We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 8 April 2012

CHUYỆN TÙ VÀ CHUYỆN ĐÙA


Những trại cải tạo lao động mà tôi đã sống qua, hồi cuối thập niên 1970, đều không có điện. Mọi sinh hoạt, do vậy, được phân chia rõ rệt: từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lặn là thời gian dành cho “công tác.” Giữa khoảng thời gian này, trại viên được “tùy nghi.”
Phải sống trong cảnh tối tăm mới thấy đêm dài, nhất là những đêm đông. Có đêm, tôi khều thằng bạn nằm bên – hỏi nhỏ:
- Theo mày thì lúc nào, hay nơi nào, được coi là hạnh phúc nhất trên đời này?
- Bắc Mỹ Thuận!
Nó đáp nhẹ nhàng, không một giây do dự. Tôi ngớ người ra một lát – và chỉ một lát thôi – rồi nhớ ngay đến sông Tiền Giang, với những đám lục bình lơ lửng trên dòng nước đẫm màu phù sa, đang cuồn cuộn trôi nhanh trong nắng chiều vàng rực, giữa bến bờ xanh um, xa tầm ngút mắt.

Trong lúc cả đoàn xe xếp hàng dài, chờ đến luợt xuống phà, hành khách tấp nập ra vào những quán ăn nằm san sát bên đường. Không khí thơm lừng mùi gà nuớng, tôm nướng, heo nướng, bò nướng, cá nướng, chuột nướng…Không gian rực rỡ màu sắc của đủ loại trái cây quen thuộc, của miền Nam: khóm, mận, ổi, nhãn, soài, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, cam, quýt …
Duới phà chen lẫn với hành khách là những em bé bán hàng rong: xôi vị, cốm dẹp, bánh bèo nước dừa, bánh tằm bì, chuối nướng, chè đậu, gỏi gà, cháo vịt, nem nướng, chả chiên, mía hấp, bì cuốn, bún mắm, chả giò, đậu phụng, cà rem, trà đá, ốc gạo hấp lá gừng, ốc leng xào dừa, chim mía rô ti…
Tôi nuốt nước miếng cùng với ý nghĩ rằng: thằng khốn nạn này … đang đói, và đói lắm. Nói tình ngay, vào thời điểm đó (những năm đầu sau ngày “giải phóng,” và gần cả hai thập niên sau nữa) cả nước đều đói cả – và đói lả – chứ chả riêng gì mấy đứa chúng tôi.
Thời đó, may quá, đã qua rồi. Cái đói, cũng như miếng ăn, không còn là điều ám ảnh thường trực đối với người dân Việt nữa. Bắc Mỹ Thuận cũng không còn hiện hữu. Cầu Mỹ Thuận, tân kỳ và tráng lệ, đã lạnh lùng đưa những chuyến “phà ngang” đi vào … lịch sử!
Hôm nay, ngồi đọc bài viết của nhà văn Phạm Đình Trọng (“Đi Thăm Cù Huy Hà Vũ”) qua trang Dân Luận – vào hôm 24 tháng 3 năm 2012 – mà (cảm động) muốn rơi nước mắt. Đất nước đã bước vào thời kỳ đổi mới. Sự đổi thay thấm dần vào đời sống của những người đang bị giam cầm. Cảnh thăm tù ở quê hương xa xôi giờ đây (sao) giản dị, dễ dàng, và… sung túc quá:
Chín giờ xe chúng tôi đã dừng trước trụ cổng cao có tấm biển nhỏ màu xanh với hai hàng chữ trắng: Trại giam số 5. Phân trại 3. Mặt đỏ ửng vì khấp khởi sắp được gặp người chồng thân yêu, Dương Hà cầm sổ thăm nuôi và tập giấy chứng minh của những người đi thăm nuôi bước vào khung cổng nhỏ trước vọng gác…
Tôi hỏi thầy Phạm Toàn: Anh đoán xem họ có cho ta được vào gặp Cù Huy Hà Vũ không? Thầy Phạm Toàn lại nheo mắt, lom lom nhìn vào mặt tôi, chờ tôi phải trả lời chính câu hỏi của tôi. Tôi đành nói: Theo em, họ chỉ giải quyết cho ta đươc một nửa mong muốn thôi, tức là chỉ có mẹ con Dương Hà được vào gặp chồng, gặp cha, còn em với anh thì đừng hi vọng. Quả đúng như vậy. Người mang phán quyết của chỉ huy trại phóng xe máy ra. Đồ thăm nuôi trong chiếc túi lớn hai người khiêng phải bày ra bàn cho ba viên công an xăm soi kiểm tra rồi lại xếp vào túi, đưa lên xe ba gác. Buồng giam có hai người. Đồ thăm nuôi Cù Huy Hà Vũ phải mang cho cả hai dùng trong một tháng…
chhv-21.jpg
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Ảnh: hoạ sĩ TTLan
Tôi trộm nghĩ (vì nói ra nghe hơi kỳ) rằng ở tù như vậy thì… sướng thiệt! Với “một xe ba gác thực phẩm thăm nuôi” thì tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có thể sống ung dung đến nửa năm, chứ không phải là cả tháng.
Tuy nhiên, chỉ vài hôm sau – hôm 27 tháng 3 năm 2012 – cũng trên trang Dân Luận, tôi lại đọc được “Thông Báo Tình Hình Án Phạt Của Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ” do phu nhân của ông nhờ nhiều cơ quan truyền thông phổ biến, như sau:
Kính gửi Quý Báo,
Tối hôm qua, 26/3/2012, gia đình tôi nhận được một phong bì thư, có dấu ngày 23/3/2012 của bưu điện Thống Nhất (nơi Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đang bị biệt giam), không đề tên người hoặc cơ quan gửi. Bên trong phong bì là Thông báo tình hình chấp hành án phạt tù của Ts Cù Huy Hà Vũ ghi ngày 30/01/2012. Kính nhờ Quý Báo cho đăng để những ai quan tâm đến Ts Cù Huy Hà Vũ được rõ.
Xin trân trọng cảm ơn Quý Báo.
Nguyễn Thị Dương Hà

