lũng đoạn thêm tinh thần chiến đấu của quân ta). Màn đêm dần buông xuống, mọi người kiếm chổ ngã lưng trên các băng ghế dùng  cho các tân binh trong  quân trường, với bụng đói meo và khát nước .
Tiếng T/ Úy Xuân thì thầm bên tai Tôi, báo cho biết về sự canh phòng lỏng lẻo của bọn Việt cộng (Theo sự nhận xét của Tôi thì quân Bắc Việt hoàn toàn không quan tâm đến tình hình tù   binh trong giai đoạn nầy, khi  các cánh quân tiến công của họ chưa bao giờ gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân ta.
Mọi nỗ lực và quan tâm của họ trong lúc nầy là “đánh lấy Sài gòn ”. Những chiến thắng bất ngờ đến với họ, qua các cuộc rút quân vội vã, không kế hoạch chu đáo của ta  để rồi sau đó trở thành những thất bại mang tính hệ thống giây chuyền ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của mọi quân nhân ). Tôi nói với T/ Úy Xuân ngày mai chúng ta sẽ tìm cách trốn ra khỏi chồ nầy .Tôi hỏi Xuân có gặp hay thấy B1 Phụng hay không, Xuân cho biết không thấy. Tôi nghĩ có lẽ Phụng đã trốn được.
Trong ánh sáng chập chờn của các ngọn đèn thiết lập chung quanh căn cứ, Tôi thầm nghĩ, thế là thêm một đêm dài  sống trong suy tư với chập chùng vấn vương, thương nhớ.
Ký ức chợt hiện về trong trí nhớ  mới đây thôi, chưa đến 60 ngày, BCH / TĐ 9 đóng quân ở bải biển Mỹ Thủy, trong dịp Tết Nguyên Đán Ất Mão 1975 (11 / 2 / 1975 dịp nầy  Th / Tướng, Tư Lệnh SĐ, có đến thăm TĐ9 và Pháo Đội C / TĐ1 PB của Tr / Úy Nguyễn văn Tuấn ) được sự chấp thuận của Sư Đoàn, Tôi đón gia đình từ Sài Gòn ra thăm, sau các ngày Xuân. Tôi xin phép Lữ Đoàn đưa gia đình   đi  Đà  Nẵng để thăm cậu em của YT (Ng Chí Thiện Radio Bolsa, Nam California, cũng là anh của nghệ sĩ hài Chí Tài), lúc bấy giờ đang phục vụ ở Sư Đoàn 3 BB / Ban quân nhạc tại Trại Hòa Cầm nầy), trong vai trò của một sĩ quan  trung cấp, Tôi được sự tiếp đón nghiêm chỉnh, lịch sự, hữu ích của toán quân cảnh gác cổng BTL / Sư Đoàn  3 BB, đã giúp cho  việc thăm gặp dễ dàng và nhanh chóng. Thế mà nay, vật đổi sao dời, mọi chuyện thay đổi như trong giấc mơ, Tôi dõi mắt  nhìn   lên khoảng không gian vô tận trên cao với muôn vàn ánh sao lấp lánh, Tôi tự hỏi đâu là ngôi sao số mạng của mình, liệu nó có trở thành ánh sao băng quá sớm, trong giải ngân hà sáng chói, rực rỡ, ở tận cuối trời phương Nam  và ngôi sao nào sẽ đưa lối, dẩn đuờng Tôi tìm về tổ ấm như ánh sáng nhiệm mầu của một thuở xa xưa, dẩn dắt con người đến với các Đấng thiêng liêng. Tôi thiếp đi, trong văng vẳng đâu đây tiếng gọi thương yêu của con trẻ cùng tiếng thở dài não ruột của thiếu phụ Nam sương  .
Phố chợ Đà Nẵng - May mắn lần thứ nhất.
