We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 10 April 2012

NGHỊ QUYẾT 36 VÀ CHIẾN DỊCH MÀU DA CAM HOÀN TOÀN THẤT BẠI


NGHỊ QUYẾT 36 VÀ CHIẾN DỊCH  MÀU DA CAM

Không phải tới bây giờ Cộng Sản Việt Nam mới nghĩ tới chuyện “giải phóng” cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Nhiều năm trước, chúng tôi đã báo động qua bài thuyết trình “Từ du kích chiến đến vận động chiến trong mặt trận tuyên vận của Cộng sản Việt Nam tại hải ngoại” tại Khu hội Cựu Tù nhân Chính trị Bắc California vào ngày 15-3-1998. Sau đó, bài viết đã được cập nhật hóa và phổ biến trên tuần báo Quê Hương, đài phát thanh Quê Hương, tuần báo Tiếng Dân. Phần kết luận của bài thuyết trình như sau:

“Trong tương lai rồi sẽ có những cán bộ cao cấp của Hà Nội ra nước ngoài tiếp tục kêu gọi ngoại quốc đầu tư; rồi sẽ có những đoàn văn công được gửi ra nước ngoài trình diễn; rồi sẽ có những phim ảnh từ trong nước đem ra nước ngoài chiếu; rồi sẽ có những cuộc triễn lãm tranh ảnh... để giao lưu văn hóa; rồi sẽ những cuộc hội thảo về khoa học, kỹ thuật.

Và rồi sẽ có:
Một hệ thống truyền thông của CSVN với một nhật báo, một tuần báo, một nguyệt san, môt nhà in, một nhà sách với hệ thống phát hành rộng lớn, một đài phát thanh, một đài truyền hình... xuất hiện tại Bắc Mỹ (biết đâu chẳng là ngay tại San Jose) trong tương lai nêu chúng ta không đoàn kết và tranh đấu quyêt liệt với những kẻ tự nguyện xé bỏ căn cước tỵ nạn, vỗ ngực xưng danh là ‘người Quốc Gia công chính’, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tiếp tay Việt Cộng đánh phá cộng đồng.”

Lời tiên đoán của chúng tôi cách đây 14 năm, hiện nay, đã trở thành sự thật ngay trước khi nghị quyết 36 của VC được ban hành. 


Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong môt buổi ra mắt sách ở Bắc California đã đưa ra nhận xét:

“Nhận diện Viêt gian không khó. Những tên nào mở đại hội đón rước văn nô Cộng sản ra hải ngoại tuyên truyền cho băng nhạc, đĩa hát của chúng, thì bọn đó đích thực là Việt gian.”

Tháng 8 năm 2002, từ nhà tù Dublin, nữ chiến sĩ đấu tranh Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã viết một bức thư có đưa ra nhận xét tiếp lời của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện như sau:

“Hiện nay những tên Cộng sản vẫn lẫn lộn khắp nơi! Chúng ta hãy để ý những kẻ nào cứ nhắm người Quốc Gia mà đánh... thì là Việt Cộng chứ còn ai... Nơi nhà tù Anh Quốc, có lúc tôi bị biệt giam tận địa đạo tối tăm. Lúc đó niềm hy vọng tiếp sức cho tôi là những lời thơ khích lệ của đồng bào. Rồi lần đầu tiên tôi nhận một lá thư. Cầm được lá thư có hàng chữ Việt, tôi thấy lòng dâng tràn sung sướng cùng với hàng ngàn thương mến. Tôi ép thư vào lồng ngực. Ôi! Ðồng bào ruột thịt đã đến cùng tôi. Mở phong thư ra tôi thấy bài viết của một người tên Ðỗ Quyên, bài đã đăng trên tờ Thời Báo ở San Jose, bài báo rất dài có nhiều tình tiết. Tôi còn cất giữ nó làm kỷ niệm, xin trích ra đây một vài đoạn như sau:
‘Ngọc Hạnh, mụ là tên bôi nhọ hàng ngũ quốc gia một cách tinh vi, là tên tham sống sợ chết, là tên khủng bố giết người, làm tay sai cho Ðoan Trang...’
Gần đây, trong vụ xảy ra khi có sự xuất hiện của tên VC Nguyễn Tấn Dũng tại San Francisco, thì cũng chính anh chàng Ðỗ Quyên của tờ Thời Báo đã viết bài “Ai sẽ cứu được Ngọc Hạnh?” Anh chàng lại một phen nữa dài dòng, cuối cùng thì cũng kết luận: ‘Người nhận tội phải là Ðoan Trang. Vì Ngọc Hạnh chỉ vì chút tiền mà làm theo lệnh.’
Kính thưa quí vị, nhân viên điều tra của FBI là người Việt Nam, anh tên là Tuấn Nguyễn, là người đầu tiên phỏng vấn Ngọc Hạnh. Chính cuộc phỏng vấn này đã quyết định hoàn toàn cho vụ án. Anh Tuấn Nguyễn nói với tôi: Lần đầu tiên trong đời làm FBI của tôi, tôi gặp một người mà lúc bị bắt đã một mình nhận lãnh trách nhiệm, và còn kêu oan đòi trả tự do cho người khác. Không có tới một đồng trong người, thật lạ quá, lạ quá!” (nguyên văn).
Thưa quí đồng hương, đáng lẽ những sự hy sinh là điều không nên nói, vì ai cũng biết hễ nói ra là sự hy sinh không còn ý nghĩa nữa, nhưng vì cuộc chiến hỏa mù của Cộng sản đang dần hủy diệt niềm tin của những người Quốc Gia với nhau, nên buộc lòng Ngọc Hạnh phải nói ra như một lời chia xẻ.”

Bây giờ thì báo nào, đài phát thanh nào, đài truyền hình nào, trung tâm băng nhạc nào, ký giả nào, bầu show nào... làm lợi cho VC, cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đã... nhẵn mặt.
*
Ngay từ năm 1990, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, một tay sai của VC tại Pháp, đã xuất bản quyển “Về Người Việt Nam Ðịnh Cư Ở Nước Ngoài”. Trong “Lời tác giả”, tên bác sĩ tay sai này đã viết: “... Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề nghị với lãnh đạo Ðảng và Nhà nước một phương hướng chiến lược, một số chính sách và chủ trương cấp thiết nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng người Viêt Nam ở nước ngoài ổn định được cuộc sống, thân ái, đoàn kết hướng về quê hương, dân tộc, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Tên bác sĩ tay sai còn tự khoe mình là VC khi ra sức nâng bi các “đồng chí” của hắn như sau: “Cuốn sách này cũng nhằm phục vụ các đồng chí Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí Trưởng ban, Ngành, Sở, Mặt Trận Tổ quốc các tỉnh, thành ở trong nước, để có thể kịp thời có những quyết định, giải pháp thích hợp và cụ thể nhằm đưa công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tiến lên một bước.” 
Vào năm 1992, tạp chí Cộng sản số 435 đã đăng tải bài “Làm Tốt Công tác Vận Ðộng Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” đã viết như sau:
“... Tăng cường thông tin giữa trong và ngoài nước, mở rộng giao lưu trao đổi văn hóa phẩm, xuất bản phẩm, nâng cao công suất các phương tiện thông tin đại chúng đến tận vùng xa trên thế giới. Tạo điều kiện cho nhiều đoàn nghệ thuật, các tổ chức triển làm văn hóa Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài nước gặp gỡ, đối thoại để góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.
Bên cạnh việc biểu dương các hoạt động yêu nước tích cực của Việt kiều, cần phê phán các nhận thức mơ hồ, các quan điểm lệch lạc; đấu tranh chống các hoạt động thù nghịch, các âm mưu chống phá đất nước của bọn phản động lưu vong ở nước ngoài.”

Nghị quyết 36 chẳng có điều gì mới lạ so với các tài liệu của CSVN đã phổ biến trước đây, ngoài việc xác nhận chính Ðảng CSVN đã phải khuất phục trước sức mạnh của cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại nên đã tìm mọi cách ve vãn để hòa hợp hòa giải với cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản để lợi dụng sức người, sức của của những kẻ mà chúng đã từng gọi là “bọn trộm cướp, đĩ điếm, bọn phản bội tổ quốc, bọn ôm chân đế quốc” để củng cố quyền lực hầu tiếp tục đè đầu cưỡi cổ 80 triệu người dân ở trong nước.

*
Theo nghị quyết 36, trong lãnh vực thông tin, tuyên truyền và văn hóa, văn nghệ Thủ tướng VC Phan Văn Khải đã ra lệnh cho Ban Tư Tưởng - Văn Hóa Trung Ương và Bộ Văn Hóa-Thông Tin nhiệm vụ: “Nghiên cứu, xây dựng quy chế khuyến khích  các đoàn nghệ thuật, các ca sĩ, nghệ sĩ trong nước tổ chức các chuyến biểu diễn nghệ thuật phục vụ kiều bào; các ca sĩ, nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn ở trong nước; xuất bản, phát hành ở trong nước một số sản phẩm văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phù hợp các quy định về xuất bản...”

