We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 29 March 2012

TÀU TRUNG CỘNG CẬP BẾN VIỆT CỘNG (ĐI LẠC NƯỚC..?)

 Việt cộng có tài hà hiếp dân lành trong nước thôi, còn đối với nội của chúng là bọn Tầu thì chúng cúi đầu vâng lệnh chẳng một thằng nào dám hé nửa lời về biết bao vụ xâm phạm chủ quyền, cướp bóc dân chài của mình, thậm chí đến cái tên gọi k gây tội là bọn Tầu mà chúng cũng không bao giờ dám nêu đích danh mà chỉ nói trớ đi là tầu lạ, người lạ. Thật là một lũ hèn hạ đến mức không còn lời gì để đặt cho chúng, chỉ còn gọi chúng là bọn Việt cộng là đủ nói lên tất cả những cái tính hèn hạ bỉ ổi, gian ác, nói chung là tất cả những cái xấu xa tồi tệ nhất của một con người đều nằm gọn trong 2 chữ Việt cộng.

Chủ Đề 30.4: Bước Chân Việt Nam

Bước Chân Việt Nam


Đã 32 năm rồi!

Ngày 22/6/1980 chuyến bay charter Wardair cất cánh từ Bangkok đã đưa trên 300 thuyền nhân Việt Nam qua định cư tại Canada.

Sau khi ghé Nhật Bản (căn cứ Guam hay Okinawa?) để lấy thêm nhiên liệu, phi cơ tiếp tục bay đến Canada. Đáp xuống phi trường Edmonton (Alberta) một giờ, xong bay tiếp đến phi trường Mirabel, phía Bắc Tp Montreal.

Tới rồi!

Một cảm giác mừng vui, lo âu, bồi hồi, hoang mang, xúc động không thể nào tả hết cho được.

Trên mười chiếc xe bus quân sự loại lớn đưa hết người tị nạn mới đến về tạm trú tại căn cứ quân sự Longue Pointe nằm ngay trên đường Hochelaga,Montreal. Đây là một Immigration processing center hay trung tâm làm thủ tục định cư.
Thuyền nhân Nguyễn Thượng Chánh
Gia đình người gõ thuộc diện “mồ côi” nên được hội nhà thờ bảo trợ. Một tuần sau, thì mình được đưa ra phi trường Dorval (nay là phi trường Trudeau) để đi định cư tại Montague. Đây là một thành phố 2000 dân cư thuộc tỉnh bang PEI (Prince Edward Island) thuộc duyên hải phía Đông Canada.

Nhà thờ Công giáo St Mary’s Parish và nhà thờ Tin Lành United Hillcrest Church tại Montague đã đứng ra bảo trợ gia đình tác giả trong một năm. Họ là những ân nhân đã dang rộng vòng tay nhân ái đón tiếp gia đình mình trong buổi ban đầu tại miền đất hứa.

Người gõ xin mượn lời suy tư của nhà văn Phạm Tín An Ninh (định cư bên Na Uy) đã nói lên lòng biết ơn sâu xa của thuyền nhân đối với thế giới tự do:

“Họ là nhừng kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những "người anh em" cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi”.

Cô con gái quá giang đêm mồng một Tết- Phạm Tín An Ninh
http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?t=160821

Thuyền nhân Nguyễn Thượng Chánh
Montague là một thành phố nhỏ nên buồn lắm. Tại nơi đây, người gõ đi làm lặt vặt như hái thuốc lá, hái dâu Tây và làm công nhân lao động trong nhà máy biến chế thủy sản GeorgeTown Seafoods, nhưng chỉ được 1-2 tháng thì bị cho nghỉ việc vì mùa đông nhà máy đóng cửa.

Tháng 3 năm 1981, gia đình quyết định dọn về Montreal để lập nghiệp.

Trong một hai năm đầu, hai vợ chồng đều làm việc tay chân (travail général) trong manufacture hãng xưởng với lương tối thiểu 3.75$/giờ. Người gõ làm cho một hãng làm dụng cụ phụ tùng điện và plastic tại Ville Mont Royal, Montreal. Bà xã thì đi làm cho một xưởng sản xuất nữ trang rẻ tiền tại Ville Saint Laurent, gần phi trường Montreal.

Sau đó thì hai vợ chồng tìm cách đi học lại…

Cuộc đời trước mặt

Nhớ hồi 32 năm về trước lúc còn chân ướt chân ráo mới đến định cư tại cái xứ đất lạnh tình nồng nầy…

Mình thấy cái gì mình cũng ham hết.

Ôi thôi! nào là bơ, nào là sữa, nào là kẹo, bánh, thịt thà đủ thứ hết…sao mà nó ê hề nhiều quá xá cỡ thợ mộc.

Để bù đắp lại những ngày thèm khát thiếu thốn ngày xưa lúc miền Nam vừa đổi chủ, hầu như mỗi cuối tuần mình đều bày đặt nhậu nhẹt lu bù với anh em trong nhà hoặc với bạn bè.

Tiệc tùng làm ngay trên sàn nhà nơi “phòng khách” hoặc cạnh bên nhà bếp vì toàn là dân mới qua, nghèo rớt mồng tơi.

Đi làm lương tối thiểu 3.75$/giờ. Ai cũng đều ở apt mướn hết. Đâu có đứa nào có nhà có cửa riêng đâu. Rồi còn phải tằn tiện, dành dụm để mỗi 6-7 tháng có thể gởi chút đỉnh giúp đỡ gia đình bên Việt Nam.

Đồ xài trong nhà toàn là đồ nhà thờ cho, mua rẻ từ Salvation Army, hoặc lượm ngoài đường đem về sửa lại qua loa rổi xài đỡ. Đó là thời của dân tị nạn boat people.

Thuyền nhân Nguyễn Thượng Chánh
Những năm sau nầy thì bà con mình qua theo diện đoàn tụ ODP thì khỏe hơn trăm bề.

Nhưng hồi đó lại vui. Vui vì mình biết rằng mình được TỰ DO và con cái mình sẽ có tương lai.

Ăn nhậu cuối tuần

Thịt heo mua cả ký, để nguyên da và mỡ cho nó béo, bỏ vô nồi luộc chín, đem ra xắt mỏng cuốn bánh tráng rau sống chấm mắm nêm hay mắm ruốc ăn sao mà thấy nó ngon quá trời quá đất.

Bia thì mua cả thùng cả két, uống hết chai nầy thì khui chai khác.

Thuốc hút thì mỗi ngày một gói Export A, toàn là thứ nặng không hà, rẻ mạt, hút thả cửa.

Cũng may cho cái chuyện ghiền thuốc lá. Nhớ hồi năm 81, lúc đi học lại bên nầy, sáng vô giảng đường, trong khi thầy bà đang giảng ào ào phía trên, tự nhiên thình lình mình hay bị ngứa cổ kềm hổng nổi nên phải sủa rống liên hồi như súng đại liên khạt đạn khiến thiên hạ đều phải im hết và quay đầu lại nhìn mình có vẻ khó chịu.

Quê quá trời, mất mặt thiếu điều muốn độn thổ luôn, tức mình bỏ thuốc luôn từ dạo đó.Thế mà hay.

Chè đậu nước cốt dừa, bánh trái, đồ ngọt nữa…lúc nào cũng đầy ấp cả tủ lạnh, ăn mệt nghỉ.

