We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 26 March 2012

Chủ Đề 30.4: Phương Nam, Ánh Sao Nơi Cuối Trời, Tháng 4-1975, Phần 3-4: Lệnh Triệt Thoái Bất Ngờ

Phần 3
Cựu MX Lâm Tài Thạnh TĐ 9 TQLC
(Tự truyện 20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)


Thủ đoạn dối trá của Cộng sản và may mắn lần thứ ba: Sáng sớm hôm sau thứ Ba 1 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rời nơi trú ngụ sau một đêm say ngủ, không chập chờn vì ác mộng, trở lại các con đường hôm qua, tìm một quán bên đường, mỗi người một ly cà phê đầu ngày và thu thập tin tức, tình hình thời cuộc với các diển biến không vui “quân ta rút lui chiến thuật khỏi Quy Nhơn ” v…v….Tôi bàn với mọi người “phải vượt thoát” tìm về phương Nam, bằng cách lợi dụng khi “địch quân” còn mãi mê cuộc tiến công, chưa tổ chức hoàn hảo việc kiểm soát, giam giữ chặt chẽ các “tù binh”, cũng như các cấp chánh quyền hành chánh địa phương chưa quen việc, áp dụng chiến thuật “họ tới đâu thì chúng ta theo sau lưng họ, cho đến khi có cơ hội vượt tuyến”.

Khoảng giữa trưa, trước khi chúng tôi trở về nơi tạm trú, qua tin truyền miệng, sau đó từ các xe phóng thanh do bọn “theo đóm ăn tàn” làm tài xế, chạy quanh trong TP Đà Nẵng với lời kêu gọi trình diện của Ủy ban quân quản Đà Nẵng, cho các quân nhân của Sài Gòn trong 3 ngày, kể từ ngày 2 tháng 4 năm 1975 đến ngày 5 / 4 / 1975.Chúng tôi trở về chổ ở với tâm trạng phân vân, đắn đo trong sự cân nhắc của câu hỏi: có nên ra trình diện hay không? Chưa ai trong số chúng tôi có được một kinh nghiệm về Cộng Sản, từ trước đây cho đến ngày triệt thoái không bài bản, mỗi khi chạm trán với bọn họ là chỉ có “Bằng, Bằng” như cao bồi Mỹ “bắn chậm thì chết”. Nay phải ra trình diện họ, rồi thì kết cuộc sẽ ra sao đây? Còn như không trình diện, nếu mai đây, có sự can thiệp của quốc tế, ngưng bắn lần nửa, rồi trao trả tù binh, số phận sẽ ra sao, khi không có tên trong danh sách trình diện thật là nan giải. Sau cùng mọi người, phó mặc cho số phận với kết luận “Ai sao mình vậy ”. Nổi xúc động đến nghẹn ngào, khi trở về nơi trú ngụ nhìn thấy buổi cơm chiều đã được Hạ sĩ Thương nấu nướng, bày biện, đem từ nhà bên cạnh đến cho mọi người cùng ăn với cơm nóng, canh ngon, dù đạm bạc nhưng nói lên tấm lòng chân chất của người quân nhân dưới quyền trước đây. Chúng tôi ngỏ lời cám ơn sự chân tình của Thương “Em chỉ mong, mấy ông thầy làm răng, mà về được trong Nam là em vui rồi”, Thương nói.

Bản đồ Phan Rang.

Buổi tối đến, Tôi triệu tập phiên họp, bao gồm tất cả mọi người ở cả 2 nhà tạm trú. Tôi đưa ra ý kiến “dung hòa” và “ăn chắc” như sau : “Theo thông báo, chúng ta có 3 ngày để trình diện, như vậy ngày mai chúng ta đi trình diện cho có tên trong danh sách với tên tuổi, cấp bậc, chức vụ chính xác. Sau đó chúng ta còn 2 ngày để tìm phương cách vượt thoát khỏi TP Đà Nẵng, trước khi bị “gom bi”, mọi người đều đồng ý (riêng Đ /úy Tịnh Ban 3 và Hạ sĩ Thương vì nguyên quán ở Miền Trung, cho nên sau nầy ở lại, không tìm đường về Nam) rồi giải tán, đi ngủ. Hôm sau Thứ Tư Ngày 2 Tháng 4 Năm 1975, chúng tôi cùng nhau trở ra phố, đến các địa diểm quy định đã được thông báo để trình diện, chỉ sau vài giờ, mọi người đều có trong tay giấy đã trình diện với UBQQ Đà Nẵng, trong đó có đầy đủ các thông tin cá nhân trước đây, khi còn phục vụ cho chính phủ Sài gòn, họ cũng bắt khai luôn nơi đang tạm trú hiện nay (sau nầy mới biết họ thanh lọc danh sách, ngay trong ngày hôm đó và họ cho lực lượng an ninh đến “bắt nguội” ngay trong đêm). Chúng tôi lang thang trong TP Đà Nẵng cho đến buổi chiều, mới trở về lại nơi trú ngụ, lúc nầy trong nhà của Quân đã có thêm một số người vừa mới “vượt thoát” từ Huế vào, cho nên chổ ở trở nên đông đúc chật kín. Đ/ Úy Hên thấy thế nên bảo Tôi và Lộc di chuyển qua nhà bên kia đường ở tạm. Nhờ thế chúng tôi thoát khỏi màn “ bắt nguội giữa đêm của an ninh Cộng sản…!!”

. .. (Trích thư của Đ/Úy Hên : Vào khoảng 1 giờ sáng, có nhiều chiếc xe gắn máy, dừng lại trước nhà, có tiếng đập cửa thật mạnh, tiếng người tiếp theo: “Ban quân quản, mau mở cửa kiểm tra.” Vị Th / tá Bộ binh ra mở cửa, tôi nghe có tiếng người bước vào nhà, từ chổ tôi nằm không nhìn thấy cửa chính, tôi nghe một giọng nói miền Bắc, “Ở trong nhà nầy, ai là Thiếu tá Lâm tài Thạnh, Thiếu tá Nguyễn văn Lộc, Đại Úy Trần văn Hên, lính thủy đánh bộ, chúng tôi cần kiểm tra.” Tôi nghe vị Thiếu tá Bộ binh trả lời: “Hồi chiều, ba ông nầy có dùng cơm ở đây, sau đó nói đi ra phố, giờ chưa thấy trở về”, sau câu trả lời, bọn Việt cộng ập vào hẳn trong nhà thật nhanh, rọi đèn, người vợ của vị Th / tá Bộ binh nằm ngủ phía ngoài cùng các đứa con nhỏ, vội vàng nói nhanh với tôi: ông nằm yên để tôi xử trí; từ trong bóng tối ở sâu dưới chân cầu thang lầu, tôi thấy có ba tên mặc quần áo quân chánh quy Bắc việt, 2 tên mang AK47 rọi đèn lục soát, tên còn lại mang K54 tiến về phía cầu thang, rọi đèn vào ba cái mùng của gia đình vị Th/ tá Bộ binh, khi thấy bà vợ của vị Th / Tá đang cho con nhỏ bú, nên không rọi đèn, tìm kiếm tiếp nơi chân cầu thang, mà bước vòng trở lại phía trước và đi thẳng lên lầu. Họ rọi đèn, lục soát khắp nhà khoảng 10 phút, tất cả kéo ra ngoài, nổ máy xe, rời căn nhà tôi đang tạm trú ).

Khoảng gần 4 giờ sáng Đ/úy Hên bằng cửa sau, chạy qua nhà chúng tôi đang ngủ, báo động tình hình nguy hiểm và chúng tôi quyết định “vượt thoát” khỏi Đà nẵng lúc 5 giờ sáng cùng ngày.

.- Đường trường xa, ta quyết đi cho đến cùng .-

Vượt thoát : Ngày N – Thứ Năm 3 tháng 4 năm 1975 .- Trong hơi lạnh ban mai của Ngày N .- vượt thoát; chúng tôi âm thầm rời nơi trú ngụ, sau khi nói lời chia tay Đ/U Tịnh và Thương. Chúng tôi phân thành 2 nhóm, đi cách nhau khoảng 100 mét, lấy Quốc lộ 1 làm trục lộ chính và căn cứ vào các cột mốc cây số dọc theo đường đi, để biết khoảng cách các nơi sẽ phải đến. Nhóm 1 gồm có Tôi, Tr/uý Quan, T / Uý Xuân, nhóm 2 còn lại là Th / tá Lộc, Đ/úy Phán. Riêng nhóm của Đ / Úy Hên, Tr /Úy Quân (ĐĐBảo toàn) vì có người quen dự trù kế hoạch vượt thoát bằng đường biển, nên chúng tôi cũng chia tay (sau nầy Tr/ Úy Hên về tới Vũng tàu trước Tôi hai ngày). Mọi người trong 2 nhóm của chúng tôi đều đồng ý, trên đường đi, ai thoát được sẽ tiếp tục cuộc hành trình, để có thể mang tin tức sau cùng về cho thân nhân những người bị bắt giữ lại. Dù chưa biết, kết cuộc sẽ ra sao với đoạn đường trước mặt dài đăng đẳng, có nhiều bất trắc chờ đợi, chúng tôi đều cảm thấy tinh thần phấn chấn, sau các ngày được nghỉ ngơi, ăn uống tạm đầy đủ và nhất là với viển ảnh được tự do và đoàn tụ .Trong suốt khoảng đường từ nơi trú ngụ ra đến ngoại ô Đà Nẵng, chúng tôi chưa bị chặn xét bởi các chốt kiểm soát của Việt Cộng, mặc dù trên QL1 các đoàn xe ngụy trang, chở quân Bắc Việt cùng các vũ khí nặng bao gồm các loại súng phòng không 37 – 57 ly di chuyển rầm rộ và liên tục. Trời vừa rạng sáng chúng tôi tới cầu Đỏ bắt qua sông Thu Bồn, chúng tôi phải tạm dừng lại nơi đây vì cây cầu nầy đã bị không quân VNCH phá hủy, nhằm ngăn chận bước tiến quân của Việt Cộng. Một số lượng đông đảo dân chúng và các loại xe chuyên chở dân sự cũng đang tập trung ngay đầu, mọi người cùng nhau chờ công binh Cộng sản bắt cầu phao nổi để qua sông, nơi đây có một nhóm nhỏ quân Bắc Việt canh gác với sự hời hợt và lỏng lẽo.

Qua thăm hỏi, tìm hiểu, được biết đại đa số là thường dân chạy trốn chiến trận từ các vùng của tỉnh Quảng Ngãi nay đang hồi cư. Chúng tôi cùng nhau trà trộn vào với dân chúng và chờ đợi. Khoảng gần 8 giờ sáng, có lệnh cho người đi bộ qua cầu, cả 2 nhóm chúng tôi vượt nhanh qua phía trước, trong khi bọn lính chánh quy, mãi mê nói chuyện với các o xứ Quảng. Cách cây cầu khoảng 500 mét, chúng tôi tạm ngừng lại với ý định chờ đón các xe dân sự xin quá giang. Tôi nhìn thấy cột mốc chỉ đường ghi Quãng Ngải 115 km. Tôi thực sự không tin ở mắt mình và tự hỏi sẽ đi bộ trong bao nhiêu ngày mới tới được Quảng Ngải đây! Sau cùng thật là may mắn, chúng tôi được một chủ xe, có lòng tốt đã cho chúng tôi lên xe, quá giang mà không lấy tiền, khi nghe chúng tôi tả oán đủ thứ, Mẹ già, vợ trẻ, con thơ, đang trông chờ tin tức ở Nha Trang. Khi lên xe, chúng tôi chia nhau ngồi lẩn lộn với các hành khách. Phần Tôi thì ngồi phía trước cách tài xế một dãy ghế và sát cửa sổ. Từ chổ ngồi Tôi nhìn ra phía sau, anh Lộc và Phán đưa ngón tay cái, biểu tỏ mọi chuyện tốt đẹp trong khi Quan và Xuân thì đánh đu trên tấm bửng sau xe. Sau gần 3 giờ xe chạy bon bon trên đường, các cột mốc cây số lùi dần về phía sau, để cuối cùng, một cột mốc loang lổ vết đạn ghi Quảng Ngãi 45 km. Xe bắt đầu chạy chậm và ngừng hẳn khi có một nhóm đông người đi diển hành trên quốc lộ với các biểu ngử cầm tay, nội dung chào mừng cách mạng thành công trong tiếng tiếng hoan hô, đã đảo v…v…Tôi nghĩ thầm: chổ nầy “hắc ám” đây vì là “hang ổ ” của Quân khu 5 Việt Cộng .Trong quá khứ Tôi đã từng tham dự hành quân trong các vùng chung quanh Tỉnh Quảng Ngãi trong vai trò là Trung đội trưởng của ĐĐ1 / TĐ2 TQLC vào những năm 1965 – 1966. Tôi không xa lạ gì với các địa danh Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Trà Bồng. Ba Gia, Trà Khúc, Núi Thiên Ấn v…v…

