We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 11 April 2012

Chủ Đề 30.4: Tù chính trị, Anh là ai?

Kiến thức của một người là phần còn lại sau khi người đó đã học và đã quên. Trong cái “phần còn lại” khiêm tốn này, người ta nhận biết một thực tế rằng : mỗi môn học thường có một số câu nói có tính hoặc định đề, hoặc quy luật, hoặc tâm lý tổng quát khiến cho người theo học nhớ nằm lòng một cách dễ dàng.
Những người đã học hình luật một cách tổng quát hẳn nhiên không thể quên được câu nói sau đây : “Kể từ sau khi ra khỏi cổng nhà tù, phạm nhân mới thực sự cảm thấy y là một người tù”. Phạm nhân ở đây có thể là tù hình sự, có thể là tù chính trị. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ đề cập tới tù chính trị. Nói rõ hơn, bài viết này nhằm giải đáp câu hỏi : Tại sao sau khi lấy lại tự do, người cựu tù chính trị mới thực sự cảm thấy họ là tù chính trị, mới thực sự biết được họ là ai ?
Tù có nghĩa là không được tự do. Người ta có thể bị mất tự do về thể chất, tức là bị câu thúc thân thể. Người ta cũng có thể bị mất tự do về tinh thần, tức là tư tưởng bị giam bó hoặc bị ràng buộc bởi một khuôn phép nào đó.
Trong thời gian còn bị giam cầm trong các nhà tù, người tù chính trị tuy bị mất quyền tự do đi lại, tự do giao dịch với xã hội, nhưng trong phạm vi nhà giam, trong giao dịch giữa người tù với những người bạn đồng tù, người tù không tìm thấy những ngăn cách đáng kể. Tất cả đều áo rách vai, quần thủng đáy ; tất cả đều cầm cự với thần đói bằng khoai mì trắng, nước muối trong ; tất cả đều vào tù với cái “tội” đã yêu nước theo cung cách mà mỗi người đều tự cho là hữu lý nhất.
Người tù chính trị bị giam càng lâu càng cảm thấy thật rõ rằng nhà tù chỉ có thể trói buộc thể xác chứ không thể trói buộc tinh thần. Ðời sống tinh thần chỉ bị bó hẹp khi nào một người bị những người chung quanh chối từ giao tiếp. Mặt khác, nói đến tù, người ta không thể không bàn đến trách nhiệm. Trách nhiệm chủ quan và trách nhiệm khách quan. Một người tri tình gia nhập một tổ chức chống cộng tại Việt Nam sau năm 1975. Nếu bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) bắt giam, người này trở thành một tù chính trị trên bình diện trách nhiệm chủ quan. Trách nhiệm chủ quan của một người là trách nhiệm của đương sự đối với những hành vi do chính đương sự chủ động gây ra.
Thế nào là trách nhiệm khách quan ? Xin bạn hãy lấy tỷ dụ luận để làm khởi điểm cho lý luận diễn dịch : trong tai nạn lưu thông, nếu chủ xe không là tài xế và nếu tài xế là người có lỗi trong tai nạn, thì trách nhiệm bồi thường phải quy vào chủ xe (bảo hiểm của chủ xe) chứ không quy vào tài xế. Trách nhiệm của chủ xe như vừa kể gọi là trách nhiệm khách quan.
Trách nhiệm khách quan là trách nhiệm mà một người phải gánh chịu về những hành vi không do đương sự tri tình tạo ra. Tương tự như vậy, một thanh niên sanh ra tại Miền Nam Việt Nam, rồi lớn lên, rồi đi học, rồi tốt nghiệp kỹ sư Công Chánh. Sau khi nhập ngũ, do lệnh động viên, “ông” Kỹ sư Công Chánh trở thành “ông” Sĩ quan Công Binh. Sau năm 1975, “ông” Sĩ quan Công Binh trở thành “ông” tù nhân cải tạo. Trong tỷ dụ này, quá trình hình thành một tù nhân cải tạo rõ ràng là một quá trình tác động của luật pháp và hành chánh thuộc hai chế độ chính trị Nam và Bắc đối nghịch. Nhân vật thanh niên là một nhân vật hoàn toàn thụ động.
Trách nhiệm khiến người Sĩ Quan Công Binh trở thành người tù cải tạo là trách nhiệm khách quan. Nói như vậy hoàn toàn không hàm ngụ ý nghĩa rằng tất cả cựu quân nhân và cựu công chức của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đều đã sinh sống triệt để thụ động như ông Kỹ Sư Công Chánh trên kia. Sự phân tích tù chính trị qua hai bình diện khách quan và chủ quan chỉ nhằm đi đến kết luận mạnh mẽ rằng : Tất cả những người đã bị CSVN giam cầm vì lý do chính trị, từ người âm mưu lật đổ chế độ cho đến những cựu quân nhân và cựu công chức, kể cả những người thụ động nhất, đều phải được nghiêm túc ghi nhận : họ là những tù chính trị.
Sau khi đã xác nhận thành phần nội dung của tù chính trị, chúng ta hãy tìm hiểu tâm trạng của tù chính trị kể từ sau khi họ từ giã cổng nhà tù. Có lẽ chúng ta nên khởi hành từ những tâm trạng tệ hại nhất.
Ðiều bị gọi là “tâm trạng tệ hại nhất” chính là tâm trạng của những cựu tù nhân mà trong thời gian bị giam cầm ở các trại tù chính trị họ đã cam tâm nhận lời làm “mật báo viên” (antenne) cho giám thị trại tù. Do vai trò “antenne” những vị tù phản trắc này được ăn no hơn một tí, mặc ấm hơn một tí… họ trở thành “người tù quyền lực” giữa đám bạn tù cùng khổ. Thế nhưng ngay sau khi được trả tự do, họ trở thành những cựu tù khốn khổ và hèn hạ nhất : họ bị bạn bè xa lánh, họ thường trực bị ám ảnh bởi những cuộc báo thù có thể đến với họ bất kỳ lúc nào. Quả thực “sau khi từ giã cổng nhà tù, người cựu tù antenne mới thực sự cảm thấy họ là tù”. Tâm trạng của cựu tù antenne thật đau đớn nhưng đơn giản. Dĩ nhiên chúng ta không nên tốn nhiều giấy mực cho những người tù mất phẩm chất này.
Thế nào là người tù có phẩm chất ? Người tù có phẩm chất là người tù : một mặt tự mình duy trì tính bất khuất, mặt khác khích lệ tất cả các bạn tù phải quyết tâm duy trì tính bất khuất trước mọi hành hạ cũng như dụ dỗ của hàng ngũ công an. Tuy nhiên có những người tù đã thể hiện được phẩm chất cao quí trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng ngay sau khi ra khỏi cổng nhà tù, họ lại có những biến thái rất đáng quan ngại :
