We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 31 March 2012

TƯỜNG TRÌNH LỄ NGHÊNH ĐÓN THI HÀI NGƯỜI ANH HÙNG CHẾT CHO QUÊ HƯƠNG TÂY TẠNG TỰ DO



Kính thưa qúy Liệt Vị Tôn Trưởng Đồng Hương quan tâm,


Như đã thông báo, hôm nay thứ sáu ngày 30/03/2012 tai Dala Latma Temple. Mcleod Ganj Dharamshala, có buỗi lễ nghinh đón thi thể Người thanh niên Tây Tạng tự thiêu phản đối chính sách cai trị dã man của cộng sản Tàu đối với người dân Tây Tạng khi có sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào tại New dehli ngày 26 tháng 03 vừa qua.

Từ mờ sáng đã có từng đoàn người lũ lượt kéo về Latma Temple hàng ngàn người giăng tay trên đoạn đường xe quan tài sẽ đi qua.


Buổi lễ kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ với trùng điệp người tham dự sau những nghi thức tưởng niệm cầu nguyện, những lời kêu gọi “Side-by Side” cùng nhân dân Tây Tạng, được vang dội tiếng đáp lời. Cái chết lẩm liệt của thanh niên yêu nước đã làm rúng động trái tim nhân loại. Cái chết làm muôn vạn người cúi đầu.


Đoàn đại biểu Chính Phủ Tây Tạng lưu vong và những khách mời danh dự lần lượt đến chiêm bái trước linh cữu. Có những cụ gìa tóc bạc phơ qùy lạy, trong ràn rụa nước mắt,

đúng như lời người xưa thường nói “Anh Hùng không có tuổi”.

Chúng tôi Lê Chân phóng viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng cũng đã lạy người 3 lạy trước quan tài.



Với  nổi xót xa những giọt nước mắt chảy ngược giòng, tôi đang khóc cho Người hay khóc cho chính tôi, dân tộc Việt Nam trang sử oai hùng đâu thiếu những anh hào nữ  kiệt.

Hơn nữa thế kỷ qua bất hạnh cho Tổ Quốc tôi phải rơi vào tay tập đoàn vong nô bán nước đã hủy diệt và băng hoại tinh thần bất khu ất của tiền nhân.


Nhưng  tôi tin mãnh liệt trong giòng máu kiên cường của dân tộc luôn  tìềm ẩn trong những trái còn tràn trề nhiệt huyết. Dân tộc Việt Nam đã có biết bao Anh Hùng đi vào lịch sử.


Hỡi tuổi trẽ Việt nam hãy cùng nhau làm nên lịch sử hôm nay.

Trong buổi lễ chúng tôi cũng nhận thấy có những  quốc Kỳ của những quốc gia hỗ trợ Tự Do Tây Tạng hiện diện hôm nay gồm có. Hoa Kỳ, Australia, Nam Hàn và Việt Nam Tự Do cờ vàng 3 sọc đỏ.



Tôi lạy Em người Anh Hùng tuổi trẻ

Giờ anh linh siêu phách tận niết bàn

Một cái chết vô cùng vĩ đại

Để muôn đời lưu lại tuổi tên



Tuổi trẻ ơi! Người con dân nước Việt

Tổ quốc đang cần tấm gương dũng liệt

Dân tộc đang quằn đau rên xiết

Dậy, dậy đi Nước Việt đã mất rồi.



 Mcleod Ganj ngày 30/03/2012



Lê Chân Phóng Viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng

Video Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương

Video 1: Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương




Video 7: Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương


DẬY, DẬY ĐI


Việt Nam ơi! Bên kia biển trời,

Đồng bào ta tang thương một đời.

Giặc Tàu đang tràn sang biên giới,

Nga chiếm rồi chiến lược Cam Ranh.



Mỹ cạnh tranh xây lò nguyên tử,

Cuộc thi hùng bá chủ Biển Đông.

Bầy sói dữ thi nhau banh xé,

Trên thân mệnh của Mẹ Việt Nam.



Quê hương ơi! Quyền lợi bạo cường,

Sao dân tôi trả bằng máu xương?

Đồng bào ơi! Tổ quốc tang thương,

Bùng bùng lên cứu lấy Quê hương.



Tỉnh dậy đi hỡi ai say ngủ!

Giặc tràn vào tứ phía phủ vây.

Núi thây, biển máu đến rồi đây,

Hồn núi sông rền vang tiếng "Dậy!"



Dậy dậy đi! Hỡi người dân Việt!

Dậy dậy đi! Trái tim tâm huyết!

Vạn con người thét tiếng Hy Sinh,

Vì non sông hiến dâng thân mình.



Ai cũng sống một lần rồi phải chết,

Khác nhau chăng chết để sống muôn đời.

Vì non sông ta trổi dậy đáp lời,

Việt Nam ơi! Tổ quốc trong tim tôi.



LÊ CHÂN

Để được sống có tự do và trách nhiệm...