*** Thêm chia tay xót xa bên cạnh sự may mắn lần 4 .-

Ngay trước tấm bảng viết hàng chử Ủy ban cách mạng Xã Châu ổ Huyện Bình sơn, là một toán du kích 7 - 10 tên đứng canh gác, mọi sự lưu thông đều bị chận lại xét hỏi. Chúng tôi không còn lối thoát nào khả dỉ có thể lẩn trốn, vì không ai biết trước có trạm kiểm soát trên đường, bây giờ chỉ biết trông chờ may rủi và số mạng của mỗi người. Khi xe vừa ngừng lại cho du kích kiểm tra, Tôi nghe câu nói của người tài xế đại khái: Dấu được cứ dấu. Nghe nhưng chưa kịp hiểu ý, Tôi xoay người nhìn về phía sau xe thì thấy bóng Quan và Xuân nhảy xuống khỏi xe, rồi biến mất trong nhóm người biểu tình đông đúc, cùng một lúc Tôi thấy có 2 tên du kích đi dọc theo hai bên hông xe, từ phía sau đi lần ra phía trước, đến băng ghế ngồi của Th/Tá Lộc và Đ/Úy Phán, chúng ngưng lại hỏi chuyện gì đó. Tôi thấy Lộc và Phán lấy tờ giấy trình diện ở Đà Nẵng cho chúng xem, sau đó Tôi thấy chúng chỉa súng AK 47 vào hai người và ra hiệu cho Lộc và Phán xuống xe và chúng gọi thêm người đến canh giữ, đồng thời tiếp tục đi đến chổ Tôi ngồi, Tên du kích hỏi : “Anh nầy có giấy tờ gì không? Trong tích tắc Tôi kịp nhớ câu nói bâng quơ của người tài xế, cộng thêm sự việc vừa xảy trước mắt cho Lộc và Phán ). Tôi trả lời với giọng mệt mỏi, để giảm bớt âm hưởng miền Nam .- Không có Tôi là lao công đào binh ở Đà Nẵng, cách mạng thành công, mở cửa nhà tù thả Tôi và mấy ông cách mạng, rồi bảo Tôi đi về nơi trú quán!.-

Tên du kích hỏi tiếp : Lao công đào binh là cái gì? Tôi giải thích : Tôi trốn quân dịch, không chịu đi lính, nên bị bắt đi tù !! Tên du kích hỏi một câu ngu ngốc - thiệt không- và bỏ đi. Người tài xế nhìn Tôi cười thông cảm khi xe vừa nổ máy, chạy qua khỏi trạm kiểm soát. Tôi nhìn lui lại phía sau xe, thấy các tên du kích đang áp giải Th/ Tá Lộc và Đ / úy Phán trở lại con đường, xe đã chạy qua. Xe chạy khoảng 100 – 200 thước. Tôi lên tiếng xin người tài xế dừng xe lại “Sao vậy đã thoát rồi còn quay trở lại đó làm gì ? người tài xế ngạc nhiên hỏi, nhưng cũng đạp thắng và ngưng xe lại. Tôi chỉ trả lời cám ơn, xuống xe, đi ngược lại về nơi trạm kiểm soát với các ý tưởng đơn giản: “Phải biết, xem bọn du kích đưa Lộc và Phán đi đâu, đối xử thế nào, còn mọi chuyện khác thì tùy cơ ứng biến cho dù như đã nói ở phần trên, trước khi rời Đà Nẵng, mọi người đều đồng ý, trên đường vượt thoát, người nào may mắn thì cứ tiếp tục cuộc hành trình, để mang tin tức hữu ích cho gia đình, thân nhân đang trông chờ ”. Tôi đi thật nhanh vì sợ mất dấu những tên du kích. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy bóng dáng Lộc, Phán cùng toán du kích đang chậm rãi đi theo con đường mòn trong xóm sát cạnh Quốc lộ 1. Tôi len lỏi đi theo phía sau, qua các đường mòn có các ngôi nhà lá, trống trước, hở sau với một khoảng cách tương đối, để không bị phát hiện sau cùng toán du kích ngừng lại, vào một ngôi nhà có các hàng cây bao quanh, hình như là trụ sở Ủy ban gì đó của họ. Tôi trốn sau các lùm cây phía trước ngôi nhà và theo dõi tình hình. Thời gian khoảng 30 phút Tôi thấy cả 4 tên du kích kéo nhau bỏ đi. Tôi đoán có lẽ chúng đi ăn cơm vì nhìn bóng mặt trời đã quá đỉnh đầu. Tôi chờ thêm khoảng 10 phút để chắc chắn bọn chúng không bất ngờ trở lại. Tôi quyết định dứt khoát, phải giữ bình tỉnh, giả như là du kích vào thật nhanh, ra thật lẹ. Tôi lên tiếng gọi, khi còn cách cửa ra vào 2 – 3 thước “Anh Lộc, Phán, tụi nó bỏ đi hết rồi, ra lẹ, đi cho mau với tôi ”. Tôi lập lại 2 – 3 lần mới thấy Đ/Úy Phán buồn bả, ủ rũ, đi ra nói với Tôi : Anh Lộc nói : Anh Cả đi, đi. Anh Cả có thoát thì thông báo tin tức cho gia đình tụi em. Suýt chút nữa là Tôi “ chưởi thề ” tuy nhiên, Tôi chỉ nói : Tụi nó đi mất hết rồi, sợ cái gì mà không trốn đi? Đ/ Úy Phán cho biết : mấy tên du kích nói nếu trốn đi, khi bị bắt lại thì chúng sẽ xử bắn, trước đó chúng cũng đã bắn chết một người. Nhìn dáng điệu cam chịu của Phán khiến Tôi bùi ngùi vì Tôi và Phán đã từng phục vụ chung ở TĐ 2 Trâu điên, khi Tôi là ĐĐPhó ĐĐ1 (1968) thì Phán là Trung đội Trưởng ở ĐĐ4, Phán tốt nghiệp K 25 TĐ là một sĩ quan có nhiều triển vọng (Sau nầy khi gặp lại Đ/ Uý Phán trong Đại Hội TQLC 2008 tại Nam California, khi nhắc lại chuyện ở Bình Sơn 3 / 4 / 1975. Tôi thông cảm cho Anh Lộc và Phán trong tình hình bó buộc lúc bấy giờ). Không còn lựa chọn nào khác. Tôi lặng lẽ, thất thểu bước nhanh ra khỏi khu vực giam giữ với nổi buồn nặng trĩu trong lòng và câu hỏi: mai đây nếu Tôi có thoát được trở về, sẽ trả lời với các thân nhân của Anh Lộc và Phán thế nào đây? Có ai tin rằng Tôi đã hết lòng, quên cả nguy hiểm bản thân vì bè bạn và chiến hữu. Thôi thì chỉ cầu mong các đấng thiêng liêng độ trì cho cả hai tai qua nạn khỏi. Trở ra lại quốc lộ 1, Tôi tính toán, khoảng cách đến Quảng Ngãi là 20 cây số, nếu phải đi bộ thì khoảng 3 tiếng đồng hồ là tới. Tôi cấm cúi rảo bước trên đường, trong ánh nắng, nóng hâm hấp của miền Trung, nhìn trước mặt, đường còn xa diệu vợi, khách độc hành, ai thấu hiểu bước cô đơn; mới sáng nay còn đông đủ anh, em, bạn hữu, trong niềm tin vượt thoát sẽ thành công mà nay chỉ còn lại đơn độc. Tiếng kèn xe làm Tôi giật mình và câu hỏi lớn của ai đó trên xe: - Anh ni đi mô và xe ngừng lại. Tôi đi ngang qua đầu xe, gặp người tài xế tuổi trung niên. Tôi ngỏ ý xin đi nhờ xe ra Tỉnh lỵ Quảng ngãi, đưọc sự đồng ý, Tôi lên xe khoảng 30 phút sau Tôi bước ra khỏi xe, nói lời cám ơn, thả bộ đi về hướng chợ lúc nầy Tôi đang ở trong phạm vi ngoại ô Tỉnh Quảng Ngãi. Tôi tiếp tục đi cho đến khi vào đến cổng chào là cửa ngỏ của thành phố. Quảng Ngãi là nơi có nhiều kỷ niệm của TĐ2 TQLC. Đặc biệt trong vụ việc Phật giáo Miền Trung (1966 ). Trước đó TĐ 2 đã có lệnh trở về Hậu cứ để nghĩ dưỡng quân sau 3 tháng tăng phái cho Quân đoàn 2 quân nhân trong đơn vị đều vui vẻ, mừng rở, còn bao nhiêu tiền đều mang ra mua kẹo mè xửng và nón lá bài thơ đề làm quà tặng người thân sau một chuyến đi xa. Sáng hôm sau, ra phi trường Quảng Ngãi, chờ khoảng 1 giờ đồng hồ thì có nhiều máy bay từ Sài Gòn đáp xuống, lại toàn là C47 của Không quân VNCH với 2 chiếc máy bay dân sự của hàng không Việt Nam. Lính nhà ta chẳng biết chuyện gì, cứ có lệnh là “xung phong” lên máy bay liền, bay chưa tới 30 phút toàn bộ máy bay hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng, xong có lệnh “án binh bất động”, nằm chờ lệnh trong phi trường để “mấy quan to nói chuyện phải quấy với nhau”. Lính nhà ta “vỡ mộng” chỉ có nước chưởi thề, thế là bao nhiêu “kẹo mè xửng, nón lá bài thơ” trở thành nạn nhân của sự giận dữ. Thế mới gọi là đời lính. Tôi vào một quán nhỏ bên đường Quốc lộ 1 uống một ly nước và tô phở nấu theo cách miền Trung. Tôi nhìn đồng hồ trong quán ăn hơn 3 giờ chiều. Trong cảnh vắng lặng cuả một thành phố vừa mới đổi chủ, Tôi nhận thấy mọi sinh hoạt của thành phố đầy áp sự uể oải, cầm chừng, ngại ngùng, bẻn lẻn như một cô dâu mới về nhà chồng, chưa biết phải làm gì, thỉnh thoảng chỉ thấy vài chiếc xe đạp, vài người đi bộ có vẻ lạc loài như Tôi, chắc là thuộc phe ta .Trước khi rời quán ăn, Tôi hỏi thăm người đàn ông chủ quán : có biết một ngôi chùa nào gần nhất trong khu vực nầy hay không ? .Trong e dè cẩn trọng đối với người lạ, ông ta chỉ cho Tôi, đường đi đến chùa Hội Phước trong khu phố gần trung tâm chợ. Tôi bước ra khỏi quán, đi lần theo Quốc lộ 1 cũng là con đường chính hướng về phố chợ, được một khoảng khá xa, nhận thấy mặt trời chưa lặn bóng e rằng khi tới Chùa còn sớm, khó xin chổ trú ngụ qua đêm, nhìn thấy một tàn cây có bóng mát bên đường .Tôi ngừng lại, ngồi xuống lề đường, mông lung suy nghĩ vẫn vơ: không biết ngày xưa, khi Hạng Võ thất trận 10,000 tử đệ bỏ đi, thì tình trạng có thê thãm như Tôi hôm nay hay không ?. Một bóng dáng quen thuộc từ đàng sau, đang cắm cúi đi tới, Tôi nhận ra đó là Tr / Úy Quan, khi Quan đến gần chổ Tôi ngồi, trông thấy Tôi, Quan kêu lớn trong sự ngạc nhiên “Anh Tư, anh không bị bắt lại hả?” Tôi ra hiệu cho Quan tiếp tục đi, rồi Tôi rảo bước theo Quan, sau khi thật nhanh quan sát cẩn thận chung quanh. Đến một ngã tư đường, chúng tôi dừng lại, chọn một nơi kín đáo và trao đổi các tin tức liên quan đến các thành viên của hai nhóm. Tôi cho Quan biết về tình trạng của Lộc và Phán, Tôi hỏi Quan về Xuân, Quan cho biết đã lạc mất Xuần khi cả hai nhìn thấy bọn du kích ra hiệu cho xe ngừng lại, nên vội vã nhảy xuống xe, hòa nhập vào đám đông đang đi tuần hành, lẩn trốn trong các xóm nhà ven quốc lộ, sau cùng vuợt qua các cánh đồng ruộng, đi khỏi phạm vi vùng du kích kiểm soát. Việc gặp lại Tr/ Ú Quan bất ngờ trên lộ trình vượt thoát, giúp tinh thần Tôi thêm phấn chấn, lạc quan vì từ nay có bạn đồng hành trên chặng đường thiên lý, tìm về phương Nam, bên cạnh đó Quan sẽ là chứng nhân sau nầy cho cuộc hành trình đường trường xa nầy. (cuộc sống đôi lúc có những bất ngờ, ngạc nhiên thú vị vì Tôi chợt nhớ: Tr/ Úy Quan là người có cùng nguyên quán tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) và là bạn học cùng lớp với cậu em thứ năm của Tôi, như vậy từ nay trên đường vượt thoát chắc sẽ có nhiều điều để nhắc nhớ về xứ sở. Buổi chiều đang xuống dần, ánh nắng le lói nhạt mờ, báo hiệu một ngày sắp hết .Tôi cho Quan biết ý định tìm nơi trú ngụ qua đêm ở ngôi chùa Hội Phước trong nội ô chợ Quảng Ngãi, do người chủ quán ăn đã chỉ dẩn, sau vài lần hỏi thêm các khách qua đường, chúng tôi đến nơi. Đây là một ngôi chùa rộng lớn với chiếc cổng tam quan bề thế, bên trong sân chùa đã có rất nhiều dân chúng, đa số là phụ nữ và trẻ em, hỏi ra, mới biết là dân “tỵ nạn chiến loạn ” từ các nơi dồn vào đây, tạm nương nhờ cửa Phật, chờ thời cuộc cho phép sẽ hồi cư về lại Bình Định (Quy Nhơn), thật là một cơ hội tốt cho chúng tôi lẩn lộn, hòa nhập vào đám đông, tương đối an toàn. Chùa có một giếng nước sâu do các tăng nhân trẻ phụ trách việc phân phối nước, Tôi và Quan mượn được một chiếc chiếu lớn cũng như được cấp phát cho mỗi người một ổ bánh mì chay. Ăn xong, cả 2 co ro quấn mình trong chiếc chiếu lớn, bên hông phía sau căn bếp của Chùa. Chúng tôi thì thầm to nhỏ về chương trình dự tính ra đi ngày mai . (Trước đó qua tin tức thu thập được từ các chị phụ nữ nấu bếp, chúng tôi được biết các lực luợng chánh quy Bắc Việt đang bị cầm chân ở tuyến phòng ngự Khánh Dương trước khi vào Nha trang ). Tôi báo cho Quan biết, căn cứ vào các cột mốc cây số, chúng tôi đã vượt thoát được khoảng 120 cây số chỉ trong một ngày, một kết quả đáng mừng trên đường “vượt thoát” của ngày đầu tiên, Quan ngỏ ý, đề nghị tìm lối đi ra phía biển, để kiếm phương tiện ghe, thuyền đi cho nhanh và tránh được các trạm chốt kiểm soát sẽ gặp phải, nếu đi theo Quốc lộ. Tôi nghe Quan nói cũng có lý, tuy nhiên suy nghỉ lại Tôi thấy bất lợi, vì lộ trình tìm đường đi ra hướng có các làng đánh cá, có ghe đi biển, rất dễ bị phát hiện vì không lẩn lộn được vào trong dân chúng, thêm nửa với giọng nói âm hưởng chính gốc miền Nam, trong túi không có tiền thì làm sao mua chổ đi, cũng như khi đã lên thuyền, bị chặn xét là bó tay hết xoay sở. Trong khi xử dụng lộ trình đi bộ sẽ khó bị phát hiện, do việc lẩn lộn vào đám đông, xe cộ qua lại nhiều, dể cho việc quá giang và thăm hỏi tin tức tình hình, miễn sau chỉ cần để ý, khéo luồn lách, nhảy khỏi xe (nếu quá giang được xe) trước khi xe vào các nơi trọng điểm trung tâm, sau đó băng đồng đi vòng, tránh né, như thế xác suất trốn thoát thành công rất cao. Sau các phân tích của Tôi, Quan hoàn toàn đồng ý. Chúng tôi rơi vào giấc ngũ, trong lành lạnh của những cơn gió nhẹ, đánh dấu ngày thứ 5 “tù binh và vượt thoát”, thiếu nệm ấm, chăn êm. Văng vẳng đâu đây tiếng mõ chuông từ chánh điện, xen lẩn tiếng đọc kinh chú Quan thế âm, hình như Tôi mỉm cười trong ánh hào quang sáng chói của Đức thế tôn (lúc nầy Tôi chưa chuyển đạo) .