Đôi khi cũng đổi món cho đỡ ngán, khi thì thịt bò nhúng giấm, khi thì đổ bánh xèo hay chiên chả giò rồi hú bạn bè lại nhà làm một chầu càng hong ai nấy đều ngất ngư hết.

Có khi thì cháo vịt, có lúc thì cháo lòng.

Còn muốn cho tiện cho lẹ thì xẹt xuống phố Tàu mua bậy một con vịt quay, con gà hấp xì dầu hoặc đôi ba kí thịt heo quay và phá lấu đem về thù tạc với nhau. Hồi đó, mình khoái nhứt là mấy cái cẳng heo sữa quay, chặt khúc nho nhỏ, vừa cạp vừa gặm uống la ve chơi đã lắm.

Tuần này nhậu ở nhà mình, tuần sau thì làm ở nhà người khác.

Mùa hè thì làm thịt nướng barbecue, thịt gà hoặc sườn ướp sả và ngũ vị hương ngon ơi là ngon, nướng lên thơm phức cả làng cả xóm. Toàn là chuyện đớp hít không hà.

Mà cũng ngộ, hồi đó mình ăn uống thả cửa, thả giàn, chẳng cần e dè kiêng cữ gì hết như bây giờ. Cholesterol, mỡ dầu, đường, muối mình coi như nơ pa chẳng làm cho mình lo âu run sợ chút nào hết.

Mà mình cũng chẳng thèm quan tâm đến nó làm chi cho mất công.

Mình mới có 40 tuổi hà, chưa đến nỗi nào gọi là già cả. Mình đang khỏe, còn phong độ, máy còn quá ngon lành, bình còn đầy ấp, khỏi cần sạc điện, tội gì mà không hưởng thụ chút đỉnh cho nó sướng cái thân.

Không ăn để chết thành ma đói hay sao?

Mình nghĩ rằng ba cái chuyện bệnh hoạn là chuyện của người ta, của mấy ông già bà cả chớ đâu phải là chuyện của mình. Lo chi cho thêm mệt.
Ngày nay nghĩ lại thấy hết hồn hết vía...

Cả nhà đều đi học hết

Rồi thì hai vợ chồng phải đi học lại để mong có được một tương lai tươi sáng hơn, chớ hổng lẽ suốt đời làm lao động chân tay hoài hay sao?.

Cũng may là nhờ ở cái xứ tuyết giá này, nhà nước có chánh sách nâng đỡ sinh viên nghèo khó cho nên mỗi năm mình được cấp cho vài xấp gọi là học bổng, rồi còn được quyền vay mượn nhà băng thêm chút đỉnh nữa để sống cầm hơi. Khi ra trường nhớ trả lại và đóng thuế luôn thể cho tiện...

Trong bốn năm dài đăng đẳng phải sống trong sự căng thẳng, thiếu thốn, nhọc nhằn, khó khăn, thử thách đủ mọi bề, trần ai lai khổ, lo sợ hổng biết mình học có nổi hay không.

Phân khoa Thú Y thuộc Đại học Montréal nằm ngay tại tại thành phố St Hyacinthe cách Montreal 45 phút xe. Hồi đó mình đâu có tiền mà mua xe để đi học. Mình phải mướn phòng trọ ở luôn dưới đó những ngày trong tuần. Chỉ về nhà ở Montreal mỗi cuối tuần mà thôi.

Chiều chúa nhật bà xã cụ bị cho mình mấy lon thịt kho, có thêm vài cái hột gà để mình cầm cự trong suốt một tuần ở dưới đó. Có khi đổi món chiên sẵn cho 5-6 miếng sườn ướp sả thơm phức, đủ ăn trong 5 ngày. Bả còn nhét thêm cho mình năm sáu gói mì hành Ramen để phòng hờ lỡ có kiến cắn bụng giữa khuya. Rồi cũng không quên dặn dò đủ thứ... trước khi khép cửa lại.

Sau đó thì mình ra Métro Longueuil, lấy xe bus xuống St Hyacinthe ngủ để sáng còn cuốc bộ đi học sớm.

Mình thì khỏe hơn bà xã nhiều.

Bả ở Montreal rất cực vì vừa đi học, và đồng thời cũng vừa phải lo cho hai đứa nhỏ nữa. Tụi nó đứa thì đi nhà trẻ, đứa thì đi học mẫu giáo… Làm sao đây?

Đó là một vấn đề hết sức nan giải cho tụi nầy.

Trong suốt bốn năm dài đăng đẳng, bà xã mình thường nói giỡn là bả có chồng bán thời gian part time mà.

Hai đứa vừa đi học, vừa nuôi con.

Cuối cùng nhờ Trời Phật phù hộ, nhờ phước đức ông bà, hay nhờ may mắn gì đó nên rồi cũng xong.

Đúng là hay không bằng hên.

Hú hồn hú vía! Hai vợ chồng đều trở lại nghề cũ của mình ngày xưa bên nhà.

Làm lại cuộc đời lúc 42 tuổi

Mình nhảy vô chánh phủ làm nghề khám thịt cho chắc ăn và khỏi sợ bị mất việc bất tử.

Khi ra trường vì cần có việc làm ngay để nuôi vợ con nên mình chấp nhận đi xa.

Tháng 6,1985 vừa lãnh bằng Bs Thú y xong hồi trưa thì 6.30 pm chiều hôm đó tôi lấy xe lửa Via Rail dông tuốt xuống Moncton thuộc tỉnh bang New Brunswick, cách Montreal gần 1000 km để trình diện Regional Office Agriculture Canada vùng Maritime. Họ cho hai tuần để làm orientation và thu xếp, ổn định nơi ăn chốn ở. Xong xuôi mình mới quay về Montreal rước vợ con xuống.

Thế là bắt đầu làm lại cuộc đời vào năm 1985, lúc đúng 42 tuổi.

Rồi phải học lái xe, rồi phải gấp rút mua một chiếc xế hộp, mới có thể đi làm được. Vấn đề là từ nhỏ lớn tui chưa từng cầm volant lần nào cả. Học lấy bằng thì dễ nhưng khi chính mình cầm tay lái thật sự thì khác. Lo quá.

Lấy cái xe Toyota Tercel Hatchback mới toanh về nhà dượt sơ sơ quanh xóm chừng đâu hai ba bữa thì phải lái đi làm xa. Phải đối đầu với đường cao tốc expressway, với xa lộ và bắt buộc chạy cho lẹ, cho nhanh như mọi người. Thấy xe người ta chạy ào ào hai bên, sợ lắm thiếu điều...

Trong hai năm đầu làm việc, mình lôi vợ con đi theo trên bước đường sương gió vùng duyên hải phía Đông Canada.

Hồi những năm 85-86, người Việt định cư ít lắm. Mua nước mắm hay đồ ăn Á Đông phải lái xe qua tận thành phố Halifax, thủ phủ của tỉnh bang Nova Scotia kế cận, cách nhà 200km mới có, bất tiện quá.

Sau hai năm, mình làm đơn xin đổi về tỉnh bang Québec nơi có nhiều đồng hương VN để thấy bớt lẻ loi hơn và nhứt là tiện cho bà xã dễ hành nghề cũng như thuận lợi cho con cái học hành sau nầy.