Cứ theo như “thông báo” này thì người bị giam “được đánh giá là cải tạo kém” nên “trại giam số 5 thông báo để ông/bà và gia đình biết và đề nghị tiếp tục quan tâm phối hợp động viên, giáo dục anh Cù Huy Hà Vũ học tập rèn luyện tiến bộ.”
Trong một cuộc nói chuyện với BBC, vào ngày 28 tháng 3 năm 2012, bà Nguyễn Thị Dương Hà nói giấy thông báo trên giống như một “trò đùa.” Chồng con người ta bị giam cầm mà “đùa” như thế e hơi thiếu phần … tế nhị. Tuy nhiên, tôi (lại) trộm nghĩ thêm rằng tinh thần hài hước của những người điều hành trại giam hiện nay dù sao cũng có cái hay, nó giúp cho thân nhân người tù được thư giãn phần nào – nếu so với không khí căng thẳng, và thù hận, của những trại giam ở Việt Nam, mấy mươi năm trước.
Hãy nghe một người tù nổi tiếng hồi thập niên 60, ông Nguyễn Hữu Đang, nói qua (chút đỉnh) về nội qui trại giam của mình:
Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…
Và đây là lời của một người tù nổi tiếng (không kém) khác, cũng bị bắt giam vào năm 1959, ông Kiều Duy Vĩnh:
Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.
Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết…
Nói tóm lại, vẫn theo lời ông Nguyễn Hữu Đang:
Trại này có truyền thuyết là ‘vào thì không ra’, đến đây là phải bỏ xác chớ không hy vọng gì để trở về với gia đình. Trại Cổng Trời là một lò sát sinh đầy bí mật, tàn bạo và khoa học của Hà Nội. Trại này đã bí mật chôn vùi 300 anh em tù biệt kích miền Nam và hàng ngàn tù chính trị, tu sĩ và linh mục Công giáo cũng như giới trí thức chống chủ nghĩa CS của chính miền Bắc.
Đến thập niên 70 thì tình trạng ở trại giam ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, tử tế hơn thấy rõ. Thân nhân người tù được cho biết nơi giam giữ và được cho phép vào thăm nom, và chuyện trò qua sự giám sát của cán bộ quản giáo – theo lời của người tù Bùi Ngọc Tấn:
Hắn bước lên bậc cấp. Người đầu tiên hắn nhìn thấy là ông Thanh Vân. Vợ hắn và Bình ngồi ở phía cuối chiếc bàn hình chữ nhật to dài. Ông Thanh Vân ngồi đầu này.
- Báo cáo ông, tôi có mặt.
Ông Thanh Vân chỉ tay vào một cái ghế ở giữa:
- Anh ngồi xuống. Trại giải quyết cho anh được gặp chị ấy, nhưng anh không được nhận đồ tiếp tế.
Lại thế nữa. Nhưng thôi. Không đề nghị, không van xin. Đồ tiếp tế là những thứ cứu sống mình nhưng cũng không là gì cả. Điều quan trọng là được gặp vợ, hai vợ chồng đôí thoại. Được nhìn nhau. Được nhìn Bình, người bạn không bao giờ bỏ hắn.
Những câu đối thoại không biết bắt đầu từ đâu, luôn bị ám ảnh bởi sợ hết giờ. Những câu đối thoại có sự hiện diện của ông quản giáo, chỉ là những điều dối trá. Thì thôi, hãy nói cho nhau nghe những điều dối trá. Chúng ta đã học cách nghe những lời dối trá để qua đấy biết được sự thật. Ông Thanh Vân đã lại lúi húi vào quyển sách giáo khoa. Lần này là quyển Vật lý lớp 10. Ông là một người vừa thâm canh, vừa quảng canh trí tuệ.
Vợ hắn lên tiếng trước:
- Anh có khoẻ không?
Hắn nhìn vợ. Nhìn thẳng vào mắt vợ. Vợ hắn cũng nhìn vào mắt hắn. Hai người nhìn nhau. Họ đọc trong mắt nhau tình yêu thương, nỗi khổ cực, sự đau đớn, niềm tin, sự phẫn uất, nỗi tuyệt vọng, lòng xót thương không bờ bến, sự khao khát bên nhau và nỗi hận không làm được cả vũ trụ nổ tung lên…
Hắn thở dài.
Hắn không muốn thở dài trước những ông quản giáo, vì hắn cho rằng tiếng thở dài của người tù sẽ đem lại niềm vui cho họ. Hắn không muốn tỏ ra mềm yếu trước mặt người khác. Nhưng lúc này tiếng thở dài là cái van xả xúp-páp an toàn. Nếu không người hắn sẽ nổ tung lên mất. Cả người hắn như một quả núi lửa, nghẹn ngào…
Ngọc giàn giụa nước mắt, những dòng nước mắt lặng lẽ. Hắn nhìn vợ không bằng lòng. Cái nhìn ấy muốn nói: Đừng khóc em. Có ai thương chúng mình đâu. Những giọt nước mắt của em anh không trả được.
Ông Thanh Vân rời quyển sách Vật lý lớp 10, đứng lên:
- Thôi. Hết giờ gặp. Anh Tuấn chuẩn bị về trại…
(Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 31- 34).
Qua đến thế kỷ đầu thập niên thứ hai (của thế kỷ 21) thì người tù được thăm viếng, truyện trò, và nhận quà thoải mái – theo như ghi nhận của nhà văn Phạm Đình Trọng, qua bài viết thượng dẫn:
Đồ thăm nuôi trong chiếc túi lớn hai người khiêng phải bày ra bàn cho ba viên công an xăm soi kiểm tra rồi lại xếp vào túi, đưa lên xe ba gác. Buồng giam có hai người. Đồ thăm nuôi Cù Huy Hà Vũ phải mang cho cả hai dùng trong một tháng…
Hệ thống nhà tù của nước CHXHCNVN, rõ ràng, mỗi ngày một bớt phần… man rợ. Hay nói một cách lạc quan hơn, và tích cực hơn, là mỗi lúc một thêm văn minh và tiến bộ. Tuy thế, phu nhân của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (bà Nguyễn Thị Dương Hà) xem chừng vẫn còn hơi thất vọng về cung cách làm việc “như đùa” của ban điều hành Trại Giam Số 5 – ở Thanh Hoá.
Tôi e rằng bà Nguyễn Thị Dương Hà đã có những kỳ vọng (hơi) cao quá. Việt Nam (chả may) là một quốc gia tụt hậu, và đang bị nhân loại bỏ lại phía sau – như bỏ rơi một đôi dép rách. Trong hoàn cảnh đó, ở những nơi giam cầm tối tăm mà tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ vẫn còn nguyên vẹn chân tay (tưởng) đã là… may mắn lắm rồi!
Đã thế, họ còn chịu khó gửi “thông báo về tình hình chấp hành án phạt tù” của người bị giam cho thân nhân nữa. Theo tôi, bà Dương Hà nên coi đây lấy một dấu hiệu đáng mừng. Đây là một chuyện đùa (cho vui) chỉ có thể xẩy ra trong giai đoạn đất nước đã bước vào thời đổi mới.

Tưởng Năng Tiến

Chủ Đề 30.4: Chuyện Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ và Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long: Từ Đắng Cay Hậu Chiến.

Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng: Chuyện Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ và Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long: Từ Đắng Cay Hậu Chiến.
(04/07/2012)
Nhân Tháng Tư Đen năm thứ 37, từ nay mỗi cuối tuần, Viết Về Nước Mỹ sẽ là loạt bài đặc biệt do tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện trong Dự án “Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng” về những ảnh hưởng của tang thương và mất mát trên đời sống tình cảm của người Việt hải ngoại qua sự bảo trợ của tiểu bang California cho Chương trình Báo chí về Y tế Sức khỏe (CEHJF), và do Trường Báo chí và Thông tin Annenberg của Đại học University of Southern California tổ chức. Cô sử dụng phương pháp lịch sử truyền khẩu, cùng kinh nghiệm dấn thân cộng đồng, và tư duy trải nghiệm.

This project “Black April, Bright April” © is produced using oral history, community participation, and lived perspectives. Trangđài Glassey-Trầnguyễn reporting on trauma, loss, and emotional health in the Vietnamese diasporas was undertaken as part of the 2011-12 California Endowment Health Journalism Fellowships (CEHJF), a program of the University of Southern Californias Annenberg School for Communication & Journalism.

CHỦ TRƯƠNG CỦA
NGƯỜI THỰC HIỆN:

Từ năm 1976 đến nay, mỗi Tháng Tư là một thời gian hồi tưởng, truy niệm chung cho người Việt hải ngoại. Qua dự án này, tôi muốn quy nhận truyền thống tưởng niệm này của Cộng đồng người Việt hải ngoại. Đồng thời, tôi cũng muốn đón nhận và đưa lên giá cao những ngọn đèn đã làm cho Tháng Tư 1975 không chỉ còn là một ngày của bạo lực và mất mát. Chúng ta đã xây dựng những Tiểu Việt Nam khắp dọc dài thế giới. Chúng ta đã nuôi dạy nhiều thế hệ trẻ thành nhân tài xứ người. Chúng ta đã xoay ngược thế cờ, dùng sức mạnh của thế giới và tư duy đương đại để gìn giữ lịch sử và phát triển tương lai. Những ngọn đèn đó vẫn tỏa sáng giữa chúng ta – là chính ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cái của chúng ta – đang thắp lên một bình minh mới trên những đổ nát hôm qua. Chúng ta không chỉ có một Tháng Tư Đen, mà chính mỗi chúng ta cũng là hiện thân của một Tháng Tư Sáng.

PHẦN 1(4):

MƯỜI BA NĂM KHỔ SAI

Những ngày sau 30 tháng Tư, 1975 chắc chắn là những ngày kinh hoàng nhất cho rất nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam. Nhưng đối với một số người, những ngày ấy kéo dài tưởng như vô tận, đến mười mấy năm, mà mỗi ngày là một thế kỷ của nhọc nhằn và mỗi đêm là một trường canh của kinh sợ.

Cái giai đoạn lịch sử ấy – tuy man rợ và đầy tang thương – nhưng vẫn là một di sản được những người trong cuộc ôm ấp và gìn giữ. Bởi vì, cái lịch sử ấy chính là một dấu chứng cho niềm tin vào điều thiện và sự vượt qua của những ai còn sống sót sau kinh nghiệm hỏa lò. Đó có lẽ là lý do mà khi đến Mỹ, Cựu thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã mang theo 3 vật rất quan trọng đối với mình. Một đôi găng tay may từ vải vụn, bà đã dùng trong thời gian 13 năm tù cải tạo. Hai chiếc áo tù – một bằng vải thô, và một bằng len, do chính bà đan lại từ hai chiếc áo lạnh cũ đã chật của hai con gái, do mẹ bà gửi vào. Và một cơ thể đã bị phá hủy, thương tật.

Nhưng bà cũng mang theo một gia tài quan trọng hơn cả những vật chứng này – một gia tài không ai có thể tịch thu, đấu tố, hay phá hủy: một ý chí để sống, một nghị lực phục vụ gia đình và xã hội, và một niềm tin mãnh liệt vào Chúa. Chính gia tài này đã là cứu cánh cho bà trong suốt 13 năm tù, và quãng đời sau đó.

Trên hai chiếc áo tù đó, số tù – cũng là 'nhân diện' của bà trong mười ba năm khổ sai – đã bắt đầu phai nhạt theo năm tháng. Nhưng những đau đớn về tinh thần lẫn thể xác vẫn còn hằn sâu. Có lẽ những thế hệ một và một rưỡi còn nhớ và biết cái bi kịch hỏa lò tại Việt Nam, nhưng thế giới và những thế hệ Việt ngoại biên vẫn cần một văn khố chính thức về bi kịch này.