Về chuyện các ca sĩ “trong hát ra, ngoài hát vô” để giao lưu văn nghệ thì mọi người đều đã rõ.

Về chuyện “xuất bản, phát hành ở trong nước một số sản phẩm văn hóa của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với các quy định về xuất bản...” thì chuyện này đã xảy ra từ lâu chứ không phải tới bây giờ mới bắt đầu – như nghị quyết 36 đã đề ra.

Nhiều năm trước đây, Nhật Tiến và nhóm bồi bút tay sai đã xuất bản quyển “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương” đem về nước để... báo công nhưng cai thầu văn nghệ lúc đó là Tố Hữu đã chẳng ngó ngàng gì đến  khiến cả lũ tẽn tò. Sau một thời gian ra công hãn mã làm báo Hợp Lưu, làm tờ Văn Học với mục đích gây thanh thế để sau này dễ bề ca tụng các văn nô VC Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi là những kẻ đã được Trung tâm William Joiner mướn để “viết tờ căn cước đỏ” cho người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản qua sự móc nối của tên Việt gian Nguyễn Bá Chung, một sinh viên đã chạy chọt, đút lót để được đi du học trước năm 1975.

Nhật Tiến đã được Ðảng và Nhà nước trả công bằng cách cho in chung với người em là nhà văn Nhật Tuấn tập truyện ngắn “Quê Nhà, Quê Người”.

Phần Nguyễn Mộng Giác đã được cán bộ văn hóa cao cấp của VC là Mai Quốc Liên cho phép in và phát hành ở trong nước quyển trường thiên tiểu thuyết “Sông Côn mùa lũ”.

Nói đến chuyện Ðảng và Nhà nước cho phép in và phát hành tác phẩm ở trong nước mà không nhắc đến nhà văn “mầm non” Ðỗ Mậu sẽ là một điều rất thiếu sót. Quyển hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” được “những bàn tay lông lá” viết dùm ông cựu Tướng-khố-xanh Ðỗ Mậu để chửi cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, bêu rếu chế độ miền Nam đã được báo Công An TP/HCM đăng lại với tựa đề “Tâm sự Tướng lưu vong” và sau đó đã được in và phát hành ở trong nước. Ông Tướng phản chủ - cũng đổ đốn như tên cố Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ - đã về nước, ngồi xe lăn lên đài truyền hình ca tụng chế độ, khoe mình cùng quê cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, cùng quê với ông Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, ông Tướng ngày xưa nổi tiếng với mấy câu thơ Bút Tre:

“Hoan hô đồng chí Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Ðiện Biên trở về...”

Ngày nay càng nổi tiếng với mấy câu thơ dân gian khi ông được cho về phụ trách Ban Kế Hoạch Hóa Gia Ðình để giúp chị em phụ nữ cai đẻ:

“Ngày xưa Ðại Tướng cầm quân
Ngày nay Ðại Tướng cầm quần chị em...
Ngày xưa Ðại Tướng công đồn
Ngày nay Ðại Tướng ngăn l..., cản c...”

 Ông Cựu Tướng Quân lực VNCH cứ khoe mình là “sinh vi Tướng, tử vi Thần” nhưng lúc ông cựu Tướng “hai năm mươi” lại được Toà Ðại sứ VC gửi đến một vòng hoa phúng điếu khiến mấy ông Giao Ðiểm là những người tổ chức tang lễ cho ông cựu Tướng phải lật đật đem giấu vì nhóm này sợ bị lộ cái bản mặt tay sai VC!
*
Khi Trung tâm William Joiner mướn hai tên cán bộ VC là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đào mồ chôn căn cước tỵ nạn chính trị của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới thì mọi người đã thấy rõ bộ mặt bồi bút của những nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Ðặng Tiến, bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, luật sư Nguyễn Hữu Liêm... Bộ mặt bồi bút tay sai của những nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Trương Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc càng rõ nét hơn khi cán bộ VC Trần Văn Thủy, người đã từng nổi tiếng với phim tài liệu “Chuyện Tử Tế” trong thời “đổi mới và cởi trói” của cố Tổng bí thư VC Nguyễn Văn Linh, phỏng vấn 5 ông, 1 bà và xuất bản tại hải ngoại tác phẩm “Nếu Ði Hết Biển” là một phần trong chương trình nghiên  cứu của Trung tâm William Joiner. Ðọc một loạt bài phân tích của phiếm luận gia Công Tử Hà Ðông, tức nhà văn Hoàng Hải Thủy, về tác phẩm “Nếu Ði Hết Biển” ai cũng thấy năm ông, một bà nhà văn hải ngoại “xệ ơi là xệ”!

Ai đời cầm bút viết văn tại Hoa Kỳ là một xứ sở tự do mà khi “bị” một anh đạo diễn VC như anh đạo diễn Trần Văn Thủy phỏng vấn lại cứ trả lời với giọng điệu xum xoe bợ đỡ cứ như là những “đối tượng Ðảng” không bằng!

Nhà văn “thành danh” như ông Nhật Tiến là người đã từng đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc với tác phẩm “Thềm Hoang” lại cứ “nhũn chi chi” ca bài “hoà hợp hòa giải là con đường duy nhất để cứu nước”, bị cán bộ VC Trần Văn Thủy kê tủ đứng vào mồm mà cứ lải nhải hòa hợp hòa giải. Ðúng là cái bọn... “người đuôi chó” (chữ dùng của nhà văn Hoàng Hải Thủy).

*
-Âm mưu viết tờ căn cước đỏ cho 3 triệu người Việt tỵ nạn Cộng sản đã thất bại vì công trình nghiên cứu của Trung Tâm William Joiner đã có “hà tì” vì bị kiện. Và “chiếc cầu giao lưu văn hóa” đã sụp đổ vì chính những nhà văn chủ trương tiếptay “giao lưu văn hóa một chiều” bị nhà cầm quyền CSVN chê là “bọn hôi mùi thực dân, đế quốc”!

-Những trí thức, nhà văn, nhà báo được CSVN “móc nối” hoặc tự nguyện “được”“xỏ mũi”, vốn là những kẻ không có uy tín, không có chính nghĩa; do đó không có khả năng để nhuộm đỏ cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại!

Nói tóm lại, dù đã bỏ ra rất nhiều tiền bạc để thực hiện Nghị quyết 36 với âm mưu quyết tâm tát cạn, bắt lấy 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại đã hoàn toàn thất bại trước sự chống đối quyết liệt của những người Việt tỵ nạn cộng sản “không chịu vui niềm vui mới giữa những tang thương đau khổ của đất nước” do chủ nghĩa cộng sản gây ra.

NGUYỄN THIẾU NHẪN
http://nguyenthieunhanwordpress.com

Tôi đã thấy : “Tibet is not part of China.”

Tôi đã thấy

Tôi thấy người thanh niên trong ngọn lửa,
Mặt cháy đen và đôi bàn tay co quắp lại
Mà đôi chân vẫn chạy với rừng rực lửa hồng
Chắc hẳn người đau đớn lắm phải không
Nhất định !
Anh đang tột cùng đau...nỗi đau dân tộc.
Quyết đem thân mình biến thành cơn bão lốc
Quét sạch giặc thù, xây dựng lại quê hương
Và với anh, từ phía bên kia đường
Cờ vàng bay theo chân người dũng liệt
Để nói với anh :
Tây Tạng, Việt Nam muôn đời bất diệt
Để biết rằng anh không chiến đấu cô đơn
Có chúng tôi, cùng thắp sáng lửa căm hờn
Soi bước tiến những anh hùng bất tử.

LêQuangHồng
Macintosh HD:Users:179861e:Desktop:Unknown.jpeg
 
Jamphel Yeshi, 27, protested the arrival of Chinese President Hu Jintao near the Indian Parliament on March 26 2012 (M24Digital.com 2012)
 
Chariots of Fire

I see a young Tibetan covered in flames
Face severely burnt and fingers clamped together
Yet his feet are running forward like chariots of fire
Is his pain unbearable? - Absolutely!
He also has to endure a greater pain
The pain of losing his homeland
He thus transforms his body to a forceful storm
Wipe out the invading enemies and rebuild his country

Our young Tibetan man, you are not fighting alone
Along the road raise high the Yellow flags
Ensure that Vietnam will always march together
With Tibet toward freedom
We are there with you to light a flame of determination
Lighting up the roads ahead for the immortal hero

LêQuangHồng (Translation by Nguyễn Kỳ Hưng)
Chariots de feu
Je vois un jeune Tibétain couvert de flammes
Le visage grièvement brûlé, les doigts crispés,
Mais ses jambes courent comme des chariots de feu
Sa douleur est-elle insupportable ? –Totalement !
Une plus grande douleur cependant s’est abattue sur lui,
La douleur de perdre son pays
Il transforme ainsi son corps en un puissant ouragan
Anéantit ses ennemis qui l’envahissent et reconstruit sa patrie
Ô notre jeune homme tibétain, tu ne te bats pas seul
Le long de la route, les drapeaux d’or de la terre vietnamienne
Assurent que le Vietnam marchera toujours
Avec le Tibet vers la liberté
Nous sommes là, avec toi, pour allumer la flamme de la résolution
Eclairant la route de l’avenir pour le héros immortel
LêQuangHồng
(traduction vers l’anglais par NguyễnKỳHưng, puis le français par Alain Bonora)

Chủ Đề 30.4: Cuộc “Nói Dối Lừa Bịp Vĩ Đại” nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược!