Tại Quebec mình làm bất kể giờ giấc để gom bạc cắc. Thường, mùa hè cũng như mùa đông, 5.30 sáng là phải ra khỏi nhà vì 6.30 là nhà máy khởi sự cho chạy khi đã có sự hiện diện của thú y sĩ. Đó là luật bắt buộc. Lái xe trong mùa đông, trong mùa bão tuyết là nỗi ám ảnh triền miên của tôi cho mãi tới ngày hôm nay. Chuyện đường trơn, xe tự nhiên lủi vô cột đèn hay quay ngược đầu bê tuốt xuống vệ đường mình cũng đã từng nếm mùi đôi lần rồi. Sợ lắm.

Chỗ nào hơi hắc ám và xa lắc xa lơ, inspector da trắng chê là có tui nhận liền. Chổ nào cần tui thì tui có, chổ nào khó là có tui đây.

Ban ngày làm, ca chiều lỡ thiếu người, tui tình nguyện ở lại làm luôn để có tiền “ô quờ thêm” overtime Đôi khi thứ bảy cuối tuần, hay trúng nhầm ngày lễ nhà máy làm thêm ca bất thường, tui cũng nhận luôn. No problem.

Mấy thằng bạn da trắng từ chối đi làm vì weekend phải ở nhà hú hí với vợ với con. Tui nhảy vào vô lông te thế chỗ, xếp tui mừng lắm, cám ơn tui lia lịa mẹt xi bổ cu đốc tơ Chánh.

Còn tui thì cũng mừng thầm vì mình có cơ hội kiếm thêm chút cháo để dành lo tương lai và hậu sự... Có cái hơi đau là tiền phụ trội ô quờ thêm (overtime) đều bị trừ thuế mất toi hết 50%. Thôi cũng được. Ít còn hơn không đúng với câu Less is more.

Tụi bạn bè đồng nghiệp nó thường hỏi tui theo đạo gì thì tui hổng ngần ngại trả lời rằng tui theo đạo Dollarisme. Tụi nó có vẻ hơi ngẩn ngơ hổng hiểu tui muốn nói cái gì.

Vừa làm chủ vừa làm công

Còn phần má bầy trẻ thì trở lại nghề bán thuốc theo toa Bs. Phương châm: vui lòng khách đến vừa lòng khách đi (để họ còn trở lại nữa chớ!).Giao hàng free.

Tội nghiệp bả đứng bán có một mình, rất cực, vừa làm chủ,vừa làm công quét dọn trong ngoài, vừa cười duyên để lấy lòng khách hàng và cũng vừa coi chừng bọn bất lương… Tinh thần lúc nào cũng căng thẳng.

Đôi khi gặp phải khách khó tánh, hay đòi hỏi bắt chẹt đủ thứ, đòi lấy thuốc sớm hơn ngày quy định vì lọ thuốc của họ lỡ lọt trong lavabo, để quên trên chalet, mà toàn là mấy cái loại thuốc an thần hoặc thuốc ngủ mà thôi. Không làm vừa lòng thì bị họ hâm he đổi nhà thuốc khác, mất khách.

Có khi bả cần phải phone nói chuyện với bác sĩ để về một món thuốc ghi trong toa hay xin bác sĩ ghi toa mới cho bệnh nhân. Đây là chuyện rất nan giải, cả một vấn đề. Gặp được bác sĩ đâu phải là chuyện dễ, nhứt là bác sĩ bệnh viện.

Đôi khi nhầm ngày xui, trúng phải tu bíp khó tánh, thì ráng chịu. Nói vậy chớ thường thì đa số các ngài đốc tờ đều rất đàng hoàng, lịch sự và ăn nói đâu ra đó.

Ăn được đồng tiền của thiên hạ cũng đâu phải dễ gì.

Dược sĩ là nghề làm dâu trăm họ mà.

Một hai năm đầu, lúc nhà thuốc mới mở, bị cướp vô viếng hold up vài ba lần. Toàn là bị mấy thằng ghiền vô chỉa dao, chỉa súng biểu đưa thuốc nầy thuốc nọ chẳng hạn như... percodan, percocet. Đó toàn là các loại thuốc chống đau, thuốc phê narcotic không hà. Hồn vía lên mây cả tuần lễ. Trước khi vọt tụi nó không quên vói tay hốt hết cash trong cái két được thêm vài ba chục đô mà hổng biết nói một tiếng mẹt xi nào cả. Sau đó thì chỉ còn biết gọi 911 cho vui vậy thôi. Huề vốn.

Mỗi ngày, chiều trên đường về, lối 6 giờ tui tạt qua tiệm thuốc và chờ lệnh bà chủ để đi giao hàng cho khách mà phần lớn là toàn mấy ông già bà cả không hà. Thấy họ sao cô độc hẫm hiu quá và thầm nghĩ phải chăng đó cũng là tương lai của mình sau nầy. Mà ngày nay thì đúng vậy.

Rồi 7-8 giờ tối hai vợ chồng mỗi người lái một xe, người chạy trước, người theo sau về nhà cùng một lúc. Mệt đừ, phờ người, thở ra khói. Cơm nước qua loa, xem tin tức TV một hồi rồi phải đi ngủ liền. Nằm xuống là hết còn biết Trời đất gì hết.

Tối ngủ, thì phập phòng lo sợ giữa khuya điện thoại dám reo vang lên inh ỏi bất tử. Nhân viên tổng đài báo động ADT gọi cho biết système d’alarme nhà thuốc vừa reo và họ cũng đã báo cho cảnh sát rồi. Thế là hai vợ chồng, tim đánh thình thịch, hối hả ra xe chạy thụt mạng qua nhà thuốc xem sự tình thế nào. Nửa giờ sau thì tới nơi, thấy có xe cảnh sát đậu chình ình ngay trước cửa tiệm rồi, nhưng họ không dám vô bất tử. Họ chờ mình đến cùng vô một lược cho vui và để ký tên vào biên bản. Huề vốn.

Đó là chuyện đời xưa.

Con người ta đều có số cả

Hồi tôi mới ra trường học đại năm 1967 ở Sài Gòn, còn con trai nheo nhẽo, chưa có vợ con gì hết, một thầy tử vi khá nổi tiếng có nói là tui có số đào hoa nhưng cung cư thê thì đóng nơi cung mạng. Bửu bối chung của các thầy, hể khách là đàn ông thì cứ phán đại là có số đào hoa là có cha nào mà hổng khoái đâu. Còn nếu khách là đàn bà thì cho rằng số cô tốt lắm, đó là vượng phu ích tử, sanh con đầu lòng hổng gái thì trai chắc chắn là các bà mừng hết lớn.

Thầy còn nói rõ lá số của tôi rất tốt vì cung cư thê đóng tại mạng. Cậu mà có cung cư thê ở mạng thì sung sướng lắm, khỏe lắm khỏi lo gì hết. Mọi chuyện mọi thứ đều được vợ nắm, vợ lo hết còn hơn cả mẹ lo cho con nữa, duy chỉ có một trở ngại nho nhỏ là thỉnh thoảng phải chịu nhức nhối cái lỗ nhĩ một chút. Mà cũng hổng sao. Ai lo thì người đó mệt, miễn sao tui “phẻ” là được rồi.