Mỗi năm, cứ đến mùa chay của Kitô giáo thì tôi lại nghiệm ra một điều: càng kiêng cữ thì càng thèm! Cuộc sống không chỉ đơn giản chỉ có “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” như cụ Tú Xương đã phải “xưng thú” với bà tú. Như sóng biển khơi trùng trùng điệp điệp, trừ được cái này thì cái khác lại trồi lên.
Đa số những kiêng cữ của tôi đều gắn liền với sức khỏe. Vì muốn sống khỏe, sống lâu và nhứt là để khỏi phải trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội, tôi thấy mình thành công một cách dễ dàng trong việc đối đầu với những cái “lăng nhăng”. Cũng may, nhờ tiến bộ của khoa học, tôi được giải tỏa khỏi nhiều sự thèm khát mà lâu nay tôi cứ phải kìm hãm. Chẳng hạn như trứng gà. Trước đây tôi cứ phải “đấu tranh tư tưởng” mỗi khi nhìn thấy trứng. Nay những khám phá mới lại bảo rằng tôi có quyền ăn “thả giàn” mà chẳng phải sợ “mỡ máu” (cholesterol xấu) gia tăng dẫn đến các bệnh về tim mạch. Khi biết có “quyền” thì tự dưng không cần ăn “phụ trội” tôi vẫn thấy bớt thèm.
Mới đây, trên báo mạng “Calitoday”, tôi lại được giải thoát thêm khỏi một mặc cảm khác khi đọc được một bài viết về ích lợi của rượu bia. Từ hơn 20 năm nay, cũng vì lý do sức khỏe, tôi đã thề thốt bỏ rượu bia và tôi đã thành công. Nhưng ý chí của tôi đã không thể đè bẹp được sự thèm khát trong tôi. Thấy bạn bè chén chú chén anh mà tôi thấy nóng ran cả người. Nhấp vài giọt vẫn thấy ngon và có khi còn ngon hơn cả cái thời còn sung sức. Nhưng nghĩ đến những tác hại của rượu chè, tôi lại đành nhìn bạn bè để cười trừ và xin được “tha” cho.
Bài báo mà tôi đọc được trên Calitoday viết rằng nếu uống chừng mực thì rượu bia mới có ích lợi cho sức khỏe. Theo bài báo, những nghiên cứu mới cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ một đến 2 lon bia mỗi ngày, nhứt là bia làm bằng lúa mạch. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm đi 31 phần trăm nơi những người uống bia chừng mực, trong khi nguy cơ này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành sạn thận đến 40 phần trăm, bởi vì calcium trong bia sẽ giúp cho xương được cứng hơn và không gây sạn trong thận.
Điều đáng chú ý là bài báo khẳng định rằng bia có tác dụng chống lão hóa. Dựa vào một thống kê so sánh 11 ngàn phụ nữ lớn tuổi thì những vị uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn đến 18 tháng tuổi so với những người không uống bia.
Ngoài ra, lại càng là một tin mừng hơn khi bài báo viết rằng bia giúp giảm nguy cơ bị ung thư, tiểu đường, tăng trưởng chất bổ trong cơ thể, giúp chống liệt não, giảm bệnh cao huyết áp và nhứt là gia tăng tuổi thọ...
Theo bài báo, kết quả trên đây dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu tại Hoa kỳ cũng như nhiều nước Âu châu. (x. Calitoday 23/3/2012)
Thời buổi khoa học này, người ta luôn “nói có sách mách có chứng”. Tôi tin tưởng ở những kết quả nghiên cứu khoa học. Nhưng tôi cũng thú nhận rằng gần đây, tôi bắt đầu ngờ vực về tính thuyết phục của khoa học. Chỉ riêng về bệnh tật và thuốc chữa trị, hôm nay người ta bảo thế này, ngày mai người ta lại nói ngược lại. Những lý thuyết khoa học đã từng ngự trị cả thế kỷ nay lại bị lung lay. Đừng nói gì đến thuyết tiến hóa mà cho tới nay nhiều nhà khoa học tên tuổi vẫn chưa chịu chấp nhận (x. John Ashton, in six days, why scientists choose to believe in creation), ngay cả thuyết tương đối của người được bầu là nhà khoa học vĩ đại nhứt của thế kỷ 20 là Albert Einstein nay cũng bị đặt lại vấn đề (x. Lê Tất Điều, Ngày tàn của một ảo ảnh, Việt luận, 24/2/2012). Tưởng vững như bàn thạch và sẽ vĩnh viễn ngự trị trong không gian khoa học và cách suy nghĩ của con người, nay thuyết này xem ra đang bị đào thải. Sở dĩ có chuyện “động trời” này là vì mới đây Tổ chức Nghiên Cứu Hạt Nhân Âu Châu gọi tắt là CERN (European Organization for Nuclear Research) có trụ sở gần Geneve, Thụy sĩ, đã chứng minh được rằng những hạt vi mô “Neutrinos” đã có thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Như vậy “lệnh cấm tuyệt đối” của Einstein không cho bất cứ vật thể nào trong vũ trụ được phép vượt qua tốc độ của ánh sáng đã bị đánh đổ và do đó thuyết tương đối được xây dựng trên “lệnh cấm” này cũng bị lung lay.
Các lý thuyết khoa học xem ra cũng giống như sóng biển. Lý thuyết này xuất hiện, chi phối cách suy nghĩ và nghiên cứu khoa học một thời gian rồi...chết. Lý thuyết kia lại trồi lên và đảo lộn những lý thuyết đến trước. Vũ trụ vật chất vẫn mãi mãi là một bí ẩn mà trí khôn con người xem ra không thể nào múc cạn.
Cái thế giới thuần vật chất là vũ trụ vẫn mãi là một bí ẩn đã đành, mà cái tiểu vũ trụ vừa là vật chất vừa là tinh thần là con người lại càng phức tạp và không ngừng vượt khỏi tầm tay với của chính trí khôn con người hơn. Khoa học càng tiến bộ thì châm ngôn “dủ học dủ ngu” lại càng đúng. Thành ra, tự cho mình có thể chọc thủng được bức màn bí ẩn của con người và giản lược mọi sinh hoạt của con người vào chiều kích khoa học là một thái độ ngạo mạn, nếu không muốn nói là ngu xuẩn.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc được bài tiểu luận của chuyên gia tâm thần học Tanveer Ahmed được đăng trên báo The Sydney Morning Herald số gần đây. Theo tác giả, ngày nay, những nỗ lực tìm kiếm những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đều đặt nền tảng trên ý niệm cho rằng kinh tế học cũng là một bộ môn khoa học giống như vật lý và sinh hóa học, nghĩa là cũng có thể cân lường, đong đếm...Cái nhìn này cũng lại xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sinh hoạt của con người cuối cùng đều giản lược vào hoạt động trong não bộ. Người ta cho rằng từ tình yêu, ý thức, đến ý thơ, niềm tin tôn giáo, cuộc sống xã hội... xét cho cùng cũng chỉ là một chuỗi những hoạt động của “gen” và các tế bào não. Giản lược những cảm xúc và tâm tình cao quý nhứt trong con người thành những bản năng hoàn toàn như nơi thú vật tưởng là chuyện “cường điệu” nhưng lại là cái nhìn trổi vượt về con người trong đầu thế kỷ 21 này. Phim ảnh, báo chí không ngừng cổ võ cho quan niệm xem mọi sinh hoạt của con người đều được quyết định từ trong bào thai. Không thiếu cái giọng điệu cho rằng “cứ 4 đứa trẻ sinh ra thì có một đứa mang sẵn trong người cái “gen” không chung thủy”; có những người “bẩm sinh” là kẻ giết người (natural born killer)...Có sống đạo đức được cũng là do “gen” di truyền. Mà có phạm tội ác thì cũng chỉ là do bẩm sinh. Phân tách cho đến cùng, trong con người chẳng có tự do và trách nhiệm gì cả!
