We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 2 April 2012

Chủ Đề 30.4: 37 Năm Lại Nuôi Cộng Thù để Giết Dân Ta

Những người Việt tỵ-nạn  ngây thơ, dễ tha-thứ và chóng quên !!!
Nhớ lại ngày nào, những loạt pháo-kích vội vàng không cần trúng mu.c-tiêu, rơi vào thành-phố, những vụ đặt chất nổ nơi chốn đông người và được tính-toán cẩn-thận để càng chết nhiều càng tốt !!! Thảm-trạng năm Mâ.u-thân, đa.i-lộ kinh-hoàng của mùa hè đỏ lửa. Kẻ tự nhận mình là giải-phóng quân, đã giải-phóng biết bao nhiêu là mạng sống của thường dân vô-tội trong đó có biết bao nhiêu là đàn bà và con trẻ. Ngày chiếm được miền Nam, những người CS đã lấp-liếm che dấu tất cả những hànhđdộng bất nhân của họ trong thời chiến, tận dụng tất cả phương tiện và quyền-lực của kẻ thắng trận để bôi bác và đổ hết  tội lỗi lên đầu lũ bại binh . Hoà-bình tới, hàng hàng lớp lớp người chiến-bại bị lường gạt đưa hết vào trại tâ.p-trung, và bao nhiêu người đã bỏ mạng nơi thâm sâu cùng cốc ?
Bao nhiêu giađdình tan nát, thất-lạc tứ tán, bỏ thây trên biển cả khi cái gọi là nhà nước nhân dân toa rập bán bãi vượt biên để lột hết vàng của dân, tiền thì cơ-quan quyền-lực nhà nước cấu-kết chia nhau, dân nếu may mắn còn được cái quần xà lỏn đến bến bờ tư.đo thì để đế-quốc nó nuôi . Để bào chữa cho hànhđdộng vô nhân này là một chiếnđịch bôi bác người ti.-na.n nào là ôm chân đế-quốc, một lũ bồi bếp, lưu-manh đĩ- điếm, mê bơ thừa sữa cặn.
Ngày mà chế độ đổi tiền lần đầu, lúc đó tôi còn trốn chui trốn nhủi khi thì ở trong ruộng rẫy miền Phương-lâm, lúc thì chuồn về Sàigòn . Từ sáng đến gần trưa, xe phóng thanh đi vòng khu phố lải nhải yêu cầu đồng-bào làm ăn buôn bán bình thường, đừng nghe tin đồn thất-thiệt là có đổi tiền . Đúng 12 giờ trưa cũng chiếc xe đó thông-báo giới-nghiêm và thể thức đổi tiền trên cả nước . Có cái chính-phủ  nào trên trái đất này có thể làm một chuyện chó má như thế, trừ nhà nước xã-hội chủ-nghĩa Viê.t-nam !!! Mỗi giađdình chỉ được đổI 200 $ ( một đồng tiền giải phóng phải tri.-giá bằng 500 lần tiền QG, và như các bạn đã thấy sau này tiền phỏng giái mất giá ra sao ! ). Mỗi nhà chỉ có hai trăm mà sao, sau vài tháng tiền giải phòng dầy dặc mọi nơi ? Xin thưa là nhà nước nhân dân phát cho cán-bộ, cơ-quan vô tội vạ để đám này vơ-vét hết của cải trong Nam, hàng họ trong Nam kìn kìn chở ra miền Bắc xã-hội chủ-nghĩa giầu đẹpâ?¦ . Dân miền Nam bị nhà nước nhân dân vớt đẹp cú đầu-tiên . Sau đó là đánh tư-sản mại-bản, tư-sản dân-tộc, thật là đủ trò ma mãnh.
Ngày đặt chân xuống tầu vượt biên, trăm người như một thề không đội trời chung với CS. Sang được vùng đất tư.đo cuộc sống đầy đủ, ít nhất là không châ.t-vật vì miếng cơm, manh áo, các quyền tư.đo được phu.c-hồi, nỗi tức giận từ từ biến đi và rồi người ti.-na.n quay trở lại với những tình cảm, những quyến-luyến một thời của quê hương đã mất..    Những con cáo già ở Bắc bộ phủ tâm-lý hơn ai hết đã nghĩ trước đến vấnđdề này, họ hiểu rằng thời-gian rồi sẽ qua đi, mọi chuyện sẽ trôi vào dĩ-vãng và rồi đám người Việt quốc-gia nặng đầu óc uỷ-mị tiểu tư-sản này rồi cũng sẽ quên cả thù cha, nợ nước và lại lần lượt chui vào bẫy lớn, bẫy nhỏ do đảng và nhà nước giăng ra.
Li.ch-sử đã chứng-minh điều đó, những lầm lỡ của cha anh, chúng ta lại đang bắt đầu lập lại. Chính-sách của CS là luôn luôn bịp bợm, họ tự nhận họ là hạng cùng đinh và dùng bất cứ mưu thần chước quỷ nào cũng được miễn là đạt được mu.cđdích . Cứu cánh biê.n-minh cho phương-tiện đó là bài học nhập môn của họ . Có một hiê.p-ước nào họ ký-kết mà được thi-hành nghiêm-chỉnh đâu ? quân, cán chính  của VNCH hiểu rõ điều này hơn ai hết . Họ luôn luôn ápđụng phương-cách tẩy não, không nghe cũng bắt phải nghe, nghe hoài, nghe mãi cũng lọt lỗ tai và biến thành cái phải, chứng cớ là chúng ta có vài vị HO đờ đờ, đẫn đẫn, ăn nói theo lâ.p-trường CS và thời-gian tính : để lâu cứt trâu cũng hoá bùn để hoá-giải những hâ.n-thù do họ tạo ra . Và than ôi, người Việt quốc-gia trong vòng lẩn quẩn lại như một bầy thiêu-thân lăn xả trở vào . CS rất là ngoan-cố lúc nào cũng giải-thích mọi sự kiện bằng lâ.p-luận hiê.n-tượng và bản-chất, và bất cứ cái gì xấu xa, đê-tiện của họ cũng chỉ là hiê.n-tượng mà thôi, còn bản- chất thì rất tốt, và của đối-phương thì dứt khoát hoàn toàn ngược lại . Giáo điều này dẫn đến sự bi.p-bợm không tránh khỏi của chế đô..
Sau ngày phỏng-giái, vào khoảng 77, 78 tôi có bà chị họ lấy một ông chồng tâ.p-kết, vào Nam để tiếp-thu . Anh Chương, tên ông này đã từng được ưuđdãi cho du-học bên Trung-cộng, khi vào Sàigòn được cấp một căn biệt-thự ở đường Yên Đổ, có hai xe Peugeot 504 (tịch-thu của người di-tản ) với tài-xế và cận-vệ . Bà chị thấy tôi đói rách thì thương, tuần nào cũng mời cậu em lên ăn cơm để bồi dưỡng một cách kín đáo, kiểu Bắc-kỳ . Riết rồi cũng thân-thiết, lúc đó Viê.t-nam đói khổ lắm, bột mì, khoai lang và bo bo là tiêu-chuẩn của dân-chúng hàng ngày . Nhà anh Chương lúc nào cũng cơm gà, cá gỏi, rượu Martell, thuốc 555 mù-mịt . Một hôm trong bữa cơm, nói truyện về lao động xã-hội chủ-nghĩa ở trường của mấy đứa nhỏ . Anh Chương la con : Tụi bay phải đi lao động để biết rằng người nông dân cực khổ ra sao khi làm ra lúa gạo ! Mấy bữa sau, tôi thắc-mắc với bà chị về chuyện ấy, bà nói: Ối dào, có mặt cậu thì ông ấy nói thế chứ đời nào ông ấy để con ông ấy đi !!! Trong nhà mà còn bịp nhau như thế há chi người ngoài ! Tôi trốn đi thoát giữa năm 78 . Đến năm 80 tin nhà cho biết ông anh rể tâ.p-kết của tôi được gọi lên làm việc với cấp trên, vài hôm sau người nhà được thông báo lên nhận xác, lýđo đương-sự  tự-tử chết . CS thanh-toán nhau như vậy là chuyện thường tình.
Sau ngày miền Nam mất vào tay CS, dân chúng nghe chế độ tuyên-truyền về sự hy-sinh của miền Bắc trong cuộc chiến, hột gạo cắn làm tư, một cho dân miền Bắc, một cho miền Nam và hai phần cho Lào và Miên . Họ quên một điều là tổng bí-thư của họ đã  từng tuyên-bố là Việt-nam đánh Mỹ là đánh cho ông Liên-sô, ông Trung-quốc và thật sự gạo tiếp-tế cho cả miền Bắc và các chiến-trường là của Trung-cộng chứ miền Bắc không khi nào có thể tư.-túc về lúa gạo (chúng ta bắt được bao nhiêu kho gạo trên đường Trường-sơn với hàng chữ Tầu: Cộng hoà nhân dân Trung-hoa ? vào sâu trong chiến-trường phía Nam thì toàn gạo của miền Nam do hâ.u-cần thu mua, có khi là gạo Thái-lan do Mỹ mua viê.n-trợ cho miền Nam lúc đó, và lọt vào tay bọn ăn cơm quốc-gia thờ ma CS, chứ gạo nào của miền Bắc như Vẹm tuyên-truyền ! ) Khi đó Nga và Trung-cộng có lýđo chiến-lược để thúc-giục VC làm cho thế-giới có cảm-tưởng Mỹ là kẻ gây-hấn và sa lầy ở VN . Và Lê Duẩn, tên tội đồ khát máu của dân tộc đã trư.c-tiếp xác-nhận mình là kẻ đánh thuê cho quyền-lợi của quan thầy . 