Ngược lại, bạn bè tui thì le lưỡi và tụi nó có vẻ lo ngại dùm cho tui. Tụi nó còn nói là tui tới số, đời tui kể như tiêu tán đường rồi.
Mà lạ thiệt, ngày nay ngẫm nghĩ lại thì hình như phần đông bạn bè của tui đứa nào đứa nấy cũng đều có cái số giống như tui hết ráo hết trọi chớ đâu phải chỉ riêng có mỗi một mình tui thôi sao đâu...Ai cũng vậy mà thôi. Chắc bạn cũng thế?

Mình cũng cảm thấy được an ủi phần nào!.

Lên voi xuống chó

Nhớ hồi những năm 78-79, lúc cuộc đời hai đứa đang trên đà xuống dốc thảm thương vì những chuyến vượt biên bất thành, hết hai lần nằm khám, thì từ ngôi vị một chủ nhân và đúng theo chủ trương lao động là vinh quang, lang thang là chết đói hay nói là ủ tờ của nhà nước, bà xã tui đã can đảm nhảy phóc xuống một cách tỉnh bơ làm một cô bán xôi, bán cà phê (hổng phải cà phê ôm đâu) trên vỉa hè sát bên tiệm thuốc Tây cũ của mình mà lúc bấy giờ thì nó đã được người khác quản lý rồi.

Cũng có nhiều lúc, phường khóm cũng gởi tụi cách mạng 30 đến dò la tư tưởng, nói xa nói gần chẳng hạn như sao chị là dược sĩ mà hổng chịu xin đi làm trong ngành nghề của mình mà lại đi bán cà phê làm chi cho phí cuộc đời.

Đó, dân miền Nam là như thế đó, hoàn cảnh nào cũng sống được hết, hổng cần phải cầu cạnh xin xỏ ai hết. Lao động trí óc làm được, lúc cần th´ th´ lao động chân tay cũng coi như pha chẳng nhầm nhò gì hết.

Nghề bán xôi cũng được bả đem theo qua Thái Lan trong thời gian tạm cư tại trại tị nạn Laem Sing. Sau nầy có mấy người bạn đã gặp lại tụi nầy ở bên đây và họ có nhắc lại chuyện hồi năm xửa năm xưa lúc còn ở trại tị nạn, mỗi sáng họ mua xôi vì tội nghiệp, thương hại và cũng vì muốn ủng hộ giúp đỡ vợ chồng tụi nầy, “chớ xôi của chị nấu ăn sao nhão nhoẹt, có khi thì khen khét, có khi thì xừng xực sống nhăn, ăn vừa ngán ngược, vừa nuốt không vô chán thấy mẹ”.

Mà họ nói cũng đúng thôi, vì có đủ củi lửa đâu mà nấu cho chín cho ngon được. Có khi đang nấu ngoài sân thì trời lại trút mưa xuống bất tử, củi lửa ướt mẹ nó hết, khiên nồi vô ra ba lần bốn lược thì làm sao mà xôi chín cho được.

Khi lên đến trại Thái Lan thì mình không còn một chỉ, hay một đồng xu dính túi vì bị mấy thằng hải tặc chiếu cố quá kỹ lúc còn lênh đênh ngoài biển.

Nhờ bà xã chịu khó tảo tần như thế nên mỗi ngày mình mới có chút tiền còm để mua vài thùng nước tắm cho hai đứa nhỏ, cũng như để mình mới có thể ngồi quán cóc bà Nòi gần cổng trại mà nhâm nhi ly cà phê đắng, phì phà điếu Samit và dệt mộng cho tương lai…

Thầy bói lần vách đoán mò nhưng sao đúng quá, có vợ cũng đỡ thiệt hé.

Xin cám ơn má sắp nhỏ một cái nghe cưng!

Gõ cho đời thêm vui

Nói rõ là tôi không phải là một nhà văn hay một nhà báo gì cả. Tôi chỉ là một nhà gõ mà thôi.

Tôi gõ chùa, không vì tiền nhưng gõ cho vui, để tự mình trau dồi thêm kiến thức, để tự học hỏi, để giải khuây, để khỏi nghĩ quẩn, để khỏi bị bệnh Alzeihmer, để thoát ly và cũng để giảm bớt stress trong cuộc sống, v.v...

Thế cho nên tôi gõ cho người nhưng thật sự ra là tôi cũng đồng thời gõ cho chính tôi, cho cuộc sống của mình được thêm phần ý nghĩa hơn.

Tôi rất vui sướng vì ít nhứt mình cũng có được tự do làm một cái gì mình ưa thích.

Năm 2000, anh VBT lúc đó là đại diện Thời Báo tại Montréal đã có nhã ý mời tôi gõ bài cho Thời Báo. Tôi đón nhận đề nghị nầy với một tâm trạng nửa mừng nửa lo. Mừng vì tôi có thể thực hiện hoài bão của mình, lo vì không biết mình có làm được không?

Tôi chưa từng gõ báo bao giờ vì tôi ý thức rằng vốn liếng Việt ngữ của tôi rất giới hạn.

Nó thuộc loại tự học, tự biên tự diễn cho nên chữ nghĩa tôi viết còn rất lạng quạng lắm. Nhưng thử làm gan đại một lần xem sao.?

Lúc đầu tính gõ chơi cho vui nhưng sau thành gõ thiệt.

Từ nhà gõ đến nhà bạn
http://vietbao.com/D_1-2_2-282_4-183747/
Lúc rảnh rỗi tui có cái thú gõ báo chùa để chia sẻ cùng bạn đọc chuyện nầy chuyện nọ, đặc biệt là về ba cái chuyện ăn uống, chuyện đâm heo thuốc chó, chuyện trong nghề của mình…

Có bạn còn trách tui “đọc các bài ông Chánh viết riết rồi mình không dám ăn cái gì hết”. Hình như hơi oan cho tui.

Bà xã tui thường hay mỉa mai là coi chừng biết đâu ông dám ngõm trước người ta lắm, ở đó mà làm thầy đời thiên hạ.

Tui cũng không biết sao mà trả lời trả vốn với bả được. Chuyện nầy trời kêu ai nấy dạ chớ ai biết đâu mà rờ.

Tuy nói vậy, nhưng đôi khi bả cũng là người hợp tác và cố vấn tôi trong việc gõ bài cũng như nhắc nhỡ cho tôi đi “đúng lề”.

Có vợ cũng đỡ thiệt..

Chanh Nguyen Thuong se fait communicateur auprès de la communauté vietnamienne
Par Rhonda Wilson, Affaires publiques ,CFIA
http://www.advite.com/ChanhNguyen.htm
GS Nguyễn Thượng Chánh được trao tặng giải thưởng Presidential Prize, Community Services tai cơ quan Canadian Food Inspection Agency (CFIA) tai Ottawa, Nov 2000.

Các người trong hình là President, Vice presidents personnel và program của CFIA.

Dưới đây là bản tin của President's National Awards (2000):

Dr. Thuong Chanh Nguyen

Quebec Area, Operations Branch

Dr. Nguyen has done a considerable amount of work with the Vietnamese community in Quebec to increase the community's awareness of food safety and consumer protection issues. Dr. Nguyen has written a number of articles directed at the Vietnamese community, which have appeared in Quebec publications and pertain to issues such as hamburger disease and other food-borne illnesses and the important of respecting federal laws to protect Canada's natural resources and agri-food industry.

