We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 26 April 2012

Tìm Hiểu Về: Đức Phật Đản Sinh trùng ngày 30/4/2012 (RẰM THÁNG 4 ÂM LỊCH)

  NHỮNG Ý ĐỒ XÓA BỎ NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG TƯ        
---------
  Thư của Phật Tử Liên Thành gởi Thầy Viên Lý 
Trù Trì Chùa Điều Ngự Nam California , USA .
Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHVNTN
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành  kiêm Trưởng Ban Tổ Chức.
                                           
Thưa Thầy Viên Lý
Tôi Nguyễn Phúc Liên Thành, một Phật Tử xuất thân trong một gia đình có truyền thống lâu đời đã liên quan và đóng góp nhiều cho Phật Giáo Việt Nam, viết lá thư này đến thầy với mục đích muốn biết lập trường quốc gia chống cộng của Thầy cùng với một số tăng sĩ Phật Giáo của các chùa khác ở Hoa Kỳ nay đang về đâu? về vấn đề Quốc Gia Việt Nam với vấn nạn Cộng Sản, và đặc biệt là vấn đề Ngày Quốc Hận 30 tháng 4.

Xin tự bạch về truyền thống Phật Giáo của gia đình tôi.
Thứ nhất, Ngài Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết là Ôn của tôi, ngài là anh ruột của Bà Nội tôi, tức anh của Phu Nhân của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một nhà Cách Mạng Việt Nam, cháu đích tôn đời thứ sáu của Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long. Chúng tôi thuộc huyết thống chính thống của ngài Đông Cung Anh Duệ Hoàng Thái Tử Đại Nguyên Soái Nguyễn Phúc Cảnh. Thứ hai, Hoàng Thân Tráng Đinh, anh em chú bác ruột với phụ thân tôi là Hoàng Thân Tráng Cử, đã cùng với Bác Sĩ Lê Đình Thám đứng ra thành lập Hội Phật Giáo tại Trung Việt thời kỳ Pháp thuộc mà sau nầy chính ông Thích Trí Quang đã vào học giáo lý tại đây. Thứ ba, Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Trí tôi gọi là Ôn Chú vì là em họ của Bà Nội tôi, và thứ tư, anh tôi là Liên Phú, tức là Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Kim hiện trù trì tại một ngôi chùa vùng Đơn Dương, Đà Lạt, Việt Nam.
Thưa thầy, sở dĩ tôi phải trình bày lý lịch dài dòng văn tự để thầy hiểu rằng những thắc mắc mà tôi xin mạn pháp hỏi thầy hoàn toàn không có ác ý đánh phá tôn giáo của tôi là Phật Giáo, như từ trước đến nay bọn côn đồ cộng sản và Việt gian cộng sản nằm vùng tại hải ngoại thường vu khống tôi là Cần Lao Cộng Giáo đánh phá Phật Giáo. Xin khẳng định minh bạch, tôi viết thư này không liên quan gì đến Phật Giáo, mà chỉ muốn biết rõ ý thức quan điểm chính trị của một số thầy và một số chùa nay đứng bên nào của vĩ tuyến 17
Thưa Thầy Viên Lý, với tư cách là một Phật Tử, một người lính VNCH và một Cảnh Sát Quốc Gia VNCH,  xin được hỏi thầy một số câu hỏi sau đây:

