We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 4 April 2012

Songkhla 1980 : "Hồi ký" Những Người Vượt Biển

LTS.- Sau ngày xâm lăng xong nước Việt Nam Cộng Hòa của tập đoàn Việt gian cộng sản, tức đảng Cộng-sản Việt Nam từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lấn chiếm, 30/4/1975. Hàng triệu người dân của nước VNCH đã phải bỏ nước ra đi tỵ nạn CS tìm Tự Do nơi xứ người bằng mọi phương tiện có được.

Cho tới nay, đã 37 năm, vết thương của Dân Tộc vẫn còn in đậm, và chưa kép kín!!!

Thế nhưng, qua những thảm cảnh hằng trăm ngàn nạn nhân trên đường tìm Tự Do đã phải đánh đổi, gánh chịu; tại hải ngoại đã và đang có những phần tử phản bội lại lý tưởng, chính nghĩa của người Việt tỵ nạn CS chúng ta. Chúng lần lượt làm tay sai cho lũ Việt gian buôn dân bán nước để cầu danh vọng và lợi lộc cho cá nhân cùng bè đảng.

Kính mời quý độc giả đọc lại những dòng tự thuật của một trong muôn vàn thảm cảnh mà người dân Việt đã phải gánh chịu trên con đường tìm Tự Do.


Trường hợp của Thuyền Nhân Vũ Duy Thái

(Tự thuật từ trại tị nạn Songkhla, Thái Lan –Tháng 4,1980)


Tôi tên là Vũ Văn Thái, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936 tại Hóa Lộc, Tuyên Sơn, Ninh Bình (Bắc Việt). Thuở nhỏ rất nghèo, phải chăn trâu cắt cỏ từ lúc 5 tuổi. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mẹ ốm đau thường xuyên, nhưng lần hồi đến năm 23 tuổi thì đời sống tương đối dễ chịu hơn với nghề thợ may.

Tôi di cư vào Nam năm 1954 và lập gia đình vào ngày 6-4-1958 ở xứ An Lạc, Gia Định. Nhà tôi tên là Đinh Thị Bằng, sinh năm 1940 tại Phú Nhai, Nam Định (Bắc Việt). Nhà tôi cũng thuộc thành phần di cư năm 1954. Lúc mới lấy nhau, chúng tôi rất nghèo. Tiền đám cưới có 6,000 bạc chúng tôi cũng lo không nổi phải đem bán cái máy may được hai ngàn và vay mượn bạn bè thêm bốn ngàn nữa mới tạm đủ. Như thế nhà tôi đã khởi sự chia sẻ với tôi nỗi gian nan, vất vả của đời sống ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng. Những năm đều sống thiếu thốn cực nhọc trôi qua trong sự đảm đang, tần tảo của nhà tôi. Là một phụ nữ yếu đuối về thể chất nhưng lại rất mạnh mẽ về tinh thần, nhà tôi đã phấn đấu, hy sinh rất nhiều để lo lắng cho chồng con. Gần như trong suốt cuộc đời, nhà tôi không được hưởng thụ gì, không có một thói quen giải trí nào, không ưa thích một điều gì ngoài niềm vui lo toan sắp xếp công việc tề gia nội trợ, chăm lo bữa ăn giấc ngủ cho chồng cho con. Lúc nào nhà tôi cũng cố gắng sắp xếp để cho chồng con được ăn ngon, mặc đủ. Dưới mắt tôi, nhà tôi là một phụ nữ tuyệt vời, một mẫu người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu, hiền hòa, luôn luôn là niềm an ủi khích lệ, là chỗ dựa vững chắc cho toàn thể gia đình.

Chúng tôi sinh hạ được tất cả 7 con, tuần tự gồm có:

1 Giuse Vũ Duy Thanh sinh năm 1959
2. Vincente Vũ Duy Khanh sinh năm 1961
3. Phero Vũ Duy Tuấn sinh năm 1963
4. Maria Vũ Thị Thanh Thủy sinh năm 1966
5. Maria Vũ Thị Thanh Thủy Trang sinh năm 1968
6. Martin Vỹ Duy Tài sinh năm 1971
7. Phero Vũ Duy Trí sinh năm 1975

Gia đình tôi được kể như hoàn toàn hạnh phúc nếu như không có sự sụp đổ miền Nam, đất nước rơi vào tay Cộng Sản (CS). Là một gia đình Thiên Chúa giáo ngoan đạo, các con tôi đã thụ hưởng một nền giáo dục nằm trong tình yêu thương của Thiên Chúa do đó không bao giờ chúng tôi có thể sống nổi dưới ách độc tài, đàn đáp của CS. Vì thế chúng tôi đành quyết định bỏ nước ra đi.



Chuyến vượt biển thứ nhất, vợ chồng tôi cho ba cháu trai đầu đi trước. Tầu khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài Gòn vào ngày 1 tháng 10 năm 1978 chở theo 130 người. Nhưng chỉ đi được 4 ngày thì chết máy. Ghe lạc vào một đảo san hô đầy đá ngầm thuộc đảo Bành Hồ (Đài Loan). Sống ở đó 50 ngày, thực phẩm hết, số người chết vì đói cứ tăng dần và những người sống sót đành xẻ thịt người chết mà ăn để sinh tồn. Hai cháu lớn của tôi, Vũ Duy Thanh và Vũ Duy Trung đã bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát này. Các cháu đã chết và xác của các cháu đành cho bạn đồng ghe ăn thịt.

