We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 30 March 2012

Chủ Đề 30.4: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.


.

Một lá thư trần tình hay nhất thế giới



Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:

“Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.



Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

- “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:

- “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”



Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:

- “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:

- “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.



Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:


“Tại sao Tướng Nam , Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”

Lại có người nghiêm khắc trách tôi:

“Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”



Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?



Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi:

- Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:




“Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.



Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.



Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:

“Có đồng ý đem con lánh nạn không?”

Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:

“Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?”

Tôi đáp:

“Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú.



Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:



“Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.



Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

“Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.

Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:

“Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.

Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:



“Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.



7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:

“Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”.

Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:

“Em phải sống ở lại nuôi con”.

Tôi hoảng hốt:

“Kìa mình, sao mình đổi ý?”

“Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”

“Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.

“Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.

“Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”

Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:

“Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”

Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:

“Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.



Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:

“Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.

Tôi phát run lên hỏi:

“Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”

Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:

“Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”.

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:

“Vâng, em xin nghe lời mình”.

Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:

“Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.

“Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”

Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:

“Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:

“Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.

Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:
“Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.

Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống. Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:

“Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.




Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:

“Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.



Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

“Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.

Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

“Nghĩa trở lại với tôi”.

Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa.




Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:



“Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”

Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

“Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”

Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:

“Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”

Tôi bảo Giêng:

“Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào cũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam , không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:



“Alô, Alô, ai đây?”

“Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”.

Tôi bàng hoàng:

“Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”

Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:

“Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng túng vài giây:

“Ông đang điều động quân ngoài kia”.

“Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”

“Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.

Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:

“Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng:

“Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.

“Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.



Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:

“Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”

“Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”

“Cẩn vui lòng chờ chút”.

Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:

“Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”

Cẩn đáp thật nhanh:

“Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”

“Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.

“Dạ, cám ơn chị”.

Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:




“Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”

“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!”

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?



http://www.youtube.com/watch?v=etZXRohdsKc&feature=related

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.



11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam :

“Alô, chị Hưng!”

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:

“Thưa Thiếu Tướng…”

Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:

“Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.

Tôi vẫn nức nở:

“Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”

“Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:

“Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”

“Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”

“Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”

“Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.

“Còn mấy chú đâu hết?”

“Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”

“Chị tẩm liệm Hưng chưa?”

“Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.

“Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp, chúng nó sẽ không để yên”.

“Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:

“Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.

Người chép miệng thở dài:

“Thôi chị Hưng ơi”.

Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:

“Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”.

Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:

“Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.

“Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.


Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:



Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.

Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.




Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?




Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.

Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.

Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.













Chuyến Mỹ du của Giáo Hoàng Bênêdictus XVI: Tôn Giáo hay Ngoại Giao ?


23 – 28 tháng 3 Giáo Hoàng Bênêdictus XVI viếng Mexico và Cuba. Ngày 26 /03 Cuba đón tiếp Giáo Hoàng và phái đoàn Vatican. Cũng những ngày ấy Việt Nam từ chối không tiếp phái đoàn Vatican chỉ vì phái đoàn đến  Việt Nam điều tra để phong thánh Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

Vatican có quan hệ ngoại giao với 179 quốc gia trên thế giới. Malaisya là quốc gia cuối cùng vừa trao đổi công hàm ngoại giao với Vatican vào đầu năm 2012 nay. Vatican vẫn tiếp tục phát triển sự  có mặt của mình với những cơ sở tôn giáo hay cơ sở ngoại giao ở các quốc gia hay ở các tổ chức quốc tế. Gần 80 quốc gia có đặt Tòa Đại  sứ cạnh Tòa Thánh ở Roma, và Vatican cũng gởi gần 100 Khâm sứ (phần đông người gốc Ý) đến các quốc gia và các tổ chức , hôi đoàn quốc tế. Trái lại Vatican không có quan hệ ngoại giao với  16 quốc gia trong đó có ba nước Cộng sảnTrung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam cùng với Arabie Saoudite và vài nước khối Hồi giáo. Riêng đối với Việt Nam vẫn có những cuộc đối thoại để tiến đến ngoại giao ( Nhưng vừa qua Hànội cũng vừa từ chối không cấp chiếu khán để phái đoàn Vatican vào Việt Nam điều tra việc phong thánh  Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.)

Ngày hôm nay, Giáo Hoàng Bênêdictus XVI đến viếng Cuba. Huê Kỳ đã nhận được tín hiệu nầy và đã trả lời là “rất  mong”  khi ngài đến, ngài  sẽ  nói đến “nhơn quyền” (cũng đừng quên vai trò của Nhà thờ Cuba vừa qua – vào những năm 2010 và 2011- đã giúp cho 115 tù nhơn chánh trị được Nhà nước Cuba phóng thích).

Năm 1998, vị  Giáo Hoàng tiền nhiệm của Bênêdictus XVI là Gioan-Phaolồ II lần đầu tiên  đến viếng xứ cộng sản nầy.

Trái với vị tiền nhiệm mình, Giáo Hoàng Bênêdictus XVI không thích đi thăm các quốc gia ngoài Vatican: chỉ ba hoặc bốn lần trong một năm thôi. Mỗi lần là một hàn thử biểu để đo những thông điệp chánh trị của Vatican do vị Giáo Hoàng đương nhiệm nấy, tuy  là một nhà thần học, đã gởi, qua các tín hữu mình, đến các nhà lãnh đạo các quốc gia ngài đang viếng thăm.

Ngày 23 tháng Ba vừa qua, ngài đến thăm Mexico. Ngài chắc chắn không thể nói đến tên cô gái người Pháp Françoise Cassez, tuy hiện đang bị Toà án Mễ Tây Cơ tuyên án phạt 60 năm tù, vi tội đồng lõa với người tình nhơn, bắt cóc người cho chuộc;  nhưng vẫn được Nhà thờ Thiên chúa Giáo La mã Mễ Tây Cơ ủng hộ, tuyên bố và chứng minh rằng “cô ấy vô tội” và … được Vatican “kín đáo”  đồng ý ủng hộ và che chở.

Đây là thí dụ để nói lên sức mạnh của  vai trò ngoại giao của Vatican, của những lời tuyên bố hay thông điệp của Giáo Hoàng, và những việc làm của các người đại diện Toà Thánh.

Báo Le Monde (Thế giới) phát hành tại Paris-Pháp trong tháng 12 – 2010 đã cho đăng một loạt bài về những điện tín ngoại giao của Bộ Ngoại Giao Huê kỳ, do Wikileaks phổ biến chứng minh cho chúng ta biết sự quan tâm của Huê kỳ đối với hệ thống Thiên chúa giáo La mã và những bài nói chuyện của Giáo hoàng. Thế nhưng, cũng rất khó cho chúng ta được biết vai trò và sự ảnh hưởng thực sự hay giả thử của Vatican và Nhà thờ Thiên chúa Giáo La mã trong tiến trình thế giới về mặt địa lý chánh trị.

Với Giáo Hoàng Gioan-PhaolồII rõ ràng hơn, ngài có  một quan niệm ngoại giao tích cực, dấn thân, tiến công. Với những cuộc công du (trên mười lần) trên toàn thế giới, với sự tham gia tích cực và cá nhơn của ngài  vào sự sụp đổ đảng cộng sản quốc tế, với những nổ lực của ngài để tạo những cuộc đối thoại lâu dài và bền vững với các quốc gia, các  tôn giáo khác, con số  các toà đại diện và các sứ quán bên cạnh Tòa Thánh đã được ngài cho nhân gấp đôi (ngày nay 179), Giáo Hoàng Gioan-PhaolồII đã thực sự cũng cố và tạo nên một vai trò chánh trị một tiếng nói chánh trị, nếu không được sự ảnh hưởng mạnh, thì cũng là sự hiện diện ở khắp mọi nơi, trên toàn thế giới, của Nhà thờ Thiên chúa Giáo La mã.

Và cũng từ đó, thế giới và Giáo hoàng cũng khác hẳn.

Thách thức của nạn  Công sản:

Lên ngôi năm 2005, Bênêdictus XVI có một cách nhìn ngoại giao kín đáo hơn : “ Bênêdictus XVI là vị Giáo hoàng đầu tiên không gặp cái thách thức của nạn  Cộng sản. Đừng quên chính cái thách thức ấy đã,  trong nhiều triều đại trước, ảnh hưởng đường lối ngành ngoại giao của Vatican…”François Mabille, chuyên viên quốc tế công pháp và quan hệ ngoại giao của nhóm nghiên cứu về các xã hội, tôn giáo và thế tục (Groupe d’études des socìétés, religions et laïcités). “ Ngài cũng không sử dụng các vị chuyên viên hàng đầu để đại diện ngài, những vị như các Hồng y Agostino Casaroli hay Roger Etchegaray – các vị ấy từng lãnh trách nhiệm ngoại giao với các quốc gia cộng sản, dưới triều Phaolồ VI hay Gioan-PhaolồII – Cũng phải nhìn nhận thêm là sự xuống dốc của Nhà thờ Thiên chúa Giáo La mã ở nhiềi nơi trên thế giới – Giáo Hoàng cũng nhìn nhận như vậy –  đã làm mất đi một phần ảnh hưởng ngoại giao của Vatican !” François Mabille nói tiếp. Anh chuyên viên nầy đang sửa soạn xuất bản một cuốn sách về ngành ngoại giao Vatican.

