We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 22 April 2012

Viết cho Nguyễn Ngọc Ngạn: Sinh Vật Mau Quên“Lương Sư Hưng Quốc”

"Lương sư" có thể làm "hưng quốc"


Cách đây hơn 200 năm, người thầy đầu tiên của đất Nam Bộ - Võ Trường Toản đã nói đến trách nhiệm và đóng góp của những người làm nghề giáo đó là đạo lý “Lương Sư Hưng Quốc”, nghĩa là quốc gia có những người thầy giỏi và có một nền giáo dục tốt, thì sẽ hưng thịnh.


Những lời đó của người thầy mệnh danh là “Gia Định xử sĩ" ấy quả là một nhận định tinh tường, sáng suốt ngay trong chính thời của ông và ngay cả thời đại hôm nay. Vai trò của người thầy đối với sự phát triển của một quốc gia thật là to lớn ở tầm chiến lược giáo dục, khó có thể phủ nhận vai trò ấy đối với tương lai của đất đất nước.

 “Lương sư” hiểu đơn giản là làm thầy phải là người vừa có nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt lại vừa có năng lực chuyên môn nhất định. Thật ra đây chỉ là một diễn giải khác về “đạo làm thầy” đã được các bậc thức giả từ cổ chí kim ra sức khái luận. Đạo lí nói thì dễ, luận bàn thì nhiều nhưng quan trọng là hiểu như thế nào và thực hiện ra sao mới là điều đáng nói.

Việt Nam hiện có đến gần 2 triệu người đang làm công tác giáo dục, chiếm gần 3% dân số là một tỉ lệ không phải nhỏ và cũng là một trong những quốc gia được thế giới đánh giá cao về những nỗ lực trong sự nghiệp giáo dục. Điều đó chứng tỏ truyền thống hiếu học, coi trọng giáo dục của đất nước ta vẫn là một truyền thống làm nên nét đẹp văn hóa Việt. Làm thầy đồng nghĩa với gánh vác một trọng nhiệm đối với tương lai của đất nước.

Những năm gần đây, môi trường giáo dục đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, những cám dỗ vật chất và lối sống thực dụng. Một bộ phận không ít các thầy cô giáo đang có những biểu hiện tha hóa về đạo đức gây nên nhiều quan ngại đối với nền giáo dục nước ta. Nhỏ thì các vụ lăng nhục, đánh đập học sinh, nhận hầu bao từ phụ huynh, dung thứ cho hiện tượng ngồi nhầm lớp của học sinh … nặng thì mua dâm, cưỡng hiếp nữ sinh… thật sự đang gióng lên hồi chuông báo động trong ngành giáo dục nói riêng và cả xã hội. Đặc biệt nguy hại hơn khi tác động đến tâm lý của nhân dân, làm xấu đi hình tượng của những người làm nghề giáo.
Người xưa cho rằng: “Làm người khó, mà làm thầy người ta cũng chẳng dễ”. Làm người khó vì phải có thiên tư, có học vấn, có kiến thức, có khí tượng. Còn muốn làm thầy người ta, thì ngoài những điều đó ra phải có tông chỉ, có giáo nghĩa, có pháp tướng. Nếu tông chỉ không vững vàng, pháp tướng không thông suốt, giáo nghĩa không rõ ràng, thì cũng chưa thể làm thầy người ta được. Phải nắm chắc được tông chỉ, phân tích được giáo nghĩa, giải minh được pháp tướng”. Điều đó chứng tỏ rằng, không phải dễ dàng mà trở thành một nhà sư phạm khi chưa hội tụ những “tiêu chuẩn cứng” trong cái đạo làm thầy.

Tiêu chuẩn cứng hiện nay để làm một giáo viên không có gì ngoài bằng cấp và năng lực chuyên môn giảng dạy. Tiêu chuẩn này có thể kiểm tra, có thể phân loại nhưng tiêu chuẩn về nhân cách, đạo đức thì khó mà kiểm tra được, trừ phi là chuyện “kim trong bọc”. Thế mới biết, khi sự việc bị vỡ lở rồi mới bàn đến chuyện “chỉnh đốn” e là muộn rồi chăng?

Nhân cách, đạo đức từ đâu mà có, cũng là từ giáo dục mà nên. Vậy thì có thầy tốt mới có nền giáo dục tốt để sản sinh ra những người thầy tốt. Muốn có thầy tốt thì phải có cái tiêu chuẩn hay cái “đạo” của thầy tốt.

Có nhà sư phạm mạnh dạn gói gọn “đạo” của một người làm thiên chức người thầy trong ba chữ “Nhân, trí, dũng”. Đây là ba đức tính, ba trụ cột làm nên nhân cách người quân tử, người hiền, người tốt trong quan niệm của Nho giáo truyền thống mà ngày nay vẫn còn giá trị. Giả như người thầy đạt được chữ nhân tất đã là một người thầy tốt, ăm ắp một bầu nhiệt huyết, một tình thương yêu đối với học trò, gắn bó với công việc. Có được chữ trí là đủ tầm của một người thầy, vì thế phải đẩy mạnh việc tự học, tự nâng cao kiến thức để không phải tự loại mình khỏi chỗ đứng nơi bục giảng. Chữ dũng thể hiện bản lĩnh dám đương đầu với khó khăn trong công việc, đánh bại tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích, cũng như những cám dỗ trong vòng xoáy những mặt trái của cơ chế thị trường.

Nhưng cái “đạo làm thầy” này được công nhận như thế nào, thực hiện bằng phương cách gì? Xin thưa, nó đến từ trong bản thân mỗi người thầy của chúng ta, chỉ có sự tự giác về bổn phận mới tạo nên những tấm gương sáng cho “sự nghiệp trồng người” đầy gian lao, thử thách.

Nhân tài có tiếng tăm thì rất nhiều, nhưng người đào tạo nhân tài để lại nhiều sự tri ân, cảm phục của người đời thì không mấy mà có được. Người làm thầy phải am hiểu “đạo” của mình mới hoàn thành tốt trách nhiệm bản thân đối với xã hội, đất nước. Suy cho cùng, “Lương sư” chính là hình tượng muôn đời của một người thầy trọn nghĩa đã được “đúc, tạc” trong sử sách, điển tích kim cổ. Nước ta nếu có nhiều lương sư chắc chắn sẽ đào tạo nên nhiều người tài giúp ích cho nước nhà ngà
y càng phát triển, ngày càng giàu mạnh, theo kịp bước tiến nền văn minh trí tuệ.

Trích nguồn:

LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

Tạp chí Sông Hương
---------- ----------
THƯ GỞI
 NGUYỄN NGỌC NGẠN

Ba mươi tháng tư,ngày 'đại tang'
Ngày 'mất Nước',của Dân miền Nam
Ông NGẠN lại đờn ca xướng hát
Làm thế có phải để trêu gan

Vờ 'phỏng vấn' cò mồi ngụy biện
Ông tráo trở, lên lớp,lập lờ
 Xóa bỏ ngày Bi thương,Quốc hận
Thở 'đúng hơi' của lũ 'trở cờ'

Chúng ta 'nghệ thuật vị nghệ thuật'
Cộng sản 'nghệ thuật vị giáo điều'
Còn Ông 'nghệ thuật vị gì nhỉ'
Phải chăng chỉ để kiếm tiền tiêu 

So Văn hóa TÂY-TA mai mỉa 
Hỏi làm thế,có nực cười không
TÂY trọng ngày SINH,TA ngày GIỖ
Múa Ca ngày MẤT chỉ có Ông

'Món tiền nhỏ',mà còn táng tận
Dễ gì chê 'mối lợi To hơn'
Ngày 'quy đầu' Cộng,'Tôi chưa tính!!!' *
Nghĩa là trong Ông,đã chập chờn

Thôi vài lời,nói không nói hết
Còn chừa lại,để gọi 'lưu tình'
Mong ÔNG nghĩ cái DANH là trọng
Đừng bán rẻ,hạ phẩm giá mình

NHẤT HÙNG
*Nguyên văn lời của Ông NNN trong 
một cuộc phỏng vấn Cò mồi
(Viết vội,vì sự nhắc nhở của bạn Tôi ,
 Cựu Trung Tá Nhảy Dù , NAG BAN TÔN )

Mời Anh Ngạn xem vài hình ảnh đau thương ngày mất
Nước 30-04-1975 , NH không để ảnh Thuyền nhân trong này
vì không muốn gợi lại cảnh đau lòng cho Anh Ngạn

Xin anh Ngạn đừng vui ngày đó


Kính gởi anh Nguyễn Ngọc Ngạn, người điều khiển chương trình “Đêm Văn Nghệ Tình Ca Mùa Xuân 30.04.2012 ” – Chương trình ca nhạc hài đặc biệt  tại Berlin.
Kính anh: Hôm nay tôi sắp hàng cùng dòng người vô lý, gởi đến anh những tâm tình và khẩn khoản. Vô lý vì anh không phải kẻ chủ trương, chỉ là người thừa hành ông bà chủ, trung tâm băng nhạc Paris by night. Song nghĩ rằng vận động người nào bớt vui, trong ngày Quốc Hận của quê hương, được người nào hay người đó. Hơn nữa gởi đến anh vì có hy vọng nhiều hơn, do những mối liên quan sau:
1- Khi anh đi dạy, tôi còn đi học, dù không được hân hạnh học với anh, tôi vẫn tự xem là học trò của anh.
2- Vào quân ngũ anh trung úy, tôi hạ sĩ nhất, tôi là lính của anh, dù không cùng đơn vị, không cùng binh chủng.
Cũng có thể người chủ của anh, họ có một nhân thân giống như vậy, nhưng giác quan mách bảo cho tôi biết nên vận động ai, riêng với vai trò người điều hợp chương trình ca nhạc, tương tự như tay xạ thủ đại liên của đối phương, diệt được đầu não đối phương trung uý và cùng đơn vị đều muốn, nhưng khó lắm vì nó ẩn nấp sâu kín, chỉ còn chờ diệt khẩu đại liên, để đơn vị tiến quân và thủ thắng.
 Thưa anh, mỗi con người dưới gầm trời này đều thủ một vai diễn, một số phận do Thượng Đế an bài, cắt đặt. Nếu đúng như vậy, anh thủ những vai diễn toàn sáng giá và rất vinh dự: Nhà Giáo – Nhà Văn – Sĩ Quan QLVNCH – MC của trung tâm băng nhạc lớn hải ngoại, qua vai diễn thực thụ này tôi tin anh biết chắc việc anh làm đúng hay sai?
Ngạn ngữ Pháp nói: Con người là một sinh vật mau quên, người Việt mình cũng thường than thở: Mấy ai về đến nhà nhớ bóng mát ngoài đường. Thiết tưởng những điều này chúng ta cần ghi khắc, để làm trọn vai diễn, khi tuổi đời vào lúc xế chiều, chứ không phải nương vào đó để ngụy biện, hoặc an ủi rồi tiếp tục làm những việc mà người đời đồ thán, vì khổ qúa đau.
Cộng Sản thường kêu gọi kiều bào: “Hãy quên qúa khứ, hướng về tương lai”. Chắc hẳn qúa khứ ấy rùng rợn và man rợ lắm mới thiết tha van xin “hãy quên”, chứ qúa khứ chống ngoại xâm như Lê Lợi, Quang Trung mà quên được ư!? Ông bà mình nói: Ôn cố tri tân, kêu gọi quên qúa khứ. Nên hướng tương lai của Cộng Sản Việt Nam, mang lại toàn tai ương cho đất nước. Vì vậy dù có nghe lời quên qúa khứ, mà qúa khứ cứ vẫn ở đàng trước, thưa anh.
Tháng Tư năm 2000 anh Ngạn viết truyện ngắn tựa đề: Chuyện Cũ, lời mở đầu anh nói:
Ðời người, ai cũng có những kỷ niệm, đau thương hay hạnh phúc….Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây bay ngang bầu trời, để lại chút hình ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng có khi hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố, khả dĩ tạo thành khúc rẽ quan trọng cho cuộc đời … Ðó là trường hợp của tôi với câu chuyện xảy ra hơn 20 năm về trước mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như mới hôm qua.
———————
Hai mươi năm không cần ghi chép, ký ức vẫn còn khắc ghi, sau đó viết thành chuyện, lại càng nhớ kỷ hơn chứ anh Ngạn?
Kép Tư Bền và Nguyễn Ngọc Ngạn:
Truyện kép Tư Bền, của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Anh Tư Bền vì nợ nần của chủ bầu sô, chủ o ép dọa kiện tụng, nên Tư Bền cắn răng làm hề trong đêm cha của anh hấp hối, diễn để trừ nợ và kiếm tiền chạy thuốc thang, quả là một hoàng cảnh qúa éo le, có một không hai. Nhưng đó chỉ là truyện hư cấu, ngoài đời hiếm gặp. Tư Bền chỉ có mỗi một món nợ phải trả, đó là cha của anh ta mà thôi, còn anh, và chúng ta? Những tháng ngày này, biết bao người dân bỏ mình chạy từ Cao Nguyên Pleiku xuống Nha Trang, từ Miền Trung vào Sài Gòn, biết bao bạn bè chiến hữu bỏ mình, riêng anh Ngạn có người vợ lặn lội thăm anh từ những tiền đồn heo hút, khi còn tại ngũ, đến trại giam “cải tạo” xa xôi, về sau đã bỏ mình trên đường vượt biển, tìm tự do (ý của anh Ngạn trong truyện) cùng với đứa con đầu lòng yêu dấu! Ngoài ra còn ông Ân, người tốt bụng cho anh mượn hai chục lượng vàng, chi phí cho chuyến đi. Nợ vàng anh thanh toán sòng phẳng, nhưng nợ ân tình làm sao hết.
Chúng ta sống hôm nay là mang nợ nhiều lắm anh Ngạn ơi, chính vì thế chúng ta nên chọn lối sống cho xứng đáng với những người đã nằm xuống, cho mình được sống hôm nay, cách chọn hoàn toàn thoải mái. Chỉ cần đọc một lời này thôi, trong Chuyện Cũ của anh:
 - Chú Ngạn ơi! Ðắm tàu! Ba cháu, chị cháu với 3 người anh của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!
Lời của cháu bé, con ông Ân, kêu anh Ngạn, trong lúc anh mê man, đuối sức. Nó cứ văng vẳng bên tai tôi hoài, cứ như muối xát vào lòng, đau như cắt, chẳng những thế, tôi còn hình dung khuôn mặt khốn khổ đến tội nghiệp của cháu nữa, bận rộn thì thôi, tháng ngày gần 30/4 đầu óc tôi lại chờn nghe tiếng kêu thảng thốt kia. Thậm chí nhiều lúc tôi định viết thư, nhờ anh xác nhận Chuyện Cũ, chỉ là hư cấu!!
Anh Ngạn, tất cả chúng ta sinh ra từ bóng tối, với hai bàn tay trắng, ngày không xa nữa chúng ta từ biệt ánh sáng thế gian này, trở về với bóng tối cũng hai bàn tay trắng. Sống thì cần tiền bạc, và nhiều thứ nên phải nỗ lực bằng mọi giá để thoả mãn, ngày ra đi bỏ lại tất cả, chỉ để lại tiếng xấu, tốt với đời mà thôi.
Tôi khinh bỉ những hạng người thích chụp mũ anh em, trong bài này không đề cập đến chính trị. Tuy nhiên khoảng thời gian này người ta thường nhắc lời ông Võ Văn Kiệt:
“Có triệu người vui, có triệu người bồn”, anh sắp hàng nào? Hàng vui? Hàng buồn? Khi nhận vai trò điều hợp chương trình hài đặc biệt, trong Đêm Văn Nghệ Tình Ca Mùa Xuân 30/4/2012, tại Đức. Thắc mắc dễ trả lời, nhưng đúng sai thật khó, phần còn lại có thể anh qúa cần tiền? Cần ngang cỡ Tư Bền không?
Nếu buồn, ai khiến được anh phải đi diễn, trong tình thế tự do chọn lựa, trong tình trạng bạc tiền không thiếu, nếu vui không lẽ anh như mấy thằng leo cột mỡ.
“Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”
Anh Ngạn, xin anh đừng vui ngày đó.
Kính chúc anh và gia đình dồi dào sức khỏe, an bình./.
Ông Bút.
http://baotoquoc.com/author/vietcongonline/ 
---------------
 Thư gửi Nhà văn MC Nguyễn Ngọc Ngạn)
 