Mãi tới sáng ngày thứ 50 trên đảo mới có tầu đánh cá Đài Loan tới cứu. Cả ghe 130 người chỉ còn sót có 60 người. Nhưng trên đường từ đảo san hô vào Đài Loan, lại có thêm một số người chết nữa vì quá kiệt sức. Rút cục khi đặt chân lên đất liền ở Đài Loan, chỉ còn 34 người sống sót, trong số đó có con trai thứ ba của tôi là Vũ Duy Tuấn và một đứa con đỡ đầu của tôi nữa tên Trịnh Vĩnh Thụy. Hiện cháu đang ở Đài Bắc. Còn cháu Thụy, nhờ có thân nhân ruột thịt bảo lãnh nên đã định cư tại tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Trước thảm kịch có hai anh ruột bị chết thảm, cháu Tuấn vì sợ bố mẹ đau buồn nên đã dấu biệt tin tức. Mãi tới ngày 20-12-1978, một người bạn của tôi tên Đỗ Minh Ngự ở Mỹ viết thư báo tin, gia đình tôi mới được rõ tin tức về chuyến đi kinh hoàng đó. Vào đúng thời điểm này, gia đình chúng tôi lại đang chuẩn bị vượt biển chuyến thứ hai. Chung tôi làm lễ cầu nguyện 3 ngày liền cho hai cháu ở nhà thờ An Lạc, Chí Hòa, rồi mặc dù vô cùng đau đớn, chúng tôi vẫn tiếp tục xúc tiến cuộc hành trình vượt biển với cả gia đình.

Chúng tôi rời Sài Gòn vào ngày 28 tháng 12 năm 1979 lúc 4 giờ sáng để đi xuống Rạch Giá. Qua 4 giờ sáng ngày 29-12 thì ghe của chúng tôi ra khơi, chiếc ghe mang số VNKG 0980, dài 13 m, ngang 2,5m, chở 120 người. Ghe chạy tới 7 giờ chiều ngày 30-12 thì gặp hải tặc Thái Lan (trên tàu cướp có treo cờ Thái Lan), chúng xáp lại cướp lần đầu. Cướp xong, chúng bỏ đi. Qua 8 giờ sáng ngày 31-12 lại gặp một tầu cướp khác. Lần này cướp xong, chúng phá máy tầu. Một chuỗi 8, 9 tiếng nổ phát ra ở hầm may làm chiếc ghe lập tức bị chao đi và chìm lỉm ngay ít phút sau đó. Tất cả mọi người trên ghe đều la khóc kinh hoàng. Vào những giây phút cực kỳ khiếp đảm này, vợ chồng chúng tôi không nói được với nhau câu nào. Tôi chỉ còn kịp nhìn thấy nhà tôi với vẻ mặt hết sức kinh hoàng, thảng thốt. Rồi tôi cúi xuống hôn hai con chót của tôi là cháu Tài (8 tuổi) và cháu Trí (4 tuổi). Tôi cũng nghe thấy tiếng cháu Thùy kêu la: “Cha ơi... chú Tuynh kìa..” và cháu Trang la lên “Cha ơi ... chết rồi..” Rồi ghe chìm lỉm. Lúc đó nhà tôi vẫn ở bên cạnh tôi. Nhưng nhà tôi không hề níu kéo lấy tôi. Đây là sự hy sinh cao cả cuối cùng của nhà tôi dành cho chồng con. Nhà tôi không muốn tôi bận bịu, vướng mắc giữa sóng biển để tôi có cơ hội cứu các con. Khốn thay, một con sóng độc ác đã ùa tới nhận chìm tất cả những người thân yêu của tôi. Tôi không còn thấy ai nữa. Chỉ có sóng nước ngập đầu. Ngay lúc đó tôi được một người cháu tên Phương níu tôi lại và tôi bíu vào một cái can nước. Tôi ôm cái can một cách hoàn toàn theo bản năng. Và lúc tôi mở được mắt ra thì tôi thấy nhà tôi vật vờ ngay trước mắt.. Rồi sau đó tôi ngất đi, không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy tôi nhìn thấy mình đang nằm trên tàu của hải tặc. Bên cạnh tôi là hai em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho nhà tôi, chắc là nhà tôi vừa được các em vớt lên. Tôi cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn hải tặc đã ra hiệu là phải hất nhà tôi xuống biển. Thật không còn gì tan nát hơn lòng tôi lúc đó. Tôi nhào lại, ôm nhà tôi vào lòng, đau đớn nhìn nhà tôi hai mắt vẫn còn mở nhưng thân hình đã bất động. Tôi đã đã dùng tay vuốt cho hai mắt của nhà tôi khép lại rồi tôi khiêng ở đầu, hai em Hùng và Châu khiêng ở chân hạ nhà tôi xuống biển. Đó là lần cuối cùng tôi ở cạnh nhà tôi. Những giây phút đau đớn nhất của một đời người. Một cơn sóng áp tới. Biển xanh bao vây nhiều sóng dữ đã vĩnh viễn lôi cuốn đi người vợ thân yêu nhất đời của tôi. Không bao giờ tôi còn gặp lại. Không có cả một nấm mồ để tôi lui tới thăm viếng. Một thoáng lay động trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia lìa. Ôi đau đớn nào cho bằng sự đau đớn mà tôi đã phải chịu đựng. Tất cả những người thân yêu nhất của tôi đã ra đi trong khoảnh khắc. Khi chết, nhà tôi bận một cái quần đen, một cái áo montagut đen. Nét mặt nhà tôi không tỏ vẻ đau đớn gì cả. Chỉ có nét thảng thốt thoáng qua trên khuôn mặt bình thản. Đó là hình ảnh cuối cùng của nhà tôi mà tôi ghi nhớ được trước giây phút ngàn năm vĩnh biệt.