He has received letters of congratulation from his superiors for his role in educating this community and increasing its awareness of the role the CFIA plays in protecting consumers.

Dr. Nguyen's work has enabled the CFIA to reach out and educate the Vietnamese people of Quebec, increasing their awareness of important health issues.

The Queen’s Golden Jubilee Medal 2002 (Governor General of Canada)

Với tinh thần phục vụ cộng đồng, GS Nguyễn Thượng Chánh một lần nữa được phần thưởng Huân Chương ban khen của Nữ Hoàng Elizabeth về việc viết báo phổ biến kiến thức vệ sinh ăn uống cho đồng bào Việt Nam tại Canada.

+Giải thưởng Vinh danh tác giả trong cuộc thi Viết Về Nước Mỹ do nhật báoViệt Báo, Westminster Cali tổ chức năm 2007 với tác phẩm “Ba lần Vượt Biển”, mở đầu choTuyển tập I “Cay Đắng Ngọt Bùi”

Tác giả Nguyễn Thượng Chánh phát biểu.

Giả từ vũ khí: 2008 nghỉ hưu

Trong đời sống của mọi người, đến một lúc nào đó chúng ta cũng phải ngưng làm việc để nghỉ hưu.

Đây là một giai đoạn mới vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi người.

Hai vợ chồng tác giả cũng đã gác kiếm từ quan từ 2-3 năm nay rồi.


Chuyện nghỉ hưu tại hải ngoại
http://vietbao.com/D_1-2_2-282_4-182896/

Chúng ta đều cùng chung một hoàn cảnh ly hương cả. Đã nếm đủ thứ mùi đời rồi, cũng ba chìm bảy nổi tám cái linh đinh trong cuộc sống.

Có ai dám tự hào là mình chưa thấm đòn đâu!

Lục phủ ngũ tạng đều có vấn đề hết ráo hết trọi.Mắt mờ, tai lãng. Cái gì cũng tóp lại, cũng nhăn nheo. Đầu thì bạc phếu, tóc tai lưa thưa như đồng khô cỏ cháy, tàn nhang đồi mồi nổi lên khắp nơi. Răng cỏ cái còn cái mất, ba xí ba tú, nên khi ăn phải đeo phụ tùng vô mới nhai được thật là bất tiện. Có cái thì teo, cái thì xệ, cái thì nhăn, cái thì tóp không giống ai hết.

Có thứ mình muốn nó tăng thì nó giảm, cái muốn giảm thì nó lại tăng.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng đúng theo lẽ thường tình, luật của tạo hóa. Mình phải đi để nhường chỗ cho lớp trẻ sống chớ!

Ở vào cái lớp tuổi 65-70 ai mà không có vấn đề sức khoẻ nầy nọ, không đường cao thì cũng có mỡ cao, máu không cao thì cũng phải có đau chỗ nầy nhức chỗ nọ..Lúc vầy lúc khác, tâm tánh biến đổi bất thường, người ta nói già khó hiểu hay sanh tật là vậy đó. Khoa học thì họ nói đó là do ảnh hưởng của tình trạng mãn dục andropause ở các ông.

Ông mãn dục sống chung với bà mãn kinh thì còn gì sung sướng hơn nữa được.

Đầu óc thì quên trước nhớ sau, để đâu quên đó, lơ thơ lẩn thẩn, lẩm ca lẩm cẩm, nói đi nói lại, lải nhải tối ngày, có khi muốn được yên thân thì tịnh khẩu cho nó yên chuyện.

Đôi khi mình có cái xác mà như không có cái hồn, chẳng hạn đang khi lái xe ngon lành, thấy đèn xanh thì mắc chứng gì mình thắng lại cái rụp, còn đèn đỏ thì mình lại chạy phon phon tỉnh queo sau đó mới hết hồn hết vía.

May phước cho mình là lúc đó không có phú lích cũng như không trúng nhầm những ngã tư đèn xanh đèn dỏ có gắn camera tự động chụp hình xe vi phạm. Quê quá!

Đầu óc đàn ông chỉ program để có thể làm mỗi lần một việc mà thôi. Rồi còn phải tìm cách đối phó chuyện nầy, giải quyết chuyện nọ, chuyện con, chuyện cái và cả chuyện bệnh chuyện hoạn, v.v…tùm lum tà la.

Ôi thôi mệt lắm các cụ ơi!

Có nhiều người bạn của mình đã thăng rồi vì bệnh ung thư hay tai biến mạch máu não v.v...

Nhiều người khác thì rét quá và có lẽ buồn đời, buồn vợ, buồn con nên bắt đầu lo tu mà quên cả sống kiếp nầy, lo thiền để chuẩn bị cho kiếp mai sau hoặc để cho “chuyến đi” sắp tới của mình được dễ dàng thanh thản hơn?

Ai cũng đã có vé đi về cả rồi và chỉ cần điền thêm ngày tháng vào là xong.

Riêng mình thì vẫn còn…ham vui, còn nặng mùi trần gian thế tục và có lẽ vì căn duyên chưa tới nên chưa tu, chưa làm như họ được. Biết sao bi giờ!

Không nghỉ đến quá khư không nghỉ đến tương lai

Mỗi một năm sống thêm được một tuổi là mừng thêm một năm bonus mà Trời, Phật, Chúa, Mahomed, Allah, đã ban tặng cho mình.

Thôi thì số mình ra sao thì mình phải chịu như vậy. Than thân trách phận cũng chẳng đi đến đâu.

Cứ vui sống với phút giây hiện tại. Sống từng ngày một. Không nghĩ đến quá khứ,không nghĩ đến tương lai.

Nhưng mình biết là mình không còn được như hồi ba bốn chục năm về trước nữa. Mình đang lê bước dần đến sân ga cuối đời.

Giây phút nhiệm mầu
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-125_4-12704_5-50_6-1_17-102_14-1_15-1/
Đó là sự thật!. Sanh, lão, bệnh, tử không ai có thể tránh khỏi được hết!

Nhưng có một điều chắc chắn là mình có thể cải thiện được sức khỏe bằng cách…ăn uống cho cẩn thận, điều độ, sống thêm vài ba năm nữa để…vui với vợ, với con, với cháu.

Năng hoạt động, tập thể dục, đi bộ, tập Tài Chi, khí công, aerobic, yoga, bớt rượu, bỏ thuốc, bớt café, sống chừng mực, biết tha thứ, không cố chấp, biết buông xả bớt, nên quẳng gánh lo đi và vui sống với tất cả mọi người.

Theo dòng thời gian.

Mới đây mà mình đã xa rời quê hương được 32 năm rồi,…32 năm thật sự sống trong không khí tự do trên một đất hứa rộng lớn đầy lòng nhân ái, một đất tạm dung cho hằng triệu người khốn khổ đến từ khắp các miền đau thương trên thế giới.

Hai đứa con của mình nay đã lớn khôn, tự lập và đã tung cánh tự bay được rồi.
Và thế hệ thứ ba đang tiếp nối…
Đất lành chim đậu.
Tre tàn thì măng mọc.
Tình già là báu vật


Vợ chồng già như bình rượu hiếm, như gừng già càng già càng cay nhưng đôi khi cũng cần phải có tiếng qua tiếng lại chút chút để tình càng thêm mặn nồng hơn.