- Biến Thái I : Có những cựu tù nhân do những hành hạ thái quá trong trại tù, nay đã bị suy nhược về tinh thần cũng như thể chất. Họ mang mặc cảm tự ty đối với những người chung quanh về trình độ hiểu biết, trong nghiệp vụ chuyên môn, về sức khỏe cũng như về nghị lực trong công việc. Ngoài những lo lắng cho đời sống bản thân và đời sống gia đình, họ hầu như không muốn nghĩ đến điều được trang trọng gọi là dòng tâm-sinh-mệnh dân tộc.
- Biến Thái II : Có những cựu tù nhân tự cho rằng những gì họ học hỏi trong tù và nhất là những gì họ đã phải chịu đựng trong tù là tuyệt đối hoàn hảo, tuyệt đối khả kính. Kể từ sau lúc họ ra khỏi nhà tù, mọi người chung quanh có nghĩa vụ phải kính trọng họ vô điều kiện. Trong tất cả những buổi hội họp bàn chuyện phục vụ quê hương dân tộc, nếu có chiếu ngồi thì chiếc chiếu dành cho họ phải là chiếc chiếu duy nhất thượng hạng trong các loại “chiếu trên”. Từ trên chiếc chiếu duy nhất thượng hạng đó, họ nhìn những người chung quanh bằng đôi mắt trịch thượng của đấng lãnh chúa nhìn thuộc viên của ông ta. Quan sát thái độ của những cựu tù thuộc nhóm Biến Thái II, nhiều người liên tưởng đến tài phiệt. Những kẻ dựa vào thành tích tài chánh của họ để lấn át người khác gọi là tài phiệt. Những kẻ dựa vào thành tích ở tù để xem những người chung quanh như thuộc viên, có lẽ đáng được gọi là “tù phiệt”. Cuộc gặp gỡ giữa các “tù phiệt” chẳng khác nào cuộc gặp gỡ giữa các quân nhân vô kỷ luật. Quân nhân vô kỷ luật sẽ sản sinh ra nạn “kiêu binh”. Tù phiệt sẽ sản sinh ra “kiêu tù”.
- Biến Thái III : Có những cựu tù nhân đã biến những kỷ niệm tệ hại trong tù thành lòng thù hận cứng rắn đối với Cộng Sản Việt Nam. Ðành rằng nguồn gốc của lòng thù hận này là hữu lý, thế nhưng mỗi khi bàn thảo về tương lai Dân Tộc, mọi người phải để lòng thù hận bên ngoài phòng họp. Chúng ta chống Cộng sản vì Cộng sản gây tác hại đối với dòng sống Dân Tộc chứ không vì lòng thù hận phát xuất từ trại tù. Thái độ chính trị thích nghi và chừng mực không bao giờ được hướng dẫn bởi lòng thù hận. Hơn thế nữa, lòng thù hận rất nhiều khi đã đẩy người thù hận rơi vào tình trạng cực kỳ nghịch lý : họ chống Cộng sản cứng rắn đến độ họ đòi hỏi mọi người phải chống cộng theo đúng cung cách của họ. Người nào chống cộng theo một cung cách mà họ cho là “khác lạ”, lập tức người này sẽ bị chụp mũ là tay sai của Cộng sản, là “trở cờ”. Người ta bảo “trời xanh có mắt”, nhưng trong thực tế tôi thấy “quần chúng có mắt”. Chính nhờ “có mắt” cho nên quần chúng chẳng bao giờ quan tâm tới ý kiến của những người thường xuyên chống cộng với thái độ hận thù ngun ngút. Hận thù càng cao càng xa rời quần chúng và càng lạc hướng đấu tranh.
Cựu tù nhân nào vướng phải một trong ba Biến Thái kể trên, cựu tù nhân đó đã tự cô lập hóa, tự giam bó tinh thần mình. Nói đúng hơn : “Sau khi rời khỏi cổng nhà tù, người tù nào tự cô lập hóa thì người tù đó sẽ thực sự cảm thấy đương sự là một người tù”. Dĩ nhiên trong tình trạng cô lập hóa, không người nào có thể tiếp tục phục vụ Dân Tộc. Thế nên, cựu tù nhân chính trị giải trừ ba loại Biến Thái tâm lý nói trên không do đòi hỏi của các tiêu chuẩn đạo đức cổ điển, mà do nhu cầu phục vụ Dân Tộc. Ðành rằng chỉ có một vài cá nhân trong tập thể cựu tù chính trị đã vướng mắc Biến Thái, tuy nhiên để tránh hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh” bài viết này đã thành hình. Mặt khác, hoàn cảnh chính trị hiện nay vô cùng phức tạp :
-Những người Cộng sản Việt Nam đang rơi vào khủng hoảng tư tưởng không lối thoát.
-Những người trước kia chống cộng, nay đã “trở cờ”. Họ cho rằng chống cộng ngày nay đã trở thành không thực tế, mặc dầu họ không hiểu thực tế là gì và lại càng không hiểu nội dung cuộc khủng hoảng của cộng sản. Họ không tự nhận biết họ đang nộp đơn xin làm tay sai cho một ông chủ mà thủ tục phá sản của ông này đã đi vào bước thứ nhất.
-Những người khác rất trung kiên chống cộng, chống ồn ào, chống vô điều kiện, chống chẳng cần quan tâm đến tương lai của cuộc đấu tranh, chống chẳng cần biết : Làm thế nào để kết hợp đại khối Dân Tộc ? Mô hình của xã hội Việt Nam sẽ là mô hình nào ? Bằng cách nào chúng ta tiến tới mô hình đó ?
-Sau cùng là khối đa số Việt Nam thầm lặng. Khối này thường xuyên cảm thấy lòng quặn đau mỗi lần nghĩ đến quê hương. Khối này ngày lại ngày chau mày nhíu mặt trước những chuyển biến chính trị phức tạp của quốc nội cũng như quốc tế.
Trong hoàn cảnh chính trị rối ren như đã sơ phác, tập thể Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam không thể đóng vai khách qua đường. Tuy nhiên muốn làm một điều gì đó cho quê hương, trước tiên mỗi người cựu tù chính trị phải quay về với chính mình để triệt để gột rửa các Biến Thái Tâm Lý nói trên, nếu có. Chỉ có quay về với chính mình như vừa nêu, người cựu tù chính trị mới nhận biết : Tù Chính Trị, Anh Là Ai ?
- Anh là Người đã cống hiến cho quê hương một phần lớn mồ hôi, máu và nước mắt trong lao tù.
- Anh là Người sau khi ra khỏi nhà tù vẫn tiếp tục duy trì một tâm lý vững vàng : không tự ty yếm thế ; không tù phiệt, kiêu tù ; không phục vụ quê hương do lòng thù hận, mà do tim óc trong sáng của một chiến sĩ cách mạng.
- Anh là Người quyết tâm tiếp tục phục vụ Dân Tộc như Anh đã và đang phục vụ. Trên bước đường phục vụ Dân Tộc trong những ngày tới, Anh thừa biết : mọi việc làm sẽ là Dã Tràng xe cát nếu chúng ta không hiểu được qui luật Ðoàn Kết Dân Tộc, không thấy được mối tương quan biện chứng giữa Dân Tộc Tính và Nhân Loại Toàn Tính, và không hình dung được cũng như không thể khai thác được cuộc khủng hoảng tư tưởng vô tiền khoáng hậu của các quốc gia Cộng Sản hiện nay.
Tù chính trị, Anh là ai ? Bây giờ, Anh đã biết rồi. Kính mời Anh lên đường.
Thân mến chúc Anh thành công.