Kiểm điểm lại, chẳng những nhà tôi chết trên biển mà tất cả bốn đứa con của tôi đều chết đuối hết, cháu Thanh Thùy, cháu Thùy Trang, cháu Duy Tài, cháu Duy Trí, những người thân yêu nhất của đời tôi đã vĩnh viễn đi vào lòng biển sâu. Tôi tưởng rằng nếu trên đời này có những thảm họa đau đớn nào thì thảm họa giáng xuống gia đình của tôi phải kể là một trong những thảm họa lớn nhất, khủng khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng của một con người... Cùng số phận với vợ con tôi còn có 65 người khác nữa đi cùng ghe với tôi cũng đã bị chết chìm. Như thế, cả thảy 70 sinh mạng thuyền nhân trong ghe này đã bị chết dưới bàn tay bạo tàn của hải tặc. Số còn lại được hải tặc đưa vào đảo Kra, một hòn đào nằm trơ vơ giữa biển cả trong Vịnh Thái Lan. Đảo này bây giờ trở thành địa ngục của dân Việt Nam tị nạn bằng thuyền. Bởi vì bất cứ ai bị đưa vào đây đều trở thành nạn nhân của sự bạo hành: Tra tấn đàn ông để khảo của, và bắt chỉ chỗ trốn của phụ nữ, còn phụ nữ thì lẩn lút trong hốc núi, trong rừng sâu hay trong vách đá ngầm nhô ra ngoài biển. Trên đảo có nhiều dấu tích thảm thương của đồng bào đi trước để lại như những hàng chữ viết lên vách đá, những mớ tóc đàn bà vương vãi rải rác khắp mọi nơi (chắc là được cắt đi để giả trai) và cả những xác thuyền, những ngôi mộ của những người đã bỏ xác ở đó.

Chúng tôi được đưa lên đảo vào lúc 6 giờ chiều ngày 31-12 năm 1979. Lòng đớn đau, thân xác rã rời, bệnh hoạn. Các em tôi phải tìm kiếm cỏ khô trải thành nệm cho tôi nằm, lo tìm thức ăn cho tôi ăn. Vì tôi quá đau ốm nên chú Chiếu đã chịu khó đi mày mò ở khắp mọi chỗ, bòn mặt ở những nơi có vật dụng vương vãi của đồng b ào đi trước bỏ lại để tìm kiếm cho tôi những viên thuốc. Có những viên đã vữa nát vì nắng mưa, có những viên mòn vẹt chỉ còn lại một phần tư nhưng tôi vẫn cố nuốt để cầm cự được cho sức khỏe đã vô cùng suy sụp của tôi.

Sáu ngày trên đảo là sáu ngày buồn thảm, kinh hoàng. Đói, bệnh và những nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của tâm hồn tôi. Trong khi ấy, các phụ nữ đi cùng ghe vẫn phải lẩn trốn như những con vật vô phương tự vệ trước những cuộc lùng sục bạo tàn của hải tặc.

Đến ngày 6 tháng 1 năm 1980, chúng tôi được Cao Ủy LHQ phát hiện (bằng trực thăng bay qua đảo) và đưa thuyền ra đón vào quận Pakphanang thuộc tỉnh Nakorn Sri Thamaraj. Ở đó 18 ngày làm thủ tục với cảnh sát Thái, thì chúng tôi được đưa về trại Songkhla ngày 23-1-1980.


Hôm nay là ngày 10 tháng 4 năm 1980, là ngày thứ 100 nhà tôi và các cháu chết trên biển, trong Vịnh Thái Lan trên đường vượt thoát xứ CS để đi tìm tự do. Tôi đang ở trại tị nạn Songkhla. Cách đây 50 ngày, Cha Tuyên Úy Joe Devlin đã dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho nhà tôi và các con tôi tại nhà thờ ở trong trại. Hôm nay, nhân dịp 100 ngày, Người cũng dâng lễ cầu nguyện cho. Tôi vô cùng đớn đau, vô cùng chua xót nhớ lại những người thân yêu nhất của đời tôi. Vợ tôi, sáu con tôi đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại.

Lạy Chúa, xin Chúa hãy xót thương cho những linh hồn đã chết đớn đau trong thảm họa đớn đau chung của cả Dân Tộc Việt Nam chúng con. Xin Chúa hãy cứu vớt linh hồn vợ con, các con của con để đưa tất cả về nơi an nghỉ bình an hạnh phúc đời đời nơi nước Chúa. Xin Chúa hãy giúp con đầy đủ can đảm để đứng vững sau cơn gió bão khủng khiếp của đời người, để cho con còn đầy đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để lo lắng cho đứa con trai duy nhất của con còn đang sống ở Đài Loan. Con đã chịu đau thương quá nhiều. Con cầu nguyện ơn Chúa ban xuống cho tất cả thân nhân còn lại của con, các đồng bào của con, những người sẽ vượt biển ra đi đều tới bến bờ bình an.