Miền Nam ơi, CS vào Nam là để giải-phóng cái dạ dầy họ thôi, họ thèm khát cái vựa lúa miền Nam để nuôi sống cả nước, đó là cái nhìn chiến-lược . Nhìn lại mà xem, những gì xuất-cảng bây giờ toàn là của miền Nam, từ dầu thô, lúa gạo, tôm cá, trái cây đến cà-phê, cao-su, cho đến ngoa.i-tệ mạnh là Mỹ-kim cũng do những người đã từng liều chết ra đi với đại đa-số là ở miền Nam, giờ đây vì tình riêng ( hoặc quyền-lợi riêng hay thú vui đê-hèn riêng ) mang về tới tấp để gián-tiếp phu.-lực cho chế độ tồn-tại . Ai giúp ta khi tự ta không giúp ta lại còn tiếp tay với quân thù.
Nhiều người nói với tôi giờ đây tụi nó không phải là CS nữa rồi, về VN anh muốn làm gì thì làm miễn là đừng đụng tới chế độ . Họ vẫn chưa hiểu gì về CS, lùi một bước để tiến ba bước là chiến-thuật của CS từ xưa tới nay và họ đã ápđụng rất nhiều lần, chỉ có chúng ta là mau quên ! Tôi theo dõi báo-chí của họ ( để biết ta biết địch chứ ngôn-từ, tin tức của bọn báo-chí quốcđoanh thì toàn là một chiều và chán phè ), cách đây vài tháng, họ tăng phu.-cấp cho giới lãnhđdạo ngành công-an và mới đây thăng cấp cả chục tướng công-an một lần.  A, thì ra là thế, họ dùng công-an để kềm kẹp dân, chống đỡ cho chếđdộ . Cả miền Nam ngày xưa trong thời chiến, với bọn nằm vùng nhung nhúc mà cũng chỉ có hai tướng cảnh-sát, chế độ tự- nhận là của dân mà phải duy-trì một lực-lượng công-an mấy lần hơn trong thời bình, thì chúng ta có bị họ bịp nữa không ? chẳng lẽ cứ 10 người dân lại cần một công-an canh chừng? Chế độ CS trên lý-thuyết là không cần đến cảnh-sát, công-an và cơ-quan công-quyền, họ tự mâu-thuẫn lấy họ hay là họ lại bịp nữa rồi !!! Marx và Angels có sống lại thấy trò láo khoét của đồ đệ chắc cũng phải đội quần.
Có người khi qua lại đây trở thành cái loa tuyên-truyền không công cho chếđdộ . Nào là VN thay đổi nhiều lắm, nhà cao tầng, xa-lộ, cầu cống xây dựng mọi nơi ; Họ có hiều đâu những gì của đất nước đảng đã bán đắt, bán rẻ cho ngoa.i-nhân để đổi lấy đời sống phè phỡn cho đám công-thần CS và lũ con cháu họ, chứ đại đa-số dân vô-sản thì giờ đây vẫn hoàn bần cố, cái này CS gọi là phồn-vinh giả-tạo đó quý-vị ạ . Ngày xưa chính-thể Cô.ng-hoà xây một cái cầu cho dân, sau đó lại phải nuôi một trungđdội nghĩa-quân không sản-xuất để canh gác cái cầu đó . VC cũng có vài thằng du-kích không sản-xuất, bắt dân chứa-chấp và nuôi dưỡng rồi rình-rập để phá cái cầu, rồi một ngày, cây cầu cũng bị phá sập, thử hỏi thiê.t-ha.i biết bao nhiêu cho công-quỹ quốc-gia, giờ đây ai phá của họ  ? Chỉ đáng ngạc nhiên là đã hơn 37 năm qua mà họ chỉ mới xây dựng được có bấy nhiêu mà đa số lại do tiền của tư-bản dẫy chết ngoa.i-quốc giúp đỡ !!! Cách đây khoảng chục năm, đã có bao nhiêu Viê.t-kiều mang hết tiền dành dụm về đầu-tư vào nhà đất, CS chờ cho vào rọ cả lũ, xong thay đổi luâ.t-lệ làm bao nhiêu người khóc dở, mếu dở . Bao nhiêu doanh-gia làm ăn lớn với CS rồi cũng bỏ của chạy lấy người? Tù hay Tiền lựa cái nào, hỡi đám Vịt cừu ngây thơ?
Hết nhà thờ, đến chùa chiền; hết sư đến cha đến soeur lũ-lượt qua Mỹ quyên góp tiền của về xây nơi thờ tự, cho to hơn, đẹp hơn . Việc rất tốt để đẹp đạo, đẹp đời nhưng chỉ khổ cho con chiên, tínđdồ bên này làm mửa mật ra để đóng góp, con chiên, tín đồ bên  kia há miệng mắc quai ( chùa chiền, nhà thờ như thế thì đương nhiên là phải ha.nh-phúc, no cơm ấm áo, tư.đo tôn-giáo chứ  ? kêu ca nỗi gì ?).Rốt cuộc chỉ có nhà nước CS là có lợi, được cả mọi bề, họ bịp được ta và bịp được cả thế-giới !
Mỗi khi có thiên-tai trong nước, người Việt khắp nơi mủi lòng thương đồng-bào khốn-khổ, quyên góp tiền bạc gởi về mua gạo củi cứu đói, trong khi đó chính-phủ nhânđân chứa gạo đầy trong kho chờ lên giá để xuất-cảng, và chỉ giúp đỡ nhỏ giọt cho người của họ  (gia đình có chính sách) ! Thử suy-nghĩ như thế này nhé : Ta chí-thú làm ăn, nhịn tiêu xài hoang phí để nuôi con cái nên người, có gia đình lối xóm, rượu chè, bài bạc, điếm đàng, con cái bỏ đói, bê tha . Thương mấy đứa nhỏ, ta muốn cho món quà, tấm bánh, nhưng bố mẹ chúng hoạnh hoẹ bắt ta ép đủ điều, phép tắc, thưa gửi này kia thì mới cho vào nhà và đòi tự tay phân-phát cho mấy đứa nhỏ, bởi vì ti-tiện thay, họ có con yêu, con ghét và muốn dùng quyền lực đó để ban phát ân-huệ . Rồi của người, phúc ta dân đen nào có biết? Lo cho dân như vậy thì thằng bé lớp nhì cũng lập chính-phủ được cần gì đến đỉnh cao trí-tuệ ! <<cái gì mà CS yếu kém thì họ càng to mồm ! >>và tốt-nghiệp đa.i-ho.c mở (học đại ! tổng bí thư là anh hoạn lợn <<thiến heo>> ngồi chồm hổm trên đầu cả nước thì học hành làm gì cho mệt ! Cứ theo bác, theo đảng bịp bợm hô-hào đãu tranh giai-cấp, để những thằng dại nó ôm bom chết  banh xác cho Tổ-quốc ghi công, rồi khi đoạt được chính-quyền mình sẽ trở thành giai-cấp bóc lột, tàn bạo gấp mười lần hơn !!! ) Cho tới bây giờ, giaođịch với thế-giới văn-minh, đảng mới nhận thức ra  là đảng dốt thật, chỉ giỏi đi ăn cướp mà thôi . Bởi vậy khi họ ban hành chính-sách, vuốt ve Viê.t-kiều là họ sửa soạn làm thịt Vịt cừu đấy . Chiến-lược đã thay đổi nên bồi bếp, lưu manh đĩ điếm nay trở thành khúc ruột ngàn dặm không rời, họ cần tiền và trí-tuệ của Viê.t-kiều để củng cố cho chế độ vô-nhân của họ, để họ còn ngồi mãi trên ghế quyền lực, chứ bạn đau ốm, ăn tiền già không chút lận lưng, trở về với tình-trạng y như ngày bạn ra đi thử xem họ có hoan hỉ đón tiếp bạn không  ? 
Những Việt kiều lỡ sa vào vòng lao lý, nhà nước nhân dân "nhăn răng" chối đây đẩy đâu có nhận về !!! Họ không là khúc ruột ngàn dặm à  ? Ruột cũng có khúc thối, khúc thơm chứ  ??? Dân khoẻ thì nhà nước bóc lột sức lao động, khi đau ốm, đói khổ thì thân nhân ờ nước ngoài nuôi . Thuốc men gởi về theo diện nhân đạo mà không đút lót thì cũng nằm mốc trong kho . Chết thằng nào chứ CS chắc chắn là không chết, và họ cũng chẳng dại gì mà thay đổi . Cứ như thế này mãi muôn đời, nếu chúng ta vẫn cố-tình không muốn hiểu biết dã tâm của họ ... Những người ti.-na.n ngây thơ vẫn là những con ong, cái kiến tầm thường và đần độn, gián-tiếp mang công sức ra củng cố cho chế độ mà họ đã từng kinh tởm, và đã phải liều chết bỏ nơi chôn nhau cắt rốn mà đi, vào những ngày này,  37 năm về trước.