Một chuyên viên khác, một linh mục, không chấp nhận lý thuyết “ sự xuống dốc” của Nhà thờ làm mất ảnh hưởng Vatican, mà một lý do khác “ lý do là ngành ngoại giao Vatican thực sự không giống ai. Ngoại giao của Vatican thực sự nhắm vào Phát triển Nhà thờ. Phát triển Nhà thờ là quan trọng, Nhà thờ và con chiên, khắp mọi nơi, và nếu cần thương thuyết để có những qua lại thực tiển với các chế độ mọi nơi.”

Và đối với mọi chế độ !

Và như vậy, mặc dù Vatican lên án các  hành vi đàn áp, cưởng bức, bạo hành, nhưng Vatican ít khi tỏ thái độ rõ ràng và thường kêu gọi hòa hoản, đối thoại. Đã bao nhiêu lần qua, Vatican với thái độ chống chiến tranh (lý thuyết hóa vào năm 1963 với thông điệp Pacem in terris – Hòa bình trên địa cầu ) hay những thái độ về Đạo đức Sinh vật học (Bioéthique), Vatican thường đi ngược lại đường đi của hướng chánh trị thực tiển (realpolitik) quốc tế hay hướng đi của những đòi hỏi của phát triển xã hội.

Nhiều nhà ngoại giao đặt những câu hỏi về thái độ im lặng của Giáo Hoàng và cả của ngài Khâm sứ trong những cuộc khủng hoảng năm ngoái ở Bờ biển Ngà (Côte d’Ivoire) hay thái độ thận trọng trong những ngày đầu của Cách mạng Bông Lài, Tunisia hay Ai Cập hay cả Lybia. Chỉ đến tháng giêng năm nay 2012 thôi, trước mặt các phái đoàn ngoại giao cạnh Toà Thánh, Bênêdictus XVI mới thốt lên : “ Sự lạc quan ban đầu (của các cuộc Cách mạng) đã nhường lại cho sự thận trọng và thực tế khó khăn của những bước đầu thay đổi và chuyển tiếp” và ngài không ngần ngại  nhấn mạnh vào“ sự tôn trọng nhơn phẩm và các nhơn quyền căn bản”và đặc biệt quyền tự do tôn giáo. Vì thực tế cho thấy, một nhà ngoại giao cho tiếp ý kiến : “ Thế giới “bên kia”, Hồi giáo, biến thành một ưu tư thường trực đối với Nhà thờ Thiên Chúa Giáo La mã, và đặc biệt với các khó khăn của các giáo hữu Thiên chúa Giáo ngày nay ở Trung Đông Á Châu” Những cuộc nói chuyện, những đối thoại, những thương thuyết đã được nối lại với các nhà trách nhiệm Hồi giáo, sau thời gian đầu lạng quạnh của triều đại Giáo Hoàng nầy, thế nhưng, những ưu tư vẫn còn tồn tại, những lo lắng vẫn còn là những bài toán nan giải để giải quyết những xâm phạm vào tự do tôn giáo.

Tầm hoạt động và phạm vi ảnh hưởng của Thiên chúa Giáo La mã không chỉ ở vai trò của Giáo Hoàng. François Mabille, nhà nghiên cứu nhấn mạnh : “Ngành ngoại giao của Vatican bắt đầu ngay ở hạ tầng cơ sở và một cách rất chiến lược” Hệ thống các Toà Khâm sứ, các Hiệp hội tôn giáo, các Hôi từ thiện các NGO trên toàn thế giới “có mặt cả ở Trung Quốc và ở Bắc Hàn”-theo những hồ sơ Wikileaks.

Công việc của các NGO Thiên chúa Giáo La mã trong những địa hạt như Y tế, Nhơn đạo, Tiếp đón và giúp đở người tỵ nạn, vai trò của những ủy ban địa phương của Hôi đồng tôn giáo của Giáo Hoàng (Conseil pontifical) Công lý và Hòa bình hay là những sự can thiệp của của những cộng đồng Thiên chúa Giáo La mã Saint’Egidio trong những cuộc thương thuyết ít nhiều thành công giữa những địch thủ trong những cuộc  tranh chấp đẩm máu địa phương như   Mozambique hay Vùng những Biển Hồ vừa qua là những đóng góp vượt ra khỏi tầm vóc ngoại giao tôn giáo.

Một hồ sơ rất thời cuộc để chứng mình viẹc dấn thăn của Nhà thờ Thiên chúa La mã : việc bầu cử tại Sênêgal. Đây là một sự thành công vượt bực. Ngày hôm qua Chúa Nhựt 25 tháng ba 2012, vị Tân Tổng thống Sênêgal được toàn dân tín nhiệm bầu lên. Cựu Tổng thống Wade hai nhiệm kỳ Tổng thống nay thất cử, điện thoại chúc mừng Tân Tổng thống Macky Sall. Hoan hô tình thần dân chủ của nhơn dân Sênêgal ! Nhưng trước ngày bầu cử cũng chính Ủy ban địa phương của Sénégal của Hôi đồng Công lý và Hòa bình đã lên tiêng yêu cầu : “ Hãy đi bầu trong trật tự, thanh bình và không tham nhũng”. Ủy ban (Công lý và Hòa bình) cũng  tổ chức những buổi nói chuyện và những buổi thực tập để “tìm hiểu và thông tin”, giáo dục dân chúng Sênêgal về những phương pháp bầu cử và tìm hiểu về các ứng cử viên. Ngoài ra, Hôi đồng Nhà thờ còn tổ chức cho trên 1000 giám sát viên để theo dõi và giám sát các thùng phiếu.

“ Vatican cũng có mặt hoạt động trong các hôi đoàn, các tổ chức quốc tế”một nhà ngoại giao nhấn mạnh. Có mặt trong vai trò giám sát, hay có mặt trong vai trò thành viên, Vatican bảo vê những giá trị của Nhà thờ Thiên chúa trong những tổ chức quốc tế như UNO, Liên Hiệp Quốc, hay như Liên Hiệp Âu châu…Vatican cũng có mặt ở những Hôi nghị quốc tế quan trọng,  quốc phòng, quân sự như giàm vũ khí hạt nhơn, ưu tư xã hội toàn cầu hóa  như hôi nghị quốc tế về dân số, về nữ quyền và gần đây nhứt về vấn đề nước ngọt. Vatican cũng có thể liên minh với các Tôn giáo khác để tạo ảnh hưởng cho những đấu tranh bào vệ quyền con người hay những vấn đề liên quan đến con người.

Ngày nay, những đế tài đấu tranh của Vatican thường được chú trọng, là những vấn đề liên quan đến những giá trị Nhà thờ Thiên chúa, về con người như : tự do tôn giáo, tự do thờ phượng dỉ nhiên rồi,  nhưng cũng có rất nhiều vấn đề liên quan đến Đạo đức con người, như Phá thai, Chấm dứt sự sống (euthanasie), việc sử dụng những tế bào gốc của nhao thai nhi, cho phép những hôn phối đồng tính giới, bệnh AIDS, .. Vì quá chú trọng đến những vấn dề nầy,  Vatican ngày nay vô tình đã hạn chế vai trò ngoại giao của mình.

Và Việt Nam ?

Cuba ngày nay đang mở cửa . Thời đại Fidel Castro đã sang trang. Raul Castro bắt buộc phải “đổi mới không thì chết”. Sở dỉ Cuba đang kiệt quệ ngày nay, vì do Mỹ, do các dân cử Mỹ gốc Cuba vận động Quốc hội Mỹ ra một đạo luật  “hạn chế gởi tiền vào Cuba”.

Còn Việt Nam ta ? năm vừa qua Việt Nam tỵ nạn Hải ngoại đã tiếp tế 10 tỷ dollars về cứu Việt Nam. Miễn bàn thêm.

Cộng đồng Việt Nam Hải ngoại vừa qua hãnh diện.  Cộng đồng Người Mỹ gốc Việt đã thành công trong việc vận động được trên 140 ngàn chữ ký vào thỉnh nguyện thư gởi cho Tổng thống Obama nhờ Chánh phủ Mỹ nhắc chuyện Nhơn quyền cho Việt Nam. Hay quá !

Hãnh diện quá ! Gương sáng cho cả cộng đồng Việt Nam tỵ nạn Hải ngoại thế giới !

