We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 17 April 2012

Thư số 6: Gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam


                                  
Đường về tổ quốc - Biếm hoạ Babui (Danlambao)Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện sống tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa.  

Xin gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung làcấp lãnh đạo”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Các Anh trong quân đội nhân dân mà. Với lại, Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Trong Thư số 5 (tháng 3/2012), sự kiện cưỡng chế đất đai của ông Đoàn Văn Vươn đã làm tràn ly nước đầy lòng căm phẫn của hằng chục ngàn, thậm chí là hằng trăm ngàn gia đình nông dân bị cưỡng chế đất đai. Tiếp đến là sự kiện ca nhạc sĩ Việt Khang bị bắt đã làm tràn ly nước đầy lòng căm phẫn về sự tàn bạo của đảng và nhà nước cộng sản với đồng bào, nhưng lại khiếp nhược đến mức hèn hạ với nước Tàu cộng sản, đã dẫn đến 148.773 người ký Thỉnh Nguyện Thư của Cộng Đồng chúng tôi gởi Tổng Thống song song với vận động Quốc Hội Hoa Kỳ, ủng hộ Nghị Quyết về Nhân Quyền Cho Việt Nam. Với Cộng Đồng chúng tôi tị nạn tại hải ngoại, đây là một thành công cao hơn mức dự tưởng trong “Trận Chiến Nhân Quyền”, và chúng tôi đang thực hiện những bước tiếp theo trong mục đích hỗ trợ những thành phần trong nước đấu tranh ôn hòa giành lại quyền làm người cho đồng bào trên quê hương.

Song song với thành công trong “Trận Chiến Nhân Quyền”, là một thành công khác trong “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ” cũng cao hơn dự tưởng của Cộng Đồng chúng tôi.  Xin nhấn mạnh: Nhóm chữ “quốc kỳ nền vàng” hay “quốc kỳ Việt Nam” hay “cờ vàng” trong bài này, phải hiểu là “quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ” đã có từ trong lịch sử lâu đời của Việt Nam. Từ tháng 4/1975 đến nay, quốc kỳ này là biểu tượng “lý tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền” của Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng.   

Đọc xong, tôi tin là Các Anh sẽ rất ngạc nhiên, vì chưa bao giờ Các Anh nghe nói đến “trận chiến” này. Hãy suy nghĩ với nhận thức về “trận chiến lạ lùng” đối với Các Anh, nhưng rất lý thú đối với chúng tôi. Và mời Các Anh vào nội dung ….

Phần một. Quốc Kỳ Việt Nam (QKVN) trên nhiều kỳ đài tại nhiều thành phố, trong nhiều cuộc mít tinh biểu tình, trong tham dự diển hành tại các thành phố lớn trên thế giới có Cộng Đồng Việt Nam cư ngụ, được tiêu biểu qua một số trường hợp tóm lược dưới đây: (bài này đầy đủ dài đến 21 trang)   

QKVN nền vàng tại Boston. Ngày 30/07/2003, thành phố Boston tiểu bang Massachussetts chánh thức công nhận quốc kỳ Việt Nam. Ngày 08/08/2003, phái đoàn tòa đại sứ CSVN gồm 4 người do Vũ Đ. Dũng dẫn đầu. Dũng đang xử lý thường vụ chức vụ Đại sứ vì Nguyễn Tâm Chiến đã về Hà Nội nhận lệnh. Từ Washington DC đến Boston, xin gặp Hội Đồng thành phố. Bà Maura Hennigan, Nghị Viên, thay mặt Hội Đồng thành phố tiếp phái đoàn. Vào đề là Vũ Đ. Dũng mạnh mẽ phản đối Boston công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ,.vì đó là “cờ của Sài Gòn cũ”. Chánh phủ của ông và tòa đại sứ mà ông đang xử lý, quyết lìệt đòi thành phố Boston phải hủy bỏ Nghị Quyết đó, đồng thời chấm dứt việc treo cờ vàng trên nóc tòa thị chánh Boston. Với lời lẽ cứng rắn, Bà Nghị Viên Maura Hennigan đáp: “Chúng tôi rất tiếc là Nghị Quyết công nhận cờ vàng ba sọc đỏ được tất cả 13 vị Nghị Viên thành phố đã ký, Nghị Quyết đã thành Luật và không có vấn đề thay đổi. Cờ vàng ba sọc đỏ đã được treo trên nóc tòa thị chánh Boston từ lâu rồi chớ không phải bây giờ mới treo, Luật mới ban hành là chánh thức công nhận và khuyến khích sự tiếp tục đó. Cử tri trong Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt tại đây, đã đóng góp nhiều mặt cho sự phát triển của thành phố Boston, và chúng tôi công nhận nguyện vọng của họ đối với quốc kỳ truyền thống của họ. Chúng tôi treo quốc kỳ đó ngang hàng với quốc kỳ Hoa Kỳ, cờ tiểu bang Massachussetts, và cờ của thành phố Boston chúng tôi. Mặt khác, chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề dân chủ tự do tại Việt Nam, chúng tôi đòi hỏi phải cải thiện nhân quyền, tự do tôn giáo, và thả hết tù nhân lương tâm tại Việt Nam”. Nhìn phái đoàn CSVN im lặng, Bà Hennigan nói tiếp với lời lẽ lịch sự của chủ nhà: “Những đòi hỏi của phái đoàn, theo tôi, các ông nên mang về Washington DC là tốt hơn, và nên hiểu rằng, chính trị là vấn đề của địa phương “Politics is local”. Nói xong, bà Hennigan đứng dậy, với cử chỉ thật ngoại giao, bà mở cửa văn phòng, tay hướng ra ngoài cửa như có ý “tôi không nói chuyện với các anh nữa”. Chần chừ giây lát, phái đoàn CSVN ra về với nét mặt thất vọng của những viên chức ngoại giao!

QKVN nền vàng trên đỉnh Everest. Ông Craig Van Hoy, người Mỹ, sống tại Oregon. Vợ ông là người gốc Lào, nên ông thấu hiểu chính sách tàn bạo của chế độ cộng sản. Vì vậy mà trong những câu chuyện trao đổi giữa ông với người bạn hàng xóm, ông cảm kích tinh thần của Cộng Đồng Việt Nam vì không sống nỗi với cộng sản độc tài nên phải vượt lên sự chết để tìm sự sống trong xã hội dân chủ tự do, nhưng không quên mình là người Việt Nam, nên ông chấp nhận lời yêu cầu của bạn hàng xóm, mang theo lá quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ trong chuyến ông hướng dẫn đoàn thám hiểm chinh phục đỉnh Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya). Ông Craig nói: “Ông sẽ cắm lá quốc kỳ này -ông chỉ vào lá quốc kỳ mà ông vừa nhận- lên đỉnh Everest theo ước nguyện của người bạn Việt Nam, nhưng danh dự này không phải chỉ dành riêng cho bạn hay cho 2.700.000 người Việt tị nạn tại hải ngoại, mà ông còn dành cho 82.000.000 người dân đang bị cộng sản độc tài cai trị trên đất nước Việt Nam. Vì nơi đó -tức Việt Nam- một dân tộc đã và đang bị bất hạnh như đồng bào trên quê hương cội nguồn hiền thê của ông”. Ngày 09/05/2004, đoàn leo núi gồm 5 người bắt đầu leo dốc. Sau khi vượt qua những gian nan trên hành trình, ngày 16/05/2004 đoàn đến đỉnh Everest trên độ cao 29.035 feet (bộ Anh). Ông Craig Van Hoy đã cắm quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ của chúng tôi trên đỉnh Everest vào ngày 17/05/2004, như một thông điệp gởi cho nhân loại về chính nghĩa của dân tộc Việt Nam tôn trọng Dân Chủ - Tự Do - Nhân Quyền, từ đỉnh núi cao nhất của thế  giới.

QKVN nền vàng tại Melboure, Australia. Ngày 12/8/2005, một buổi tiếp tân trọng thể tại Quốc Hội tiểu bang để Vinh Danh Cộng Đồng Việt Nam 30 Năm Tị Nạn tại tiểu bang Nam Úc”. Buổi lễ do ông Mike Rann, Thủ Hiến tiểu bang Nam Úc chủ tọa. Hằng trăm quan khách Việt Nam và Úc Đại Lợi, trong số đó có nhiều viên chức của cơ quan lập pháp và hành pháp tham dự. Hai quốc kỳ Australia và Việt Nam nền vàng được đặt vào vị trí trang trọng nhất. Thủ Hiến Mike Rann đã đọc một bài diễn văn thật ý nghĩa, xin trích vài đoạn: “… Chúng ta không bao giờ được quên những người đã bỏ mình trong cuộc vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam trong thập niên 70. Chúng ta phải vinh danh Họ, và chúng tôi phải vinh danh quí vị, là những người đã sống sót để thuật lại câu chuyện như một chiến thắng vinh quang của mình, một câu chuyện về vô số người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản ác ôn áp bức từ năm 1975. Cuộc trốn chạy can trường của người Việt Nam, đã làm cho cả thế giới nói chung, và nước Úc nói riêng, phải kinh ngạc! … Quí vị phải đương đầu với bão tố và hải tặc, với niềm hy vọng trông thấy một dãi đất nhân hậu bên kia chân trời để bắt đầu cho cuộc sống mới. …  Sự đóng góp của quí vị đã tạo ra của cải cho tiểu bang Nam Úc, không chỉ về phương diện kinh tế, mà còn cả về phương diện xã hội và văn hoá nữa. ... Tên của những người Úc gốc Việt trẻ tuổi học hành tận tụy, đã chiếm nhiều hàng tít lớn trên báo chí vào tháng Giêng hằng năm, khi mà kết quả các kỳ thi được công bố với số điểm tối ưu hoặc rất cao. Các em đó cũng học hành xuất sắc như thế ở bậc đại học. Thật ra,  tuổi trẻ Việt Nam đã được đứng vững trên đôi vai phi thường của các bậc phụ huynh vĩ đại …Cộng Đồng người Việt cũng đã tiến hành những cuộc tranh đấu đòi hỏi những quyền căn bản cho mọi người dân đang sống tại Việt Nam. Đó là những quyền mà mỗi con người đương nhiên được hưởng, như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do đi lại, quyền không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào…Chánh phủ do tôi lãnh đạo, và cá nhân tôi, đứng về phía quí vị trong cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ, nhằm mang lại tự do và những quyền căn bản cho mỗi con người Việt Nam trên quê hương của quí vị. Vì vậy, trong khi chúng ta tán dương những thành tựu của Cộng Đồng người Việt hôm nay, chúng ta cũng công nhận sự nghiệp đấu tranh cho người dân tại Việt Nam.”

QKVN nền vàng tại Đức. Ngày 21/8/2005, một thánh lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 tổ chức tại thành phố Koln, Cộng Hòa Liên Bang Đức do Đức Giáo Hoàng chủ lễ. Ước lượng có khoảng 800.000 người tham dự và hằng tỷ người trên thế giới theo dõi qua hệ thống truyền thông. Khán giả theo dõi buổi lễ dễ dàng trông thấy rất rõ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới ngay sau lưng  Đức Giáo Hoàng.