Songkhla, ngày 10 tháng 4 năm 1980
Vũ Duy Thái
(Nhân giỗ 100 ngày của vợ và các con chết trên Biển Đông)  

 http://hon-viet.co.uk/VuDuyThai_HoiKyTyNan.htm

Chủ Đề 30.4: Con Thương Yêu." Ngày 30 tháng Tư ’75 là một dấu mốc thời gian rất quan trọng trong cuộc đời bố mẹ và dân tộc Việt Nam"

Viết Cho Con Trong Đêm 30 Tháng Tư



Viết Cho Từ Tâm


“Bố ơi, 30 Tháng Tư là ngày gì mà người Việt mình tụ họp rầm rộ dưới phố? Sao con không hề nghe Bố nói gì về ngày này cho con hết vậy? Còn Cờ Việt Nam nữa, là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hay Cờ Đỏ Sao Vàng hở Bố? Con đang muốn làm một luận án về Cuộc Chiến Việt Nam đây. Bố giúp con đi...”

Những thắc mắc dồn dập của con làm Bố sững sờ, con ơi. Sững sờ vì Bố chờ con hỏi những điều này từ bấy lâu nay, hỏi một cách nghiêm trọng như hôm nay. Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là một biến cố buồn đau mà Bố vẫn tránh, không muốn nhắc tới. Ngày đó là một vết thương lòng, Bố tưởng đã quên, nhưng không quên được. Hôm nay con hỏi đến, Bố sẽ nói rõ cho con nghe vì con đã lớn rồi.

Tại sao Bố không muốn nhắc đến ngày đó từ nhiều năm qua, dù đã hơn một lần con nhắc tới? Tại sao hả con! Giản dị lắm, chỉ vì Bố không muốn gieo vào tâm hồn non nớt của con những đau thương hận thù. Bố muốn con có đủ vô tư, đủ trí khôn và đủ rộng lượng đi tìm lịch sử mà không bị cảm quan của Bố làm sai lệch. Bố muốn con nhìn vấn đề một cách khách quan, như một nhà sử học, đầy đủ nhân bản và vô tư, khi con muốn trở về nguồn. Bây giờ con đã lớn khôn và sửa soạn vào học cao học. Với tính tình vô tư của con, Bố có thể tâm sự cùng con mà không sợ làm mất tính khách quan trong cái nhìn của con. Ít ra là Bố hy vọng như vậy.

Suốt tháng 4 năm 75, Bố đã chứng kiến nhiều cảnh khổ đau khi đang làm việc tại Sàigòn. Liên tiếp các tỉnh miền Trung, rồi Đà Lạt vùng cao nguyên thất thủ. Cộng quân tràn vào và mọi người di tản vào Sàigon. Bố giúp đỡ đón tiếp những người di tản vào Sàigòn, lo chỗ ăn ở cho đồng nghiệp. Văn phòng của Bố thành chỗ ở của nhân viên lánh nạn. Tang thương, chết chóc diễn ra hàng ngày. Như con biết, Bà Nội đã dẫn Bố và các bác chạy nạn cộng sản từ Bắc vào Nam năm 1954. Tội nghiệp bà nội của con, Nội lo lắm, con biết không vì Nội biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu cộng sản chiếm miền Nam. Nội cương quyết muốn Bố phải tìm cách đi ngoại quốc. Nội biết Bố sẽ khó mà sống an toàn vì Bố đã được đi du học. Nỗi lo sợ của Nội bắt đầu từ những kinh nghiệm sống đau thương khi còn ở ngoài Hà Nội. Bố đã cố gắng trấn an Nội, với lý do Bố là một kỹ sư, không phải công an, cảnh sát, hay quân nhân thì có gì mà Nội phải lo sợ quá như vậy. Nội chỉ lắc đầu la Bố: “Con không biết gì về Cộng Sản hết, nghe họ nói ngon, nói ngọt thì chết không kịp trối.” Những biến cố đã xảy ra dồn dập. Con sẽ thấy đủ chi tiết khi đọc các tài liệu trong thư viện lúc làm luận án.

Bố sẽ chỉ nói sơ cho con nghe vài điều xảy ra cho Bố mà thôi. Ngày 28 tháng Tư là ngày mà Bố đã lần đầu tiên hôn lên trán người tình của Bố, tiễn nàng vào phi trường Tân Sơn Nhất để đi Mỹ. Tối đó, sân bay bị pháo kích dữ dội, Bố những tưởng nàng đã chết trong những trận mưa pháo của Việt Cộng. Nhưng có lẽ nhờ ơn trên phù hộ, nên chỉ khoảng 4 tháng sau, Bố đã gặp lại nàng trên đất Mỹ, và người đó là Mẹ của con.

Ngày 29 tháng Tư, Sàigòn hỗn loạn không cùng. Súng đạn, cướp bóc, chết chóc xảy ra nhiều nơi ở Sàigòn dù lệnh giới nghiêm suốt ngày đêm đã ban hành. Một hỏa tiễn của Cộng quân đã rơi ngay trước cửa nhà Bác Diệp, trên đường Trịnh Minh Thế, chỉ chừng 1 giây sau khi Bố bước vào nhà. Chỉ chậm một giây thôi, thì Bố đã không còn nữa. Năm giờ chiều, Bố chở bà Nội lên nhà Bác Cả, để tìm đường đi thì xe Bố hết xăng. Đến nơi, gia đình Bác Cả đã ra đi, Bố thất vọng vô cùng. Bố liệng xe vào hàng rào nhà bác, và tìm cách an ủi bà Nội: “Thôi! Chịu vậy mẹ ơi. Chắc không sao đâu. Có người, có ta, chắc ai cũng cần kỹ sư làm việc chứ mẹ.” Bà Nội chỉ thở dài, im lặng nhưng nét chịu đựng trên khuôn mặt của Bà đã làm Bố muốn khóc.