***.- Quảng ngãi với Núi Thiên Ấn, Sông Trà Khúc và lần may mắn thứ năm : N+1, 4 / 4 /1975.

Tiếng la hét, ồn ào của trẻ con, tiếng gọi nhau của người lớn làm chúng tôi giật mình tỉnh giấc, xuyên qua các cành cây trên cao, mặt Trời đã ló dạng nơi phương Đông, trong căn bếp Chùa có nhiều chị phụ nữ đang phụ lo việc cơm, nước với các tăng nhân mặc áo màu nâu. Qua câu chuyện trao đổi của họ, chúng tôi được biết : tuyến phòng ngự của QLVNCH do Nhảy dù, Trung đoàn 40 Sư đoàn 22 Bộ binh v…v.. tại Khánh Dương là một thị trấn nhỏ, nằm ở độ cao1000m, cạnh quốc lộ 21 nối liền vùng cao nguyên Ban Mê Thuộc với vùng duyên hải Tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang, cách Quốc lộ 1 khoảng 60 km, đã thất thủ ngày hôm qua (sau này qua các tài liệu, bài viết sưu tầm, được biết tuyến kháng cự Khánh Dương tan rã vào Ngày 2 Tháng 4 Năm 1975).

Thế là thêm một trở ngại và thất vọng cho chương trình vượt thoát. Chúng tôi mang chiếc chiếu trả lại cho Chùa thì được biết Chùa sẽ có thí thực (cơm miễn phí) cho mọi người. Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi rời Chùa cùng với một số dân hồi cư về lại Bình định Quy nhơn, hành trang tương đối ấm lòng với 2 nắm cơm vắt lớn, 1 hủ chao lớn, một bình nhựa chứa nước. Chúng tôi đi ngược lại các con đường cũ để ra Quốc lộ 1, để tránh bị để ý Tôi và Quan giử khoảng cách, cùng lẩn lộn trong nhóm đông phụ nử và trẻ con. Các khu phố chợ, các con đường trong nội ô Quảng Ngãi của buổi sáng sớm, trông nhợt nhạt, u ám, buồn tẻ, âu lo, căng thẳng vốn dỉ phải có trong các nơi vừa mới bị chiếm đóng. Theo bước chân của dòng người hồi cư, chúng tôi tới một toà nhà lớn sau mới biết đó là toà hành chánh cũ của Tỉnh Quảng Ngãi, tại đây có dán một thông báo, viết bằng tay, nét chữ không ngay hàng, thẳng lối với nhiều lổi chánh tả. Theo quy định ghi trên bảng thông báo: muốn hồi cư phải ghi danh với các loại giấy tờ của chánh quyền cũ. Đọc xong Tôi và Quan kín đáo, vội vã nhanh chóng ca bài tẩu vi thượng sách. Chúng tôi quay lại Quốc lộ 1, quyết định bắt đầu hành trình đi bộ, tuy nhiên chưa ra khỏi ngoại vi Tỉnh Quảng Ngãi thì “đụng đầu” ngay Trạm kiểm soát hổn hợp gồm du kích địa phương và quân chánh quy Bắc Việt. Lại một lần nửa chúng tôi phải thối lui, vì địa thế trống trải không thể đi vòng băng ruộng mà không bị phát hiện. Chúng tôi đành phải trở lại khu phố chợ, tìm chổ vắng ẩn náo, dự trù chờ chiều tối khi không còn chốt kiểm soát thì sẽ “vượt thoát”. Thật không ngờ bọn Việt Cộng lại duy trì, trạm kiểm soát nầy liên tục cả ngày lẩn đêm. Tối đến chúng tôi xin tá túc dưới mái hiên của một ngôi nhà lớn, bên cạnh Quốc lộ 1, được chủ nhà cho mượn đầy đủ mùng và mền, nên chúng tôi qua đêm có được cảm giác bình yên, ấm cúng. Buổi sáng khi gõ cửa gọi chủ nhà, để hoàn trả mùng mền đã mượn gặp ngay một phụ nữ trẻ, tay cầm một đỉa cơm chiên lớn, vừa đưa cho Tôi vừa rơi lệ nói nhỏ, “Tôi biết 2 Anh là lính Sài Gòn, đây là nhà cha, mẹ tôi, ông xã tôi ở Sư đoàn 22, cũng chưa thấy tin tức không biết sống, chết ra sao.” Tôi cầm dĩa cơm chiên nói vài lời an ủi, cám ơn; rồi vội vã bước ra ngoài sân, trong lòng nặng trĩu, khi chợt nghĩ đến hoàn cảnh tương tự ở nơi chốn thành đô hoa lệ kia, cũng có người đang mỏi mắt trông chờ, đợi ngày trở về của Tôi.

Ngày kế tiếp, chúng tôi tiếp tục canh me trạm kiểm soát, đến buổi chiều chúng tôi quay lại ngôi chùa Hội Phước, hưởng phước của nhà Chùa thêm lần nữa. Tôi không muốn ghé qua ngôi nhà đã ngủ tối qua, vì chỉ để buồn thêm, hôm sau cũng chưa có gì sáng sủa, Tôi và Quan cứ lang thang qua các con đường nhỏ, trong nội ô Tỉnh Quảng Ngãi mà chưa biết tìm lối thoát như thế nào. Sáng của ngày thứ ba dậm chân vì bị đấp mô (N+4, Thứ Hai 07 / 4 /1975) thì “thần may mắn” lại mỉm cười với chúng tôi. Trong khi đang thả bộ dọc theo một con đường nhỏ, vắng người qua lại, gần trung tâm chợ, nơi có vài ba căn nhà bỏ trống, không thấy người ở, Tôi chợt nhìn thấy một tấm biển nhỏ bằng đồng ngay trước cổng vào, Tôi cúi xuống cầm lên xem: Tiểu đội quân cảnh tư pháp Quảng Ngãi. Tôi bỏ tấm bảng xuống và rủ Quan đi vào trong nhà, sau khi nhìn chung quanh không thấy có bóng dáng người qua lại, bước vào căn nhà chính, thấy có ba cái bàn làm việc và các loại giấy tờ nằm tung toé trên mặt sàn gạch. Sau một lúc xem xét, chúng tôi tìm thấy có 2 giấy chứng nhận, ghi đầy đủ các chi tiết liên quan đến 1 người tên là B1 Cao văn Nghiêm Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh, còn giấy chứng nhận kia ghi tên Hạ sĩ Lâm hoàng Dân Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 BB. Tôi cầm cả 2 giấy chứng nhận, hối thúc Quan rời khỏi căn nhà thật nhanh. Ra đến đường lớn, Tôi đưa ngay giấy chứng nhận là Hạ sĩ Lâm hoàng Dân cho Tr/ Úy Quan (Tôi sợ theo thói quen khi nghe kêu họ Lâm sẽ dễ bị giật mình) phần Tôi giữ giấy chứng nhận là B1 Cao văn Nghiêm. Đã có giấy chứng nhận của chánh quyền cũ với dấu mộc đàng hoàng, chúng tôi vội vả đến ghi danh với Ban hồi cư của Việt Cộng ở toà hành chánh cũ. Một phụ nử khoảng 40, cạp lưng có súng K54, cổ quấn vải dù ngụy trang, tiếp chúng tôi trong cái nhìn thiếu thân thiện, mắt liếc đọc 2 tờ giấy chứng nhận, chúng tôi hồi họp trong chờ đợi và khấn nguyện Phật Bà Quan âm, khi thấy bà ta chẳng hạch hỏi, lấy 2 mẩu giấy có in sẳn, viết lên đó, ký tên xong gọi một thanh niên trẻ, bảo mang 2 giấy đi đường nầy đóng dấu. Khi đưa trả lại cho chúng tôi 2 tờ giấy đi đường, có dấu mộc đóng rõ ràng của Ùy Ban Quân Quản Quảng ngãi, bà ta còn căn dặn bước qua bên kia đường sẽ có “các đồng chí lo cho chế độ ăn uống và cơ động” (lần đầu tiên nghe, Tôi cố nhịn cười, sợ bà ta nổi quạo là tiêu tùng). Tôi và Quan bước ra khỏi toà hành chánh cũ mà như đang bay bổng trên mây vì từ nay đã có “bùa hộ mệnh”. Chúng tôi qua bên kia đường thì đã có ngay vài tên du kích, hỏi xem giấy, sau đó là cấp phát cho tiêu chuẩn ăn là mấy ổ bánh mì cũ, kèm với một nhúm ruốc khô và nước uống, xong xuôi các tên du kích bảo chúng tôi ngồi chờ xe để “cơ động”, trong lúc nầy cũng đã có khoảng 15 – 20 người dân cũng đang chờ xe để hồi cư về Bình Định và Nha Trang (1- 3 / 4/ 1975 cả 2 nơi nầy cũng di tản để Việt Cộng chiếm mà chẳng có trận đánh nào cả). Khoảng 12 giờ trưa thì có xe chở khách cũ, có lẽ bị trưng dụng, đến chở hết số người đang chờ đợi, trong đó có Tôi và Quan. Xe cũng phải ngưng lại tại chốt kiểm soát, mọi người xuất trình giấy đi đường cho 2 tên du kích, Tôi đoán là học sinh trung học mới chạy theo Việt Cộng, chúng xem giấy, nhìn Tôi mà không nói gì, xong cho xe chạy. Từng hàng cây bên đường từng cột cây số chỉ khoảng cách lui dần sau lưng, để phía trước là con đường rộng mở của “ tự do và đoàn tụ ”. Xe chạy theo Quốc lộ 1, lần lượt lướt qua các địa danh quen thuộc Mộ Đức, Đức Phổ, v… v…với các trận đánh vang tiếng một thời ở Ba Gia, Thạch Trụ của QLVNCH nói chung và TQLC nói riêng. Khoảng cách thu ngắn theo từng thời gian trôi qua, Tôi nói đùa với Tr/ Úy Quan : “khi nào cuộc hành quân nầy chấm dứt, Hạ sĩ cho B1 Nghiêm nầy đi phép vợ sanh nghe”. Quan trả lời “hổng dám đâu”, rồi cả hai chúng tôi cùng cười, có lẽ “Cười là tiếng khóc khô không lệ”. Xe tự nhiên chạy chậm lại và ngừng hẳn khi vào ranh giới của Tỉnh Bình Định Quy Nhơn, mọi người lo lắng, cùng nhau lên tiếng hỏi tài xế, không có tiếng trả lời, chỉ thấy tài xế xuống xe đi kiểm tra nơi đầu máy, xong quay lại, nổ máy xe nhưng vẫn không chạy được, sau vài lần thử, tài xế thông báo xe hư hộp số, không chạy được, ông ta đã cho người phụ xế quá giang xe ngược chiều xin “chi viện” (nghe thật tức cười) xe khác. Chờ mãi đến tối, thế là mọi người cùng ngũ lại trong xe. Đúng là “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”.