Kính anh Nguyễn Ngọc Ngạn,
Trước hết, tôi xin phép gọi bằng anh thay vì ông ở chỗ chưa quen nhau, bởi tôi viết thư này với tư cách một người cựu binh gửi một cựu binh năm xưa cùng chung một ngọn cờ chiến đấu, mà cho tới thời gian gần đây anh vẫn khẳng định lại quá khứ mình trên sân khấu Trung tâm Thúy Nga Paris by Night; dù trên mình chúng ta không còn bộ quân phục, nhưng tình huynh đệ chi binh ngày nào dễ gì mất theo được, phải thế không Anh.
Sở dĩ tôi viết cho Anh thư này, một lá thư mà người gửi chẳng muồn viết, người nhận tôi đoán càng chẳng muốn đọc, là do tình cờ tôi bắt gặp trên internet cái hình quảng cáo dưới đây :
 
 
 
Thưa anh Ngạn, thực ra bảo là vì thấy hình Anh đứng giữa đám ca sĩ, tươi cười dưới hàng chữ màu trắng có con số  chỉ ngày 30 tháng Tư và trước mặt là hàng chữ “Tình Ca Mùa Xuân”, mà kìm lòng chẳng đặng viết ngay cho Anh thì không đúng .
Trước khi có thư này cho Anh, tôi đã suy nghĩ đắn đo rất nhiều. Trước hết là tôi nghi ngờ về sự trung thực của tấm hình quảng cáo trên đây. Chả lẽ một ông cựu sĩ quan Quân đội VNCH, cựu Tù Cải tạo, có vợ con bỏ mình trên đường vượt biên và đang gửi tấm thân lưu lạc trên xứ người với tư cách tị nạn CS lại “quay ra” thế này! Nhưng, đọc mãi những email tới tấp với những bài viết lên án, xỉ vả Nguyễn Ngọc Ngạn; rồi chờ hoài vẫn không thấy Anh lên tiếng, tôi đâm ra nghi ngờ sự... nghi ngờ mình. Tôi lại mò mẫm mở ra xem tấm hình. Lần này tôi thấy khuôn mặt Anh như chuyển động, méo mó, rồi biến thành cái mũi dáo lao vụt vào ngực tôi.
Tôi đau điếng nhưng cố cầm lại tiếng thét. Tiếng thét không làm vơi được nỗi đau, ngược lại sẽ làm lún sâu hơn ngọn dáo, tổn thương thêm danh dự chung của chúng ta những người lính năm xưa chưa phủ nhận quá khứ. Tôi lại rất ngại việc lên tiếng này: khó tránh bị thiên hạ xem đây như là anh em đấm đá nhau; lợi bất cập hại .
Biết có ích gì, hay chỉ “phản tác dụng” nếu như Anh cho rằng tôi cứ ôm mãi quá khứ hận thù, không chịu hoà hợp hoà giải với người anh em. Sỡ dĩ tôi đưa ra chữ “nếu” là do thiển nghĩ, biết đâu thời gian này Anh bận vuì đầu vào việc sân khấu , không còn thì giờ để nhìn thấy “bên kia” đang chuẩn bị kỷ niệm ăn mừng lần thứ 37 “đại thắng muà xuân”, mà ý nghĩa của “đại thắng” ấy đã hóa ra thắng dại ( như lời tiên đoán của tướng độc nhã Do Thaí,”muốn thắng CS, phải ..” chỉ vớt vát bằng luân điệu lăng nhục người thua trận,  khơi dậy nỗi đau mà nạn nhân trực tiếp nhất là chiến hữu chúng ta đã không may mắn thoát được như Anh.
Làm sao mà hoà hợp hoà giải được khi một bên vẫn còn mang thù hận ngay cả với những người đã khuất. Anh có hay tin mới đây không lâu, khi ngửa tay nhận tài trợ hàng trăm triệu USD của Mỹ cho công tác tìm hài cốt của quân sĩ mọi phía hy sinh trong cuộc chiến vưà qua, họ đã thẳng thừng từ chối việc làm này đối với đồng đội chúng ta (khiến Mỹ phẩn nộ ngưng lại).
Anh Ngạn ơi, “Ngày 30 tháng Tư là ngày có triệu người vui lẫn triệu người buồn”, người “Bí thư Đảng uỷ đặc biệt trong Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn” ngày ấy, về sau làm Thủ tướng là ông Võ Văn Kiệt khi nói lên như thế thì chính ông ta cũng đã mon men sang hàng triệu người buồn. Bây giờ, 37 năm sau, hầu hết người vui ngày nào đã nhận ra mặt thật của cuộc “chiến tranh thần thánh”, chỉ là cuộc chiến lầm lỡ, ma quái, man rợ tiêu diệt văn minh (tôi mượn ý từ lời “man rợ đã chiến thắng văn minh”, của chiến sĩ gái giải phóng quân, nhà văn Dương Thu Hương khi vào “Sàigon giải phóng”, ngất ngây với sách báo “Ngụy” bên lề đường Lê Lợi, mà cách mạng chưa kịp đốt trong chiến dịch “ quét sạch văn hoá Miền Nam đồi trụy”) .
Ngày 30 tháng Tư ,1975 là “ngày có của “hàng triệu người vui, lẫn hàng triệu ng ười buồn”. Ba mươi bảy năm sau:
“Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian. (1)”
“Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói” :30 tháng Tư “của hàng triệu người vui” ngày nào nay đối với ngay cả thế hệ không liên can gì đến cuộc nội chiến Quốc- Cộng cũng đã trở thành ngày Đứt Ruột, sao anh Ngạn vốn trong “hàng triệu người buồn” lại tìm “chốn đoạn trường mà đi”. Anh lại đi rất đúng ngàyđúng tháng .
Đúng ngày 30.4 chứ không thể là tình cờ, vì “Tình Ca Mùa Xuân” của Thúy Nga Paris By Night diễn ngày Thứ Hai, chứ không phải vào cuối tuần như bao đêm văn nghê thuần túy từ trước đến nay . Ở dưới hàng chữ “Thứ Hai 30.04.3012” lại có trong ngoặc mấy chữ “Nhân dịp Lễ 01.05”, đây là trò bài ba lá vụng về càng làm rõ “lạy ông con ở bụi ...30 tháng Tư .” Vả lại đã cuối tháng 4 , thời điểm này mới đem “tình ca mùa Xuân” ra hát thì chỉ có hát thay cho đám ve sầu, mùa Hạ đang tới ( Anh còn nhớ cả hai bên đều gọi cuộc tấn công từ phương Bắc năm 1972 bắt đầu tháng Tư bằng tên “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Mặt thật của hai chữa Mùa Xuân trong “Tình Ca Mùa Xuân”  đây, phải chăng là “Mùa Xuân Đại thắng” như phe chiến thắng?
Thưa anh Ngạn em xi (MC), tôi viết thư này cho Anh không vì nỗi đau xót của cá nhân mình , nhưng vì nỗi đau xót của nhiều người khác trong hàng ngũ chúng mình ngày xưa, nhất là của những chiến hữu đang kẹt lại nơi quê nhà, đặc biệt là những thương phế binh đang phải lây lất cuộc sống , khi họ biết được có người bạn cùng sắc áo màu cờ năm xưa giờ đây quay lưng lại - dù là cố ý hay vô tình- tiếp tay với kẻ thù vẫn chưa cũ vì đã 36 năm rồi mà Tháng Tư thứ 37 này họ vẫn tiếp tục lăng nhục những người thua trận.
Mấy năm trước , cú Mẹ “B”.40 trên sân khấu Paris by Night làm tôi cay mắt không vì tập đoàn chủ nhân ông bà Thúy Ngay Paris By Night, nhưng vì người em xi . Nói là cay mắt nhưng là xé lòng; nó nhức nhối hơn những mãnh đạn tôi đang mang trên mình 43 năm nay từ quả B.41 chống chiến xa, do đối phương bắn trong một trận đánh tại Rạch Giá.Nhưng rồi cũng nguôi ngoai sau khi nghe đồn anh Ngạn có lên tiếng phủ nhận sự liên quan .
Lần này, nếu quả như cái hình quảng cáo kia là đúng với sự thật, thì dù cố ý hay vô tình, chính anh Nguyễn Ngọc Ngạn đang lụi chiến hữu của anh ngày nào sâu hơn “Em về hát ngọn dao đâm” (2).
Thưa anh Ngạn, dẫu sao, tôi vẫn còn một chút hy vọng được Anh lên tiếng về việc này như Anh đã lên tiếng muộn vàng về quả tác đạn B.40 mấy năm trước. Nếu được như vậy, tôi xin lỗi Anh về lá thư này. Cám ơn Anh .
Trân trọng chào Anh,
Nguyễn Bá Chổi


Ghi chú: * Theo tên gọi ngày 30.4.75 của Vũ Đông Hà;  (1) Việt Khang- Việt Nam tôi đâu;
(2)http://www.createforum.com/exodusforvietna/viewtopic.php?p=2723&mforum=exodusforvietna#2723

THĂM THẲM TRỜI XANH

                              

THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn I)


 
VÀO CHUYỆN
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Chinh Phụ Ngâm
Portland, ngày…
Anh Ng. thân mến,
Một lần ngồi chờ khám bệnh tại một phòng mạch, tôi đã tình cờ đọc được một truyện ngắn mang tựa đề Vết Hằn Mùa Xuân trên một tạp chí. Thấy nội dung truyện này gần giống một chuyện đã xảy ra ở làng mình, tôi rất ngạc nhiên. Khi nhìn đến tên tác giả tôi mới vỡ lẽ, thì ra chính anh viết! Tôi mừng hết sức khi biết được một người bạn cũ quá lâu không gặp nay vẫn còn sống! Lại còn viết lách nữa, thật là thú vị! Nhưng hiện giờ anh ở đâu? Cuộc sống ra thế nào? Tôi lại phân vân không biết có nên tìm cách liên lạc với anh không? Vì dù sao hiện giờ tôi đang ở trong tình trạng gần đất xa trời, biết đâu liên lạc được với anh lại thành tạo ra sự phiền muộn cho anh?
Về nhà tôi cứ ngồi thẫn thờ cả giờ. Tôi hồi tưởng lại thuở còn đi học, tôi nhớ tới anh, nhớ tới những bạn đồng lứa khác… Có lẽ bây giờ nhiều người đã không còn nữa hoặc đã phiêu tán bốn phương trời! Lâu nay, vì chuyện mình không mấy vui, tôi vẫn cố tránh liên lạc với những người quen biết cũ. Chỉ có một người hiện cũng đang ở Mỹ tôi còn giữ số phôn, đó là D., nhưng cũng ít gọi nhau, không rõ giờ nó có thay đổi gì không?
Ngay tối hôm đó, tôi gọi cho D. để thử hỏi thăm về anh. May quá, không những D. đã cho tôi biết anh hiện đang ở đâu mà còn cho biết anh đã viết được ba bốn tác phẩm cả truyện ngắn lẫn truyện dài, tác phẩm nào cũng đọc được! D. còn kể sơ vài truyện của anh cho tôi nghe nữa! Như vậy là anh đã trở thành một nhà văn rồi!