QKVN nền vàng tại New York, Hoa Kỳ. Nhận lời mời của Ủy Ban Tổ Chức Ngày Văn Hoá Quốc Tế tổ chức hằng năm tại New York sau khi đánh bại sự vận động của CSVN giành quyền đại diện tại Cơ Quan Di Dân Quốc Tế Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc diễn hành năm thứ 22 ngày 18/6/2007, Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tham dự với hơn 2.000 người từ 44 Cộng Đồng qui tụ tại New York, cũng là dịp biểu dương sức mạnh của Cộng Đồng tị nạn ngay trước mặt phái đoàn CSVN do ông Nguyễn Minh Triết của Các Anh dẫn đầu đang có mặt nơi đây. Đoàn nam giới mặc quốc phục cổ truyền, đến màu sắc rất đẹp của đoàn nữ giới với trang phục ba miền Nam Trung Bắc, xe hoa với ảnh Phù Đổng Thiên Vương + bản đồ Việt Nam + lá quốc kỳ Việt Nam nền vàng, đến đoàn nữ giới với chiếc áo dài tha thướt và những chiếc nón lá duyên dáng, rồi đoàn thanh thiếu niên nam nữ với chiếc áo tứ thân và khăn đóng áo dài, và đông đảo bà con đồng hương. Đoàn diễn hành của Cộng Đồng chúng tôi giương cao một rừng cờ vàng ba sọc đỏ, đã tạo được tình cảm của Ban Tổ Chức Liên Hiệp Quốc và mọi người có mặt. Đặc biệt là các đơn vị Cảnh Sát bảo vệ trật tự, đều hô to “Việt Nam, Việt Nam” khi đoàn chúng tôi đi ngang.

QKVN nền vàng tại Sydney, Australia. Ngày Giới Trẻ Quốc Tế lần thứ 23  tổ chức tại Sydney (Australia) từ 15 đến 20/7/2008, với khoảng 100.000 bạn trẻ bản xứ và 125.000 người từ khắp nơi trên thế giới đến, trong số đó có 15.000 bạn trẻ mà đa số là Mỹ gốc Việt đến từ Hoa Kỳ, và khoảng 600 bạn trẻ đến từ Việt Nam. Ngày 17/7/2008, trên du thuyền gần Cầu Hải Cảng và Nhà Hát Con Sò, bạn trẻ Phạm Vũ Anh Dũng đã kể chuyện với Đức Giáo Hoàng về gia đình anh không thể sống trên quê hương dưới sự cai trị của cộng sản độc tài, nên phải liều chết vượt biển tìm tự do và đã đến Australia. Nói xong, anh dâng dãi quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ lên Đức Giáo Hoàng. Ngài ban phép lành và tự choàng lên cổ với nụ cười hiền hòa. Ngày 20/7/2008, trong Thánh Lễ bế mạc Đại Hội, Cộng Đồng tị nạn đã thành công cao hơn dự tưởng, hoàn toàn không một lá cờ đỏ nào của CSVN xuất hiện trong khi rừng cờ vàng rực rỡ giữa rừng người dự lễ mà cơ quan truyền thông Australia ước lượng khoảng 500.000 người. Ngày 21/7/2008, tờ Sydney Morning Herald với bài viết ngắn  “A Flag For Freedom” (Lá Cờ Cho Tự Do) được ông Trần Hưng Việt tại Brisbane, Queensland, Australia, dịch từ Anh ngữ như sau: “Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ở Sydney thì không. Quốc kỳ của Nam Việt Nam là biểu tượng được trông thấy rõ ràng nhất giữa rừng quốc kỳ và các biểu ngữ về tôn giáo trong thánh lễ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù đó là một biểu tượng không có quốc gia, và bị cấm tại quốc gia nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do. Một người hành hương trong nhóm người Việt đang đứng dưới lá đại kỳ màu vàng ba sọc đỏ, nói rằng: Hôm nay, chúng tôi mang lá cờ này để nhắc nhớ mọi người rằng, đảng cộng sản cầm quyền tại Việt Nam vẫn đàn áp quyền tự do tôn giáo và các quyền tự do khác”. 

Ngày 22/6/2009, Thống Đốc tiểu bang Texas ký ban hành Nghị Quyết HCR 258 sau khi Hạ Viện và Thượng Viện đã thông qua. Nội dung khuyến cáo tất cả các trường đại học trong tiểu bang Texas không treo cờ đỏ cộng sản mà chỉ treo cờ vàng biểu tượng tự do của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Texas. Từ nay, 506 trường đại học trong tiểu bang, không treo cờ đỏ của CSVN cho dù có sinh viên từ Việt Nam sang du học, mà chỉ treo cờ vàng biểu tượng của dân chủ tự do của chúng tôi.

Tôi nghĩ là Các Anh chưa từng biết, hoặc có biết nhưng do “thông tin lề phải” lãnh lương nhà nước và thông tin theo đảng CSVN dạy, chớ Các Anh không thể biết sự thật về lãnh đạo Các Anh nhục nhã như thế nào khi  phải đối diện với rừng quốc kỳ Việt Nam nền vàng trong Cộng Đồng chúng tôi. Những phái đoàn của lãnh đạo Các Anh, như phái đoàn Phan Văn Khải (Thủ Tướng, 2006), Phạm Gia Khiêm (Phó Thủ Tướng/, nhất là phái đoàn Nguyễn Minh Triết (Chủ Tịch, 2007) và Nguyễn Tấn Dũng (Thủ Tướng, 2008 và 2010) đến thành phố nào trên đất Mỹ mà có Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn, họ thấy cả rừng cờ vàng ba sọc đỏ của Cộng Đồng chúng tôi. Cho nên lãnh đạo của Các Anh chắc là cảm nhận nỗi nhục đến mức không dám ngẫng đầu lên để đối điện với lá quốc kỳ Việt Nam, “nền vàng” biểu tượng cho dân tộc da vàng, và “ba sọc đỏ” biểu  tượng cho đồng bào ba miền Nam-Trung-Bắc thân yêu của chúng ta.

Phần hai. Bia đá tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do. Tại mỗi Bia Tưởng Niệm có hai kỳ đài với quốc kỳ Việt Nam nền vàng và quốc kỳ bản xứ:. Và đây là những ngày khánh thành Bia Đá Tưởng Niệm: Tháng 3/2005,  trên đảo Galang (Indonesia) và đảo Bidon (Malaysia), với dòng chữ “Bia Tưởng niệm hằng trăm ngàn người Việt Nam đã bỏ mình trên đường tìm tự do 1975-1996. Dù Họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức, hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta hãy cùng cầu nguyện để Họ được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Sự hi sinh của Họ sẽ không bao giờ bị lãng quên”. Ngày 30/4/2006, trong khuôn viên “Nghĩa Trang Quốc Gia Thái Bình Dương” tại Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ, với dòng chữ: “Vinh danh Quân Lực và Nhân Dân Việt Nam Cộng Hòa & Quân Lực Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, South Korea, Philippines. Taiwan, Thailand, đã cùng với Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống cộng sản, bảo vệ dân chủ nhân quyền cho thế giới”. Ngày 12/5/2006, La Fayetteville, tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ. Trung Tướng James B. Vaught, Cố Vấn Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam năm 1971, nhấn mạnh: “… Tưởng rằng làm cố vấn giúp các bạn chiến đấu, nhưng thật sự thì chúng tôi  học được tinh thần chiến đấu của các bạn thật tuyệt vời....”. Ngày 9/2/2006, tại thành phố Geneve, Thụy Sĩ, với dòng chữ: “Tưởng niệm cuộc ra đi của những Thuyền Nhân trên thế giới 1975 - 2005. Người Việt tị nạn chân thành cám ơn Thụy Sĩ và các nước tiếp cư, đã giúp cho chúng tôi được sống hạnh phúc trong hòa bình, tự do, và dân chủ. Chúng tôi sẽ mãi mãi không quên quê hương Việt Nam, mãnh đất ngàn đời của Tổ Tiên để lại”. Ngày 30/6/2006, tại Công Viên D’Avroy, thành phố Liège, Bỉ Quốc. Ngày 30/4/2007, tại thành phố Troisdorf, Đức Quốc.

Phần ba. Tượng đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, và tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã chết trên đường vượt biên bượt biển tìm tư do. Tại mỗi tượng đài có quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và quốc kỳ bản xứ thường xuyên trên đĩnh hai cột cờ. Và đây là ngày khánh thành và địa điểm đặt tượng đài: Ngày 31/8/1991, tại công viên Cabra-Vale, ngoại ô Sydney, Australia. Hai mươi năm sau, ngày 5/3/2011, Dân Biểu Tony Kelly, đại diện bà Thủ Hiến bang New South Wales, chủ tọa lễ khánh thành tượng đài này sau thời gian tân trang và nâng cao tượng đài. Ngày 30/4/1995, tại thủ đô Ottawa, Canada, với “Người Mẹ bồng con chạy trốn cộng sản”. Ngày 7/12/2002, tại thành phố Perth, miền Tây Australia. Ngày 27/4/2003, tại công viên tòa thị sảnh thành phố Westminster, tiểu bang California, nơi được xem là “thủ đô” của Cộng Đồng tị nạn chúng tôi, với tượng “Hai Người Lính Việt & Mỹ”. Ngày 11/6/2005,  tại Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Ngày 16/9/2005, tại thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, Australia. Ngày 30/4/2006, tại thành phố Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia. Ngày 14/10/2006, tại thành phố Hamburg, Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ngày 2/6/2007, tại thành phố Saint Cloud, tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Ngày 22/9/2007, tại thành phố West Valley, tiểu bang Utah, Hoa Kỳ. Ngày 21/6/2008, tại thành phố Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia. Cùng ngày 21/6/2008, tại Montréal, Canada. Ngày 2/11/2008, tại Bagneaux, Pháp quốc. Ngày 25/4/2009, tại thành phố Westminster, California, Hoa Kỳ, với “một gia đình trên chiếc thuyền mong manh trên biển cả”. Ngày 12/9/2009, tại hải cảng Hamburg, Cộng Hòa Liên Bang Đức, với dòng chữ: “Tưởng niệm các đồng hương tị nạn cộng sản đã bỏ mình trên đường tìm tự do”.

Ngoài ra, ngày 12/6/2007, chánh phủ Hoa Kỳ đã khánh thành Tượng đài tưởng niệm 100.000.000 (100 triệu) nạn nhân cộng sản tại thủ đô Wasington DC do Tổng Thống George W. Bush, chủ tọa. Đây là biểu tượng thảm họa kinh hoàng nhất trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của nạn nhân cộng sản -có cả nạn nhân Việt Nam thân yêu của chúng tôi- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ này đến tận cùng gốc rễ của nó, vì “nó” đã lấy đi mạng sống của 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội!