  Sưu Tầm

Chủ Đề 30.4: Người Việt Tị Nạn Tại Montréal

Người Việt Tị Nạn Tại Montréal

Từ năm 75 đến thập niên 80 có hằng trăm ngàn người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do.

Theo ước đoán, hiện nay có khoảng trên 35.000 người Việt Nam đang sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais.

Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.

Trên bước đường tị nạn, người Việt đã mang theo họ kinh nghiệm sống từ quê hương khói lửa cùng với một tâm quyết sắt đá là phải gầy dựng lại một cuộc đời mới trong tự do. Họ hy vọng một tương lai sáng sủa hơn đang chờ đón con cháu họ…


"Les Vietnamiens de Montréal" là tên một quyển sách nghiên cứu xã hội, nhân chủng học do Giáo sư Louis-Jacques Dorais và Eric Richard thuộc Đại học Laval, Québec thực hiện và do Les Presses de l'Université de Montréal xuất bản năm 2007. Sách hiện có trong tất cả thư viện Québec.

Tác phẩm trên dựa vào việc tìm hiểu về cuộc sống và hội nhập của người tị nạn Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhứt và thứ hai, nghĩa là những lớp người tị nạn cộng sản đến định cư tại Montréal từ 1975 cho đến những năm 1980.

La plupart des Viéto-Montréalais se sont admirablement bien adaptés à leur société d'accueil et leurs expériences migratoires demeurent singulières.

Tout au long de cet ouvrage qui privilégie une approche anthropologique, le lecteur pourra comprendre comment les Viéto-Montréalais ont su tirer parti du multiculturalisme ambiant pour mieux s'adapter et s'intégrer.

Louis-Jacques Dorais est professeur au Département d'anthropologie de l'Université Laval, à Québec. Éric Richard poursuit des études doctorales au même département.

Quyển Les Vietnamiens de Montréal được thực hiện qua thể thức phỏng vấn thăm dò một số vài chục nhóm mẫu (échantillons) đồng hương Việt Nam thuộc nhiều lứa tuổi, có hoàn cảnh xã hội và điều kiện kinh tế khác nhau.
Bìa sách Les Vietnamiens de Montréal.
Theo người gõ, những nhận xét và kết luận trong tác phẩm trên chỉ có một giá trị thống kê tương đối mà thôi. Nó chỉ nói lên được phần nào, những vấn nạn chung chung mà hầu như không ít người tị nạn, và di dân Việt Nam mới đến định cư thường hay gặp phải...

Dù sao đi nữa, Les Vietnamens de Montréal được nhìn qua từ phía các học giả Québecois cũng giúp cho chúng ta hiểu thêm về người Việt tại Montréal, và biết chừng đâu cũng có mình trong đó.

Một số trích dẫn tiêu biểu từ tác phẩm Les Vietnamiens de Montréal:

"Montréal đối với tôi như một gia đình đa chủng tộc" (nam 37tuổi, định cư năm 82, trang 28).

"…Khi đến đây, tôi gặp được nhiều sự may mắn. Tôi tìm được việc làm tại Baie James. Tôi là kẻ thích phiêu lưu. Cho dù là người Québecois, họ cũng không dám bén mảng đến nơi đó. Vì lạnh quá mà. Nhưng tôi tự nhủ: mình không có một sự chọn lựa nào khác hơn được. Đây là lý do sinh tồn của mình. Có người xúi tôi đi xin trợ cấp xã hội (social welfare) nhưng tôi dứt khoát chối từ..." (nam 76t, cựu viên chức cao cấp VNCH, định cư năm 75, trg 119).

"...Những điều tôi biết được đều do Pa Má tôi kể lại. Có nghĩa là nếu sống bên Việt Nam thì sẽ không có tương lai. Nếu còn ở bên đó thì chắc chắn là Pa Má tôi phải đi cày ruộng rồi. Bởi lý do nầy nên Pa Má tôi quyết định vượt biên. Pa tôi ngày xưa là hải quân và chúng tôi bị thua trận. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Pa tôi cần phải đi để cứu lấy mạng sống của mình..." (nam 19t, sanh tại Québec, trg111).

"...Tôi không cảm thấy tiếc nuối gì cả. Tôi nghĩ rằng cha mẹ tôi quyết định rất đúng cho gia đình tôi và cho cả em tôi. Tôi cũng biết là Pa tôi đã hy sinh rất nhiều để cho chúng tôi có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Pa Má tôi phải gánh chịu bao nỗi khó khăn nhọc nhằn mới đến được bến bờ tự do. Pa tôi bắt đầu bằng những công việc lặt vặt để sống..." (nam 28t, sanh tại Toronto, trg112).

"Tôi muốn giữ lại tất cả, ngoại trừ những khía cạnh quá nghi thức về tập tục. Tôi sẽ dạy dỗ con cái tôi theo kiểu Canada, nghĩa là rất cởi mở, nhưng tôi vẫn áp đặt chúng cái tâm thức mentalité của người Việt Nam mình đồng thời cũng giữ khía cạnh tích cực của Bắc Mỹ..." (Méthot,1995:176, trg 114).

La participation des Viéto-Montréalais de la deuxième génération à des associations ou des groupes vietnamiens à Montréal est ambigue…De plus, les commentaires receuillis au sujet de ces différents groupes et associations sont majoritairement négatifs. Par exemple, des jeunes Viéto-Montréalais considèrent peu pertinentes les assiociations qui mettent en valeurs certains aspects de la culture vietnamienne. D'autres n'apprécient pas de manière dont les différentes activités sont organisées et ils n'aiment pas le type de personnes qui y prennent part. Pour d'autres enfin, ces associations contribuent uniquement à une forme de ghettoisation, c'est à dire à enfermer les vietnamiens dans un monde de Vietnamiens.

Sự tham gia của người Việt Montréal thuộc thế hệ thứ hai vào các nhóm và hội đoàn Việt Nam rất ư là mập mờ…Ngoài ra, những ý kiến thu lượm được về những tổ chức hội đoàn nói trên phần nhiều là rất tiêu cực. Thí dụ, giới trẻ nói rằng họ không tin cậy các hiệp hội có tôn chỉ đề cao một vài khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam. Một số thì không thích cách thức buổi lễ được tổ chức cũng như họ không ưa một số khuôn mặt nào đó. Có những người khác thì cho rằng mục đích chính của các hội đoàn là nhằm gom người Việt lại với nhau trong một thế giới riêng của người Việt không khác gì tạo ra những khu biệt cư ghetto (L.J. Dorais, trg 114).

"...Thật vậy, tôi tự nhận tôi là tôi.Tôi không chối cãi tôi là Việt Nam, vì lúc đi ra ngoài đường, người ta hỏi quốc tịch tôi là gì…Tôi muốn nói tôi là người Á Đông, nhưng đồng thời tôi cũng là Việt Nam…Tôi tự cảm nhận tôi chỉ là tôi. Tôi không phải là người Việt, mà tôi cũng không phải là người québecoise. Tôi là tôi. Tôi tự hào trong thâm tâm, mình là mình (nữ 21t, định cư Québec lúc 4t, trg 115).

Growing up an Asian Canadian is not an easy task. Sure, I was born a Canadian but my parents are Vietnamese. I clearly look Vietnamese, but am I a true Vietnamese girl/behind this Asian face I wear, two different cultures are at war. At home, the Vietnamese mentality reigns; at school, I must act differently to integrate myself.

"Trưởng thành như một người Canada gốc Á không phải là chuyện dễ dàng đâu.Thật vậy, tôi sanh ra là Canadian, nhưng cha mẹ tôi là người Việt Nam. Rõ ràng tôi giống người Việt Nam, nhưng có phải tôi là một phụ nữ Việt Nam đúng nghĩa không? Đàng sau bộ mặt Á châu mà tôi mang, có hai nền văn hóa đang xâu xé lẫn nhau. Ở nhà, cái mentalité Việt Nam ngự trị và ở trường tôi phải hành sự khác đi mới hội nhập được (Nguyễn Tuyết Nhung, Liên Hội Sinh Viên VN Montréal 1998, trg 117).

Pour Méthot (1995), les jeunes Viéto-Montréalais construisent leur identité en fonction des images qu'ils ont de la société dans laquelle ils vivent et des gens qu'ils côtoient quotidiennement

Theo Méthot (1995), giới trẻ Montréal xây dựng bản sắc identité dựa trên hình ảnh có được từ xã hội đang sống và từ những người mà họ tiếp xúc hằng ngày (trg 116).