Ánh sáng ban mai rọi chiếu khắp nơi, báo hiệu một ngày mới bắt đầu trong sự ồn ào như ong vở tổ, khi toàn thể tù binh  trở dậy, sau một giấc ngủ không trọn vẹn. Mọi người tụ tập thành từng nhóm theo đơn vị cũ hay bạn bè quen biết. Mối quan tâm chung của tất cả tù binh là: Việc gì sẽ xãy ra trong ngày hôm nay? Số phận tù binh sẽ được giải quyết  như thế nào? Vấn đề ẩm thực sẽ ra sao? v…v… Th/úy Xuân trở về sau khi đi thu thập tin tức  tình hình (ám số chuyên nghiệp của B 2) cho biết, hiện nay chỉ có vài tên du kích đứng gác ngoài cổng. Tôi bảo Xuân: ban ngày lộ diện, khó trốn sự truy đuổi, nên cố gắng tiếp tục tìm lối thoát dọc theo hàng rào phòng thủ ở mặt trước của Trại (ít có nguy hiễm hơn bởi các bãi mìn xung quanh Trại). Không ngờ sự may mắn đầu tiên đến với tù binh chúng tôi. Khoảng 11 giờ trưa, có một  xe GMC chở đến 4 - 6 giỏ cần xé đựng cơm, cá khô. Sau khi chuyển giao các thứ hàng cho bọn du kích gác cổng (bọn lính chánh quy Bắc Việt đã rút đi trong đêm), xe tiếp tục chạy đi. Tù binh chúng tôi để ý, theo dỏi diển biến tại cổng gác, thấy mấy tên du kích tụ họp, bàn tán với nhau khoảng 10 phút, có 2 tên đi vào sát hàng rào ngăn cách, thông báo tù binh cho người ra nhận các giỏ cơm, tù binh bắt đầu lớn tiếng chất vấn tại sao số lượng tù binh thì nhiều mà chỉ có mấy giỏ cơm thì làm sao cho đủ…v…v, tiếng náo động phản đối, càng lúc càng to  nghe vang rền cả khu vực.
Bọn du kích canh giữ, không biết phải xử trí như thế nào trước làn sóng la hét phản đối của tù binh. Sau cùng cả toán du kích lẳng lặng kéo nhau bỏ đi mà không có bất cứ phản ứng gì ; thế là tất cả tù binh cũng tự động tan hàng theo sở thích từng nhóm hay đơn vị cũ.
(Thứ hai  31 /  3 / 1975 ). 
Hội tụ và may mắn lần thứ hai .- 

Nhóm chúng tôi khi rời khỏi Trại giam giữ Hòa Cầm, hướng về phố chợ Đà Nẵng  gồm có: Tôi, Tịnh, Phán, Xuân Quan, cùng một số quân nhân TĐ9 khác. Trên đường đi vì cần có tiền để xử dụng, khi mọi sinh hoạt của Đà Nẵng còn tương đối bình thường với sự lo lắng, e ngại  của những người dân trong một thành phố mới bị chiếm đóng. Tôi phải bán đi chiếc đồng hồ Seiko 5 và Phán phải bán sợi dây chuyền mang trên cổ, cũng may không bị những người mua ép giá, cho  nên có tiền chia nhau xài tạm (ký ức của Phán và Xuân). Ly cà phê đen đá và tô mì quảng đầu tiên sau 36 tiếng đồng hồ làm thân tù binh với những lo lắng “chết người” đã được mọi người trong nhóm tận tình chiếu cố . Tôi thả hồn theo làn khói thuốc lá mỏng (Tôi vừa mua được gói thuốc lá Ruby quân tiếp vụ) được khéo léo nhả ra một cách chuyên nghiệp, cuộn tròn như hình chữ O đang quyện vòng, xoay quanh, nhảy nhót trước mặt, cố thoát sự kìm hãm để tan dần trong bầu không khí .Tôi tự nghĩ, “một vật thể vô tri như thế mà còn muốn có được sự tự do, huống chi là con người ”. Tôi lẩm bẩm nói với chính mình: Trốn, bằng mọi cách phải trốn, tìm đường về phương Nam!!!. Xuân xoay người hỏi Tôi: Anh Tư nói cái gì? Tôi trả lời: không có chi. Anh sẽ bàn thảo với mọi người sau nầy. Trên đường đi chúng tôi luôn tránh né những nơi mà từ xa, chúng tôi có thể thấy bóng dáng của bọn quân Bắc Việt (phân biệt qua quần áo) hay là bọn du kích, mặc dù việc chặn xét trên đường đi hầu như không có (.- theo nhận xét của Tôi, trong thời điểm nầy mọi hoạt động của thành phố Đà Nẵng chưa bị bọn “xâm chiếm” kiểm soát được hoàn toàn. Đúng nhất phải nói: “Đà Nẵng là của trên Trời rơi xuống” mà bọn Bắc bộ phủ chưa bao giờ nghĩ tới, đến khi “lượm được” cho vào túi mà chẳng biết phải làm gì!“