Mà rượu càng cũ thì càng quý có phải vậy không các ông anh?

Coi vậy mà tui đã đụng bả được 37 năm rồi…37 năm mặn nồng sương gió, vui buồn, thăng trầm sướng khổ đều có nhau.

Nay thì hai vợ chồng đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi thất thập cổ lai hy rồi.

Dòng thời gian lặng lẽ trôi qua trong một kiếp người.

Mình đã đạt được ước nguyện và rất tự hào là một thuyền nhân, một boat people tị nạn cộng sản, chứng nhân một giai đoạn đau thương của lịch sử Việt Nam.

Giờ đây, nhà chỉ còn có hai vợ chồng, sớm tối hủ hỉ bên nhau và tay trong tay, đôi ta cùng chậm bước bên nhau trong quãng đời còn lại để cùng già bên nhau.

Xin cám ơn hai chữ Tự Do, cám ơn cuộc đời./.

Nguyễn Thượng Chánh

Đời Người Không Thể Quên : Những Người Già Thật Khổ

Đời Người Không Thể Quên

Một ngày không thể quên
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/Library/Images/47/2009/04/Up.jpg
Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò.


Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía.




Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.




Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:


- Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy. Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:

- Má ra vườn chi sớm thế? - Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…

Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:

- Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy? - Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.



Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:


- Sao má để lửa lớn thế? - Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.

Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục:

- Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi. Phượng đau xót nhìn mẹ: - Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà? - Thiệt à? ba đi xa thiệt à?



Bà mẹ lập lại một cách ngớ ngẩn, nét mặt trùng xuống, rất buồn. Bà cố nhớ lại, trong ký ức đã phai mờ của bà, những hình ảnh cũ vẫn hiện ra, nhưng lộn xộn, không theo một thứ tự nào hết. Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông

chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba.



A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa… Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ… Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò:


-          Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…

-         

Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền.



Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh… Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài. Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm.




Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:


- Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.

Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói:

- Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa. Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được?

- Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.

Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con…



Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ. Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt:


- Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.



Thiệt tình bà không trông thấy lúc ông đi, và ông cũng chẳng bao giờ thơ từ về nhà. Nhưng bà biết ở một nơi xa xăm nào đó, ông vẫn hướng về bà, vẫn nhớ đến bà, vợ chồng đầu gối, tay ấp mấy chục năm trường, đi xa sao khỏi vấn vương? Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này. Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái:


- Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…

Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối:

- Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã.

Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói:

- Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.

Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía:

- Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới rồi, ba cần có áo ấm, mấy cái kia cũ cả rồi.

Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.



Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu ” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu…


Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ... Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà. Thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng bao
giờ cũng là một chặng đường buồn thảm. Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa, nhưng chẳng còn cách nào khác.



Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn

đi đón ông ngoại.



Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ… Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên...


Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nũa



Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay. Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi:


- Nãy giờ em ở dưới nhà à?

Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách:

- Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!

Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:

- Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được. - Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu… - Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao.



Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt. Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con: - Sao con làm nhiều đồ ăn thế?


Phượng nhìn đi chỗ khác, nói:

- Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể. - Con cũng cùng ăn với má chứ?

Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi mới mở miệng nói dối:

- Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi. - Đi chơi thiệt sao? thích quá.

Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi: - Đi du lịch à?



Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng:


- Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng:

- Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?



Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm… Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh

khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng.



Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng:


- Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa. Phượng dỗ: - Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.

Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu:

- Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là… Phượng vội đỡ lời: - Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh… - Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu. - Được vậy tôi rất mừng.



Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói:


- Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng. Cô Ingrid bấm chuông, và một người tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi: - Tôi đi theo được chứ? - Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.

Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng:

- Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam. Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm:

- Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại.



Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng - chắc dùng làm chỗ tiếp khách - những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Thấy có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó:


- Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu… Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái:

- Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…



Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với bà, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng. Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cuơng quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường… Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết

phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run: - Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má…

- Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con… Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt:

- Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho tất cả mọi người. Bà mẹ vừa khóc vừa nói:

- Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về… Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng:

- Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà… Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở... Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi: - Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả. Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng:

- Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.

Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng:

- Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho. - Vâng cháu xin nhờ cụ. Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành: - Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má. - Thế con có trở lại không? - Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má. Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra: - Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại. - Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ? - Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà.



Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu. Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng:


- Cô đi ngay đi, lẹ lên! Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa: - Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!

Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ ở bên trong với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn:

- Con ơi! con ơi…

Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “ con ơi ” ai oán của mẹ. 

Sưu Tầm

ĐỘI NỮ CẬN VỆ CỦA NGOẠI TRƯỞNG HILLARY CLINTON


Nguyên tác: "The Bodyguards" (bài phóng sự của Laura Blumenfeld trên tạp chí Elle, June 10, 2011)
* Hình ảnh: Stephanie Sinclair
* Chuyển ngữ: Đào Trường Phúc

 
 
*Muốn là thành viên nữ trong Đội Cận Vệ của một vị ngoại trưởng, bạn phải lanh lẹ, ứng biến, can trường - và sẵn sàng nhận lãnh một viên đạn bất cứ lúc nào, kể cả lúc bạn đang mang giày cao gót.

Đội Cận Vệ của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton vừa được bổ sung quân số và hiện nay chỉ riêng thành phần nữ cận vệ đã có tới 13 cô (chưa kể các nam cận vệ). Sở dĩ con số nữ cận vệ tăng thêm hoài là vì trong 4 vị Ngoại Trưởng của các đời Tổng Thống gần đây thì đã có tới 3 vị là phụ nữ (Madeleine Albright, Condoleezza Rice và Hillary Clinton).

Họ là những cô gái độc thân vui tính, ngày nào cũng thức dậy lúc 4 giờ rưỡi sáng để ngồi tập "thiền", rồi 20 tiếng đồng hồ sau mới đi ngủ lúc ti-vi đang chiếu chương trình Food Network. Họ tốn bộn tiền để làm thẩm mỹ da mặt. Họ ăn ngốn ngấu từng bịch trái đào để cơ thể có đủ năng lượng. Và họ có thể hạ đo ván bất cứ đối thủ nào chỉ bằng một cú đánh chính xác.

Họ được gọi với một tên chung: "Những Thiên Thần Hộ Mạng của Hillary".


oOo


Khi thực hiện phóng sự này, tôi [ký giả Laura Blumenfeld] được họ cho đóng vai Hillary Clinton trong buổi thực tập đối phó với một vụ phục kích. Nơi thực tập là một địa điểm tối mật của Bộ Ngoại giao ở tiểu bang West Virginia.

Ngồi ở băng ghế sau của chiếc limousine dành cho Ngoại Trưởng Clinton, mắt chưa thấy những kẻ phục kích đâu cả thì tai đã nghe những tiếng động kinh hoàng, tiếng đạn súng liên thanh, tiếng giày đinh chạy thình thịch, tiếng la hét. Thế rồi qua cửa sổ chắn ánh sáng của xe limousine, tôi trông thấy hai người đàn ông mặc đồ kaki tay cầm súng AK-47 chạy tới. Tôi chỉ vừa kịp hiểu rằng có một vụ phục kích thì cô nữ cận vệ từ băng ghế trước đã phóng người ra phía sau, xô tôi nằm úp mặt xuống nệm ghế và la lên: "Bà nằm xuống ngay! Đừng nhúc nhích!"
Lúc đó đoàn mô-tô vây quanh xe đã bị những tràng đạn súng liên thanh (giả) bắn hạ. Các cô nữ cận vệ lùa tôi ra khỏi xe và ra lệnh: "Bà nắm chặt áo tôi! Đi mau! Đi mau!"