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2012/03/dung-noi-doi-450x314.jpgNÓI DỐI! NÓI LÁO KHÔNG NGỪNG “HOÀN THIỆN”Từ ngàn đời nay, có lẽ trên đất nước Việt Nam này, không có một một gia đình nào, một chế độ nào lại giáo dục cho con em, cho công dân mình đừng có sống trung thực và phải biết…nói dối! giỏi nói dối! nói dối tỉnh bơ! nói dối không biết ngượng! nói dối càng nhiều thành tích càng cao!

Là một chuyên gia… “nói dối có tổ chức, có chỉ đạo” suốt gần 30 năm trời, mình quá rành 1001 kiểu nói dối mà chính bản thân mình và bạn bè mình đã lấy nói dối lem lẻm (by Nguyễn Khải), nói dối “cứ như không” làm nhiệm vụ hàng ngày, ngay cả khi biết mình đang nói dối đồng bào nhưng vẫn cứ phải nói dối vì không nói dối mà nói thật thì… mất miếng cơm, mất chiếc ghế và có khi mất cái mạng như chơi!

Cũng vì thế, khi quyết tâm giả từ nói dối để nói lên sự thật và chỉ có sự thật thì cũng là lúc mình chấp nhận MẤT TẤT CẢ những gì mà do nói dối mà mình ĐƯỢC, chấp nhận tất cả những sự chụp mũ, lên án, vu cáo… kể cả chấp nhận việc đi tù vì TỘI VẠCH TRẦN SỰ NÓI DỐI BẰNG SỰ THẬT!

Mình cũng có nhiều thời giờ để suy nghĩ về cả nửa thế kỷ sống chung với nói dối, để “ngửi” thấy ngay sự nói dối dù chỉ ở một từ, một cụm từ thậm chí một tính từ, trạng từ “mới lạ”, nó báo hiệu cho một loạt sự nói dối mới sẽ ra đời mà các học viện báo chí còn phải bổ sung để giảng dạy cho sinh viên… mệt nghỉ!

Chính mình cũng có lúc nuôi hoài bão làm một cái “luận án về sự nói dối” để lại cho đời sau, một “hệ thống lý luận” về sự “nói dối có tổ chức” độc nhất vô nhị trên thế giới này! Nhưng… xét thấy khả năng hạn chế và nghĩ ra thì… muộn quá mất rồi! Quỹ thời gian và sức khỏe không cho phép nữa!...

Nói đùa cho vui ư? – Không!

Này nhé:

Chỉ riêng hai cái chữ NÓI DỐI ở xứ ta nó muôn hình muôn vẻ: Nói dối mới đầu được hiểu rất nhẹ nhàng. Mới đầu, đó chỉ là: “Không nói thật” hoặc “Biết sự thật mà không nói” hoặc nói “sai sự thật”!....

Đôi khi Nói Dối cũng có cái "đáng yêu” của nó! Ví dụ “Nói dối để người thân được yên lòng” như trường hợp bác sĩ đã cho biết chồng mình ung thư giai đoạn cuối nhưng bà vợ vẫn cắn răng nói với chồng: ”Không sao đâu! anh sẽ khỏe lại mà!”.

Nhưng cũng chính từ cái quan niệm “dễ thương” đầy tính nhân văn này mà nói dối đã phát triển tới mức trở thành "nghệ thuật”, thành "nguyên tắc", thành "đường lối", "chính sách", "nghị quyết"… cần chấp hành để "tuyên truyền", "giáo dục tư tưởng" cho toàn dân!

Nó xuất phát từ cái đường lối cơ bản: CÁI GÌ CÓ LỢI CHO CÁCH MẠNG THÌ LÀM, bất kể là nói dối, nói láo, nói phét, nói đại, nói lấy được… đến mức nào cũng không hề là sai trái!

- Mình cứ nghĩ đến cái thời phải chứng kiến thảm họa cải cách ruộng đất chấn chỉnh tổ chức mà… xấu hổ cho cái thân thằng văn nghệ sĩ gọi là “cách mạng” ở xứ Bắc Kỳ! Hàng ngày bao nhiêu đồng bào, đồng đội và cả gia đình vợ mình bị đấu tố láo, bị treo lên cây, bị đánh, bị chôn sống, bị bắn ngay tại chỗ ngay trước mắt mình! Ấy vậy mà, sau khi có chủ trương vận động sáng tác, anh nào anh ấy cũng cố “rặn” cho ra một bài thơ, một bản nhạc thậm chí cả một cuốn tiểu thuyết để ca ngợi cuộc “cách mạng long trời lở đất” đáng nguyền rủa đó! (để khỏi bị coi là không có lập trường giai cấp và có thể bị lôi ra đấu tố bất cứ lúc nào).

- Mình cũng nghĩ đến cái thời “xây dựng xã hội chủ nghĩa, chiếu cố miền Nam” hàng vạn bài báo, tác phẩm gọi là "văn học nghệ thuật" đã tham gia vào cuộc “đại nói dối” về tính ưu việt của những phong trào “Sóng duyên Hải”, ”Gió Đại Phong”, “Cờ ba nhất”! Ngợi ca về "tính hơn hẳn" khi "người cầy có ruộng". Chẳng quá một năm thì việc tước đi quyền “Người cầy có ruộng” để mang luôn cả trâu bò vào Hợp Tác Xã, cùng với chủ làm ăn tập thể, ăn công chấm điểm cũng lại là một lần hơn hẳn nữa của việc tập thể hóa!

-Và Cuộc “Nói Dối Vĩ Đại” nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược!

Sự Thật đã bị đánh tráo quá trắng trợn! Hàng triệu con người đã mất xác đến nay đa số vẫn chưa thể tìm ra, hàng vạn thương phế binh của cả hai miền, hàng triệu gia đình mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha chỉ vì... "ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc" (lời Lê Duẩn) …

Cuộc nhuộm đỏ miền Nam đã được công khai tuyên bố khi người ta đổi tên nước là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đàng hoàng đổi tên Đảng Lao Động thành Đảng Cộng Sản Việt Nam! Đó là Lần nói thật đầu tiên nhưng ngắn ngủi vì phải... tiếp tục nói dối, nói dối nữa, nói dối mãi vi… không có cách nào khác để tồn tại…

- Sau “Đổi Mới” (như cũ) mà ông Đỗ Mười kể công là “Nhờ có Đảng nên mới có Đổi Mới” thì cái chính sách “ăn có nói không” (một biến tướng của nói dối) càng ngày càng phát triển! Xuất phát từ cái đường lối đầy mâu thuẫn “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nói dối trở thành liều thuốc duy nhất xoa dầu, tô vẽ cho con quái vật kinh tế-chính trị chưa từng có trong lịch sử loài người này…
………………………..


KHI NÓI DỐI TRỞ THÀNH… “ĐẠO LÝ” ĐỂ TỒN TẠI!

Ở cái xứ này, khi những đứa trẻ lên năm, bắt đầu biết suy nghĩ là chúng đã được tiếp xúc ngay với… nói dối! Người ta dạy cho nó ở ngay những bài hát mẫu giáo rằng thì là: "Nhân dân ta có Đảng cuộc đời nở hoa”, rằng "Bưng bát cơm đầy nhờ có công ơn Đảng ta”…

Lớn lên chút nữa thì: “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, "Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

Còn nếu chúng có thắc mắc tại sao cha, anh, chú cùng đi B cả mấy năm trời mà báo, đài vẫn tuyên bố “Không có chuyện quân đội miền Bắc xâm nhập miền Nam" và "đây là điều vu cáo trắng trợn" thì… thầy, cô, mẹ, chị chúng chỉ còn biết giải thích: “Đây là chủ trương của Đảng và Nhà Nước”…. Còn về chuyện tại sao đánh nhau mà quân ta không thấy có ai chết, cứ đã đi là thắng, trăm trận trăm thắng”? thì… chẳng còn cách nào giải thích khác hơn là: “nói dối để chiến thắng kẻ thù, nói dối để có lợi cho cách mạng!”...

Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, trẻ em, người lớn cứ sống chung với chuyện nói không thành có, nói có thành không…"Đói khổ, thiếu thốn là do Đế Quốc Mỹ”, “hạt bắp, củ mì bổ hơn gạo”, “con nhộng bổ hơn thịt bò”… dần dần đã trở thành nếp sống, nếp suy nghĩ, lẽ sống thậm chí phương tiện sống của không ít người. Điển hình nhất là những “kỹ sư tâm hồn”, càng sáng tác ra nhiều tác phẩm “nói dối như thật” càng mau tiến tới đỉnh vinh quang của địa vị và tiền bạc! Chẳng thế mà Nguyễn Khải đã để lại một tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” vang dội khắp thế giới; mà Chế Lan Viên đã có bài thơ “Tôi? Ai?” thú thật về cái tội “luôn động viên xung phong” khi gặp anh chiến sĩ sống sót ngồi bán nước bên đường nuôi con nhỏ”... trong số năm mươi người còn sót lại trong 3.000 người xuống núi” năm nào?

Cũng thật là buồn, là nhục... khi tới hôm nay, một số kẻ vẫn ôm lấy cái số tác phẩm nói dối hoành tráng cực kỳ mà chăng ai còn thèm đọc, thèm dùng đó để kể công kiếm chút ân huệ cuối cùng, mặc dầu đã biết là giải thưởng này nọ chỉ là cái "bia mộ sang trọng cắm lên một cuộc đời văn học nghệ thuật đã kết thúc!" (Nguyễn Khải)

Còn những Lưu Hữu Phước phải đổi tên thành Huỳnh Minh Siêng, Hoàng Việt thành Lê Trực, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi, Bùi Đức Ái thành Anh Đức… những Đài Phát Thanh Giải Phóng, Xưởng Phim Giải Phóng, Nhà xuất bản Giải Phóng với những cái tên Nguyễn Thơ, Y Na, Hương Lan, Lưu Nguyễn-Long Hưng (và cả mình với cái tên Tô Sơn Hà khi viết phim “Đường 9 Nam Lào”)... và nhiều nhiều nữa những cơ quan, những tên tuổi “đội lốt” cứ sống với dối trá như hít thở không khí vậy!

Làm sao mà con em, mà nhân dân không bị lây nhiễm cái không khí dối trá, khắp nơi, nói dối, nói láo là lẽ sống, là phương tiện sống của mấy thế hệ con người...

Tác giả Tô Hải
http://hientinhvn.blogspot.co.uk/2012/04/1001-kieu-noi-doi.html

Chủ Đề 30.4: Ngụm cà phê tháng tư

Ngụm cà phê tháng tư


Ta ngồi một mình
ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
đứt ra từng đoạn.


http://baovecovang.files.wordpress.com/2012/04/cafethang41.jpgTháng tư, tôi ngồi trong quán cà phê Starbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao!

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.

Tháng tư của ba mươi bẩy năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được.
Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.

Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy lạc lõng lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình lạc lõng ngay chính trên quê mình.
Ngồi một mình với ly cà phê Starbucks trong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạ với chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.
Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.
Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa
hoa táo hoa lê nở trắng vườn
quê nhà thăm thẳm sau trùng núi
em mở lòng xem lại vết thương
Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cái laptop. Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẽ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình.
Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn.Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh….Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.
Trong một tiệm cà phê ở Mỹ. Tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.
Ba mươi bẩy năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn: Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.
Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương. Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia. Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng. Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận. Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.
Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; Sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.
Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần...
Ba mười bẩy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc….
Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.
Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.
Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.
Anh ạ tháng tư sương mỏng lắm
sao em nhìn mãi chẳng thấy quê
hay sương thành lệ tra vào mắt
mờ khuất trong em mọi nẻo về.
(tmt -tháng 4/2012)

Chủ Đề 30.4: Quốc Hận Vong Linh Hòa Theo Hồn Thiêng Sông Núi VN

Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư

http://www.truclamyentu.info/dialinhnhankietcuavn/tuongdaitusivnch1.jpgSự kiện đáng mừng. Năm 2012 là năm thứ 37 kỷ niệm ngày người Việt bắt đầu gạt nước mắt từ biệt đất nước ra đi sau khi thủ đô Việt Nam Cộng Hòa là Saigon sụp đổ, Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, tạo thành một cuộc di tản tỵ nạn CS vô tiền khóang hậu và lớn nhứt trong lịch sử Việt Nam. 37 năm trôi qua theo lẽ vô thường của vạn vật, thế hệ thứ nhứt người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai không ít người đã theo ông bà, vong linh hòa theo hồn thiêng sông núi VN. Nhưng những người còn sống, và lớp hậu duệ không ở VN được với CS nên đem VN theo mình ra hải ngại. Điều đáng mừng, con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần, lớp trung và trẻ thuộc thế hệ thứ hai và ba ngày càng dấn thân nhập cuộc trong công tác tổ chức kỷ niệm ngày Quốc Hận. Dù ăn học ở ngọai quốc nhưng nhờ gia đình và cộng đồng Việt ở hải ngọai, hầu hết lớp trẻ khẳng định lập trường trước sau như một Quốc Hận, là Quốc Hận, không một danh từ nào, một ý niệm nào có thể thay thế được.

Trên tinh thần trách nhiệm liên đới xã hội giữa hai thế hệ trẻ già; với cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging) của cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói chung đối với đất nước và đồng bào trong nước, đó là một đặc điểm nổi bật. Đó là sự dấn thân tích cực - từ tư tưởng đến hành động, từ cá nhân đến tập thể -- của thế hệ trẻ đối với sinh hoạt cộng đồng. Điều đó chứng minh lời khuyên răn “để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai phía trước” và chê trách người lớn tuổi chống Cộng -- là giả đạo đức, phản tâm lý, trái sử quan, do những người làm kinh tế, chánh trị cố tung ra để che dấu quyền lợi riêng tư và ý đồ đi với CS bằng đầu gối, theo kiểu xin cho.

Thực vậy, 30-4 này, rõ rệt và hơn lúc nào hết, thế hệ trẻ Mỹ gốc Việt xem Quốc Hận 30-4 là cơ hội ôn cố tri tân, xem đó là một điều phải nhớ, và xem nhớ là một bổn phận (devoir de memoire) của người đi sau đối với người đi trước, đối với đất nước và dân tộc gốc của mình. Nhớ để không phạm sai lầm nếu may mắn nắm giềng mối cộng đồng hay đất nước. Nhớ để không bất động, mà hành động không cho sai lầm tái diễn, không để cho cộng đồng, xã hội, quốc gia dân tộc mình bị chủ nghĩa CS sai lầm, tuyên truyền dối gạt, và kẻ ác giành quyền làm chủ.

Cũng như ở Âu Châu, nhơn cơ hội kỷ niệm Âu châu được giải thoát ra khỏi gông cùm Hitler và Đức Quốc Xã, lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi vào và đem vào chương trình giáo dục trung tiểu học - gọi là Holocaust hay Shoah.

Ở Mỹ người Mỹ cũng thế đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt cưỡng bức dời cư người Da Đỏ thời Viễn Tây, khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ở trường lớp và là bài học kinh nghiệm mà tiền nhân đã trả bằng xuơng máu, nước mắt, mồ hôi.

Làm như thế người Âu Châu lẫn người Mỹ -- tin chắc -- không phải do thù ghét Hitler hay muốn trách cứ những tổng thống Mỹ đã thực hiện những chính sách sai lầm. Cũng không phải do muốn lớp trẻ “nặng quá khứ.” Mà mục đích tối hậu là muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa. Do vậy cần phải giúp cho đàn hậu tiến những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài bịnh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã làm cho hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tiến thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, sai lầm chế độ.

Học ở trường lớp không chưa đủ, nhà trường còn tổ chức cho sinh viên học sinh du khảo, mắt thấy tai nghe, cảm nhận tại chỗ. Nhơn kỷ niệm lần thứ 60 ngày Âu Châu được giải thoát khỏi độc tài Đức Quốc Xã, nhiều trường học tổ chức nhiều đoàn du khảo cho sinh viên học sinh thăm Trại Tập Trung Auschwitz ở Ba Lan, để tận mắt thấy những lò thiêu, thấy những hành động dã man mà con người Đức Quốc Xã đối với người Do Thái, còn tệ bạc và tàn nhẫn hơn loài sói đối với người. Nhiều học sinh, sinh viên nam nữ, đứng chết trân hoặc hét lên kêu Thượng Đế khi thấy hình ảnh hàng ngàn người mẹ Do Thái mình không quần áo, tay bồng con, đứng chờ đi vào chỗ chết mà không biết vì nghe “quản giáo“ là mật vụ SS ra lịnh xếp hàng để đi tắm.

Thì tại sao thế hệ trẻ Việt ở Hải ngoại, nhất là ở Mỹ không có quyền nhớ, phụ huynh mình, gần 300,000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và cấm cố hàng chục năm.

Tại sao không nhớ trên 600,000 người Việt dùng thuyển nan vượt đại dương để tỵ nạn CS, chết trên biển vì sóng to gió lớn và cướp Thái Lan.

Tại sao không nên nhớ một lãnh tụ như Ô. Hồ Chí Minh và một đảng như Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ. Theo cuốn “Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline nữa. 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và hơn nửa triệu làm mồi cho cá. Cả thế giới bàng hoàng, rúng động! Suốt cả chục năm!

Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử 4000 năm của nước nhà VN, suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc, một lần Trịnh Nguyễn phân tranh đất nước chia đôi. Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy. CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm người dân đồng bào mình phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy.

Mà không tỵ nạn CS sao được. Ô Hồ Chí Minh và Đảng CS của Ông đã giết hại hàng trăm ngàn trong đấu tố Cải Cách Ruộng Đất, hàng năm sáu ngàn người dân Việt vô tội bị CS thảm sát trong Tết Mậu Thân.

Và hơn 5 triệu người quân dân cán chính hai bên đã chết trên con đường Ô Hồ và Đảng CS của Ông cộng sản hóa nước VN bằng võ lực. Miền Nam chỉ chiến đấu tự vệ, chớ không hề đổ quân ra Miền Bắc giành dân, chiếm đất. Theo Ô. Trần Độ một tướng lãnh CS phản tỉnh đã tố giác, CS Hà Nội đã giết hại người Việt, số chết nhiều hơn tổng số người bị hai nhà độc tài Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa cỗ đại và Hitler ở Đức cận đại giết, cộng lại.

Thế mà gần đây CS Hà Nội và một số nhà chánh trị thiên tả và tài phiệt siêu quốc gia ở Mỹ, trong đó có chánh yếu là TT Clinton, TNS Kerry, và một phần nhỏ là TNS McCain lớn tiếng kêu gọi bỏ quá khứ ra phía sau và nhìn tương lai phía trước. Những người đó vì quyền lợi riêng tư, phe đảng đã tung hỏa mù, lập lờ đánh lận con đen. Họ muốn thế hệ trẻ Mỹ Việt xem thảm cảnh diệt chủng của CS ở VN suốt nửa thế kỷ như không có. Họ muốn chụp mũ “quá khích” cho những người nhớ bài học lịch sử đau thương nhứt của người Việt với nhãn hiệu “nặng quá khứ.” Họ làm vì quyền lợi bầu cử cho họ, cho phe đảng tài phiệt làm ăn với CS Hà nội.

Âu Châu là căn cứ địa lâu đời của văn minh Tây Phương. Người Âu Châu vì thế có nhiều kinh nghiệm đau thương với độc tài dưới mọi hình thức và với ý thức hệ phi nhận hơn người Mỹ với quốc gia bề dày lịch sử mỏng hơn. Giáo quyền độc tôn trên thế quyền thời Trung Cổ Đen Tối, Đức Quốc Xã, Cộng sản chủ nghĩa thời cách mạng kỹ nghệ đều xuất phát từ Âu Châu. Nên người Âu Châu chú trọng bài học lịch sử hơn. Lớp già muốn truyền đạt kinh nghiệm đau thương cho lớp trẻ. Còn lớp trẻ cảm thấy có “bổn phận phải nhớ” (devoir de memoire) để ngăn chận lịch sử đen tối đừng tái diễn.

Người Việt Nam kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Châu nữa. Nên ôn cố tri tân là bổn phận của đàn hậu tiến như những người đồng trang lứa ở Âu Châu. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS. Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi thấy lớp trẻ kề vai gánh vác việc chung, tổ chức tưởng niệm 30- 4 ngày Quốc Hận./.
Tác giả : Vi Anh
---------
 VN: Một Thế Hệ Ba Hình Ảnh



Tin tưởng như đùa mà có thật đúng vào tháng “Quốc Hận” của người Việt tỵ nạn CS ở ngay nước Mỹ, nước có trên một triệu rưỡi người Việt tỵ nạn CS. Tin của truyền hình VHN ngày 6 tháng Tư năm 2012, loan tải tòan quốc Mỹ. Rằng hai người từ VNCS qua mua thị trấn Buford ở tiểu bang Wyoming với giá 900,000 đô qua một cuộc đấu giá kéo dài chỉ 11 phút, nhưng gây được sự chú ý trên toàn thế giới. Thị trấn Buford này được đặt tên theo Tướng John Buford thuộc phe miền Bắc trong cuộc nội chiến Mỹ.

Tháng Tư năm 2012 này nữa là 37 năm CS Bắc Việt thực chất cưỡng chiếm Miền Nam nhưng tuyên truyền là “giải phóng Miền Nam, thống nhứt đất nước”. Còn người Việt Quốc Gia trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam từ Bến Hải đền mũi Cà mau thì gọi là “quốc hận”. 37 năm là thời gian của một thế hệ xã hội học. Một thế hệ của người Việt Nam nhưng có tới ba hình ảnh trong thời gian 37 năm ấy.

Hình ảnh thứ nhứt là hình ảnh của CS. Cán bộ, đảng viên CS và những người ăn theo trở thành một giai cấp mới. Tư bản đỏ, một thứ tư bản thời tư bản hoang dã, chủ nhơn ông bóc lột công lao người lao động. Nhưng tư bản đỏ thời CS chuyển sang kinh tế thị trường - mở kinh tế mà khóa chánh trị - khác với tư bản hoang dã. Tư bản đỏ không có vốn, không có phương tiện sản xuất, không có sáng kiến, không đầu tư mà hưởng lợi tối đa, nhờ hối mại quyền thế, tham nhũng, cưỡng chiếm tài nguyên quốc gia sữ dụng như của riêng. Họ buôn dân, bán nước nên giàu hết chỗ nói. Họ chơi trội hơn tư bản ngọai quốc nhiều. Họ mua máy bay riêng, xe thượng hạng của Anh của Ý giá cả triệu Đô để đi. Họ cất nhà mồ cả ấp vào ở được, như ông huyện ủy Cà mau đã cất. Họ làm đám cưới cho con, khách đi đông đến nổi cầu Cần thơ muốn kẹt và mua lầu đài hai ba triệu ở San Francisco và chạy nợ của hàng trăm chủ nuôi cá gần 100 triệu Đô như Bà Diệu Hiền vợ của Giám đốc Giao Thông Vận tải, tối thiểu cũng là tỉnh ủy viên của tỉnh Hậu Giang.

Họ không có lổ mà chỉ có lời về tiển bạc, của nổi của chìm. Số này chỉ chiếm khỏang 4% dân số nhưng chiếm hơn 75% tài sản quốc gia. Họ hối mại quyển thế, tham nhũng, bóc lột một cách tập thể. Họ trấn áp lương dân như tổ chức tội phạm có tổ chức nên nhiều người gọi họ mafia. Họ làm được vì họ có đảng CS cầm quyền độc tài đảng trị tòan diện.

Không những CS trở thành vua đời cha mà còn đào tạo một giai cấp thống trị thừa kế. Tạo một số hòang tử, vương tôn đỏ để nối ngôi. Con cái của những cán bộ đảng viên từ trung ương đến địa phương đi du học ngọai quốc, ăn chơi trội, đứng trên luật pháp. Chỉ cần nói cháu Đỗ Mười, Lê đức Anh, con Phan văn Khải, Nguyễn tấn Dũng là con đường “làm cha thiên hạ” rộng mở thênh thang.

Hình ảnh thứ hai là hình ảnh của người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai. Ngày 30-4-75 người Việt Quốc Gia gọi là ngày “Quốc Hận”. Trong cái rủi có cái may. Ngày Quốc Hận đó mở đầu một cuộc di tản tỵ nạn CS vô tiền khóang hậu trong lịch sử VN. Một cuộc di tản lớn lao, nguy hiểm, chết chóc nhưng đầy thành công, đầy hy vọng. Xây dựng được một Việt Nam hải ngọai của người Việt Quốc Gia ở hải ngọai ngay trong lòng văn minh Tây Phương với chánh trị tự do, dân chủ, nhân quyền, với kinh tế tiền tiến, khoa học kỹ thuật cao. Tập họp thành một lực lượng quốc tế vận ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu. Hầu như một người Pháp, Anh, Úc, Mỹ, v.v... gốc Việt là một nhà vận động, một nhà ngọai giao dân gian đưa cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyển VN vào chánh quyền của các nước sở tại.

Cờ VN nền vàng ba sọc đỏ trở thành biểu tượng phất phới tung bay ở hải ngọai, lùa cờ CSVN vào các sứ quán CS mà thôi.

Có người đánh giá nếu thời Mỹ Việt Nam hóa chiến tranh, ép VNCH ký hiệp ước với CS Hà nội, ở Mỹ nếu có một phần mười người, tức khỏang 150,000 người gốc Việt thì Phản Chiến Mỹ khó mà phủ bụi lên chánh nghĩa chiến đấu tự vệ của VNCH, Kissinger một người Mỹ gốc Do Thái khó bức tư VNCH để Mỹ tập trung nhơn tài vật lực viện trợ cho Do thái.