Khi biết được điều này, phải nói là nỗi mừng của tôi đã tăng gấp bội! Tôi mừng không phải chỉ đơn giản ở chỗ biết tin một người bạn cũ còn sống hay thấy sự thành công trên văn nghiệp của anh đâu! Nỗi mừng của tôi còn lớn lao hơn những nỗi mừng ấy nhiều! Tôi tin chắc, với năng lực hiện có của anh, anh thừa sức giải tỏa được nỗi oan khuất tày trời mà tôi đã phải chịu đựng suốt mấy chục năm nay!
Hình như anh rời làng cũ đã lâu lắm phải không? Sau ngày đất nước gom về một mối, tôi không hề gặp lại anh lần nào. Có thể những việc đã xảy ra cho tôi sau 1975 anh không hề biết. Sau đó một thời gian tôi cũng phải bỏ làng đi luôn. Gần như tôi đã quên hẳn anh nếu không tình cờ được đọc cái truyện Vết Hằn Mùa Xuân của anh. Phải chăng đây là chút duyên may cuối đời của tôi?
Không rõ trong thời gian lưu lạc, anh có bao giờ gặp lại những người làng mình không? Những lần ấy, anh có nghe ai nói gì về tôi không? Nếu có nghe được gì, tôi đoán chắc anh sẽ thở dài: “Chuyện đời khó mà ngờ được! Một người như cô ấy sao lại hành động như thế được?”. Tôi biết anh sẽ ngỡ ngàng như bị thả vào cung trăng! Nhưng tôi hi vọng anh sẽ có một lối suy nghĩ khác với mọi người. Anh là một trong những người hiểu rõ tánh tình của tôi trong thời niên thiếu. Ít nhất anh cũng có tin tưởng tôi về một mặt nào đó. Anh cũng là một người thấu hiểu sâu xa về hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau cuộc đổi đời 1975 như anh đã từng nêu ra trong những tác phẩm của anh. Nghĩ như vậy nên tôi không ngần ngại gởi đến anh những tập tạp ghi này để anh tùy nghi sử dụng.
Đây là những lời ghi chép tuy cẩu thả, sơ lược, nhưng rất trung thực về những sự việc đã xảy sau biến cố đổi đời 75. Những sự việc đó đã làm tôi điêu đứng, thậm chí tôi phải gánh chịu cả một sự ô nhục to lớn. Bao nhiêu lần tôi đã định gột rửa nỗi ô nhục đó bằng cái chết. Nhưng rồi tôi phải cố sống để nuôi con.
Mọi chuyện bây giờ đã thành quá khứ. Những người liên hệ đến vụ việc của tôi, nay kẻ còn người mất, tôi thật sự cũng chẳng cần tìm lại sự thông cảm ở họ nữa. Tôi chỉ ân hận vì tôi không cách nào giải tỏ được tình cảnh mình với ông chồng khốn khổ của tôi thôi! Tôi biết anh ấy hận tôi lắm! Tôi biết anh ấy thất vọng và đau khổ vì tôi lắm! Anh ấy đã mang nỗi khổ về thân xác, về cuộc sống quá nhiều rồi! Tôi không muốn anh ấy ôm mãi nỗi khổ quá to lớn đó trong lòng cho đến khi xuống tuyền đài.
Tôi xin thề với trời đất, suốt đời tôi chưa bao giờ có ý nghĩ hay hành động nào phản bội anh ấy cả! Nếu có sự bất như ý đã xảy ra một lần thì đó là do cạm bẫy của đời, hoàn toàn ngoài ý muốn của tôi. Sự mất mát của tôi cũng giống như sự mất mát một phần thân thể của anh ấy, làm sao cưỡng lại được? Tôi nghĩ, nếu anh ấy biết được hoàn cảnh của tôi lúc ấy, chắc hẳn anh ấy thông cảm cho tôi! Tiếc rằng anh ấy nóng nảy, nông nổi và chủ quan quá! Tôi không có một cơ hội nào để giải thích với anh ấy cả. Bây giờ tôi cũng chẳng biết anh ấy còn sống trên cõi đời này hay không. Nhưng tôi biết chắc dù sống hay chết anh ấy vẫn mãi ôm mối hận đối với tôi!
Lẽ ra tôi phải tự tay hoàn chỉnh tập ký sự này. Nhưng rủi thay, thình lình tôi được bác sĩ cho biết mình đã mắc phải chứng bệnh nan y hết hi vọng chạy chữa. Tinh thần đã rối loạn, ngày tháng đã cạn kiệt, tôi làm sao thực hiện được ý nguyện của mình? Đó là lý do khiến tôi phải nhờ đến ngòi bút của anh! Tôi hi vọng anh sẽ coi nó như một tài liệu sống, anh có thể phơi bày cho người đời cùng thấy.
Tôi cũng mong rằng, khi thông điệp này ra đời, nếu chồng tôi còn sống đâu đó, anh ấy sẽ hiểu cho tôi. Tôi chỉ cần anh ấy hiểu cho tôi để anh ấy giảm bớt được phần nào nỗi phẫn hận, uất ức khi nghĩ tôi là một kẻ phản bội, một kẻ phụ tình . Thảng hoặc khi thông điệp này ra đời mà anh ấy không còn nữa, tôi cũng sẽ toại nguyện phần nào cũng như khi mình ấm ức một chuyện gì mà đã la hét lên được, đã khóc ra tiếng được!
Tôi cũng tin chắc trong xã hội này còn rất nhiều người khác cũng đang gánh chịu những nỗi oan khuất tương tự như tôi. Biết đâu thông điệp này lại chẳng trở thành một nhịp cầu thông cảm, nối liền tình yêu thương giữa nhiều người đã bị cắt đứt bởi những ngộ nhận do thời thế, do những hoàn cảnh đặc biệt gây nên!
Tôi mang chứng ung thư gan đã vào giai đoạn cuối, đời sống của tôi đã tới lúc chỉ còn tính từng ngày. Tôi mong anh vì tình làng nước, tình bạn cũ, thay tôi ghi chép lại sự việc này để người đời cùng cảm thông…
Cám ơn anh trước và chúc anh thành công!
Một người bạn cũ của anh.

CHƯƠNG 1
Hồi ấy nhà tôi ở ngoại ô thành phố Huế. Cha tôi là một giáo sư Pháp văn khá nổi tiếng, mẹ tôi là một giáo viên tiểu học. Tôi có hai người anh – anh đầu tên Hữu anh thứ tên Hảo – chỉ cách nhau hai tuổi. Tôi là con gái duy nhất và cũng là con út, kém anh Hảo đến tám tuổi. Vì thế, từ thuở nhỏ tôi đã được hứng trọn tất cả tình thương yêu cưng chiều của mọi người trong gia đình.
Khi hai người anh tôi bước vào tuổi trưởng thành, tôi mới chỉ là một cô bé lên mười. Thế nhưng từ tuổi ấy tôi đã biết là tôi xinh đẹp. Ai cũng khen tôi có một gương mặt ưa nhìn với nước da trắng như trứng gà bóc. Một số bạn bè của hai anh tôi vẫn hay nói đùa đòi “xí” tôi trước. Anh nào cũng tỏ ra ưu ái đặc biệt với tôi, coi tôi như em gái cưng. Họ rất chiều chuộng tôi, hay dẫn tôi đi xem hát, xem phong cảnh, tặng những món quà tôi ưa thích. Được thể tôi cũng đâm ra hay vòi vĩnh với họ khiến hai anh tôi phải khuyên ngăn, răn đe nhiều lần.
Tôi càng lớn, hai anh tôi và nhất là mẹ tôi càng chú ý dạy bảo tôi về cách giữ gìn tánh nết, về cách cư xử với mọi người, đặc biệt là đối với nam giới. Tôi đã tỏ ra biết vâng lời khiến những người trong gia đình rất hài lòng và tin tưởng…

Khi tôi bước lên trung học đệ nhị cấp thì hai anh tôi đều đã sống xa nhà: anh Hữu nhập ngũ, anh Hảo may mắn hơn, được du học ở Pháp. Tuy hai anh tôi đã đi khỏi nhưng một số bạn bè cũ của hai anh tôi vẫn hay lui tới nhà tôi thăm viếng như trước. Lúc này tôi đã hiểu biết nhiều nên càng tỏ ra rất chừng mực trong việc tiếp xúc với các anh ấy. Tôi cũng biết đây là thời điểm quan trọng nhất trong đời con gái của mình nên càng dè dặt cẩn thận. Hình như hễ cậu con trai nào đã gặp tôi một hai lần đều cố tìm cách làm quen cho được. Các bạn đồng phái thì muốn giới thiệu tôi cho anh em chúng… Thật tình trái tim tôi cũng nhiều lúc xao động, nhưng rồi với niềm kiêu hãnh, với lòng tin tưởng vào những kinh nghiệm mẹ tôi đã truyền thụ, tôi vẫn gắng làm ra vẻ một kẻ vô tình…
Rồi một buổi sáng thứ ba kia, tôi vừa mang một thau áo quần dơ toan đi giặt thì anh Thành đến chơi. Anh Thành là một trong những bạn học của anh Hảo. Trước đây anh vẫn thường lui tới nhà tôi nên chúng tôi vẫn coi anh như người trong gia đình. Sau khi hai anh tôi đi khỏi, thỉnh thoảng anh cũng ghé nhà thăm ba mẹ tôi vào dịp cuối tuần. Đây là lần đầu anh Thành đường đột tới nhà tôi vào một ngày thường nên tôi không khỏi ngạc nhiên. Tôi để thau áo quần bên một gốc chuối:
- Mời anh Thành vào nhà đã! Anh đến chơi hay có việc gì?
Tôi dợm bước đi nhưng anh Thành vẫn đứng tại chỗ:
- Chẳng có việc gì cả. Buồn buồn tới thăm em gái thôi.
- Sao anh biết hôm nay Ngọc ở nhà mà tới thăm?
- Thế mới tài chứ! Anh còn biết thứ năm em được nghỉ cả ngày nữa kìa!
Hóa ra anh ấy đã đọc được thời khóa biểu mới của lớp tôi ở đâu đó. Tôi nói đùa:
- Vậy mà cũng khoe tài! Tài đọc lén thời khóa biểu thì có!
- Nghĩ thế cũng được! Nhưng cũng phải có lý do khiến người ta phải đọc lén chứ!
Ngập ngừng một chút, anh Thành tiếp:
- Nói chơi chứ anh đến để báo cho em biết là anh sắp nhập ngũ!
Tôi trố mắt kinh ngạc:
- Anh Thành nói thật à? Khi nào anh lên đường?
- Nội tuần sau thôi.
- Sao mà gấp dữ vậy?
- Anh ra đi chẳng được một ai lưu luyến thì dùng dằng cho lâu làm gì!
Tôi chợt nhớ mấy câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm vừa mới học, bèn cười:
- Thế mà lại hay, tránh được cái cảnh “Dấu chàng theo lớp mây đưa, Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà!” nghe xốn xang lắm phải không anh Thành?
- Không đâu, thật tình anh mong được hưởng cái cảm giác xốn xang đó lắm! Tiếc rằng anh vô phước nên không có thôi!
Anh Thành nhìn tôi với cặp mắt hơi lạ một hồi – hình như anh còn muốn nói gì nhưng rồi nhìn thau áo quần đầy ắp tôi để ở gốc chuối anh lại lặng thinh. Lát sau anh cất giọng buồn buồn:
- Thôi, anh về để Ngọc còn làm việc. Nhớ cho anh gởi lời thăm và chúc sức khỏe hai bác. Anh đi nhé!
Tôi còn nhiều công việc thật nên chỉ mời đưa:
- Sao anh gấp dữ vậy? Hay chủ nhật này có ba mẹ em ở nhà anh lại chơi một lần chót trước khi lên đường chứ!
- Ừ, thứ bảy hoặc chủ nhật anh sẽ tới!
Hình như anh Thành hơi bỡ ngỡ và không mấy vui trước vẻ bình thản của tôi…