Cô dâu Thanh Thuỷ và chú rể Lê Thành Long.
Điều quan trọng là chúng ta không để cho những sự thật về bi kịch này phai nhạt – như những số tù trên áo những người tù khổ sai năm nào. Chúng ta cần ghi lại những đau thương – không vì hận thù – nhưng vì để đấu tranh cho Công lý, Hòa bình, Tự do, Bác ái. Đến bao giờ, người Việt hải ngoại mới có một tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù của Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt giải Nobel Văn Chương 1970 với những tác phẩm vạch trần cái hỏa lò của Cộng Sản Xô Viết? Những quần đảo ngục tù vẫn còn hoành hành trên cơ thể của nhiều con dân Việt và ngay trên đất Việt qua những hậu quả khốc liệt của nó. Đến bao giờ chúng ta mới có một Solzhenitzyn của Việt Nam? Vì nếu những đau thương này đã đến từ bất công, thì chúng cũng là một mối đe dọa cho con người ở tất cả mọi nơi – như nhà tranh đấu dân quyền Martin Luther King đã nói, "Bất công ở bất cứ nơi nào là bất công ở khắp mọi nơi." Xã hội con người không tách rời nhau bởi biên giới hay ngôn ngữ, mà cộng thông trong lý tưởng công bằng, bác ái, và dân chủ.

Chiếc áo tù ngày nào, tuy nay không còn ấm lạnh trên người Nguyễn Thanh Thủy nữa, nhưng kinh nghiệm mười ba năm tù khổ sai là một chiếc áo đầy gai, vẫn châm chích và làm đau đớn tâm hồn và thể xác bà. Hai mươi bốn năm sau khi ra khỏi trại tù, bà vẫn còn oằn oại trong những bệnh tật do giai đoạn oan nghiệt này tạo ra, và những kinh hoàng của bốn tháng biệt giam vẫn bám riết tâm trí bà. Chúng ta thử cùng bà ngồi trước màn ảnh của quá khứ, chứng kiến lại những điều mà trước nay bà chưa nói được với ai, vì nó quá kinh hoàng và khó khăn để thuật lại.

Nguyễn Thanh Thủy nhớ lại, “Vài hôm sau ngày 30 tháng Tư, 1975, tôi bị gọi đến nơi làm việc của Ủy Ban Quân Quản của chế độ Cách Mạng (tức Văn Phòng Khối Đặc Biệt, đường Cộng Hòa cũ) để hỏi cung từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Cán Bộ Cộng Sản cho biết, lẽ ra giam cầm tôi luôn, nhưng vì các con tôi còn quá nhỏ, nên mỗi ngày tôi đến đây làm việc rồi về. Họ cho tôi xấp giấy, cây viết, và muốn tôi viết lại quá trình hoạt động. Mỗi ngày tôi chỉ viết lý lịch của mình, rồi tôi nộp, nhưng họ không bằng lòng. Tôi có cho họ biết là tôi không nhớ gì cả, và yêu cầu họ cho tôi thời gian để tập trung trí nhớ. Sau đó, họ giúp tôi bằng cách dẫn tôi đi vòng quanh khối Đặc Biệt, vào những phòng làm việc của Khối để nhìn từng nơi xem thấy cái gì còn, cái gì mất. Tôi chú ý đến Văn phòng của Trưởng Cơ Quan E4, nơi còn những bản sơ đồ vẽ hệ thống hoạt động, những bản thuyết trình có ám danh công tác, bí số nhân viên, nhưng không có tên tuổi thật. Tôi nghĩ trong đầu một kế hoạch để đối phó với Cộng Sản khi bị hỏi cung.”

Nguyễn Thanh Thủy không chỉ là một người tù cải tạo. Bà còn là vợ một người tù cải tạo. Chồng bà, Cựu Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long, cũng vào tù sau ngày 30 tháng Tư 1975. Ba người con nhỏ của ông bà được gửi gắm lại cho ông bà Ngoại tại Mỹ Tho. Tuy nhiên, những cố gắng để kéo dài thời gian hỏi cung của bà cũng không giúp bà được ở gần gia đình mãi. Đến 15 tháng Sáu, 1975 thì bà bị tập trung vào tù cải tạo. Theo lời bà, thì “Tôi ở chung trại với tù cải tạo nam, học tập chính trị ở hội trường, học quốc ca của Cộng Sản và những bài hát đấu tranh chống Mỹ Ngụy, làm những bài thu hoạch, phê và tự phê, kiểm điểm, nộp cho họ. Tất cả mọi người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tội nhiều hoặc ít. Đó là cách luận tội của Cộng Sản. Tôi vào trại tù cải tạo Long Thành, với một túi xách đeo vai, một chiếc chiếu nhỏ cho một người nằm. Thiếu đủ mọi thứ. Tôi phải xuống hố rác cạnh dãy nhà chúng tôi ở, để tìm chai, lọ, mấy tấm tôn để đựng nước, đựng cơm, thức ăn… Nước chỉ đủ uống, không đủ tắm. Trời tháng sáu mưa dầm dề. Chờ trời mưa, tôi gội đầu tắm giặt nhờ những dòng nước mưa chảy theo mái nhà.”

Trong suốt thời gian bị giam một mình, bà đã canh cánh sợ bị bọn võ trang muốn làm hỗn nên không bao giờ dám chợp mắt, đã nơm nớp khiếp sợ mỗi đêm khi cai ngục lẻng kẻng xâu chìa khóa đâu đó giữa rợn rùng thăm thẳm tối. “Vì đêm trước có ai bị đưa đi, thì sáng hôm sau coi như mất tích,” bà nói. Hơn nữa, phương tiện vệ sinh căn bản nhất cũng không có. Bà hồi tưởng, “Nói đến nơi tiểu tiện bằng những cầu dã chiến ngoài trời, mưa dầm là nó lầy lội, và những con vòi trắng lềnh bềnh mà nữ thì làm sao dám ngồi để tiểu tiện, nên tôi đành nín, nhịn khát, đợi tối mới ra cái nhà tắm che bằng bốn vách lá, đi xong cho vào hố rác. Nhớ tới cảnh này, tôi luôn rùng mình, sao tôi chịu nổi dơ bẩn như thế.”

Bà nói tiếp, “Đầu tháng 10 năm 1975, tôi bị chuyển về trại giam Thủ Đức (tức 16NV). Chỉ có một người nữ bị chuyển là tôi. Tôi ở một mình trong phòng giam và bắt đầu các cán bộ thẩm vấn, điều tra từ trung ương đến. Tôi bị kêu lên đêm có, ngày có, bị hỏi liên tục, hỏi xong rồi bắt viết, thu bài. Những tháng ngày này, đầu óc tôi quá căng thẳng. Cả đêm không buồn ngủ, tựa lưng vào vách tường, kê túi quần áo và gối nằm để làm điểm tựa viết bài họ điều tra.”
Bà mẹ Thanh Thuỷ và ba con thơ tại Mỹ Tho.
Bà nhớ lại, “Tôi phải cải tạo khổ sai ở đây nhiều năm, không đủ vệ sinh và thiếu thốn. Ăn thì độn khoai mì có vỏ đỏ quấy, gọi bột ngàng phệt, hột bo bo, mì sợi luộc có cả con chuột chết vớt ra bỏ đi, lại tiếp tục chia mì sợi cho người một phần để ăn, không thì đói. Cả ngày cuốc xới mỏi mệt, tối đến vào phòng ngủ gần người lao phổi (xuất huyết phổi tới thời kỳ chót), bệnh giang mai thời kỳ thứ ba, phổ có nước thời kỳ chót. Tôi phải sống chung với họ cho tới khi họ được tha, và không bao lâu thì họ chết. Tôi phải may những nệm ngồi bằng vải vụn riêng để tránh lây nhiễm. Lúc ngủ, các bạn khỏe xếp gần nhau, chừa một chiếu cách người bệnh, xây đầu khác hướng với người bệnh và xây lưng về phía người bệnh để tránh lây nhiễm.”

Vì Nguyễn Thanh Thủy đã giữ một vai trò khá quan trọng khi phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bà đặc biệt bị quản lý nghiêm ngặt và tra khảo liên tục, làm bà chóng mặt, căng thẳng đến ngã bệnh. Cán bộ không bao giờ rời mắt khỏi bà, ngay cả về đêm. Bà kể, “Tôi là người tù bị chỉ định nằm ngay cửa ra vào hoặc ngay cửa sổ phòng tù để họ dễ kiểm soát hành vi về đêm của tôi. Cửa sổ tù không bao giờ có cửa để đóng lại, nên rất lạnh. Đêm đêm đói bụng quá, các bạn tù kể món ăn này, món ăn kia cho đỡ thèm đỡ đói. Nhớ chồng con kể chuyện hạnh phúc ngày nào thì có bà lên tiếng, kêu đừng kể nữa, vì rờ hai bên toàn chiếu không. Tới ngày thăm nuôi được gặp thân nhân gia đình, là lúc lấy dạ dày an ủi trái tim.”