Tôi nhấn mạnh với Các Anh rằng, bất cứ nơi nào có Bia Đá Tưởng Niệm, có Tượng Đài Tưởng Niệm, cơ quan ngoại giao của Các Anh cũng ráo riết vận động với Thị Trưởng thành phố hay Thống Đốc tiểu bang, trong mục đích ngăn chận Cộng Đồng chúng tôi không thể thực hiện, nhưng tất cả đều thất bại nhục nhã. Hơn thế nữa, nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” của Các Anh càng nhục nhã khi yêu cầu Malaysia và Indonesia đục bỏ những dòng chữ trên hai Bia Tưởng Niềm Thuyền Nhân tại hai quốc gia này để xóa bỏ tội ác của họ, nhưng hai mảng trống trên tấm bia trở thành chứng tích tội ác càng rõ ràng hơn. Nhưng suy cho cùng, cho dẫu lãnh đạo của Các Anh có vận động ngăn chận được đi nữa, Các Anh cũng nên nhớ rằng, Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại từ thế hệ đương thời truyền sang những thế hệ kế tiếp, “mỗi người chúng tôi là một Tấm Bia sống, một Tượng Đài sống, một Nhân Chứng sống”, sẽ lưu truyền mãi mãi trong dân gian Việt Nam và trên thế giới, về tội ác kinh hoàng nhất trong dòng sử Việt do CSVN đã gây ra cho dân tộc! Bởi, CSVN đã cắt đất xén biển đem đổi chác dâng tặng cho Trung Cộng, kẻ thù từ trong lịch sử xa xưa đến nay vẫn nguyên vẹn bản chất không chế cai trị các quốc gia chung quanh, CSVN đã phá nát nền văn hoá nhân bản, đã làm băng hoại xã hội đến mức mà mọi người từ đảng viên viên chức nhà nước đến đồng bào, phải sống với nhau bằng muôn ngàn cách lọc lừa dối trá! Trong vô vàn tội ác của CSVN, tội ác phá nát nền văn hoá dân tộc là di hại đến nhiều thế hệ mai sau!

Phần bốn. Những địa phương đã công nhận quốc kỳ Việt Nam. 

Đến ngày 15 tháng 04 năm 2012, quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ đã được các cơ quan hành chánh địa phương chánh thức công nhận theo thứ tự thời gian như sau: (1) Khởi đi từ ngày 19/2/2003 với Nghị Quyết 3750 của thành phố Westminster, tiểu bang California. Ngày 11/3/03, NQ 8486-03, thành phố Garden Grove, California. Ngày 14/4/03, NQ TR-03-07, thành phố Falls Church, Virginia. Ngày 5/5/03, NQ 7300, thành phố Milpitas, California. Ngày 3/6/03, NQ của quận hạt Santa Clara, gồm San Jose và 14 thành phố nữa. California. Ngày 4/6/03, NQ của thành phố Hooland, Michigan. Ngày 18/6/03, NQ 17-2003, thành phố Houston, Texas. Ngày 24/6/03, NQ 03-502, thành phố Saint Paul, Minesota. Ngày 7/7/03, NQ 2003-140, thành phố Pomona, California. (10) Cùng ngày 7/7/03, NQ của quận hạt Fairfax, Virginia. Ngày 15/7/03, Luật số 839, tiểu bang Louisiana. Đây là tiểu bang 1/15. Ngày 30/7/03, NQ của thành phố Sacramento, California. Ngày 30/7/03, NQ 03-1104, thành phố Boston, Massachussetts. Ngày 8/9/03, NQ của thành phố Springfield, Massachussetts. Ngày 12/9/03, NQ của thành phố Oklahoma, Oklahoma. Ngày 16/9/03, NQ 8384, thành phố El Monte, California. Ngày 16/9/03, NQ của thành phố Garland, Texas. Ngày 16/9/03, NQ  R2003-013, thành phố Tumwater, Washington. Cùng ngày 16/9/03, NQ của thành phố Malden, Massachussetts. (20) Ngày 17/9/03, NQ của thành phố Rowley, Massachussetts. Ngày 30/9/03, NQ của thành phố Grand Rapids, Michigan. Ngày 9/10/03, NQ của thành phố Lacey, Washington. Ngày 8/10/03, NQ của thành phố Quincy, Massachussetts. Ngày 20/10/03, NQ của thành phố Doraville, Georgia. Ngày 21/10/03, NQ của thành phố Olympia, Washington. Cùng ngày 28/10/03, NQ của thành phố Lowell, Massachussetts. Ngày 3/11/03, NQ của thành phố Norcross, Georgia. Cùng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Clarkston, Georgia. Cùng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Dekalb, Georgia. (30) Cũng ngày 3/11/03, NQ của thành phố Gwinnett, Georgia. Ngày 4/11/03, NQ của thành phố Lawrence, Massachussetts. Ngày 11/11/03, NQ 03-E-555 của thành phố Arlington, Texas.  Cùng ngày 11/11/03, NQ của thành phố Port Arthur, Texas. Ngày 12/11/03, NQ 461 của thành phố Rainer, Washington. Ngày 18/11/03, NQ 2003 của thành phố Marina, California. Ngày 1/12/03, NQ 1834 của thành phố Puyallup, Washington. Ngày 6/12/03, NQ của thành phố Worcester, Massachussetts. Ngày 8/12/03, NQ 2003-29 của thành phố Lakewood, Washington. Ngày 16/12/03, NQ 3017 của thành phố Fort Worth, Texas. (40) Ngày 13/1/2004, NQ của thành phố Lincoln, Nebraska. Cùng ngày 13/1/04, NQ 04-279 của thành phố Dupont, Washington. Cùng ngày 13/1/04, NQ của thành phố Wichita, Kansas. Ngày 14/1/04, NQ R-2004-670 của thành phố San Diego, California. Ngày 27/1/04, NQ của quận hạt Pierce, Washington. Ngày 29/1/04, NQ của thành phố Philadelphia, Pennsylvania. Ngày 3/2/04, NQ 3975 của thành phố Grand Prairie, Texas. Ngày 10/2/04, NQ của thành phố South El Monte, California. Ngày 17/2/04, NQ của thành phố Stockton, California. Cùng ngày 21/2/04, Resolution của Hạ Viện, Resolution của Thượng Viện, và Proclamation của Thống Đốc tiểu bang New Jersey. Đây là tiểu bang 2/15. 50. Ngày 20/2/04, NQ của thành phố Hartfort, Connecticut. Ngày 24/2/04, NQ của thành phố Centralia, Washington. Cùng ngày 24/2/04, NQ của thành phố University Place, Washington. Ngày 28/2/04, NQ của thành phố Jersey City, New Jersey. Ngày 15/3/04, NQ của thành phố West Hartfort, Connecticut. Cùng ngày 15/3/04, NQ của thành phố Salina, Kansas. Ngày 16/3/04, NQ của thành phố Biloxi, Mississippi. Cùng ngày 16/3/04, NQ của thành phố Orlando, Florida. Cùng ngày 16/3/04, NQ của thành phố Fort Wayne, Indiana. Ngày 24/3/04, NQ 04-72 của Honolulu, thủ phủ tiểu bang Hawaii. 60. Ngày 1/4/04, NQ của thành phố Tampa, Florida. Ngày 12/4/04, NQ của thành phố Syracure, New York.  Ngày 15/4/04,NQ của tiểu bang Virginia. Đây là tiểu bang 3/15. Ngày 16/4/04, NQ 2004R-155 của thành phố Minneapolis, Minnesota. Ngày 20/4/04, NQ 1667 của thành phố Kent, Washingon. Cùng ngày 20/4/04, N! 36154 của thành phố Tacoma, Washington. Ngày 24/4/04, NQ cùa  quận hạt Thurston, Washington. Ngày 30/4/04, NQ 16 của thành phố Saint Louis, Missouri. Cùng ngày 30/4/04, NQ của quận hạt Camden, New Jersey. Ngày 4/5/04, NQ 04 của thành phố West Valley, Utah.  70. Ngày 11/5/04, NQ của thành phố Bonney Lake, Washington. Ngày 3/6/04, NQ của thành phố Seaside, California.  Ngày 7/6/04, NQ của thành phố Vancouver, tiểu bang Washington. Ngày 12/6/04, NQ của tiểu bang Colorado. Đây là tiểu bang 4/15. Ngày 15/6/04, NQ của thành phố Coral Springs, Florida. Cùng ngày 15/6/04, NQ của thành phố Carrollton, Texas.  Ngày 19/6/04, NQ 1866 của tiểu bang Georgia. Đây là tiểu bang 5/15. Ngày 28/6/04, NQ của thành phố Beaverton, Oregon. Ngày 19/7/04, NQ 2003-7-180 của thành phố St. Cloud, Minnesota. Ngày 20/7/04, NQ của thành phố Portland, Oregon. 80. Cùng ngày 20/7/04, NQ của thành phố Eagle Mountain, Utah. Ngày 10/8/04, NQ của quận hạt Marin gồm 10 thành phố, California. Ngày 24/8/04, NQ của thành phố Sugar Land, Texas. Ngày 7/9/04, NQ của thành phố Missouri, Texas. Ngày 4/10/04, NQ 70 của thành phố Indianapolis, Indiana. Ngày 29/10/04, NQ của tiểu bang Florida. Đây là tiểu bang 6/15. Ngày 11/11/04, NQ của thành phố Austin, Texas. Cùng ngày 11/11/2004, NQ của tiểu bang Texas. Đây là tiểu bang 7/15. Ngày 22/11/04, NQ của thành phố Charlotte, North Carolina. Ngày 13/12/04, NQ R-04-156 của thành phố Albuquerque, New Mexico. 90. Ngày 6/2/2005, NQ của thành phố Reading, Pennsylvania. Ngày 3/3/05, NQ 050233 của thành phố Kansas, Kansas. Ngày 11/5/05, NQ SR0097 Thượng Viện & NQ HR0017 của Minnesota. Đây là tiểu bang 8/15. Ngày 17/5/05, NQ của thành phố San Jose, California. Ngày 18/5/05, NQ của thành phố San Antonio, Texas. Ngày 10/6/05, NQ của thành phố Greenville, South Carolina. Ngày 14/6/05, NQ của thành phố Columbus, Ohio. Ngày 5/10/05, NQ của thành phố Greer, South Carolina. Ngày 28/01/2006, NQ của thành phố Allentown, Pennsylvania. Ngày 26/4/06, NQ 126-06 của thành phố Pennsauken, New Jersey. 100. Ngày 3/6/06, NQ của quận hạt San Diego, California. Ngày 5/8/2006, Sắc Lệnh S-14-06 của tiểu bang California. Đây là tiểu bang 9/15. Ngày 19/8/06, Luật của Ohio. Đây là tiểu bang 10/15. Ngày 10/11/06, NQ của 642-06 của thành phố San Francisco, California. Ngày 3/12/06, NQ của thành phố Davenport, Iowa.  Ngày 16/12/06, NQ SA 148-HR16 của tiểu bang Michigan. Đây là tiểu bang 11/15. Ngày 13/4/07, NQ của tiểu bang Oregon . Đây là tiểu bang 12/15.  Ngày 26/4/07, NQ của tiểu bang Nebraska. Đây là tiểu bang 13/15.  Ngày 30/4/07, Tuyên Cáo của tiểu bang Utah. Đây là tiểu bang 14/15. Ngày 1/1/2008, NQ của thành phố Sunnyvale, California. 110. Ngày 2/2/2009, NQ 85A của thành phố Santa Ana, California. Ngày 26/5/2009, NQ của thành phố Stanton, California. Ngày 16/6/2009, NQ của thành phố Costa Mesa, California. Ngày 15/05/2009, NQ 27 của tiểu bang Oklahoma. Đây là tiểu bang 15/15. Ngày 18/11/2009, NQ của Quân Hạt Lancaster, Pennsylvania.  Ngày 26/03/2010, NQ 2010-21 của thành phố Rosemead, California. Ngày 18/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Auburn, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Renton, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Federal Way, Washington. Ngày 22/10/2010, Tuyên Cáo của thành phố Bellevue, Washington. 120. Ngày 22/10/2010, NQ của thành phố Seattle, Washington. Ngày 18/01/2011, Tuyên Cáo của thành phố Lyberty Lake, Washington. Ngày 18/01/2011, Tuyên Cáo của thành phố Raleigh, North Carolina. Ngày 25/01/2011, NQ của thành phố Fountain Valley, California. Ngày 13/2/2011, Tuyên Cáo của thành phố Taconma, Washington. 125. Ngày 16/2/2011, Tuyên Cáo của thành phố Millwood, Washington.