*
Buổi tối, vào lúc gia đình ăn cơm, tôi nói:
- Ba mẹ biết anh Thành sắp đi lính chưa?
Mẹ tôi hơi giật mình:
- Nó nói với con thế à?
Tôi kể hết đầu đuôi việc anh Thành đến thăm, mẹ tôi cười:
- Đến giã từ mà chỉ có vậy thôi sao? Con chẳng nói gì thêm với nó à? Đứa nào cũng “một cục vắt một hòn” cả!
Nhìn nụ cười của mẹ tôi chợt hiểu ý. Tôi chống chế:
- Con biết gì mà nói!
Mẹ tôi quay sang cười với ba tôi:
- Cái thằng thế mà nhát gái quá!
Ba tôi cũng cười, nói:
- Em làm như đã đi guốc trong bụng thằng Thành không bằng!
Mẹ tôi quả quyết:
- Thấy đã hay, đâu cần phải lấy tay mà sờ! Nó lui tới nhà mình bao lâu nay anh không hay biết gì cả sao? Không tin thứ năm này nó lại tìm đến nữa cho coi! Được cái nó tánh tình ngay thẳng trung hậu, không có chi đáng ngại!
Ba tôi cười vui vẻ:
- Thế à, có thể em nói đúng, anh không có cái nhạy cảm như đàn bà được! Nhưng anh cũng có nhận xét trong số bạn bè của thằng Hữu thằng Hảo nó là đứa được nhất!

Hóa ra ba mẹ tôi có cảm tình với anh Thành đến thế. Nhưng hình như ông bà chưa hiểu lòng tôi. Anh Thành nghĩ về tôi ra sao chưa rõ chứ tôi hoàn toàn chưa có tình ý gì với anh ấy cả. Hai anh tôi có nhiều bạn bè hay gần gũi tôi, tôi cũng có một số bạn bè khác, người nào cũng có những nét để tôi mến, nhưng tôi chưa hướng tình cảm về một người nào cả. Nói cho đúng, tôi còn đang lựa chọn. Những lời răn dạy của mẹ tôi đã khiến tôi lúc nào cũng bình tĩnh đắn đo trong việc gây dựng tương lai cho mình. Đã có nhiều chàng trai gởi thư tán tỉnh nhưng tôi đều phớt lờ. Con gái hồi đang lên cần gì phải vội! Tôi đang nghĩ vẩn vơ thì nghe mẹ tôi hỏi ba tôi:
- Sao, anh nghĩ mình có nên mời nó một bữa cơm giã từ không?
- Nếu em thấy tiện cứ làm! Trưa chủ nhật này được không?
Mẹ tôi quay sang tôi:
- Con mời anh Thành đến dùng bữa cơm thân mật trưa chủ nhật này nhé!
Tôi gật đầu. Anh Thành đã bao lần ăn cơm ở nhà tôi, đâu ngại gì chuyện đó.
Hôm sau, theo lời dặn của mẹ tôi, tôi ghé chợ mua một cặp vịt tơ. Thịt vịt chắm nước mắm gừng và cháo vịt là món ăn thích khẩu của hai ông anh tôi và anh Thành. Mẹ tôi quan sát cặp vịt một lát, bà đưa mắt nhìn ba tôi rồi nhìn tôi, cười ý nhị:
- Cũng biết lựa đúng thứ khách ưa đấy chứ! Nó là khách của con, chủ nhật này làm món gì tùy con đấy!
Tôi cười chống chế:
- Ba mẹ bảo mời sao lại nói là khách của con?
Mẹ tôi lại cười:
- Chỉ tiếc là nó phải đi lính! Nếu như nó được miễn dịch thì…
Ba tôi cũng cười, nói xen vào:
- Tiếc cái gì, thời buổi này mấy ai khỏi làm lính? Con mình không đi lính à? Làm lính cũng có cái giá trị cao cả của người lính chứ! Em không nghe câu ca dao “Trai khôn tìm vợ chợ đông, Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” sao? Nhưng sao em kết cậu ấy dữ vậy?
Mẹ tôi phân trần:
- Có gì đâu, nó gần gũi mình từ nhỏ, mình biết rõ tánh tình nó chất phác, trung hậu, đỡ phải lo lắng về tương lai của con gái mình. Em cứ sợ để tự do con nó vấp phải phường không ra gì thì uổng đời.
Câu nói của mẹ tôi làm tôi phát ngượng, vội thanh minh:
- Nhưng anh Thành với con đã có gì đâu mà mẹ nói vậy? Chẳng qua con chỉ coi anh ấy như một người anh thôi. Anh ấy cũng chưa hề nói thương yêu gì với con cả và thật tình con cũng chưa hề nghĩ đến chuyện chồng con đâu!
Mẹ tôi lại cười:
- Ừ, nếu con chưa nghĩ đến chuyện chồng con thì thôi!

*
Tôi hoàn toàn không ngờ ba mẹ tôi đã có ý chọn chồng cho tôi. Người chủ động vấn đề rõ ràng là mẹ tôi. Xưa nay tôi vẫn phục những nhận xét nhạy bén, sâu sắc của bà về việc đời. Đêm đó tôi đã suy nghĩ nhiều về anh Thành. Tất nhiên mẹ tôi có lý. Anh Thành hiền lành, thông minh, học hành khá, lại điềm đạm, ít nói… Tôi vẫn xếp anh vào hạng trên trung bình. Nếu lấy anh Thành mà tạo được niềm vui cho cha mẹ mình thì cũng đáng lắm chứ!
Mẹ tôi đã đoán không sai! Sáng thứ năm, sau khi ba mẹ tôi rời khỏi nhà một lát thì anh Thành cưỡi xe đạp đến, trông rụt rè, bần thần. Tôi hơi ngượng và tức cười khi nhớ lại những lời mẹ tôi ướm ướm hôm kia. Có thể anh Thành đã thỏa hiệp ngầm với ba mẹ tôi lắm?
- Anh Thành vào nhà chơi đã!
Anh chỉ cười cười, hơi gật đầu một tí rồi bước vào ngồi xuống ghế. Thấy anh có vẻ lúng túng, tôi lại tiếp:
- Trước khi anh lên đường, trưa chủ nhật này mời anh đến dùng bữa cơm thân mật với gia đình em được không?
Vẻ mặt anh Thành tươi tỉnh hẳn lên:
- Làm phiền hai bác và Ngọc quá vậy! Nhưng chuyện ấy để nói sau, bây giờ anh đề nghị với Ngọc như thế này…
Tôi lại tức cười thúc giục:
- Lâu lắc gì nữa mà phải nói sau! Tiện hay không tiện anh Thành cứ nói để em còn tính việc chứ!
- Thôi được, hai bác và Ngọc đã có ý tốt anh đâu dám không nghe, anh xin cám ơn trước! Nhưng bây giờ anh đề nghị chuyện này mong Ngọc không từ chối.
- Chuyện gì vậy?
Anh ngập ngừng:
- Anh muốn mời em đi xem tuồng “Lưu Huyền Đức cầu hôn Giang tả” bắt đầu diễn vào lúc hai giờ chiều nay, tuồng này hay lắm, em đồng ý chứ?
- Ồ, xin lỗi anh Thành, chiều nay em phải đi với ba em có công chuyện!
Anh Thành xịu mặt, mất hẳn cái vẻ hào hứng vài phút trước đó. Thật ra tôi đã bịa chuyện. Tôi nghĩ dù tôi có đi chơi với anh Thành chắc ba mẹ tôi cũng không buồn. Tôi chỉ ngại anh ấy đánh giá tôi hơi phóng túng thôi. Đó chính là cái kinh nghiệm mẹ tôi đã dạy. Nhưng nhìn vẻ mặt thất vọng của anh Thành tôi thấy không đành lòng. Tôi nói một câu vu vơ:
- Lúc này ổi ở vườn anh chín nhiều chưa?
Không ngờ câu nói này lại làm vẻ mặt anh Thành tươi lên:
- À, lúc này ổi vườn anh chín nhiều lắm nhưng anh quên lẫn, không hái một ít làm quà cho Ngọc. Hay bây giờ đến vườn anh chơi một chốc anh hái ổi ăn cho vui! Vườn mùa này mát lắm!

Trước đây tôi đã có mấy lần tôi theo hai anh tôi đến nhà anh Thành chơi. Đúng ra đó chỉ là nhà ông bác anh. Nhà chính của anh ở đâu tận một xã thuộc vùng quê xa thành phố đến mười mấy cây số. Anh ở nhà ông bác để đi học cho gần đồng thời coi sóc nhà cửa giùm vì ông bác hay vắng nhà. Nhà có một khu vườn đẹp, trồng nhiều loại cây ăn trái, mùa hè vườn này mát mẻ đến phát mê. Anh Thành vẫn hay hái trái cây đem cho chúng tôi. Vừa rồi tôi chỉ hỏi cho có chuyện, không ngờ anh Thành lại vin vào đó để rủ tôi. Tìm cớ gì để từ chối nữa đây? Nhớ lại gương mặt bị sị của anh lúc nãy, tôi gật đầu:
- Cũng được! Nhưng đến chơi một lát thôi nghe, em phải về sớm kẻo ba em mất công chờ!
- Anh chở em đi rồi chở về cho tiện nhé!
- Không, em cũng có xe mà!

Tôi dắt xe đạp ra cưỡi. Nhà anh Thành chỉ cách nhà tôi khoảng hai cây số, đạp một chốc tới liền. Trong nhà anh lúc đó không có ai. Tôi không vào nhà mà đi thẳng ra vườn. Vườn vẫn đẹp đẽ, mát mẻ hấp dẫn như xưa. Nhưng hình như vừa mới được thu hoạch nên trái chín hơi hiếm. Anh Thành rảo khắp, leo trèo nhiều cây nhưng chỉ hái được một mớ trái hườm hườm. Chúng tôi lựa một gốc mít, lót tờ báo cùng ngồi ăn và chuyện trò vu vơ. Một lát sau, anh Thành nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói:
- Anh xin thú thật, anh mến Ngọc từ lâu lắm rồi. Giờ sắp đi xa, không còn thì giờ để nói nhiều, anh xin đi thẳng vào vấn đề, anh muốn sau khi ra trường được cưới em, anh nguyện sẽ yêu em, lo lắng bảo bọc cho em suốt đời, xin em hiểu lòng anh mà không từ chối!

Tôi chỉ hơi xúc động, nhưng không ngạc nhiên vì hôm kia mẹ tôi đã gián tiếp báo động cho tôi biết chuyện này. Hơn nữa, biết mình có chút nhan sắc hơn người, không khỏi nhiễm ít nhiều thói tật kiêu căng, tôi bình thản trả lời:
- Cám ơn anh Thành đã nghĩ đến, đã dành thứ tình cảm cao nhất đó cho Ngọc. Nhưng thời gian còn dài, không gian còn cách trở, đâu vội gì anh!
Anh Thành nói với giọng tha thiết:
- Không vội sao được Ngọc? Em đẹp quá như vậy làm sao anh yên lòng được nếu em không cho anh một lời hứa? Thú thật khi rủ Ngọc đi xem hát tuồng, anh có ý định nêu một bằng chứng giữa ba quân thiên hạ rằng anh đã “xí em trước”…
Nói đến đây anh run run cầm tay tôi:
- Ngọc hứa với anh một lời đi!
Tôi để yên tay cho Thành nắm – do lòng bất nhẫn chứ không phải do tình yêu. Tôi kính mến anh nhiều nhưng tình yêu còn ẩn núp đâu chưa ló dạng:
- Anh hãy thư thả một thời gian Ngọc mới trả lời được!
Thành bóp mạnh tay tôi:
- Em trì hoãn để từ chối ư? Không, anh muốn em trả lời ngay, anh sốt ruột lắm!
Bất thần Thành kéo tôi ôm lấy và hôn hít túi bụi. Thành hổn hển nói:
- Anh phải làm một cái gì để giữ em mới được!
Tôi cố vùng vẫy để thoát khỏi vòng tay của Thành nhưng không dám kêu. Thành cố giữ tôi lại. Trong khi giằng co tôi bị ngã ngửa ra và Thành chồm lên người tôi. Bất đồ tôi cắn một miếng vào cánh tay làm Thành hét lên một tiếng rồi buông tôi ra. Khi vùng dậy được tôi mới biết cái quần tôi mặc đã bị đứt dây lưng suýt tụt xuống. Tôi phải dùng một tay nắm múi vải để giữ nó lại. Trong khi Thành còn đứng ngẩn ngơ tại chỗ, tôi bứt được một đoạn dây dại để cột túm múi vải ở lưng quần. Xong, tôi chạy vội lại lấy xe đạp cưỡi lên phóng đi mặc cho Thành tái mặt ngẩn ngơ không biết nói gì. Khổ nỗi xe đi được một đoạn thì múi dây cột tuột rơi mất. Tôi phải một tay lái ghi đông, một tay giữ lưng quần để đạp xe về tới nhà.