Trong hoàn cảnh lao tù khổ sai, người nữ tù chịu nhiều khó khăn và khổ sở hơn người tù nam, nhất là về phần vệ sinh hằng tháng, và sự an toàn bản thân. Không chỉ những nữ tù cải tạo mới bị dòm ngó và hãm hiếp, mà những phụ nữ bị bắt vì vượt biên cũng bị lính gác bạo hành về tình dục. Sự căng thẳng của người tù nữ, vì vậy, cao gấp nhiều lần so với bạn tù nam. Bà lại kể, “Trại giam có nước máy, nên vệ sinh cá nhân cũng đỡ, nhưng vấn đề phụ nữ hằng tháng, không có băng giấy, tôi phải dùng quần áo cũ xé ra để lót, rồi giặt không xà phòng (vì không được thăm nuôi). Ăn uống, mỗi buổi sáng được một ly nước nóng, trưa một phần khoai độn, buổi chiều nửa chén cơm, một chút rau muống luộc với nước muối. Lễ lớn có một miếng thịt bằng ngón tay. Hơn một năm, một số tù cải tạo chuyển đi Bắc, một số tù cải tạo ở nơi khác chuyển tới, lúc đó mới có một số chị em phụ nữ ở trại Long Giao, trại giam Chí Hòa, Phan Đăng Lưu tới. Đa số là tù phản động. Tôi mới thoát cảnh ở một mình mà sống tập thể với bạn tù cũ, bạn tù mới. Tôi bắt đầu đi lao động, làm cỏ chung quanh trại giam, và trồng rau muống.”

Cảnh lao động vất vả của trại tù, dù sao, cũng cho người tù cơ hội được thấy ánh sáng mặt trời, mà không bị vây hãm gò bó giữa bốn bức tường bức bối. Nhưng trồng rau bằng phân người và nước tiểu người là những cực hình mà người tù phải gánh chịu, và ăn rau do chính mình trồng nhưng không được rửa sạch làm cho người tù bị tiêu chải kinh niên. Nhu cầu nha chu hay y tế căn bản cũng không được đáp ứng, nên bạn tù phải mượn kềm của tù nam hình sự, khi họ về ăn cơm trưa trong một tiếng, để nhổ răng cho nhau, khi răng đã hư quá nặng và không thể giữ được. Họ phải cầm máu bằng nước muối, vừa rát, vừa đau.

Bà kể tiếp, “Hai năm sau, tức tới tháng Bảy, 1977, chúng tôi chuyển lên trại tù cải tạo Căn Cứ 5 Rừng Lá, tức trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải. Đã di chuyển xa, nên việc phải gặp chấp pháp ít hơn, vài ba tháng một lần. Mà chủ yếu là lao động, cả đội mấy chục cô cầm cuốc, cầm xẻng, thùng tưới nước, chia nhau công tác để làm. Mới đầu chẳng biết cuốc, cả ngày trời cuốc một khoảng cỏ trước sân cơ quan mà thấy vẫn y nguyên. Lần lần gánh tranh, trồng rau muống, khoai lang, củ cải. Rau tưới bằng một lon nước tiểu pha một thùng nước suối, phân người bỏ dưới rãnh, lấp đất, trồng rau lên.

Tôi yếu sức nên đứng múc nước tiểu, pha cho người khỏe trẻ tưới. Cả ngày làm lao động mệt, chiều hết giờ chạy về bờ suối tắm 20 phút, vừa giặt giũ vừa tắm, không có quản giáo nữ canh gác. Cán bộ nam và võ trang canh gác khi đội nữ tắm. Bọn cai tù nói, “Các chị cứ coi chúng tôi như các chị, cứ thế mà tắm.” Thật là trơ trẽn. Chúng tôi cứ nhúng cả người xuống nước rồi lên giống như vịt rỉa lông. Những ngày mưa, nước suối đục ngầu, vẫn phải tắm, vì nước tiểu và phân dính cả người. Tới mùa nước suối cạn, bọn Cộng Sản chuyển đội nữ về lại trại cải tạo Long Thành. Nơi đây là trại hình sự, máy nước bị hư, không tiền sửa chữa. Mỗi ngày phát một gô nước uống, một tuần lễ mới ra suối cạn tắm một lần, giặt giũ rồi xách nước về. Về tới trại rửa cát bụi đi đường là thấy hết sô nước. Trại này trồng táo Thái Lan, dền, rau muống, cũng dùng nước tiểu, phân người làm phân bón. Chỉ trồng táo mới tưới bằng phân urê.”

Nhưng sau đó, bà bị chuyển trại, và bị đưa vào biệt giam hơn một năm để hỏi cung. Đây là gian đoạn gian nan nhất trong thời gian mười ba năm khổ sai của bà. Tuy nhiên, bà vẫn luôn giữ trong đầu một điểm đến: cố sống sót, đối diện với nghịch cảnh, để có ngày đoàn tụ với con. Bà ôn lại, “Ăn thiếu thốn, đói khát, bị vây quanh mấy tên cán bộ chấp pháp, tôi muôn điên lên vì thần kinh quá căng thẳng. Tôi sẽ gặp đau thương khi đối đầu với địch nên trước ngày cuối, để bảo mật, tôi đã hủy hồ sơ của Biệt đội Thiên Nga. Tôi cũng được bọn Cộng Sản đưa đi xem các văn phòng có liên hệ. Nhưng tôi vẫn lo lắng cho các nhân viên. Tôi muốn bảo toàn cho các bạn nữ đồng khóa, các nhân viên, và cộng tác viên. Tôi tâm niệm trong lòng mỗi lần phải gặp mặt cán bộ, tôi đều thầm nhủ đây là địch, đây là Việt Cộng, làm cho tôi thêm nghị lực, bình tĩnh hơn, mạnh dạn hơn để trả lời. Tôi ở biệt giam một mình hơn một năm, vì phải làm việc bằng đầu óc, trại giam gọi là động não quá nhiều, ăn uống thiếu thốn, ngủ nền xi-măng, tôi bị liệt một chân, phải lần vách. Tôi mới xin lau chùi quét dọn hành lang và xin phơi nắng nửa giờ mỗi ngày trừ thứ Bảy và Chủ Nhật. Tôi tập giật chân kinh và tự xoa nắn lấy chân bị liệt teo cơ do suy dinh dưỡng gây ra. Tôi tự nhắn nhủ, không nhớ con nhiều nữa, phải rán chịu đựng mọi khó khăn để có sức khỏe trở về với con.”
Trước 30 Tháng Tư 1975 và sau 13 năm tù. (Hình văn khố: Olivier Glassey-Trầnguyễn)
Thời gian biệt giam này đã dài như thế nào? Những chi tiết về gian đoạn này sẽ khiến nhiều người không thể tưởng tượng ra được, bà Nguyễn Thanh Thủy đã làm thế nào để sống sót. Bà nói, “Tháng 4 năm 1981, tôi bị đưa từ trại tù cải tạo Long Thành về trại tù biệt giam X4 (Bộ Công An Cộng Sản đường Võ Tánh, Sàigòn). Tôi ở xà lim, chung quanh tối om, ngoài một bóng đèn điện cho cả dãy xà lim, mỗi xà lim có một khoảng trống bằng một cục gạch trên sát trần nhà để thở. Trời tháng Tư ở Việt Nam, nóng bức, mồ hôi chảy như tắm, quần áo vo cao cho bớt nóng. Tuần lễ đầu tiên tôi bị xỉu, thiếu dinh dưỡng, thời tiết quá nóng. Cán bộ trại giam phát hiện do người ở cạnh xà lim đập tường hỏi thăm sức khỏe, không thấy tôi trả lời, họ đập tường gọi cán bộ cấp cứu. Sau lần cứu tôi tỉnh dậy, trại giam đưa một lọ thuốc tim nhỏ giọt để khi mệt nhỏ vào miệng và gọi cấp cứu.

Về ăn uống, sáng để gô ra, họ cho một gô nước nóng. Trưa và chiều để ít cơm trong cái thau và một chén canh ngoài song sắt xà lim, rồi tự mình mang cơm canh qua song sắt để ăn. Phải kiếm thế nghiêng thật nhanh, mang tất cả cơm canh vào. Vì không có muỗng, nên phải ăn bốc bằng tay.

Lúc mới tới, Cán Bộ chấp pháp cho biết tôi sẽ được ăn tiêu chuẩn quốc tế, dành cho người về làm việc, ngày 3 lần: sáng, trưa, chiều. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận được buổi ăn nào như thế. Các tù nhân đi với Cán Bộ trại giam giao phần ăn không được mặc áo, phải ở trần và bận quần xà lỏn (quần đùi), họ không được nói bất cứ lời nào. Muốn hỏi gì, họ chỉ tay về phía Cán Bộ, người Cán Bộ mới có quyền nói chuyện với tù nhân.

Về phần vệ sinh cá nhân, mỗi ngày được tắm một lần, 20 phút. Tù không bao giờ gặp mặt nhau, cứ người này tắm xong, mới mở cửa phòng khác cho tù ra tắm. Tiểu tiện đi vào thùng sắt đựng đạn của Mỹ, cứ đi tắm mang ra đổ, rửa sạch dùng lại.

Đưa tôi về nơi này, bọn Cán Bộ chấp pháp làm áp lực để tôi viết cam kết, với chồng hồ sơ thu thập được của nhân viên Thiên nga, cấp chỉ huy, bạn bè để trước mặt, cho thời hạn suy nghĩ là 3 ngày. Trên đường trở về xà lim, tôi nhờ chấp pháp trình lại với lãnh đạo của họ, 6 năm tù cải tạo đủ để suy nghĩ, không cần thêm 3 ngày. Tôi trả lời: Không, không bao giờ.