Sở dĩ có cái nhìn giản lược như thế là vì một phần do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, do những khám phá về hệ “gen” di truyền trong con người. Trong 2 hoặc 3 thập niên vừa qua, cuộc nghiên cứu về não bộ và tác động của não bộ đối với cách hành xử của con người đã trở thành một trong những ngành nghiên cứu hàng đầu. Chúng ta biết rằng trong não bộ có trên 100 tỷ tế bào thần kinh và mỗi một tế bào lại liên kết với hàng ngàn tế bào bên cạnh. Chúng ta cũng biết đến nhiều trung tâm chức năng khác nhau trong não bộ, mỗi trung tâm có trách nhiệm và bổn phận khác nhau.Thần kinh học là ngành có nhiều khám phá kỳ thú nhứt. Không có một tuần lễ qua đi mà các nhà khoa học không loan báo một khám phá mới liên quan đến thần kinh hệ. Chính vì vậy mà hiện nay nhiều sinh hoạt khác của con người cũng bắt đầu gắn liền với hai chữ “thần kinh”. Muốn làm những quyết định kinh tế tốt thì cần phải quan tâm đến hoạt động của não bộ. Ngay cả một số triết gia cũng liên kết hai chữ “đạo đức” với thần kinh hệ.
Tưởng hai chữ “thần kinh” chỉ giới hạn trong giới hàn lâm và nghiên cứu. Nay người ta cũng áp dụng nó vào việc soạn thảo các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội. Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã thành lập nguyên một bộ chuyên áp dụng những hiểu biết của khoa thần kinh học vào việc soạn thảo các chính sách. Tại Anh quốc, một trong những việc đầu tiên mà thủ tướng David Cameron thực hiện khi lên cầm quyền là thiết lập Đơn vị nhận thức về hành xử (Behavioural Insight Unit), tức một nhóm chuyên gia đặc trách về việc soạn thảo chính sách dựa trên những khám phá của môn thần kinh học. Tại Hoa kỳ, tổng thống Barack Obama dường như cũng chạy theo khuynh hướng ấy để đề ra các chính sách về xã hội.
Theo ông Ahmed, nỗ lực không ngừng để tìm hiểu và đào sâu bản chất con người là điều đáng ca ngợi. Nhưng sẽ là điều nông nổi khi xử dụng khoa thần kinh học và thuyết tiến hóa để tìm hiểu sự sống con người hay đề ra chính sách xã hội.
Tác giả viết rằng những ai muốn xử dụng khoa học để giải quyết những vấn đề thực sự của con người thường phải giản lược chúng thành những vấn đề “kỹ thuật”, nghĩa là như một bài toán mà giải đáp đều có thể tìm thấy nếu theo đúng một quy trình.
Tác giả kết luận: “Khi tiến trình này được áp dụng cho con người, dù là trong kinh tế, sức khỏe tâm thần hay những ứng dụng thời thượng của khoa thần kinh học, thì kết quả không thể tránh khỏi là con người bị xem như đi thụt lùi.” (x. The Sydney Morning Herald, 10-11/3/2012)
Dĩ nhiên, “thụt lùi” từ con người xuống hàng súc vật. Sau năm 75, người Việt nam chứng kiến cái bước “thụt lùi” ấy rõ rệt và đau đớn hơn ai hết. Câu nói đầy mỉa mai “người xuống làm súc vật để cho súc vật lên làm người” hẳn đã diễn tả được cái thực trạng ấy một cách bi thảm. Những kẻ tự cho mình có sứ mệnh “giải phóng” đã dựa vào thuyết tiến hóa được tiếp thu một cách ngu xuẩn và chủ nghĩa vô thần được tuyên xưng một cách cuồng tín để tước đoạt nhân phẩm của người đồng bào ruột thịt của mình. Kết quả của bước “thụt lùi” ấy là gì nếu không phải là điều mà tác giả Hà sĩ Phu gọi là “cuộc tổng khủng hoảng về nhân cách”, luân thường đạo lý bị bứng khỏi lòng người, ý thức về thiện ác hoàn toàn bị xóa bỏ, tính tham lam và độc ác được khuyến khích đến mức tối đa...Những người trong nước còn có chút ý thức về thiện ác cứ phải gào lên đến khàn cổ để báo động về tình trạng “tụt hậu nhân cách”, “xuống cấp đạo đức”...Quả thực, cái phần “người” trong “con người” hầu như đã bị xóa sạch để nhường chỗ cho phần “con”, tức thú tính.
Ở những ngày trước kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư “Đen”, làm sao mà tôi không nghĩ đến cái “lỗ hổng đạo đức” ấy trong xã hội Việt nam hiện nay. Bởi vì nó không chỉ là cái “lỗ” nữa nó đã trở thành một “vực sâu không đáy” nuốt trôi đi không biết bao nhiêu tư cách con người.
Riêng tôi, sống những ngày “chay tịnh” để chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi cảm thấy phải ý thức hơn về “nhân phẩm”, tức tư cách con người của mình. Tôi tin như Kinh Tin Kính rằng con người vẫn mãi mãi là một “huyền nhiệm” mà chẳng có “thước đo” nào có thể vừa và cũng chẳng có bộ môn khoa học nào có thể khám phá và hiểu cho đến cùng. Với tôi, cũng chẳng có khám phá khoa học nào quan trọng cho bằng sự kiện nhân cách, địa vị và phẩm giá con người được tôn trọng và ghi chép trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhân cách hay phẩm giá cao cả của tôi mang lại cho tôi tự do và đồng thời cũng đòi hỏi tôi phải có trách nhiệm. Với tôi, mục đích của chay tịnh, tức tiết độ trong cách ăn uống, phục sức và nhứt là suy nghĩ và đối nhân xử thế, là để giúp tôi quý trọng chính mình, được sống có tự do và trách nhiệm hơn, bởi vì sống là tiến tới chứ không phải “thụt lùi” trong nhân cách.
Đến tuổi này, liệu có “muộn màng” để thấy rằng được làm Người là một Ân sủng?
Chu Thập