Sáng hôm sau (N+5 - 8 / 4 / 1975 -) chờ mãi đến mệt mõi, chán nản mà không thấy xe thay thế, trong khi những xe chạy qua không ngưng lại vì đã đông đầy người. Tôi và Quan quyết định bỏ xe đi bộ với một số người có ít hành lý Sau hơn 5 giờ đi bộ, khi bóng chiều đang ngã dần về phương Đông, chúng tôi vào tới địa phận tỉnh Bình Định Quận Hoài Nhơn, chúng tôi cãm thấy mệt mỏi sau chặng đường dài đầu tiên phải đi bộ, nên bàn nhau kiếm chổ tá túc qua đêm, tuy nhiên ghé hỏi mấy chổ khi thấy thái độ không thân thiện “truy hỏi” đủ thứ chuyện, chúng tôi đành phải bỏ đi đi nơi khác, cuối cùng thấy một ngôi nhà không có dấu hiệu sinh hoạt, sau khi lên tiếng kêu hỏi, không thấy có ai trả lời, chúng tôi biết là nhà vắng chủ, có thể ở tạm qua đêm ở phía hàng hiên trước nhà. Tôi và Quan bẻ các cành cây làm chổi, quét sạch các rác rưới trước cửa, xong đi quan sát vòng quanh khu nhà, tìm đuợc một lu nước có nấp đậy bằng gổ cùng vài ba trái dừa khô bỏ lăn lóc kế bên, thế là chúng tôi có cách giải quyết cho bao tử, xong xuôi Tôi trải tấm nylon cũ, xin được lúc trên xe, thế rồi chúng tôi qua đêm trong cảm giác không bình yên chút nào của giấc ngũ “ bụi đời ”.
------------
 Phần 4
 Cựu MX Lâm Tài Thạnh  TĐ 9 TQLC

(Tự truyện  20 ngày là tù binh và vượt thoát từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu từ 30/3/1975 đến 18/4/1975)
 
.- Tiếp tục cuộc trường chinh bộ hành: N+6, 9 /4 / 1975 .

Tiếng chim hót trên cành cây, tiếng lá cây dừa chạm nhau kêu xào xạc mỗi khi có cơn gió thổi qua, xen lẩn tiếng động cơ các loại xe cơ giới hạng nặng ngoài đường Quốc lộ 1 khiến chúng tôi giật mình tỉnh dậy. Tôi cuốn vội tấm nylon, xếp nhỏ gọn, dấu trong bụng phía trước. Chúng tôi cẩn thận đi lần ra sát mé lộ, núp sau các thân cây dừa, trông thấy hàng đoàn dài, các loại xe Molotova chở quân chánh quy Bắc việt, xe kéo các loại súng pháo binh, hỏa tiển Sam phòng không có cả chiến xa Tôi nói nhỏ với Quan: phải chi có vài đợt B 52 thì hay biết mấy !!!

Đoàn xe chạy kéo dài cả tiếng đổng hồ. Chúng tôi trở vào căn nhà vắng chủ, rửa mặt, xong đi vòng quanh sân phía sau nhà, đến các gốc cây dừa, lượm mỗi người 2 quả dừa khô, dùng các cục đá có đầu nhọn, đập tách phần vỏ dừa, xong khoét lổ xỏ dây dừa cột lại, đeo trên vai (giống như các khinh binh trong khẩu đội súng cối 60 / 81 ly mang mấy quả đạn khi đi hành quân) rồi ca bài "lên đường" tiếp tục cuộc "bộ trình" với hy vọng sẽ đón được xe xin quá giang .

Đi mãi, đi mãi, đi mãi mà chẳng thấy có bóng dáng xe dân sự nào chạy qua, Tôi đoán có lẻ hôm nay bọn chúng " cấm đường " dân chúng, để cho các đoàn xe quân sự ưu tiên đi qua vì trong suốt đoạn đường đi, rất nhiều đoàn xe của Bắc việt di chuyển, trong đó có cả các loại xe quân đội cũ của VNCH, trên xe toàn là bọn lính "con nít" 16 - 17 tuổi, chúng chỉ chỏ, bàn tán xem rất là "đáng ghét" khiến tôi ao ước những điều "không tưởng": phải chi có máy bay oanh kích, phải chi "quân ta một lòng cố thủ" thì dễ gì có một chung cuộc "dễ dàng" như Tôi vừa thấy (Cuộc triệt thoái cao nguyên đã tai hại cho sự sống còn của Nam Việt Nam, nhưng sự tan rã tại miền Trung còn tai hại nhiều hơn nữa. Tại cao nguyên, ít ra cũng còn có các trận đánh lớn của cộng quân vào Ban Mê Thuột bằng một lực lượng quá mạnh, so với lực lượng của quân trú phòng. Nhưng tại miền Trung, rõ ràng là phía VNCH tự gây ra sự "sụp đổ tinh thần" rồi đi tới "chủ bại" và "tan rã" (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam. Tác giả Phạm kim Vinh Trang 317, giòng 1 - 8).

Sau nhiều giờ đi bộ với các chặng nghỉ "giải lao" bằng nước và cơm dừa khô, chúng tôi tới được Quận Bồng Sơn Tam Quan khoảng 4 giờ chiều, nơi đây đang có một phiên họp chợ trể, trong túi Tôi còn chút ít tiền, nên Tôi rũ Quan ghé lại một quán nhỏ bên đường, chúng tôi mua vài bánh tráng nướng, bánh có nhưn dừa trộn đường cùng một chai nước ngọt không có nước đá. Sau khi trả tiền, Tôi hỏi thăm chủ quán xem trong khu trong khu vực gần đây có Chùa hay Am nhỏ của Phật giáo hay không, theo sự hướng dẩn của chủ quán, chúng tôi đi bộ khoảng thêm 2 cây số thì đến một ngôi chùa nhỏ. Trên đường đi, dấu vết chiến tranh còn để lại ở khắp mọi nơi với các nhà cửa, công sự phòng thủ bị phá hũy tan hoang; "Ngắm cảnh sinh tình" khiến Tôi nhớ lại thời gian nầy của 10 năm về trước (8 / 4 /1965) cũng ở tại Ấp Phụng dư Xã Tam quan Quận Bồng sơn nầy, Tiểu Đoàn 2 TQLC đã một chiến công "lừng lẩy" với gần 150 VC bỏ xác, 10 tên bị bắt sống, hơn 100 vũ khí bị tịch thu, khi thiệt hại của Tiểu Đoàn 2 là không đáng kể. Trong trận nầy Tôi là Trung đội trưởng Trung đội vũ khí nặng của ĐĐ1 với vị ĐĐT là NT Tr / Úy Phạm Nhã. Tôi được ân thưởng huy chương bạc (Sư đoàn) đầu tiên trong binh nghiệp (Xem: Một thời để nhớ ĐĐ 1 TĐ 2 Trâu điên 1964 - 1972 DSST 2010).

Một thời gian sau đó, cũng tại Xã Hoài Ân Tam Quan, ĐĐ1 / TĐ2 cũng tạo một chiến thắng vừa phải, khi ĐĐ1 hoạt động riêng lẻ, làm tiền đồn cho TĐ2, vị trí đóng quân bị tấn công bởi một TĐ địa phương Việt Cộng, ĐĐ1 giữ vững khu vực phòng thủ, loại khỏi vòng chiến 45 VC và 30 vũ khí bị tịch thu. Lúc bấy giờ ĐĐT là Tr/ Úy Trần kim Hoàng (K 17 VB) Tôi là Trung đội Trưởng Trung dội 16 (Tr đội 3. Xem: Một thời để nhớ ĐSST 2010) .

Khi vào đến sân chùa nhìn thấy có treo 2 lá cờ, một của cái gọi là MTGPMN bên cạnh là cờ biểu trưng cho Phật giáo, Tôi và Quan vội vả quay bước trở ra, thì gặp ngay một vị sư già, chặn chúng tôi lại và hỏi: các thí chủ có cần nhà chùa giúp gì hay không. Tôi còn đang ú ớ, thì vị sư già nói tiếp: các thí chủ đừng ngại, gặp thế thời thì phải thế thôi. Nghe nói như vậy Tôi và Quan mới an tâm ngỏ ý xin tá túc qua đêm nhưng chúng tôi chỉ nói là dân hồi cư chứ không tỏ lộ thân phận. Chúng tôi được vị sư già, dẩn đi vòng bên hông vào chùa, phía sau hậu liêu, chỉ cho một chiếc giường ngũ, đủ rộng cho hai người, dặn dò vài câu, sau đó bỏ đi. Tôi ra dấu cho Quan kín đáo theo sau, xem động tỉnh. Quan trở lui, cho biết vị sư già đi xuống bếp, khoảng 30 phút sau, chúng tôi có được buổi cơm nóng thí thực của đức Quan âm bồ tát qua vị sư già. Sáng hôm sau trước khi từ giả vị sư giàđể lên đường, Tôi và Quan có xin phép lên chính điện để thắp nhang cầu nguyện và tạ ơn các Đức Phật từ bi đã độ trì, gia hộ cho chúng tôi may mắn tồn tại, sống sót cho đến lúc này. Lại thêm một buổi cơm chay nóng, no bụng, dù chỉ có rau luộc, nước tương .Vị sư già tiển chúng tôi ra đến tận đường QL, niệm câu "A di đà Phật" sau khi chúc 2 thí chủ lên đường may mắn .

***.- Họa vô đơn chí: N+7, 10 / 4 / 1975. Rời nhà chùa chúng tôi tiếp tục đi theo Quốc lộ 1, dọc đường có những chiếc xe dân sự chạy qua nhưng việc xin quá giang không thuận lợi, vì đại đa số các xe đều đầy ấp người hồi cư .Tất cả các nơi chúng tôi đi qua, hầu như không bị bất cứ một " chặn hỏi " nào của các chánh quyền địa phương, có thể do " chiến dịch" xâm chiếm miền Nam, đã thành công quá bất ngờ, nhanh chóng, so với kế hoạch dứt điểm vào năm 1976 của Bộ Chính trị Cộng sản Bắc Việt. Khoảng giữa trưa, sau một đoạn đường dài dưới cơn nóng nắng Tôi bổng nhiên thấy trong người khó chịu, một cơn chóng mặt và cãm giác nhức đầu từ đâu kéo tới không báo trước. Tôi cho Quan biết, Tôi nói Quan kiếm chổ nào thuận tiện, tạm dừng chân. Cuối cùng chúng tôi được sự giúp đở, của một thiếu phụ còn trẻ, ở một căn nhà bên đường, cho tá túc qua đêm, sau khi cho Tôi uống vài viên thuốc giải cảm, buổi sáng hôm sau còn cho hai chúng tôi, một buổi điểm tâm với những con cá nhỏ, trộn lẩn với những con tép mòng, kho chung với dừa khô thái mõng, có cả ớt thật cay. Đây là một trong những kỷ niệm khó quên, trong chặng đường dài vượt thoát .

Rời ngôi nhà, Tôi tự hỏi không biết người phụ nử đó, thuộc phe nào trong cuộc chiến của vùng nổi tiếng là " chết như không vì mỹ nhân kế, ban ngày bắn sẻ, ban đêm thì gỏ phèn la, gỏ mõ, bắt loa tay alô, alô, alô… kêu gọi lính quốc gia đầu hàng; chỉ khi nào pháo binh 75 ly của TQLC ở Đồi 10 bắn quấy rối, đáp lể thì mới chịu im tiếng (1965 - 1966). Dù sao thì Tôi cũng đã nhận được một "tấm lòng nhân ái".

*** .- Tiếp tục di hành. Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai: N+8, 11 / 4 / 1975 .

Theo khoảng cách ghi trên các cột cây số dọc theo QL1, chúng tôi đang bắt đầu đi vào ranh giới của quận Phù Cát, nơi có căn cứ của Sư Đoàn 6 Không quân VNCH, từ đây chúng tôi chỉ còn cách trung tâm Tỉnh Quy Nhơn là 35 cây số. Chúng tôi ước tính với sức khoẻ và tốc độ di chuyển bộ thì phải mất ít nhất là 7 - 8 tiếng đồng hồ, mới tới được TP Quy Nhơn. Sau khoảng 2 giờ đi bộ, chúng tôi được một người đàn ông chạy xe Honda 67 dừng lại và hỏi dừng lại trống không .- đi đâu đó .- Chúng tôi trả lời muốn đi về Quy Nhơn. .- có giấy tờ Cách mạng cấp hay không .- chúng tôi trả lời có .Ông ta bảo Tôi và Quan lên ngồi phía sau và xe phóng đi .Tôi có cãm giác ở thắt lưng ông ta, có vật gì cờm cợm như là khẩu súng nhỏ (Colt 45 hay K54 không biết) đã lỡ lên lưng cọp thì phải chịu vậy.