Đúng vào lúc tuyệt vọng đó, một người lính đến tìm Bố, do bác Ba gởi về. Nhờ một sự tình cờ, đang lúc lang thang tìm đường chạy trốn nạn cộng sản, Bác Ba đã gặp một người bạn Đại Tá, dẫn Bác lên tàu của những chiến sĩ Lôi Hổ, đang chuẩn bị di tản gia đình binh sĩ ra hải phận quốc tế để các tàu Mỹ trợ giúp. Bác đã nhờ được một người lính trên tầu về đón gia đình. Nhờ thế Bố và Nội và Bác gái được dẫn đi lên tàu của họ. Đêm đó là lần đầu tiên Bố nằm gối đầu trên súng đạn, khi tàu ra đi trong đêm tối, không đèn từ bến tàu Khánh Hội, theo sông Nhà Bè ra vùng hải phận quốc tế. Trên đường đi, cộng quân pháo kích chận đường, nhưng thật là may mắn, tàu chở gia đình mình không bị trúng đạn.

Sáng 30 tháng Tư, tàu ra đến cửa biển, thoát khỏi tầm pháo kích của cộng sản, tiến vào hải phận quốc tế. Vào khoảng 10 giờ sáng, qua chiếc radio của một người trên tàu, Bố đã nghe Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng vô điều kiện. Bỗng nhiên, Bố thấy một khoảng trống rất lớn trong tâm hồn Bố, Bố không biết làm sao diễn tả cho con hiểu được. Sau đó Bố và Nội, cũng như các người khác trên tầu nhỏ, phải leo qua một chiếc xà lan vì tàu Mỹ không cho phép các tàu nhỏ kẹp vào tàu của họ, sợ bị phá hoại. Sau hai ngày trên xà lan, nhịn đói, nhịn khát lênh đênh trên biển cả, Bố được tàu Mỹ vớt và đưa vào hải cảng Subic ở Phi Luật Tân. Ở đây được vài hôm, họ lại chuyển Bố qua căn cứ quân sự ở đảo Wake, rồi sau chừng một tháng được máy bay chở vào trại tỵ nạn Pendleton, gần San Diego, California. Bốn tháng sau, Bố được đoàn tụ cùng mẹ con tại tiểu bang Oklahoma.vietchocon

Một chuyến đi khá gian nan, cực khổ, phải không con? Tuy nhiên, so với những cuộc vượt biên, vượt biển khác của đồng bào ta sau năm 75 thì không đáng kể chút nào cả con ạ. Dù vậy, trong mấy ngày lênh đênh trên biển cả, Bố đã được chứng kiến nhiều cảnh chết chóc dễ sợ. Bố đã thấy nhiều người rớt xuống biển làm mồi cho cá. Chính mắt Bố đã thấy lúc tàu Mỹ đến, mọi người tranh nhau lên tàu, có người rớt xuống biển, bị kẹp nát giữa tàu và xà lan, vỡ sọ, chết rất thảm thương và đột nhiên Bố đã cảm nhận được phần nào của chữ Vô Thường. Những cảnh này cho đến nay vẫn thỉnh thoảng là những cơn ác mộng cho Bố, dù đã 30 năm qua.

Trong những năm ’75 – ’85 tình hình Việt Nam tồi tệ vô cùng, đói khổ, tù đày, hận thù ...Nhưng trong các tài liệu, có lẽ, con sẽ không bao giờ thấy có tù nhân trong chế độ cộng sản. Họ không có nhà tù mà chỉ có các trại học tập cải tạo, con biết không. Những danh từ vô nghĩa và lừa bịp. Sau ngày 30 tháng Tư, 1975 hàng triệu người đã bỏ nước ra đi vì không chịu được nỗi khổ đau, áp bức của những người cầm quyền. Cậu Hai và gia đình đã phải sống lây lất bên vỉa hè sau vài lần vượt biên bị bắt, nhà cửa bị tịch thâu. Bác Nghĩa, bạn học của Bố, vượt biển, qua tới Mã Lai. Bất hạnh thay, chính quyền Mai Lai không cho tàu ghé bến, bắt đậu ngoài xa. Rồi tàu bị đắm, bác bơi được vào bờ nhưng chỉ kịp bế xác đứa con thương yêu trong tay trên bãi biển bên xác người vợ hiền. Họ chỉ là một vài trong cả triệu người dám bỏ nước ra đi sau những ngày đi tù cải tạo và còn sống sót trở về.

Từ Tâm ơi, Bố vẫn thắc mắc không biết cuộc ra đi của dân Việt Nam, so sánh với vụ tàn sát dân Do Thái của Hitler, tội ác nào lớn hơn? Lương tâm con người ở đâu con nhỉ?

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, lá Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ được thay thế bằng lá Cờ Đỏ Sao Vàng. Cờ vàng ba sọc đỏ gợi nhớ tình yêu thương đất nước và cuộc tranh đấu của những người Việt yêu tự do. Trong tự điển, con thấy cờ Việt Nam bây giờ là cờ đỏ sao vàng Lá cờ này là do chính quyền Cọng Sản đặt lên và ngày nay là cờ chính thức của Việt Nam về phương diện chính trị. Tuy nhiên lá cờ này cũng gợi lên bao nỗi kinh hoàng trong những người tị nạn tha hương như Bố. Bây giờ thì có lẽ con có thể hiểu tại sao dân Việt di tản vẫn yêu quí lá cờ vàng ba sọc đỏ, trong khi các sách giáo khoa ở trường con chỉ thấy có lá cờ đỏ sao vàng.

Lá cờ, tự nó không có nghĩa gì, nhưng nếu con đặt mình vào vị trí của bố mẹ và những người đã hy sinh mạng sống của mình để chống lại làn sóng cộng sản, giữ tự do và độc lập, con sẽ hiểu tại sao, con sẽ hiểu được nỗi lòng bí ẩn này.