Nhưng trên điêu tàn đổ nát do Kissinger vua đi đêm tạo ra cho VNCH, người Việt Quốc Gia xây dựng lại một Việt Nam hải ngọai, chính CS Hà nội phải gờm. Bộ Chánh trị của CS Hà nội ra nghị quyết 36 với ý đồ nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngọai nhưng thất bại một cách thê thảm. Cán bộ nằm vùng cài không được. Thành phần thân với CS đội lốt hòa giải hòa hợp, dựa vào thế bang giao và giao thương của Washington với Hà nội bị người Việt Quốc gia tấn công “chém vè” gần hết.

Trái lại người Việt chuyển lửa chánh nghĩa về quê nhà, tạo một nỗi lo sợ không rời khiến CS Hà nội như sĩ tử ngày xưa sợ phạm húy gọi là “diễn biến hòa bình,” từ CS ý nói ý niệm và giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền do người Việt hải ngọai vận động ảnh hưởng một cách êm mà rất thấm đối với người Việt trong nước trong đó có cán bộ, đảng viên CS ngày càng phản tỉnh, ly khai, chống đảng ngấm ngầm.

Hình ảnh thứ ba là người dân Việt trong nước. Một bức tranh bi thảm hơn người dân ở Tunisia, Ai cập, Libya, Syria trước thời kỳ quật khởi “cho tôi tự do hay là chết”, tạo cuộc nổi dậy dây chuyền trong thế giới Á rập từ Bắc Phi đến Trung Đông, có người gọi là “Mùa Xuân Á rập”. Ở VN, CS Hà nội gọi là đổi mới kinh tế, nhưng thực sự là tăng gia kinh tế với bất cứ giá nào, chớ không phá triễn kinh tế vì không thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội. CS tăng gia kinh tế để xuất cảng, mở cơ xưởng ở thành thị hay ngọai ô. CS kềm “giá lương tiền” của người lao động rẻ để kích thích ngọai quốc bỏ vốn đầu tư vào VN. Người dân Việt, sĩ nông công thương, từ thành thị đến nông thôn lãnh đủ.. CS tàn phá môi trường, môi sinh một cách vô tội vạ. CS trưng dụng, trưng thu, cưỡng chế cưỡng chiếm đất đai của người dân trả rẻ mạt, để lấy làm vốn đầu tư với ngọai quốc giá mắc hơn cả 40 lần. Dân oan vì bị cướp nhà đất ngày càng đông thành phong trào tòan quốc, tòan dân, kể cả tôn giáo cũng thành nạn nhân của CS. Dân nông thôn ra thành thị kiếm việc làm ngày càng đông, không hộ khẩu, lạ nước lạ cái, như chiếc lá bứt ra khỏi cành.

Nông dân VN làm cho VN trở thành nước xuất cảng gạo hàng thứ hai, lại là tầng lớp bị thiệt hại nhứt. Xuất cảng gạo, nhập cảng phân do quốc doanh mặc sức ép giá lúa gạo khi thu mua và tăng giá “vật tư nông nghiệp” khi phân phối bán mắc để kiếm lời. Nông dân đời cha mẹ có làm mà không có ăn.

Đời con cái của người dân Miển Tây sống trên vựa lúa của cả nước, học trò ở Miển Tây bỏ lớp bỏ trường vì cha mẹ không tiền đóng qua nhiều lệ phí không tên do chánh sách lấy thu bù chi của CS. Trẻ em Miền Tây chết trôi nhiều nhứt nước vì giao thông nông thôn còn “cầu tre lắc lẻo gập ghểnh khó đi”. Trẻ em Miển Tây bị bịnh tỷ lệ cao nhứt nước. Nhưng những thiệt hại cả mấy đời người mà người dân phải chịu tuy có vẻ vô hình nhưng đang lù lù đến, cái giá mà quốc gia dân tộc VN phải trả là “vô giá”. Đó là thực phẩm không an tòan; đó là không khí, nước sông, nước biển, đất đai bị ô nhiểm.

Và kế đó là số nợ nhà nước vay ngọai quốc, ba thế hệ người dân đóng thuế trả không nổi. Do việc cán bộ, đảng viên CS cầm quyền vay làm các công trình như lò điện nguyên tử, làm đường cao tốc do tánh thích khoa trương và lòng tham “rút ruột công trình” để làm giàu gởi tiển đi ngọai quốc bây giờ cả mấy chục tỷ Đô la rổi. Do dư tiển đến nổi họ mua một thị trấn ở Mỹ giá gần một triệu Đô, y như người Mỹ mua một cái hot dog mấy chục xu vậy./.
Tác giả : Vi Anh

Chủ Đề 30.4: Xin Đừng Quên Những Tù Nhân Lương Tâm

Sự cô đơn của những nhà đấu tranh cho Việt Nam dân chủ tự do




http://4.bp.blogspot.com/-6TaYfUrWiek/Tq8rHiPKYjI/AAAAAAAABRg/KXbwk9RbI-g/s1600/PrisonersofConscience+copy.jpgSương mờ mờ đọng nhẹ trên khung kính. Tìm qua làn sương mỏng, ông mặt trời còn đang phiêu du ở nơi nào đó. Không gian lắng đọng, nhánh nho bám trên khung cửa sổ lặng yên, cô đơn, buồn bã chờ đợi ánh sáng ban mai. Cảnh yên tĩnh đó làm tôi bồi hồi, nằm yên trên giường giương mắt cố tìm trong những chiếc lá nho những lỗ hổng to nhỏ khác nhau. Sự tàn phá trên chiếc lá làm biến dạng sắc màu đến tang thương! Bỗng dưng tôi liên tưởng đến nổi cô đơn, trắc trở của những chiến sĩ đang đấu tranh cho Việt Nam tự do. Những năm tháng sống trong nguy hiểm, lặng câm, chịu đựng như chiếc lá không biết ngày nào trở về với lòng đất lạnh căm.

Đã biết bao nhiêu chiến sĩ hy sinh cho đất nước để bảo vệ mảnh đất thân thương đã bị Việt cộng dày xéo. Tưởng đã bị chìm sâu khi quê hương rơi vào tay cộng nô, nhưng không, tinh thần yêu nước và sự bất khuất không thể kìm chân những tâm hồn thật sự biết tôn trọng nhân quyền và sự tự do cho dân tộc Việt Nam. Trong hơn ba mươi năm qua, bao nhiêu người đã đứng lên theo tổ chức hay đấu tranh cá nhân quyết tâm dành tự do cho hơn tám mươi triệu người chưa được thở không khí tự do tại Việt Nam. Có người đã về với lòng đất, có người đang bị cầm tù, có người đang tha hương, có người được tôn vinh, có người bị lãng quên, có người bị chê bai, v.v.. Mọi người thường nhắc đến việc tốt và việc xấu cuả những người chiến sĩ tự do đó, nhưng có ai bất chợt một lúc nào đó nghĩ đến sự cô đơn và đôi lúc tuyệt vọng của họ trong lúc đấu tranh?

Dù là một con người cứng rắn, gan lỳ không màng đến sự sống chết, vì lý tưởng, vì dân tộc của mình mà quên đi tất cả quyền lợi cá nhân, cũng có đôi lúc bị rơi vào những phút yếu đuối và chán chường vì thiếu sự thông cảm và ủng hộ người dân. Một Lý Tống oai hùng quên tuổi xuân để đòi tự do cho Việt Nam. Một Lê Thị Công Nhân yếu đuối, chưa biết đến không khí tự do cũng đứng lên đòi lại nhân quyền. Một Hoà Thượng Thích Quảng Độ coi thường tự do cá nhân để đấu tranh cho tự do của muôn người. Một Linh Mục Nguyễn Văn Lý hiên ngang thét lên tiếng nói cho nhân quyền, v.v.. . Những cá nhân chịu gian nan, đầy nhiệt tình của các tổ chức đấu tranh như Khối 8406, Đảng Vì Dân, Đảng Dân Tộc Việt Nam,  Đảng Thăng Tiến, Đảng Việt Tân, các đoàn thể v.v.. và các nhà yêu nước khác đấu tranh cá nhân, thử hỏi họ có cần sự ủng hộ trên tinh thần của người dân hay không? Xin thưa, ủng hộ tinh thần là một hậu tuyến cần thiết cho tất cả các chiến sĩ đấu tranh cho tự do Việt Nam và mỗi nhà đấu tranh đều cần sự hậu thuẩn.

Đấu tranh chống cộng sản dành tự do cho Việt Nam là trách nhiệm của mỗi người dân ý thức. Tuy chúng ta có thể quên đi qúa khứ tội ác của Việt cộng nhưng chúng ta không thể làm ngơ trước những tội ác vẫn tiếp diễn của Việt cộng, coi thường nhân quyền và áp bức tự do như bán lao nô, cướp bóc đàn áp dân chúng, bắt tay vào các đường dây bán thanh thiếu niên ra nước ngoài làm nô lệ tình dục, v.v… Vì vậy dù là một cá nhân nào hay một đảng phái nào chống lại cộng sản để đem lại tự do dân chủ cho Việt Nam cũng đều có cùng một chí hướng lật đổ cộng sản, xây dựng một Việt Nam tự do, cũng đều cần sự ủng hộ của người dân. Ai ai cũng có quyền tự quyết và có nhận định đúng đắn của riêng mình. Tuy nhiên chúng ta cần nhìn vào quyền lợi của dân tộc chứ không phải vì cá nhân để đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau để có được một Việt Nam dân chủ thật sự. Tất cả các nhà đấu tranh cho quê hương đều quên tư lợi để đạt được lý tưởng, họ có xứng đáng được sự ủng hộ từ người dân không?