© Ðỗ Thái Nhiên

Giáo Xứ ĐMBƠL : TƯỞNG NIỆM THÁNG TƯ ĐEN TA ĐI DỰNG CỜ

 http://www.vietlist.us/Images_cd1/covang4.png
Cờ Mỹ, cờ Vatican và Cờ Việt cùng Quang cảnh Giáo xứ ĐMBƠL trước 2:00 pm
tung bay tại Giáo xứ ĐMBƠL ngày 8 April 2012

Mỗi năm vào độ tháng Tư đen, cộng động người Việt trên khắp các lục địa lại gặp nhau, cùng nhau tuởng niệm, nhớ lại những hình ảnh hải hùng xảy ra vào những ngày tháng Tư đen năm ấy.

Tưởng niệm tháng Tư đen, chúng ta tự hứa với lòng, phải làm gì để thế hệ mai sau không phải sống như chúng ta đã sống trong những ngày đen tối, đáng lẽ không nên có. Một trong những việc làm tương đối dễ dàng nhất là đi dựng cờ vàng. Dựng cờ vàng để tưởng nhớ một VNCH thân yêu đã mất, quyết tâm dựng lại cờ vàng trên quê hương, và hy vọng một ngày không xa, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thân yêu lại tung bay trên dải đất hình chữ S, trên các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển đông.

Tại Hoa Kỳ đã có rất nhiều tiểu bang, quận hạt và thành phố công nhận và vinh danh LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ của Việt nam Cộng Hòa cũ. Đó là lá cờ truyền thống của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, là biểu tượng của Tự do, Dân chủ và Nhân quyền. Lá cờ nói lên tính bất khuất của người Việt tỵ nạn cộng sản, đang sống cuộc đời lưu vong, xa quê hương, xa tổ quốc.

Tại Michigan từ 2008 - sau nhiều ngày vận động của Ủy ban Cờ Vàng, ngày 6 December 2006, Michigan Senate đã ban hành Resolution No. 148; ngày March 21, House Of Reprepentatives đã ban hành Resolution No. 16; và Governor Jennifer M. Grandholm đã ban hành Certificate of Tribute công nhận “The Flag of the former Republic of Vietnam, known as the Vietnamese Freedom and Heritage Flag, is a yellow and three red-striped flag, is the symbol of the Vietnamese-American community” – The Vietnam Veterans of America, Chapter 9 đã cho phép treo thường trực lá cờ vàng trên nóc tòa building của trụ sở nằm trên đường Woodwards, trông xuống Downtown Detroit. Ngoài ra Board Directors của Chapter 9 đã hoan hỹ cho treo lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên cột cờ chính trong công viên suốt một tuần lễ, mỗi năm nhân ngày Quốc hận 30/4.

Tại Nhà Thờ Việt Nam, Giáo Xứ Đức Mẹ Ban Ơn Lành – OUR LADY OF GRACE VIETNAMESE PARISH, tọa lạc số 26256 Ryan Rd, Warren, MI 48091, do Linh mục Chánh xứ Vincent Nguyễn An Ninh quản hạt, đã khuyến khích và cho phép dựng thêm một cột cờ - do ông bà Bác sĩ Nguyễn Công Bình hiến tặng; nhân dịp này, ông Nguyễn Hữu Nam, Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ cũng hiến tặng một cột cờ nữa để treo cờ Giáo hội Vatican.