Thật hú vía, còn may là tôi chưa bị mất mát gì! Không ngờ một người có vẻ hiền lành, đức độ như anh Thành lại có lúc hành động như vậy!
Tôi bực tức, bần thần suốt buổi chiều ấy, bỏ luôn cả việc nấu nướng giúp mẹ tôi như những ngày nghỉ học khác.


-----

(Đoạn II)


Tiếng máy nổ quen thuộc của chiếc vespa ba tôi cỡi ngừng lại trước sân làm tôi tỉnh hẳn người. Mẹ tôi gọi:

- Con Ngọc đâu ra xách đồ vào giùm mẹ!

Tôi uể oải bước ra. Nhìn giỏ thức ăn đầy ắp nhiều thứ như đậu xanh, nếp, trứng vịt, thịt heo…, lại có cả một con cá trầu lớn gần bằng cổ tay đang vùng vẫy ở đáy giỏ, tôi đâm ra ngao ngán, tội nghiệp cho mẹ tôi. Mẹ tôi ưu ái với Thành đến thế sao? Nếu tôi tỏ rõ thái độ bất bình với Thành cho mẹ tôi biết chắc hẳn mẹ tôi buồn lắm! Biết làm thế nào đây? Thấy tôi không có vẻ sốt sắng gì, mẹ tôi hỏi:

- Con Ngọc sao vậy? Con mời thằng Thành chưa?

Tôi xịu mặt, cúi xuống xách giỏ đồ vào nhà – không nói gì.

- Nhốt con cá trầu lại cho kỹ để hôm đó nấu ít tô canh chua nghe!

Tôi lặng lẽ làm theo ý mẹ. Có lẽ mẹ tôi đã đoán ra tôi có điều không vừa ý. Mẹ chỉ cười nói giả lả chứ không hỏi gắt. Lâu nay mỗi lần tôi có chuyện bất bình bà vẫn có thái độ như thế. Đợi lúc thấy tinh thần tôi bớt căng mẹ mới hỏi phăng rồi từ tốn nói chuyện phải trái. Với tôi lâu nay mọi chuyện xảy ra đều chỉ giới hạn ở tầm mức vớ vẩn, trẻ con, chứ chưa lần nào làm tôi xốn xang quá đỗi thế này! Kể với mẹ chuyện đã xảy ra ư? Tôi đã mời Thành rồi, nhưng sau cái hành động không đẹp đó liệu Thành có dám vác mặt đến nhà tôi nữa không? Nếu Thành đến, tôi nên có thái độ ra sao?

Tối đó tôi chỉ ăn qua quít vài miếng rồi lên giường nằm sớm. Nhưng tôi không thể nào ngủ được. Có lúc tôi muốn phơi bày cái chuyện quấy quá của Thành cho mẹ tôi biết, nhưng tôi lại không muốn làm mẹ tôi buồn. Tôi đã thức gần trắng đêm…

Hôm sau, khi sửa soạn đi học tôi bỗng nghe ba tôi nói với mẹ tôi:

- Hôm nay anh mời ông Lành, ông Thảo chủ nhật này đến chơi luôn nhé!

Tôi đâm hoảng. Tất nhiên ba tôi phải cho khách biết lý do mời cơm. Nếu Thành không đến biết ăn nói làm sao? Tôi lập tức nói dối với mẹ tôi nhưng mục đích để ba tôi cùng nghe:

- Mẹ ạ, con quên nói với mẹ, anh Thành nói anh còn bận đi thăm giã từ mấy người bà con ở xa, có thể bữa đó anh ấy không đến kịp. Theo con nghĩ mình chỉ nên làm một bữa cơm gia đình thôi, anh ấy đến cũng tốt, không đến cũng không sao. Mình có lòng mời như thế đủ rồi!

Ba tôi nói với tôi:

- Cái con này nữa! Thế sao không nói sớm? Cũng may là ba chưa mời ai.

*

Cũng may thật, quả đúng chủ nhật đó anh Thành không đến nhà tôi. Tôi không vui mà cũng không buồn. Mấy ngày sau ba mẹ tôi cũng như tôi đều biết được anh Thành đã lên đường. Mẹ tôi có vẻ áy náy hỏi tôi:

- Sao thằng Thành lại đi thẳng luôn con biết không? Chuyện gì đã xảy ra?

Tôi chỉ lắc đầu. Vài ngày mẹ tôi lại hỏi nữa. Bà còn thêm:

- Thằng đàn ông con trai như vậy mà con không vừa ý, mẹ cũng không biết con sẽ chọn hạng nào nữa?

Quả tình mẹ tôi đã đi guốc trong bụng tôi! Tôi chỉ cười buồn. Không rõ mẹ tôi đã lập lại câu đó đến lần thứ mấy.

Hơn một tháng sau đó tôi nhận được thư của anh Thành từ quân trường gởi về. Chỉ toàn những lời xin lỗi. Tôi không trả lời. Sau đó lại liên tiếp có nhiều lá thư khác, cũng đều là những thư hối lỗi. Tôi vẫn không trả lời. Hơn hai tháng sau tôi nhận được thư của anh Hảo. Tôi tức cười khi thấy rõ được sự thật thà của anh Thành: chuyện của tôi đã đến tai anh Hảo! Đây cũng là cớ chính để tôi chịu làm hòa với anh Thành. Tuy vậy, tôi vẫn giữ cái ranh giới vừa phải – cứ tới đâu hay tới đó.

Nhưng rồi với những lá thư lời lẽ nồng nàn, với sự hỗ trợ từ xa của hai ông anh tôi, và nhất là với sự nội ứng mạnh mẽ của mẹ tôi, anh Thành đã phá vỡ được bức thành lòng của tôi lúc nào không hay…

Ra trường xong, anh Thành may mắn được đưa về phục vụ ở một đơn vị thuộc tỉnh nhà. Chẳng bao lâu sau đó, anh đã đàng hoàng trở thành chàng rể tương lai của gia đình tôi.

Khi đã kết thân rồi tôi mới biết thêm chàng có nhiều đức tính hiếm thấy. Hơn ba năm trong thời gian chưa cưới, chúng tôi có nhiều cơ hội để gần gũi nhau, thế mà chàng vẫn một mực chịu phép, không hề dám manh động. Biết chuyện này, một người bạn tôi đã nói đùa: “Đúng là cù lần biển! Lúc người ta chưa chịu thì làm ẩu, khi người ta trông chết mệt lại làm ngơ!”.

Một lần chàng về phép ghé thăm gia đình tôi, gặp lúc có một cô bạn tôi cũng đến chơi. Thấy cô bạn này bận bộ đồ bộ vải xoa màu tím nhạt vừa vặn xinh xắn quá tôi buột miệng khen:

- Bộ đồ này ai may khéo quá, mày mặc trông đẹp hết sẩy!

Thành cũng trầm trồ khen rồi quay sang tôi:

- Anh sẽ tặng Diệu Ngọc một bộ đồ như thế!

- Khi nào anh tặng?

- Hôm nay là thứ tư, chiều thứ sáu đi! Vì sáng thứ bảy anh phải trở về đơn vị rồi!

Nghe chàng hứa tôi thích lắm. Ngờ đâu hôm sau trời đổ mưa suốt ngày. Hôm thứ sáu mưa càng lớn, gió lại thổi mạnh. Lúc đó tôi không nghĩ đến món quà Thành hứa tặng nữa mà chỉ ngại anh ấy phải vất vả khi trở về đơn vị. Thế mà đúng chiều thứ sáu anh vẫn có mặt tại nhà tôi với món quà đã hứa. Tôi cảm kích hết sức. Thành nói:

- Trời mưa bão dữ quá sợ thợ may nghỉ việc, anh phải đến tiệm ngồi thúc hối từ buổi trưa tới giờ mới xong! Anh không muốn thất hứa với em!

Nhìn người Thành ướt át, mẹ tôi cười bảo:

- Quả thật một cục vắt một hòn! Không tặng khi này thì khi khác cũng được chứ làm gì mà gấp vậy? Con Ngọc lấy đồ của thằng Hảo cho nó thay đi không lại cảm!

Tôi đưa đồ của anh Hảo cho Thành thay. Sau đó tôi lấy bộ đồ Thành mới tặng mặc thử. Ai nấy đều ngạc nhiên thấy nó vừa vặn đẹp quá. Tự ngắm mình trong gương tôi thấy hài lòng hết sức.

Cảm động vì thịnh tình của Thành, tôi nói với chàng:

- Cám ơn anh đã tặng em một bảo vật. Em sẽ giữ bộ đồ này làm kỷ niệm.

Hôm sau tôi nắn nót thêu vào hai chéo chiếc áo quí ấy hai chữ Hán: một bên chữ Ngọc một bên chữ Thành. Xong, tôi xếp lại cẩn thận cất vào rương chờ khi Thành về thăm sẽ đem khoe.

Đến khi tôi đã trở thành cô giáo thì hai gia đình chúng tôi chính thức tổ chức lễ cưới. Không lâu sau đó ba mẹ tôi đổi về sống ở Sài Gòn. Nhờ đơn vị anh Thành đóng không xa, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn được gặp nhau, ít khi xa cách lâu. Chàng rất hãnh diện với mọi người về tôi. Chàng vẫn luôn nhắc tới câu chuyện làm ẩu ngày xưa của chàng như một chứng minh hùng hồn về đức hạnh của tôi. Chàng hay khoe chuyện đó với người quen đến nỗi nhiều khi tôi phát ngượng… Vợ chồng tôi tâm đầu ý hợp, biết kính trọng nhau, tin tưởng nhau, lúc nào cũng nghĩ đến nhau. Mấy đứa con của chúng tôi cũng lần lượt ra đời…

*

Nhưng rồi chiến tranh càng ngày càng nổ lớn. Đùng một cái, người anh cả của tôi – anh Hữu – bị tử trận. Phải chăng là do số mệnh? Trước đó tôi đã nghe anh sắp lên đường đi tham dự một khóa tu nghiệp ở nước ngoài. Chỉ vì vụ bàn giao công việc chậm trễ, anh ở lại đơn vị thêm một đêm! Nào ngờ đêm đó lại là đêm định mệnh: một trái đạn pháo đã kết thúc đời anh! Ngoài nỗi đau đớn mất một người thân, cái chết ấy còn tạo một dấu ấn sâu đậm trong đầu óc tôi về lẽ vô thường. Tôi tự dưng cảm thấy thương cảm và ái ngại cho những người lính thời chiến quá. Tôi càng đâm ra lo sợ cho chồng tôi, cho chính mình: “… Lấy chồng đời chiến binh, Mấy người đi trở lại, Lỡ khi mình không về, Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…” (thơ Hữu Loan).

Rồi bất ngờ anh Thành lại nhận được lệnh thuyên chuyển về vùng 3. Lúc đó tôi đã có ba con: thằng Tí, thằng Sửu và con Hoa. Con thơ đùm đề như thế muốn đi theo chồng cũng khó lắm! Nhất là con Hoa còn quá nhỏ: chưa tròn một tuổi. Đi theo chỉ làm bận bịu cho chồng tôi thôi! Tôi đành ở lại để vừa nương tựa cha mẹ chồng vừa tiếp tục đi dạy học. Nhưng sống xa cách nhau tôi càng thấy thương và ái ngại cho chồng tôi vạn bội. Từ đó đầu óc tôi luôn bị ám ảnh bởi những nỗi bất hạnh mơ hồ…

CHƯƠNG 2

Khi nhận được lệnh thuyên chuyển về Sở Học Chánh Tuyên Đức Đà Lạt, tôi vui mừng khôn xiết. Không ngờ một lời nói giúp của ba tôi ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục lại có hiệu quả nhanh chóng đến thế. Cầm tấm giấy trên tay mà tôi cứ ngỡ như mình đang ở trong mơ!

Nguyên giữa tháng 7/74, tôi nhận được thư của Thành, anh cho biết khoảng cuối 74 hoặc đầu 75 anh sẽ được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia. Anh cũng nói lên ước vọng: “Nếu em xin được thuyên chuyển về dạy ở Đà Lạt nữa thì hay biết mấy! Vợ chồng con cái mình sẽ sum họp một nhà, thật không mong gì hơn!”. Đà Lạt vốn nổi tiếng khí hậu mát mẻ, cuộc sống hiền hòa, lại có nhiều danh lam thắng cảnh, là một nơi di dưỡng tinh thần rất tốt. Anh Thành lại có bà cô ruột – cô Hậu – ở ngay thị xã. Gia đình cô sinh sống ở nơi này đã hơn mười lăm năm nay. Nếu được thuyên chuyển về đó, chúng tôi sẽ không đến nỗi lẻ loi! Vì thế, tôi cũng mơ ước được sinh sống ở xứ này.