Thế là tiêu chuẩn ăn hàng ngày bị giảm đến mức tối thiểu, chỉ còn một chút cơm với vài hột muối hột. Thời gian này, bệnh nặng không được chữa, có lần ói từ nửa đêm đến sáng. Khi họ kiểm tra thấy nằm ói toàn mật xanh, Bs y tá tới, cho thuốc uống liền tại chỗ. Người y tá đưa thuốcd nói thật nhanh, thật khẽ, “Đừng uống.” Tôi vội nắm chặt thuốc trong lòng bàn tay, đưa tay giống như bỏ thuốc vào miệng và vội vàng uống nước. Sau này, tôi gặp người y tá đó khi khám sức khỏe đi Mỹ tại Bv Cảnh Sát. Người ấy mới kể, trước là y tá Bv Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, có thân nhân liệt sĩ, nên được giữ làm lại, biết tôi và tránh cho tôi bị thuốc.

Họ giữ tôi tại cơ quan X4 bốn tháng nhưng không khai thác được gì. Bọn chấp pháp đem cán bộ nữ ra dụ dỗ vì thương con tôi, mới khuyên tôi cam kết để tha về. Tôi khẳng định tôi về khi nào có chính sách của lãnh đạo nước, chứ về riêng lẻ không bao giờ có. Thấy tôi kiên quyết không khai, bọn chấp pháp biểu tôi đứng xa họ ba thước, nghe đọc lệnh án. Lệnh án có nội dung như sau: Do quyết định ngày… tháng… năm, Tên Nguyễn Thanh Thủy có thái độ ngoan cố không chấp hành cải tạo lao động nên tuyên án tập trung cải tạo tiếp 3 năm và quyết định có hiệu lực vô thời hạn.

Hai chân tôi bị nhốt ở xà lim, nên bị liệt không đi nổi. Trở lại xà lim, lấy quần áo chiếu mền theo họ chở về trại tù cải tạo Long Thành. Trước khi lên xe, họ đưa cái giỏ nhỏ nói là quà gia đình gửi. Sau này gặp chồng tôi, anh kể mấy ngày trước khi tôi trở lại trại cải tạo Long Thành, họ đưa một miếng giấy có chữ viết của tôi, vỏn vẹn, “Thăm anh và các con. Em vẫn khỏe mạnh.” Xong họ dặn chồng tôi mua cho tôi ít quà khô. Họ biểu đem đến cổng. Anh không biết chỗ, hỏi thăm gác cổng, họ bắt anh nhốt cho tới tối mới thả anh ra.

Sáng hôm sau là tôi chuyển trại. Họ phải xách tất cả một xách quần áo, sô đựng vài thứ linh tinh, một giỏ thức ăn. Vì tôi đi không nổi, mặt mày xanh xao, không ánh nắng mặt trời bốn tháng, màu da vàng của người VN rất đúng không sai tí nào. Nói đến hình phạt kỹ luật cho nữ, cái nhà kỹ luật là nhà có 2 lớp, giống như cái hộp có hai lớp, một lớp là phòng giam nóc bằng, cách khoảng chừng 1 thước, lớp ngoài cũng xi măng cốt sắt.

Mỗi phòng giam kỷ luật có một cái bệ. Cuối bệ có cây sắt thông ra ngoài để khóa bằng ống khóa sắt. Trên cây sắt có những cái cùm. Cái bệ xi măng có một cái lỗ để thùng đạn của Mỹ. Thùng trống không, làm chỗ tiểu tiện. Đặc biệt là kể từ ngày vào phòng giam kỹ luật cho đến ngày ra không được tắm. Khôn được tắm từ 1 tuần cho tới 3 tháng, 6 tháng, hay cả năm, chỉ những ngày kinh nguyệt phụ nữ mới được 40 phút thay quần áo.

Tùy theo hình thức phạt, đa số hai chân đều phải cùm lại, hỏng trên cái bệ, nên rất đau đớn vì tê chân và sét ăn vào cườm chân. Muỗi đốt suốt ngày đêm, bóng tối cả ngày đêm… Những hình thức này tôi đều trải qua, hằn sâu trong da thịt tôi.”

Chính thời gian biệt giam này đã gây ra nhiều tổn thương trên thân thể bà nhất, từ việc bị bại liệt một bên người, phong thấp, các chứng bệnh đường ruột và tiêu hóa, cho đến sự căng thẳng đầu óc đến cao độ. Từ việc bị giam trong phòng tối cả ngày lẫn đêm, cho đến việc bị điều tra hỏi cung 24/24, cho đến việc bà bị trừng phạt không cho ăn uống, chỉ có chút nước và ít muối hột, hay bị phạt không được tắm, những ngày có kinh nguyệt bà cũng chỉ được 40 phút thay quần áo rồi bị cùm lại – tất cả đã khiến bà rụng gần hết răng và cơ thể bà hoàn toàn kiệt sức, không đứng được.


Tại Mỹ, với vật chứng nhà tù mang theo. (Hình phóng sự: Benjamin Vũ)
Tôi thắc mắc, sau những đằng đẵng đói lạnh và lao động quá sức, không biết trong những lúc quá cùng cực và bị bệnh thập tử nhất sinh, Nguyễn Thanh Thủy có bao giờ cảm thấy tuyệt vọng không? Mười ba năm khổ sai đã cho bà nhiều kinh nghiệm đắt đỏ và một cái nhìn thấu đáo về chế độ chính trị đang nắm quyền trên quê hương bà. Và khi bà rời nhà tù nhỏ của trại Hàm Tân Z30, bà tiếp tục bị dồn bức cho đến giây phút gia đình bà đứt ruột rời bỏ người thân và quê hương để đi Mỹ qua diện H.O.

Bà kiên trì, giữ vững tôn nghiêm của người lính, giữ tinh thần lạc quan. Cho nên “Cả 13 năm tù, tôi không muốn kẻ địch thấy giọt nước mắt của tôi. Nên khó tìm thấy nét buồn, cho tới ngày em tôi lên trại, báo tin Ba tôi mất, tôi xỉu ngay tại phòng thăm nuôi và tôi rơi nước mắt.”

Nhưng dù không biết tương lai mình ra sao, Nguyễn Thanh Thủy vẫn luôn nghĩ đến người khác, những người bạn tù của bà. Chính vì nghĩ đến người khác, nên ngay từ đầu, bà đã không khai những bí mật Thiên Nga khi bị hỏi cung, mà mới bị trừng phạt nặng nề và chịu nhiều tổn hại về sức khỏe. Đến những ngày cuối cùng, bà vẫn giúp các bạn tù, “Mấy năm trước ngày ra trại, tôi làm đội trưởng kỹ thuật may, chỉ cho các em hình sự án cao biết may gia công để đỡ cuốc đất trồng rau cực khổ trong thời gian thụ án, sau có tay nghề may.”

Là người nữ tù cuối cùng rời trại cải tạo vì bị cho là ngoan cố, Nguyễn Thanh Thủy rời tù nhỏ, về tù lớn của xã hội Việt Nam hậu 1975, với hai hàm răng đã rụng, nên các con không dám tới gần bà. Con gái bà bảo, “Kỳ quá, Mẹ không có răng!”

Tôi tự hỏi, đối với bà, đâu là nỗi đau lớn nhất trong 13 năm này: những đau khổ về thân xác trong trại cải tạo, hay nỗi đau tình cảm phải chia lìa với gia đình và con dại? Thời gian có xoa dịu được những nỗi đau này không? Hay mất mát sẽ vĩnh viễn là mất mát?

Lần đầu tôi phỏng vấn Cựu thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy là từ thập niên 1990, cho Dự Án Việt Mỹ (còn gọi là Vietnamese American Project, do tôi dùng tiền student loans để sáng lập tại CSU Fullerton, và sau được sự hỗ trợ của Đại học Nhân Văn và Khoa Học Xã Hội của trường và các tổ chức khác). Cho nên trong các cuộc thuyết trình chuyên môn về người Việt hải ngoại tại các trường đại học khắp nơi trên thế giới trong suốt gần hai mươi năm qua, tôi vẫn đặt câu hỏi: Ai sẽ trả lại cho Nguyễn Thanh Thủy và gia đình bà 13 năm chia lìa vì tù ngục cải tạo? Chứng từ của Nguyễn Thanh Thủy trong các cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu mà tôi đã thực hiện với bà sẽ tiết lộ câu trả lời của bà cho những câu hỏi này trong các kỳ tới.
 
Trang Đài Glassey - Trần Nguyễn
Liên lạc:
vietamproj@...


<

ĐAU ĐỚN, XÓT XA Những vần Thơ Của Người Thợ Máy

ĐAU ĐỚN, XÓT XA
Những vần Thơ Của Người Thợ Máy

Nguyễn Văn (Bút Hiệu Của Họa Sỹ Nguyễn Văn Nhớ)

1

Giờ con lạy mẹ, con đi,
Phút giây nầy biết nói gì mẹ ơi!
Con đi, đi trả nợ đời,
Trả ơn cho nước trả lời mẹ ru...


Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng, Bốn dòng thơ lục bát trên đây là khởi đầu trong bài thơ “Lạy Mẹ Con Đi” của một người thợ máy Oregon. Trong những năm qua anh cùng bạn hữu đã âm thầm làm công việc ủng hộ yểm trợ, giúp đỡ một phần nào những khó khăn cho những người tù lương tâm đã và đang bị giam cầm ở trong nước bởi chính quyền độc tài CSVN. Qua việc theo đuổi công tác yểm trợ, anh đã thấm thía nỗi đau khổ của những người tù và gia đình của họ đã phải chịu đựng. Bài thơ “Lạy mẹ con đi” đã thoát thai từ nỗi đau đớn và xót xa khi anh nhìn thấy hình ảnh của người mẹ già tóc trắng với đôi dòng lệ tuôn tràn khi cầm tay con là nhà đấu tranh cho dân chủ Bác sĩ Lê Nguyên Sang, lúc ông đang đứng trước tòa án, chờ bị đưa lên xe bít bùng để vào trại tù của CS. Tấm ảnh mẹ tiễn con trước toà án đó đã bay đi khắp nơi trên thế giới và đã gây nên xúc động sâu xa với biết bao nhiêu người.

Những dòng thơ lục bát của người thợ máy có tên Nguyễn Hồng Lĩnh, và cũng là người đại diện Nhóm Yểm Trợ Dân Chủ Oregon, rất chân thành và chất phác, không cầu kỳ, tự nhiên như những giọt nước mắt chảy xuôi khi đau khổ cào xé tận cùng gan ruột. Qua bài thơ này, anh đã muốn hóa thân thành một Lê Nguyên Sang, để chia sẻ niềm khổ đau, để như cùng lạy người mẹ già trước giờ người con sắp vào chốn lao tù để trả ơn cho nước, trả nợ cho đời. Vần “ơi” ở cuối câu “Phút giây nầy biết nói gì mẹ ơi!” là một tiếng kêu than ai oán đau thương! Hình ảnh đau thương của người Tù nhân Lương tâm đã hằn sâu trong lòng anh. Nỗi đau này đã dày vò, đã khiến anh viết thành thơ, coi đó như những lời than van cho nhẹ bớt nỗi lòng đau khổ.

Nhìn giòng lệ mẹ con đau,
Trong con nước mắt tuôn trào mẹ ơi!
Mẹ già tuổi hạc gần trời,
Nay còn lận đận cuối đời vì con.
Thân này gửi trọn nước non,
Xót xa thương mẹ héo hon đợi chờ!


Cái cảnh mẹ già héo hon đợi chờ con, trong lúc thân mẹ thì gầy, tuổi đời thì đã gần đất xa trời mà còn lận đận nuôi con trong trại tù CS. Thật là quá thảm thương! Những cảnh đau thương phủ lên cuộc sống của những người tù lương tâm không bút nào có thể tả xiếc! Và thật không hiểu làm sao họ có thể sống, có thể chịu đựng nổi? Thời gian tù đày quá dài, 5 năm, 10 năm, có người trên 30 năm. Kể sao cho hết những tên tuổi của những Tù Nhân Lương Tâm (TNLT)!… Linh mục Nguyễn Văn Lý, mấy mươi năm lao tù, hiện nay dù thân thể mang bệnh tật tê liệt vẫn bị CS đưa trở lại lao tù; nhưng cũng như bao người TNLT khác, ý chí của Cha Lý mãi mãi tỏa sáng để thổi bùng lên ngọn lửa tự do, tạo thêm sức mạnh cho dân tộc. Hoà thượng Thích Quảng Độ, sau khi đã chịu bao năm tù đày, hiện nay vẫn bị giam lỏng, vẫn phải chịu sự quản chế khắc nghiệt; nhưng CS vẫn không giam cầm được tinh thần bất khuất vì dân tộc của Ngài. Người cựu sĩ quan QLVNCH Trương Văn Sương, sau khi đã ở tù trên 33 năm, dù đang vẫn bị bệnh hoạn nhưng CS cũng đưa vào tù trở lại để rồi phải chịu chết thảm thương trong trại tù. Một Nguyễn Hữu Cầu đang mù mắt cũng đã bị giam cầm trên 30 năm. Một Nguyễn Bắc Truyển, một Cù Huy Hà Vũ, một Trần Huỳnh Duy Thức, những người con đầy đủ trí- đức- tài của mẹ Việt Nam, đã bị kết án từ 3 đến 16 năm tù chỉ vì những bài viết với tấm lòng mong mõi cho Mẹ Việt Nam được tự do, độc lập và phú cường. Kể làm sao cho hết tất cả những người con đầy trí tuệ và lương tri của mẹ Việt Nam đang ngày đêm trong trại tù cùng khổ tối tăm của CS. Người Việt khắp nơi, người lương thiện các nước trên thế giới, đã và đang làm việc trợ giúp những người TNLT Việt Nam. Công việc trợ giúp những người tranh đấu cho tự do dân chủ đang bị bức hại này đã kích động hồn thơ của người thợ máy Nguyễn Hồng Lĩnh. Quê anh là xứ Bạc Liêu, từ ấu thơ anh đã sống gắn bó với nông thôn, ruộng đồng. Tâm hồn chan hòa với điệu hò câu hát ca dao. Anh thích ca dao và anh thuộc nhiều ca dao nên nguồn thơ lục bát của anh âm hưởng từ cội nguồn dân gian đó. Đọc thơ của anh, người ta thấy rõ tính giản dị, sự chân thật, niềm xúc cảm, và nỗi rung động sâu xa nên dễ đi vào lòng người. Nguồn thơ anh là từ nỗi đau hằng ngày, hàng tháng, hằng năm của những người tù lương tâm và gia đình của họ. Người viết này cám ơn và cảm thấy rất vui trong lòng bởi thời gian qua được đọc những dòng thơ yêu nước được viết từ những thi sĩ ở địa phương. Tôi nghĩ, những ai có tấm lòng yêu nước, yêu ca dao, yêu chữ Việt, yêu thơ, là thơ sẽ đến. Ngược lại, cho dẫu trí thức hay bác học mà vô tâm, vô cảm, hờ hững trước nỗi khổ đau của đất nước, hờ hững với thơ, thì cũng khó gặp được nàng thơ yêu nước. Chúng ta biết rằng dân tộc Việt có thơ từ khi chưa có chữ viết. Đó là ca dao là văn chương dân gian truyền khẩu, đã trải qua biết bao thế hệ và trải dài suốt chiều dài lịch sử văn hóa của dân tộc Việt. Nói rõ hơn khi chưa có văn chương bác học, chưa có chữ viết, tổ tiên ta đã làm nên văn chương; làm nên tư tưởng Việt đầy nhân bản như qua các câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay “Thương người như thể thương thân”. Muôn đời, trí thức và bác học vẫn cần thưởng thức, cần học hỏi, cần nghiên cứu ca dao, bởi dấu vết ngôn ngữ văn học và tinh hoa của dân tộc nằm ở đó. Ca dao là niềm tự hào của dân tộc nhưng người sáng tạo ra lại là vô danh. Ca dao hay, vì không có cái ta, không biết đó là của ai. Cái ngã ở đó đã chan hoà vào tinh hoa của đất nước, nơi hội tụ biết bao người không tên, không tuổi. Ngôn ngữ văn học là vũ khí, là sức mạnh sâu xa của dân tộc mà tác giả có thể là người dân dã nông thôn hay người lao động cần cù chất phác. Càng nghĩ càng thầm phục ông cha mình. Thật không tưởng tượng nổi! Một dân tộc quá lạ lùng bởi khi chưa có chữ viết đã có nền văn học dân gian, thơ ca truyền khẩu. Dân tộc Việt xin trở về với tư tưởng Việt. Tại sao lại bỏ tư tưởng của nòi giống Tổ tiên Lạc Việt để chạy theo tư tưởng vô gia đình vô tổ quốc của CS. Tại sao lại bỏ Tổ tiên Quốc tổ để cõng ông Mác, ông Lênin xa lạ của tây phương về VN. Tại sao lại bỏ Vua Hùng để thờ ông Mác râu xồm, bắt dân tộc phải tuân theo; ai không theo Mác, Lênin là bị hủy diệt, tù đày. Hỡi ôi! tại sao lại mê muội và tạo oan nghiệt ngút ngàn cho đồng bào Việt tộc. Đủ rồi, cả thế giới đã có gần 100 triệu người chết vì CS. Dân Việt cũng đã có biết bao nhiêu triệu người chết vì CS! Liên Xô và các nước Đông Âu đã từ bỏ CS. Nhân loại đã vứt chủ nghĩa CS vào thùng rác, đã đang đem các tội đồ CS ra xét xử vì tội ác diệt chủng. Đủ rồi, xin trở về với mẹ VN để sống trong cội nguồn ca dao an lạc. Dân tộc Việt đang tranh đấu để được trở về sống trong cội nguồn Mẹ VN. Người thợ máy Oregon đã thấm nhuần tinh thần cội nguồn ca dao của dân tộc. Ở đó, anh học được tính cách đồng tâm trong nghĩa đồng bào và vô ngã vị tha, cho nên anh dễ quên mình, hy sinh trong công việc. Hằng ngày, anh đau đớn vì Tổ quốc mất đất, mất biển bởi bọn bá quyền Trung Cộng xâm lược. Anh buồn rầu vì quê hương mình bị nghèo đói tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực. Anh xót xa vì bà con đồng bào mình bị cướp đất cướp nhà, cùng với bao cảnh tù đày mà những người có lòng với quê hương đang phải gánh chịu…Nguyễn Hồng Lĩnh đã thể hiện nỗi đau xót trong lòng qua hành động thực tiễn trong việc vận động yểm trợ dân chủ. Cụ thể là anh và bằng hữu của anh đã cố gắng trợ giúp một phần nào trong việc thăm nuôi những người đấu tranh cho tự do, dân chủ hiện đang bị bức hại ở trong nước. Để bớt đau đớn về tinh thần, anh đã viết ra những dòng thơ lục bát mang âm hưởng từ những làn điệu dân ca để ghi lại nổi niềm khắc khoải của lòng mình. Nguồn văn học dân gian đã nuôi dưỡng tâm hồn anh và đã hoà nhập trong những dòng thơ lục bát mang đầy nét đau đớn của anh.