Sau khi mất Đà Nẵng, kể như quân lực VNCH đã mất hơn phân nửa lực lượng. Đáng buồn hơn nửa là khi sự tan rã xảy ra tại mặt trận miền Trung, thì chỉ riêng tại Quảng Trị, Huế  và Đà Nẵng, quân lực VNCH đã có sẳn kho lương thực và đạn dược đủ để chiến đấu trong vòng ít ra là một năm. Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh. Trang 320 giòng 6 – 11
”Khoảng 2 giờ chiều, chúng tôi có mặt tại các con phố chính của TP Đà nẵng như là: Đại lộ Độc Lập, đường Bạch Đằng (chạy dọc theo sông Hàn), đường Lý Thường Kiệt, đường Quang Trung…vv… Từ các con đường giao điểm nầy, những con người ngơ ngơ, ngác ngác, ăn mặc không giống ai, chỉ nhìn qua là biết “phe ta” do quần áo dân sự xin được, cái dài, cái ngắn, cái rộng, cái hẹp, lại thêm khi nói chuyện thì rõ ngay là dân gốc miền Nam. Mọi người cứ thế mà đi lên, đi xuống, rồi lại đụng đầu nhau ở một góc phố cũ vừa bước qua để : “Nhìn nhau nói chẳng nên lời. Lệ ứa tim đau nổi đoạn trường”.                                                                                                                                                                     
Tại các con phố chính ấy, chúng tôi tình cờ gặp lại Th/ tá Lộc Tiểu đoàn phó, Hạ sĩ Thương (người Huế) là cần vụ của   Th / tá Lộc cũng như “tái ngộ” Đ/ Úy Trần Văn Hên (ĐĐT / ĐĐDuyên hải / TDYTTB ). Tôi hỏi thăm Anh Lộc thì được biết là ĐĐ3TĐ9 “bỏ cuộc ” trước áp lực, ngày càng gia tăng truy đuổi của quân Bắc Việt khi trên đường thực hiện kế hoạch đã được giao phó. Tôi có hỏi về tình trạng của ĐĐT / ĐĐ3 là Tr/ Úy Ba thì Anh Lộc cho biết còn sống nhưng không biết bị bắt giữ ở đâu. Tôi chuyện trò và nói đùa với Đ/Uý Hên là: ĐĐT Duyên hải mà bị mắc cạn mới là chuyện lạ. Tôi còn hát đùa “Mình có 3 thằng“ rơi rớt ”chốn binh đao, biết tìm nơi phương nào, cho thoát đám quân gian” (Tôi, Lộc và Hên cùng tốt nghiệp Khóa 17 Thủ Đức, cùng về TQLC Tháng 11 Năm 1964 với tổng số là 36 Chuẩn Úy). Sau một lúc hàn huyên thăm hỏi, chúng tôi mới bàn về việc phải tìm nơi trú ngụ tối hôm nay  (31 / 3 / 1075 ).
Tôi chợt nhớ có Tr/ Uý Phạm Minh Sơn (Không Quân chuyển về, phụ trách XLTV Ban 3 / TĐ9, khi Đ/Úy Tịnh từ LĐ 258 chưa thuyên chuyển vể TĐ9 và sau này làm phụ tá B3 cho Đại / Úy Tịnh, vốn là người nguyên quán Đà Nẵng ).
Tôi nhắc về Sơn  nhưng tiếc thay chẳng ai biết nhà của Sơn ở đâu trong TP Đà Nẵng.  May mắn lại đến với chúng tôi khi chính hạ sĩ Thương (cần vụ) cho biết là có thân nhân quen biết ở Xóm đạo Thanh Bồ , Đà Nẵng nên sẵn lòng hướng dẫn chúng tôi về đó; cùng lúc ấy Đ/ Úy Hên gặp lại Tr/ Uý Quân (ĐĐ Bảo Toàn / TĐYTTB)  cùng một quân nhân cũng có thân nhân, gần trong khu vực Xóm đạo; thế là chúng tôi cùng dẩn  nhau về đấy; tuy nhiên khi về đến nơi, mới biết là “nhà trống  người không” vì thân nhân quen biết của Thương và quân nhân trong ĐĐBT, đều đã bỏ nhà chạy “tỵ nạn” nơi khác, Quân và Thương phải đi hỏi thăm các người hàng xóm quen biết, sau cùng có được chìa khóa để vào nhà. Nhằm tránh sự “tò mò dòm ngó” của các người dân chung quanh, trong cảnh “tranh tối, tranh sáng” nầy, hơn nữa “cẩn tắc vô áy náy”, chúng tôi quyết định chia ra thành 2 nhóm ở 2 nơi riêng biệt, chỉ cách nhau một con đường. Chúng tôi tắm giặt thoải mái, ăn uống no đủ, nhờ vào các thực phẩm còn sót lại trong nhà. Sau đó mạnh ai nấy lăn ra ngũ bù, mọi phiền muộn, lo lắng, giờ đây tạm bỏ lại đâu đó trong ngăn kéo của thời gian, để tận hưởng cái hạnh phúc, khi biết mình vẫn còn sống và tự do dù trong vòng “kềm kẹp” của quân thù.

(Hết phần 2)
 Đọc Tiếp :Phần 3-4
 

Bài Xem Nhiều