Chủ Đề 30.4: XIN CỨU CHÚNG TÔI RA KHỎI HỎA-NGỤC


XIN CỨU CHÚNG TÔI


RA KHỎI HỎA-NGỤC (CH15)


(Câu chuyện của những người Việt Nam tranh đấu dành tự do)
Nguyên tác: DELIVER US FROM EVIL
Tác giả: THOMAS A. DOOLEY, M.D., 1956
Dịch giả: Trần Tú Uyên
"Câu chuyện lịch sử kể lại những kinh-nghiệm dị-thường của một vị Quân-Y-Sĩ Hải-Quân Hoa-Kỳ sống giữa những nạn nhân Việt-Nam bị Cộng-Sản khủng-bố."
Chương XV: Chính Sách Cải Tạo Tư Tưởng Của Cộng Sản. (Phần 1)
Thiếu nhi Việt Nam không có tuổi thơ. Hay nói cách khác, tuổi thơ của các em bị cướp đi mất trước khi kịp lớn lên. Tuổi thơ chưa kịp đến, các em đã trở thành chín chắn và dày dặn , và ... các em cũng rất là gan dạ.
Một số các em tạm trú và làm việc cho chúng tôi trong trại hàng nhiều tháng trời. Các em chỉ khoảng chừng tám đến mười tuổi, có em lớn nhất là khoảng mười hai tuổi, mà đã phải làm những công việc của người lớn, ngoại trừ những trách nhiệm khi các em có thể xin thuốc lá vì các em còn hút thuốc lá như người lớn.
Mỗi một người y tá quân đội của tôi có khoảng chừng sáu hay bẩy em phụ tá cho họ. Cái phù hiệu danh dự là chiếc nón Hải Quân mầu trắng. Các em ngày đêm đeo theo tôi như một đoàn tùy tùng, và đôi khi làm cho tôi mất tự nhiên. Các em có thể dắt tôi đến thăm một bà già yếu ớt không đủ sức đi ra khỏi lều, hoặc là đưa tôi đến thăm một người đàn ông tàn phế. Các em đi làm những chuyện vặt cho tôi, tìm kiếm những đồ vật mà tôi cần, nấu nước nóng cho căn lều bệnh. Thỉnh thoảng các em còn giặt giũ quần áo cho tôi, thế nhưng trong những trường hợp đó các em có thói quen giặt quần áo của tôi dưới ruộng lúa và tôi không tán thành việc đó. Và đôi khi các em cưỡi xe vận tải của tôi chỉ để vui đùa giống như là ... trẻ con.
Trong những tháng ngày tôi sống trong những khách sạn Hải Phòng, các em cũng tìm đến ngủ ngoài hiên cửa phòng của tôi. Các em thường làm liên lạc viên khi có những người tỵ nạn mới đến và cần sự giúp đỡ cấp thời.
Bất cứ giờ khắc nào mà ông Ham, hay những nhân viên chính quyền Việt Nam, cần gặp tôi, ông chỉ cần nhận ra một em bé với chiếc "nón hải quân", hoặc là một em bé đánh giầy, và nói với em rằng "tìm Bác Sĩ Mỹ."
Khi có một trong những người phụ tá của tôi phải xuôi Nam, chúng tôi thường có một bữa tiệc tiễn chân nho nhỏ. Do đó, vào ngày chính thức tiễn đưa, "Quan Hai", hay là Lieutenant, sẽ ủy thác cho người phụ tá của ông ta là "Quan Một" hay là Ensign trong quân ngũ Hải Quân. Cái lon "Quan Một" gắn trên cổ áo ông ta và cái cảm giác quan trọng của ông ta tăng lên mà người ngoài nhìn vào cũng có thể cảm thấy điều đó. Tôi hy vọng rằng Phòng Nhân Viên của Hải Quân Hoa Kỳ sẽ hiểu khi họ nghe về sự tuyển mộ bất bình thường của tôi.
Việt Minh (tức là Việt Gian Cộng Phỉ. Từ đây dịch giả gọi là Việt Gian Cộng Phỉ cho chính xác) chú trọng đến sự "tuyên truyền" của họ vào trẻ em, và vị thành niên, với những bài tuyên truyền dài tràng giang đại hải để các em bé này mang những lời tuyên truyền đó về tuyên truyền trong gia đình. Lần đầu tiên tôi mới từng chứng kiến những hậu qủa của lớp học "Học Tập Cải Tạo" của Cộng Phỉ vào một buổi chiều tháng Mười Hai, và cũng là một điều vô cùng tàn nhân mà tôi chưa từng bao giờ thấy ghi chép trong lịch sử của nhân loa.i.
Sau khi thiết lập xong những vùng kiểm soát trong ngôi làng ở Hải Dương, Bọn Việt Gian Cộng Phỉ đến thăm một ngôi trường làng và bắt bẩy em bé ra khỏi lớp học và mang ra ngoài sân trường. Các em bị trói ngoặt cánh tay về phía sau lưng. Rồi sau đó chúng mang một vị giáo viên trẻ tuổi với cánh tay cũng bị trói ngoặt về phía sau lưng. Và bây giờ thì lớp học "Cải Tạo Tư Tưởng" bắt đầu.
Với giọng nói lớn và đủ để những em bé khác còn may mắn ở trong lớp học có thể nghe rõ, bộ đội Cộng Phỉ kết tội các em là "phản động". Một "người yêu nước" đã báo cho công an là vị giáo viên này đã tụ họp một lớp học bí mật vào ban đêm, và chủ đề của lớp học là về tôn giáo. Họ còn dám đọc giáo lý nữa.
Bộ đội Cộng Phỉ kết tội bẩy em bé là "âm mưu phản động" bởi vì các em đã giám nghe những lời giảng dậy về giáo lý của vị giáo viên này. Để trừng phạt tội này, chúng sẽ tước bỏ nhĩ quan của các em để không bao giờ còn có thể nghe được những lời lẽ giảng dậy của ma qủy.
Sau khi "tuyên án", hai tên bộ đội Việt Minh đến từng em một, và một tên giữ chặt đầu em bé vào giữa hai bàn tay của hắn. Còn tên khác thì dùng hết sức lực của người lớn mà đóng chiếc đũa vào mỗi cái lỗ tai. Chiếc đũa đâm toạc vào lỗ tai và xé thủng màng tai. Tiếng kêu khóc thảm thiết rợn người, của giọng trẻ thơ chưa kịp vỡ tiếng, vang dậy ra khắp làng.
Với hai lỗ tai bị hai chiếc đũa đâm thủng, các em bé lăn lộn dưới sân trường và gào khóc thảm thiết với sự chịu đựng đau đớn thê thảm. Vì haiy cánh tay đã bị trói ngoặt về phía sau lưng, các em không thể nào rút được hai chiếc đũa ra khỏi lỗ tai. Các em chỉ còn cách lúc lắc cái đầu và vặn vẹo với hy vọng rằng hai chiếc đũa sẽ rơi ra. Cuối cùng thì các em cũng đã làm cho hai chiếc đũa rơi được ra khỏi lỗ tai bằng cách chà đầu xuống mặt đất.