Sơ kết 125 địa phương đã công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, gồm: 15 tiểu bang, 8 quận hạt, 102 thành phố,  và các địa phương này thuộc 29 tiểu bang theo thứ tự mẫu tự sau đây: (1) California. (2) Colorado. (3) Connecticut. (4) Florida. (5) Georgia. (6) Hawaii. (7) Indiana. (8) Iowa. (9) Kansas. (10) Louisiana. (11) Massachussetts. (12) Michigan.  (13) Minnesota. (14) Mississippi. (15) Missouri.  (16) Nebraska. (17) New Mexico. (18) New York. (19) New Jersey. (20) North Carolina. (21) Oklahoma. (22) Ohio. (23) Oregon. (24) Pennsylvania. (25) South Carolina. (26) Texas. (27) Utah. (28) Virginia. (29) Sau cùng là tiểu bang Washington.

Chắc Các Anh ngạc nhiên về rừng quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của chúng tôi lắm phải không, vì tôi tin là chưa bao giờ Các Anh biết đến nội dung thư này? Thêm nữa, riêng tại Hoa Kỳ chỉ có 3 lá cờ của nước Việt Nam cộng sản tại Washington DC, San Francisco, và Houston. Lá cờ với nền đỏ, biểu tượng dòng máu của người dân Việt đã phủ trên toàn cõi Việt Nam do cộng sản gây ra, còn ngôi sao vàng biểu tượng “đỉnh cao gian trá” cai trị trên hằng chục triệu xác chết của đồng bào. Trong khi đó, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của đồng bào Việt Nam chọn chế độ dân chủ - tự do - nhân quyền, phất phới song song với quốc kỳ của Hoa Kỳ 24/24 giờ, 7 ngày trong tuần, 365 ngày trong năm, và từ năm này sang năm khác.         

Phần kết.

Các Anh hãy nhìn lại lịch sử thế giới, chưa có trường hợp nào tên một quốc gia không tồn tại mà quốc kỳ của quốc gia đó vẫn tồn tại trong những trường hợp khác nhau trên thế giới, như quốc kỳ của người Việt Nam tự do chúng tôi.

Với trận chiến này, Cộng Đồng chúng tôi khắp nơi liên tục vận động với cơ quan hành chánh địa phương, để quốc kỳ biểu tượng cho dân chủ tự do và  nhân quyền của Cộng Đồng Việt Nam chúng tôi ngày càng được công nhận nhiều hơn. Mặt khác, trong một mức độ nào đó, đã thể hiện nhãn quan của những nhà chính trị trong những cơ quan Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ cấp tiểu bang, quiận hạt, và thành phố, vì những bài học kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trường cho thấy sự kiện chính trị nào cũng mang theo nét nhìn riêng của nó. Và chiến thắng này là điều nhức nhối của lãnh đạo đảng với nhà nước Các Anh. Cái đau của lãnh đạo CSVN, nhất là lãnh đạo ngành ngoại giao Việt Nam đã thấu hiểu sự nhức nhối đó hơn ai hết,  nhưng không có bất cứ phương cách nào ngăn chận được. 

Đúng như một đoạn trong bài viết “A Flag For Freedom”  (Lá Cờ Cho Tự Do) đăng trên nhật báo “Sydney Morning Herald” phát hành ngày 21/7/2008: “… Cuộc chiến có thể đã chấm dứt, nhưng đối với nhiều người trong Cộng Đồng người Việt ở Sydney thì không. ... Mặc dù đó là một biểu tượng không có quốc gia, và  nó bị cấm tại quốc gia nguyên thủy của nó. Đây là quốc kỳ của nước Việt Nam Tự Do”.

Tôi mong Các Anh bình tâm mà nhìn chuỗi sự kiện đã và đang diễn ra, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Các Anh hãy đứng trong hàng ngũ tuổi trẻ, trí thức, đồng bào, giành lại quyền `làm người cho 89 triệu đồng bào được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị, được ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh lịch sự, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam du lịch, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.

Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những `Người Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.  


                                  “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”

Phạm Bá Hoa
Texas, tháng 4 năm 2012
 -------------------

37 Năm Một Thiên Đường Quái Đản: Nói là Bị " Đi Tù"

Chuyện dài công an hành dân: Lại triệu tập


Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang
 Tám giờ ba mươi phút sáng 10 tháng 4 năm 2012, xe ôtô công an lại đến “đón” tôi. Vì không muốn bị khiêng lên xe như blogger Nguyễn Tường Thụy cách đây hai hôm, vì tuổi già “dĩ hòa vi quý” tôi đành nghiêm chỉnh chấp hành lệnh triệu tập, theo công an lên xe.
Tại trụ sở Cơ quan An ninh Điều tra, tôi được đối diện với một thượng tá công an.
Ông chìa ra Bản Tuyên cáo đề ngày 1 tháng 11 năm 2011 của bác sỹ Nguyễn Đan Quế và hỏi:
*Có phải ông đã ký tên vào Bản Tuyên cáo này không?
- Vâng, tôi đáp
* Ông đồng ý với nội dung Tuyên cáo này à?
- Vâng
* Các ông đòi thả ngay và vô điều kiện những người này à? (Nguyễn Hữu Cầu, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Lia, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung… và các bà Mai Thị Dung, Đỗ Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần…).
- Vâng!
* Ông gọi họ là những tù nhân lương tâm. Ông hiểu thế nào là tù nhân lương tâm?
- Họ là những người có hoạt động liên quan đến chính trị, bị kết án tù oan và sai!
* Các ông bảo Nhà nước ta vi phạm pháp luật à?
- Vi phạm các công ước quốc tế, vi phạm cả Hiến pháp và pháp luật Việt Nam!
* Ông biết tất cả những người mà ông đòi thả vô điều kiện?
- Một số trong họ tôi đã được gặp trực tiếp, số khác tôi biết qua internet, một vài người tôi không rõ lắm!
* Không rõ sao vẫn ký tên đòi thả?
- Tôi làm phép ngoại suy: Đa số trong danh sách nêu ở Bản Tuyên cáo là đúng thì vài người kia chắc cũng giống thế. Và chăng, tôi đối chiếu từ chính bản thân mà ra. Ông là một trong những người đặc trách về tôi, xin ông vui lòng kể cho tôi nghe tôi đã phạm những tội gì? Vậy mà, gần hai chục năm qua, đã gần chục lần khám nhà, gần chục lần bắt đi thẩm vấn,.. rồi đem ra phường đấu tố, rồi bỏ tù ….Các ông còn giữ của tôi mấy tạ tài liệu. Những tài liệu ấy có thể các ông còn tiếp tục “ngâm cứu”. Nhưng máy tính thì đề nghị “thả” về cho tôi chứ. Nó vô tội mà!
* Ông chưa phạm tội nhưng người khác phạm tội, ông không thể nói Nhà nước vi phạm pháp luật!
 - Còn khốn nạn hơn vi phạm pháp luật! Ông thấy đấy, người ta đã tìm mọi cách bôi bẩn, nhục mạ tôi. Văn thư, thông báo, cán bộ Văn hóa – Tư tưởng, cán bộ Tuyên giáo … của Đảng thả sức rêu rao tôi là kẻ bất mãn, cơ hội, cấp tiến, phản bội, phản động, gián điệp, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân ….
* Chuyện của ông hãy để lúc khác, hôm nay không bàn ở đây!
- Hàng chục bài đăng trên nhiều loại báo của Đảng chưa bao giờ dám trích một câu nào, một đoạn nào của tôi để chứng minh răng tôi đã nói không đúng hay nói sai sự thật nhưng cứ thế xa xả chửi rủa, lăng mạ tôi. Duy nhất một lần họ trích ý kiến tôi bảo rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa nhưng xuyên tạc rằng tôi nói cuộc kháng chiến chống Mỹ là phi nghĩa. Thế là họ huy động bọn què chân cụt tay du thủ du thực xưng là thương binh ầm ầm biểu tình trước ngõ nhà tôi, xông vào nhà gây sự hành hung …. Càng đê tiện hơn khi họ bịa chuyện, làm cho một số anh em dân chủ hiểu nhầm tôi, rồi kích động mấy anh em đó tiếp tay cho các ông lăng mạ, lên án tôi để tự bôi bẩn phong trào, gây chia rẽ nội bộ, cô lập tôi. Thế mà không vi phạm pháp luật à! Phạm pháp … và vô đạo, và ty tiện nữa ấy chứ. Bọn kẻ cướp phạm pháp nhưng không ty tiện, đểu giả như vậy.
* Đề nghị ông nói vừa nghe và nên dừng lại!
- Cả đời tôi chưa hề nghiện bất cứ thứ gì nhưng báo của Đảng tố cáo tôi ăn bới tiền nhuận bút của anh em viết cho Tâp san Tổ Quốc, để uống rượu …
Cuộc đấu khẩu cứ thế diễn ra suốt một buổi. Tôi không kìm chế được nên nhiều lúc nhỡ nói rất to, tuy nhiên, vẫn chờn chợn đợi những lời phán ghê gớm nào đó. Song lặng đi một lúc, rồi ông ta bê ra một chồng tướng các bài lấy trên mạng xuống được in ra rất đẹp.
*“Ngôi sao bị nhốt”, bài này của ông phải không?
- Vâng!
“Yếu tố nhân quyền và dân chủ trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, bài này của ông phải không?
Vâng!
“Như dã thú ăn thịt con mình”, bài này của ông phải không?
Vâng!
… Và “Một mầm Gorbasev ở Việt Nam bị diệt”, và “Trông mong gì được”, và “Nỗi bất mãn thánh thiện” vv …
Ông ta kiên nhẫn ghi tên gần hai chục bài viết gần đây của tôi cùng những nội dung đã trình bầy trên thành một biên bản.
Tôi phải ký bốn chữ ký, mỗi trang một chữ.
Rồi ra về, mặc cho các ông ấy định làm gì nữa.
Tôi không muốn kể chuyện này làm gì nhưng viết ra đây để may ra các ông lãnh đạo ngành công an và lãnh đạo ĐCSVN đọc được câu này: “Xin các ông đừng tiếp tục hành hạ tôi nữa, đừng làm mất thì giờ tôi. Tôi đã 76 tuổi, không còn gì để sợ hơn sợ sự mệt mỏi, ươn hèn của mình. Quỹ thời gian của tôi rất eo hẹp nhưng tôi còn rất nhiều việc phải làm mà riêng tôi nghĩ chắc là cần thiết và có thể có ích cho nhân dân tôi, đất nước tôi”.