Trưa ngày 8 tháng 4 năm 2012, nhân dịp Giáo xứ làm Thánh lễ Phục sinh, ông Dương Đức Vĩnh, Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc gia Michigan ra thông báo mời đồng hương tỵ nạn đến tham dự Lễ Thượng kỳ. Đúng 2:00 chiều, sau thánh lễ, cùng với đồng hương cư ngụ vùng Detroit và Phụ cận, giáo dân đã đứng đầy sân trước nhà thờ, ước lượng có lối 500 người, hân hoan mừng vui và rất hãnh diện khi chứng kiến buổi lễ thượng kỳ thật long trọng và đẹp mắt, do Hội Cựu Quân Cán Chính Detroit & Vùng Phụ cận, và Hội Cựu Sinh viên Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức Michigan đảm trách. Ba lá cờ treo trên ba cột cờ phối trí theo hình tam giác, một cho cờ Mỹ, một cho cờ Vatican, và một cho cờ Việt. Hầu hết những người tham dự buổi lễ thượng kỳ long trọng, nhưng rất thân tình, đã không ngăn được những giòng nước mắt đầy xúc cảm, chen lẫn những khuôn mặt rạng rỡ và hãnh diện khi chứng kiến lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu cùng phất phới tung bay với cờ Mỹ và cờ Vatican trong một ngày đầu xuân lộng gió./.

Cha xứ, Chủ tịch CĐ/NVQG/MI, Chủ tịch Nghi thức rước Cờ Vàng Toán Quân Quốc Kỳ
Hội đồng GX, ÔB. Bác sĩ Nguyễn Công Bình
cắt băng khánh thành cột cờ mới.
Nghi thức xếp lá Đại kỳ Xếp cờ Người thiếu nữ Việt Nam ôm cờ
Michigan, ngày 8 tháng Tư năm 2012