Đối với vị giáo viên thì phải ngăn ngừa ông ta không được dạy học nữa. Sau khi bị bắt buộc phải chứng kiến những hành vi tàn bạo đối với học sinh của ông ta, vị giáo viên phải gánh một hình phạt còn ghê rợn hơn như thế cho chính ông ta. Một tên bội đội Cộng Phỉ giữ đầu của vị giáo viên trong khi đó thì một tên bộ đội khác dùng chiếc kìm sắt kẹp lưỡi của nạn nhân và kéo dài ra ngoài. Tên thứ ba dùng dao găm cắt đứt đầu lưỡi của vị giáo viên. Máu trào ngược vào cuống họng và phún ra từ lỗ mũi của nạn nhân xuống mặt đất. Vị giáo viên không thể la hét được một tiếng nào vì máu trong lưỡi đã trào đầy cuống họng. Khi những tên bộ đội Cộng Phỉ buông tay ra, ông ngã lăn ra mặt đất và ói ra máu; mùi máu tanh tưởi tràn ngập cả sân trường.
Trong sự đau khổ cùng cực và không lối thoát, thì chỉ có cái chết là con đường giải thoát. Cả vị giáo viên và học trò của ông đã không được chết mà họ bị sống với cuộc đời tàn phế và đau khổ dưới tận cùng vực thẳm của điạ ngục trần gian.
Khi cái tin tàn bạo này truyền qua những bức màn tre của ngôi làng, mọi người đều phối trí kế hoạch bỏ đi tỵ nạn, và không bao lâu sau vị giáo viên và học trò của ông đã có mặt ở căn lều số 130 ở Trại La Pagode.
Chúng tôi đã tận sức chữa trị cho các nạn nhân, dù sao khả năng y khoa của con người cũng chỉ có giới hạn. Tôi đã khâu hai lớp da lưỡi lại với nhau để khép kín lớp thịt bị cắt đứt. Nạn nhân đã bị mất rất nhiều máu, bởi vì chúng tôi không có hệ thống truyền dẫn chất dinh dưỡng cho nên chúng tôi chỉ có thể nuôi nạn nhân bằng thức ăn lỏng bằng miệng. Vị giáo viên không ăn được gì cả, dù là cơm. Đối với các em bé nạn nhân, ngăn ngừa vết thương trong hai lỗ tai khỏi bị làm độc là điều cần thiết hơn cả. Thuốc penicilline đã ngừa được vấn đề làm độc, thế nhưng không có gì có thể mang lại được nhĩ quan cho các em.
Mục đích của quyển sách này không phải là để làm cho độc gỉa ghê tởm hoặc là để nhấn mạnh vào vấn đề ghê rợn của sự tra tấn hành hạ của Cộng Sản. Tôi chỉ thành khẩn muốn cho độc giả thấy được sự thật về số phận của những người dân ở vùng Tam Giác Sông Hồng Hà. Và lẽ công bằng đòi hỏi, ít nhất, là những sự bạo tàn của Cộng Sản mà chúng tôi đã chứng kiến ở Hải Phòng phải được ghi chép lại cho hậu thế.
Vào lúc nửa đêm một ngày gần lễ Chúa Giáng Sinh, tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng gõ của phòng khách sạn. Hai em bé trai hối hả hỏi tôi có thể đi theo các em ngay lập tức. Tôi tưởng rằng các em đến từ trại tỵ-na.n, và có chuyện ở đó cần sự giúp đỡ của tôi. Thế là tôi liền nhanh nhẹn thay quần áo và chạy ra xe cam nhông. Trong khi tôi đang lái xe hướng về phía đường lớn thì các em hướng dẫn tôi rẽ vào con đường bờ ruộng giữa hai ruộng lúa. Tôi không hiểu các em muốn tôi đi đâu, nhưng các em tỏ vẻ nghiêm trọng và chỉ đường cho tôi lái quanh co thêm vài trăm thước đến một túp lều rơm.
Tôi cong lưng xuống bước luồn qua phiến cửa rơm thấp, và trước nhất là nhận ra bên trong tối mù, kế đến là ngạc nhiên với sự rộng lớn bên trong túp lều. Một ngọn đèn dầu leo loét trong góc lều và gần đó những bóng người qùy gối gồm một ông lão, bà lão, và nhiều em bé trai đang lâm râm đọc kinh cầu nguyê.n.
Họ chào đón "Bác Sĩ Mỹ" bằng cách chắp tay trước ngực và cúi đầu theo phong cách của người Á Đông. Sau đó tôi nhận ra một người đàn ông nằm trên tấm nệm rơm với khoảng tám hay chín khúc tre kết thành cái cáng thô sơ. Nét mặt ông ta nhăn nhó, thống khổ, và môi ông ta nhúc nhích cầu nguyện mà không phát ra được âm thanh.
Tôi nhẹ tay kéo cái mền dơ bẩn phủ trên người ông, và phát hiện ra cơ thể ông ta đầy rẫy những vết bầm tím từ trên vai xuống đến đầu gối. Bụng ông ta bị sưng cứng lên và cái bìu giái ông ta bị sưng lớn bằng trái banh football. Bắp đùi ông bị cong méo một cách gớm ghiếc. Đây là một hình ảnh ghê rợn nhất trong đời tôi chưa từng thấy. Chỉ với ý tưởng chạm vào người ông ta cũng đủ cảm thấy gớm ghiếc. Một hình ảnh vô cùng ghê sợ mà không bút mực nào tả xiết.
Tôi mất bình tĩnh vì kinh hãi và cảm thấy buồn nôn trước hình ảnh ghê tởm, không kềm chế được cơn ói mửa và tôi bỏ chạy ra ngoài. Bên trong chiếc lều rơm tôi vừa mới được chứng kiến một kiệt tác của phương pháp tra tấn khủng bố của Cộng Sản. Đứng giữa trời, tôi nôn mửa cho đến không còn gì trong bụng. Tôi thành thật biết ơn những người bên trong căn lều rơm vì họ đã không theo tôi ra ngoài; tôi nghĩ rằng nếu có thì họ cũng sẽ thông cảm cho tôi kể cả bệnh nhân.