Và nhiều người điện thoại hỏi người viết xem chúng tôi có ý kiến, có  phương pháp gì tiếp tục ngọn lữa chữ ký ở Pháp, ở Úc, ở Bắc Âu ở Đông Âu ?

Trong những lúc đi vận động nói chuyện về Nhơn quyền và dân chủ ở Việt Nam, chúng tôi có dịp gặp và nói  với các dân cử Pháp và cả với các dân cử Úc châu trong chuyến đi thăm Miệt Dưới tháng trước, chúng tôi được hai câu  trả lời ( một Pháp, một Úc) đại khái như sau:

“Chúng tôi sẳn sàng giúp các bạn Việt Nam về những vấn đề các bạn nêu ra như Nhơn quyền, đòi Nhà nước Việt Nam tôn trọng tự do ngôn luận, hay hãy thả những nhà đấu tranh dân chủ … vân vân.. Nhưng chúng tôi rất buồn là các anh yêu cầu chúng tôi, các anh chỉ chúng tôi phải làm thế nầy thế nọ. Nhưng về phần  các anh, các người tỵ nạn Cộng sản năm nào, ngày nay các anh ùn ùn về du lịch Việt Nam, về ăn Tết bên nhà, các anh gởi cả tỷ bạc về cứu Việt Nam … các anh muốn chúng tôi đánh giặc dùm các anh mãi sao ?”

Và chúng tôi chỉ biết cúi đầu ngao ngán, vi các bạn ấy nói đúng!

Và nay chúng tôi bạo dạn đề nghị thế nầy. Việc nầy là việc của chúng ta. Chúng ta đã thành công  có 140 ngàn chữ ký ở thỉnh nguyện thư mà. Chúng ta cũng có thể có 140 ngàn chữ ký ở quyết định nầy :

Chúng ta ra một quyết định là “Không về Việt Nam du lịch năm nay, không gởi tiền về Việt Nam năm nay”.

Và chúng ta ký tên với tên tuổi rõ ràng. Như vậy Việt Cộng sẽ biết rõ là chúng ta làm thiệt.

Với 140 ngàn chữ ký trên 3 triệu dân tỵ nạn. Có là bao!  nhưng chúng tôi dám thách thức rằng chỉ cần “không về một năm, không gởi tiền chỉ một năm” sẽ có rất nhiều thay đổi ngay.

Ngày nay, phía Đông lãnh hải đã mất, hải đảo cũng không còn. Ngư dân không còn biển để đánh cá sanh sống. Phía Tây, rừng xanh cũng mất vì đã cho thuê, Công sản Tàu chiếm rừng khai thác Bô Xít, gây tai họa môi trường, người tiều phu không còn rừng khai thác củi, nhà trồng trọt không còn đất gặt hái hoa mầu. Nay Việt Cộng lại thêm sửa soạn xây nhà máy điện Hạt Nhơn ở Phan Rang. Một Nhà Máy điện Hạt Nhơn với kỹ thuật Tàu, với 3000 kỹ sư Tàu, với bao nhiêu nhơn công Tàu và gia đình ? Phan Rang sẽ là đất Tàu. Hôm qua, Lâm đồng và Bô Xít, đã bao nhiêu công nhơn Tàu ? nay  Phan Rang Lò điện Hạt Nhơn và sẽ bao nhiêu công nhơn Tàu. Việt Nam sẽ bị cắt đôi . Vùng Cao nguyên mái nhà Trung phần từ phía Tây nối với  Phan rang ra biển Đông nhập vào cảng Cam Ranh. Thế là  mất trọn.

Việt Nam ôi, đất nước ơi ! Ta phải làm gì đây ?

    * Tài liệu về Vatican, phỏng theo báo Le Monde ngày 19/3.

Ngày 27 tháng ba 2012 ngày Giáo Hoàng vào thăm Cuba.
TS. Phan Van Song
March 31, 2012

Vietthuc.org

Chủ Đề 30.4: Đất nước VN mỗi tháng trong năm đều là ngày quốc hận

Đất nước đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?

Kính thưa quý vị,

Hàng năm, cứ sau Tết nguyên đán cho đến đầu cuối tháng Tư dương lịch, hàng trăm ngàn gia đình trong cả nước âm thầm tổ chức lễ cúng giỗ cho những người đã nằm xuống một cách tức tửi trong khoảng thời gian đó 37 năm về trước. Một số chùa chiền ở miền Trung, Miền Nam cũng tổ chức Hiệp Kỵ cho những vong hồn của các nạn nhân chiến cuộc bỏ mình trên đường lánh nạn cộng sản, khi cộng quân Bắc Việt xua quân đánh chiếm Miền Nam trong chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 đó.


“Thi lấy chồng ngoại”
Đối với hầu hết người dân Việt nam thì tháng Tư là tháng Tư đen và ngày 30 tháng 4
là ngày quốc hận. Nhưng thật ra, trong tâm thức của mọi người dân Nam Việt thì từ sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975 đó, mỗi tháng trong năm đều là tháng đen, và mỗi ngày trong
năm đều là ngày quốc hận: Vâng, tôi không ngoa ngoắt chút nào khi khẳng định điều này,
bởi nhân dân Việt nam chưa có bao giờ đau thương, tang tóc như từ khi cộng sản Việt nam
nắm quyền cai trị đất nước, bởi tổ quốc Viêt nam chưa có bao giờ ô nhục như trong giai
đoạn cộng sản nắm quyền cai trị trên đất nước này:


Đã có bao giờ chưa, ngư phủ Việt nam bị bắt bớ bị đánh đập, bị hủy hoại hết tàu thuyền và
ngư cụ ngay trên chính vùng biển của tổ quốc mình, và bị đưa về “Thiên Quốc” của “Bác
Mao” để bị giam cầm và bị buộc phải nộp tiền phạt lên đến 200.000.000 đồng trên mỗi đầu
người, một số tiền tương đương với 200 tháng lương, tức là xấp xỉ 20 năm làm việc của một
công nhân bình thường ở Nước Việt, chỉ vì họ dám khai thác nguồn lợi thủy sản ngay trong
lãnh hải của tổ quốc họ? Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?
Đã có bao giờ trong lịch sử Việt nam khi người dân Việt nam bị đánh chết một cách vô cùng dã man giữa thanh thiên bạch nhật ngay giữa lòng “thủ đô hà nội nghìn năm văn hiến” chỉ vì va quệt khi giao thông với hai công nhân quốc phòng của Hán tộc, mà kẻ giết người vẫn nhỡn nhơ thách thức cả luật pháp của bản quốc? Đã có bao giờ người lao động Việt nam chỉ vì bát cơm manh áo mà bị chủ xưởng là những trọc phú của ngoại bang lăng nhục bằng vô số những hình thức trừng phạt vô cùng phi nhân bản như bị phơi nắng, hoặc dùng keo dán hai bàn tay lại với nhau, đến ngất xỉu và khiến hàng ngàn đồng nghiệp khác phải khóc lóc kêu la vì cảm thấy quá nhục quốc thể. Đã có bao giờ trên đất nước này người dân nghèo Việt nam bị các công nhân ngoại bang hành hung, đánh đập hội đồng một cách vô cùng dã man và đánh đập, hủy hoại tài sản của đồng bào một cách hết sức vô cớ, mà nhà chức trách địa phương vẫn làm ngơ, chỉ vì họ là thần dân của “Nước Lạ”: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?
“Xuất Khẩu Lao Động”


“Xuất Khẩu Lao Động”
Đã có bao giờ hàng trăm ngàn thanh niên Việt nam là rường cột nước nhà bi lừa bịp với ngôn từ hoa mỹ là “đi xuất khẩu lao động” nhưng thực chất là bị biến thành nô lệ như thời Trung cổ. Họ cầm cố ruộng vườn để đóng lệ phí hàng trăm triệu đồng cho nhà nước để đi làm nô lê lao động ở các nước trong cùng Châu lục, nơi mà họ bị hành hạ, bị đánh đập, bị ngược đãi bị bỏ đói từng ngày từng giờ bởi những tên chủ cả, là những trọc phú đã trả hàng triệu đô la cho nhà cầm quyền cộng sản để được sở hữu những lao nô đó. Với mỹ từ “đi xuất khẩu lao động” nhưng họ biết đâu họ đang bị nhà cầm quyền biến thành nô lệ, biến thành súc vật như trâu bò đi kéo cày ở ngoại quốc để mang ngoại tệ về là giàu cho các lãnh tụ của đảng và nhà nước là những tên tư sản đỏ đang đè đầu cởi cổ cả 96 triệu người Việt nam đang rên siết trong đói nghèo, cơ lại: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?