BẢO ĐỊNH

37 Năm Giờ Hẹn Lịch-Sử Đã Đến

Thưa Cha Yêu Quí ở Trên Trời Của Con, Gi Hẹn Lịch-S Đã Đến — Quê-Hương Việt Nam Yêu Dấu Của Con Khát-Khao Công-Lý Và Tự-Do
http://4.bp.blogspot.com/-3PEX9mHcjAc/ToAtTzznhxI/AAAAAAAADfg/UNsdtozJTtA/s1600/khatvong2-danlambao.jpgToday”we’ve come to cash this check, a check that will give us upon demand the riches of freedom and the security of justice [and freedom of association and religion].” Dr. Matin Luther King, Jr., I Have A Dream.[i]
@ by Trần Thi Minh-Tâm
Research by Trần Quốc Lâm
 Kính thưa Cha Yêu Quí ở Trên Trời của con, giờ hẹn lịch sử đã đến, một lần nữa, bắt-chước Mẹ Teresa,  “Với lệ nhòa trong đôi mắt và tình yêu trong trái tim,” [ii] con quỳ xuống khẩn-cầu Cha ban Công-Lý và Tự Do Tín Ngưỡng cho Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng con. Tại sao chúng con khát-khao Công-Lý? Vì Cha yêu-quí của con yêu Công-Lý vô cùng. “God’s righteousness (or justice) is the natural expression of His holiness.” Richard L. Strauss, Justice for Allwww.bible.org. Tại sao chúng con đòi-hỏi tự do tín-ngưỡng, vì thiếu Công-Lý, Nhân Quyền, và Tín-Ngưỡng, đời-sống của con người là một đời sống chết, thưa Cha.
Cha kính-yêu của con, những ngày vừa qua, quê hương V.N. của chúng con đang trải qua một cơn biến-chuyển đầy giao-động. Đó là sự can-đảm đứng dậy đòi chủ-quyền đất-đai từ những người dân oan. Sự can-đảm đứng dậy đòi Tự Do Tôn Giáo và đòi tôn trọng Nhân Quyền cho các tù-nhân và nạn nhân bị xâm phạm nhân quyền tại Việt Nam như: Nhạc Sĩ Việt Khang, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hoà Thượng Thích Quảng Độ; quý Mục sư; quý Thượng Tọa và Đại Đức; các nhà báo; các anh chị em thanh niên Công Giáo tại Giáo Xứ Thái Hà; nạn nhân tại Cồn Dầu, Blogger Điếu Cày; Luật Sư Trương Công Định; Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ; Luật Sư Lê Thị Công Nhân; Luật Sư Nguyễn Bậc Truyền; và hàng bao nhiêu người Việt đang bị giam cầm trong chốn lao-tù ở Việt Nam.Một biến-cố nữa là cuộc Tổng Khởi Nghĩa của hàng giám-mục, linh-mục và giáo-dân để đòi hỏi chủ-quyền về đất-đai. Những biến chuyển mà con nghĩ đã có bàn tay Cha trên Trời xếp-đặt để sau một trận cuồng-phong, Công-Lý sẽ được vãn-hồi cho Việt Nam.
“Sức chịu đựng của con người có giới hạn,” thưa Cha. “Giờ hẹn” lịch sử đã tới! Hàng bao nhiêu triệu người dân Việt Nam một lòng cương quyết, một ý chí sắt son. Đó là câu trả lời cho những lời đe dọa của bạo quyền, của những con người có đầy đủ súng ống và quyền lực trong tay và tiếp tục hành xử một cách bất công. Giáo dân và các tu-sĩ đã cầu nguyện rất sốt sắng. Ai cũng sẵn sàng cho một sự kiện có thể xảy ra — một vụ đàn áp của chính quyền như họ đã đe dọa. Giáo dân đã nói: “Chúng tôi sẽ tiếp tục cầu nguyện và chúng tôi sẵn sàng để đối phó trong hòa bình với mọi diễn biến phức tạp có thể xảy ra, hôm nay, ngày mai, và bất cứ khi nào; ngay cả sau khi bị đàn áp, và nếu chúng tôi bị giết chết, con cháu chúng tôi sẽ lại tới đây để cầu nguyện tiếp. Không thể-chế nào, không cường-quyền nào có thể đè bẹp được Đức tin Công Giáo của người Ky-Tô Hữu!”[iii]
Thưa Cha, con viết thư này cho Cha sau khi Hoa Kỳ, quê-hương thứ hai yêu dấu của chúng con, kỷ niệm ngày tử-nạn của Dr. Martin Luther King, Jr.– vị anh-hùng của cả Dân-Tộc. Đi đâu cũng nghe báo chí và các cơ-quan truyền-thanh nhắc lại bài nói chuyện Tôi Có Một Giấc Mơ [I Have A Dream][iv] và đại công-trình của Ông trong công cuộc đòi hỏi công-lý, nhân quyền, và hoàn thành cho Hoa KỳThe Civil Rights Act 1965, mà nhiều quốc gia đã lấy đó làm khuôn mẫu.
Thưa Cha, đến nay gần bốn mươi năm sau ngày tử-nạn của vị anh-hùng này (April 4, 1968), con xin được bắt chước những lời của Dr. Luther King để thưa với Cha rằng:
Hơn 37 năm sau ngày Miền Nam V.N. sụp đổ (vào tháng tư năm 1975), đời sống của đa-số những người dân Việt Nam vẫn còn bị què-quặt vì vòng dây xích sắt của sự đàn-áp, phi công-lý, và bạo tàn của Chính Quyền Cộng Sản. Hơn 37 năm sau, qua bao nhiêu phấn đấu, 95% người VN vẫn còn sống trên ốc-đảo cô đơn, vây-hãm bởi khó-nghèo giữa một đại-dương trù phú về vật-chất và xa hoa hưởng thụ của 5% giới lãnh đạo và tư bản đỏ. Hơn 37 năm sau, 95% người VN còn quằn-quại trong sự bất công và lầm than ở các hang cùng ngõ hẻm của xã-hội VN, để nhận ra mình vẫn là những kẻ lưu-đày ngay trên chính quê hương thân yêu của họ.
Thưa Cha, đã đến lúc chúng con, các con dân nước Việt ở khắp mọi nơi trên thế giới không phân biệt quốc tịch phải cùng nhau làm những việc như Dr. King đã làm –Cùng nắm tay nhau, đến trước Thiên Chúa (bằng lời cầu nguyện) và cùng đòi hỏi Giới Lãnh Đạo V.N. phải thực thi Công-Lý cho mọi người dân: bng quyn tư hu đt đai; quyn t do chính trị; quyn tt-do ngôn-lun và t do hi-họp; và nht là quyn đưc t-do tín-ngưng. Mọi con dân nước Việt khắp thế giới phải cương quyết cùng nhau đòi-hỏi chongười dân trong nước có quyền được đeo-đuổi hạnh phúc với tất cả sự trang-nghiêm của con người.[v]
(37 năm trước, một người Việt tị nạn nghèo khó là con của Cha, đã say mê bài diễn-văn Tôi có mt Gic Mơ của Dr. King. Con đả chảy những dòng lệ ngày con học bài này trong Môn Lịch-Sử Hoa Kỳ đầu tiên; và khi đọc những dòng chữ của Dr. King, con đã quỳ xuống và ao-ước rằng một mai kia, bao người con dân nước Việt và chính con sẽ được đem bài nói chuyện này để làm khuôn-mẫu cho một Bản Tuyên Ngôn Độc Lập cho một quốc-gia Việt Nam không Cộng Sản.)
Thật là hiển nhiên là cho đến ngày nay, Chính Quyền V.N. một mặt vẫn hứa hẹn với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc về sự bảo đảm về nhân quyền và tự do tín-ngưỡng, để họ có thể tham dự vào những mậu-dịch thương mại trên thương-trường Quốc Tế. Tuy nhiên, một mặt khác, Chính Quyền V.N. vẫn còn tiếp-tục bội-ước. Thay vì phải công nhận hiến-quyền tối-thượng của người dân Việt, Chính Quyền vẫn còn tiếp-tục trao cho các tăng ni, giám mục, linh mục, mục sư, các nhà văn, nhạc sĩ, các nhà báonhững nhà tư-tưởng, và những người dân oan những tấm chi phiếu không tiền bảo-chứng.[vi]