Tôi không biết là thời gian đã trải qua bao lâu để tự lấy lại bình tĩnh, nhưng cuối cùng thì tôi đã có đủ can đảm và sự quân bình về xúc cảm và trở lại căn lều cỏ để săn sóc cho “cơn ác mộng của nhân loại” này. Thế nhưng tôi không phải là thần thánh mà chỉ là một bác sĩ quân y tầm thường. Để săn sóc cho sự đau đớn của ông, tôi chỉ có thể cho ông một mũi thuốc morphine. Cho cái bụng sưng cứng của ông, tôi không thể làm được gì nhiều cho ông, bởi vì lớp da bên ngoài không bị đứt ra nhiều hơn ba hay bốn chỗ. Tất cả đều là nội thương, các mạch máu đều bị vỡ tung ra ở dưới da và tạo thành những vết bầm tím đã ngả mầu vàng-tím. Tôi xuyên một mũi kim tiêm (kim chích) vào bìu dái của ông để tháo máu độc đã hoà vào với nước vàng cho chẩy ra ngoài. Sau khi ông bớt đau đớn một chút thì tôi gắn cái ống và bao dẫn nước tiểu vào bọng đái để ông có thể đi đái ra ngoài bao. Ngoài ra, tôi còn có thể làm gì được nhiều hơn như thế nữa?
Tôi hỏi bà lão là bộ quỷ Sa Tăng đã xâm chiếm mảnh đất này hay sao mà chuyện bất hạnh gì đã xảy ra cho con người đáng thương này. Bà cho tôi biết rằng người đàn ông đó là anh/em trai của bà, ông là một linh mục Công Giáo, từ Giáo Xứ Vĩnh Bảo, chỉ cách khoảng ở ngay bên kia Bức Màn Tre và không cách xa Hải Phòng hơn mười ký lô mét.
Vùng này mới bị lọt và vòng kiểm soát của Việt Gian Cộng Phỉ chỉ có khoảng chừng bẩy tháng và người Quốc Gia chưa bị hoàn toàn “tẩy não” và “cải tạo” đời sống theo Cộng Phỉ. Các linh mục vẫn còn được phép dâng Thánh Lễ hàng ngày, như chỉ được dâng Thánh Lễ vào khoảng thời gian từ sáu đến bẩy giờ sang. Đây cũng là khoảng thời gian mà đa số các nông dân mới bắt đầu ra ruộng làm việt buổi sáng và, dưới điều luật mới của Việt Gian Cộng Phỉ đặt ra, đó cũng là thời gian mà dân trong Giáo Xứ phải tập họp ở sân đình để “học tập” về “lao động vinh quang” mỗi ngày kể cả ngày thường và ngày nghỉ.
Như thế có nghiã là họ không có thể đến dự Thánh Lễ của cha xứ dù là ngày thường hay ngày Chúa Nhật. Do đó có một số người vẫn dám liều lĩnh để thờ phượng Chúa, và vị linh mục can đảm 57 tuổi đã dâng Thánh Lễ vào buổi chiều. Dĩ nhiên là bọn Việt Gian Cộng Phỉ biết chuyện và chúng quyết định tuyên án cho vị linh mục này là “cần được học tập cải tạo tư tưởng.”
Buổi chiều tối ngày hôm trước, cán bộ Cộng Phỉ đến tìm vị Linh Mục khi đang dâng lễ trước bàn thờ Thiên Chúa, và kết tội ông là “hội họp bí mật” và ra lệnh cho ông ngưng Thánh Lễ. Ông trả lời với thái độ quật cường là không có cửa địa ngục nào có thể cản trở được ông giảng dạy lời của Thượng Đế. Và thế là cán bộ Việt Gian Cộng Phỉ bắt ông đưa đi và cho ông “học tập cải tạo tư tưởng” như thế này: chúng trói ông lại và treo hai chân ông lên trên xà ngang trên mái nhà, để lộn ngược đầu ông gần xuống mặt đất nền nhà, sau này ông nói, “ Thỉnh thoảng tôi phải chống tay xuống đất để khả dĩ có thể làm giảm bớt áp xuất ở hai chân.”
Với những cây roi bằng tre, cán bộ Cộng Phỉ bắt đầu đánh liên tục để cho “ma qủy xuất ra khỏi người ông”. Chúng liên tục thay phiên nhau đánh đập ông trong nhiều giờ đồng hồ. Chúng chủ tâm đánh vào những bộ phận nhậy cảm trên cơ thể ông để gia tăng sự đau đớn. Vị linh mục nói, “Thật là vô cùng đau đớn.” Quả thực là vô cùng đau đớn lắm vậy.
Sauk hi đánh ông thỏa thuê, chúng bỏ ông trong trạng thái treo ngược như thế cho đến sang ngày hôm sau, các cậu bé giúp lễ đã tìm được ông và các em cố tìm mọi cách cởi trói và mang ông xuống. Các cậu bé này chỉ khoảng chừng tám đến mười tuổi, và các em chạy đi tìm cha mẹ, đang bị “cưỡng bách học tập chủ nghiã Cộng Sản”, và họ đồng bật khóc thổn thức khi nghe hung tin.
Các vị phụ huynh chỉ dạy cho các em bé phải làm gì xong rồi chào tạm biệt, và họ biết rằng lời chào tạm biệt bây giờ cũng có thể là lời chào vĩnh biệt suốt đời. Các em bé sắp xếp và cộng những ống tre lại với nhau để có thể xử dụng như cái cáng khiêng bệnh nhân và có thể nổi trên mặt nước như cái bè. Các em khiêng vị linh mục và để ông nằm trên đó khiêng ông đi vòng theo đường hẻm phía sau làng. Các em dấu vị linh mục ở chỗ khuất cạnh bờ song chỗ biên giới của hai vùng Quốc Gia và Cộng Phỉ. Chờ cho đến khi trời tối, các em cẩn thận và nhẹ nhàng hạ chiếc bè xuống nước, và ba em bé mỗi bên chèo chiếc bè ra giữa dòng nước và từ đó chiếc bè tự trôi theo dòng nước về phía Quốc Gia. Hơi lạng của nước song có lẽ giúp cho vị linh mục được dịu cơn đau đớn nhiều hơn bất cứ loại thuốc men nào. Các em đã xoay trở được để đưa ông băng qua song đến vùng Quốc Gia mà không bị Cộng Phỉ phát giác. Đến khuya ngày hôm đó, các em đã mang được vị linh mục đến cái chòi lá của chị/em gái của ông. Sau đó thì các em lập tức đến kiếm tôi.
Sau đó, tôi đến thăm bệnh vị linh mục này mỗi ngày và cho ông thuống kháng sinh và morphine. Thật là huyền diệu phi thường, vị linh mục đã sống; thể chất của ông mạnh khỏe đã đành, nhưng thực tế không thể chối được là đức tin vào Thượng Đế đã chữa cho ông lành bệnh.
Không lâu sau đó khi ông đã hồi sức đủ để có thể mang đến trại tỵ nạn “de la Pagode”. Mặc dù vẫn còn tật nguyền, ông đã bắt đầu dâng lễ hàng ngày và dạy giáo lý cho các trẻ em; trên thực tế, trong thời gian giúp đỡ trong trại tỵ nạn Cộng Phỉ, ông đã là một giáo sĩ thường trực của trại.