Các công nhân Việt Nam khóc vì bị bỏ đói tại Malaysia

Đã có bao giờ một người một nguyên thủ quốc
gia lại đi tiếp thi rằng “Thiếu nữ Việt nam cũng
đẹp lắm chứ” để rồi hàng năm dễ có đến hàng
trăm ngàn cô gái Việt phải bẹo mông, bẹo
ngực trước những người đàn ông Hàn Quốc,
Đài Loan mà đa phần là đui què mẻ sứt hoặc thiểu năng trí tuệ, với mơ ước được “trúng
tuyển” để đi làm dâu xứ lạ hay chưa? Ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, trong giờ công
dân giáo dục, chúng tôi được thầy giáo giảng dạy lý do tại sao phụ nữ Việt nam lại nhuộm
răng đen hạt huyền, và thời đó, trong ngôn ngữ của chợ búa, nếu người ta rủa sả nhau là
“đồ răng trắng” thì đã ô nhục lắm rồi, bời chỉ có những “Me Tây” hay những phường buôn
hương bán phấn mới để răng trắng, và đó được xem là điều ô nhục tột cùng của gia tộc mà không có sông nước nào rửa sạch.
Vậy mà từ ngày nắm quyền cai trị đất nước cho đến nay, với chính sách “bần cùng hóa nhân dân” nhà cầm quyền cộng sản Việt nam không những đã làm cho cả đất nước trở nên nghèo nàn, lạc hậu, mà còn là cho cả đạo đức xã hội cũng suy đồi, khiến cho nhiều tầng lớp dân chúng trong xã hội nhận thức một cách lệch lạc rằng, được làm “me tây” được lấy chồng ngoại là một điều vinh hạnh cho họ tộc, cho gia đình, bởi đó là giải pháp tối ưu để họ được xóa đói giảm nghèo, khiến cho hàng ngày trong các khách sạn sang trọng ở Sài gòn, ở Hà nội hàng trăm cô gái tuổi mười tám đôi mươi tập trung để “thi” lấy chồng ngoại, với mong ước được đổi đời và các giới chức cao cấp của đảng và nhà nước cũng được hưởng lợi không nhỏ từ những cuộc hôn nhân dị chủng này: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?


"Cháu ngoan bác Hồ" làm gái mại dâm chuyên nghiệp
Đã có bao giờ đất nước Việt nam lại có quá nhiều gái mãi dâm như trong giai đoạn cầm quyền của cộng sản này chăng? Chúng tôi tình cờ đọc được trên net một đoạn trong một luận văn tốt nghiệp của một sinh viên Việt nam về tệ đoan xa hội và đề tài là nạn mại dâm ở Việt nam, trong luận văn, có một đoạn cho rằng “toàn miền nam trước ngày giải phóng có 200.000 gái mại dâm, riêng Sài gòn là 100.000 gái mại dâm và 5.000 chủ chứa”. Tôi chẵng biết sinh viên này lấy số liệu này từ đâu, nhưng cũng thấy rõ đây là lối tuyên truyền xuyên tạc của cộng sản đối với xã hội Miền nam trước ngày bị cộng sản cưỡng chiếm, bởi dẫu đang trong thời chiến, nhưng miền nam vẫn có nền kinh tế phát triển hàng đầu trong các nước Đông Nam Á, Sài gòn từng được mệnh danh là “Hòn Ngọc Của Viễn Đông” người dân sống trong cảnh sung túc, phú cường, luân lý gia đình và xã hội được hết mực tôn trọng thì thực ra số lượng gái mại dâm ở miền nam thời đó phần đa là vợ con của những cán binh cộng sản đang ở chiến khu, chẳng hạn với tên đặc công Bảy Lốp, tức Lê Công Nà, với 8 bà vợ, mà bản thân phải nằm vùng ở chốn bưng biền, thì vợ con của tên cán binh này biết phải mưu sinh bằng nghề nghiệp gì, ngoài cái phận bán trôn nuôi miệng? Còn hiên nay, mỗi năm chưa kể hàng trăm ngàn thiếu nữ Việt phải đi làm gái ở Malaysia, Singapore, Thái Lan, Trung Cộng và ngay tại nước láng giềng Cambodia với hàng trăm ngàn gái Việt bán dâm trong các nhà thổ ở đó ngay cả khi còn ở tuổi vị thành niên, mà ngay trên đất nước Việt nam này thôi, từ nam ra bắc, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị tới nông thôn, nới nào cũng đầy ắp những quán caphe đèn mờ, những quán bia ôm, rượu ôm, thịt chó ôm, và đầy đặc những nhà trọ bình dân, mà tất cả thực chất chỉ là những nhà chứa trá hình. Từ những siêu sao siêu mẫu đến những sinh viên đại học, rồi nữ sinh trung học đều thi nhau làm gái bán dâm chuyên nghiệp. Ngay cả nhiều nữ công nhân ở các nhà máy phải làm việc quần quật suốt ngày, ấy vậy mà sau giờ tan ca thì lại lột xác để trở thành những nàng kiều, chỉ vì đồng lương mà họ kiếm được từ công việc chân chính ở các nhà máy, các xí nghiệp không đủ cho họ sống được qua ngày: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?
Kính thưa quý vị,
Thật xấu hổ khi phải viết lên những điều này trên mặt báo, bởi các cụ nhà ta há đã chẵng dạy rằng: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”, và chính đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã cố bưng bít, cố che giấu tất cả cái xấu xa đó, để rồi cái xấu đó càng có đất để phát triển, để thăng hoa làm cho đất nước Việt nam càng ngày càng trở nên ô nhục. Với trăn trở của một con dân đất Việt với hiện tình đất nước và sự khổ lụy của toàn dân, người Viết chỉ muốn nêu lên cái thực trạng của đất nước, của con người Việt nam sau 37 năm cộng sản cướp chính quyền, để xin một phần nào làm hé lộ mặt trái của xã hội Việt nam đương thời, bởi nếu không, nhiều người sẽ lầm tưởng rằng Việt nam một đất nước của độc lập, tự do, hạnh phúc khi mới chợt nhìn qua nét hào nhoáng của một số đo thị vừa mới được hình thành với một số cao ốc, một số biệt thự. Không! Người Việt chúng ta còn đói nghèo lắm, hàng triệu thanh niên Việt nam vẫn đang làm lao nô ở xứ người, hàng triệu thiếu nữ Việt nam vẫn đang phải bán trôn nuôi miệng cả trong và ngoài nước. Bởi ai? Do đâu? Đó là lý do mà ngay từ những dòng mở đầu cho bài tâm bút này, chúng tôi đã khẳng định rằng, với 96 triệu người Việt nam trong nước, mỗi tháng trong năm đều là những tháng đen, mỗi ngày trong năm đều là ngày quốc nhục. Bởi đâu? Do ai?: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?
© Nguyễn Thu Trâm.
http://quynhtramvietnam.blogspot.co.uk/
Kính thưa quý vị,
Tất nhiên vẫn còn cả 1001 điều ô nhục khác nữa trên đất nước này, nhưng trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi không thể nêu hết ra được ở đây, chẳng hạn như văn bia ghi lại chiến tích của Hoàng Đế Quang Trung Đại Phá 20 quân Thanh phải bị đục bỏ vì sợ điều đó sẽ làm phật lòng "Nước Lạ", rồi đến chuyện tổ chức lễ tưởng niệm những người con của tổ quốc đã đền nợ nước khi bảo vệ các hải đảo của quê hương cũng bị nghiêm cấm, bởi "đảng" và "nhà nước" e rằng việc đó cũng sẽ làm phật lòng "Nước Lạ".
Thật xấu hổ khi phải viết lên những điều này trên mặt báo, bởi các cụ nhà ta há đã chẵng dạy rằng: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”, và chính đảng và nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã cố bưng bít, cố che giấu tất cả cái xấu xa đó, để rồi cái xấu đó càng có đất để phát triển, để thăng hoa làm cho đất nước Việt nam càng ngày càng trở nên ô nhục. Với trăn trở của một con dân đất Việt với hiện tình đất nước và sự khổ lụy của toàn dân, người Viết chỉ muốn nêu lên cái thực trạng của đất nước, của con người Việt nam sau 37 năm cộng sản cướp chính quyền, để xin một phần nào làm hé lộ mặt trái của xã hội Việt nam đương thời, bởi nếu không, nhiều người sẽ lầm tưởng rằng Việt nam một đất nước của độc lập, tự do, hạnh phúc khi mới chợt nhìn qua nét hào nhoáng của một số đo thị vừa mới được hình thành với một số cao ốc, một số biệt thự. Không! Người Việt chúng ta còn đói nghèo lắm, hàng triệu thanh niên Việt nam vẫn đang làm lao nô ở xứ người, hàng triệu thiếu nữ Việt nam vẫn đang phải bán trôn nuôi miệng cả trong và ngoài nước. Bởi ai? Do đâu? Đó là lý do mà ngay từ những dòng mở đầu cho bài tâm bút này, chúng tôi đã khẳng định rằng, với 96 triệu người Việt nam trong nước, mỗi tháng trong năm đều là những tháng đen, mỗi ngày trong năm đều là ngày quốc nhục. Bởi đâu? Do ai?: Ôi, đất nước Việt nam đã có bao giờ ô nhục như thế này chăng?