Hà Nội 11 tháng 4 năm 2012
Nguyễn Thanh Giang
DienDanCTM
 

37 NĂM CƯỚP BÓC VẬT CHẤT LẪN TINH THẦN

BÁN NGUYỆT SAN TỰ DO NGÔN LUẬN SỐ 145


 37 NĂM CƯỚP BÓC VẬT CHẤT LẪN TINH THẦN

http://vanganh.info/wp-content/themes/blognews/timthumb.php?src=http%3A%2F%2Fvanganh.info%2Fwp-content%2Fuploads%2F2012%2F04%2F7b784f8a.jpg&q=90&w=460&h=260&zc=1

“Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc…”, lời nói đi vào lịch sử ô nhục ngàn đời của đảng CSVN từ miệng tổng bí thư Lê Duẩn đã toát lên được bản chất và mục tiêu của cái gọi là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” mà Hà Nội sắp tổ chức kỷ niệm lần thứ 37. Đánh cho Liên Xô bành trướng đế quốc CS khắp toàn cầu theo dự tính của Stalin! Đánh cho Trung Quốc mở rộng bờ cõi Đại Hán xuống Đông Nam Á theo ý đồ của Mao chủ tịch! (Đang khi Đông Đức không hề có ý định chiếm Tây Đức và Bắc Hàn chẳng nuôi mộng chiếm Nam Hàn). Đoàn quân dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN năm nào thành ra chỉ là một lũ đánh thuê! Đánh thuê nên khi chiến thắng tháng 4-1975, chỉ làm có mỗi một việc là ăn cướp! Cướp cho bõ những năm tháng dài thiếu thốn tại miền Bắc vì vừa do dồn sức cho cuộc xâm lăng, vừa do điều hành kinh tế tồi tệ kiểu CS. Cướp cho bõ những tháng ngày đói khổ trong các cánh rừng thuộc dãy Trường Sơn, chỉ sống bằng lời thơ hay bản nhạc ru ngủ chết người của những tay bồi bút kiểu Tố Hữu.


1- Cướp đủ thứ, cướp đủ nơi, cướp đủ kiểu! Cách trắng trợn thì hoặc xông vào những ngôi nhà của người dân chạy giặc bỏ lại, nhất là vào nhà của “ngụy quân ngụy quyền” mà vơ vét của cải, thậm chí đuổi gia chủ để chiếm gia cư, theo lời mách nước của một cán bộ hạng gộc: “Nhà ngụy ta ở! Vợ ngụy ta lấy! Con ngụy ta sai!”; hoặc tổ chức “bán bãi” để thu vàng (có khi lên tới 12 lượng/người) của những ai chỉ muốn chạy trốn khỏi thiên đường Cộng sản. Cách hợp pháp thì đưa ra đủ chính sách: nào “xây dựng quê hương mới” để trục xuất thị dân ra khỏi phố phường, đẩy họ lên những “vùng kinh tế” heo hút xa xôi, rừng thiêng nước độc mà chiếm nhà cửa; nào “mời người Hoa về lại tổ quốc” từ Hòn Gai, Hải Phòng vào đến Vũng Tàu, Chợ Lớn để đoạt lấy toàn bộ cơ ngơi của họ; nào “cải tạo công thương nghiệp” để tịch thu máy móc, nhà xưởng của giới thương gia, kỹ nghệ gia từng xây dựng nền kinh tế trù phú của miền Nam; nào “thực thi sắc lệnh, pháp lệnh tôn giáo” (hay nếu cần thì ngụy tạo những vụ án phản động) để tước đất đai, thánh thất, trường học, cơ sở bác ái của các Giáo hội… Thế nhưng vì ăn cướp để hưởng thụ bù trừ, chỉ phá đổ chứ không xây dựng thực sự (trong đó có việc làm tiêu biến 16 tấn vàng công khố quốc gia do chính phủ VNCH để lại), nên sau hơn 10 năm “giải phóng”, đất nước phải đứng bên bờ vực thẳm.

Thế là đảng ta đành đưa ra đường lối mới: “xây dựng nền kinh tế thị trường”, “mở cửa cho ngoại quốc đầu tư”, “thiết lập khu chế xuất công nghiệp”… nhưng đó cũng chỉ là chiêu bài để cướp tiếp đất đai nhà cửa của thị dân lẫn nông dân, gây bao cảnh “án ngờ lòa mây, tiếng oan dậy đất”, mà vụ Đoàn Văn Vươn tuyệt vọng chống lại nhà cầm quyền Tiên Lãng, Hải Phòng đầu năm nay và vụ nông dân Văn Giang, Hưng Yên đang phản đối dự án Ecopark cách vô vọng là những ví dụ. Chính sách cướp thổ canh thổ cư của dân này được chính thức hợp pháp hóa qua “Luật đất đai” năm 1993, vốn khẳng định “nhà nước -tức đảng CS, chính quyền địa phương, cán bộ sở tại- đại diện sở hữu” (và thực sự sở hữu, có người lên đến cả ngàn mẫu), nông dân thì chỉ được giao hay thuê trong vòng 20 năm. Luật này không hy vọng được sửa đổi khi đáo “hạn điền” năm tới, bởi lẽ đảng viên hết trở thành địa chủ để nên tài chủ thì làm sao đảng còn là tôn chủ? Còn đối với tôn giáo, những đất đai cơ sở nào mà nhà cầm quyền đã “tạm mượn” trước năm 1991 thì không bao giờ được trả lại theo Nghị quyết 23 năm 2003 và Chỉ thị 1940 năm 2008. Hiện nay, nếu cần thì nhà nước sẽ cướp tiếp, như đất đai của giáo xứ công giáo Cồn Dầu, khu du lịch sinh thái Đá Bia của giáo phái Phật giáo Ân Đàn Đại Đạo….


Gần đây, sau vụ làm ăn gian lận và lỗ lã của các đại công ty nhà nước, cụ thể là tập đoàn tàu thủy Vinashin với 4 tỷ đôla nợ nần, các tập đoàn Sông Đà, PetroVietnam… với 1,5 tỷ đôla sai phạm, khiến cho dự trữ quốc gia ngày càng vơi rỗng, đang lúc các chủ nợ réo bên tai, nhà nước vừa ra Nghị định 24/2012, chủ yếu cấm tư nhân, công ty, tập đoàn “sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán” (cho vay, mua hàng, trả nợ), mà chỉ được bán vàng cho cho nhà nước để nhận lại một số tiền tương đương. Nghĩa là kể từ 25-5-2012, bất cứ giao dịch nào thực hiện bằng vàng miếng sẽ bị phạt từ 50 tới 100 triệu đồng cùng tịch thu tang vật. Theo nhận định của các chuyên gia, sau chuyện cướp đất quanh nhà, cướp nhà nơi ở, đây là lúc Cộng sản xông vào buồng để cướp thứ của quý giá cuối cùng của người dân.


2- Nhưng đó chỉ là hành vi ăn cướp vật chất. Cộng sản còn cướp cả tinh thần, một điều mà các thế lực ngoại chủng như đô hộ Tàu, thực dân Pháp hầu như đã không làm đối với người Việt dù họ cai trị hơn cả ngàn năm hoặc gần cả trăm năm. Và đây mới là điều kinh khủng cho Dân tộc. Vốn là một chế độ toàn trị, Cộng sản muốn xây dựng không những một lối chính trị mới, một kiểu kinh tế mới mà còn cả một nền văn hóa mới, tức là uốn nắn ý thức, lèo lái lương tâm, kiến tạo một niềm tin yêu và hy vọng khác hẳn để phục vụ cho tham vọng thống trị muôn năm của mình. Do đó, trong 37 năm qua, nhờ nhồi sọ tuyên truyền, nhờ giáo dục đầu độc, nhờ ban ơn phát huệ, nhờ hăm dọa cưỡng bức, đảng trước hết nhắm cướp tinh thần của các thành phần có ảnh hưởng trong xã hội.