Con thương yêu, ngày 30 tháng Tư ’75 là một dấu mốc thời gian rất quan trọng trong cuộc đời bố mẹ và dân tộc Việt Nam. Những người trong chính quyền Việt Nam bây giờ, kỷ niệm ngày này như một ngày chiến thắng. Những người yêu chuộng tự do, hoặc bị tù đày, hoặc bỏ nước ra đi, thì coi ngày này như một ngày quốc hận. Một số người đã bằng lòng với cuộc sống mới, tạm quên đi niềm đau để hướng về tương laị. Một số người vẫn còn nặng niềm chua sót, quằn quại với quá khứ và hận thù. Lứa tuổi của con, sinh ra trên đât Mỹ thì hoặc là không có một khái niệm gì về ngày này hoặc mang theo một số tâm tư của cha mẹ. Đêm nay là đêm 30 tháng Tư, sau 30 năm với bao nhiêu thay đổi đã xảy ra. Những người chủ trương hay trực tiếp tham gia cuộc chiến, dù là kẻ chiến thắng hay chiến bại đều đang từ từ rời khỏi cuộc đời. Thế hệ các con nên nhìn lại cuộc chiến như thế nào: hận thù hay tha thứ? Con sẽ thấy mỗi người một ý. Bố tin rằng con đã đủ trí khôn và sáng suốt để bắt đầu nhìn thẳng vào cuộc chiến nàỵ. Với những kiến thức và tinh thần công bình vị tha con sẵn có, Bố tin rằng con sẽ sáng suốt hơn thế hệ của bố mẹ. Bố không muốn con có một định kiến nào khi bắt đầu cuộc nghiên cứu này. Có một điều Bố biết chắc chắn là thế hệ cha anh của Bố đã có nhiều sai lầm. Vì một hoàn cảnh sống nào đó, bên này và cả bên kia, đã gieo quá nhiều tang tóc đau thương cho dân tộc. Họ đã nhân danh tự do, độc lập, giải phóng và những danh từ to lớn để đày đọa dân ta. Bố thành khẩn tin rằng dân Việt là một dân tộc anh hùng và luôn luôn yêu chuộng hòa bình. Cảnh anh em giết lẫn nhau là một điều không ai muốn.

Con thương yêu, Bố muốn con phải đem hết lòng thành khẩn khi con làm luận án của con, vì đây không phải là một luận án cao học bình thường mà phải là một tác phẩm phát sinh từ tình thương và sự hiểu biết mà con đã học đuợc trong hơn hai mươi năm qua. Bố muốn nói đến kiến thức khoa học mà con học ở trường và nhất là các kiến thức và tình thương mà con đã thấy được trong cuộc đời Bố Mẹ và trong những lời giảng của đức Thế Tôn. Con có còn nhớ những lời quán nguyện mà chúng mình vẫn đọc trong các Ngày Quán Niệm không? Thôi để Bố ghi lại nơi đây luôn để Bố con mình cùng câu nguyện:

“Lạy đức Bồ Tát Quan Thế Âm. Chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những đều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết, chỉ cần lắng nghe thôi là chúng con cũng có thể làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.”

“Lạy đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con xin tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh ngài, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới” (1)

Con thương yêu, Bố hy vọng bài luận án của con sẽ phải là một tuyên ngôn của sự thật và tình thương để giúp chúng ta tìm lại tình người, vì con ơi, trong các cuộc chiến không bao giờ có kẻ chiến thắng và “Kẻ thù ta không phải là người...”


Nguyễn Phục Hưng
Tháng Tư 2005

Khối 8406 : Tuyên bố nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2012)