Nhưng thưa Cha, chúng con, các con-cái Cha và các công-dân VN khắp thế-giới vẫn không tin rằng Ngân Hàng Công Lý của V.N. đã vỡ-nợ.[vii] Do đó, ngày hôm nay, xin Cha ban cho mọi người con dân Nước Việt khắp-nơi trong đó có chúng con được đầy can đảm (từ Đức Chúa Thánh Thần) để đứng lên đòi món nợ—Món nợ Công Lý cho tất cả mọi người công-dân.
Giấc Mơ của Dr. King, người Chiến sĩ Bất Bạo Động hào-hùng của Dân Tộc Hoa Kỳ và cả toàn thế giới, thật thánh thiện thưa Cha. Bắt chước Ông, bao người con dân Nước Việt cùng có một giấc mơ. Đó là giấc mơ là một mai kia, sẽ không có những con người quá nghèo đói thiếu cả cơm ăn và áo mặc trên mảnh đất quê hương V.N. Giấc mơ là một mai kia, công-lý, hiến-quyn, và nhân-quyn sẽ đưc thc-thi ở V.N– qua quyn tư hữu đt đai và tài-sản; quyn t do ngôn-lun; quyn được hi-họp, quyn t do chính trị, quyn đưc t-do tín-ngưng, và nht là quyn của mi ngưi dân đưc sng và đưc đeo-đui hạnh-phúc vi tt cả s trang-nghiêm của con ngưi. Hơn ba mươi ba năm sau, qua bao phấn-đấu, bao nhiêu người đã nằm xuống; bao dòng máu anh-dũng đã đổ; bao nhiêu giọt nước mắt đã tuôn rơi; bao nhiêu phiên tòa đã nhóm họp và bao nhiêu dòng mực đã viết lên từ những người luật-sư can-đảm nhất để bảo vệ Nhân-Quyền và Công Lý, quê hương V.N. vẫn còn đầy dãy bất công và sự vắng mặt trầm-trọng của Công-Lý.
Chúng con biết rằng đã đến giờ hẹn Lịch-sử—chúng con không còn thời giờ để dùng viên thuốc an-thần của sự từ tốn. [viii] Đã đến lúc chúng con phải vực Tổ Quốc thân yêu của chúng con—Tổ Quốc mà Cha đã chọn cho chúng con sinh ra– từ bãi cát lún của sự đàn áp đầy bất công đến một vùng đất đá rắn chắc của Công Lý.[ix]Đã đến lúc chúng con phải biến Công-Lý trên quê-hương V.N. không chỉ là một giấc mơ, mà là một thực tại cho tất cả những người con yêu dấu của Đức Chúa Trời.[x]
Nhưng là con cái của Cha, chúng con biết là không thể tạo Công-Lý bằng cay đắng và hận thù. Mà chúng con phải tranh-đấu trong tinh thần trật tự với tất cả sự nghiêm-túc của con người –với sức mạnh của linh hồn từ ơn thiêng-liêng, bằng sự làm việc cực-nhọc, bằng lòng đoàn kết của tất cả các con dân V.N. ở trong nước và ở khắp bốn-phương- trời ở hải ngoại.
Thưa Cha kính yêu, cuộc tranh đấu cho Công Lý, Hiến-Quyền và Nhân Quyền ở V.N. không thể nào ngơi-nghỉ khi những người anh chị em trong Chúa của chúng con–các tăng-ni, linh mục, mục sư, các nhà văn, các nhạc sĩ, các nhà báonhững nhà tư-tưởng, các luật-sư, và các người dân oan-vẫn còn là nạn nhân của sự tàn bạo của cảnh sát; của sự bất công của chính quyền, của các quan tòa và các biện lý. Dù không phải ruột thịt, người thân hoặc bạn bè của chúng con, nhưng họ là những Anh-Chị-Em trong Chúa và cùng là Anh Chị Em cùng dòng máu Lạc Việt với chúng con.
Thưa Cha, như con đã từng thưa với Cha; Không sự hãi hùng nào cho nhân-loại bằng sự thiếu Công-Lý, thưa Cha kính yêu. Hiện nay Công Lý đang thiếu thốn khắp mọi nơi và nhất là ở V.N. Vì Cha yêu quí của con thích Công Lý lắm. Trong kinh thánh, qua môi miệng của Cha và các Thánh, hàng trăm lần (138 lần) Công Lý đã được đề cập. Xin ban cho các người cầm quyền, và nhất là các người lãnh đạo ở V.N. có sự khôn-ngoan và ơn hiểu biết và nhất là lòng kính-sợ Đức Chúa Trời. Cha vĩ-đại và yêu chuộng công-lý của con, xin Cha gìn giữ và mở tâm hồn của nhà cầm-quyền và các quan tòa. Công lý phải được phục hồi trên Quốc Gia yêu dấu của chúng con, thưa Cha.
Xin cho các bạn-hữu, những người anh-em trong Chúa của con, và chính chúng con có can đảm để thực hành lời Mẹ Teresa đã dạy: ““Vì Thiên Chúa cònyêu thương loài-người quá tha thiết, cho nên Người tiếp tục hiến thân mình cho nhân-lọai qua Anh-Chị-Em [và chính chúng con]. Nguyện cho các Anh- Chị-Em [và chính chúng con] được là ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa tỏa đến cho mọi người, để cuộc đời chúng con trở thành công cụ tốt đẹp cho Thiên Chúa xử dụng; và không một điều nào làm đẹp lòng Thiên Chúa bằng sự đòi hỏi hiến quyền và Công Lý cho những người nghèo khó, kém may mắn, và bị oan khiên.”[xi]
Nguyện cho chính chúng con được trở thành công cụ tốt đẹp cho Thiên Chúa xử dụng trong việc đem Công-Lý đến cho những người bị đàn-áp ở Việt Nam. Xin cho chúng con đừng bao giờ chọn-lựa những việc dễ-dàng để làm; mà là xin cho chúng con được có ơn biết khôn ngoan, nhẫn-nhục và sức chịu đựng để có can-đảm chọn-lựa và có thể làm những việc lớn và khó.
Thưa Cha, nếu có một người hỏi con chỉ được ba điều ước mà thôi,thì con sẽ xin như thế này:
1) Xin có một đức-tin vào Thiên-Chúa thật mãnh-liệt như Abraham;
2) Ơn khôn ngoan để biết kính sợ Đức Chúa Trời và một tấm lòng can đảm dám đng lên hành-đng và nhn lãnh trách nhim;
3) Có hồng-ân để hiểu biết về quyền-năng vô biên của sự cầu nguyện. Vì sự cầu nguyện có thể thay đổi tất cả. Sự cầu-nguyện mở tất cả các cánh cổng. (“‘The greatest and the best talent that God gives to any man or woman in this world is the talent of prayer,’ writes Principal Alexander Whyte.)[xii]
Cui cùng, kính thưa Cha, xin cho con nhn-nhủ vi các Anh Chị Em thân yêu của chúng con rng:
Hỡi những Anh Chị Em Chiến-Sĩ Nhân Quyền, những Anh Chị Em trong Chúa Giêsu Kitô, và những Anh Chị Em cùng một Tổ-Tiên Lạc Việt ở khắp Năm Châu, đừng sợ hãi, hôm nay chúng ta hãy nối tay nhau trên mạng lưới toàn cầu, để cùng cầu nguyện và yểm trợ tinh thần và vật chất cho các tu sĩ, giáo dân và những người dân oan đang ở quê nhà. Chúng ta hãy liên lạc với giới chức chính quyền, các thượng nghị sĩ và dân biểu ở quốc gia mà chúng ta đang sống, để nhờ họ can thiệp cho những người dân oan và các giáo dân ở V.N. Giờ Hẹn Lịch Sử đã đến, hãy cầu nguyện và hành động. Nên nhớ rằng: Thiên Chúa không chọn người xứng đáng và tài ba. Ngài làm cho những người Ngài tuyển chọn trở nên tài ba và xứng đáng.Nếu Ngài thật sự muốn chúng ta phục vụ và chiến đấu cho người nghèo đói, kẻ thế cô, Ngài sẽ làm cho chúng takhông cô thế. Ngài sẽ tiếp tục gởi các Thiên Sứ đến để yểm trợ chúng ta.Ngài sẽ tiếp tục chỉ đường dẫn lối và cho chúng ta phương tiện. Đừng sợ hãi, vì Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Emmanuel!
Người Bạn Trong Chúa Kitô Của Các Anh Chị Em Thân Yêu,
.
Trần Thị Minh Tâm