Khi tôi báo tin này cho ông bà nội tức cha mẹ chồng tôi – từ khi có con tôi vẫn quen xưng gọi cha mẹ chồng là ông bà nội, gọi cha mẹ ruột tôi là ông bà ngoại – theo đúng như con cái chúng tôi xưng gọi – ông bà nội mừng lắm:

- Nó nói sắp được đổi về Đà Lạt thật không con? Lạy ơn trên! Quả là phước đức ông bà để lại!

Tôi đọc lại lá thư cho ông bà nội cùng nghe. Suốt mấy ngày liền trên nét mặt hai ông bà lúc nào cũng lộ vẻ hân hoan làm tôi rất cảm động. Tôi biết ông bà nội mừng vì được ở Đà Lạt chữ thọ của anh Thành sẽ được bảo đảm hơn nhiều. Nhân một bữa ăn tối, trong lúc ông bà đang hí hửng nhắc đến anh Thành, tôi hỏi:

- Anh Thành muốn con và mấy cháu vào sống với anh ở Đà Lạt, ông bà nội có chịu cho tụi con đi không?

- Sao lại không? Ba mẹ cũng mong vợ chồng con được sum họp lắm chứ!

Tôi nghe thế mừng lắm:

- Vậy thì con làm đơn xin thuyên chuyển nhé!

Ông nội vui vẻ nói:

- Ừ, con cứ làm đơn đi! Ông bà nội tuy già nhưng còn mạnh, vẫn có thể nương tựa nhau được. Chừng năm bảy năm nữa yên yên tụi con cũng trở về đây chứ lo gì!

Mấy ngày sau tôi lại nhận được một lá thư nữa. Anh Thành cũng lập lại cái tin đáng mừng nói trên. Anh cũng nhắc tôi nên tìm cách xin thuyên chuyển về Đà Lạt. Thế là cả gia đình tôi đều vui vẻ chờ đợi tin mới.

Chừng nửa tháng sau ông bà ngoại ở Sài Gòn lại đột ngột về thăm chúng tôi. Tôi kể lại việc anh Thành sắp đổi về Đà Lạt cho ông bà nghe và cũng nói lên nguyện vọng của gia đình. Ông ngoại nghe xong vui vẻ nói:

- Ừ, Đà Lạt là nơi khí hậu tốt nhất Việt Nam, về học đường từ tiểu học đến đại học đều có đủ, việc giáo dục con cái rất thuận lợi. Dân Đà Lạt lại sống hiền hòa, các nghề trồng trọt, buôn bán… đều khá. Con muốn lên đó sống với thằng Thành để ba lo cho, không khó khăn chi cả!

Lúc bấy giờ ông ngoại về hưu đã khá lâu, tôi nghĩ ông ngoại chỉ nói cho có nói vậy thôi chứ không tin tưởng lắm. Tôi mỉm cười hỏi:

- Bộ ba giúp con việc đó được thật sao?

Ông ngoại cười:

- Sao lại không được? Ba còn nhiều bạn bè đang làm việc ở Bộ, một việc nhỏ đó chẳng lẽ ba lo không xong?

- Thế thì ông ngoại lo cho con đi! Ông ngoại cần những giấy tờ gì?

- Khỏi cần!

Đơn giản đến vậy sao? Tôi cho rằng ông ngoại đã chủ quan như bao nhiêu người cao tuổi khác mà tôi vẫn gặp. Suy nghĩ như thế nên khi ông bà ngoại trở về Sài Gòn, tôi gần như quên ngay chuyện đã nhờ cậy ông ngoại. Tôi đã kiếm sẵn mấy tờ đơn nhưng còn dật dờ chưa điền vì chưa có chứng từ về việc anh Thành được đổi về phục vụ ở Đà Lạt. Nào ngờ chỉ hai tháng sau lần ông bà ngoại về thăm, tôi nhận được tấm lệnh thuyên chuyển như trên trời rơi xuống này!

Khi về nhà tôi liền đem lệnh thuyên chuyển ra khoe. Ông nội vui vẻ nói:

- Ôi, đúng là phước đức ông bà để lại! Vợ chồng con cùng được đổi về Đà Lạt ba mẹ phải làm cỗ mà ăn mừng mới đúng! Lâu nay thấy thằng Thành cứ lăn lộn ở chiến trường ba mẹ lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Nó chịu cực khổ cũng nhiều rồi, thôi thì con cũng mau thu xếp để về sống với nhau cho nó mừng! Đời loạn lạc này không có gì quí bằng chuyện gia đình được đoàn tụ!

Bà nội cũng hớn hở nói:

- Còn chi vui hơn nữa! Như vậy là con được thuyên chuyển lên Đà Lạt trước cả thằng Thành? Nhưng không hiểu ba con xin với ai mà chóng dữ vậy?

- Có lẽ ông ngoại xin thẳng tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục mẹ ạ!

- Rứa con định khi mô đi?

- Chắc phải chờ anh Thành về trên ấy đã!

Ông nội có vẻ lo, hỏi:

- Như vậy là có thể đến đầu năm 1975? Bây giờ mới tháng 9, chờ tới lúc ấy mất khoảng bốn tháng, có lâu lắm không? Sợ người ta không chịu thì sao?

Tôi thưa:

- Chắc không trở ngại đâu ba! Con có thể nhờ ông hiệu trưởng viện lý do vì công vụ lưu giữ lại một thời gian ngắn.

Bà nội gạt đi:

- Thôi con, đã biết chắc thằng Thành sẽ đổi về trong ấy còn lo ngại chi nữa! Cứ sắp xếp mà đi chứ nhờ cậy lưu giữ làm chi cho phiền người ta? Trong đó tụi con còn có bà cô, nếu chưa tìm được nhà cứ ở tạm nhà cô Hậu vài ba tháng chẳng lẽ không được?

Nghe bà nội nói có lý tôi đồng ý ngay:

- Vậy xin ba mẹ cho phép con và mấy cháu lên Đà Lạt sống với ba chúng một thời gian. Con hi vọng có anh Thành trong nhà việc giáo dục mấy cháu sẽ bảo đảm hơn. Khí hậu tốt lành của Đà Lạt sẽ giúp mấy cháu khỏe mạnh, chóng lớn. Chúng con nhất định sẽ làm cho cả ông bà nội lẫn ông bà ngoại hài lòng!

Hai ông bà đồng loạt nói:

- Được, được, con cứ việc dắt mấy cháu vô Đà Lạt sống với chồng con!

Thế là tôi viết thư ngay cho anh Thành một bức thư ngắn gọn:

“Thiện Trường, ngày…

Anh Thành yêu quí,

Trước hết em xin báo cho anh một tin mừng: Em đã được Bộ QGGD ký lệnh thuyên chuyển về Đà Lạt. Ba mẹ rất vui vẻ khi biết tin này. Em sẽ gắng thu xếp để lên đường sớm. Nếu em về Đà Lạt trước, em sẽ ở tạm tại nhà cô Hậu để chờ anh. Ngày đoàn tụ của gia đình mình sắp đến. Hi vọng em và các con sẽ không phải đợi anh lâu!

Vợ anh: Diệu Ngọc”

Tôi nghĩ lá thư này sẽ gây một sự ngạc nhiên lý thú cho Thành. Tôi tin khi đọc xong, anh sẽ vui mừng lắm và lập tức tìm ngay phần vụ hữu quyền để thúc đẩy tiến hành việc thuyên chuyển của mình. Trước mắt tôi đã thấp thoáng một con đường tương lai sán lạn…

*

Cô Hậu là em út của ông nội, cô chỉ lớn hơn anh Thành mười tuổi. Chồng cô Hậu – dượng Tánh – cũng là quân nhân, đơn vị đóng ở Lâm Đồng. Cô Hậu buôn bán rau cải ở chợ Hòa Bình đã hơn mười lăm năm nay. Công việc làm ăn của cô khá thạnh lợi nhưng vì đông con nên cuộc sống gia đình cũng chỉ bình bình. Cô dượng có đến bốn con trai nhưng không có con gái. Các em đều ở tuổi đi học, em lớn nhất là Lâm đã mười tám, kế đó là Sơn, Hải, em nhỏ nhất tên Hiếu mới mười hai. Vì vậy, hễ hết công việc ngoài chợ cô Hậu lại phải bận rộn với công việc trong nhà. Tuy không dư dả lắm, lại ở xa, nhưng không năm nào cô Hậu quên gởi tiền phụ ông bà nội để lo việc chạp giỗ. Ngoài ra, vài ba tháng cô lại gởi thư hỏi thăm sức khỏe ông bà nội. Dĩ nhiên cô cũng ít khi quên hỏi thăm sức khỏe vợ chồng tôi, có khi kèm thêm chút quà cho các cháu nhỏ. Vì thế, tôi vẫn thỉnh thoảng viết thư cám ơn và bày tỏ tâm tình với cô. Nhà cô Hậu lại ở ngay thị xã Đà Lạt, tôi định thời gian đầu sẽ xin ở tạm nhà cô.

Cuối tháng 1/75 thì mẹ con tôi đặt chân lên xứ hoa đào thơ mộng với bao nỗi rộn rã trong lòng. Cô Hậu nghỉ buôn bán trọn hôm đó để lo việc đón chúng tôi về nhà. Đà Lạt là xứ lạnh nên nhà nào dù giàu hay nghèo cũng luôn chuẩn bị giường, nệm, mùng mền thừa sẵn trong nhà để phòng khi có khách đến bất ngờ. Nhà cô Hậu giường mền không thiếu nhưng trong dịp này cô lại sắm cho chúng tôi một bộ giường nệm mới toanh rộng đủ chỗ cho cả bốn mẹ con nằm.

Hôm sau, cô Hậu bỏ thêm một ngày nữa để dắt mẹ con tôi đi mua sắm quần áo ấm, dù mũ, giày tất, nồi soong và nhiều vật dụng linh tinh khác… Trong khi đi mua sắm, gặp món ăn lạ nào cô cũng ép lũ trẻ ăn, đến nỗi khi về nhà bọn trẻ nhịn cơm luôn. Có nhiều món tôi nghĩ chưa cần nhưng cô vẫn cứ mua, vài lần tôi muốn giành trả tiền nhưng cô nhất định không chịu. Cô cười cười nói:

- Tụi bây vào đây nhằm lúc này là hên lắm đó. Cô vừa mới bốc một cái huê, huê bốc chót mới ngon chứ! Thời buổi buôn bán ế ẩm, nếu tụi bây vào gặp những lúc khác chưa chắc cô đã có tiền để sắm sửa cho tụi bây đâu!

Lần đầu tiên nghe tiếng bốc huê, tôi không hiểu nên hỏi:

- Bốc huê là làm sao cô?

Cô Hậu giải thích:

- Chơi huê con không biết à? Ngoài Trung mình người ta gọi là chơi hụi đó mà! Thế này nhé, một người đứng ra rủ chừng mười lăm hai chục người thỏa thuận với nhau chơi một cái huê. Người chủ động rủ người chơi gọi là chủ huê. Huê được ấn định kỳ hạn là một tuần, nửa tháng hay một tháng tùy sự giao ước với nhau. Lần đầu, mỗi người chơi huê phải đóng cho chủ huê một số tiền nhất định. Thí dụ mỗi chân huê đóng 1.000 đồng chẳng hạn. Chủ huê toàn quyền tùy nghi sử dụng số tiền gom được đó. Đến kỳ thứ nhì, các huê viên ai cần tiền thì bỏ thăm để bốc. Giả như con cần tiền mà cô cũng cần tiền, con bỏ thăm 100 đồng, cô bỏ thăm 150 đồng, thăm của cô cao hơn nên cô trúng. Các huê viên khác mỗi người chỉ đóng 850 đồng cho chủ huê. Chủ huê có trách nhiệm thu tất cả số tiền đó ở mọi người rồi trao lại cho cô. Cô đã bốc được rồi tức chân huê của cô đã thành chân huê chết (để phân biệt với người chưa bốc được gọi là chân huê sống), từ đó mỗi tháng cô phải đóng 1.000 đồng để chủ huê chung cho người nào trúng. Kỳ tiếp theo, giả sử có người bốc cao nhất 120 đồng, những chân khác chỉ đóng 880 đồng, ngoại trừ chân huê chết. Nói chung, người nào đã bốc được thì trở thành chân huê chết, các kỳ kế tiếp phải đóng đủ 1.000 đồng mãi cho đến phiên người cuối cùng bốc. Người bốc chót, như cô vừa mới bốc trước khi tụi con vào, sẽ nhận đủ trọn vẹn từ mỗi huê viên khác 1.000 đồng.