Lo làm việc…Lo cho cuộc sống của mình, con đường nhỏ bé mình đi một mình ên…Chấp nhận trách nhiệm của chính mình. Đó là những điều tôi thật sự quyết định làm. Thí dụ, khi tôi phải lo buổi cơm tối ở nhà cha mẹ, tôi phải làm như thế nầy, như thế nọ…không được như vầy, không được như vậy, v.v…Thật sự là chán ngán! Nay, thì tôi về nhà lúc nào tôi muốn. Bởi thế mà tôi đã bỏ đi ở riêng. Tôi thật sự cần có đời sống của riêng tôi, tôi muốn làm gì thì làm, tôi tự quyết định những gì mình muốn làm. Tôi không cần phải nghe Pa Má tôi phán: "Không, đừng làm như vậy, đừng, đừng và đừng…"! Để cuối cùng mình không được làm gì hết (nữ 21t, định cư Québec lúc 4t, trg 119).

Với cha mẹ tôi, rõ ràng là ổng bả còn mang tâm thức mentalité của Việt Nam. Ổng bả muốn con cái mình học y khoa hoặc lãnh vực khoa học về sức khỏe. Nếu mình không làm theo như ý, ổng bả xem đó là một sự thất bại. Và ổng bả tối ngày đem mình ra so sánh với con của người khác… Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì ổng bả đang hạ giá trị mình xuống. Chắc chắn là trên một bình diện nào khác, cha mẹ mình ước mong điều tốt đẹp cho mình, nhưng khi mình không có khả năng là mình không thể làm được. Chấm hết! (nam 22t, định cư tại Québec lúc được 6 tháng tuổi, trg 120).

Ổng bả đem so sánh mình một cách không thương tiếc với người khác. Việc đó làm mình rất bực bội vì mình lúc nào cũng cảm thấy bị đặt trong tình trạng phải tranh đua, và lúc nào mình cũng vẫn là người thua cuộc hết (nam 19t, sanh tại Québec, trg 120).

Vâng, chúng tôi có với nhau một mối quan hệ rất tốt đẹp ngoại trừ việc Pa Má tôi còn mang nặng cái đầu óc, cái mentalité quá Việt Nam hoàn toàn khác biệt với tâm ý mentalité của dân bên nầy. Cái gì cũng gắt gao, cũng đều bị ổng bả kiểm soát hết, những khi tôi nói thật sự tất cả bất cứ chuyện gì. Một mặt khác, tôi không muốn làm xúc phạm đến cha mẹ tôi, và làm họ phải buồn lòng. Nói chung thì nó như thế đó, đó là một vấn đề thuộc về quyền tự do (nam 19t, sanh tại Québec, trg 121).

Cha mẹ tôi thuộc về một thế hệ khác. Về mặt sinh hoạt, tôi thường ham đi chơi với bạn bè khiến ổng bả rất bực mình. Những chuyện như thế lúc nào cũng làm ổng bả khó chịu hết (nam 25t, đến Québec lúc 6t, trg 121).

Dù rằng tôi rất yêu quê hương, tôi cũng không muốn về sống ở bên đó.Tại vì tôi đã sống nhiều năm bên nầy rồi, nếu về bển, tôi cần phải có nhiều năm để thích nghi lại. Không, tôi nghĩ tôi không về Việt Nam để sống đâu vì tôi đã quá quen với cuộc sống ở bên đây rồi (nữ 17t, đến Québec lúc 5t, trg 128).

Có những điều mà tôi không ý thức được. Như gần đây, tôi đi chơi Núi Mont Tremblant với vài người bạn gồm có một bạn da đen và hai bạn Á châu. Chúng tôi bị một nhà hàng từ chối, viện lý do không còn bàn nào trống hết, mặc dù thật sự không phải như thế (nam 28t, sanh tại Toronto, trg 130).

Tôi biết là vấn đề kỳ thị có ở đây. Những nơi tôi làm việc, thì không có, nhưng ngoài đường đôi khi nó xảy ra cho chính tôi do các đứa nhỏ, những thiếu niên gây ra…Chả có gì quan trọng cho tôi vì tụi nó không hiểu những gì tụi nó đang làm...(nữ 28t, đến Québec năm 1988, trg 191).

Cũng có một số dân Québecois rất lạnh nhạt thờ ơ, như thể họ đến từ hành tinh khác. Họ chả biết gì ráo. Có một hôm, có một ông nọ đã hỏi tôi:Người BắcTonkinois? Là ở đâu đến vậy? Rồi ông ta lại hỏi lúc xưa gốc gác tôi ở đâu? Tôi trả lời, tôi là người Việt Nam. Rồi ông ta hỏi tiếp theo: Là xứ nào vậy? Trời ơi, ông ta là người cũng phải trên 30 tuổi rồi…Nhưng đối với những người có đi du lịch thường thì khá hơn, hiểu biết nhiều hơn…(nữ 24t, định cư Québec 83, trg 191).

Thành thật mà nói, tôi cho tôi là người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là người Québecois. Tôi phải nói sao đây? Tôi có một tâm thức mentalité thiên nhiều về Việt Nam, tôi còn nhiều gốc gác Việt Nam, ngoại trừ thời niên thiếu ở đây tôi thường sống với người Québecois. Nhưng tôi thường nghĩ rằng lúc nào tôi cũng là người Việt Nam nhiều hơn là người Québecois (nam 22t, sanh tại Québec, trg 204).

Tôi là người Việt Nam và tôi sống tại Canada. Chỉ thế thôi! (nam 50t, định cư 1982, trg 204).

Tôi là Québecois và Việt Nam. Tôi đẻ bên Việt Nam nhưng tôi không còn nhớ gì hết.Tôi đi học ở đây, bạn tôi là người Québecois. Tôi nghĩ rằng tôi có mỗi thứ một nửa (nam 24t, đến Québec năm 80, trg 204).

Tôi cảm thấy rất thích hợp ở đây, và thích nghi tốt đẹp vào đời sống Québec. Tôi vẫn giữ nét Á châu nhưng tôi vẫn có thể thích nghi vào một nền văn hóa khác hơn nền văn hóa Việt Nam (nữ 46t, đến Québec 81,trg 204).

Mối giao tiếp của tôi phần lớn là với người Québecois.Tôi cảm nhận, một nửa của tôi sống theo kiểu Québecois và tôi vẫn giữ một nửa Việt Nam. Có nghĩa là chỉ tôi tiếp thu những điều tốt đẹp của xứ nầy mà thôi (nam 51t, đến Québec 84, trg 205).

Tôi không có thể nào nói được tôi hoàn toàn là người Việt Nam cả. Khi tôi nói chuyện với các bạn tôi thì tôi cho rằng tôi là người Việt Nam, người Québecoise hay là người Canada. Không khác gì tôi là một phụ nữ quốc tế (nữ 42t, đến Québec 82, trg 205).

Tôi không còn biết thật sự ra xứ sở của tôi là Canada hay là Việt Nam nữa. Tôi không biết…Có thể tôi xem cả hai đều là xứ sở của tôi hết (nam 23t, đến Québec 92, trg 205).

Đúng vậy, tôi rất quan tâm đến chuyện bên nhà, tôi nôn nóng lắm, có thay đổi bên đó nhưng vẫn còn cái mentalité cộng sản. Dù sao, Việt Nam cũng là quê hương của cha mẹ tôi, tôi muốn hiểu rõ hơn những gì xảy ra bên đó (nam 22t, sanh tại Québec, trg 209).

Rất quan trọng đối với tôi, vì tôi thương người dân bên đó. Tôi không muốn nhìn thấy cảnh họ bị áp bức, đàn áp, đói khổ…Tôi tin tưởng rằng mọi người có quyền sống theo ý họ muốn của họ…(nam 46t, định cư tại Québec 81, trg 209).

Vâng, tôi rất quan tâm đến tình hình chính trị của Québec và Canada nhiều hơn là của Việt Nam.Tôi thường theo dõi trên TV các cuộc tranh luận chính trị tại quốc hội Québec hoặc Ottawa (nam 42t, đến Québec năm 75, trg 185).

Vâng, rất quan trọng vì tôi là Québecois và Canada là xứ sở của tôi. Tôi có bổn phận với tư cách là một cử tri…(nam 24t, đến Québec 1980, trg 185).

Giới trẻ có một tương lai tốt trước mắt. Chắc chắn là họ sẽ quên đi…Họ quên rất mau nếu không có ai nhắc nhở họ thế nào là văn hóa Việt Nam (nam 33t, đến Québec 82, trg 189).

Tôi nghĩ rằng, theo cái đà nầy thì trước sau gì họ cũng sẽ bị mất gốc hết. Bởi vì ngày nay, họ muốn thích nghi, nhất là đối với lớp trẻ. Đối với bọn trẻ, sanh bên nầy hay bên nhà cũng vậy, tôi thiết nghĩ như họ thường hay nói "Bof!". Họ từ từ sẽ thích nghi, và sẽ đồng hoá với tất cả mọi người (nữ 17t, đến Québec 1991, trg 189).

Kết luận của tác giả Louis-Jaques Dorais

Cho dù tương lai sẽ ra sao, nó vẫn thuộc về của giới trẻ.