Đầu tiên là làm mai một lý tưởng “tận trung với nước với dân” mà bao người, vì thiện chí ban đầu và hăm hở tuổi trẻ, đã muốn chọn lấy khi vào đảng. Thế là những đảng viên đang nắm quyền lực lớn nhỏ rốt cuộc coi mình đứng trên đầu nhân dân, ngồi xổm trên pháp luật, ứng xử như những chủ tể quyền hành tuyệt đối ở trung ương và những lãnh chúa quyền uy tối thượng ở địa phương, bao che nhau phạm sai lầm và làm tội ác mà chẳng hề sợ công luận. Tiếp đến, đối với thành viên Quốc hội, CS đã làm tiêu biến ý thức đại diện nhân dân. Vì mang ơn đảng đã lựa chọn, các đại biểu này hiếm khi nói ngược ý kiến của Bộ Chính trị, đường lối của Trung ương đảng, một chỉ biết nhanh chóng hợp thức hóa các “chủ trương lớn”, “quyết sách to” từ trên, như công hàm bán nước năm 1958, hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, vụ khai thác Bauxite Tây Nguyên năm 2008, dự án nhà máy điện hạt nhân năm 2009… Hầu như họ chỉ làm trò mỵ dân trong những cuộc gặp gỡ cử tri địa phương, làm trò trình diễn trong những cuộc chất vấn các bộ trưởng. Thậm chí có đại biểu còn đề xuất luật cấm biểu tình. Đối với các viên chức công quyền, CS đã tiêu diệt tinh thần phục vụ công chúng. Điều này dễ dàng, vì họ là những kẻ đã được đảng tuyển chọn qua trò hề bầu cử hội đồng nhân dân. Bởi thế đa số đã ứng xử như những hung thần bản địa, hống hách khinh người, bóc lột nhân dân, tích lũy của cải hơn là làm công bộc. Toàn bộ viên chức thành phố Hải Phòng, huyện Tiên Lãng, xã Vinh Quang trong vụ Đoàn Văn Vươn là một điển hình. Đối với giới công an cảnh sát, đảng đã xóa sạch ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân. Bị nhồi sọ bởi tư tưởng: được đảng gầy dựng, lãnh đạo, trả lương, làm thanh kiếm và lá chắn bảo vệ đảng, chỉ biết “còn đảng còn  mình”, lực lượng này ngày càng trở thành công cụ đàn áp dân chúng một cách côn đồ vô học, thâm độc tàn nhẫn, đánh người tay không run, giết người tâm chẳng động. Thành tích của họ là hàng chục nạn nhân bị chết trong đồn, hàng trăm nạn nhân bị đánh nhừ tử (con số thống kê được). Nạn nhân gần nhất là chị Trần Thị Nga ở Hà Nam, linh mục Nguyễn Văn Bình ở Hà Nội. Đối với lực lượng quân đội, đảng đã hầu như làm tan biến tinh thần bảo vệ Tổ quốc. Thay khẩu hiệu “Trung với nước” bằng khẩu hiệu “trung với đảng”, rồi được làm kinh tế tự do, quân đội đã thực sự trở thành công cụ, chỉ ham làm giàu (nhất là hàng tướng lãnh, như Ngân hàng quân đội của Phùng Quang Thanh, Truyền thông Viettel của Nguyễn Chí Vịnh, Hàng không vận tải biển của Ngô Xuân Lịch…), quên lãng bổn phận bảo vệ Tổ quốc, bỏ mặc ngư dân cho sự sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát của Tàu Cộng. Đối với giới luật sư (nhất là hạng thẩm phán), đảng đã làm thui chột ý thức bảo vệ luật pháp và lẽ phải. Họ bị buộc trở thành công cụ của đảng, nhất là trong các vụ án chính trị. Tại những phiên tòa này, họ xử theo chỉ chị từ trên với các «bản án bỏ túi». Chưa biết lúc nào họ sẽ bị buộc tuyên thệ trung thành với đảng như bên Trung Quốc. Đối với giới y bác sĩ, đảng đã dần dần cướp mất tâm hồn thương xót và phục vụ bệnh nhân. Cảnh bỏ mặc những ca cấp cứu chưa nộp tiền, đòi hối lộ mới săn sóc chu đáo, cung cấp thuốc vượt nhu cầu điều trị, ăn hoa hồng quá độ nên dược phẩm bị đẩy giá lên tận trời là chuyện cơm bữa, khiến nhân dân coi đa phần trong họ là những kẻ khai thác nỗi khổ đau của con người, và có nơi đã phản ứng bằng cách hành hung y bác sĩ. Đối với giới giáo chức, CS đã dần dần tước đoạt lương tâm nghề nghiệp. Lý do cơ bản là nền giáo dục VN bị chính trị hóa, nhắm nhào nặn những thần dân phục tùng đảng hơn là những công dân phục vụ xã hội, do đó CS huấn luyện ra những thầy cô «hồng hơn chuyên». Trong thực tế, đã có vô số vụ việc thầy bạo hành trò, đổi tình lấy điểm, bắt nữ sinh làm điếm, cấm sinh viên biểu tình chống quân xâm lược… Đối với giới truyền thông và văn hóa, CS nỗ lực làm cho họ trở thành nô ngôn, bồi bút, sẵn sàng xuyên tạc sự thật, chà đạp lẽ phải, vu vạ các công dân yêu nước hầu bênh vực chế độ. Điều này đặc biệt thấy rõ nơi những tờ báo như An ninh Thế giới, Hà Nội mới, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân…  Đối với giới tu hành, CS càng không tha và luôn tìm cách cướp đi tinh thần làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi họ. Từng phỉ báng tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ, CS nay lại muốn tôn giáo trở thành thuốc phiện thực sự. Và họ đang làm được điều đó với những chức sắc chỉ còn biết an thân, lo chuyện xây dựng đền thờ, tổ chức lễ hội, hoàn toàn dửng dưng trước cảnh đồng bào bị đàn áp, xã hội băng hoại, tổ quốc lâm nguy…

Tất cả những hành vi cướp bóc trên đều quy về mục tiêu tối hậu: làm cho toàn thể nhân dân sống với trí óc bưng bít, tâm hồn sợ hãi, ý chí bạc nhược, làm cho toàn thể xã hội ngập trong gian dối, bạo lực và vô cảm, nghĩa là cướp mất tinh thần của Dân tộc, để đảng có thể an tâm thống trị, dù phải dâng đất nước cho ngoại bang. May thay, tinh thần này không bị cướp mất nơi những nhà dân chủ đối kháng quyết liệt, những trí thức phản biện thẳng thắn, những chức sắc tôn giáo dũng cảm và những dân oan can đảm đấu tranh!


BAN BIÊN TẬP


Tuổi Trẻ Nghĩ Về 30-4... :“ Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô tuyên truyền!

 Tuổi Trẻ Nghĩ Về 30-4...

Hòa bình là ước mơ đẹp nhất của nhân loại. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, không phải nền hòa bình nào cũng y hệt nhau.

Do vậy, ngay cả tuổi trẻ sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người sinh trong nền hòa bình và thống nhất của đất nước, cũng có những suy nghĩ độc lập với tuyên truyền của nhà nước Hà Nội.

Tất nhiên, nếu bạn muốn đọc truyền thông lề phải thì dễ tìm và cũng quen tai rồi: chỉ cần vào các trang web của báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, và nhiều trang tương tự ở Hà Nội. Nơi đó, các tiếng nói đều xuất phát từ một dàn đồng ca vĩ đại. Nhưng rồi không phải ai cũng tin vào điều mình được nghe, được đọc và được nhồi sọ. Duy có điều phải hiê:u những tiếng nói dị biệt không có quyền xuất hiện trên các trang web lề phải như thế.

Một tiếng nói lề trái là Đài phát thanh Chân Trời Mới trong ngày Thứ Ba, 4 Tháng Năm 2010, đã phát đi một số tiếng nói của giới trẻ nghĩ về ngày 30 tháng 4, sau 35 năm thống nhất. Trích một số đoạn như sau:

“Kim: Nói chung là chẳng mấy ai quan tâm về ngày này. Bước sang câu hỏi thứ nhì là “Sau 35 năm nhìn lại, VN và dân tộc chúng ta học được bài học gì?”… Thì blogger Mẹ Nấm trả lời là: Có một bài học lớn không bao giờ học được đó là : SỰ THA THỨ, và blogger Tarazx thì cho đó là 35 năm lãng phí, hao mòn, và nhiều điều ngu xuẩn…

Thủy Tiên: bạn Tiến Nam từ Trong nước, đã gửi thư trả lời 3 câu hỏi như sau:

Ngày 30 tháng 4 đã mang đến cho Tiến Nam 1 cảm giác mất mát không phải do ý nghĩa như nhà nước nói là sự giải phóng miền Nam mà là 1 sự mất mát không đáng có của dân tộc Việt Nam. Đó là 1 cuộc nội chiến Nam Bắc đã làm bao nhiêu máu xương đổ ra mà người được hưởng lợi không phải là dân tộc Việt Nam…

Bài học của dân tọc Việt Nam 35 năm nay thì mọi người đã biết là từ 1 hòn ngọc Viễn Đông giờ Việt Nam thành 1 sọt rác của thế giới, họ chỉ coi Việt Nam là 1 sọt rác.

Nhìn về tương lai đất nước thì Tiến Nam nghĩ Việt Nam bây giờ muốn trở lại vị thế đáng có của mình cần có sự thay đổi toàn diện để nhân tài được trọng dụng; người xứng đáng được lãnh đạo đất nước. Không còn cảnh đảng chỉ định; nhân dân bỏ phiếu...” (hết trích)

Trong khi đó, trên trang web Dân Làm Báo, người viết Hoàng Thanh Trúc qua bài nhan đề “Thưa cô - em cũng muốn tin nhưng không thể!” đã phóng tác từ nội tâm một sinh viên năm 2 Khoa học Xã hội Nhân văn Sài Gòn có tên là Lê Vũ Cát Đằng.

Bài này độc đáo là để trả lời một cô giáo môn Sử sau khi cô nói về “đề tài bài tham luận: '37 mùa xuân Đại Thắng' nói về 'chiến công thần thánh' của quân dân ta chống 'đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước'...”

Chàng sinh viên năm thứ 2 qua trình bày của tác giả Hoàng Thanh Trúc đã viết:

“...Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: "Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô! em nghĩ như vậy…”

Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản "12 người làm nên nước Nhật" của Giáo Sư Tiến Sĩ: Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.

Trong danh sách "12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh" - 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku, (2) Chính khách: Hikaru Genji, (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo, (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga, (5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari, (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu, (7) Triết Gia: Ishida Baigan, (8) Chính Khách: Okubo Toshimichi, (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi, (10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur, (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato, (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.

Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu ”Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản... trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.

Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của "Thần Nữ Thái Dương".

"Nhân vô thập toàn" Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể.

Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy. Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hóa được phần phía Đông, giã từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?

Thưa cô! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất "xâm lược" ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình? Và đạo quân "xâm lược" này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà "màu mỡ" về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần. Nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến "xâm lược" thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?

Thưa Cô! Làm sao biện minh? 45.000 quân "xâm lược" Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.

Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định...” (Hết trích, toàn văn đọc ở: danlambaovn.blogspot.com)

Đó là tiếng nói của tuổi trẻ thế hệ sinh sau 30-4-1975. Họ nói bằng những sự kiện lịch sử, không dựa vào sự mơ hồ ngụy biện nào khác: rằng Nhật, rằng Đức, rằng Nam Hàn... là những quôc gia cho thấy cuộc chiến đấu của quân đội Mỹ hoàn toàn không phải là đế quôc xâm lược, giành đất, giành biển... như Trung Quốc đang thực hiện với Việt Nam.

Hãy nhìn ngay các gia đình cán bộ với làn sóng gửi con du học sang Mỹ... thì biết. Tại sao lại bỏ trốn thiên đường xã hội chủ nghĩa VN? Đó là những sự thật ai cũng thấy, cũng biết, nhưng báo nhà nước không được đăng tải.
Tác giả : Trần Khải
----------- 

 Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô ! em nghĩ như vậy…”

(Bài viết phóng tác từ nội tâm một sinh viên năm 2 Khoa học xã hội nhân văn Sài Gòn)
“ Kính thưa Cô .
Đến tận bây giờ , gõ những giòng E-mail trần tình này gửi đến Cô em vẫn còn trách ông trời, phải chi cuối tiết “Lịch Sử” hôm ấy trời đừng mưa to thì giảng đường Đại Học không ai còn ngồi lại và Cô cũng đâu có thời gian trò chuyện khuyến khích sinh viên mình… và hôm nay em cũng không phải gõ mail này gửi Cô mà em biết khi đọc Cô sẽ không vui….