Thế là họ vây chặt quanh tôi, dùng thân người của họ để làm thành một hàng rào phòng thủ, với những mái tóc cột đuôi ngựa tung bay. Brittany, Natasha, Joann, Meghan - 4 cô trong Đội Cận Vệ - sẵn sàng ứng chiến. Họ hành động thần tốc như theo một phản xạ tự nhiên.

Suốt mấy tháng trời ở chung với họ để làm phóng sự, tôi quan sát kỹ từng sinh hoạt - trong phòng thể dục, trên sân tập bắn, trong phòng tập võ thuật cận chiến. Các cô nữ vệ sĩ phải tuân thủ một chương trình làm việc chặt chẽ, đòi hỏi sức bền bỉ cả về tinh thần và thể chất. Ba tháng một lần họ phải thi trắc nghiệm sức khỏe và kỹ năng sử dụng vũ khí thành thạo. Họ tập dượt thường xuyên cho đến khi có đủ phản ứng tức tốc để đối phó với những tình huống gay cấn nhất. Họ phải tập bắn 4 loại súng khác nhau ở thế đứng thẳng và ở thế lộn ngược đầu, phải tập "hít đất" 45 lần trong vòng hai phút, phải tập chạy song song với đoàn xe mô-tô hộ tống Ngoại trưởng dọc theo vài dẫy phố.

Đội nữ vệ sĩ sống và làm việc như những chị em một nhà đang cùng nhau thi hành một nhiệm vụ bí mật. Họ mặc loại đồng phục "Banana Republic" đặc biệt để có thể dễ dàng phóng ra từ những chiếc xe SUV. Họ bôi dầu dừa lên da ở phía bên hông để khi rút súng lẹ không bị trầy da. Nếu đi công tác Mexico và không thể chờ thang máy hay thang cuốn, họ sẽ chạy ào ào lên xuống những bậc thang bằng đá của Kim Tự Tháp Mặt Trời (Pyramid of the Sun). Môt cô còn nói riêng với tôi: khi đi công tác Ai Cập, là nơi mà lịch trình công tác chặt chẽ tới độ không có cả giờ nghỉ để đi "toa-lét", họ được chỉ thị uống càng ít nước càng tốt, và ngậm kẹo ho luôn miệng để đỡ khô cổ.

Thế nhưng họ đều là những cô thiếu nữ độc thân, xinh đẹp và vui tính, ngày nào cũng thức dậy lúc 4 giờ rưỡi sáng để ngồi tập "thiền", rồi 20 tiếng đồng hồ sau mới đi ngủ lúc ti-vi đang chiếu chương trình Food Network. Họ tốn bộn tiền để làm thẩm mỹ da mặt. Họ ăn ngốn ngấu từng bịch trái đào để cơ thể có đủ năng lượng. Và họ có thể hạ đo ván bất cứ đối thủ nào chỉ bằng một cú đánh chính xác.
Xin mời nghe các cô nữ cận vệ bày tỏ vài cảm nghĩ riêng của họ.


TERESA MOMBER, 35 TUỔI


Tôi đút súng vào bao để đi làm cũng chẳng khác gì các bạn gái thoa son môi và mang giày cao gót để đi làm. Công việc của chúng tôi là vượt qua những đoạn đường kẹt xe, đón tiếp các giới chức chính quyền, tất cả cho một mục tiêu duy nhất là bảo vệ bà Ngoại trưởng. Lúc còn trẻ tôi tập thể dục để thân hình thon gọn mặc quần áo cho vừa. Bây giờ thì tập thể dục để chuẩn bị đối phó với một trường hợp khẩn cấp: phải làm gì nếu cần di tản bà Ngoại Trưởng đến nơi an toàn? Chúng tôi nghiên cúu kỹ lưỡng chương trình làm việc: bà sẽ ngồi chỗ nào, bà sẽ ăn món gì. Ngay cả các bó hoa gửi tặng, chúng tôi cũng phải rà soát; tóm lại là phải cẩn thận từng chi tiết, cũng giống như những nhân viên phụ trách tiệc cưới, chỉ khác một điều là chúng tôi đeo súng thôi.
 

BRITTANY KROSS, 24 TUỔI

 
Lúc nào chúng tôi cũng cảnh giác tối đa, chắc là do chất adrenaline trong người. Đứng chờ đoàn xe mô-tô mà tim đập thình thịch. Làm nghề này là phải thường xuyên tập dượt, cách suy nghĩ cũng như cách phản ứng. Chúng tôi đều có cơ thể khỏe mạnh, nhưng chúng tôi cũng phải giỏi về ngoại giao nữa. Thí dụ như ở Cam Bốt, dân chúng dùng mác để cắt cỏ, chúng tôi không có quyền bảo họ "làm ơn đừng mang mấy cái mác ra đây". Khi đi công tác ngoại quốc, chẳng bao giờ chúng tôi có thời giờ để ăn uống đàng hoàng, đến lúc đói quá thì gặp gì xơi nấy cho xong. Ở bên Ai Cập tôi thức suốt hai ngày liền, rồi tôi ngốn hết nguyên cái pepperoni pizza và cứ ân hận hoài về chuyện đó. Về thăm nhà, tôi thích ngắm nghía một dĩa trái cây đầy, mặc dù tôi hiểu sẽ chẳng được ở nhà lâu để nhâm nhi ăn hết trái cây trong dĩa.


DIDI NIKOLOV, 27 TUỔI
Lúc còn bé tôi thích chơi trò cảnh sát và cao-bồi. Lớn lên gia nhập Không Quân, tôi thi bắn súng và đoạt giải nhất. Tôi thích bắn đủ loại súng. Là phụ nữ thì mới có được cái cảm giác khoái trá khi biết có những chuyện mình chẳng thua gì - nếu không muốn nói là còn giỏi hơn - nam giới.


JOANN TOPACIO, 34 TUỔI


Đi ra bãi tập tôi hay mang theo những thỏi cốm Nature Valley, vì tôi luôn luôn đói bụng mỗi khi tập bắn vào buổi sáng. Theo đúng quy luật, nếu đi công tác ngoại quốc tôi không được quyền cho mẹ tôi biết là đi đâu, nên tôi đành nói, "Má chịu khó coi tin tức trên ti-vi thì biết thôi hà, bà Ngoại Trưởng tới đâu là con tới đó".


MEGHAN MULHERIN, 29 TUỔI


Ba tôi có treo một tấm bản đồ trên tường ở phòng khách và cắm mấy cây kim màu xanh màu đỏ để theo dõi coi tôi đang đi công tác những đâu. Có những chị em từ Cảnh sát hay Quân đội chuyển qua Đội Cận Vệ, nhưng cũng có những con én lạc đàn như tôi. Tôi là nhạc sĩ dương cầm. Tôi là cư dân St. Louis và chưa từng rời khỏi vùng Bắc Mỹ. Tôi chưa bắn súng bao giờ cả, tôi cũng chẳng đánh lộn với ai bao giờ. Lúc mới mang súng tôi cảm thấy giống như bên hông đeo cục gạch, nhưng lần lần rồi cũng quen, và bây giờ mỗi khi bỏ súng ra ngoài tôi lại cảm thấy như thiếu thiếu cái gì.