- Như vậy ai bốc càng sớm càng thiệt thòi cô hả?

- Ừ, ai cần mới bốc chứ bốc sớm làm gì! Khi cần lại phải bốc thật cao mới chắc ăn. Thí dụ đầu huê mỗi chân đóng 1.000 đồng, nếu con cần tiền, con có thể bốc cao tới 300 đồng, mỗi chân huê sống chỉ đóng cho con 700 đồng thôi. Như vậy là con thành chân huê chết, mỗi kỳ phải đóng 1.000, chịu lỗ 300 đồng…

Chuyện chơi hụi tôi đã nghe từ lâu nhưng bây giờ tôi mới biết rõ. Chắc hẳn trong những ngày chúng tôi mới đến, cô Hậu đã tốn một số tiền khá lớn.

Những ngày kế tiếp, cô Hậu lại tiếp tục công việc buôn bán. Hằng ngày từ chợ về, lúc nào cô cũng có ít hàng quà cho các cháu. Tôi chưa đi làm nên ở nhà cũng phụ lo các việc nội trợ. Vài lúc tôi còn ra chợ trông hàng giúp cô nữa. Sạp hàng của cô Hậu cũng khá đông khách. Hình như là khách quen cả, tôi thấy người ta rất ít trả giá khi mua hàng. Nhìn các sạp hàng khác tôi cũng nhận thấy như thế cả, người mua kẻ bán rất hoà nhã với nhau. Quả thật dân Đà Lạt sống rất hiền hòa như người ta vẫn nói. Buổi tối về nhà được rảnh rang hơn trước, cô Hậu có vẻ hài lòng. Cô cháu lại cùng nhau chuyện trò vui vẻ.

Những ngày đầu tiên sống ở Đà Lạt tôi cảm thất dễ chịu làm sao!

Nhưng rồi một hôm, cô Hậu từ chợ trở về với vẻ mặt nghiêm trọng, cô vẫy tôi lại gần, nói thật nhỏ:

- Lại giới nghiêm 24/24 rồi. Người ta tranh nhau mua gạo, cá khô để trữ làm ồn cả chợ. Chắc kỳ này dượng Tánh con không về được. Thằng Thành nói muộn lắm là đầu năm 1975 đổi về đây mà giờ đã hết tháng 1/75 sao chẳng thấy gì cả? Con viết thư hỏi nó lại xem sao?

Nghe nói đến chuyện giới nghiêm là tôi đâm hoảng. Mỗi lần quân đội giới nghiêm là y như có chuyện chẳng lành. Tôi cứ sợ dại vì nhà tôi đã có một cái huông không tốt. Anh Hữu tôi trước cũng phục vụ trong quân đội. Lần đó anh đã nhận được sự vụ lệnh đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Không ngờ trong khi còn ở lại đơn vị để chờ bàn giao công việc, anh đã bị pháo kích chết. Vụ ấy cứ ám ảnh mãi trong đầu óc tôi…

Liền đêm đó tôi viết thư cho anh Thành để thúc giục. Nhưng thư chưa kịp gởi tôi đã nhận được thư anh báo tin: “Vì tình hình chiến sự, vụ thuyên chuyển của anh đã bị tạm đình”. Ông trời trêu tôi đến thế này sao? Tôi cảm thấy lúng túng và càng đâm ra lo sợ thêm. Suốt mấy ngày liền tôi cứ bần thần, hoang mang không làm gì được. Cô Hậu lại phải an ủi tôi, khuyên tôi cứ lo thu xếp cho mấy cháu vào trường học và lo đi trình diện nhiệm sở mới.

Nỗi lo sợ của tôi không ngờ đã biến thành sự thật một cách phũ phàng. Mấy ngày sau thì tôi nhận được cái tin anh Thành bị thương nặng. Anh đã được đưa về chữa trị tại quân y viện Cộng Hòa! Thật éo le hết sức! Nếu chưa đi Đà Lạt, tôi còn dễ xoay xở tiền nong và gởi mấy cháu cho bà nội để vào thăm anh. Nhưng bây giờ thì tôi kẹt cứng! Việc sắm sửa để di chuyển vào Đà Lạt vừa qua tôi đã bị hao tốn khá nhiều. Tới Đà Lạt lại làm gia đình cô Hậu hao tốn cũng không ít. Chẳng lẽ giờ lại tiếp tục làm phiền cô Hậu? Hơn nữa, tôi trình diện nhiệm sở mới đã trễ mất một thời gian, giờ lại xin phép nghỉ để đi thăm chồng càng khó nói. Dù có xin được phép, cô Hậu buôn bán đầu tắt mặt tối, tôi biết gởi lũ con cho ai? Cuối cùng, tôi chỉ còn nước đánh điện cho ba mẹ tôi ở Sài Gòn biết để nhờ ông bà lo liệu thế nào đó rồi tính tiếp.

Tối hôm đó, đợi cô Hậu ăn uống xong tôi mới đưa bức điện tín ra nói chuyện. Cô hoảng hốt kêu trời than thở một hồi rồi hỏi tôi:

- Bây giờ con tính sao?

Tôi thành thật nói ra những điều mình đã suy nghĩ. Cô Hậu nói:

- Cô cũng đang lo bấn cả ruột. Cả tháng nay dượng Tánh con không về thăm, cô không yên bụng chút nào. Giờ lại thêm cái vụ thằng Thành nữa! Cô hiện giờ cũng không được dư dả chi lắm, thôi để cô liều bốc cái huê non lấy tiền cho con đi. Mới đầu huê phải bốc hơi cao, nhưng mình có việc cần, thiệt thòi một chút cũng chẳng sao! Cô cũng muốn vào thăm nó lắm nhưng đi bỏ sạp hàng lâu ngày đâu có được! Con phải ráng vào thăm để săn sóc an ủi nó! Nếu không, lỡ xảy ra việc gì cô cháu mình sẽ ân hận cả đời! Con lo chuẩn bị đi, chừng năm bữa nữa người ta thu tiền xong cô đưa cho!

Nghe nói chuyện bốc huê, lại bốc kỳ đầu, tôi phát hoảng:

- Đừng cô ơi! Chúng con đến đây đã làm cô hao tốn quá nhiều, giờ cô lại bốc huê kỳ đầu lỗ nhiều lắm, con không dám nhận đâu!

Cô Hậu nói:

- Không, cô bắt con phải nhận! Con không được quyền thả liều! Con phải vào thăm cho nó lên tinh thần chứ!

Thật ra tôi cũng muốn chắp cánh về Sài Gòn để gặp chồng tôi ngay! Nhưng cứ bấu vào cô Hậu như vậy thì lương tâm tôi không cho phép! Vì thương cháu cô Hậu không suy tính gì nhưng tôi cũng phải biết tự trọng chứ! Đi chuyến này xong trở về bốn mẹ con tôi lại xúm vào ăn bám gia đình cô chứ biết làm sao?

Có lẽ do suy nghĩ, lo lắng quá nhiều nên tôi lại bị phát bệnh. Một trận sốt đã buộc tôi nằm liệt giường ngót nửa tháng. Tự nhiên tôi lại hành hạ cô Hậu thêm một đợt nữa! Cô Hậu đã bốc lỡ cái huê với giá khá cao cũng đành để dành đó.

Tôi vừa lành bệnh cô Hậu liền thúc giục tôi đi thăm anh Thành ngay. Cô đích thân kéo tôi cùng đi lo phương tiện. Tôi áy náy quá – mình đã làm cô tốn kém nhiều rồi, vả lại tôi đã viết thư nhờ ông bà ngoại lo chuyện đó – nên tôi không chịu đi. Tới lúc này cô Hậu mới đưa tôi xem một lá thư:

- Thư của con đây! Thư đến nhằm lúc con đang bệnh nặng, cô nóng lòng muốn biết tin nên mở ra xem trước. Không ngờ tình trạng thằng Thành bi đát quá nên cô phải giấu chưa dám cho con biết! Giờ con coi thư đi rồi muốn tính sao thì tính!

Thì ra thư của ông ngoại! Tôi hoảng hốt vội mở ra xem. Trời ơi: anh Thành đã bị cưa mất cả hai chân! Không ngờ tình trạng chồng tôi lại thê thảm đến thế! Thế là hết! Tôi bưng mặt khóc òa. Cô Hậu lặng lẽ để mặc tôi khóc lóc một hồi rồi mới nói:

- Giờ con phải giữ gìn sức khỏe, phải bình tĩnh sáng suốt để lo tính mọi việc. Trước hết, bằng mọi cách con phải vào thăm nó! Lúc này nó cần người thân an ủi hơn lúc nào hết. Đừng để nó tủi thân tội nghiệp! Chuyện tiền bạc cô sẽ gắng chạy cho!

Lúc ấy ý khí của tôi hình như đã tan biến hết. Cô tôi nói rất phải: Tôi phải tìm mọi cách để thăm nom an ủi chồng tôi kịp thời. Tôi hối hả giục cô Hậu giúp tôi lo phương tiện để đi Sài Gòn…

Nhưng khi bước ra bên ngoài chúng tôi mới biết tình hình an ninh đã trở nên hết sức bi quan. Ở đâu tôi cũng thấy thiên hạ hoảng hốt, nhốn nháo, bàn tán lung tung! Người ta nói đường bộ đã bị gián đoạn nhiều nơi, hãng hàng không thì lúc nào người cũng chật như nêm, chen không lọt. Trên đường phố cũng đã xuất hiện những người lính thất trận từ Pleiku, Ban Mê Thuột chạy về lang thang lếch thếch tìm người thân. Việc đi lại ngay tại địa phương cũng đã trở nên khó khăn. Những người quen của cô Hậu biết tôi đang cố gắng tìm cách đi Sài Gòn thăm chồng đều can ngăn:

- Tình hình này bà đi Sài Gòn chắc chi đã tới nơi được? Không chừng đã không tìm được chồng lại lạc luôn con có khổ thêm không? Lúc này phải mẹ đâu con đấy cho rồi bà ơi!

Những lời khuyên ấy thật có lý. Nếu tôi về Sài Gòn được, biết đâu lại chẳng xảy ra tình trạng mẹ một đường con một nẻo! Cô Hậu lại càng tỏ vẻ bối rối hơn vì tình hình đã quá nghiêm trọng mà dượng Tánh vẫn bặt tăm hơi. Tôi lấy tiền bạc của cô Hậu để đi thăm chồng rồi lỡ dượng Tánh gặp chuyện không hay cô Hậu lấy gì để lo? Nghĩ như vậy nên tôi lại quyết bỏ ý định đi thăm chồng!

Cuối tháng 3/75 thì hầu hết các đơn vị quân sự cũng như hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa tại Đà Lạt đã di tản hết. Mấy ngày sau thì bộ đội miền Bắc tới. Thế là xong – có thể không bao giờ tôi được gặp lại anh Thành nữa! Tôi lại khóc ngày khóc đêm, hối hận về việc mình lỡ mất cơ hội đi thăm anh khi vừa nghe tin anh lâm nạn! Cô Hậu tuy cũng lo bấn xác nhưng vẫn khuyên giải tôi:

- Thôi con ơi, số phận xếp đặt cả! Bây giờ đang đánh nhau lớn, biết đâu ngày hòa bình lại chẳng sắp tới! Con cứ gắng ngày đêm cầu nguyện Trời Phật phù hộ cho nó đi! Chứ khóc lóc, rầu rĩ chỉ hại thân thôi chứ đâu có giải quyết được gì!

Phải, tôi đâu có thể làm gì khác được! Hằng ngày ngoài việc giúp đỡ cô Hậu trong nhà hay ở sạp hàng, tôi chỉ biết tập trung tâm trí vào việc cầu nguyện.

Giữa lúc ấy thì có hai chú bộ đội rất trẻ đến xin ở tạm trong nhà cô Hậu. Đây là lần đầu tôi gặp những con người mà trước kia tôi chỉ nghe tiếng và rất sợ hãi. Cả hai đều ăn nói từ tốn, lễ phép, họ tỏ ra rất biết cách ăn ở. Thấy trong nhà có chút rác họ tự động tìm chổi để quét. Thấy thùng phuy chứa nước cạn, họ tìm thùng đi xách nước đổ đầy. Nhiều lúc họ hồn nhiên đùa giỡn, làm đồ chơi hay dạy chữ cho các con tôi nữa. Họ cho biết, vì đồng bào ruột thịt, họ phải từ bỏ cảnh sống thanh bình ở miền Bắc, xẽ Trường Sơn để vào giải phóng miền Nam. Họ cũng giải thích chính sách khoan hồng của chính phủ cách mạng đối với kẻ thù khiến lòng tôi cũng giảm được phần nào lo lắng. Tôi nghĩ thầm hóa ra lâu nay mình chỉ sợ bóng sợ gió thôi. Dần dần tôi đâm ra mến phục họ, coi họ như những đứa em ngoan.