Lúc xe Honda chạy, Ông ta có hỏi vài câu gì đó nhưng do ngược chiều gió Tôi nghe không rõ, nên chẳng có trả lời. Gần một tiếng đồng hồ sau, Ông ta ngừng lại cho chúng tôi xuống xe ở chổ Trường Sư phạm hay Kỹ thuật gì đó? hình như ở đường Quang Trung hay Nguyễn Huệ? (lâu quá không còn nhớ). Chưa kịp nói tiếng cám ơn, thì ông ta đã vội vã chạy ngay. Chúng tôi lại áp dụng chiến thuật cũ, là đi hỏi thăm tìm nơi có chùa để xin tá túc.

Có người chỉ cho chúng tôi, ngôi chùa có tên là Long khánh (sở dỉ Tôi nhớ tên là gì trùng tên với Tỉnh Long Khánh nơi sinh sống của anh Tôi). Vốn đã có kinh nghiệm "ngủ Chùa" (Chùa thật chứ không phải là ngủ chùa - là ngủ với ai đó mà không phải trả tiền - !!!) cho nên chúng tôi đợi đến chiều tối mới đi vào xin tá túc qua đêm. Ở đây chúng tôi bị hỏi giấy tờ, trước khi được cho trú ngụ (Tỉnh Quy Nhơn mất vào tay Cộng sản Ngày 31 tháng 3 năm 1975, theo cơn sóng rối loạn và tự tan rã giây chuyền). Chúng tôi đưa Giấy đi đường của Ban Quân Quản Tỉnh Quảng Ngãi cấp, cho một tăng nhân trung niên, dáng dấp giống như an ninh Việt cộng. Sau khi xem giấy tờ xong, ông ta chỉ cho chúng tôi đi về hướng dãy nhà nhỏ phía sau có một phòng lớn, dùng làm lớp học cho các người mới vào tu trước đây, trong căn phòng này đã có sẳn một số nam, phụ, lão, ấu, số người nầy đã chạy loạn từ Nha Trang vào đã ở đây cả tuần lể, không biết lý do nào mà chưa trở lại nơi chốn cũ. Mọi việc diển tiến bình thường cho chúng tôi, như là có cái ăn uống, chổ ngủ qua đêm, tắm giặt.

Buổi tối Tôi và Quan đi vòng vòng, thăm hỏi tin tức, sau cùng làm quen được với một gia đình, có vẻ giàu có với một chiếc xe riêng, loại vận tải nhẹ, hiệu Ford Falcon, gia đình gồm hai vợ chồng và 2 con nhỏ, khi biết chúng tôi là lính Sài Gòn, qua giấy đi đường. Họ hứa cho chúng tôi, đi theo họ khi ngày mai chúng tôi cùng họ đi ghi danh với Ban hồi cư Tỉnh Quy Nhơn .

***.- Ban Quân quản TP Quy nhơn, may mắn lần thứ sáu: N+9, 12 / 4 / 1975 .

Sáng sớm trong khi chúng tôi còn đang chực chờ ở gần cửa bếp nhà Chùa để lảnh " thí thực " như đã được thông báo tối qua. Người đàn ông của gia đình có vẻ giàu có, đi vội vã đến bên Tôi và Quan, bảo chúng tôi đi theo Ông ta ngay, còn phần cơm thí thực thì bà xã của ông ta sẽ lảnh dùm. Chúng tôi chẳng biết chuyện gì tuy nhiên qua tiếp xúc tối hôm qua, thấy vợ chồng ông ta có thể tin được nên chúng tôi đồng ý. Lên xe ông ta chạy qua 4 - 5 ngả đường, thì tới một toà nhà lớn có tấm bảng đỏ ghi: UB Quân quản Tỉnh Bình Định Ban hồi cư .

Chúng tôi xuống xe, đi vào trong như một số người đã có mặt từ trước, theo chỉ dẩn, dặn dò chúng tôi yên tâm cứ trình Giấy đi đường của Tỉnh Quảng ngãi là được (lời của người đàn ông tốt bụng, mà sau nầy mới biết là tên Hùng) Mọi chuyện đều trôi chảy, khi chúng tôi nhận được Giấy đi đường mới của Tỉnh Bình Định. Chúng tôi trở ra thì đã gặp anh Hùng đang chờ đợi, cùng nhau trở về Chùa Long khánh. Chúng tôi phụ thu dọn vật dụng, hành lý của gia đình anh Hùng tốt bụng, sau đó toàn bộ chúng tôi rời Quy Nhơn khi ánh nắng bắt đầu rọi chiếu trên khắp thành phố. Tôi và Quan ngồi phía sau thùng xe, chung quanh là đồ đạc hành lý của gia đình Anh Hùng. Có lẻ chưa phút giây nào, trên chặng đường " vượt thoát ", chúng tôi cảm thấy sung sướng và thoải mái như lúc nầy vì chổ ngồi rộng rãi thoáng mát, xe chạy nhanh, không bị làm phiền vì các người chung quanh. Tôi nói với Quan: kỳ nầy về được, chắc phài " cạo đầu, ăn chay 3 tháng ". Quan cũng biểu đồng tình nhưng còn kèo nài thêm một câu "nhưng phải cho nhậu vài bữa cho đã, rồi mới tính, anh Tư " .Tôi trả lời: "Anh Tư chỉ biết phá mồi mà thôi". Thỉnh thoảng tài xế Hùng từ phía trước nói vói ra phía sau, đại khái cho biết chi tiết lộ trình xe tới đâu v…v…

Xe chạy khoảng hơn 2 giờ, Tài xế Hùng cho xe dừng lại ở Tuy Hòa Phú Yên (cách Quy Nhơn khoảng 95 cây số) để cùng nhau nghỉ ngơi, ăn uống mọi thứ do anh Hùng đài thọ, lần đầu tiên uống lại một lon cocacola ngon hết biết, chúng tôi nói lời cám ơn cả 2 vợ chồng anh Hùng, lúc đó mới lộ tẩy là thuộc phe ta, Hạ sĩ quan của Trung tâm huấn luyện KQ Nha Trang. Khi đã tỏ tường, lúc đó Tôi và Quan mới lộ thân phận thật. Theo Thượng sĩ Hùng thì Nha Trang lọt vào tay Cộng Sản "lãng xẹt", lúc đầu chỉ có một vài tên "đặc công" ném lựu đạn (1 / 4 /1975), gây sự hổn loạn, hoang mang, rồi từ tâm lý lo sợ, tinh thần chủ bại do các cuộc rút quân, triệt thoái "vô tổ chức, thiếu chỉ huy" của Quân Đoàn 2 và 1, thế là mọi người " khăn gói quả mướt, kẻ trước ngươì sau, kéo nhau, ùn ùn bỏ chạy, mãi tới ngày 4 tháng 4 năm 1975 Việt cộng mới vào thành phố Nha Trang ! ". Chúng tôi chỉ biết lắc đầu thở dài ngao ngán.

Sau 1 tiếng nghĩ ngơi, chúng tôi lại tiếp tục lên đường và dến Nha trang lúc khoảng 4 giờ chiều. Th / sĩ Hùng có mời chúng tôi về nhà mẹ vợ của anh để nghĩ đêm; nhận thấy chúng tôi đã làm phiền gia đình anh quá nhiều, với lại e ngại sự có mặt của chúng tôi sẽ có thể gây phiền toái cho anh, chúng tôi lấy cớ phải đi tìm nhà bà con nên chào tạm biệt. Th / sĩ Hùng còn cố dúi trong tay Tôi và Quan mổi người một ít tiền bảo để dằn túi. Chúng tôi không bao giờ có cơ hội, đền đáp những ân tình cao quý như thế; có lẽ phải đợi chờ đến kiếp sau !!!. Đêm nay chúng tôi xin ngũ nhờ, trước hàng hiên một ngôi nhà ở ven đường Độc Lập là đường phố chánh của Nha trang,trong đêm thỉnh thoảng có những toán tuần tra Việt cộng đi ngang qua nhưng không xét hỏi .

*** .- Nha trang, lối về thu ngắn, may mắn lần thứ 7: N+10, 13 / 4 / 1975 .

Buổi sáng sớm, trước khi thành phố Nha trang bắt đầu một ngày mới trong không khí nặng nề, uể oải, nghi kỵ dưới sự điều hành của những " người chủ mới ", chúng tôi ngỏ lời cám ơn gia chủ đã cho ngủ nhờ trước hàng hiên, chúng tôi đi lang thang dọc theo dãy phố ở đường Độc lập, có tiền trong túi do Thượng sĩ Hùng cho hôm qua, chúng tôi ghé vào một quán cà phê bên đường. Khuôn mặt kém vui của cô chủ quán, cũng đủ nói lên tâm trạng thấp thõm âu lo chung của tất cả người dân miền Nam tự nhiên " bị đổi đời " ngoài ý muốn. Khi mang cà phê đến cho chúng tôi cô chủ quán kín đáo nhìn ra phía cửa rồi hỏi nhỏ .Hai anh chắc là lính VNCH ở Sài Gòn - Chúng tôi không trả lời mà chỉ gật đầu … Cô chủ quán nói tiếp - Đang đánh nhau ở Phan Rang, không biết có giữ được không. Khổ quá, chưa có chi mà bỏ chạy hết.

Tôi thấy đau nhói trong tim bởi câu nói " vô tình " mang lời trách móc cay đắng, chua chát như vậy. Lời nói của một cô gái trẻ (20 - 25 tuổi) có lẽ cũng là lời nói chung cho những người dân từ Quảng Trị đến Nha Trang ở thời điểm nầy, trong nổi u uất, ấm ức, bực tức không biết điều gì, lý do nào, khiến cho một quân lực anh dủng, kiêu hùng, từng trải qua bao cơn sóng dử trong cuộc chiến bảo vệ đất nước, vẫn hiên ngang tồn tại từ 20 năm qua (1955 - 3 / 1975) nay chỉ chưa tới 3 tuần lể, đã để mất một phần lớn lảnh thổ của Quốc gia với nhiều đau thương, tang tóc, mà không có bất cứ một thể hiện chứng tỏ tinh thần trách nhiệm do dân và vì dân .Trong chia sẽ chung tâm tư với cô chủ quán, chúng tôi chỉ nói những lời an ủi chiếu lệ kèm theo những hy vọng ảo tưởng nhằm giãm bớt sự phiền muộn cho cô. Hiện tại, chính bản thân của chúng tôi cũng còn chưa biết sẽ đi về đâu, kết cuộc sẽ như thế nào!.

Rời quán cà phê, chúng tôi còn đang phân vân, tiến thoái lưởng nan, vì những tin tức chiến sự liên quan đến mặt trận Phan Rang của Quân đoàn 3. Căn cứ vào các cột cây số, khoảng cách từ Nha Trang đi Ninh Thuận (Phan Rang) chỉ có trên dưới 80 cây số, như thế nếu may mắn có được phương tiện xe để di chuyển thì chỉ trong khoảng 2 giờ đồng hồ sẽ đến vùng đang giao tranh, lúc đó sẽ hậu xét .Tr/ Úy Quan bàn với Tôi trở lại đường cũ, tìm nhà Th/ sỉ Hùng Không quân nhờ giúp đỡ, trong khi Tôi còn đang lưởng lự chưa quyết định, có một phụ nử trung niên trạc 60 tuổi, trên tay là cái giỏ đi chợ, khi bước ngang qua có lẽ nghe giọng nói miền Nam của chúng tôi, nên Bà dừng lại, hỏi luôn --- 2 cháu là người Sài Gòn phải không ? Đi lính gì vậy.

Thấy Bà là người lớn tuổi gương mặt phúc hậu, nên chúng tôi nói thật với Bà về tình cảnh hiện nay, tuy nhiên tuyệt đối chúng tôi không nói rõ cấp bậc cũ. Nghe xong Bà bảo chúng tôi đứng chờ, Bà đi chợ mua ít món hàng sẽ trở lại ngay. Khoảng 20 phút sau Bà trở lại, ra dấu cho chúng tôi đi theo Bà, qua một ngả tư là đến một ngôi nhà có lầu, không lớn lắm, phía trước có khoảng sân nhỏ với vài chậu bông (Tôi còn nhớ tên là Phường Phương Sài, hiện nay vẫn còn) Bà lên tiếng gọi, phía trong có tiếng một thanh niên trả lời, qua cách xưng hô Tôi đoán là con hay cháu của Bà, khi cánh cửa được mở ra, Bà lên tiếng: --- Mẹ gặp 2 cậu nầy là lính Cộng hoà giống như con ,Tội nghiệp chạy từ Đà Nẳng vào đây, v…v

Khi đã vào hẳn trong nhà, qua sự giới thiệu của Bà, được biết người thanh niên đó là con rể, tên Thắng, cấp bậc Tr /úy, Khóa 3 Chiến tranh chính trị, phục vụ ở Tiểu khu Khánh Hoà (Nha Trang); sau khi thành phố Nha Trang tự nhiên "bỏ ngỏ", Thắng cũng như mọi người khác, phải trốn về nhà hiện nay cũng chưa biết tính sao. Sau màn chào hỏi làm quen, chúng tôi được Thắng chỉ cho nhà tắm, khi trở ra chúng tôi đã có sẳn 2 bộ áo quần còn mới, tương đối vừa vặn, chỉ có điều hơi ngắn so với chiều cao của Tôi.