“Trả niềm khát vọng thiên thu,
Thân con dù có ngục tù cũng cam.
Trót mang giòng máu Việt Nam,
Quê hương khốn khổ, biết làm sao đây?
Biệt ly, con mẹ lần nầy,
Tự do hạnh phúc sum vầy mai sau”

Nguyễn Hồng Lĩnh đã về Hà Nội ngày 4 tháng 3, năm 2007 gặp một số nhà đấu tranh để tìm cách giúp đỡ họ. Anh đã gặp Nguyễn Khắc Toàn, Lê Thị Công Nhân (LTCN) rồi mấy ngày sau đó LTCN đã bị CS bắt giam tại Hà Nội. Anh trở về Mỹ, trong căn phòng lạnh lẽo ở chỗ làm, nghĩ đến người con gái anh thư nước Việt với đôi vai gánh nặng đòn thù giữa quê hương tăm tối… nhưng LTCN vẫn tranh đấu, vẫn quyết soi ngọn đèn dân chủ cho Tổ quốc hồi sinh. Nghĩ đến những người Tù Lương Tâm đang bị tù đày này, anh hiểu rằng anh phải có trách nhiệm, và phải thể hiện trách nhiệm của mình bằng hành động. Từ đó anh đã cùng bằng hữu lập nên nhóm yểm trợ chỉ mong trợ giúp một phần nào cho những người đấu tranh bị bức hại trong nước. Và cũng từ xúc động về hành động anh thư của LTCN anh đã viết xuống những dòng thơ tám chữ:

Cơn sóng dữ đưa em vào lịch sử,
Tuổi thanh xuân ngụp lặn giữa chông gai.
Vũng quê hương đen tối của đêm dài,
Vai gánh nặng đòn thù chân bước tới.”

Và những câu kết:

“Dáng hiên ngang em bước vào cửa ngục,
Ngọn đèn soi cho Tổ quốc hồi sinh.
Cho dân lành thấy được ánh bình minh,
Cùng bước tới vào thiên niên kỷ mới.”

Đau quá thì phải la lên, xót xa quá thì nước mắt phải chảy. Nước mắt chảy bởi nỗi lòng đồng cảm với bao cảnh tù đày. Tiếng gọi từ lương tri, lương thiện bắt thơ phải ra đời. Đây là những dòng thơ yêu nước, thể hiện lên một khúc quanh lịch sử. Yêu nước ra thơ. Thơ ca đấu tranh toát lên hùng khí, nhưng vẫn loang loáng máu đào của cả dân tộc, loang loáng những dòng nước mắt ẩn tàng những khổ đau bất hạnh mà cả dân tộc hứng chịu dưới ách nạn của CS. Thơ yêu nước cũng chính là chiếc khăn dùng để thấm mồ hôi lẫn nước mắt, có khi là máu của người tù bất hạnh. Khi những dữ kiện đau buồn uất hận xãy ra thì Nguyễn Hồng Lĩnh hay làm thơ; biết đâu những dòng thơ này là dấu ấn của một khúc quanh lịch sử cho người đời sau nhìn ngắm lại. Xin trân trọng và biết ơn. Năm 2006,  Huỳnh Việt Lang một trong những nhà đấu tranh vì dân chủ bất khuất ở quê nhà, bị bạo quyền CS mang ra xét xử tại Sài gòn với tội danh chống lại nhà nước CS. Những giọt nước mắt của Nguyễn Hồng Lĩnh lại chảy xuống. Những con chữ nức nở đau thương lại xuất hiện. Xuất hiện rồi nằm sâu trong những trái tim của người đồng cảm.

“Nghe tin anh cõi lòng tôi rạn vỡ,
Mắt hai dòng nức nở khóc thương anh.
Bầu trời đen đêm tối vụt vây quanh,
Khi biết được anh lọt vào tay giặc.
Huỳnh Việt Lang- Với cơn đau dằn vặt,
Cuả triệu người như thể của riêng anh.”

Thơ anh là đời sống thực là nước mắt. Đau xót thì viết ra để giải tỏa ẩn ức. Tất cả những công tác nghệ thuật là để giải tỏa ẩn ức. Đau đớn xót xa bắt người thợ máy làm thơ. Cũng như để an ổn tâm hồn Thủ tướng Churchil của nước Anh cũng đã làm họa sĩ và vẽ tranh rất đặc biệt. Tổng thống Nga Putin vẽ tranh bán đấu giá khá cao. Nhà văn, nhà thơ Đức nổi tiếng Hermann Hesse giải thưởng Nobel Văn chương, thỉnh thoảng ông cũng làm hoạ sĩ, và hay đi vẽ tranh ở ngoài trời. Nhiều lắm, những con người lấy nghệ thuật để giải tỏa ẩn ức… như Nguyễn Tiến Trung du học 7 năm ở Pháp, tốt nghiệp xong quyết về nước hoạt động cho dân chủ, và phải ở tù. Nhưng cũng ít ai biết được nhà hoạt động trẻ cho dân chủ này đã làm thơ. Làm thơ, nhưng Nguyễn Tiến Trung chắc cũng không bao giờ nghĩ mình là thi sĩ. Đau khổ vì thương nước thương dân bị bức hại, biết dân tộc trầm luân thì phải hành động và thơ tự dưng tuôn trào. Ngôn ngữ thơ như đứt tay thì máu chảy. Và đây là lời tự bạch của Nguyễn Tiến Trung:

 

Tự Bạch

 

Ta sẽ về chốn cũ
Nơi lang sói rập rình
Giữa muôn ngàn thử thách
Lòng ta vẫn kiên trinh.
Quê hương còn đau nặng
Đâu lẽ ta đứng nhìn?
Gian nan đời nước nhỏ
Đâu lẽ ta lặng im?
Chân dẫm muôn ngàn nẻo
Qua cả vạn dặm đường
Tự do nơi đất khách
Dân chủ – mộng đêm trường.
Đi tìm người đồng chí
Phối hợp cả trong ngoài
Vận động nơi quốc tế
Hướng về một ngày mai.
Đường đi còn gian khổ
Nhưng chân cứng đá mềm
Trong hoàng hôn đã thấy
Một mặt trời mọc lên.
Thơ Nguyễn Tiến Trung

Còn nữa, nhiều lắm những con người không phải là thi sĩ đã cho đời bằng thơ máu lệ. Chị Bùi Thị Minh Hằng, người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược đang bị giam tù, một người phụ nữ mới học hết lớp10/10, nhưng đôi vai hằn rõ hai bên những chữ “Thù Nhà và Nợ Nước” - khi cần lại có thể dõng dạc đọc lên những vần thơ: “Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết, cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông...”
Trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm, trong khi chiêu mộ nghĩa quân phất cờ khởi nghĩa, trước khi xuất quân, khi rơi vào tay giặc, hay trước khi chết các chí sĩ Việt Nam đều đọc thơ. Chúng ta có Bà Triệu Ẩu, Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trải, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp… nhiều lắm không làm sao kể cho hết, tất cả đã dùng thơ để chiến đấu. Ngôn ngữ thơ đó là vũ khí tâm công đã góp phần đánh đuổi quân xâm lược.
Với vũ khí tâm công đó, xin chia sẻ thêm những dòng thơ về Huỳnh Việt Lang của Nguyễn Hồng Lĩnh.

Anh dấn thân chẳng suy điều thua thiệt
Quyết chí vì dân tộc sống tự do
Tự Do - nào, đâu phải Vật Xin, Cho
Hay những món hàng phơi bày giữa chợ
Bọn bạo quyền với bàn tay man rợ
Lũ vong nô lo sợ giống Hùng - Anh
Chúng điên cuồng tìm cớ biệt giam anh

Thơ mang thông điệp tố giác những hành động man rợ để người đọc sáng mắt mở lòng. “Huỳnh Việt Lang tên anh là tiếng trống”, câu thơ của Nguyễn Hồng Lĩnh thật hay bởi những rung động thi ca trong tim người nghệ sĩ lúc nào cũng đập theo nhịp thở quê hương. Ngôn ngữ lạ, mang tính ẩn dụ tạo ray rức mà hùng tráng thúc giục lòng người.