 
Khoi 8406 Logo 1
Khối 8406
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
Tuyên bố nhân kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập
(8/4/2006 – 8/4/2012)
            Kính gửi:
- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
- Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ.
            Khối 8406 đã được thành lập vào ngày 8-4-2006 là ngày mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 được công bố rộng rãi (Tuyên Ngôn 8406). Sáu năm qua, trải qua chặng đường xây dựng và phát triển với nhiều hy sinh gian khổ của mình, Khối 8406 đã luôn nỗ lực trung thành với tinh thần và mục tiêu mà bản Tuyên Ngôn 8406 đã vạch ra là: đấu tranh giành lấy các quyền tự do dân chủ cho Việt Nam bằng con đường bất bạo động, thay thế triệt để chế độ độc đảng chuyên chế, toàn trị hiện nay bằng chế độ đa nguyên đa đảng và dân chủ pháp trị trong tương lai. Đây vừa là xu thế của thời đại, vừa là nhu cầu cấp bách của Dân tộc! Nay nhân ngày kỷ niệm, nhìn lại tình hình đất nước, đồng lòng với ý kiến của vô vàn Đồng bào trong lẫn ngoài nước….
            Khối 8406 báo động: Tổ quốc lâm nguy!
            Trước tất cả những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng: Tổ quốc đang lâm nguy! Nguy cơ mất nước, nguy cơ làm nô lệ lần nữa cho quân thù xâm lược phương Bắc đang đến gần! Nguy cơ này xuất phát từ mưu đồ xấu xa và thâm độc của Nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc. Trầm trọng hơn, nó lại được sự đồng lõa đê hèn của một thiểu số nắm thực quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc hiểu rất rõ rằng: trong điều kiện thế giới ngày nay, thực hiện mưu đồ xâm lược Việt Nam bằng quân sự rất khó thành. Vì vậy, họ áp dụng nhiều hình thức xâm lược khác mà trước hết là xâm lược về chính trị qua việc tìm cách mua chuộc, tiến tới chi phối và khống chế một số nhân vật trong Ban lãnh đạo Hà Nội.
            Tiếp theo, họ sử dụng đám “thái thú đời mới” này làm tay sai, tạo nên một liên minh ma quỷ giữa những kẻ cướp nước và những kẻ bán nước. Từ đó từng bước lèo lái đường lối phát triển của Việt Nam và xâm nhập lũng đoạn đất nước Việt Nam. Đây cũng là cách mà họ đã từng làm ở Campuchia, giai đoạn 1975–1979 khi sử dụng bè lũ diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary là những người Campuchia để chống lại dân và nước Campuchia.
            Những biểu hiện của cuộc xâm lược đó mà Dân tộc Việt Nam đang phải gánh chịu và chứng kiến là: Giới lãnh đạo Ba Đình:
            1- Ra lệnh cho công an đàn áp mạnh những người Việt Nam yêu nước, khi họ biểu tình đòi bảo toàn đất tổ và khẳng định Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam, quy cho họ tội “gây rối trật tự công cộng”. Đặc biệt có một số công dân bị sách nhiễu, hành hung, giam cầm, xử án chỉ vì lên tiếng chống lại quân xâm lược; nhiều công trình nghiên cứu về chủ quyền đất nước không được nhà cầm quyền thực sự nâng đ và phổ biến; việc quảng bá giáo dục về chủ quyền đất nước không được nhà cầm quyền thực hiện sâu rộng trong quần chúng và học đường.
            2- Liên tục tổ chức những đợt “giao lưu văn hóa Việt–Trung”, những cuộc thăm viếng gặp gỡ giữa 2 đảng và 2 nhà nước, đ cao “16 chữ vàng và 4 tốttrong quan hệ Trung-Việt, du nhập vô số tác phẩm văn hóa của Trung Quốc (nhất là phim ảnh); tất cả nhằm tạo nên một sự “hữu hảo” giả dối hòng làm mất sự cảnh giác trong nhân dân Việt Nam về mưu đồ xâm lược của Bắc Kinh.
            3- Đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên – một địa bàn trọng yếu về an ninh và chiến lược, với hiệu quả kinh tế mù mờ và hiểm họa môi trường tiềm ẩn; đồng thời cho Trung Quốc thuê 300.000 ha rừng, với thời hạn 50 năm tại nhiều tỉnh xung yếu của đất Việt, gây nguy lớn về sinh thái và quốc phòng, bất chấp sự phản đối quyết liệt của nhiều người dân Việt.
            4- Cho Trung Quốc thắng thầu rất nhiều dự án công nghiệp lớn, nhỏ (tới 90%) trải dài từ Bắc chí Nam, sau đó dung túng cho họ làm ăn dối trá cẩu thả, gây thiệt hại lớn cho Việt Nam về kinh tế lẫn xã hội và gây nguy cơ lệ thuộc kỹ thuật nước ngoài;
            5- Mở cửa cho lao động phổ thông Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng nhiều, không cần thị thực nhập cảnh, chẳng soát đăng ký tạm trú. Lực lượng này sống tại các khu riêng biệt thành thôn làng và phố thị, từ Lạng Sơn tới Cà Mau, nhiều phen đụng độ với người dân bản địa, gây ra những bất ổn xã hội hiện tại và đặc biệt những nguy hiểm trong tương lai, nếubiến động về chính trị.
            6- Bỏ mặc cho tiền giả, hàng giả, hàng độc hại, hàng trốn thuế, hàng kém chất lượng… của Trung Quốc xâm nhập bằng đủ mọi con đường vào Việt Nam, đ cho thương lái Trung Quốc sục sạo trên khắp mọi miền của đất nước thu gom nguyên liệu một cách tự do, gây điêu đứng cho nền công nghiệp sản xuất và nền nông nghiệp chế biến của dân Việt.
            7- Đ mặc Trung Quốc cấm cản, bắt bớ, cướp bóc, đòi tiền chuộc, thậm chí giết chết ngư dân Việt đánh cá trên vùng biển nước Việt, mà không cho các lực lượng hải quân, không quân tiếp cứu, yểm trợ (lấy cớ lực lượng quân sự bất can thiệp vào chuyện dân sự) cũng như chẳng hỗ trợ mưu sinh cho những ngư dân bị thiệt hại tài sản. Có lên tiếng phản đối thì chỉ làm cách yếu ớt qua loa, tránh né gọi đích danh thủ phạm.