Khoảng trưa, chúng tôi được một bữa ăn đầy đủ và ngon miệng, ăn xong chúng tôi, Tr/ Úy Thắng cùng ngồi ở khoảng sân nhỏ chia sẽ tâm sự. Thắng tỏ ra rất chán chường cũng như không biết phải đưa vợ, con nhỏ đi tỵ nạn ở đâu, vì theo Thắng chạy đâu rồi cũng phải sa vào cái rọ do chính chúng ta tạo ra khi: " giá trị tinh thần trong quân đội là yếu tố chính, để quân đội chiến đấu giữ gìn bờ cỏi, ngày nay tinh thần vì nước quên mình, không còn trong quân lực là do lãnh đạo chỉ biết đến bản thân v…v...". Tôi không muốn tranh cải ,về nhận định có vẽ tiêu cực của Thắng vã lại ngay từ đầu khi gặp bà mẹ vợ của Thắng ,Tôi đã che dấu cấp bậc cũ, nay nói ra thật là bất tiện.

Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đang nằm nghỉ ngơi, Bà Cụ từ phía trong buồng chạy ra, cho biết vừa nghe trên đài phát thanh thông báo, kêu gọi Sĩ quan và Công chức chánh quyền Sài Gòn đi trình diện trong 3ngày, kể từ ngày mai 14 / 4 / 1975. Thấy sự lo lắng thể hiện trong gia đình, nên chúng tôi bày tỏlời cám ơn và xin phép ra đi để tìm phương tiện vào trong Nam. Lòng hiếu khách, sự quyến luyến của tình chiến hữu khiến chúng tôi rời căn nhà trong bùi ngùi, vì biết rằng sẽ không bao giờ có cơ hội trở lại, để đền đáp mối ân tình từ những con người có trái tim chân chính và thân thiện.

Trên đường đi, tình cờ ngang qua chùa Tỉnh hội, thấy có đông đúc người ra vô, nên chúng tôi cũng vào trong quan sát, thì ra nơi đây cũng có rất nhiều dân chạy loạn từ Cam Ranh và Phan Rang đang trú ngụ, thế là bài bản cũ, lại được đem ra áp dụng. Chổ ở, cơm nước thì đã có thí thực của nhà Chùa. Chúng tôi qua đêm tại Chùa nầy, cũng lại nhìn sao trên trời và tiếp tục cầu nguyện .

***.- Cam ranh không đánh mà mất và gặp lại Đ /Úy Hên: N+11, 14 / 4 / 1975 .

Chúng tôi rời Chùa Tỉnh hội rất sớm, trên đường đi đã thấy xuất hiện nhiều toán người, mang băng đỏ ở cánh tay trá vũ khí trang bị phần lớn là súng M16 của VNCH. Tôi đoán là bọn " ruồi bu " có mặt do hôm nay là ngày kêu gọi trình diện đầu tiên, nên chúng hiện diện ở đường phố để "hù thiên hạ". Tôi và Quan quyết định rời Nha Trang ngay lập tức, chúng tôi đi bộ chậm rải với hy vọng đón được xe, xin quá giang về Cam Ranh. Trời không phụ kẻ khốn cùng sau cùng có một xe hiệu Ladalạt (xe sản xuất ở Sài gòn trước 1975) đã cho quá giang, không phải trả tiền, chúng tôi về tới Cam Ranh, Phường Cam Nghĩa trước 12 giờ trưa.

Đang đi lang thang tại cây số 1, Tôi gặp lại Đ/ Úy Hên và Tr/ Úy Quân, chúng tôi vô cùng mừng rở, khi nghe Tôi kể về tình trạng của Lộc và Phán đã bị bắt giữ, Hên chỉ thở dài nói nhỏ số mạng cả. Sau đó chúng tôi lại chia tay vì theo lời Hên cho biết là Tr/ Uý Quân đã tìm được, một chủ ghe đồng ý vượt biển, tuy nhiên Hên cũng không tin tưởng lắm cho nên không dám rũ Tôi đi theo .Sau nầy Đ /Úy Hên kể lại đã may mắn thoát chết khi bị du kích địa phương phục kích tại bãi biển chận bắt và nổ súng làm thiệt mạng một số lớn dân chúng (Đ/ Uý Hên về đến Vũng Tàu trước Tôi 2 Ngày). Sau khi từ giã Đ/ Úy Hên, Tôi và Quan tiếp tục cuộc hành trình theo QL 1, đến khoảng 5 giờ chiều thì gặp một quán nhỏ bên đường, ghé vào hỏi thăm tình hình phía trước, mua mỗi người 4 cái bánh ú để ăn tối nay. Theo lời khuyên của bà chủ quán, chúng tôi cố gắng đi thêm vài cây số cho đến khi gặp được một cái Miếu thờ khá lớn, nằm cạnh một con sông, trong lúc nầy chúng tôi đã nghe văng vẳng xa xa tiếng máy bay. Khi chúng tôi vào trong Miếu thờ, thì đụng đầu với một gia đình chạy loạn, cũng vừa mới quay lại, sau khi cả nhà đang tìm về lại Quận Du Long thuộc Tỉnh Nình Thuận, thì rơi vào vùng đang giao tranh nên chạy bán sống, bán chết về đây, chúng tôi chia nhau cùng trú ngụ và qua đêm trong Miếu Thờ.

Theo lời kể lại của người đàn ông chủ chiếc xe, thì hiện nay lực lượng Nhảy dù (sau nầy được biết là Lữ đoàn 2 Dù gồm các TĐ 3 ,5,7, 11 và LĐTrưởng là Đ/ Tá Nguyễn thu Lương bị bắt làm tù binh trong Mặt trận Phan Rang, kể cả Tư Lệnh Tiền phương QĐ3Tr /Tướng Nguyễn vĩnh Nghi và Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân Phạm ngọc Sang, Biệt động quân Liên Đoàn 31 của Đ /Tá Nguyễn văn Biết và Sư đoàn 2 đã tái chỉnh trang, Phan Rang cũng là quê cha đất tổ của Cựu TT Nguyễn văn Thiệu) đang lập phòng tuyến ở Du Long nhằm ngăn chận sự tiến quân của Bắc việt.

Trong suốt chặng đường từ Nha Trang đi xuống Cam Ranh, chúng tôi hoàn toàn không ghi nhận, bất cứ cuộc chuyển quân nào của phía Bắc Việt, có lẻ sợ bị Không quân ta oanh kích. Trong đêm thanh vắng theo chiều gió, Tôi nghe rõ tiếng máy bay rầm rì ở phương Nam, điều nầy khiến cho Tôi hy vọng quân ta sẽ mạnh mẽ phản kích chiếm lại những phần đất đã mất, ít ra cũng tới Quy Nhơn (vùng đất mới phân chia lại, theo các tin đồn). Trước khi đi ngũ Tôi có dịp trò chuyện với người đàn ông (Tôi tin chắc cũng thuộc phe ta nhưng tôn trọng việc riêng tư nên không hỏi), mới biết rằng ở Cam Ranh cũng chẳng có đánh nhau gì cả, tự nhiên di tản hết, rồi sau đó Việt cộng mới vào (Ngày 3 Tháng 4 Năm 1975, Cam Ranh là nơi tập trung dân tỵ nạn và binh sĩ VNCH di tản từ các tỉnh phía Bắc. Cam Ranh bị bỏ ngỏ rồi thì các đơn vị của Sư đoàn 10 Bắc việt mới kéo tới (Trích trong: Cái chết của Nam Việt Nam Tác giả Phạm kim VinhTrang 328 giòng số 21 - 25).

*** .- Suýt chết vì bị Không quân phe ta oanh kích: N+12, 15 / 4 /1975 .

Mặt trời chưa kịp lên ở phương Đông, chúng tôi vừa mới tỉnh ngủ, bỗng nhiên nghe tiếng máy bay từ xa, ào ào bay tới, tiếng động cơ kêu vang dội trên bầu trời, Tôi và Quan vội chạy ra khỏi Miếu thờ, để xem chuyện gì đang xãy ra, trong khi cả gia đình của người đàn ông kia, kiếm chổ trốn sau các bàn thờ; chúng tôi núp sau một thân cây lớn cách Miểu khoảng 20 - 30 thước. Chúng tôi thấy 2 chiếc A 37 đang xé gió, lao xuống theo hướng Tây Bắc qua Đông Nam, trong phản ứng tự nhiên của 11 năm tác chiến .Tôi kêu lớn với Quan: chết rồi nằm xuống nó chuẩn bị đánh bom. Chúng tôi dán mình xuống sát mặt đất và chờ đợi, tiếng rít gió của mấy quả bom nghe rõ như bom sẽ rớt ngay cạnh. Hai tiếng nổ long trời vỡ đất, cách chúng tôi chỉ khoảng 100 - 200 mét ở phía ngoài đường QL1, thì ra ở đó có một cái cầu, bắt ngang qua con sông nhỏ, Không quân oanh kích cây cầu nhằm không cho địch dể dàng chuyển quân.

Sau 3 đợt đánh mà chúng tôi không biết kết quả ra sao, 2 chiếc A 37 bay mất khuất dạng nơi phía Nam (sau này nghe nói 1 trong 2 phi công là Ông Lý Tống). Chúng tôi quay trở vào trong Miểu thờ, thì thấy cả gia đình người đàn ông đang quỳ lạy tạ ơn, trước bàn thờ Phật. Sau khi mọi người đã tỉnh hồn vì chuyện máy bay oanh kích, người đàn ông tỏ ý sẽ chở gia đình ông ta về lại Cam Ranh chờ tình hình biến chuyển sau nầy. Chúng tôi ngỏ ý xin đi theo thì được ông ta đồng ý. Thế là chúng tôi trở lại Cam Ranh. Ngôi nhà của thân nhân người đàn ông, ở tại Phường Cam Linh TP Cam Ranh, đêm ấy chúng tôi xin người đàn ông ngũ trong xe của ông ta với lý do trông chừng đồ đạc cho gia đình. Tôi và Quan cùng nhau trao đổi về việc quân ta có giữ được Ninh Thuận hay không?

Theo suy nghĩ của riêng Tôi, thì chắc chắn quân lực VNCH phải lập một tuyến phòng thủ vững chắc ở Phan Rang vì đó là quê hương xứ sở cũng là nơi có mồ mã tổ tiên ông bà bao nhiêu đời của TT Thiệu, đồng thời có một phi trường quân sự lớn tại Phan Rang và rất gần với phi trường Biên Hoà cho nên việc không yểm sẽ nhanh chóng, dể dàng hơn .Chúng rơi vào giấc ngủ với những mệt mỏi, âu lo triền miên vô tận .

Hết Phần 4

 ----
Phần 1-2

Phái đoàn Vatican điều tra án phong chân phước cho đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị Hà Nội thu hồi visa vào Việt Nam.


Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
DR

Thanh Hà
Bản tin của AFP ngày 26/03/2012 cho biết : Phái đoàn Vatican điều tra án phong chân phước cho đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị Hà Nội thu hồi visa vào Việt Nam. Một nguồn tin xin giấu tên từ Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội cho AFP biết như trên.

Trên nguyên tắc từ ngày 23/03/2012 cho đến ngày 09/04/2012 một phái đoàn của Tòa thánh Vatican đến Việt Nam tìm gặp những người từng quen biết cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận để thu thập chứng từ nhằm thúc đẩy tiến trình phong chân phước cho nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình của Vatican.
Theo phân tích của tờ báo Eglise d’Asie thuộc Hội Thừa Sai Paris, chính quyền Việt Nam bất bình trước việc Tòa thánh Vatican cho mở điều tra phong án chân phước cho đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Hà Nội luôn nỗ lực « vô hiệu hóa tầm ảnh hưởng của cố Hồng Y ». Việc thu hồi giấy phép nhập cảnh vào Việt Nam nói trên diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Vatican vẫn chưa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là cháu trai của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sinh năm 1928 tại Huế, ông được tấn phong linh mục vào năm 1953 trước khi qua Roma du học. Đỗ tiến sĩ năm 1959, ông trở về nước và năm 1967 và được cử làm Giám mục Nha Trang cho đến tháng Tư năm 1975, thì được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Phó Sài Gòn.
Sau biến cố năm 1975 ông bị bắt giam trong vòng 13 năm. Khi được trả tự do vào năm 1988, ông qua sống lưu vong tại Roma. Năm 1998 ông được cử làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình. Vào năm 2001, tức một năm trước khi qua đời, ông được chính cố Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ nhị phong chức Hồng Y.

GS Vũ Quốc Thúc : "Tôi là ai?" và "Ông là ai?".