Em còn nhớ bữa ấy lời Cô nói “Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, được tái hiện lại, trong hôm nay và ngày mai, phải trung thực, chân thật nhằm cho người sau biết và lấy đó làm kinh nghiệm, xấu xa sai trái thì tránh nếu tốt đẹp có ích thì tự hào để nhân bản thêm lên, vì vậy đề tài bài tham luận : “37 mùa xuân Đại Thắng” nói về “chiến công thần thánh” của quân dân ta chống “đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước” của mỗi bạn, cần phải gọt dũa đánh giá cho xứng tầm vĩ đại của dân tộc, trong khi chờ mưa tạnh, chúng ta cùng nói chuyện bên lề ngoài tiết học, các bạn còn điều gì lấn cấn chưa rỏ ở chiều sâu và rộng của bài tham luận mà mỗi bạn sẽ phải hoàn thành, thì cứ hỏi Cô, xem như bạn bè thoải mái bày tỏ quan điểm khách quan và thắc mắc của mình để chúng ta rộng đường suy luận mà viết bài cho sắc sảo có tính thuyết phục cao, ở đây có nhiều bạn theo khoa “báo chí” mà ! nào mời các Phóng Viên tương lai nói chuyện chuyên đề, chờ mưa tạnh…” Và Cô cười, nụ cười giao lưu rất thoải mái .
Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô : “ Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa cô ! em nghĩ như vậy…”. Sau lời nói, thoáng nhiên giảng đường im phăng phắt làm em chột dạ bối rối thấy mình tự nhiên như đông cứng lại tại chổ ngồi… Em nhớ, nghe xong lời em Cô quay nhanh bước ra gần cửa sổ ngóng màn mưa ngoài trời một thoáng rồi trở lại, Cô nhìn em trong ánh mắt tuồng như rất giống ánh mắt mẹ em khi đi chợ nhìn người bán hàng trước khi trả giá mua, Cô nói với riêng em một câu ngắn gọn nhỏ thôi đủ cho em nghe : “Hình như bạn đùa không phải lúc ”…. rồi bình thản cô quay lên bục giảng lấy áo mưa, chần chừ chờ giảng đường thưa người Cô ra về sau cùng, không mang theo áo mưa nên em ngồi nán lại, đi ngang qua, Cô dừng chân, như thầy giáo nhắc bài học trò, cô nói với em: “bạn cần phải lên thư viện nhiều hơn, tìm trong sách, ở đó có nhiều câu trả lời cho vấn đề của bạn vừa nêu ra, tôi nghĩ, không khéo danh hiệu Đoàn Viên Thanh Niên CS/HCM ưu tú, xuất sắc, đối tượng của đảng nơi bạn sẽ lung lay…”
Thưa Cô ! mail này của em – Chắc chắn nó không phải là chất liệu để em trông đợi giữ cho chặt lại cái danh hiệu “ưu tú-xuất sắc” ấy mà đơn giản em muốn chứng minh thông điệp – Lời cô nói – Lịch sử rất cần sự “trung thực, chân thật” . Thưa Cô ! Không phải vui đùa đâu ạ ! mà em nói thật lòng : “Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì… không phải vậy ..” xin phép cô, cho em giữ nguyên nhận định này của mình dù em biết có những di lụy nhất định không mong đợi … Bởi vì có rất nhiều dẫn chứng để “ Ai đó có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người ” (Abraham Lincoln) nói lên điều này em biết Cô sẽ phiền lòng . Nhưng….
Thưa Cô ! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản “12 người làm nên nước Nhật” của Giáo Sư Tiến Sĩ : Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết !) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Ủy Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.
Trong danh sách 12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh : “12 người đã lập nên một nước Nhật” hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số “10” không phải là người Nhật: (1) Thái tử: Shotoku – (2) Chính khách: Hikaru Genji (3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo – (4) Anh Hùng: Oda Nobunaga – (5) Kỷ Sư: Ishida Mitsunari – (6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu – (7) Triết Gia: Ishida Baigan – (8) Chính Khách: Okubo Toshimichi – (9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi – (10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur – (11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato – (12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.
Ông ta, chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ – Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu “Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong đệ II thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của CP/Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và CP/Mỹ chiếm đóng Nhật Bản…. trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương ? .
Phải là người có nhiều công trạng thực tiển mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của “Thần Nữ Thái Dương” .
“Nhân vô thập toàn” Thưa Cô ! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm,nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay yếu điểm không còn là đáng kể .
Cuối đệ II thế chiến, ở Đông nam Châu Á, Đạo quân Mỹ hùng mạnh chỉ huy bởi Tướng MacArthur đã đánh bại quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia giải phóng Philippines, hổ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản . Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị CS Bắc Hàn nuốt chửng . Nhưng Thưa Cô ! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy, vì sao vậy ? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược ?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nữa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần sâu xé Tây Đức mà ngược lại bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hoá được phần phía Đông, giã từ CN/XH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái ?? .   .
Tại Nhật Bản, Tướng MacArthur và quân đội Mỹ đã áp dụng một chính sách chưa có tiền lệ trong lịch sử thế giới với Nhật Bản “quốc gia tù binh” của họ
Ông tôn trọng Thiên Hoàng Nhật Bản, không ép buộc thoái vị (dù LHQ và CP/Hoa Kỳ không cấm ông truất phế ) .
Chưa được QH Mỹ chính thức phê chuẩn nhưng trên cái nền Kế hoạch Marshall (Marshall Plan tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall người đã khởi xướng ) nhằm viện trợ tái thiết một nền móng kinh tế chính trị vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu nâng cao mức sống và kiến thức của người dân để đẩy lui CN cộng sản sau thế chiến II . Trong vòng hai thập kỷ, nhiều quốc gia ở Tây Âu đạt được mức tăng trưởng và phồn vinh chưa từng có nhờ kế hoạch Marshall này .
CP/Mỹ thông qua tướng MacArthur củng có chủ trương tương tự với Nhật Bản , bên cạnh còn cải tổ hệ thống chính quyền, lãnh đạo, từ chính trị, kinh tế, tới sửa đổi hiến pháp, nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi việc đều do một tay MacArthur quyết đoán,ông chỉ ra những khiếm khuyết trong thời chiến tranh mà giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, ông đoan chắc cùng nhân dân Nhật khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, quản lý một nền công nghiệp chiến tranh chuyển đổi qua thời bình một cách khoa học thì sẽ sớm giầu mạnh, không thua gì nước Mỹ, ông không ngần ngại nói với người dân Nhật rằng, Nhật Bản đã thua Mỹ vì kém về mặt vật chất kinh tế tài chính chứ không phải là tinh thần vì họ đã chiến đấu rất dũng cảm mà vẫn thua, nên đa số dân Nhật thuyết phục bởi sự cải tổ ấy. Ông chủ trương phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chế độ phụ thuộc quá nhiều vào ảnh hưởng của Hoàng Gia ,để Nhật Hoàng chỉ còn là biểu tượng. Nhật Bản cũng có một nền văn hóa tự do coi trọng sự lựa chọn của cá nhân như nước Mỹ, Thủ Tướng và nghị viện do người dân trực tiếp chọn lựa qua lá phiếu của mình. Một vài chính khách Nhật còn hoài cổ nặng chủ nghĩa cực đoan dân tộc cho rằng Tướng MacArthur là một chính trị gia độc tài áp đặt, Nhưng đại đa số người Nhật cho là sự độc tài ấy để cho một nước Nhật hùng mạnh chứ không là nước Mỹ . Rất ngẩu nhiên cái cách mà người Mỹ, tướng MacArthur đã thể hiện trong cuộc chấn hưng nước Nhật sau chiến tranh nó rất gần với tính cách tinh thần võ sĩ đạo của người Nhật (Nhân ái, bao dung thay thù hận) nên mang lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản ngày nay. Ở Châu Âu người ta ví von Nước Mỹ có công khi biến Nhật Bản thành một Thụy Sĩ Viễn Đông ! vì vậy Douglas MacArthur đã được mọi thành phần, khuynh hướng, chính đảng, từ Hoàng Gia đến thứ dân đều chọn làm người thứ mười trong “Mười hai người lập ra nước Nhật.” hùng mạnh từ trong điêu tàn đổ nát chiến tranh . Ðây là người ngoại quốc duy nhất được chọn trong lịch sử nước Nhật.
Binh sĩ Mỹ đồn trú tại Nhật Bản khai mạc tập trận trên đảo Sasebo (Nhật Bản)
 
Quân đội Mỹ – Hàn tập trận tại biển Hoàng Hải vào 9/2010
Hạm Đội 7 Hải Quân Mỹ và Hiệp Ước hổ tương Đông Bắc Á Nhật, Hàn và Đài Loan
Tàu chiến USS Chung-Hoon của Hải quân Mỹ đến Phillipines 2011.
Thưa cô ! Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới ?) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, Nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay 2012 Chính Phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất  «Xâm Lược» ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình ?? . Và đạo quân xâm lược này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà «màu mỡ» về kinh tế hơn hẳn Việt Nam nhiều lần, nhưng điều đáng để người Việt Nam suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến «xâm lược» thì họ xâm lăng một Việt Nam nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì ? ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp Việt Nam Cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan ?.
Thưa Cô ! Làm sao biện minh ? 45.000 quân “xâm lược” Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì : Nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn,.
Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vương lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc ngèo nàn lạc hậu, GDP cán mốc 1000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu ? ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hổ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định .
Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới (hạ tầng cơ sở, thiên nhiên, thổ nhưỡng kém xa Việt Nam) trở thành một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc như là “Huyền thoại sông hàn“ đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục .
Với Đài Loan và Phillipines. Năm 1950, Không Đoàn 13 của không quân Mỹ đã từng đóng tại Đài Loan. Tháng 12 năm 1954, Mỹ và Đài Loan ký “Hiệp ước phòng thủ chung”, đặt Đài Loan vào sự bảo hộ của Mỹ.Cũng nằm trong quỹ đạo của kế hoạch Marshall, Đài Loan được hưởng nhiều qui chế ưu đãi thương mại từ nước Mỹ trong một thời gian dài,đưa nền kinh tế nhanh chóng phát triển ngoạn mục thành một con “Rồng” Châu Á mà ngay chính Trung Quốc củng phải kiêng dè …Tại Phillipines quân đội Mỹ cũng từng hiện diện trong một thời gian dài, Hạm Đội 7 Thái Bình Dương chọn vịnh Subíc là nơi đóng quân và trước đó 1935 Douglas MacArthur, được Tổng thống Phillipines Manuel L.Quezon yêu cầu giám sát việc thành lập quân đội Philippine sông được phong hàm Thống tướng trong Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippine Army). Ông là sĩ quan cao cấp có tên trên danh sách của Quân đội Philippines ngày nay—ông cũng là sĩ quan quân sự Mỹ duy nhất giữ cấp bậc thống tướng trong Quân đội Philippines. Sau đó tôn trọng quyết định của nhân dân Phillipines vì sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, quân đội Mỹ đã rút khỏi vịnh SuBíc . Nhưng ngày nay (2012) vì an ninh lãnh thổ đe dọa, Phillipines yêu cầu, quân đội Mỹ vẫn quay lại thể hiện sự trách nhiệm trong hiệp ước hổ tương ….
Thưa Cô ! Với những gì thuộc thế giới quan mà kiến thức em tích lũy được, thì dù rất muốn hãnh diện về “chiến công thần thánh” của quân dân ta chống đế “quốc Mỹ xâm lược cứu nước” nhưng : Lịch sử rất cần sự “trung thực, chân thật” (lời Cô nói) Nên : Em cũng muốn tin – Nhưng không thể – Thưa Cô ! Em cám ơn Cô đọc Email trần tình này và mong có lời chỉ giáo thêm của Cô -     Em Kính Chào Cô . ( Lê Vũ Cát Đằng ) .
Hoàng Thanh Trúc

Truyện của Thầy Trí Quang: Bán Linh Hồn Cho Quỹ Sứ (VGCS)

VIẾT CHO THÁNG TƯ ĐEN: CHẠY TỘI CHO KẺ ÁC!