Trong đời người từ khi mới lớn khôn cho đến tuổi về già phần đông ai cũng có đôi lần đọc thơ và làm đôi ba câu thơ trong những lúc nguồn thơ bất chợt đến. Trong thời gian hơn hai năm Nguyễn Hồng Lĩnh đã viết khoảng 28 bài thơ. Xúc cảm thực nên anh viết nhanh, viết một mạch là xong bài thơ. Hy vọng mỗi ngày anh càng rèn ngọn bút thơ, để lỡ khi: “ngọn bút tôi ai cướp giựt đi, tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.”
Lòng thành, rung động thật sự cộng với tài năng sẽ làm cho thơ giữ lại trong lòng người. Là người làm thơ ai cũng nhớ cốt tủy của thi ca là: Thi tâm- thi tứ- thi tài.
Những chí sĩ, những nhà hoạt động dân chủ họ đánh đổi cuộc đời bằng tù đày kể cả hy sinh mạng sống nên chữ nghĩa trong thơ họ như có phần máu thịt, có cuộc sống, có linh hồn. Đây không phải loại thơ robot, dùng chữ nghĩa trau chuốt trống rỗng vô hồn như lá hoa giả để có cái tên thi sĩ.

Võ Văn Ái nhà hoạt động Nhân quyền cũng là thi sĩ Thi Vũ đã nói về thơ yêu nước như sau: “Thi ca ấy đang là tiếng kèn đồng trong nước, nhưng cũng là tiếng kêu đang muốn vọng tới những nhà thơ Việt đang mài giũa chữ nghĩa ở hải ngoại. Họ muốn nói: Nghệ thuật không chỉ là tụng ca và hoài vọng mà thôi. Trong cơn lâm lụy của đông người, nghệ thuật còn là sự thức tỉnh về một quyết tâm phản kháng sự chết, cảnh nô lệ, vong thân, và mọi áp bức. Bởi vì thi ca là nẻo dẫn về Người – chốn cư trú giữa mông lung, vô tình.”

Kết:

Khi đời sống còn đọa đày trong bất công, còn những con người tù tội vì chiến đấu cho Tổ quốc tự do, cho công lý và sự thật; thì những dòng thơ yêu nước như dòng thơ người thợ máy Nguyễn Hồng Lĩnh sẽ còn có người đọc.

Đọc thơ nói về tinh thần yêu nước là lắng nghe, lắng nghe những người con cùng sinh ra từ một bọc Mẹ Việt Nam. Xin lắng nghe và nhớ tưởng đến biết bao nhiêu người đang ở nơi chốn tù đày vì tranh đấu cho chính nghĩa tự do. Họ chết cho Tổ quốc, chết thay chúng ta, chết vì chúng ta, chết cho tự do nhân phẩm, cho hạnh phúc muôn đời con cháu của chúng ta. Xin đừng thờ ơ với họ. Sự khổ đau của họ đã làm cho biết bao nhiêu người viết nên thơ, trong đó có thơ của Nguyễn Hồng Lĩnh. Khổ đau của những người Tù Lương tâm đã hòa thành ánh sáng để cùng nhau soi rọi lương tâm, đã trở  thành những dòng máu đỏ, tươi thắm nồng nàn tình yêu thương quê hương và dân tộc, để “bầu ơi thương lấy bí cùng”. Bởi cùng con một mẹ Việt Nam không thể vô tâm vô cảm, không thể thương yêu bằng đầu môi chót lưỡi. Vì nếu không có hành động cứu giúp từ tinh thần đến vật chất cho những người tù lương tâm, thì tất cả chữ nghĩa thơ văn này cũng chỉ là những lời văn trống rỗng và trở nên vô nghĩa, và sẽ được quên lãng sau khi được đọc thoáng qua.

Những người đấu tranh cho dân chủ tự do đã đang bị tù đày, đang chết vì kẻ ác. Xin đừng bao giờ quên Chúa Giêsu đã bị kẻ ác treo Ngài trên thập tự giá. Máu Thiên Chúa đã chảy xuống cho người lương thiện sống. Xin người lương thiện đừng thờ ơ trong việc cứu giúp người. Xin hãy trả nợ cho những người Tù Lương Tâm. Xin đừng quên gần 100 triệu người trên thế giới đã chết vì chủ nghĩa CS. Quốc gia Hoa Kỳ luôn luôn nhắc nhở điều này và đã dựng đài tưởng niệm nạn nhân của chủ nghĩa CS ở Washington DC, mong muốn để lại trong lịch sử về sự tàn bạo của CS để dạy cho các thế hệ tương lai phải biết chống lại kẻ ác.

Xin ngậm ngùi đọc thêm vài câu thơ của người thợ máy Nguyễn Hồng Lĩnh:

“Bạn tôi ơi! Bao năm rồi quá đủ?
Tôi và Anh an ngủ giấc mê dài
Mặc quê hương đêm tối vẫn miệt mài…”

Xin đừng quên khi anh em mình đang ngủ trong nệm êm chăn ấm thì nhiều người đang bị tù đày, đang chết vì quê hương.
Và cuối cùng cầu xin Đức Chúa, Đức Phật và Tổ tiên sông núi ở mãi trong lòng của tất cả những người con của mẹ VN. Xin chứng giám cho lòng chúng con, những kẻ luôn luôn mong làm điều gì đó cho quê hương đất nước thân yêu. Xin cùng nhau mỗi ngày lắng nghe lại những dòng thơ yêu nước, lắng nghe lời nói của A. de Lamartinne: “Từ những nắm tro tàn của người chết tạo nên Tổ quốc”. Lắng nghe lại lời của Mục sư Martin Luther King: “Điều làm tôi kinh hãi không phải là sự đàn áp của kẻ ác, mà sự thờ ơ của kẻ thiện.”

Cầu xin hồn thiêng sông núi, những anh linh đã chết vì tổ quốc giúp cho chúng ta bớt nổi thờ ơ vô cảm. Xin hãy mở lòng với những người Tù Nhân Lương Tâm bởi họ đang chịu đọa đày, đang hy sinh để chấp nhận chết thay cho chúng ta và chết vì muôn đời con cháu của chúng ta.

Nguyễn Văn. Bút hiệu của
Hoạ sĩ Nguyễn Văn Nhớ.
Portland vẫn còn Xuân. 2012.

Xin đọc toàn văn hai bài thơ của Nguyễn Hồng Lĩnh mà người viết có trích thơ ở trong bài viết này.

1.     Lạy Mẹ Con Đi

Giờ con lạy mẹ, con đi,
Phút giây nầy biết nói gì mẹ ơi.
Con đi, đi trả nợ đời,
Trả ơn cho nước trả lời mẹ ru ...
Trả niềm khát vọng thiên thu,
Thân con dù có ngục tù cũng cam.
Trót mang giòng máu Việt Nam,
Quê hương khốn khổ, biết làm sao đây?
Biệt ly, con mẹ lần nầy,
Tự do hạnh phúc sum vầy mai sau.
Nhìn giòng lệ mẹ con đau,
Trong con nước mắt tuôn trào mẹ ơi!
Mẹ già tuổi hạc gần trời,
Nay còn lận đận cuối đời vì con.
Thân này gửi trọn nước non,
Xót xa thương mẹ héo hon đợi chờ.

2.     Tên Anh Là Tiếng Trống

Nghe tin anh cõi lòng tôi rạn vỡ,
Mắt hai dòng nức nở khóc thương anh.
Bầu trời đen đêm tối vụt vây quanh,
Khi biết được anh lọt vào tay giặc.
Huỳnh Việt Lang- Với cơn đau dằn vặt,
Cuả triệu người như thể của riêng anh.
Chẳng ngại ngùng anh vạch khoảng trời xanh,
Bằng cây bút và tình yêu nước Việt.
Anh dấn thân chẳng suy điều thua thiệt,
Quyết chí vì dân tộc sống tự do.
Tự Do - nào, đâu phải Vật Xin, Cho,
Hay những món hàng phơi bày giữa chợ.
Bọn bạo quyền với bàn tay man rợ,
Lũ vong nô lo sợ giống Hùng- Anh.
Chúng điên cuồng tìm cớ biệt giam anh,
Nhằm tiêu diệt móng mầm xây dân chủ.
Bạn tôi ơi. Bao năm rồi quá đủ!
Tôi và Anh an ngủ giấc mê dài.
Mặc quê hương đêm tối vẫn miệt mài,
Bao người quyết đứng lên đòi quyền sống.
Huỳnh Việt Lang!
Tên Anh Là Tiếng Trống,
Giục lòng tôi thức giấc bước theo anh.
Ta cùng đi thu lại mảnh trời xanh,
Cho Tổ Quốc cho giống dòng Bách Việt.

Nguyễn Hồng Lĩnh

Bài Xem Nhiều