Làm thế nào gióng tiếng chuông chính nghĩa Việt Nam đi khắp nơi?


http://vietlist.us/Images/VDCVang3.JPGHôm thứ Ba (20 tháng Ba, 2012), trên đường lái xe đến một phiên họp ở Walnut Creek, tôi tình cở nghe chương trình Diễn Đàn/Forum trên đài phát thanh KQED 88.5 (San Francisco) do ông Michael Krasny phỏng vấn nhà văn, kiêm giáo sư Adam Johnson (hiện dạy các lớp Luận văn cao học tại Stanford University) về quyển tiểu thuyết The Orphan Master’s Son/Người Con trai Mồ côi của Lãnh tụ mới xuất bản ở Mỹ. Đây là một trường thiên tiểu thuyết dày 443 trang nói về một nhân vật lớn lên từ một trại mồ côi, được huấn luyện để trở thành một chỉ huy trưởng trong guồng máy quân phiệt cao cấp của Cộng Sản Bắc Hàn, một xã hội có thể nói đen tối nhất hành tinh.
Bắc Hàn là một nước bí hiểm, hoàn toàn cách biệt và che chắn với thế giới bên ngoài. Động cơ nào đã thúc đẩy ông Adam Johnson, một người Mỹ da trắng, miệt mài tâm huyết hơn 5 năm trời để tìm hiểu, tra cứu, xin du lịch đến Bắc Hàn nhằm thu thập đủ tài liệu để phóng tác một quyển tiểu thuyết vĩ đại trong sự nghiệp văn chương của mình? Ông Johnson cho biết trong cuộc sống ông đã nghe qua nhiều mẩu tin tức, những giai thoại về: các vụ biệt kích quân Bắc Hàn đi tàu qua Nam Hàn, qua Nhật bắt cóc những công dân đem về phục vụ hay mua vui cho lãnh tụ (sách có kể những tật thói quái đản của Kim Il Sung, Kim Yong Il, lãnh tụ cha truyền con nối Bắc Hàn), kể cả nghe các người dân trốn khỏi chế độ tiết lộ về xã hội u tối, đói khát và khắc nghiệt này; và từ đó đã tạo dựng, hư cấu nên một quyển tiểu thuyết có một bộ mặt người như vậy.
Là người Việt, tôi không khỏi bị kích thích và mê mải khi nghe hai người đàn ông hiểu biết nói chuyện về một xã hội Cộng Sản bưng bít, mà hiện nay Bắc Hàn phải chính thức được gọi là Bức Màn Sắt trong các nước Cộng Sản còn tồn tại trên thế giới (Trong một bài diễn văn khai mào giai đoạn Chiến tranh Lạnh, thủ tướng Anh Winstons Churchill mệnh danh thế giới Cộng Sản do Nga sô kiểm soát là Bức Màn Sắt (1), sau đó không hiểu ai là người đầu tiên đã gọi Trung quốc, VIệt Nam, Bắc Hàn, Lào là Bức Màn Tre). Hôm đó, nghe chương trình phỏng vấn gần 30 phút tôi định bụng khi diễn đàn mở ra cho thính giả đặt câu hỏi và góp ý, tôi sẽ hỏi ý kiến tác giả Adam Johnson về những điểm chung và khác biệt như sự cởi mở và đóng kín giữa hai nước ngày nay.
Việt Nam trước 75, và trước 86, mở màn cho những năm Đổi mới về sau – có lẽ cũng có một xã hội bế quan tỏa cảng không khác gì mấy với Bắc Hàn. Cho nên khi đến nơi, an tọa ở bãi đậu xe, còn hơn 15 phút mới đến buổi họp chờ đến phiên mình vào dịch, tôi gọi điện và ngồi nán ở xe chờ đến lượt mình đặt câu hỏi, góp ý. Những giây phút dài trôi qua, tôi được dặn theo dõi nghe radio và chờ phone. Chỉ còn 4 phút nữa tôi phải vào bên trong phiên dịch cho một buổi deposition/Luật sư và thân chủ lấy cung. Tôi đã thấy bên bị cáo bước vào tòa nhà, mà tổng đài KQED cũng chưa gọi, nên chờ hay vào làm việc? Còn lưỡng lự tiến thoái lưỡng nan, thì tiếng nói ở bên kia cell báo hiệu: “Thai, you’re on.”
“Good morning Thái,” giọng ông Michael Krasny trổi lên chờ đợi. Tôi hồi hộp cất tiếng: “Good morning,…”
Đại ý tôi hỏi giáo sư Adam Johnson có thể so sánh cho biết mối tương quan (sự song hành) giữa hai xã hội Việt Nam và Bắc Hàn, nhất là trước 75, tuy rằng có thể Bắc Việt không như Bắc Hàn, đa dạng hơn sau ‘đổi mới’, và tôi cũng mong rằng những nhà văn Tây phương sẽ viết thêm về VN vì những cây bút Việt Nam không được bình tĩnh khi họ viết về Cộng Sản Việt Nam… Sau khi đặt câu hỏi thì chỉ còn nửa phút đến giờ làm việc, tôi chỉ kịp nán lại để loáng thoáng nghe ông Johnson trả lời ‘đã có nhiều nhà văn Việt-Mỹ viết về Việt Nam’ trước khi rời xe vào phiên họp.
Sau hôm đó khi về nhà lên mạng tôi tìm ra địa chỉ e-mail giáo sư Adam Johnson và viết lại mạch lạc hơn ý nghĩ của mình, đại ý cho ông biết tại sao người Việt lại khó viết cho thông suốt được câu chuyện Việt Nam của họ. Của đáng tội, cái khó (và éo le) của người Việt khi viết về vấn đề Việt-Nam cho người ngoại quốc/ngoại cuộc thường nằm ở hai vế đối chọi:
1) Những người sống qua những cuộc đổi đời, có đủ thẩm quyền để viết về Việt Nam thì lại không hội đủ chữ nghĩa Anh văn lưu loát để viết tiểu luận, nói gì đến tiểu thuyết, hoặc giả nếu hội đủ điều kiện thì họ đã quá gần gũi với chuyện tang thương của mình để có thể trình bày hay lập chuyện một cách hấp dẫn, ôn tồn và minh bạch. Đó là chưa kể những tư duy và góc nhìn thấm nhuần chính trị xã hội của 2 miền Nam Bắc.
2) Những người có đủ thời gian học vấn và văn chương Anh văn để viết, phần đông thuộc lứa tuổi trẻ, sống xa rời quê hương, không rành tiếng Việt và lịch sử nước nhà để có thể hiểu và viết lên câu chuyện Việt Nam một cách chính xác và rành mạch, chưa kể một số những người trẻ ở hải ngoại do bị thế hệ cha anh chụp mũ và cho là mất gốc nên đã xa lánh cộng đồng và câu chuyện Việt Nam. Nếu có viết đến thì cũng là những câu chuyện Việt Nam vô thưởng vô phạt, thiếu tầm vóc lịch sử và chiều sâu.
Thú thật, nhiều lúc tự tin vào khả năng Anh ngữ và tính trung chính của mình để ứng xử, nhưng hôm thứ Ba đó không hiểu vì vấn đề Bắc Hàn gần gũi với chuyện quê hương thế nào, hay vì bị chia trí vì sắp tới giờ buổi họp quan trọng, tôi đã không đủ bình thản và trầm tĩnh để hỏi và nói hết ý dữ kiện hỗ tương cũng như khác biệt giữa Việt Nam và Bắc Hàn. Rõ ràng tôi đã lâm vào hội chứng Việt Nam như nhiều người Việt hải ngoại.
Làm thế nào để nói lên tiếng nói lương tri của người Việt trong vòng 15, 20 giây mà không tiểu-tiết-hóa, làm rẻ rúng vấn đề? Không được may mắn như trường hợp kiến nghị We The People ở Nhà Trắng vì không hân hạnh có mặt hay có tên trong số những người được mời phát biểu hôm 5 tháng Ba trước các quan viên Hoa kỳ, trường hợp cá nhân tôi đã phản ảnh những cơ hội hiếm có của người Việt trước những vận hành hay biến cố mấu chốt lịch sử để gióng lên tiếng nói nhược tiểu của mình.
Bất kể những sơ suất kỹ thuật, thiếu dự bị tổ chức trong chuyến Thỉnh Nguyện Thư vừa qua, người Việt hôm nay, nhất là cộng đồng hải ngoại, đã tạo được cho mình tiếng vang với 150 ngàn chữ ký, sắp sửa có tiếng nói. Như vậy có khác với chuyện bác Hồ ngày xưa phải chật vật đi mướn áo vét đuôi tôm, mượn văn bút của nhóm Ngũ Long, Le Patriot: Phan chu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyến Tất Thành, đặt yêu sách của dân Việt “Revendications du Peuple Annamite” và tìm cách yết kiến với Tổng thống Woodrow Wilson năm 1919 không?