Một Thế Hệ Trẻ “Của Hạt Giống Đỏ(VC)” Mất Gốc Và Suy Đồi.

Liều thuốc tự do


Trong đêm lưu diễn ở Hà Nội của Bi Rain (ca sĩ Hàn Quốc), một số fan Việt quì xuống để ngửi và hôn hít chiếc ghế mà thần tượng của mình vừa ngồi.
Thông tin này lập tức gây sóng gió trong cộng đồng mạng Việt Nam sau khi lan truyền trên Facebook. Hầu hết báo giới thể hiện sự bất bình, và nhiều người nói về một nỗi nhục dân tộc. Người ta giật tít: “choáng”, “sock”, “quá trớn”, “crazy”… Nhiều trí thức than vãn về sự suy đồi các giá trị tinh thần. Và khi những xúc động đã tạm lắng đi, một số blogger viết bài lí giải. Tôi thấy khá nhiều lí do đã được đề cập. Chẳng hạn: sự tồi dở của nền giáo dục, sự thui chột của nền nghệ thuật Việt Nam, sự xuống cấp của đạo đức và phẩm giá con người…
Nhìn chung, hầu hết các nhà bình luận tin rằng tuổi trẻ Việt Nam ngày càng mất nết.
Nhưng kết luận ấy, theo tôi, hơi có chút vội vàng và nóng nảy. Thanh niên Việt quả thực kém cỏi so với bạn đồng lứa bốn phương. Nhưng là một sinh viên, mà nhờ công việc nhóm, có khá nhiều trải nghiệm về sự chuyển biến tâm lí qua các thế hệ, tôi vẫn khá lạc quan về triển vọng của lớp người mà mình thuộc về.
Vậy trong cuộc thảo luận sôi nổi về thực trạng của tuổi trẻ Việt Nam, xin góp cho diễn đàn một cái nhìn của người trẻ.
Thực ra, tôi nghĩ vấn nạn bao trùm sự vụ này không phải là sự sùng bái văn hóa Hàn Quốc. Nguyên nhân cốt lõi, nhưng chưa thấy được đề cập, là cái quì gối trong văn hóa Việt Nam.
Nếu bạn chưa đồng ý, ta hãy cùng nhìn rõ bằng óc tưởng tượng của mình.
Giả sử, khi vẽ tranh, bạn giữ nguyên tư thế quì lạy và hôn ghế. Bạn thay thần tượng Bi Rain bằng thần tượng Khổng Tử. Rồi thay văn hóa Hàn Quốc bằng văn hóa Trung Hoa.
Làm thế, vụ “hôn ghế thần tượng” đình đám sẽ không còn là bức tranh về một thế hệ trẻ mất gốc và suy đồi.
Thay vào đó, ngạc nhiên chưa ! Sẽ là bức tranh chuẩn mực về đạo Thánh hiền của các Nho sĩ.

Bi Rain           &           Khổng Tử
Vậy có thanh niên Việt mất gốc không nhỉ?
Chúng ta chướng mắt khi giới trẻ Việt quì xuống hôn ghế một thần tượng âm nhạc nước ngoài. Nhưng hãy nhìn cái quì suốt dòng lịch sử của các thế hệ đi trước. Suốt hai thiên niên kỉ, người Việt quì mọp ngoan ngoãn dưới cái ghế của các vua quan. Hăng hái dẫn đầu truyền thống này là giới sĩ phu – tầng lớp được xem như khối óc của cả nước.
Và so với thế hệ trẻ hôm nay, các nhà Nho vượt xa về độ vọng ngoại. Giới trẻ Việt Nam không đặt tượng Bi Rain lên bàn thờ, không xem anh như nguồn chân lí duy nhất đúng, và cũng không tôn anh này là “bậc Thánh nhân”. Họ không gọi tiếng Hàn Quốc là “chữ thánh hiền”. Họ cũng không đề nghị sử dụng tiếng Hàn Quốc, thay vì tiếng Việt, làm ngôn ngữ chính thức để giảng dạy trong mọi cấp học. Họ không chủ trương một nước Việt Nam mà mọi bài thơ, mọi bộ luật, và mọi văn bản hành chính đều được soạn thảo bằng tiếng Hàn Quốc. Họ không học lịch sử Hàn Quốc thay vì sử Việt Nam. Nhưng với văn hóa Trung Quốc, giới Nho sĩ – mà một thời được cả xã hội tôn vinh như hình mẫu lí tưởng để theo đuổi – đã thể hiện thái độ thế nào ?
Tìm một tấm gương tốt cho thanh niên Việt Nam, xem ra, khó lắm !
Nếu bạn phản đối việc so đám trẻ trâu với các cụ đồ đạo mạo, ta hãy thử tìm một sự liên tưởng gần gũi hơn. Hãy tua cuộn phim lùi về 50 năm trước. Tưởng tượng hồi thập niên 1960, cũng trên đất Hà Nội này, “…một số cháu thiếu niên cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên chiếc ghế mà Bác đã ngồi với niềm kính yêu vô hạn dành cho người cha già của toàn dân tộc…”.
À, vậy thì các cháu cũng sẽ lên báo Nhi Đồng, báo Tiền Phong, báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên… Nhưng không phải cùng các cụm từ “crazy”, “choáng”, “quá trớn”… , mà là trong các bài viết tuyên dương “những hạt giống đỏ”, “những mầm non Cách mạng”, “những ngọn cờ hồng”…
Trong chương trình học của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, người ta nhắc đến bao nhiêu “ngọn cờ hồng” như thế. Và người ta giảng dạy, tuyên truyền, chỉ để tạo ra thêm những “ngọn cờ” cũng y như thế. Ôi, những tấm gương…!
Và hãy nhìn lại tư thế khúm núm, xum xoe, khăm khẳm mùi nịnh bợ mà đại thi hào Tố Hữu – Nguyên Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương – đã dành cho cái ghế quyền lực dưới mông hai thần tượng của mình:
“Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Xít-ta-lin bên cạnh nhi đồng
Áo Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười
Xít-ta-lin! Xít-ta-lin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã… làm sao, mất rồi!
Ông Xít-ta-lin ơi, Ông Xít-ta-lin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời còn không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười!”
Tư thế đẹp đẽ ấy còn được lột tả chân thực hơn nữa qua 5 câu thơ:
“Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu
Cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!”