Tại Montréal cũng như tại những nơi khác, người Việt thuộc thế hệ thứ hai hoặc thứ ba sẽ lần hồi thay thế bậc cha anh trong việc điều hành các vấn đề cộng đồng của người Việt Nam.

Chính nhóm trẻ sẽ quyết định là có cần nên bảo tồn hay không một vài nét đặc thù tiêu biểu của bản sắc identité Việt Nam hay ngược lại.

Tốt hơn hết là chúng ta nên hòa nhập trọn vẹn vào nhóm đa số Québec và Canada bằng cách theo đuổi tất cả cách sống của họ, cũng như những giá trị và biểu thị trổi bật của xã hội Bắc Mỹ.

Quel que soit l'avenir, il appartient aux jeunes. À Montréal comme ailleurs, les Vietnamiens de la seconde et de la trosième génération vont progressivement remplacer leurs ainés đans la conduite des affaires communautaires et la définition de l'ethnicité vietnamienne. Ce sera donc à eux de décider si cela vaut la peine de préserver une certaine spécificité identitaire ou, au contraire, s'il est préférable de se confondre complètement dans le Québec et le Canada majoritaires, en adoptant la totalité des pratiques, des valeurs et des représentations qui prévalent en Amérique du Nord ./. (Louis J. Dorais ) Trg 222.

Kết luận trên của Louis Jacques Dorais có lẽ đã làm nhiều đồng hương lớn tuổi không mấy hài lòng.

Đây không phải là điều làm một ai ngạc nhiên hết./.

Vài con số thống kê

Thống kê Statistics Canada 2001 cho biết :

Tổng số người Việt địng cư tại tỉnh bang Québec : 28 300 người.

-83,1% nguồn gốc Việt Nam và 16,9% vừa có nguồn gốc Việt Nam và đồng thời có thêm ít nhất một nguồn gốc khác nữa,

-72,9% đẻ ngoài Canada,

-74,2% định cư từ 1971 đến 1990,

-89,3% từ 15 tuổi trở lên, thuộc thế hệ thứ nhứt, đẻ ngoài Canada,

-53,4% theo đạo Phật,

-25,5% theo Thiên Chúa Giáo,

-18,1 không theo đạo nào hết,

-82,6% biết tiếng Pháp,

-52% biết cả hai sinh ngữ Pháp và Anh.

Họ thường sinh sống ở đâu?

-90,5% trong vùng Montréal. (39,3% Quận Villeray-St Michel-Parc Extension-Côte des Neiges- Notre Dame de Grâce, 8,5% quận Rosemont- La Petite Patrie và 9,9% tại quận Saint Laurent),

-3,7% vùng thủ đô Québec,

- 2% vùng Gatineau.

Du sinh địch vận

Mời các bạn đọc xem bài gõ dưới đây của Gs Lâm Văn Bé (Montreal) để hiểu rõ thêm tình hình thật sự hiện nay của "người Việt có mặt" tại hải ngoại. http://nguoivietboston.com/?p=1457 Lâm Văn Bé - Du sinh và lao động xuất khẩu: Hai đặc sản của cộng sản Việt Nam

"Đó là 5000 du sinh con ông cháu cha và những công chức, công an giả dạng là "tu nghiệp sinh" đi học với học bổng của nhà nước. Họ đi học nhưng họ phải làm công tác địch vận theo nghị quyết 36 của đảng. Họ len lỏi trong các hội đoàn, các campus đại học, sử dụng các chiến thuật địch vận thời chiến tranh để tuyên truyền, khủng bố, khuynh đảo các cộng đồng người Việt. Trong đại học, họ khôn khéo lập các hiệp hội sinh viên, tuân hành các chỉ thị của tòa đại sứ để lôi cuốn các sinh viên con em người Việt tị nạn, vốn có tinh thần cởi mở nhưng lại ngây thơ trước các mưu chước thâm độc tâm lý chiến cộng sản. Đám du sinh địch vận nầy lại được sự hổ trợ của đám sinh viên du hí, bởi lẽ chúng phải bảo vệ tập đoàn cầm quyền của cha ông chúng. Chúng cũng có tác phong côn đồ ngang ngược khi cần đối phó với cộng đồng di tản chống đối chúng. Đám đông thầm lặng người Việt tị nạn ngao ngán trước viễn cảnh đã trốn cộng sản mà vẫn chưa được yên thân".( Ngưng trích).

-Eric Richard, Univ Laval, Québec: Une identité vietnamienne transnationale? Le cas des Vietnamiens de Montréal.

http://pages.usherbrooke.ca/sodrus/pdf/pdf_colnov05_1/comm_eric_richard.pdf
-Louis-Jacques Dorais, Univ Laval,Québec: Identités vietnamiennes au Québec

http://www.erudit.org/revue/RS/2004/v45/n1/009235ar.html
-Statistics Canada 2006. The vietnamese community in Canada

http://www.statcan.gc.ca/pub/89-621-x/89-621-x2006002-eng.htm

http://saigonecho.com/main/cdviettynan/xaydungcdviet/13373.html

-Suzana Loubet Del Bayle. Les Vietnamiens en République tchèque: le long chemin de l'émancipation.

http://www.regard-est.com/home/breve_contenu.php?id=982&PHPSESSID=...
-Caractéristiques socioéconomiques des immigrants résidant à Montreal. Mars 2010

http://ville.montreal.qc.ca/pls/portal/docs/PAGE/MTL_STATS_FR/MEDIA/DOCUMENTS/ 04_CARACT_POPULATION_IMMIGRANTE.PDF

-Portrait statistique de la population d'origine ethnique vietnamienne récensée au Québec en

http://www.quebecinterculturel.gouv.qc.ca/publications/fr/diversite-ethnoculturelle/com- vietnamienne.pdf
Montréal, 2012

Chủ Đề 30.4: Quê Hương ơi Hãy Chụp Giùm Tôi


Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
image
Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.
image
Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.
image
Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.
image
Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.
image
Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
image
Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
image
Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.
image
Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
image
Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.
image
Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.
image

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.
imageChụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.
image

Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.
image

Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.
image

Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.
image

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.
image

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.
image
Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.
image
Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.
image
Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ !
Trn Văn LươngCali, đu mùa Quc Hn

Những quả bom chờ nổ !!!