Xin để cho những học giả nặng ký trả lời. Hôm nay tôi không dám lạm bàn đến công cán của người chấp bút thỉnh nguyện thư ở Hội nghị Hoà Bình Versailles 93 năm trước đây, cũng như tính chính danh của Nhóm Ngũ Long Le Patriot (Nguyễn Ái Quốc) hay của bác Hồ vào thời đó mà chỉ nhắc lại sự vận động của người Việt Nam xưa và nay, hy vọng sẽ gióng lên được tiếng chuông suy tư và lẽ phải (chưa dám nói đến yêu nước) để luận bàn một cách bình thản, không nóng máu về cách vận động và tranh đấu của người Việt hải ngoại cho người oan khuất trong vòng gần 40 năm trở lại đây.
Có phải ở Mỹ đại đa số người Việt lâu nay đã không màng, không có cơ hội, không đủ mức (đủ sức) vận động, tranh thủ bằng tiếng Anh với chính giới Hoa Kỳ?
Ngược lại hàng ngày chúng ta bị tràn ngập bởi những thông tin xấu ở Việt Nam, nhiều lúc làm cho mình hầu như quên sống cho bản thân, cho gia đình, cho công việc hàng ngày, để trở nên bất bình thường, mất cân bằng trong cuộc sống vì bị ám ảnh bởi những tin tức bất cập khiến mình nửa điên nửa ngộ, vừa điên tiết vừa lộn ruột. Cho tôi sống với! Cá nhân mỗi người phải tự hỏi mình làm điều gì thiết thực nhất trong phạm vi hữu hạn của mình. Nhiều khi chuyện quan trọng của cộng đồng chưa chắc đã là mối quan tâm của người Mỹ.
Chả trách khi nộp bài cho một nhật báo lớn của Mỹ, bà phó tổng biên tập mà tôi quen đã thoái thác khuyên: “I don’t know Thai, how many people in the mainstream know about the Vietnamese petition’s We The People? Why don’t you write something about how your community think about the Republican primary election! (Tôi cũng không biết nữa (về bài TNT tôi nộp ) có bao người trong dòng chính để ý đến chiến dịch chữ ký We The People của cộng đồng Việt? Sao anh không viết về cuộc tuyển chọn ứng cử viên Cộng hòa trong cộng đồng Việt?) Hơn 90% các bài bình luận của tôi được báo Mỹ đăng nói đến vấn đề Việt Nam.(2)
Đó là chưa nói đến một thiểu số ồn ào, thích khoác cho mình sắc áo và màu cờ Vàng, giành chính nghĩa cho mình? Một số khác túc trực hàng ngày trên các trang mạng Việt ngữ, truy cập, nghe ngóng tin tức và viết những lời thóa mạ, chửi bới, báng bổ, khích bác tràn ngập. Trong khi tiếng nói trung thực cho cộng đồng, cho Việt Nam hầu như chưa bao giờ được chính khách và dòng chính Hoa Kỳ nghe cho tường. Trái lại như tại San José qua các cuộc bầu cử địa phương vừa qua, chuyện quốc gia-cộng sản – một mặt của thực tế cộng đồng – đã làm át đi tiếng nói thiết thực hơn của địa phương, khiến cho nhiều người dân và chính giới Hoa kỳ ngán ngẩm chuyện Việt Nam.
Có lẽ nhiều lúc hình như (một số) người Việt hải ngoại quên rằng họ đang tranh đấu với ai, và cho ai?
Trong khi tranh đấu ở nước nhà bị cấm đoán, ở Mỹ, luật pháp và hiến chương ủng hộ các cuộc biểu tình, chống đối chính phủ (không ai lạ gì các tổ chức như Tea Party, Chiếm đóng/Occupy Wall Street, v.v.). Phần lớn những chuyện tranh đấu dữ dội của người Việt ở hải ngoại, người Mỹ gọi là “Tempest in a Teacup”/”Bão táp trong một tách trà” (để nói lên những sự việc hung hăng nhưng bị giới hạn/gói gọn trong một môi trường nhỏ bé, không gây ảnh hưởng) lại xảy ra, xâu xé nhau trong cộng đồng Việt (nhiều người gọi là vũng lầy của chúng ta) thay vì tranh đấu, thu phục cảm tình của dân Mỹ và các dòng chính, họ lại đánh phá chính mình: Ngay trong cộng đồng Việt, trên báo chí Việt.
Người Mỹ thường không biết người Việt tranh đấu cho ai, vì ai!
Xin lặp lại câu hỏi: người Việt hải ngoại đang tranh đấu với ai, và cho ai?
- Với người Việt trong cộng đồng Việt (trừ giới trẻ) Đúng! Với Mỹ, với thế giới? Không đúng, chưa đủ!
Tranh đấu cho ai! Cho họ ư?
- Không đúng, mấy ai ở Mỹ tranh đấu cho chuyện nhà cửa ấm êm, cho xã hội cờ Hoa của mình được an sinh lại mang cờ Vàng xuống đường đả đảo Cộng sản thiếu nhân quyền? Xa xôi quá!
Tranh đấu cho Việt Nam ư?
- Cũng không đúng, chúng ta là dân Mỹ, mấy ai lại từ bỏ thiên đường tư bản để về Việt Nam sống?
Tranh đấu cho dân Việt Nam ư?
- Tôi cũng không chắc, có phải vì chúng ta quá khắng khít với màu cờ Vàng xa xưa mà quên đi rằng hơn 70% dân số Việt Nam hiện nay dưới tuổi 30 và chưa hề sống dưới lá cờ Vàng nên không mấy ai thắm thiết với lá cờ xa lạ này? trong nước nhìn ra có phải là đa số sẽ cảm thấy xa lạ và không chắc ủng hộ hình ảnh cờ Vàng này. Thật ra, cho đến nay, chưa có một thống kê hay trưng cầu dân ý quy mô nào trong nước cho thấy đại đa số chấp nhận lá cờ Vàng thay cho lá cờ Máu, đương nhiên dưới chế độ hiện nay đó là một chuyện bất khả thi. Tuy nhiên một số người đối kháng trong nước tâm sự cho biết họ cảm thấy ‘ngỡ ngàng’ dưới lá cờ Vàng. Đối với họ:
Khi chúng ta trương cờ Vàng xuống đường có phải là chúng ta muốn khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng hòa? Tôi không biết trả lời họ sao cho ổn. Dù sao nếu thật sự đúng như vậy thì cũng không hợp tình, hợp lý lắm! Vì chỉ cần hình dung ra viễn tượng ai xung phong về nước, ai khởi nghĩa, ai ủng hộ, ai lãnh đạo ai, cũng đã thấy phức tạp lắm rồi… khó có thể thực hiện, nếu không nói là hoang tưởng.
Như vậy khi tranh đấu cho nhân quyền, tự do, (dân chủ) và công bằng bác ái thì người ta dùng lá cờ nào? Khó ạ, đúng là nan giải. Một ngày kia nếu Việt Nam có bầu cử dân chủ, phải để cho người dân quyết định chọn cho mình một lá cờ mới. Gần đây, tôi có nghe được một cao kiến: Hãy dùng là cờ Máu chung với lá cờ Vàng, và tất nhiên có nhiều người không cần đến cờ quạt khi tranh đấu cho Việt Nam và những lý tưởng cao xa đó! Chuyện đa nguyên này sẽ cho thấy sự kết hợp trong và ngoài nước, khoan nói đến chuyện chính danh hay chính nghĩa của là cờ Việt Nam hiện nay!
Rốt cuộc, điều còn lại thiết tưởng người Việt cần thực hành là chăm chú nói lên tiếng nói của mình một cách từ tốn và minh bạch cho thế giới biết. Câu chuyện Việt Nam do đó vẫn chưa được kể hết và nó cần được thuật lại sau cùng bằng Anh ngữ, một cách trung thực, và thuyết phục. Nếu chúng ta, nhất là những ai là chứng nhân của lịch sử hãy để cho tâm tư lắng xuống vì “nước khuấy thì bùn vấy”, bớt đi sự hô hào, sôi động và hàm hồ của bầu máu nóng, sự thật sẽ tự nó lộ diện, trong sáng như một viên ngọc trong một áng văn chương, một tác phẩm quốc tế tuyệt tác nào đó.
© Nguyễn Khoa Thái Anh