Hoặc giả tôi phải để ông tự ý khi ông nhất định muốn trở về làng. Hoặc gỉa thế gian đang cần nhiều “thánh tử vì đạo”, tôi nghĩ co; lẽ vùng Vịnh Bắc Việt đã được cung cấp qúa mức. Lần sau, bọn Việt Gian Cộng Phỉ sẽ giết ông chết là cái chắc. Tôi biết là đừng nên phán đoán cả một hệ thống chỉ vì một vài người trong đó làm sai. Thế nhưng, theo như tôi biết thì Cộng Sản là thế đó. Cộng Sản là cái thảm họa cực kỳ ghê tởm đã thống trị gần hết Á Đông. Từ tháng Mười Hai cho đến ngày cuối cùng, cứ mỗi tuần đều có khoảng hai hay ba lần xảy ra những hành vi bạo tàn như vậy. và những công vụ cứu cấp mà tôi thi hành mỗi đêm đã đưa tôi đi từ một chuyện kinh hoàng này đến chuyện kinh hoàng khác.
Khoảng thời gian đầu của tôi ở Hải Phòng tôi đã bị điên đầu không phải chỉ vì nhân số người tỵ nạn gia tăng mà là cái bản chất bạo tàn của Cộng Sản. Nhiều trường hợp bạo hành có vẻ liên quan đến vấn đề tôn giáo. Càng ngày tôi càng hiểu rõ thêm là những sự trừng phạt này có liên hệ đến vấn đề tín ngưỡng của con người đối với Thượng Đế. Linh mục và tu sĩ là những mục tiêu thông thường của sự khủng bố của Cộng Sản. Hình như linh mục và tu sĩ không bao giờ học được bài học "Học Tập Dân Chủ," theo như ý muốn của Cộng Sản. Điều đó có nghiã là linh mục và tu sĩ cần phải được "học tập cải tạo" một cách khốc liệt hơn những người khác. Điều khó khăn nhất ở thế gian nay là mang một người mà cuộc đời của họ đã hiến dâng cho niềm tin ở Thượng Đế và uốn họ lại để bắt buộc họ phải từ bỏ đức tin. Trong thực tế, sự kiện đã chứng minh rằng không có gì có thể chinh phục được đức tin ở Thượng Đế.
Tín đồ Đạo Thiên Chúa có nhiều cách biểu lộ sự sùng đạo mà họ thốt ra ngoài miệng một cách thông thường, thí dụ như "Chúa Giê Su, Mẹ Mary và thánh Giu Se," và "xin Chúa thương xót chúng tôi." Thế nhưng Cộng Sản lại ra lệnh cho các tu sĩ phải thay thế vào đó bằng những khẩu hiệu mới, thí dụ như "tăng gia sản xuất", và "chiến tranh nhân dân". Hoặc giả là những từ ngữ thường hay nghe trong cuộc xâm lăng Bắc Việt là "căm thù."
Cộng Sản đã hoàn chỉnh cái kỹ thuật tra tấn hành hạ của chúng, chúng đả thương để tạo một sự đau đớn trên cơ thể và đòn kế tiếp là đả thương vào tâm não của nạn nhân. Khi nùa xuân đdến trên Vịnh Bắc Việt và mùa mưa đã qua, Tôi nghi có thể thiên nhiên sẽ làm cho vạn vật thay đổi. Thế nhưng tôi đã sai lầm, Ngày Chủ Nhật Đầu tháng Ba, linh mục Lopez của Hội Truyền Giáo Đạo Thiên Chúa Phi Luật Tân (Philippine Catholic Mission) mời tôi đến thăm một "người bệnh," là một linh mục Việt Nam mời vừa trốn thoát khỏi vùng Việt Minh.
Chúng tôi đi bộ băng qua cái sân rộng ngổn ngang và vào đến khu cư trú. Trong căn phòng phía sau có một ông lão nằm trân đống rơm dưới sàn nhà, đầu ông phủ mờ một lớp mủ và có tám cái lỗ đầy mủ và sưng lên ở chung quanh đầu ông và trên trán.
Tôi đã đoán được câu trả lời trước khi đặt câu hỏi. Vị linh mục đặc biệt này cũng đã bị trừng phạt về tội "phản động." Bản Án mà ông phải gánh chịu là bản phóng tác "mão gai" của Việt Gian Cộng Phỉ (Communist version of the Crown of Thorns), mà một lần đã cắm lên đầu Đấng Cứu Thế mà vị linh mục đã giảng đạo.
Tám cái đinh cắm vào đầu ông, ba cái đinh cắm hàng ngang trên trán, hai cái ở phía sau sọ, và ba cái đinh cắm ngang đỉnh đầu. Những cái đinh đủ lớn để cắm sâu vào xương sọ của nạn nhân. Khi những hành vi không tưởng này hoàn tất, Việt Gian Cộng Phỉ bỏ mặc cho vị linh mục chết dần với những vết thương trên đầu. Vị linh mục bò lết từ nhà thờ đến cái chòi rơm gần đó, và được gia đình này rút những cây đinh ra khỏi đầu ông. Sau đó thì ông được mang đến Hải Phòng để xin giúp đỡ về thuốc men. Khi ông đến Hải Phòng, hai ngày sau, thì vết thương đã bị thêm sự làm độc phụ thuộc.
Tôi rửa da đầu của ông, cạy lớp máu mủ đọng bên ngoài, và cắt những bọc mủ để dẫn mủ ra ngoài vết thương. Tôi cho vị linh mục những liều thuốc peniciline và tetanus oxide nặng và trở về với công tác thường ngày. Ông lão đã thoát khỏi cái chết. Một ngày nọ tôi trở lại để thăm bệnh, thì ông ta đã biến mất. Cha Lopez nói với tôi là ông tà đã trở về thế giới bỏ quên ở phía sau "bức màn tre." Có nghiã là ông ta trở lại với những kẽ đã hành hạ và tra tấn ông ta. Tôi lo nghĩ là chúng đã làm gì với ông ta.
Linh mục và tu sĩ không phải là nạn nhân duy nhất của những hành vi tàn bạo của Cộng Sản. Có một ngày nọ có một bà cụ đến lều khám bệnh với miếng vải cuốn chặt vai bà theo hình số "tám". Chúng tôi gỡ miếng vải ra và tìm thấy hai cái xương cổ vai của bà đã bị gẫy. Bà nói rằng trên đường đến trạo La Pagode bà đã bị Việt Gian Cộng Phỉ chận lại vì tội âm mưu "rời bỏ ruộng đất," và đã đánh vào vai bà bằng báng súng trường, và ra lệnh cho bà trở về nhà. Hai khúc xương bị gẫy làm vai của bà bị sụp về phía trước và làm cho bà cảm thấy đau đớn cùng cư.c. Tuy nhiên, bà cũng vẫn xoay sở để trốn đi được. Với thuốc men săn sóc, và những liều thuốc bổ, bà cũng đã lành bệnh.
Ý tưởng đau lòng luôn luôn hiển hiện trong tôi: "Trời ơi! cứ mỗi một người thoát được đến đây, thì có cả hàng trăm hàng ngàn người không trốn thoát được."
(Còn tiếp)