Trong thời gian ấy, thằng Tí con tôi đã vô tình gây nên một chuyện cười ra nước mắt. Số là chiều hôm kia giới hữu quyền ở Đà Lạt tổ chức một buổi chiếu phim về những chiến thắng của cách mạng trên chiến trường miền Nam cho dân chúng xem tại công trường Hòa Bình. Hai chú bộ đội ở nhà cô Hậu có nhiệm vụ an ninh trong buổi chiếu phim ấy. Em Lâm con cô Hậu rảnh rỗi nên cũng dắt thằng Tí đi xem. Trong khí thế buổi đầu thống nhất, thiên hạ đi xem rất đông. Vì thằng Tí bé quá đứng dưới đất không xem được nên em Lâm phải công kênh nó lên cổ cho nó xem. Khi mọi người đang mải miết theo dõi phim, thằng Tí chợt thấy trên màn ảnh một chiếc máy bay xuất hiện, lạ mắt quá, nó liền sung sướng kêu lên:

- Máy bay! Máy bay!

Nào ngờ thiên hạ nghe kêu máy bay thình lình tưởng báo động nên hoảng hốt kêu theo đồng thời xô nhau chạy tán loạn! Em Lâm sợ quá vội cõng thằng Tí chạy một mạch về nhà. Khi chạy được một đoạn em Lâm nghe tiếng loa phóng thanh vang lên:

- Yêu cầu đồng bào ổn định, yêu cầu đồng bào ổn định! Xin đồng bào trở lại vị trí cũ để xem phim tiếp. Vừa rồi kẻ xấu đã cố tình loan tin thất thiệt với mục đích phá hoại nhưng âm mưu đen tối của chúng đã bị cách mạng đập tan! Xin đồng bào trở lại vị trí cũ để tiếp tục xem phim!

Em Lâm về tới nhà liền đem chuyện ấy kể lại làm ai nấy phải cười vỡ bụng. Buổi tối, hai chú bộ đội đi an ninh trở hớn hở khoe với cô Hậu:

- Cô biết sao không? Tụi Ngụy quả thật ngoan cố! Chiều nay, trong khi chính quyền đang chiếu phim cho đồng bào xem, chúng dám đột nhập vào để phá hoại đấy! Nhưng chúng con đã phản ứng kịp thời, đánh đuổi chúng chạy có cờ! Tiếc rằng đồng bào ta đi xem quá đông nên chúng mới lợi dụng lẫn lộn trong dân mà chạy thoát!

Cả nhà chúng tôi lại một phen nhìn thằng Tí mà cố nín cười! Ai ngờ kẻ phá hoại ghê gớm ấy lại chính là một cậu bé năm sáu tuổi trong nhà mình! Hóa ra mấy chú bộ đội trông thật thà thế kia cũng nói dóc quá trời!

Nhờ cái radio của hai chú bộ đội, tôi cũng theo dõi được ít nhiều tình hình cuộc chiến. Mặc dầu phe cách mạng đang chiến thắng dồn dập nhưng Sài Gòn vẫn còn đó, tôi vẫn còn hi vọng Việt Nam Cộng Hòa sẽ có một cuộc phản công để tái chiếm những phần đất đã mất như vụ Mậu Thân. Nhưng dần dần nghe các đài ngoại quốc bình luận miết về tình thế bi quan của miền Nam, tôi cũng tuyệt vọng theo. Thế rồi trong lòng tôi bỗng nẩy sinh một sự thay đổi lớn: Tôi lại mong cho phe cách mạng sớm chiến thắng! Chỉ có cách đó tôi mới có hi vọng gặp lại anh Thành.

Khi nghe được lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh trên đài phát thanh, tôi sung sướng đến rơi nước mắt!

Thế là niềm hi vọng gia đình đoàn tụ lại chớm dậy trong tôi. Tôi đã biểu lộ nỗi hân hoan đối với cuộc chiến thắng của phe cách mạng một cách nhiệt tình. Bắt chước những người sẵn có cảm tình với cách mạng từ trước, tôi cũng sắm cho các con tôi mỗi đứa một chiếc khăn quàng đỏ. Lũ nhỏ quàng khăn đỏ trên cổ sung sướng ra mặt khi chúng được người ta gọi là cháu ngoan bác Hồ. Ngoài chuyện đó, những khi được cô Hậu giao cho việc cân bán rau cải, tôi đã cố tình cân trội khi bán cho những người phe cách mạng. Tôi nghĩ đây cũng là một cách bày tỏ cảm tình, chuộc lại phần nào những hiểu lầm của tôi đối với họ trước kia.

Ban ngày, trong khí thế tưng bừng của xã hội vào những ngày đầu cuộc đổi đời, tôi cảm thấy phấn khởi lắm. Thế nhưng nhiều đêm nằm suy nghĩ, tôi không sao khỏi lo âu cho tương lai của mình. Tôi có ba đứa con, nuôi chúng đâu dễ dàng gì? Mai mốt kia chồng tôi về nữa, với đôi chân cụt, anh ấy đâu có thể làm gì được? Tôi có thể chịu đựng sự vất vả cực nhọc để lo cho chồng con nhưng chắc chắn chồng tôi sẽ mang những mặc cảm không tốt khi anh ấy đã trở thành người vô dụng. Tôi rất hiểu cá tính anh ấy. Càng suy nghĩ tôi càng rối đầu. Cuối cùng tôi cũng tưởng tượng ra một giải pháp có thể áp dụng được khi chồng tôi trở về: Tôi phải kiếm cho được một số vốn để làm chủ một sạp hàng, chồng tôi sẽ cùng phụ trông hàng với tôi. Tôi nghĩ chắc cô Hậu sẽ giúp tôi thực hiện được mơ ước này. Lúc đó coi như hai chúng tôi đều có công việc làm ăn. Hi vọng đó là cách có thể giúp chúng tôi giữ gìn được hạnh phúc gia đình!



(Hết phần trích đăng lần thứ nhất, tác phẩm THĂM THẲM TRỜI XANH của Tác giả Ngô Viết Trọng)

Mua sách xin trực tiếp liên lạc với tác giả Ngô Viết Trọng qua Email: trongngosacto@yahoo.com

Chủ Đề 30.4: Thương những nấm mồ

Thương những nấm mồ


Mỗi lần Tháng Tư về, ai trong chúng ta cũng có những hồi tưởng và suy nghĩ khác nhau, phần tôi vẫn ám ảnh bởi những nấm mồ oan khuất gây ra bởi biến cố này, mà thủ phạm không ai khác hơn là những người thắng trận cuối cùng.




Hai phụ nữ cầu nguyện cho thân nhân vừa chôn trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ngày 29 Tháng Tư, 1975. (Hình: Francoise Demulder/AFP/Getty Images)
Phải nhìn nhận sự thật rằng, điều khác nhau giữa một đoàn quân ngoại quốc xâm lược và Cộng Sản Bắc Việt “giải phóng miền Nam,” thì những người sau, cùng chung một thứ ngôn ngữ như chúng ta, nhưng sự tàn sát những người thất trận tệ hại hơn bất cứ một cuộc chinh chiến nào. Họ nhanh chóng bắn giết, cầm tù những người chống họ và đặt quyền đô hộ tức khắc lên đầu người dân ở “vùng chiếm đóng,” danh từ mà họ vẫn thường dùng để đối nghịch lại với những vùng đất gọi là “vùng giải phóng.” Theo tôi, danh từ “vùng chiếm đóng” là xác thực nhất để mô tả toàn bộ miền Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, và cộng sản đã tàn ác hơn bất cứ một quân đội xâm lược nào.
Như thế nào mới gọi là một cuộc “tắm máu?”
Mặc dầu đã có lệnh đầu hàng của cấp chỉ huy, những người lính VNCH, nhân viên chính quyền xã ấp, đảng viên các đảng phái khi ra đầu hàng đã bị du kích và lính chính quy Việt Cộng trả thù bằng cách tàn sát, thân xác bị vùi dập ở bìa rừng, bờ ruộng cho đến bây giờ gia đình nạn nhân cũng không hề biết họ ở đâu. Trong cuộc rút lui của những người lính miền Nam đã buông vũ khí, bọn du kích chọn trò chơi bắn sẻ và pháo tập trung để lại bao nhiêu máu xương trên những vùng cát biển của miền Trung, những hài cốt trôi dạt theo sóng biển hay lẫn lộn với đất cát thời gian. Những cái chết không để lại dấu tích, nhưng nỗi đau của những người thân không bao giờ phai nhạt vì ba mươi bảy năm qua gia đình chưa có nắm xương về.
Chính quyền mới bắt buộc trình diện và cầm tù không có bản án tất cả nhân viên chính quyền, quân đội, đảng phái miền Nam, tịch thu nhà cửa, xô đẩy gia đình của họ đi vùng “kinh tế mới” với mục đích trả thù, đày đọa những thành phần gọi “phản cách mạng,” dành nhà cửa, ruộng vườn cho cán bộ, viên chức được đưa từ miền Bắc vào.
Ở những trại tập trung ven rừng hay hốc núi, mộ những người tù “cải tạo” kiệt lực, mộ những người tù anh hùng bị xử bắn bây giờ ở đâu?
Làm kiệt quệ sinh lực của miền Nam bằng chính sách đánh tư sản mại bản, một lối cướp ngày công khai có súng đạn yểm trợ, bỏ tù họ và gia đình, xóa bỏ giai cấp tư sản miền Nam để tạo ra một lớp tư sản mới trung thành với chế độ. Nấm mộ những người chết vì trận chiến cướp bóc này xiêu lạc nơi nào?
Nấm mồ thủy táng trong lòng biển Thái Bình Dương là nấm mồ lớn nhất trong lịch sử loài người, nơi đó hằng trăm nghìn người Việt Nam đã chấp nhận cái chết hơn là phải sống với chế độ bất nhân. Thảm kịch thủy táng vô tiền khoáng hậu này kéo dài mười lăm năm và phải nói là không một gia đình nào không có người thân tử nạn trên đường vượt biên, vượt biển. Không một vòng hoa nào được gửi xuống đại dương để an ủi những linh hồn của những người ra khơi không bao giờ cặp bến, và làm sao chúng ta quên được nỗi đau này.
Xa hơn thời điểm 30 Tháng Tư vài năm chúng ta cũng chưa quên những nấm mồ tập thể của Mậu Thân, bắn giết, chôn sống càng nhiều càng tốt để đáp ứng lời kêu gọi “toàn thắng ắt về ta.” Chúng ta cũng chưa quên đoạn đường kinh hoàng của Quảng Trị mùa Hè 72 khi trung đoàn pháo Bông Lau của cộng sản “cứ nhắm vào dân mà pháo.” Rồi chiến xa, pháo binh chận đường dân di tản trên Quốc Lộ 13 A cho lá “cờ in máu chiến thắng...”
Ngày 30 Tháng Tư đưa đến cảnh đổ nát hoang tàn của nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi có 16,000 mộ phần của những người lính VNCH, những người được xem là của phe thất trận. Trừ những bộ lạc mọi rợ thời Trung Cổ, còn thì trên thế giới văn minh này, ai cũng biết tôn trọng di hài những người đã chết, dù mới hôm qua đây, họ đang cầm súng đứng ở bên kia chiến tuyến. Việc kết thúc nội chiến Nam Bắc của nước Mỹ là một bài học văn minh và đạo lý mà một quân đội mọi rợ, không tính người như Bắc Việt không thể nào học nổi. Tôi cho thảm trạng của Nghĩa Trang Quân Ðội ngày nay là một điều ô nhục, một vệt máu bẩn không thể nào chùi sạch trên trên khuôn mặt của chế độ mới.
Cộng Sản Bắc Việt xây một nấm mộ nổi ngay giữa thành phố Hà Nội nhưng lại lấy lý do cần đất cho thành phố đã đào xới, hủy diệt, xua đuổi cả nghìn ngôi mộ của nghĩa trang lâu đời của Saigon là Mạc Ðĩnh Chi, che giấu cho lòng ganh tỵ, thù hận hơn cả một chính quyền đô hộ. Trong đạo lý Ðông phương, đào mồ cuốc mả là một hành động khó có thể tha thứ. Sau này ở trong nước đã có nhiều vụ đào mộ để tìm của, được đưa ra xử trước tòa án, bị lên án là hành động thất đức, nhưng vụ đào mả nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, nơi có nhiều ngôi mộ của nhiều người có tiếng tăm và giàu có dưới thời Pháp thuộc, phải được coi như là một tội ác.
Hai ngôi mộ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu được cải táng từ nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi về quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương. Mộ bia của ông Diệm có khắc chữ Huynh, mộ bia của ông Nhu khắc chữ Ðệ. Nghe nói chính quyền “cách mạng” không cho gia đình ghi tên hai người trên mộ bia. Sao lại có những hạng người thù hận, nhỏ nhen đến như vậy!
Ðó là lý do vì sao cứ đến ngày 30 Tháng Tư, hình ảnh những ngôi mộ xa gần, mới cũ cứ ám ảnh trong tôi.

Tạp ghi Huy Phương

Bài Xem Nhiều