Vài điểm trong những câu trả lời của GS Vũ Quốc Thúc không thích hợp cho công cuộc chống Cộng
 
Giáo sư Vũ Quốc Thúc trả lời phỏng vấn RFI ngày 08/03/2012.
Đọc bài (đính kèm) về vụ Giáo sư Vũ Quốc Thúc trả lời phỏng vấn với đài VOA, chúng tôi nhận thấy có vài điểm trong những câu trả lời của GS không thích hợp cho công cuộc chống Cộng hiện nay của những người Việt tỵ nạn hải ngoại, và cần được nêu ra để cho lập trường quốc gia được sáng tỏ. GS Thúc nói:

1) "đừng để một lần nữa bị lâm vào cảnh chiến tranh, huynh đệ tương tàn..."
Không hiểu vì nguyên do nào mà Giáo sư Vũ Quốc Thúc nói rằng chiến tranh VN là "huynh đệ tương tàn"? Vô lẽ ông lại đi bắt chước những tên phản chiến thân Cộng ngày xưa, như Trịnh Công Sơn, cũng đã hát nhảm như thế, và bọn lãnh đạo VC ngày nay muốn chối tội, đổ tội (cho VNCH)? Trước kia, nếu nói chiến tranh giữa nhân dân hai miền Nam và Bắc là "tương tàn" thì cũng cứ OK cho những cái đầu nhỏ như đầu que diêm, có nhu cầu tuyên truyền làm lợi cho Cộng sản. Nhưng bây giờ chiến tranh đã kết thúc, giáo sư lại tái xử dụng chữ "tương tàn" thì xin hỏi, "tương tàn" giữa ai đây? Giữa những người Việt quốc gia tỵ nạn hải ngoại và bọn lãnh đạo thảo khấu VC trong nước chứ còn ai nữa, theo câu nói và "contexte" không úp mở của ông ("một lần nữa..."). Nhưng làm sao mà người quốc gia có thể là "huynh đệ", anh em, với bọn VC cho được? Tại sao?
Là vì khi Hồ Chí Minh và bè lũ VC tiến quân xâm lược Miền Nam trong mưu đồ nhuộm đỏ cả nước là chúng đã thi hành lệnh của Đệ Tam Cộng Đảng Quốc Tế phi dân tộc, phi biên giới, phi Việt Nam? Lúc ấy chúng đâu còn xem nhân dân Miền Nam là anh em, huynh đệ, là người Việt Nam cùng dòng máu Tiên Rồng nữa đâu! Chả thế mà khi tên đồ tể Staline chết, tên thi nô Tố Hữu đã khóc, theo lệnh Trung ương Đảng, rằng, đại khái, thương cha mẹ hắn (người VN) một, thương ông (Staline) thương mười, kia mà! Chả thế mà khi Mao Trạch Đông, tên đồ tể khác, đi chầu Diêm vương, thì đám lãnh đạo và văn nô thi nhau lên tiếng khóc than, thảm thiết, làm như Mao là ông nội chúng nó không bằng.
Hồ Chí Minh là một tên CS quốc tế, vô tổ quốc, vô gia đình, vô huynh đệ, cũng như bất cứ một tên lính đánh thuê cho CS nào, dù Việt, Pháp, hay Congo, nhưng y khéo lợi dụng chiêu bài giải phóng dân tộc để lừa bịp mọi người, từ Giáo Hoàng Paul VI (không tiếp Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu) cho đến những nhà trí thức khoa bảng Việt du học (cũng như bản xứ, Jean-Paul Sartre, André Gide chẳng hạn), đặc biệt xuất thân từ các đại học Âu Tây (Pháp, Bỉ) vốn là những ổ giáo dục thiên Cộng. Những nhà trí thức khoa bảng ấy, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Hữu Thọ, chỉ kê sơ vài người, học cho lắm vào nên tẩu hỏa nhập ma, mờ mắt chẳng phân biệt đâu là chánh đâu là tà, đâu là Vàng đâu là Đỏ nữa. Còn Miền Nam VN chỉ làm nhiệm vụ tự vệ chống lại bọn cướp Miền Bắc, bảo vệ người dân Miền Nam, trong số có cả những tên "ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản" hiện đang ở hải ngoại. Thế thôi. Huynh đệ tương tàn ở chỗ nào? Câu này ông chỉ nên áp dụng cho bọn VC thôi. Đối với lỗ tai của chúng tôi, những nạn nhân của VC, thì quả là khó nghe.
2) "Thế thì tại sao những gì làm được bên Áo lại không làm được ở Việt Nam?”
Dễ hiểu quá, có gì phải thắc mắc? Vì Áo, hay Thụy Sĩ là một nước trung lập par excellence, được quốc tế công nhận, không phải là một nước CS, hay là cựu CS, không có cái vô phúc sản sinh ra một Hồ Chí Minh và bè lũ VC khốn kiếp  -đã đưa Việt Nam vào thảm họa hiện nay, một Việt Nam mà trong đó những giá trị nhân bản ngàn đời đã bị phá sản một cách thê thảm, mà phẩm giá của phụ nữ, đời sống của toàn dân bị chà đạp thô bạo, mà tự do, dân chủ, nhân quyền là những chữ vô cùng xa lạ, mà những tệ đoan xã hội mọc lên đầy dẫy, mà văn hóa là một sự hủy diệt mọi thứ đạo đức, luân lý của tổ tiên, cha ông chúng ta đã dày công vun quén, một thứ văn hóa bần cố nông cổ võ học trò chửi thầy, con tố cha mẹ, anh em chém giết lẫn nhau, người là chó sói đối với người. Vân vân...
Những tên chóp bu ngụy quyền VC bây giờ, nếu nghe lời ông giáo sư xúi dại, làm theo chủ nghĩa trung lập viễn vông của ông, thì lập tức chúng sẽ bị đập chết. Chúng đâu có ngu. Trung lập có nghĩa là dẹp bỏ chế độ Cộng sản, mà đã không còn duy trì chế độ khát máu, độc ác, độc tài CS bằng AK, mã tấu, và Công an thì làm thế nào chúng có thể tự phong nhau làm thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, làm thế nào chúng có thể tham nhũng, có quyền bịt miệng, bỏ tù người dân?
Còn nữa: lúc đầu chúng tôi tưởng ông giáo sư ngây thơ, lẩm cẩm, khi ông đề nghị giải pháp trung lập cho Việt Nam. Nhưng nghĩ kỹ, thấy ông khôn bỏ xừ. Ông muốn VC trung lập, thật sự hay giả vờ, để "giải giới" (VC gọi là "giải thể") những người quốc gia hải ngoại, nạn nhân CS đang chống Cộng cùng mình, cho tới sau hơi thở cuối cùng. Có phải đó là ẩn ý đích thực của ông? Chúng tôi khẳng định, giống như Yelsin, là đối với chế độ Cộng sản (và VC nói riêng), không thể nào sửa đổi, thay đổi, mà chỉ phải tiêu diệt chúng mà thôi.
3) "Chúng ta không nên có mặc cảm là chúng ta yếu quá. Ta không phải là một cường quốc về quân sự, nhưng ta đủ sức để ngăn chặn không cho một ngoại bang nào chiếm đóng nước chúng ta. Họ có thể tàn phá chúng ta. Họ có thể đánh bại quân đội chúng ta..."
Suốt bài phỏng vấn, ông toàn dùng những chữ "đất nước chúng ta", "chúng ta", "ta", khi nói về Việt Cộng, cứ làm như ông ta là phát ngôn viên của ngụy quyền VC, đại diện cho Nguyễn Tấn Dũng không bằng. Tôi không vội chụp nón cối cho ông, hay bất kính đối với ông, nhưng nghe ông, một người đã rời bỏ thiên đường VC (vì lý do gì thì ông không nói rõ, kể cả trong hồi ký của ông), dùng những đại danh từ như thế, thì quả là chướng tai, khó chịu quá, và chúng tôi có cảm tưởng ông vô tình hay hữu ý làm cái loa của Toà đại sứ VC ở Paris không chừng.
4) "Nếu mà tôi hoài nghi những người lưu vong ở hải ngoại hay là những người đang cầm quyền, những người cộng sản trong nước, thì không bao giờ tôi đưa ra những chủ trương như chủ trương trung lập, người ta sẽ cho là tôi viển vông, không tưởng, nhưng chính vì tôi tin tưởng ở tiền đồ của đất nước, tôi tin ở mệnh nước..."
Ông giáo sư này ba phải "cực kỳ": ai ông cũng tin tưởng, thì còn đấu tranh với ai nữa. Ông tin "những người cầm quyền, những người cộng sản trong nước" thì sao không xin visa về nước chung sống, và làm cố vấn, giúp đỡ chúng nó? Nghị quyết 36, và cái đám Thông Luận ảo tưởng của Nguyễn Gia Kiểng và Đặng Tiến ở Paris cũng kêu gọi hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù, tình tự dân tộc, để cùng xây dựng tốt đẹp hơn một nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng những tên này không kêu gọi, dụ dỗ bọn lãnh đạo và đảng viên của bạo quyền VC, mà chỉ ngoác mồm kêu gọi, dụ dỗ những người tỵ nạn ở hải ngoại thôi, nghĩa là hòa giải, hòa hợp một chiều. Ông giáo sư và Nhóm Thông Luận này còn nhớ hay quên bài học xương máu năm 1945 khi Hồ Chí Minh đề nghị, kêu gọi, dụ dỗ các đảng phái quốc gia bắt tay, sống chung hòa bình với đảng Việt Minh của y, để rồi tất cả bị y tiêu diệt không nương tay?
Trước đây, đọc hồi ký của GS Vũ Quốc Thúc, tôi đã ngán ngẩm vì lập trường tối mò như đêm ba mươi của ông. Rồi khi trong buổi ra mắt sách của ông tại San José năm nào, đệ tử của ông không cho treo cờ Vàng (theo lời kể của giáo sư Ngô Đức Diễm, giám đốc Trung tâm ViVo, San José), rồi khi ông có thái độ mập mờ, sớm nắng chiều mưa trong vụ treo/chào Cờ Vàng trong Đại Hội Thụ Nhân Paris 2012, rồi khi ông là một trong số 36 "trí thức" mới đây ký kiến nghị dâng lên tụi lãnh đạo ngụy quyền VC, tôi còn ngán ngẩm hơn. Chán. Bây giờ đọc bài phỏng vấn này, thì chỉ còn nước giơ tay xin chào thua, và xin hỏi, bắt chước Việt Khang, người nhạc sĩ trẻ tuổi bị tù trong nước: "Tôi là ai?" và "Ông là ai?".

Người Lính Già Oregon
Cựu tù nhân cải tạo (8 năm, tại miền Bắc),
cựu tù nhân vượt biên (1 năm tại Long An),
nạn nhân triền miên của Việt Cộng

Chủ Đề 30.4: NGÀY QUỐC HẬN.


Nưóc đã mất, nhà đã tan , gia đình ly tán ! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rũi may , những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.




Người dân trốn chạy quân Bắc Cộng

Trên đường trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vượt thoát bàng đường bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đã chết đói vì lạc đường, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đình, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng( tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.

Thãm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những ngưòi trốn chạy khỏi quê hường nầy bằng một biệt danh ,mà trong lịch sữ loài người chưa từng có :“BOAT PEOPLE”(Thuyền Nhân).


Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc,đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ gíúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và chiếm lảnh miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.


Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là
NGÀY QUỐC HẬN.





Xe Tăng Bắc Việt cs bị bắn cháy tại Lăng Cha Cả gần sân bay TSN


Không có từ ngữ nào để diển tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc hận . Nó diển tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó , đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ ; từ tương lai trong sáng trở thành tâm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất , căm phẩn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật : ngoan ngoản thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.


Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng tư, ngày đổi đời đó ?


Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.


Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại cải tạo. Những rường cột của Quốc Gia đã bi kềm hảm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chửa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm mướn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy . Những người tù cải tạo đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chưởi bới ,hâm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều trường hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những bài “ học chính trị“, do Bác và Đảng chủ trương đối với những người sa cơ, thất thế.


Những người tù lương tâm đó là ai ?


Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam củaTổ Quốc, giữ gìn an ninh cho ngưòi dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp ;


Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cường , có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn , Đài Loan;


Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà;


Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.


Những người tù lương tâm nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã gíup đở cho “ Ngụy Quân, Ngụy Quyền” chống phá lại cách mạng của nhân dân(sic).


Ngoài những người đã bị bắt đi làm “tù cải tạo”, những người dân thường sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đã bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (hiện giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi vùng kinh tế mới, “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo, đã có công với nhà nước trong viêc cưỡng chiếm miền Nam;





Đám Cán Ngố (Vẹm Rừng) Trước Dinh Độc Lập Ngày QUỐC HẬN 30/4/1975


Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xả“ Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vườn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là bảng chấm công. Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam.


Tóm lại, sau khi bọn cường đạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã cưởng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhượng,bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.


Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2012, đã qua 37 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những cán bộ Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xão thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn.


Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nổi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẩm ước máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc , giúp đở họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu(câu nói khinh miệt của dân miền Nam) , họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn cộng phĩ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.


Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hảy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi hận xót xa cho cả nước, chúng ta hảy tưởng niệm đến quê hương đã mất đi, tưởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hảy tưởng nhớ đến những người tỵ nạn kém may mắn đã chết trên đường đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hảy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng , để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.


Lão Ngoan Đồng

Chủ Đề 30.4: TẠI SAO LẠI PHẢI SỢ NGÀY QUỐC – HẬN 30 THÁNG 4 ?