Chủ Đề 30.4: Quốc Hận!


Nước đã mất, nhà đã tan, gia đình ly tán! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rủi may, những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền Bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.
Trên đuờng trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vuợt thoát bằng đuờng bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đa chết đói vì lạc đuờng, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đinh, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng (tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.
Thảm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những người trốn chạy khỏi quê hương nầy bằng một biệt danh, mà trong lịch sử loài người chưa từng có: “BOAT PEOPLE” (Thuyền Nhân).
Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc, đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và chiếm lãnh miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.
Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là NGÀY QUỐC HẬN.
Không có từ ngữ nào để diễn tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc hận. Nó diễn tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó, đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ; từ tương lai trong sáng trở thành tăm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất, căm phẫn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật: ngoan ngoãn thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.
Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng tư, ngày đổi đời đó? Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.
Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại “cải tạo”. Những ruờng cột của Quốc Gia đã bi kềm hãm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chữa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm muớn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy. Những người tù “cải tạo” đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chửi bới,hăm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều truờng hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những bài “học chính trị”, do “Bác” và Đảng chủ trương đối với những người sa cơ, thất thế.
Những người tù lương tâm đó là ai?
Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam của Tổ Quốc, giữ gìn an ninh cho người dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp.
Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cuờng, có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn, Đài Loan.
Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà.
Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.
Những người tù lương tâm nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã giúp đỡ cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” chống phá lại “cách mạng của nhân dân” (sic).
Ngoài những người đã bị bắt đi làm tù “cải tạo”, những người dân thuờng sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đa bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là “nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (hiện giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi vùng kinh tế mới, “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo (ngố), đã có công với “nhà nước” trong việc cưỡng chiếm miền Nam.
Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xã”. Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vuờn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là “bảng chấm công”. Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam.
Tóm lại, sau khi bọn cuờng bạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã cưỡng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhuợng, bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.
Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2012, đã qua 37 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những “cán bộ” Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xảo thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn.
Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nỗi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẫm ướt máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc, giúp đỡ họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu (câu nói khinh miệt của dân miền Nam), họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn Cộng Phỉ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.
Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi hận xót xa cho cả nước, chúng ta hãy tuởng niệm đến quê hương đã mất đi, tuởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hãy tuởng nhớ đến những người tỵ nạn kém may mắn đã chết trên đuờng đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hãy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng, để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.
Lão Ngoan Đồng

Bài Xem Nhiều