VC đội lốt nhà sư _Thích Trí Quang
Cách đây 20 năm, phải nói là tôi rất ứa gan khi đọc bản “Tự Bạch” của nhà văn Dương Thu Hương gửi nhà phê bình Thụy Khuê ở Paris có những câu như sau:
“… Khi chính quyền miền  Bắc sao chụp mô hình cách mạng Trung Quốc, tiến hành cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo lầm lỗi; thì ở miền Nam, ông Ngô Đình Diệm khủng bố những người kháng chiến cũ, phân loại treo bảng từng gia đình cách mạng để trả thù.
Khi nhà nước miền Bắc chưa kịp tuyên bố “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” thì chính quyền miền Nam đã hô hào “Bắc tiến! Lấp sông Bến Hải…”
Hai mươi năm sau, lại càng ứa gan hơn khi đọc bài phỏng vấn của báo Thời Đại Mới gì đó “phỏng vấn tung, hứng” với ông “tiến sĩ Bác Hồ” Cao Huy Thuần (CHT) để ông này nói xấu 2 chế độ Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hoà miền Nam.
Và mới đây, đọc bài “Đọc “Trí Quang tự truyện” của ông bình luận gia Trần Bình Nam ra sức chạy tội cho ông sư hổ mang Thích Trí Quang – kẻ đã hãnh diện và được xưng tụng là đã đánh sập 2 chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà Miền Nam!
Đây chính là 2 cái chế độ đã nuôi dưỡng và giáo dục cho Cao Huy Thuần, Trần Bình Nam nên người có học thức. Bây giờ các ông này lại quay ra bịa điều, đặt chuyện nói những lời bội bạc, vô ơn để “chạy tội cho kẻ ác” là “ông sư hổ mang” Trí Quang. CHT chê bai chế độ Đệ nhất Cộng Hoà do cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã sử dụng  đạo dụ số 10 của thời Bảo Đại chỉ coi Phật Giáo như một hiệp hội và mỉa mai là một đất nước độc lập mà lại sử dụng một đạo dụ của thời Pháp thuộc.
Chưa  hết, người phỏng vấn của báo Thời Đại Mới đưa banh ca tụng “kẻ buôn vua” Trí Quang, để CHT tấn công vào cả chế độ Đệ nhị Cộng Hoà.
-Thời Đại Mới: Trong giai đoạn 1964-1966, báo chí Mỹ đặt rất nhiều câu hỏi về hoà thượng Trí Quang, không hiểu sao nhà lãnh đạo này  chống hết chính quyền này đến chính quyền khác. Nhà cầm quyền Mỹ cũng như Tòa Đại sứ Mỹ, nghĩ rằng ông đòi bầu cử Quốc Hội là để chiếm đa số, để hất cẳng Thiệu, Kỳ, để khuynh loát chính trường miền Nam. Họ nói: “Ông không phải là Vua, nhưng ông muốn là người tạo ra Vua”.   
“Hất cẳng Thiệu, Kỳ” … đúng là cái giọng của bọn tay sai VC.
Sau khi báo Thời Đại Mới khéo léo tung banh ca tụng ông “Lã Bất Vi tân thời” Trí Quang, CHT bèn lợi dụng cơ hội mạt sát những người lãnh đạo chế độ Đệ nhị Cộng Hòa – như Nguyễn Gia Kiểng đã từng mạt sát chế độ Đệ nhị Cộng Hoà đã được lãnh đạo bởi “bọn con cháu của cô Tư Hồng (là một phụ nữ lấy Tây)” là tay sai của Mỹ, như sau:
-CHT: Tại sao thầy Trí Quang đòi bầu cử Quốc Hội? Tại vì có Quốc Hội thì mới có cái thế hợp pháp để đòi người Mỹ chấm dứt chính sách chiến tranh. Người Mỹ lúc đó quyết liệt chủ trương một đường lối duy nhất là chiến tranh đến cùng, “hoà bình là chiến tranh đã tàn lụi”, họ nói vậy. Được cái thế đó, Thiệu – Kỳ trương lên cái bảng hiệu “nội các chiến tranh”, tiền hô hậu ủng với người Mỹ, hai dạ một lòng…. Một lần nữa, tiếng nói của Phật giáo đồng hóa với tiếng nói của quần chúng. Mà tại sao Phật giáo đòi hỏi hòa bình? Chính trị chăng? Không, văn hoá. Đòi hòa bình vì chiến tranh đe dọa sự tồn vong của dân tộc, nuôi dưỡng sự tha hóa của con người. Đòi hoà bình vì Phật giáo luôn hoài bão rằng mình là lương tâm của dân tộc. Đó là động cơ văn hóa, đạo đức của phong trào 1966. Phật giáo chủ trương: chỉ có văn hoá hoà bình, không thể có “văn hóa chiến tranh”. Không thể có “văn hóa chém giết”, “văn hóa đạn bom”.
Ông CHT nói thì nghe hay lắm, nhưng bọn chó đẻ nào đã lợi dụng cửa chùa, cạy nắp quan tài của ông Ngô Đình Cẩn để cho đội Biệt Động thành của VC giấu súng ống, đạn dược để tấn công dân lành miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân?
Ông CHT nói hay lắm, nhưng bọn ác ôn côn đồ nào đã ép buộc dân chúng đem bàn thờ Phật xuống đường ở Huế để gây rối cho chính quyền miền Nam?
Những cái đó là “văn hóa hòa bình” của Phật giáo đó sao?
 “Đòi hòa bình vì chiến tranh đe dọa sự tồn vong của dân tộc, nuôi dưỡng sự tha hoá của con người”.
Ông tiến sĩ học cao hiểu rộng nên cách lập luận cũng khác người. Nhưng xin hỏi có tôn giáo nào đòi chiến tranh?
Ông “Lã bất Vi tân thời” Trí Quang đã ra lệnh cho ông “Vua bù nhìn” Dương Văn Minh do ông ta dựng lên, kêu gọi binh lính miền Nam buông súng đầu hàng, yêu cầu Mỹ rút khỏi miền Nam và mời VC vào cai trị miền Nam.
Xin hỏi ông tiến sĩ: nền hòa bình 37 năm qua dưới sự cai trị của VC sao mọi người dân Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại đều nhìn thấy là càng đe dọa sự tồn vong của dân tộc. Và, sự tha hóa của con người Việt Nam sau 36 năm cai trị trong hoà bình của VC thì coi như đã hết thuốc chữa!
Chuyện càng khôi hài hơn là ông CHT lại nhai lại cái luận điệu gây chia rẽ giữa Phật Giáo và Thiên Chúa giáo của ông Trí Quang khi đọc cái đoạn mà ông ta nói là trong sách chưa in của ông này:
“Phật giáo không thích ứng với chính trị mà thích ứng với văn hoá. Phật giáo tồn tại bởi dân tộc, không như tôn giáo khác tồn tại vì chính quyền. Hồi nhỏ, một hôm tôi xuống đò với một số người. Trong khi chờ qua sông, họ đua nhau kể về những hoạt động đêm qua của kháng chiến. Đang kể bỗng họ im bắt. Họ thấy một giáo sĩ sắp xuống đò qua sông. Họ không e ngại một tăng sĩ mà ngại giáo sĩ. Chuyện này củng cố cho tôi một nhận định về vị trí Phật giáo. Phật giáo dại gì đánh mất niềm tin cậy của dân gian?”
Không biết đoạn văn trên có phải là ông Trí Quang viết – như ông CHT nói – hay không. Nhưng, nếu đúng là ông Trí Quang viết thì cách hành xử của ông này cũng không khá hơn ông thiền sư Nhất Hạnh bịa chuyện máy bay Mỹ ném bom giết chết 300.000 dân ở thị xã Bến Tre khi bọn khủng bố dùng phi cơ đánh sập Tòa Tháp Đôi của Hoa Kỳ.
Chuyện mà ông Trí Quang bảo là “dân chúng e ngại một giáo sĩ mà không e ngại tăng sĩ” thì đâu có gì là lạ: bởi vì mấy ông tăng sĩ giúp (hoặc bị bắt buộc giúp) bọn khủng bố Việt Minh (tiền thân của VC hiện nay) ẩn nấp thực hiện những vụ đánh phá, khủng bố ám sát. Còn mấy ông tăng sĩ thì, trái lại!
*
Nhà văn Dương Thu Hương là người sống dưới chế độ miền Bắc, bà ta đã có mặt trong đoàn thanh niên xung phong, mang những đôi giày cao cổ, hái “những bông bần ly” trên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà bà còn thấy và viết ra được những sai lầm của chế độ miền Bắc. Bà ta còn thấy đó là “những thiên đường mù”. Và đã từ bỏ nó.
Còn ông “tiến sĩ Bác Hồ” CHT sống nhờ hạt gạo miền Nam. Trong khi bao nhiêu người cùng trang lứa với ông phải đổ mồ hôi, xương máu để bảo vệ chế độ miền Nam, ông và đồng bọn của ông đã quậy phá, gây rối loạn hậu phương miền Nam trong suốt cuộc chiến. Nay, ông lại tiếp tục đánh phá chế độ miền Nam, gây chia rẽ giữa các tôn giáo còn hơn cả bọn VC đánh phá, với mục đích chạy tội cho ông sư hổ mang “nam mô một bồ dao găm” Trí Quang – kẻ đã lợi dụng Phật giáo để thực hiện mưu đồ dâng hiến miền Nam cho VC vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Mới đây, người ta lại càng ngạc nhiên hơn khi ông bình luận gia Trần Bình Nam, cố vấn của Tổ chức Phục Hưng ra sức chạy tội cho sư hổ mang Trí Quang trong bài “Đọc Trí Quang tự truyện” khi ông ta viết:
Tôi thật bứt rứt khi đọcxong tự truyện của Thầy Trí Quang. Muốn hay không muốn Thầy Trí Quang cũng là một nhân vật lịch sử, gần như đi vào huyền thoại. Thầy đang sống mà có kẻ coi Thầy như Thánh. Nhưng cũng có những thế lực đen tối, những đệ tử của Phật bán linh hồn cho quỹ sứ tìm cách nhận chìm Thầy trong hỏa ngục. Tôi bứt rứt vì tự truyện Thầy không soi sáng gì thêm cho lịch sử”.
 Cách bênh vực Thầy Trí Quang “bị những thế lực đen tối, những đệ tử của Phật bán linh hồn cho quỹ sứ tìm cách nhận chìm Thầy trong hoả ngục” của ông bình luận gia Trần Bình Nam xem ra chã có mùi mẽ gì so với ông “tiến sĩ Bác Hồ” Cao Huy Thuần!
Các ông càng hoa ngôn xảo ngữ để chạy tội cho kẻ ác thì tội ác nó lại càng lộ rõ ra. Chắc chắn là như thế!
LÃO MÓC
http://nguyenthieunhan.wordpress.com

Bài Xem Nhiều