Lại có một nhóm người trong Ủy-Ban Ngày Thuyền-Nhân Việt-Nam tại Toronto, Ontario, CANADA xin Hội-Đồng Thành-Phố Toronto công-bố ngày 30 tháng 4 năm 2011 là Ngày Thuyền-Nhân Việt-Nam.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày mất Việt-Nam Cộng-Hoà, một ngày đen tối nhứt cho những người quốc-gia Việt-Nam.
Chúng ta đang sống trong những đất nước tự-do và dân-chủ không bao giờ quên ngày 30 tháng 4 và chúng ta đã gọi nó là Ngày Quốc-Hận 30 tháng 4.
Bọn Việt-cộng và Việt-gian rất sợ danh-xưng Ngày Quốc-Hận 30 Tháng 4. Tại sao vậy?
1) Khi gọi Ngày Quốc-Hận 30 Tháng 4, hơn 2 triệu người Việt ở hải-ngoại gồm hai thế-hệ luôn nhớ cội nguồn của mình và oán-hận chế-độ cộng-sản Việt-Nam;
2) Ngày Quốc-Hận 30 Tháng 4 là nguyên-nhân của hàng trăm ngàn lời vạch trần bao tội ác của bọn tà-quyền cộng-sản Việt-Nam mà chúng thường lấp-liếm và cãi biến.
Vì những lý-do này, giới lãnh-đạo Hà-Nội luôn cố-gắng tuyên-truyền và dùng ngoại-tệ để mua chuộc những người trong các cơ-quan, đoàn-thể chống cộng tại hải-ngoại để lái sự-nghiệp chống cộng sang chiều-hướng hoà-hợp và hoà-giải nhằm làm nhụt chí của những ai đang tranh-đấu cho một nước Việt-Nam không cộng-sản, dân-chủ và phú-cường.Muốn được như vậy, họ đã chỉ-thị cho nhóm tay sai của họ ở khắp nơi có đồng-bào tỵ nạn cộng-sản định-cư phải thay đổi danh-xưng Ngày Quốc-Hận 30 Tháng 4 thành Ngày Thuyền-Nhân Việt-Nam. Chúng ta nên hiểu rõ những âm-mưu thâm-độc của bọn Việt-cộng và tay sai để đoàn-kết chống lại bọn chúng một cách hữu-hiệu hơn. Bọn tà-quyền cộng-sản Việt-Nam đang tách những người chống cộng của chúng ta như tách rời những chiếc đũa khỏi bó đũa! Bó đũa thì không thể bị bẻ gãy được nhưng chiếc hay đôi đũa thì sẽ bị bẻ gãy dễ-dàng.
Nói tới vụ thuyền-nhân (les gens en bateau/the boat people), tác-giả lại nhớ tới vụ Tiến-Sĩ Nguyễn Đình Thắng, chủ-tịch của BPSOS đã lèo lái kết-quả cuộc vận-động của nhạc-sĩ Trúc-Hồ và BGĐ đài truyền hình SBTN ký tên vào Thỉnh-Nguyện Thư (pétition/petition) vào mục-tiêu tư-lợi của tổ-chức của ông. Cuộc chơi nào cũng có sự thắng bại, nhưng điều đáng nói trong mỗi cuộc chơi là một cuộc chơi ngay thẳng (un franc jeu/a fair play), và chúng ta phải đòi hỏi điều đó! Chơi bẩn là lối chơi của bọn tà-quyền cộng-sản Việt-Nam và của “đám theo gió trở cờ”.
Ngày Quốc-Hận 30 Tháng 4 vẫn còn khi CHXHCN Việt-Nam chưa bị sụp đổ. Nếu những ai muốn biến Ngày Quốc-Hận 30 tháng 4 thành Ngày gì đó thì hãy cùng chúng tôi, những người yêu tổ-quốc trong và ngoài nước (không muốn Việt-Nam trở thành Tỉnh Quảng-Nam của Trung-Quốc) sớm làm một cuộc cách-mạng đập tan bạo-quyền cộng-sản Việt-Nam. Rất mong thay!
Montréal, ngày 24 tháng 3 năm 2012
MỸ-LAN


 NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ÐỜI LÀ QUỐC HẬN !



(gởi những kẻ có ý đồ muốn đổi NGÀY QUỐC HẬN đau thương trong lịch sử Việt Nam thành ngày tự do hoặc ngày của thuyền nhân để bịp lừa nhân loại.)
Ngày Quốc Hận phải là ngày Quốc Hận
Không tự do mà cũng chẳng thuyền nhân !
Tự do gì khi tám chục triệu dân
Bị đàn áp, bị tù đày, bị giết ?!
Bị đảng xem như con giun cái kiến
Bắt Dốt, bắt Mù, bắt điếc, bắt Câm
Khi đảng lạy Tàu, cắt đất quì dâng
Dân phản đối, đảng vu là phản động ...
Cánh cửa nhà tù thét to, mở rộng
Và người tù không án vẫn chung thân
Ðảng cấm vợ con, cha mẹ, xa gần
Ðến thăm viếng. Tự do à ??? Gian lận !!!
Ngày Quốc Hận thì gọi là Quốc Hận
Sao lại lập lờ ngày của thuyền nhân ?
Ba Mươi Tháng Tư nếu lũ vô thần
Không cướp miền Nam, thuyền nào ra biển ???
Cướp miền Nam, đảng gây thêm oan nghiệt
Thu đất, đoạt nhà, vơ vét, quan liêu
Máu thịt dân lành, gia sản tan tiêu
Nên mới có thuyền nhân sau cuộc chiến
Cướp nước rồi, nếu đừng tù, ngưng giết
Ðừng trả thù người tàn ác, bất lương
Bắt tay nhau cùng dựng lại quê hương
Thì đã chẳng có tên " NGÀY QUỐC HẬN " !
Bất nhân thế, sao hèn, không dám nhận
Là tháng Tư, loài qủi đỏ dã man
Tàn bạo, gian hùng, bức tử miền Nam
Gieo tang tóc, xô dân vào ngục tối ???
Sao muốn đổi tên ? sợ mà chối tội ?
Hay gian ngoa, điên đảo bịp lừa người ?
Bịp cách nào, tay vẫn máu dân tươi !
Vì tội ác vẫn còn kia, chất ngất ....
Ngày Quốc Hận thì gọi là Quốc Hận
Nghe rõ chưa hỡi kẻ thiếu tim người !
Món bịp bây giờ đã ế, đã ôi ...
NGÀY QUỐC HẬN MUÔN ÐỜI LÀ QUỐC HẬN !
Ngô Minh Hằng

Dân Oan : Hồn ma xúi mấy ông làm mấy việc ác ôn thất đức như vầy hay sao?!

 
danoanXin chuyển tin mới nhận nhận đến Quý Vị, Quý NT và CH...

Để biết, theo dỏi và thẩm định...

Cám ơn...


BMH
Washington, D.C

Dân Oan đã bị hốt sạch sáng nay tại Chùa Liên Trì, Sàigòn.. Đêm qua, c.s đã cho ca & dân phòng ( loại quần chúng bức xúc & tự phát! ) bao vây Chùa Liên Trì gọi cửa, bắt buộc Hòa Thượng Thích Không Tánh phải mở cửa Chùa cho ùa vào vây bắt gần chục Dân Oan còn sót lại sau cuộc cưỡng chế của nhà nước c.s, đã "hốt sạch" số Bà Con ăn chực nằm chờ khiếu nại V/v bị nhà nước cướp đoạt tài sản tại số 210 VõThị Sáu - Q.3 . Từ mấy đêm trước đó, ca chìm có, nổi có đã luôn rình rập muốn vào Chùa để bắt mấy chục Bà Con thường ghé Chùa cơm nước, tắm rửa nghỉ ngơi tá túc qua đêm, để hôm sau tiếp tục ra 210 Võ Thị sáu chờ đợi "công lý" !, Họ đã chờ đợi như thế gần 30 năm qua, có người đi khiếu kiện hai Chị Em, nay chỉ còn một! (như Bà 7 Lương chẳng hạn!!!), lại có cô gái theo đuổi khiếu kiện đòi lại tài sản từ khi còn thanh xuân, sau 20 năm đã quên cả việc lập gia đình.., lỡ mất thời xuân sắc !!! Có người vì theo đuổi khiếu kiện & giúp người đồng cảnh ngộ khiếu kiện mà bị bỏ tù, để đến nỗi Vợ Chết không nhìn thấy mặt, như M.s Dương Kim Khải. Linh Mục Nguyễn văn Lý cũng vào Tù bắt đầu từ những bât công về Đất của Giáo Xứ Nguyệt Biều, thường thì c.s vu chụp bắt quàng chuyện này qua việc khác, để kết tội bắt giữ Nạn Nhân, như vụ 2 "bao cao -su đã qua ...xử dụng" của Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ Và vì đang có những cuộc kêu gọi Dân Oan 3 Miền cùng là nạn Nhân của chế độ c.s, hãy tìm đến nhau trong cuộc Tổng Biểu Tình vào 2 ngày 26 & 27-03-2012 này! nên đêm 24 rạng 25 - 03 - 2012 nhà nước ra lịnh bao vây đòi xét hộ khẩu Chùa Liên Trì, để bắt nốt số Nạn Nhân đã trốn thoát khỏi cuộc vây bắt ở 210 VTSáu , cứ 3..4 tên đàn ông to khỏe lôi kéo (bóp be sườn !) mấy người đàn bà, xốc nách vất lên xe...chở đi! , không ai biết chúng chở đi đâu,mặc dù chúng phao tin là cho xe chở "bà con" về địa phương, sẽ giải quyết! Giải quyết cái gì , khi bọn cán bộ c.s nói một đường, mà làm một nẻo, chúng đã quen dối láo đến nỗi Bà Con thuộc nằm lòng câu : "Đừng nghe những gì c.s nói, mà hãy nhìn kỹ những gì chúng làm". Là một Hòa Thượng nặng lòng từ bi, với trách nhiệm Tổng Vụ Trưởng Vụ Từ Thiện Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Chùa Liên Trì là một cơ sở Tôn Giáo, với trách nhiệm trụ trì và đã từng lắng nghe tâm tư nguyện vọng của những người Dân Oan cùng khổ!, và bản thân H-T. cũng đã từng là Nạn nhân tù đày của c.s, H-T. không thể mở cửa Chùa để ca ùa vào vây bắt những người đàn bà đến nương nhờ cửa Phật nên H-T. đã KHÔNG mở cửa : -- Các Ông muốn vào thì cứ leo tường mà vào, có muốn bắt thì cứ bắt Tui đây nè! vì Họ đến đây nhờ vả bữa cơm , ngủ tạm qua đêm , chẳng lẽ bây giờ tôi lại mở cửa cho c.a vào đây bắt Bà Con hay sao?, mai mốt Bà Con nói với nhau Cái Ông Thày Không Tánh làm bộ chứa chấp mình, rồi cho c.a bắt mình, như vậy Tui mang tiếng.., mấy Ông muốn làm gì cứ làm Lời qua tiếng lại, kéo dài thời gian chúng làm dữ quá, H-T. liều lĩnh : -- Chẳng lẽ hồ chí minh chết rồi, bây giờ còn hồn ma xúi mấy ông làm mấy việc ác ôn thất đức như vầy hay sao?! Và rồi H-T. cương quyết không mở cổng Chùa, chờ chúng vào bắt giết, hoặc bỏ tù thì cũng chịu , chứ bỏ gần chục Dân Oan kia, thì Người không nỡ..chúng không leo tường vào, chia nhau ra phục kích đâu đó, ẩn nấp canh gác... Cho đến 05 giờ sáng, thấy êm êm mấy Bà Con thức dậy ăn uống, rồi ra khỏi Chùa lúc còn mờ tối.. Bà Con ra đến chân cầu mới, đường dẫn qua Thị Nghè , chúng cho người ùa ra vây bọc Bà Con, bắt buộc Bà Con phải lên xe ( loại xe mấy chục chỗ ngồi ) đậu sẵn, Chị Em cự cãi, xảy ra xô xát, chúng đánh và Bà con chống cự, là đàn bà làm sao chống nổi mấy chục tên đàn ông lực lưỡng ..chúng vất Bà Con lên xe chở đi ....mất tích! Những Người Chứng Kiến gần đó mất luôn tin tức cho đến bây giờ ...chưa biết số phận của những Bà Con Dân Oan ấy ra sao?? ????????? !!!!!! Có thể tạm coi như bạo quyền c.s đã thành công " mỹ mản " trong viiệc ngăn chận cuộc biểu tình của Bà Con Dân Oan ở Miền Nam ở số 35 đường Hồ Học Lãm , quận Bình Tân... Mặc dù ngay tại địa chỉ mà Bà Con rủ nhau biểu tình cũng chỉ là địa điểm lừa để cô lập Bà Con ra khỏi tầm quan sát của Phóng Viên Nước Ngoài mà thôi!, vì đây là vị trí tách rời khỏi trung tâm Thành Phố, mà lại là hẻm cụt, đường cùng..chúng dễ dàng phục người của chúng để vây bắt đàn áp Bà Con.... Đây là địa chỉ có tính cách tình thế, chúng làm bộ dời cơ quan giải quyết khiếu nại về đó, để đưa Dân Oan ra khỏi 210 VTSáu, khỏi Tòa Nhà Quốc Hồi đã bị Dân Oan chiếm giữ vào ...Tháng 6 Năm 2007!!! Bà Con rất lo lắng cho sự dấn thân của Hòa Thượng Thích Không Tánh, nhứt là khi Người vừa thay mặt cho những Người Dân và Chùa Chiền ở Vùng Thủ Thiêm Quận 2...bị mất nhà đất để thêm vào Tiếng Nói Chung trình bày với truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế gióng lên Hồi Chuông cầu cứu với Báo Giới Truyền Thông Hải Ngoại, với các Anh Chị Thiện Tri Thức có lòng hướng về v.n, lắng nghe & tìm hiểu nỗi đau thương bi hận của : " ..3 lần dọn nhà , bằng 1 lần nhà cháy!!! "

Bài Xem Nhiều