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 144 (01-04-2012)
http://www.dunghangviet.vn/uploads/content/2011/10/20/nhung-qua-bom-hen-gio-o-trung-quoc-961e.png            Tự bản chất, chế độ độc tài, nhất là độc tài Cộng sản, là một chế độ khủng bố, luôn tạo nguy hiểm cho nhân dân để tạo an toàn cho tập đoàn thống trị. Nghĩa là nó chuộng an ninh hơn là an dân. Ngoài ra, vì đã hình thành qua việc cướp quyền bằng đấu tranh vũ trang chứ không được quyền bằng đấu tranh chính trị, chế độ độc tài điều hành đất nước cách vô trách nhiệm, luôn coi thường ý kiến của người dân, nhất là giới trí thức dân sự và tôn giáo, do đó dần dần trở nên mù quáng và thiển cận, chỉ cốt thành công trước mắt cho bản thân chứ không quan tâm đến thất bại lâu dài cho dân tộc. Hơn nữa, giữa lòng hệ thống cộng sản toàn cầu, luôn có cảnh cá lớn nuốt cá bé, đảng đàn anh ức hiếp, bóc lột đảng đàn em. Thành ra chế độ độc tài cũng gây nên nhiều mối nguy cho toàn thể đất nước. Nói theo kiểu hiện thời, đó là những quả bom chờ nổ treo trên đầu dân tộc.
            Chỉ xét trên phương diện môi sinh, người ta thấy có nhiều ví dụ trong các nước Cộng sản: Đông Đức từng nổi tiếng có môi trường ô nhiễm nhất Âu châu, đến độ bảo vệ môi trường tại quốc gia này trở thành một vấn đề chính trị rất nhạy cảm. Ai dám nói về ô nhiễm môi trường sẽ bị nhanh chóng quy tội "phỉ báng nhà nước". Liên Xô thì có thảm họa môi trường nức tiếng với vụ nổ lò nguyên tử Chernobyl và khô cạn biển nội địa Aral. Trung Quốc thì lừng danh toàn cầu với việc thải khí CO2 vào khí quyển, việc ô nhiễm nghiêm trọng các dòng sông và nguy cơ vỡ đập Tam Hợp.  
            Tại Việt Nam, Cộng sản cũng đang treo trên đầu dân tộc nhiều quả bom nổ chậm, phần do thói vô trách nhiệm trước quốc dân, phần do óc hám tài tham lợi của đảng, phần do nỗi kinh sợ trước quần chúng, phần do thái độ hèn nhát bạc nhược trước “Thiên triều”.
            1- Trước hết là “quả bom bùn đỏ” đang đặt ở Tây nguyên kể từ năm 2007 và treo trên đầu nhân dân đồng bằng Nam bộ. Ngay từ khi dự án khai thác bauxite được bắt đầu tiến hành, nhiều nhà khoa học, nhiều vị trí thức nhân sĩ… đã lên tiếng cảnh báo hiểm họa này, hiểm họa mà Tàu cộng đã thâm độc chuyển từ Trung Hoa sang Việt Nam ta, nhờ sự tiếp tay của cựu tổng bí thư CS Nông Đức Mạnh và đương kim thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng. Đến khi quả bom bùn đỏ phát nổ tại Hungary ngày 05-10-2010, vấn đề hiểm họa Tây Nguyên lập tức đã được báo lề trái lẫn lề phải trong nước nêu lên lại. “Kiến nghị về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, với tấm gương về thảm họa vỡ hồ bùn đỏ ở nhà máy Ajka Timfoldgyar, Hungary” do nhóm Bauxite VN tung ngày 09-10-2010 chỉ trong vài hôm đã thu hút được khoảng 670 chữ ký và sau đó đã lên tới hàng ngàn. Nhưng đang khi chính phủ Hungary coi đó là hiểm họa hóa chất thảm khốc nhất lịch sử quốc gia này, mà nhiều khả năng là do lỗi của con người, để lập tức tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong vùng và hiện vẫn tiếp tục đổ nhân lực vật lực khắc phục các hậu quả. Thì tại Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng vẫn mạnh miệng tuyên bố đó là “chủ trương lớn của đảng và chính phủ”, nhiều cán bộ nhà nước hữu quan vẫn ngoác miệng khẳng định “tất cả đều nằm trong tầm kiểm soát và việc khai thác rất an toàn” kể cả sau khi chất độc tràn ra từ mỏ khai thác Bauxite Tân Rai vào tháng 9-2011, làm 200 ha đất chung quanh ô nhiễm trầm trọng. Dư luận cho rằng dự án này đã được tiến hành bất chấp các nguy cơ về môi trường, an ninh, văn hóa là do chỗ Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã được hưởng hàng trăm triệu đôla “lại quả” từ bọn Tàu xâm lược.
            2- “Chùm bom thủy điện” đang treo trên đầu dân chúng, làng mạc, phố thị ở miền Trung. Hiểm họa này đã được nhà văn Võ Thị Hảo cảnh báo từ tháng 11-2010 qua bài viết “Miền Trung ơi, ngươi đã bị thí mạng”. Xin trích: “Sau trận lũ lụt thảm khốc tại miền Trung hồi tháng 11-2009, nhiều đại biểu Quốc hội đã chất vấn chính phủ về nguyên nhân lũ lụt miền Trung. Một số nhà chuyên môn có uy tín đã phát hiện là “do yếu tố con người”: do những nhà máy thuỷ điện vì lợi ích cục bộ của mình, không thực hiện quy trình đã cam kết về vận hành hồ chứa phòng lũ, cứ tích đầy nước để chạy máy phát điện tối đa, đến lúc mưa lớn tràn về, liền mở cửa xã lũ ào ạt để bảo vệ đập và nhà máy, bất kể hậu quả cho dân vùng hạ lưu…. Trước đây, lũ lụt miền Trung chỉ khoảng 5-7 năm 1 lần, còn gần đây tần suất tăng lên, 1-2 năm 1 lần (chưa kể hai năm gần đây lũ chồng lên lũ)  và khốc liệt hơn… Trong lũ lụt có yếu tố con người. Riêng 9 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên gần đây đã phát triển tới 393 dự án thủy điện lớn nhỏ… Họ tích nước chủ yếu để sản xuất điện, chứ có mấy khi chủ động xả nước trong hồ để chờ lũ, đón lũ và cắt lũ. Vì vậy nguy cơ vỡ đập tràn, nước lớn từ thuỷ điện tác động vào lũ miền Trung càng gay gắt…”
            Vụ nứt đập Sông Tranh 2 thuộc tỉnh Quảng Nam, được phát hiện giữa tháng 3 mới rồi, càng làm lộ rõ hình ảnh chùm bom nổ chậm đặc biệt này. Đập đã được xây dựng từ tháng 3-2006 và cuối năm 2010 thì chính thức phát điện. Bờ đập chính của hồ chứa nước nằm sát tỉnh lộ 616. Dung tích hồ này thuộc hàng lớn nhất miền Trung, với khoảng 730 triệu m3 nước, được thiết kế cao hơn vùng hạ lưu khoảng 100 m. Những bức hình đăng trên báo chí mấy tuần nay cho thấy nhiều vết nứt lớn, nước tuôn tràn xối xả. Ngoài ra còn có vô số vết nứt nhỏ, từ đó nước rò rỉ thấm qua thân đập từ cuối năm rồi. Nếu không may đập vỡ, đó sẽ là một quả bom nước 730 triệu tấn thổi bay sinh mạng và nhà cửa của 40.000 người dân toàn huyện Bắc Trà My, chưa kể hàng nghìn hộ dân ở các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, Thăng Bình, Nông Sơn có dòng Sông Tranh 2 chảy qua đổ ra sông Thu Bồn cũng bị ảnh hưởng. Vậy mà chủ đầu tư Dự án Thủy điện Sông Tranh 2, trong công văn ngày 19-03, vẫn ngang nhiên khẳng định: “Công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn hoạt động ổn định và an toàn”. Gần đây nhất, hôm 23-03, Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình thuộc Bộ Xây dựng, trả lời phỏng vấn của Đài Truyền hình và Thông tấn xã VN, vẫn mạnh miệng tuyên bố: “Tôi có thể khẳng định là đập vẫn đảm bảo an toàn, kể cả sau khi xảy ra một số trận động đất kích thích thời gian qua tại vị trí xây dựng. Qua kiểm tra, không phát hiện những dấu hiệu bất thường của công trình”!?! Nhiều nhà khoa học đã đề nghị đập hãy xả hết nước để kiểm tra toàn diện, dán màn chống thấm và sửa chữa các vết nứt, nhưng xem ra vì sợ mất lợi nhuận nếu ngừng phát điện, nên đề nghị chí lý này đến nay vẫn bị những kẻ trách nhiệm bỏ ngoài tai!
            3- “Loạt bom hạt nhân” từ l6 lò phản ứng mà nhà cầm quyền dự định xây xong trước năm 2030, phần lớn tại Ninh Thuận, nhờ các chuyên gia và thiết bị của Nga và Nhật, bất chấp thảm họa nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl của Nga năm 1986 và nhà máy điện nguyên tử Fukushima của Nhật năm rồi. Gọi đây là loạt bom hạt nhân vì theo lời Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, chuyên gia lâu năm trong ngành, nguyên Cố vấn Nha Kinh tế - dự báo - chiến lược ở Paris, giáo sư Viện Kinh tế - chính sách năng lượng và Đại học Bách khoa Grenoble (Pháp): “Hạt nhân Fukushima–Daiichi hay Hiroshima, Nagasaki cũng là một. Phóng xạ giết người của bom nguyên tử hay của lò điện hạt nhân cũng vẫn là một. Những tâm lò phản ứng điện hạt nhân nóng chảy kia đã và đang làm bao trái tim của thường dân và trẻ em vô tội tan nát, nguyên nhân của bao cuộc sống điêu đứng, đau thương”. Ý thức được thảm họa này, các nước Âu châu và Bắc Mỹ đã lên chương trình xóa sổ điện hạt nhân, Nhật Bản chỉ còn 1 trên tổng số 54 lò phản ứng hoạt động. Thế mà Việt Nam lại đang có một chương trình điện hạt nhân "tham vọng vào loại bậc nhất trên thế giới" với giấc mơ điện hạt nhân "đâm hoa đua nở" trong lúc thế giới thì đang lo ngại tìm giải pháp thay thế chúng” (New York Times, 01-3-2012). Tham vọng lớn như thế nhưng lại chưa tập hợp được một đội ngũ chuyên gia cần thiết cho việc khai thác, điều chỉnh mà phải bắt đầu từ số không. Thời hạn lại quá ngắn để có thể tạo lập một tổ chức quản lý khả tín, đặc biệt trong một đất nước có tiếng đầy nạn tham nhũng, thừa thói vô trách nhiệm, vắng sự minh bạch công khai và thiếu các tiêu chuẩn an toàn, nên nguy cơ xảy ra một kịch bản như ở Chernobyl và Fukushima là rất lớn. Ngoài thảm họa môi trường, đó cũng là một thảm họa tài chánh theo lời Tiến sĩ Phùng Liên Đoàn, một chuyên gia nguyên tử thượng thặng khác đang làm việc tại Mỹ: “Các nhà máy ĐHN rất đắt tiền, phải kế hoạch cả 10, 15 năm thì mới xây xong, và khi điều hành thì có rất nhiều rủi ro là nhà máy nằm chết không tạo điện. Khi nhà máy nằm chết thì ta vẫn phải trả nợ tiền vay. Nước Việt Nam còn rất nghèo…. Đối với ngân sách của ta, 10-20 tỉ USD là rất lớn, cần phải đi vay mượn”.
            4- Những quả bom nổ chậm khác: Không cần nói thì ai cũng biết chúng đang nằm nơi các đồn công an dày đặc trên khắp đất nước. Từ mấy năm nay, số nạn nhân bị lực lượng “chỉ biết còn đảng còn mình”, “kiêu binh thời đảng trị” này ngày một gia tăng. Thê thảm nhất là một đàng họ bị tra tấn đến vong mạng chỉ vì những nguyên cớ rất nhỏ nhặt (ngồi xem đánh bạc, không đội mũ bảo hiểm, gây lộn xộn trên đường, xích mích với cảnh sát, có thư tố cáo nặc danh…), đàng khác lại bị công an vu cáo là tự đập đầu vào vách, tự treo cổ lên xà nhà… và rồi hầu hết mọi vụ án đều chìm xuồng, mọi thủ phạm đều ung dung ngoài vòng pháp luật hay chỉ bị xử phạt rất nhẹ. Loại bom nổ chậm nữa đang nằm trên Biển Đông, từ bàn tay lũ hải tặc Tàu, lủng lẳng trên đầu các ngư dân Việt vô tội, treo lên bằng sợi chỉ là lời tuyên bố hết sức vô trách nhiệm, khó tưởng tượng nổi của thứ trưởng bộ Quốc phòng Việt cộng: “Ngư dân bị tàu lạ ngăn cản, cướp bóc, giết chết là vấn đề dân sự; quân sự không can thiệp!”. Quả bom đó hiện đe dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và hàng trăm nhà máy thủy sản, đã đe dọa sinh mạng của hàng ngàn ngư dân lâm nạn Tàu tặc gần cả thập niên rồi, và đang đe dọa tài sản lẫn gia đình của 21 ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi bị bắt hôm 21-03 gần quần đảo Hoàng Sa, vốn bị xử phạt mỗi người 70.000 nhân dân tệ, tức hơn 200 triệu đồng Việt Nam! Cuối cùng là quả bom tài chính vốn đang làm vỡ tung các đại tập đoàn công nghiệp với những món nợ khổng lồ, làm 30% công ty phá sản và 200.000 doanh nghiệp sập tiệm (Việt Báo 26-03-12), kéo theo sự sụp đổ nay mai của nền kinh tế Việt Nam.
            Ai tạo ra những quả bom nổ chậm đang đe dọa cuộc sống toàn dân và phá hủy tương lai đất nước ấy? Hỏi tức là đã trả lời!
            BAN BIÊN TẬP