Nhà tù và hàng hóa tại Trung Quốc

Nếu không bị kết án tử hình, tù nhân sống sót trong trại tạm giam sẽ bị gửi đến các nhà tù để thi hành bản án và làm nô lệ lao động. Họ mang theo các căn bệnh truyền nhiễm và bệnh tình dục đến các nhà tù, trong khi họ làm ra các sản phẩm giá rẻ với một số lượng lớn. Một số lượng sản phẩm lớn đến kinh ngạc được làm ở Trung Hoa là được sản xuất trong những nhà tù và trại cải tạo lao động.
Trong những năm 2000 và 2001, Phòng cảnh sát Bắc Kinh thuộc Phân cục bảo an quốc gia Trung Hoa đã bắt một lượng lớn người trí thức tu tập Pháp Luân Công, bao gồm các giáo sư của các trường đại học. Họ bị tra tấn cho đến khi họ chấp nhận “cải tạo”. Điều này đã được Đảng cộng sản Trung Hoa công bố trên toàn thế giới rằng đó chỉ là một biện pháp nhẹ nhàng như “làn gió và mưa phùn ngày xuân”.
Tôi là một trong số đó. Tôi đã bị nhốt trong một phòng giam mờ tối dành cho tù nhân bị kết án tử hình với khoảng 30 tù nhân khác đang chờ hành quyết. Căn phòng chỉ khoảng 30m vuông.
Lần đầu tiên khi tôi bị đưa vào căn phòng này, tôi có thể ngửi thấy mùi của đủ loại phân, nước tiểu, thịt thối, mốc và các thứ khác. Sau một vài tháng, tôi không thể ngửi được mùi gì nữa. Tôi đã quen với cái mùi vốn ngập tràn nơi ấy.
Ở đó yên tĩnh đến mức người ta có thể nghe được tiếng lá rơi. Mọi người tận dụng sự yên tĩnh để ngẫm nghĩ về quá khứ của mình. Ngày qua ngày, với nhiều người, là sống trong chờ đợi thời khắc hành quyết cận kề. Những cái cửa Phòng giam có hai cửa, một trước một sau. Cánh cửa trước là cánh cửa bằng sắt rất dày và một hàng rào sắt. Cửa sau cũng là cửa sắt dày và to như cửa trước. Cửa trước là nơi các tù nhân bị hộ tống vào và cũng là nơi bị kéo đi hành quyết. Mười cảnh sát có vũ trang đứng gác ngoài cửa ngăn không cho tù nhân chạy chốn. Mỗi khi cửa mở cũng đồng nghĩa sẽ có một ai đó sắp chết.
“Mở nhà lao!” một tiếng hét lớn của cảnh sát đứng trên đầu. Nó phá vỡ dòng suy nghĩ của tôi và sự yên tĩnh của căn phòng. Những tù nhân lôi thôi, xám xịt bắt đầu hiện lên tia hy vọng trên khuôn mặt họ. Từng người một, các tù nhân bước ra theo cửa sau. Họ cúi đầu lễ phép tỏ thái độ hàm ơn với cảnh sát. Rồi họ nhanh chóng bận rộn kiếm một nơi có nhiều ánh nắng.
Tôi đã bị sốc trước những gì nhìn thấy vào lần đầu tiên được ra khỏi phòng giam. Điều đầu tiên các tù nhân làm là trút bỏ quần áo. Những vảy nến, ghẻ lở và các vết lở loét trên cơ thể họ bị phơi bày đầy đủ.
Thực ra, điều ấy cũng không đáng ngạc nhiên lắm. Sống sót và Lao động nếu không bị kết án tử hình, tù nhân sống sót trong trại tạm giam sẽ bị gửi đến các nhà tù để thi hành bản án và làm nô lệ lao động. Họ mang theo các căn bệnh truyền nhiễm và bệnh tình dục đến các nhà tù, trong khi họ làm ra các sản phẩm giá rẻ với một số lượng lớn. Một số lượng sản phẩm lớn đến kinh ngạc được làm ở Trung Hoa là được sản xuất trong những nhà tù và trại cải tạo lao động.
Vào tháng 5 năm 2002, tôi bị đẩy đến Phòng Hồi hương tội phạm Bắc Kinh với nhiều học viên Pháp Luân Công khác. Chúng tôi được chuyển sang nhà tù địa phương để chịu nốt bản án. Qua nếm trải này, tôi đã thực sự kinh nghiệm được thế nào là lao động cưỡng bức trong tù.
Chúng tôi đã phải lao động không ngừng nghỉ. Công việc hàng ngày kéo dài từ 15 đến 16 tiếng. Nếu ai đó không hoàn tất công việc được giao, anh ta sẽ bị trừng phạt bằng cách phải “hát cho đến sáng”, tức là anh ta phải tiếp tục làm việc và không được ngủ. Căn phòng chật ních người, và tù nhân không có thời gian để vệ sinh cá nhân. Họ đếm từng ngày với những bệnh tật trở nên tồi tệ ngày này qua ngày khác.
Tôi bị bắt chỉ vì tập Pháp Luân Công. Tôi không hề phạm tội. Do vậy, tôi tự coi bản thân mình như một “phóng viên” được gửi tới đây để nghiêm túc quan sát những gì diễn ra quanh tôi. Tôi nuôi nấng hy vọng rằng một ngày nào đó những chứng kiến của bản thân mình sẽ được đưa ra công chúng để mọi người có thể hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra trong trại cải tạo và nhà tù Trung Hoa hôm nay.
Từ đồ giáng sinh cho đến đồ lót chúng tôi được giao đủ việc: đóng gói đồ lót phụ nữ, sao chép băng đĩa nhạc và hình, dán nhãn bao bì sản phẩm các loại, gấp sách, đóng sách, làm thuyền đồ chơi, làm các đồ chơi giáng sinh và nhiều thứ để xuất khẩu khác nữa. Tôi đã tham gia tất cả các lao động chân tay ấy và hiểu rõ từng công đoạn cũng như quy trình tại đó.
Vào một mùa hè nóng bức, quản lý nhà tù bắt chúng tôi đóng gói đồ lót cho hãng Gracewell. Trời rất nóng nhưng các tù nhân đã lâu không được tắm rửa. Họ gãi khắp người trong khi phải lao động chân tay. Một số tù nhân luôn tay gãi chỗ kín. Và khi họ lôi tay ra, tôi thấy có cả vết máu trên móng tay của họ. Tôi không rõ rằng các quý bà có thật sự xinh đẹp (graceful) khi mặc đồ lót này hay không.
Một dịp khác, tù nhân phải đóng gói món đồ ăn mang tên “Orchid Beans” cho một hãng tư nhân nhỏ nào đó. Món snack này làm từ đậu tằm. Họ chở hàng xe tải đậu tằm tới nhà tù. Tại đây đậu tằm được ngâm trong các thùng nước lớn cho đến khi nó nở ra. Nhiều lúc tù nhân đổ cả nước lẫn nước tiểu vào thùng ngâm đậu. Sau khi đậu đã nở, tù nhân sẽ bóc đậu bằng một bộ dao chuyên dụng, sao cho cho hạt đậu được bóc vỏ theo cách để lại một “vòng vàng” quanh hạt đậu trông thật ngon mắt. Nhưng thực ra nó rất bẩn. Công đoạn cuối cùng là bỏ đậu tằm vào rổ.
Mỗi tù nhân được giao tối thiểu 10,000 hạt đậu tằm trong một ngày. Khi hối hả làm cho xong, thì những thứ như rỉ mũi, nước dãi của tù nhân cũng lẫn cả vào đậu. Các hạt đậu đã qua xử lý ấy được cho vào túi, chuyển tới kho chứa, rồi được rang lên. Sau khi rang, đậu tằm trông vàng ươm, được đóng vào bao bì đẹp mắt và bán cho khách hàng.
Đậu tằm là một món hàng bán chạy và đem lại lợi nhuận lớn cho hãng kinh doanh. Tôi thấy ở Mỹ quốc này, nhiều người xài món đậu tằm nhập khẩu từ Trung Hoa, và tôi tự hỏi không biết họ có đang ăn món đậu tằm xuất xưởng từ nhà tù nơi mình từng ở hay không.
Năm nào cũng vậy, rất nhiều đồ giáng sinh được xuất khẩu từ Trung Hoa sang các nước tây phương. Có lần chúng tôi phải làm bóng đèn. Hàng ngày tù nhân phải nối dây đồng và quấn chặt ở xe tăng đồ chơi theo một mẫu hình cố định và nối bóng đèn vào đó. Tay của họ thường là rớm máu. Cũng không cần phải nói, có nhiều bệnh truyền nhiễm tình dục mà tù nhân mang theo cũng đã dính lên bóng đèn và đồ chơi.
Một lần khác chúng tôi phải xâu các hạt cườm thành chuỗi để làm đồ nữ trang. Các tù nhân dùng kim và dây để luồn qua các hạt cườm đủ loại màu sắc, rồi sau đó kết nút dây lại. Các chuỗi hạt trông thật sặc sỡ đẹp mắt. Nhưng tôi mong rằng các quý bà không đeo chúng trên cổ và các cháu bé không đút chúng vào miệng.
Trải nghiệm của tôi tại trại lao động ở Trung Quốc, Cô Chen Ying đã bị giam cầm ba lần chỉ vì tập Pháp Luân Công. Cô đã bị nhốt trong trại lao động cưỡng bức khoảng một năm khi mà cô thăm gia đình tại Trung Hoa. Cai tù cưỡng bức tiêm những thứ thuốc độc hại vào thân thể, tác hại lên phần thần kinh nửa bên trái thân thể của cô, gây chứng co giật. Hiện nay cô Chen sống tại Pháp.
Tôi bị cầm tù từ tháng 11-2000 đến tháng 11-2001 vì không chịu từ bỏ tập Pháp Luân Công. Trong thời gian đó, tôi bị cưỡng bức lao động khổ sai tại Nhà tù Tuanhe và trại lao động cưỡng bức Xin’an tại Bắc Kinh.
Những sản phẩm Tại Nhà tù Tuanhe ở Bắc Kinh Đóng gói một số lượng rất lớn đũa (loại dùng một lần rồi bỏ). Hầu hết là để xuất khẩu, rồi được dùng trong các nhà hàng, khách sạn. Làm gói quà tặng “Florence Gift Packages” Tại trại lao động Xin’an ở Bắc Kinh Đóng gói một số lượng rất lớn đũa (loại dùng một lần rồi bỏ). Hầu hết là để xuất khẩu, rồi được dùng trong các nhà hàng, khách sạn.
Đan áo len. Đan khăn len (xuất khẩu sang Châu Âu). Bộ đồ nệm thêu móc để kê tách trà. Thêu mũ cho một hãng tại Qinghe, Bắc Kinh. Thêu đệm ngồi. Nhặt sạch các thứ vương trên áo len trước khi xuất xưởng. Làm rất nhiều dép lót đi trong nhà. Công việc chủ yếu là dán đế dép. Giới chức coi tù đòi hỏi chất lượng cao. Lúc đó là lúc nóng nhất vào mùa hè. Nhiều học viên Pháp Luân Công và tôi ở trong các phòng giam nhỏ bé chật chội sặc mùi keo dán đến ngạt thở. Mỗi bận phải sản xuất là chúng tôi bị bắt làm đến nửa đêm hoặc 1 giờ sáng.
Làm thú nhồi bông: thỏ, gấu, cá heo, chim cánh cụt… Công đoạn chủ yếu là nhồi các thứ vào trong, khâu kín lại, dán mắt dán miệng cho con thú nhồi…