Các nhà đấu tranh cho quê hương được những gì ngoài những hy sinh, ưu tư, khắc khoải. Sự đấu tranh trong cô đơn, nguy hiểm của họ tại sao không được thông cảm? Đó là một điều không công bằng cho các nhà đấu tranh. Chúng ta làm gì được cho họ ngoài sự ủng hộ về mọi mặt, điều quan trọng họ cần nhất vẫn là vấn đề ủng hộ trên tinh thần đấu tranh.  Chúng ta cần sự độ lượng mở rộng vòng tay để dẹp tan Việt cộng. Chúng ta cần có lòng nhân ái và tinh thần dân tộc để dựng xây lại quê hương. Một cá nhân, một đảng phái có thể bị Việt cộng dẹp tan nhưng cả ba triệu người hải ngoại và hơn tám mươi triệu người trong nước cùng đồng lòng đấu tranh thì Việt cộng sẽ tiêu tan. Nếu qúy vị đấu tranh cho tự do dân chủ thật sự thì qúy vị tất hiểu rõ lãnh đạo của toàn dân Việt Nam sẽ do người dân Việt Nam quyết định. Tại sao hy sinh vì dân tộc lại để quyền lợi, điạ vị xâu xé, bôi nhọ sự hy sinh cao cả đó?! Chúng ta ngồi tranh dành, chỉ trích các đảng phái chống cộng, cấu xé lẫn nhau để được gì ngoài những nụ cười đắc chí, những cái vỗ tay tán thưởng của Việt cộng? Xin hãy giữ vững tinh thần và mục tiêu chống cộng thì mới lật đổ được Việt cộng, đừng để Việt cộng lợi dụng phá tan các tổ chức chống cộng.  

Hơn ba mươi năm qua các niên trưởng ngồi gậm nhấm nổi buồn lưu vong. Tuổi trẻ chúng tôi lớn lên trong sự đùm bọc và hy sinh của các bậc cha mẹ nhưng nổi buồn vẫn trăn trở vì mình là người Việt Nam, vẫn còn nhìn thấy một Việt Nam tang thương, vẫn còn thấy tuổi trẻ Việt Nam bước vào lối nhỏ tắt nghẽn dưới chế độ độc tài của Việt cộng. Chúng ta cần làm một việc gì đó để đóng góp cho quê hương, cho dân tộc Việt Nam. “Đừng hỏi quê hương đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn đã làm gì cho quê hương”,  câu nói của cố Tổng thống John Fitzgerald Kennedy đã nhắc nhỡ tôi. Chúng ta không thể xông pha vào công cuộc đấu tranh, thì chúng ta hãy nhìn thật sâu vào chúng ta, nhìn vào những lúc ta buồn và cô đơn nhất để hiểu, để thấy sự đơn độc của những người đang đấu tranh cho quê hương chúng ta. Tất cả người dân Việt Nam dù già hay trẻ đều cũng nên nhìn lại, quyền lợi chung của đất nước chính là quyền lợi của mỗi người dân. Dân giàu thì nước mới mạnh. Hiện tại Việt Nam chỉ có đảng giàu, người dân chết đói. Quyền lợi của đất nước Việt Nam dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản là quyền lợi dành riêng cho đảng viên cộng sản. Đảng viên Việt cộng có quyền cướp bóc, hà hiếp dân lành để bỏ vào túi riêng. Người dân không có quyền lên tiếng. Một xã hội độc tài, tàn ác không thể chấp nhận được và cần phải dẹp bỏ. Nhân quyền của mọi người cần được tôn trọng và ý thức cần có tự do trong mỗi con người nên phát huy để có được một Việt Nam tự do như các nước tự do trên thế giới. Các nhà đấu tranh đang làm công việc đem nhân quyền tự do đến cho mọi người dân tại Việt Nam. Họ nên được sự ủng hộ của toàn dân.

Những niềm đau trong tôi không to lớn như nổi đau của dân tộc. Tiếng nói, suy nghĩ của tôi không là một tiếng vang nhưng ước mơ trong tôi là cả một bầu trời bao la và cũng là ước mơ chung của người dân Việt Nam. Nước Việt Nam chúng ta với bốn ngàn năm văn hiến, tạo nên những nhân tài nhưng cũng tạo nên những lầm than cho người dân. Đã đến lúc ước mơ cần được hình thành, người người Việt Nam cần có tự do, dân chủ và nhân quyền. Bánh xe lăn thì phải quay tới, dù có những lúc bị quay ngược nhưng không thể tồn tại lâu dài . Những bài học chúng ta học được cần áp dụng đúng đắn hơn, những sai trái cần thay đổi tốt đẹp hơn. Tất cả cũng phải bắt nguồn từ sự ý thức của từng cá nhân.

Xin hãy nhìn vào tương lai của Việt Nam đang bị đọa đày ở các nước vì sự tham nhũng của Việt cộng. Sự sai lầm lớn của Việt cộng là hy sinh để dành độc lập cho Việt Nam để rồi vì tư lợi mà đưa dân tộc đến một nơi đen tối cùng cực nhất. Việt Nam của chúng ta, tương lai của đất nước thế nào sẽ bị ảnh hưởng tùy vào sự cân bằng cái ta trong mỗi người dân Việt Nam. Xin đừng dẫm lên lại bánh xe lịch sử để có một Việt Nam thật sự tự do dân chủ. Xin hãy thắp sáng niềm tin cho công cuộc đấu tranh lật đổ Việt cộng đầy cam go này. Tôi không thiên về một đảng phái, đoàn thể hay một nhà đấu tranh nào. Tôi chỉ mong muốn chia sẻ với tất cả các nhà đấu tranh sự ưu phiền, cô đơn trong công cuộc đấu tranh chống cộng vô hạn định này. 

Mặt trời đã lên, những tia nắng tung tăng trên những chiếc lá ủ rủ tạo một sức sống mới. Tuy những lổ hổng trên chiếc lá không được tia nắng làm kín lại nhưng lại là một giúp ích để tia nắng lọt qua chiếu lên những chiếc lá phía dưới. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng chuẩn bị cho một ngày mới và thầm cám ơn các nhà đấu tranh với tấm lòng yêu quê hương dân tộc. Các vị chưa thành công trong công cuộc lật đổ Việt cộng nhưng đã làm một nhịp cầu vững chắc cho mai sau. Sự cô đơn, trăn trở trong tâm hồn của qúy vị ít ra cũng có một người hiểu thấu, và sẽ có rất nhiều người hiểu đến để ủng hộ tinh thần của cuộc đấu tranh chung cho đất nước. Đêm sẽ qua, mặt trời sẽ rực rỡ hơn, lá sẽ xanh tươi hơn. Công lý sẽ thắng bạo tàn là nhờ vào sự ý thức của tất cả người dân Việt Nam. Trang sử đã lật qua, trang sách mới của tương lai con em chúng ta có được tươi đẹp không sẽ nhờ vào những thay đổi tốt đẹp qua những kẻ hở của sai sót.
  Dáng Thơ
8/11/2008
 ----------
Đừng Quên Những Tù Nhân Lương Tâm

Thanh Quang (RFA) - Sau khi chuyển từ chính quyền quân phiệt độc tài sang chính thể dân sự - dù bị xem là trên danh nghiã, Miến Điện cũng vừa mới trả tự do cho 300 tù nhân chính trị.

Diễn tiến ở Miến hẳn khiến người ta liên tưởng tới VN, nơi bị cáo giác là tiếp tục đoạ đầy nhiều tù nhân lương tâm tranh đấu cho quê hương, dân tộc. Thanh Quang tìm hiểu về tình cảnh của tù nhân chính trị.
Nỗi buồn bị bỏ rơi

Trong khi những tù nhân chính trị được công luận biết tới như cựu Đại uý QLVNCH Nguyễn Hữu Cầu đang bị giam giữ hơn 34 năm nay tại trại giam Xuân Lộc, hay cố Trung uý VNCH Trương Văn Sương cũng từng bị tù đày chừng ấy năm và khi bị bắt giam trở lại đã vĩnh viễn ra đi ở trại giam Ba Sao, Nam Hà, hoặc tù nhân chính trị Nguyễn Văn Trại chỉ được người đời biết tới khi vùi thây ở khu trại giam Xuân Lộc sau 15 năm lao lý, thì hiện nay – theo lời tù nhân chính trị đang bị quản chế Nguyễn Bắc Truyển, “nhiều tù nhân hầu như đã bị quên lãng”, “họ tồn tại như không tồn tại”, sống âm thầm trĩu nặng theo bản án “như cái núi”, không ai thăm nuôi, không ai biết tới.