Nhân Mùa Chay và Mùa Phục sinh : Một bác sĩ phật tử trở thành Linh Mục phục vụ người cùi


MỘT CON TIM NHÂN ÁI HIẾM QUÍ CHO CUỘC ĐỜI NÀY. PT. NMS.
http://saigonecho.com/main/images/stories/saints/damien_180310.jpg 
Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng. Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:

- Anh có điên không hay là anh bị cùi?

Đây là câu hỏi của trưởng phòng Sở Y tế Lâm Đồng. Miễn bàn!

 


NHỮNG CÁI VỖ TAY VÔ THANH

 
Một tin tức gây sửng sốt cho các Kitô hữu tại Việt-Nam cũng như ở hải ngoại qua bài “BA MƯƠI NĂM CHO MỘT GIẤC MƠ” đăng trên Ephata số 110.
Bài đó viết về giấc mơ của một Phật tử - bác sĩ Nguyễn Viết Chung - người mà trước đây rất cảm mến cuộc đời hy sinh của Đức Cha Jean Cassaigne, vi giám mục người Pháp đã gởi nắm xương tàn ở trại cùi Di Linh. Bác sĩ đã ôm ấp một giấc mơ từ ba mươi năm nay là được phục vụ các người xấu số như Đức Cha Jean Cassaigne.

Sau khi tốt nghiệp y khoa vào năm 1980, bác sĩ Nguyên Viết Chung đã tình nguyện phục vụ ở các trại phong cùi và tại đây bác sĩ Chung đã chứng kiến sự tận tụy hy sinh của các nữ tu nghĩa tử dòng Thánh Vinh-Sơn nên đã quyết định theo đạo Công giáo vào tháng 5 năm 1994 với tên thánh Augustinô.
Vào tháng 8 năm đó, bác sĩ Chung xin vào tu dòng Thánh Vinh-Sơn và đã nhận lãnh thánh chức linh mục ngày 25 tháng 3 năm nay để có thể tận hiến đời mình một cách trọn vẹn hầu phục vụ các bệnh nhân phong cùi và liệt kháng.

Vì xúc động bởi mẩu tin đó, tôi đã nhờ người bạn thân ở Saigon liên lạc để kiếm giùm cuốn video Thánh lễ phong chức của cha Augustinô Nguyễn Viết Chung.
Gần đây tôi đã được toại nguyện khi một linh mục trẻ về thăm Việt-Nam và vừa trở lại Canada đã mang sang cuốn video đó cho tôi. Được xem lại Thánh lể trang nghiêm và sốt mến mà trong đó một bác sĩ - trước kia là Phật tử - nay trong phẩm phục phó tế, đang hiên ngang tiến vào thánh đường họ đạo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Saigon và đã nằm phủ phục trước bàn thờ để nhân lãnh thánh chức linh mục.

Càng cảm động hơn nữa khi tôi được xem cuốn video thứ hai trình bày những hoạt động phục vụ của cha Chung ở tại các trại phong cùi và bệnh liệt kháng. Một quang cảnh đã gây ấn tượng mạnh nơi tôi là khi thấy cha Chung sau khi thăm viếng khám bệnh các bệnh nhân phong cùi xong thì đã đứng vòng quanh với các bệnh nhân đó mà có người đứng, người ngồi hay nằm trên giường hoặc giữa sàn nhà, vừa hát vừa vỗ tay… Thật đau xót khi thấy vài bệnh nhân mà đôi bàn tay không còn một ngón hay chỉ còn một vài nửa ngón mà cũng ráng vỗ tay theo nhịp điệu bài hát!

Trong những sách thiền có đề cập đến công án về “tiếng vỗ của một bàn tay” khiến người Tây phương khi nghiên cứu phải điên đầu về ý nghĩa của công án đó. Thông thường tiếng vỗ chỉ phát ra khi hai bàn tay chạm nhanh và chạm mạnh vào nhau, Cứ suy lý đó thi với một bàn tay không thể nào gây nên tiếng vỗ tay được.

Theo thường tình, phải có môi trường (tức không khí...) thì mới có âm thanh, và chỉ có những rung động hay đột xuất làm thay đổi áp suất của môi trường mới cho chúng ta âm thanh. Vậy một tay đập mạnh trong không khí sẽ cho chúng ta tiếng cọ xát (tức gió), nhưng nếu nhanh hơn vận tốc âm thanh sẽ cho chúng ta tiếng nổ siêu thanh Từ tiếng kêu của vô thanh tới tiếng nổ của siêu thanh đều có thể thực hiện được.

Như vậy không có tiếng vỗ của một bàn tay. Thế nhưng, mục đích của công án đó là để giúp chúng ta tìm sự thinh lặng của vũ trụ, đồng thời cho chúng ta thấy những giới hạn của con người trong những vòng lẩn quẩn của lý luận và của trí thức. Chúng ta phải cảm nghiệm được sự im lặng tuyệt đối hiện hữu trước chúng ta và sau khi chúng ta thôi hiện hữu.
Và như vậy, dưới nhãn quan của thiền gia, người nào nhận ra được chân lý đó sẽ có cơ hội gạt bỏ hết các tạp niệm để hoà mình với vũ trụ, làm một với vũ trụ, trở nên một phần tử cùng hiện hữu với vũ tru. Chỉ có thế chúng ta mới thấy mình và tha nhân là một. Do đó khi mình vượt lên trên mọi đối đãi, thị phi thì mình sẽ tìm về với tuyệt đối, chân như.

Vậy tiếng vỗ “vô thanh” của hai bàn tay mà năm ngón đã rơi rụng hết đã tạo thành những tiếng nỗ siêu thanh xuyên phá quả tim con người! Tiếng nỗ siêu thanh đó đã xuyên thấu con tim của một bác sĩ trẻ tuổi, khôi ngô tuấn tú khiến bác sĩ tỉnh ngộ mà tận hiến đời mình cho những con người xấu số đang mang lấy trong thân xác khổ đau của họ những thiếu sót trong thân thể khổ nạn của Đức Kitô.

Trước đây Phi-la-tô đã trình diện cho dân Do-Thái một Đức Kitô với thương tích đầy mình cùng chiếc mũ gai trên đầu rồi nói: “Nầy là người!” (Ecce homo). Qua cuôn video đó những vết thương đau của Đức Kitô đang hiển hiện qua các thân thể đớn đau của những người phong cùi và liệt kháng cũng được trình diện cho những người dự khán. Ngày xưa khi nói về Đức Kitô khổ nạn trên thập giá, tác giả Thánh vịnh đã viết: “Hởi người bộ hành, hãy đứng lại nhìn xem, có đau khổ nào lớn hơn nỗi đau đớn mà tôi đang chịu đây chăng!” Nỗi đau đớn của Đức Kitô còn đang tiếp nối trong những thân thể bị tàn phá bởi chứng phong cùi hay bệnh liệt kháng. Những tiếng vỗ của một bàn tay vì bàn tay kia đã cùn cụt hay tiếng vỗ của đôi bàn tay mà năm ngón đã rơi rụng hết có cảm động tâm can chúng ta như đã cảm động cậu Nguyễn Viết Chung ba mươi năm về trước không?