Điều kiện vệ sinh tại trại lao động
(1) Nhà tù Tuanhe, Bắc Kinh Tôi bị nhốt cùng với hơn mười học viên Pháp Luân Công khác trong một phòng giam khoảng hơn 10 mét vuông. Chỉ có tám chiếc giường nhỏ trong phòng, vì vậy một số phải ngủ dưới sàn. Chúng tôi làm tất cả mọi việc trong một gian phòng ấy: lao động, ăn, uống và đi vệ sinh. Do vậy có rất nhiều ruồi muỗi. Chúng tôi chỉ được phép ăn vào một số thời gian đã định. Phải tiết kiệm nước từng chút một vì rất thiếu nước. Cai tù không bao giờ cho phép chúng tôi rửa tay trước khi ăn. Sau khi ăn, chúng tôi phải quay lại lao động ngay.
Hai ngày một lần, chúng tôi được dành ra 5 phút để làm vệ sinh cá nhân. Hết 5 phút, cai tù bắt chúng tôi phải dừng ngay để quay về phòng giam, và không được mang theo nước. Ai không hoàn tất công việc được giao sẽ bị cấm vệ sinh cá nhân. Do vậy, mọi người phải làm cho xong. Chúng tôi phải dậy từ sớm và làm đến khuya, không còn thời gian rửa ráy. Có định ra một số thời điểm cố định để dùng toa-lét, nhưng ngay cả như vậy, cũng phải xin phép cai tù rồi mới được đi. Mỗi lần như vậy được phép trong 2 phút. Vì thế, nhiều người không kịp đi nặng xong đã hết giờ. Chúng tôi chỉ được phép ngủ vào một thời gian nhất định. Nếu chưa đến giờ thì không được ngủ, chỉ có thể co ro lại nghỉ.
Ban đêm, lính gác vẫn luôn canh chừng, và chúng tôi được cấp một cái bô để dùng vào đêm. Lính gác luôn coi xét cả khi chúng tôi ngủ. Chúng tôi chỉ được phép ngủ rất ít, và bắt buộc lao động ngay từ khi mới mở mắt tỉnh dậy. Tay của tôi bị nửt nẻ, rớm máu và rộp nhiều chỗ vì phải lao động cực nhọc nhiều giờ mỗi ngày làm đũa. Tôi thường phải làm tới nửa đêm. Chúng tôi không được ngủ khi chưa làm xong việc. Chúng tôi bị bắt ép làm 16 giờ đồng hồ mỗi ngày.
Điều kiện vệ sinh cực kỳ thấp kém. Mặc dù trên bao bì của đũa ghi rằng sản phẩm đã được tẩy trùng, có thể dùng ngay xong rồi bỏ, nhưng thực ra toàn bộ quá trình sản xuất cực kỳ dơ dáy. Chúng tôi không hề được rửa tay và những chiếc đũa được đóng gói ngay trên sàn.
Nhà tù Tuanhe chỉ biết có tiền lời mà không xét gì tới yêu cầu vệ sinh của người tiêu dùng, và họ đã làm điều xấu này một cách ngang nhiên. Rất nhiều nhà hàng, khách sạn tại Bắc Kinh vẫn đang sử dụng loại đũa này. Thậm chí đũa của Trung Hoa còn được xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới, nhất là Nam Hàn-Nhật bản-Việt Nam- Taiwan-Singapore.
Nữ học viên Pháp Luân Công bị bắt làm các việc nặng nhọc. Chúng tôi bị bắt phải mang vác những thùng và bao hàng nặng cỡ 50 kg. Phải khuân vác chúng lên xe và xuống xe. Chúng tôi bị bắt phải đào lỗ, trồng cây và chuyên chở phân bón. Cảnh sát cai ngục tuỳ tiện sử dụng nhân công tù nhân phục vụ để kiếm tiền bất chính. Chúng tôi bị bắt buộc lao động nhiều giờ mỗi ngày, nhưng không bao giờ nhận được một xu tiền công.
(2) Trại cải tạo Xin’an ở Bắc Kinh
Lao động khổ sai thực chất đã khiến cả thể xác và tinh thần chúng tôi bị giam cầm. Cảnh sát ngăn cản không cho chúng tôi ngủ ngoài giờ được phép. Còn khi có việc thì chúng tôi phải làm ngày làm đêm để thoả mãn số lượng, chất lượng sản phẩm trong thời gian ngắn nhất. Tất cả công việc trong trại cải tạo đều là lao động căng thẳng.
Các học viên Pháp Luân Công phải làm việc đến nửa đêm trong ánh sáng mờ tối. Ai cũng phải hoàn thành công việc của mình. Nếu không xong phần việc được giao, thì không được ngủ, mà phải thức để làm cho xong. Một lần chúng tôi phải làm đồ khuyến mại cho hãng Netslé, đó là những tấm thêu và đan. Để thoả mãn thời hạn giao hàng, chúng tôi bị bắt phải làm ngay cả khi đi vệ sinh cho tới hai giờ sáng. Đôi lúc phải làm thâu đêm cho tới sáng.
Họ không cho chúng tôi thời gian dù chỉ để suy nghĩ một cách cẩn thận mọi việc. Họ dùng lao động liên miên làm một phương pháp kiềm chế tư tưởng của tù nhân. Không còn thời gian suy xét, không còn thời gian để trao đổi với nhau.
Cảnh sát dùng những tội phạm nghiện hút để “chuyển hoá” và theo dõi các học viên Pháp Luân Công. Họ muốn chúng tôi biến thành những cỗ máy chỉ biết làm việc. Mùa hè khi tới những hôm trời nóng, có một số tù nhân không chịu nổi nên đã ngất đi. Nhiều học viên Pháp Luân Công đã phát bệnh như bệnh tim do làm việc quá sức. Thân thể bị biến dạng.
© Wang Bin
Nguồn: blog Phạm Viết Đào.

Bài Xem Nhiều