            Tất cả những sự việc trên và nhiều điều tệ hại khác nữa đang diễn ra hàng ngày hàng giờ ở Việt Nam, dẫn tới một tình hình cực kỳ nguy hiểm là đất nước sẽ rơi vào tay Trung Quốc mà quân thù xâm lược chẳng cần phải nổ súng. Đám “thái thú đời mới” do Trung Quốc điều khiển lúc đó có thể ra lệnh cho quân đội Việt Nam án binh bất động và cho Quốc hội Việt Nam phê chuẩn việc sát nhập vào Trung Quốc đ thành một tỉnh tự trị chẳng hạn.
            Khi ấy sẽ hoàn tất mưu đ của Trung Quốc. Có từ vạn thuở nhưng nhiều phen thất bại vì sự kháng cự mãnh liệt của Dân tộc, mưu đ ấy đã sống lại với việc đảng Cộng sản Trung Quốc đ đầu đảng Cộng sản Việt Nam từ sau ngày Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ra đời năm 1949; với việc Trung Quốc ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam đưa quân từ miền Bắc xâm chiếm miền Nam đ đảng này mắc nợ Trung Quốc mà phải câm miệng khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988; rồi với việc lãnh đạo Hà Nội tái khấu đầu bái phục Bắc Kinh tại Thành Đô năm 1990 đ Việt Nam sa hẳn vào vòng tay Trung Quốc hầu trở thành bàn đạp và cửa ngõ cho Trung Quốc xuống tiến chiếm Đông Nam Á.
            Trước tình thế ấy, Khối 8406 nhận định rằng:
            1- Sở dĩ đất nước lâm nguy vào tay Trung Quốc chính là do sự hiện diện của chế độ độc đảng toàn trị cộng sản tại Việt Nam suốt bao năm qua. Chế đ này cho phép Hồ Chí Minh và các thế hệ đồng chí đồng đảng sau ông dễ dàng chà đạp lên quyền lợi của Dân tộc để phục vụ cho những lợi ích của phe nhóm họ và của phe nhóm bảo trợ họảng Cộng sản Trung Quốc). Chừng nào còn chế độ độc đảng toàn trị ấy thì chừng đó, những tính toán và những việc làm phản dân, hại nước (thậm chí bán nước) của nó vẫn còn tồn tại.
            2- Sự tồn tại tai hại này được duy trì nhờ các cuộc bầu cử hình thức và giả dối, theo kiểu “Đảng cử - Dân bầu” tại Việt Nam, nhờ điều 4 mà đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa vào từ bản Hiến pháp năm 1992 và đang cố sức giữ lại trong cuộc sửa đổi Hiến pháp đang được tiến hành. Lý do là đảng không chấp nhận bất cứ sự phản biện đích thực và triệt để nào, nhất là về vấn đ an nguy của đất nước trước nạn ngoại xâm; và mục tiêu là đảng chỉ muốn độc quyền ra mọi quyết định, dù phi lý, vô luật, gây nguy cho Dân tộc, đ tự bảo vệ quyền lực mình và đ được đảng Cộng sản Trung Quốc bảo vệ quyền lực cho.
            3- Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa 11 mới rồi về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” mà họ khua chiêng, gõ trống ầm ĩ thực chất là đ đưa vào hàng ngũ lãnh đạo đảng những đảng viên có khuynh hướng thân thiện, thậm chí đầu phục Trung Quốc, hầu đảng trở thành công cụ và tôi trung hơn nữa cho thế lực ngoại xâm nguy hiểm này.
            Nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày thành lập, Khối 8406 kêu gọi:
            - Cộng đồng thế giới dân chủ hãy tiếp tục ủng hộ mạnh mẽ, nhiệt tình và có hiệu quả hơn nữa cho phong trào dân chủ Việt Nam, đ chúng tôi xây dựng được một quốc gia độc lập, vững mạnh, sẵn sàng cùng thế giới đương đầu với một hiểm họa khu vực và hiểm họa toàn cầu đang lớn dần là Trung Hoa cộng sản.
            - Đồng bào Việt Nam c trong và ngoài nước hãy vượt lên trên những khác biệt, quyết đoàn kết một lòng cùng đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Có như thế chúng ta mới gìn giữ được đất nước mà tổ tiên đã từng đem xương máu bảo vệ khỏi sự xâm lược của Bắc triều và mới xây dựng được mảnh đất của giống nòi Lạc Việt.
            - Những người còn có lương tri trong đảng Cộng sản, trong bộ máy tam quyền, trong hai lực lượng quân đội và công an, trong giới truyền thông báo chí… hãy ý thức về hiểm họa mất nước vào tay Trung Quốc, đ đặt quyền lợi của đất nước, sự sinh tồn của Dân tộc lên trên tất cả, và do đó ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa là đem lại tự do cho dân, độc lập cho nước.
            - Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cần sớm thức tỉnh đ đứng về phía Dân tộc, hầu đưa đất nước ngày càng ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc, thoát khỏi âm mưu thôn tính của kẻ thù truyền kiếp. Như thế trước tiên hãy trả tự do và thôi sách nhiễu những công dân đã tỏ ra yêu nước thương nòi mà lên tiếng chống quân xâm lược, những công dân từng đấu tranh cho dân chủ vì mong quốc gia phú cường và Dân tộc vững mạnh.
            Nhân dịp này, Khối 8406
            - xin trân trọng ghi nhận sự đóng góp vào đại cuộc Dân tộc của biết bao người con đất Việt đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, ý chí cũng như đã chấp nhận bao hy sinh, gian khổ, ngục tù đ khôi phục quyền làm người cho Đồng bào, quyền tự quyết cho Dân tộc.
            - xin biểu dương tinh thần đấu tranh kiên cường, nỗ lực hoạt động bền gan của bao thành viên Khối trong 6 năm qua, xin ca ngợi tấm gương dũng cảm, ý chí bất khuất mà bao thành viên Khối đã tỏ rõ trong cảnh sách nhiễu hăm dọa, bắt bớ lao tù.
            - xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của đông đảo Đồng bào Việt Nam cả trong và ngoài nước cùng cộng đồng thế giới tiến bộ đã nhiệt tình ủng hộ Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung trong những năm qua.
            Làm tại Việt Nam ngày 04 tháng 04 năm 2012.
            Ban Đại diện lâm thời Khối 8406.
1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, VN.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, VN.
3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.
            Với sự hiệp thông của Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.
            Phụ lục:
1) Sự thật

Bài Xem Nhiều