Cùng với Lm. Nguyễn Công Đoan, chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta được thực hiện trong đời sống mình những tâm tưởng sau đây để hàn gắn phần nào những thương đau của những con người xấu số, những phần thân thể còn đang bị thương tổn của Đức Kitô:

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa
Làm chân tay cho những người què cụt,
Làm đôi mắt cho ai phải đui mù,
Làm lỗ tai cho những người bị điếc,
Làm miệng lưỡi cho những người không nói được,
Làm tiếng kêu cho người chịu bất công…

(Trích bài thơ “Như Một Sự Tình Cờ”)
Tác giả: Đỗ Tân Hưng  

ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN 

Lm. Nguyễn Viết Chung
Một ngày vào năm 1973, các báo ở Sài gòn đồng loạt đưa tin về cái chết của Jean Cassaigne, một người Pháp, nguyên là Giám Mục Sài gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo heo hút gió trên đường từ Sài gòn đi Đà Lạt. Nguyễn Viết Chung đọc tiểu sử của vị cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu anh lại mong muốn được nên giống ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh chẳng biết gì về Đạo Công giáo, thế mà Đức Cha Cassaigne lại là thần tượng của anh.

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh, giáo sư bác sĩ Lichtenberger người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưởng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ.
Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình.

Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng. Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:

- Anh có điên không hay là anh bị cùi?

- Nếu tôi cùi thì bà đã thấy rồi. Còn có điên hay không thì tôi không biết, nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.

Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu, vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình.
Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây, anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu nữ tử Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế, anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo, nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ. Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.

Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được cha chính xứ Bến Sắn, Linh mục Trần Thế Thuận làm lễ rửa tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung không hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đườngTrần Phú, Đà Lạt. Ngày lễ truyền tin 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung qua lễ đặt tay của Giám mục Giuse Vũ Duy Thống tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn.

Ngày  3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi.
Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dõng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”. 

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẻ trên ơn gọi của cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung - như lời cha Chung - đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói.
Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:

“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.”
KẾT LUẬN
Theo Vietcatholic news: Ngày 18.10.2009 Giáo phận Xuân Lộc đón nhận 1114 tân tòng và hơn 2000 người là thân nhân, họ hàng, bạn bè của các tân tòng. Chủ sự Thánh lễ, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc cùng đồng tế có Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục giáo phận Kontum và hơn 50 cha trong giáo phận.
Ở mỗi giáo xứ hay mỗi nhà thờ hàng năm đều có làm lễ “Rửa tội” cho người lớn, thông thường con số cũng vài chục người. Trong số những người nhận Bí tích thanh tẩy, con số không nhỏ là những người trí thức.
Con đường đến với Thiên Chúa tình yêu, đến với Hội Thánh Chúa bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương mời gọi tìm về suối nguồn tình yêu là Thiên Chúa toàn năng, để được an ủi, để được hạnh phúc đời này lẫn hạnh phúc vĩnh cữu đời sau, sau khi mất.
Phùng văn Phụng


 
Các nhân vật VNCH đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo sau 1975:
 
- Quốc Trưởng Bảo Đại

- Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn
(Việt Sĩ chú thích: Cố Thu? Tướng Nguyễn Bá Cẩn, cựu sinh viên Đốc Sự  Khóa I (?) Quốc Gia Hành Chánh, cựu Chu? Tịch Ha. Nghi. Viện VNCH II đã được Đức Me. Lỗ Đức (Lourdes) chữa lành bệnh nan y về mắt và nhãn quang sau khi ông xin khấn. Vì thế ông đã trở lại đạo Công Giáo).
 
- Bộ Trưởng Ngô Khắc Tỉnh 
 
- Nghị Sĩ Đặng Văn Sung
 
- Giáo Sư Trần Bích Lan

- Giáo Sư Vũ Quốc Thúc
- Tướng Nguyễn Khắc Bình
 
- Tướng Lê Minh Đảo
 
- Tướng Phan Đình Thứ tự Lam Sơn
- Tướng Lê Văn Tư (Tư Lệnh SĐ 25)
- Đại Tá Dương Quang Tiếp (Cảnh Sát)
- Đại Tá Phùng Ngọc Ẩn (Không Quân)
 
- Nhạc sĩ lãng mạn kiêm Trưởng Ty Thông Tin Dân Vận Gia Định (?) (sau này trở thành Thày Sáu, tác giả những ca khúc khét tiếng một thời "Không Tên 1 - 9999..." đã làm sót sa bùi ngùi sụt sùi hai hàng châu lệ biết bao qúy phu nhân và tiểu thư...trên toàn cõi Nam VNCH và sau ngày 30/4/75 trên toàn lãnh thô? Cộng Hòa Xã Hội Chu? Nghĩa VN (Hết) Độc Lập (chỉ còn là... đập lột), (Mất) Tư. Do (cái cột đèn nếu biết chạy chúng cũng..."khẩn trương"...dông luôn một lèo ...sang... Mỹ) và (Chẳng Còn Chút Mảy May) Hạnh Phước (chỉ còn lại tuyền một màu đen ảm đạm, thê lương, tăm tối của những phần số ....cái bang bị gậỵ..chuyên nghiệp.
---

Luật Sư Miranda Du :Thêm một chánh án liên bang gốc Việt được Thượng Viện phê chuẩn

Ðây là chánh án liên bang gốc Việt thứ nhì tại Hoa Kỳ và là gốc Châu Á đầu tiên tại Nevada.
 
WASHINGTON, DC  - Luật Sư Miranda Du vừa được Thượng Viện Mỹ phê chuẩn làm chánh án liên bang tại tiểu bang Nevada hôm Thứ Tư, với số phiếu 59-39, thông báo của Tòa Bạch Ốc cho biết.
 
Nữ Luật Sư Miranda Du vừa chính thức trở thành vị chánh án liên bang gốc Việt thứ nhì tại Hoa Kỳ.
 (Hình: McDonald-Carano-Wilson, LLP)
 
Ðây là chánh án liên bang gốc Việt thứ nhì tại Hoa Kỳ và là gốc Châu Á đầu tiên tại Nevada.
Hồi năm 2009, qua đề nghị của TNS Dianne Feinstein (Dân Chủ-California), Luật Sư Jacqueline Nguyễn, lúc đó là chánh án Tòa Thượng Thẩm California, được Tổng Thống Obama đề cử làm chánh án tòa liên bang US District Court, Los Angeles, và được Thượng Viện chấp thuận với số phiếu 97-0.
 
Nữ Luật Sư Miranda Du được TNS Harry Reid (Dân Chủ-Nevada), lãnh tụ khối đa số Thượng Viện Mỹ, đề nghị với Tổng Thống Obama.
Trong một thông cáo báo chí trên trang web của mình trước đây, TNS Harry Reid cho biết: “Miranda Du là một người hành nghề luật kinh nghiệm và có nhiều kinh nghiệm tranh tụng. Bà hiểu biết rộng và dấn thân trong cộng đồng tại Nevada. Từ khi còn rất trẻ, Miranda Du phải trải qua nhiều khó khăn và trường hợp của bà phản ánh một câu chuyện di dân thành công.”
Luật Sư Miranda Du, con một cựu quân nhân QLVNCH, cùng gia đình vượt biên lúc 9 tuổi và cập bến Malaysia năm 1979, trước khi định cư tại Hoa Kỳ một năm sau đó, theo tác giả Erin Gulden trong bài viết “An Ocean of Experience” đăng trên tạp chí “Super Lawyers,” số ra Tháng Bảy, 2009.
Sau khi tốt nghiệp trung học, Miranda Du vào đại học UC Davis, và tốt nghiệp hai bằng cử nhân, lịch sử và kinh tế, năm 1991.
Sau đó, bà học luật tại đại học UC Berkeley và tốt nghiệp năm 1994.
Luật Sư Miranda Du có bằng hành nghề luật tại California và Nevada. Bà cũng là thành viên Luật Sư Ðoàn Hoa Kỳ, và là cộng sự viên làm việc ở công ty luật McDonald-Carano-Wilson, LLP, tại Reno, Nevada.
Tòa Bạch Ốc cũng cho biết, qua đề cử của Tổng Thống Barack Obama, hồi Tháng Mười Hai năm ngoái, Chánh Án Jacqueline Nguyễn được Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện đồng thanh chấp thuận làm chánh án Tòa Kháng Án Khu Vực 9, và đang chờ Thượng Viện phê chuẩn.
Nếu được Thượng Viện thông qua, Chánh Án Jacqueline Nguyễn sẽ là chánh án gốc Việt đầu tiên làm việc tại một tòa kháng án Hoa Kỳ.
Tòa Kháng Án Khu Vực 9 phụ trách các tiểu bang và lãnh thổ như Alaska, Arizona, California, Guam, Hawaii, Idaho, Montana, Nevada, Northern Mariana Islands, Oregon và Washington.

Bài Xem Nhiều