Cựu tù chính trị Nguyễn Bắc Truyển trình bày về tình cảnh này:

"Khi ở tù tôi có ở chung với những tù nhân bị bắt trước năm 2005. Những tù nhân này bị bắt ở Thái Lan, Campuchia rồi đưa về xét xử tại VN trong khi gia đình họ vẫn còn lưu lạc ở những xứ vừa nói. Thành ra khi họ bị giam giữ ở VN thì không có người thân nào đến thăm nuôi, hay gởi thư từ cho họ.

Họ sống rất lặng lẽ, mang nỗi buồn bị bỏ rơi, với nỗi mặc cảm vì cảm nhận rằng mình không được mọi người quan tâm đến. Nhưng đối với đấu tranh thì lúc nào họ cũng kiên cường. Như trường hợp ông Nguyễn Tấn Nam bị bắt từ 1994 và ở tù cho đến bây giờ. Ông hiện đã 75 tuổi, đã 2 lần bị tai biến và không một lần được ai thăm nuôi.

Khi chúng tôi ở tù với những người tù như thế này thì mới cảm nhận được sự cô độc của những người mà không có sự quan tâm của gia đình, không được sự biết đến của công luận, không được nhắc nhở, không được lên tiếng gì trong việc kêu gọi áp lức nhà cầm quyền CSVN phải thả họ."

Một trong những cựu tù nhân lương tâm am tường tình cảnh của nhiều người tù âm thầm khác trong cảnh đoạ đày, là MS Thân Văn Trường ở Đồng Nai, lên tiếng:

"Tôi rất đồng ý với anh Nguyễn Bắc Truyển là còn nhiều tù nhân lương tâm mà người ta không biết. Chính tôi cũng biết những người như vậy. Nhưng vì lý do này lý do kia mà tù nhân lương tâm này không được bết đến. Có thể có những anh em mà mình biết đến rồi qua người này người kia nên họ được bên ngoài quan tâm nhiều, trong khi đó, có nhiều tù nhân lương tâm không được quan tâm – đúng như lời anh Nguyễn Bắc Truyển đã nói."

Nhắc đến những người tù đang bị lãng quên tại VN, có lẽ một cựu tù nhân lương tâm từng lâm cảnh đoạ đầy 26 năm trong lao tù cộng sản, là Thượng Toạ Thích Thiện Minh, Hội trưởng Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Tôn Giáo VN, cảm nhận trọn vẹn tình cảnh này:

"Có những vị tôi biết được, họ ở tù tới hơn 30 rồi. Nhưng mà sự chú ý và can thiệp của cộng đồng quốc tế chỉ có ở mức độ nào đó thôi. Tới bây giờ những vị đó vẫn còn bị tù, và còn bị lưu đầy ra những tỉnh phiá Bắc nữa. Ngày xưa tôi ở tù tại trại Xuân Phước, rồi về trại Xuân Lộc.

Cho tới giờ giờ thì tôi được biết những bạn tù ấy vẫn còn tiếp tục ở trại Xuân Phước nữa, rồi bị đày ra phiá Bắc. Hay bây giờ tôi vẫn còn bạn tù ở trại Xuân Lộc. Số phận của tất cả những người này rất là hẩm hiu, hoàn cảnh của họ rất khốn đốn, quẩn bách trong lao tù. Nhà nước VN có đổi mới một phần nào thôi, nhưng họ càng ngày càng bị giam nhiều thêm vì đấu tranh cho tự do, dân chủ. Số người bị bắt thêm ngày càng nhiều trong khi số người được thả rất ít. Còn những dịp lễ thì nhà nước chỉ cho về những tù hình sự, kinh tế. Chứ còn tù chính trị thì ít được giải quyết, chỉ chờ mãn án mà thôi."

Bị phân biệt đối xử

Theo cựu tù Nguyễn Bắc Truyển thì Miến Điện trước đây cũng từng phủ nhận vấn đề tù nhân chính trị, nhưng bây giờ họ cũng phải công nhận có tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, và phải thả ra hàng mấy trăm người. Do đó anh tin rằng việc nhà cầm quyền VN che giấu như vậy “không thể tồn tại lâu”, và một thời gian ngắn nữa, VN cũng phải công nhận sự hiện diện của tù nhân chính trị trong nước. Và Nguyễn Bắc Truyển nhận xét về sự chối bỏ thực trạng tù chính trị hiện giờ của VN:

"Đó là lời nói của những người cầm quyền. Họ nói lấy được, họ nói để cưỡng từ đoạt lý thôi. Chứ thật ra những người hoạt động chính trị và bị bắt và bị nhà nước kết án với tội danh như vậy thì họ chính là những tù nhân chính trị mà thôi. Ngay những tù hình sự hay cán bộ trại giam cũng gọi những người này là tù chính trị. Thì không lẽ những người ăn học và ở cấp cao hơn lại không có nhận thức đó sao? Chẳng qua là giới cầm quyền tìm cách che giấu sự đàn áp đối với những người đấu tranh, bất đồng chính kiến mà thôi."

Theo Thượng toạ Thích Thiện Minh thì từ xưa tới giờ VN không công nhận có tù chính trị, nhưng Thượng toạ Thiên Minh lưu ý rằng giới cầm quyền vẫn phân biệt 2 dạng tù nhân, tức dạng gọi là “xâm phạm an ninh quốc gia” và dạng hình sự, tội phạm xã hội. Thượng toạ Thích Thiện Minh dẫn chứng:

"Ở trong tù bây giờ họ vẫn chia những khu vực giam giữ riêng để đối xử hoặc khắt khe, cay nghiệt hoặc hơi rộng rãi hơn. Thí dụ những người tội phạm kinh tế, hình sự thì nhẹ mức độ hơn. Còn bên tù nhân chính trị, bị coi là “xâm phạm an ninh quốc gia” thì họ có đối sách riêng biệt, khắt khe.

Dầu giới cầm quyền không công nhận VN có tù nhân chính trị, lương tâm đối với quốc tế đi nữa, nhưng sự thật ra cũng như công nhận. Nếu không công nhận có tù chính trị thì họ giải quyết những tù nhân này cũng như bao nhiêu thường phạm khác, chứ tại sao những lần xét giảm án hay phóng thích thì họ không bao giờ giải quyết cho tù chính trị?. Tức là họ có phân biệt giữa tù thường phạm và tù chính trị."

Qua bài “Tù Nhân Chính Trị VN” với tình cảnh khắt nghiệt và bi thương mà những người tù lương tâm gặp phải, cựu tù chính trị Nguyễn Bắc Truyển nêu lên câu hỏi rằng “nên chăng chúng ta cần có một Ngày để tưởng nhớ những Tù Nhân Chính Trị VN ? Và anh giải thích:

"Bởi vì có những người tù chính trị giống như những chiến sĩ vô danh. Thành ra tôi đề xuất mình chọn một ngày nào đó thành Ngày Tù Nhân Chính Trị VN. Dĩ nhiên trong 365 ngày thì chúng ta luôn luôn nhớ về họ, để động viên, khích lệ họ. Nhưng cần có một ngày để chúng ta có thể nhắc nhở thêm một lần nữa, làm cho vấn đề long trọng hơn, qua đó khẳng định với thế giới rằng ở VN có nhiều tù nhân chính trị đang bị giam cầm một cách vô cớ, vô thời hạn. Nên sự tưởng nhớ những tù nhân lương tâm tại VN là đều nên làm."

Thượng Toạ Thích Thiện Minh cho rằng đây là điều rất đúng, rất hợp lý”. Tại sao ? Thầy Thiện Minh giải thích:

"Bởi vì LS Nguyễn Bắc Truyển cũng từng ở trong tù, từng đồng tâm cộng khổ với những anh em còn ở lại sau khi Nguyễn Bắc Truyển được ra về. Và nhiều người bị ở lại đó, Nguyễn Bắc Truyển cũng đã lên tiếng cũng như đang trợ giúp cho các anh em. Cho nên đề nghị “Ngày Nhớ Về Những tù Chính Trị” rất đúng. Vấn đề là chưa biết chọn ngày nào thích hợp nhất cho tù nhân chính trị VN."

Có lẽ tình cảnh bị đoạ đầy như vậy của những tù nhân lương tâm khiến tác giả Lê Minh từ Sedney viết bài tựa đề “Người tù lâu nhất trong địa ngục trần gian của CSVN”, lưu ý rằng “sự bưng bít thông tin của chế độ đối với tòan cảnh xã hội đã là ghê gớm, nhưng việc ém nhẹm về tù nhân chính trị và các điều kiện sống trong tù còn ghê gớm gấp ngàn lần. Do đó xã hội và thế giới bên ngòai hòan tòan không hay biết những gì xảy bên trong các trại tù kia”.

Thanh Quang
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/a-day-forgot-pris-conscience-tq-10212011163156.html

Bài Xem Nhiều