STACEY BERG, 29 TUỔI


Một người bình thường khi vào nhà hàng, điều đầu tiên họ làm là coi thực đơn. Còn chúng tôi thì lập tức quan sát để thấy nhà hàng có 4 vòi xịt nước cứu hỏa trên trần nhà, có 6 ổ cắm điện, và có 5 lối ra, có thể dùng để thoát hiểm. Bởi vì bất kỳ lúc nào chúng tôi cũng phải chuẩn bị sẵn sàng cho một tình trạng khẩn cấp. Nhớ bữa đi công tác Pago Pago [thủ đô của đảo Samoa], đang dự buổi tiếp tân, đột nhiên có một người đàn ông với hình xâm đầy mình, mặc váy thổ dân, ông ta đang nhảy múa bỗng hét lên một tiếng và phóng tới phía bà Ngoại Trưởng, tay cầm chiếc lao dài 10 feet. Tôi cảm thấy tim thót lại và bao tử nhói đau. Gặp tình huống như vậy bạn chỉ có một giây đồng hồ để suy nghĩ và trả lời câu hỏi: Có thiệt không đây? Bạn đứng sững như trời trồng. Sau đó mới biết động tác của ông ta chỉ là một phần trong điệu múa. Tóm lại nghề này có nhiều lúc đòi hỏi phản ứng của bộ óc nhiều hơn là của bắp thịt.

NICOLE DEAL, 33 TUỔI


Tất cả đều tùy thuộc vào cách xử sự của mình. Bạn phải tỏ một vẻ nào đó để cho người ta biết là "đừng giỡn mặt với tui". Khi đứng ở thế canh chừng, tôi luôn luôn nghĩ "mình không bao giờ nên rút súng nhưng mình cũng phải sẵn sàng để rút súng nếu cần". Tánh tôi vẫn hay tự chuẩn bị như vậy. Trong phòng thể dục tôi luyện cho hai tay thật mạnh để có thể lôi một người thoát ra khỏi chỗ nguy hiẻm. Nếu đi nghỉ hè, tôi gửi lộ trình của mình cho tất cả các chị em. Bao giờ tôi cũng có đầy đủ bản dự đoán thời tiết, các tấm bản đồ, trang phục thích hợp cho chuyến đi, và mọi chi tiết công tác, kể cả giờ ngủ. Hôm đi Las Vegas, các bạn hỏi tôi, "Nè, mình có dư được chút thời giờ nào để vui chơi không vậy?" Tôi đáp, "Trong chương trình đã ghi rồi, mình có quyền giải trí ba tiếng đồng hồ".

BECKY McKNIGHT, 30 TUỔI


Tôi chỉ cao có 5'3" (1.6 mét), nhỏ con hơn anh bạn cận vệ rất nhiều vì ảnh cao 6'3" (gần 2 mét). Tôi cứ lo là đám đông không chịu dãn ra thật lẹ giùm mình, thế là tôi kéo ngược mái tóc ra phía sau để người ta thấy tôi đang đeo máy nghe và hiểu công việc của tôi là gì. Làm nghề này phải theo đúng "ca", hơi khó cho chuyện bạn bè bồ bịch. Bởi vậy khi hẹn hò với ai lần đầu tiên tôi cũng nói ngay, "Cứ hai tuần tôi lại phải đi vắng một lần đấy nhé". Thà rõ ràng với nhau như vậy, nếu ai vẫn chấp nhận làm bạn thì càng tốt.


KATIE FARRELL, 25 TUỔI

 
Nghề này dễ khiến đàn ông con trai có thái độ kỳ kỳ. Thí dụ như một lần tôi dự buổi party mừng lễ Giáng Sinh với bạn bè cùng quê nhà, một anh chàng hỏi tôi "Có đeo súng không đó bạn?" Rồi anh ta đưa tay dọc bên người tôi với lời giải thích: "Để khám thử coi có đeo không nha". Còn một lần đi công tác Kiev [thủ đô Ukraine], anh chàng cận vệ Tổng Thống mấy lần nằng nặc mời tôi ngồi ghế vì thấy tôi cứ đứng hoài. Coi bộ họ ngạc nhiên lắm khi thấy phụ nữ làm cận vệ.


NATASHA DIAMOND, 28 TUỔI


Tôi nối nghiệp ba tôi. Ổng là cận vệ của Ngoại Trưởng Charles Shultz. Lúc về hưu ổng cho tôi cái bao súng và túi đựng băng đạn, bảo tôi, "Ba hết cần mấy thứ này rồi. Tới lượt con đó". Tôi rất thích theo gót ba tôi nhưng nhiều người khác lại tỏ vẻ sửng sốt. Họ hỏi, "Thật hả? Bộ tính mang súng kè kè vậy hả?" Tôi đáp, "Dạ thật đó chớ, tôi thích sống với cảm giác mạnh mà". Anh trai tôi cũng là cận vệ luôn. Trong thời gian huấn luyện, lúc đi tập bắn, anh em tôi đứng kế bên nhau. Ảnh hay lớn lối khoe tài, còn tôi thì cứ ráng thắng ảnh. Vô phòng tập võ thuật cận chiến, ảnh không muốn làm tôi bị thương nhưng tôi nói, "Anh ăn hiếp em hết 20 năm rồi còn gì!". Sau lớp học, mấy anh bạn cùng khóa nói, "Em mà mặc áo thun thì tụi anh sẽ không mời em đi chơi đâu vì các cô hầu bàn sẽ tưởng tụi anh ăn hiếp em". Tôi nói, "Thì đúng rồi chứ có sai đâu". Nhưng tôi vẫn nghĩ mình có đầy đủ nữ tính. Ngoài giờ làm việc tôi thích đi dũa móng tay móng chân. Tôi thích chưng diện. Tôi thích mua nữ trang và đi shopping.


KARYN GREY, 37 TUỔI

Tôi nhận thấy bản năng phụ nữ rất hữu ích cho công việc. Cũng như gấu mẹ che chở gấu con vậy đó mà. Thật ra mục đích của bạn chỉ là hạ gục một kẻ tấn công - bằng một cú đánh vào cần cổ, hoặc bằng một phát súng. Trước khi vào nghề này tôi là một luật sư. Bởi vậy đối với tôi bắn súng và lái xe theo chiến thuật là chuyện rất mới lạ. Có lần đi công tác Haiti, tôi thấy mọi người ở phi trường đều nhìn một cách kinh ngạc, thứ nhất vì tôi là phụ nữ, và thứ hai là tôi lại đeo súng. Thế rồi chuyến bay chở mục sư Jesse Jackson đáp xuống. Đám cận vệ chúng tôi cố gắng đưa ổng vô xe, trong lúc người ta ùn ùn kéo lại xin tiền và ông cứ móc bóp lấy tiền cho họ, khiến chúng tôi phải thật vất vả mời tách rời được đám đông. Sau lần đó tôi mới thấy nghề cận vệ này khác một trời một vực so với nghề cũ của mình.
Nguyên tác Anh ngữ:
THE BODYGUARDS
* Text by Laura Blumenfeld. Photographs by Stephanie Sinclair
http://www.elle.com/Life-Love/Society-Career-Power/female-secret-service-agents

Bài Xem Nhiều