Mao Trạch Đông         &           Joseph Stalin
Nhưng Mao Chủ tịch và “Shít-ta-lin bất diệt” mà Tố Hữu… thờ, và đề nghị toàn Đảng, toàn dân “rập bước chung lòng” cùng… thờ, hai vị ấy là ai ?
Những bạn chưa biết câu trả lời, xin Google các cụm từ “Mao Trạch Đông”, “Stalin”, “độc tài”, “tàn sát”… Cả hai là những bạo chúa bị nhân loại lên án vì phạm tội ác diệt chủng. Cả hai đã sát hại hàng triệu sinh mạng – mà một phần lớn thuộc tầng lớp tinh hoa của dân tộc – trong các cuộc thanh trừng phi nhân tính để củng cố quyền lực của bản thân. Đấy ! Hai “mặt trời chân lí” mọc đằng Bắc, mà ông Tố Hữu dạy ông bà, cha mẹ chúng tôi phải thương hơn cha, hơn mẹ, hơn chồng mình đấy !
Dầu vậy, Tố Hữu không làm báo giới phiền lòng, và chính giới thì lại càng không. Ông không “suy đồi các giá trị tinh thần”, không “vong bản”, không “mất gốc”. Người ta mời ông làm Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương. Người ta trao ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt thứ nhất. Người ta để ông dạy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xúm xuýt “thờ” các thần tượng – trong cương vị Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Ngày nay, thơ ông chiếm phần quan trọng trong chương trình học môn Ngữ Văn của mọi cấp. Sách giáo khoa mô tả ông như một nhà thơ lớn, và một nhân cách lớn của dân tộc. Sự nghiệp của Tố Hữu quả là một tấm gương sáng cho các cháu nhi đồng và thanh thiếu niên !
Tôi còn định nêu thêm vài ví dụ nữa về một người Việt Nam sùng bái thần tượng ngoại quốc đến mê cuồng. Vị này, vì hôn ghế “ba ông kia kìa” một cách say sưa, mà làm dân tộc ông mất 4 triệu mạng người, và nước ông lỡ mất một thế kỷ. Ngày nay, vị này được báo chí mô tả như một nhà tư tưởng vĩ đại và một tấm gương đạo đức lớn. Người ta đang phát động một chiến dịch rầm rộ và siêu tốn kém để giục cả nước học tập và làm theo tấm gương đạo đức của ông. Nếu có ai đó mà thế hệ của tôi – theo lệnh “trên” – buộc phải lấy làm khuôn vàng thước ngọc mà bắt chước, thì trăm phần trăm đó là ông này. Nhưng thôi, không nhắc đến tên ông ta làm gì, mất vui lắm.
Tới đây, có lẽ vấn đề đã sáng tỏ. Tư thế quì lạy và hôn ghế thần tượng chẳng phải đặc sản của thế hệ chúng tôi. Ta thấy nó hiện diện rộng khắp ở mọi thế hệ người Việt mình. Và phải nói rằng đến thế hệ của tôi, chứng bệnh kinh niên này đã nhiều lần thuyên giảm.
Vậy xin đừng cố mò mẫm chẩn bệnh cho riêng một thế hệ nữa. Tìm sao được, khi căn bệnh ấy cũng làm tổ trong não bộ của chính những nhà báo hăm hở lên án vụ hôn ghế Bi Rain ? Và khi những khuôn vàng thước ngọc để thanh niên Việt Nam học hỏi lại là những con bệnh nặng nhất, thì biết chữa bằng cách nào ?

Hồ Chí Minh               &             Tố Hữu
“Cùng rập bước chung lòng/Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!”
Chúng ta cần một liều thuốc cho cả nước.
Tư thế nô lệ đến từ tâm thế nô lệ. Có cùng một triệu chứng nơi các Nho sĩ Việt, đại thi hào Tố Hữu, ông cụ mà tôi không nêu tên được, và các bạn trẻ vừa xì xụp hôn hít ghế Bi Rain. Họ thiếu tự trọng, và chịu sự lệ thuộc tinh thần.
Mà chỉ những con người tự do mới có sự tự trọng nguyên vẹn và đúng nghĩa. Lúc này còn chưa quá muộn. Tuổi trẻ Việt chỉ mới quì lạy và hôn ghế một ngôi sao vô hại của xứ Kim Chi. Chưa đến ngày mà họ, một lần nữa, sụp lạy dưới những “mặt trời chân lí” vẽ bằng máu đỏ trên tấm da vàng.
Chưa quá muộn, để kê đơn chữa bệnh “trẻ con” cho đất nước.
Liều thuốc chúng ta cần là một văn hóa tự do, bắt nguồn từ một môi trường tự do và tự trọng. Kê liều thuốc này, trước hết, phải là các bậc cha mẹ, các nhà giáo, và người trí thức Việt Nam.
NHỌ
1/4/2012
www.vietthuc.org

Bài Xem Nhiều