1)       Trong những ngày cuối cùng 27,28,29 của tháng 4 năm 1975 thầy ở đâu? Thầy có chứng kiến những cảnh đau thương cùng cực của con dân Miền Nam ? trong cơn đại hồng thủy đang chụp xuống dân chúng và quốc gia Miền Nam hay không? Thầy có đau xót khi liên tục nghe tin các thành phố và các điểm an ninh trọng yếu của Miền Nam bị thất thủ dần?
2)       Thầy có chứng kiến cảnh di tản của đồng bào trên khắp mọi nẽo đường xuôi Nam tìm cách lánh  nạn cộng sản? Thầy có chứng kiến cảnh bi thương của những người lính VNCH, CSQG đang cầm súng chiến đấu nhưng buộc phải buông xuống vì lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh hay không? Bao nhiêu người đã chết dưới lòng biển lạnh? bao nhiêu người đã chết trong rừng xanh núi thẳm khi tìm đường vượt thoát khỏi cộng sản? Thưa thầy, con số lên cả hơn triệu người.
3)       Tuần lễ cuối cùng của tháng Tư, các ngày 27, 28, 29 tháng 4 năm 1975 thầy có ý thức được đó là những ngày tang tóc điêu linh của cả dân tộc Việt Nam, ngày dẫn đầu của thảm họa mất nước vào tay Trung Cộng, tức là NGÀY 30/4 /1975 LÀ NGÀY QUỐC HẬN THẦY CÓ BIẾT KHÔNG?
4)        Vậy thi tại sao trong thư mời của văn Phòng II Viện Hóa Đạo thầy lại mời Phật Tử và quan khách tham dự Đại lễ Phật Đản, được tổ chức long trong trong ba ngày 27,28,29, tháng 4 năm 2012. Năm nay, Phật Đản được tổ chức tại các chùa ở Việt Nam và trên toàn thế giới nhằm ngày 5, hoặc 6, tháng 5 năm 2012, chứ không phải ngày 30 tháng 4, bởi lẽ đơn giản là Ngày Phật Đản năm nay là ngày 6 tháng 5 năm 2012 chứ không phải ngày 30 tháng 4/ 2012
5)       Và thầy, một người tự nhận là có tinh thần quốc gia, không theo hùa cộng sản, có bao giờ tự đặt câu hỏi tại sao năm nay lại có nhiều chùa, chẳng hạn tại Cali và Houston lại hùa nhau sử dụng ngày Quốc Tang Quốc Hận 30 tháng 4 để ăn mừng Phật Đản một cách hết sức có hệ thống, đồng bộ, và vô lý như vậy hay không? Mục đích của việc làm này là gì? Phải chăng là để thu hút người Việt tỵ nạn đến chùa để giảm bớt số người đến tham dự các đại lễ Quốc Hận của người Việt Tỵ Nạn nhằm nhắc nhở chúng ta không được quên thảm họa cộng sản đang ngự trị trên quê hương. Ai đã chỉ đạo, ai thi hành chuyện này thưa ngài Viên Lý, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN?

Thưa thầy Viên Lý,
Hiện nay dư luận trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đang hết sức bất bình, đặt nghi vấn về việc chùa Điều Ngự và một số chùa khác, không dùng ngày Phật Đản thật để tổ chức đại lễ Phật Đản, mà lại dùng ngày Phật Đản không thật, tức các ngày 27, 28, 29 tháng 4 để tổ chức Đại Lễ Phật Đản thật.

“Dùng giả để làm thật,” một việc làm có nên được sử dụng trong tôn giáo hay không? Chính phủ Hoa Kỳ có tổ chức lễ lạc nào vào tuần sau, và cấm quý thầy không được tổ chức vào ngày đó nên quý thầy phải làm Phật Đản “chạy tang” như thế? hoặc có bất cứ trở ngại nào, mà đã khiến quý thầy phải chẳng đặng đừng sử dụng ngày 30 tháng 4/2012  thay vì tuần sau cho đúng tinh thần trang nghiêm chính trực của Phật Đản xin quý thầy bạch hóa ra cho Phật Tử thông cảm?
Xin hỏi, Đức Phật Thích Ca có vui mừng, có chứng cho quý thầy không, khi quý thầy dùng ngày giả để mừng sinh nhật cho Ngài? Trong khi quý thầy có cả năm để chuẩn bị? Ngài Thích Ca sinh ngày nào năm nào thưa quý thầy? Chẳng lẽ quý thầy lại sử dụng thủ thuật sửa đổi ngày sinh của ngài để đạt được một mưu đồ chính trị nào đó?

Xin được nói thẳng với Thầy và các vị sư trù trì của tất cả các chùa đã dùng ngày Phật Đản giả hiệu để tổ chức Phật Đản thật như sau: hiện này có ba nguồn dư luận:

1)       Hoặc là vì vô tình, vì mắt không thấy, vì tai không nghe, nên không hề biết các ngày 27, 28, 29 là những ngày vô cùng đau đớn của Miền Nam, từng tỉnh một rơi vào tay quân cộng sản, nên đã hè nhau dùng ngày Phật Đản giả để tổ chức Phật Đản thật? Hành động này có thể được gọi là một hành động hết sức vô ý thức với quốc gia dân tộc hay không thưa thầy Viên Lý và các thầy cùng chung một hành vi như vậy?

2)       Hoặc đây là một kế hoạch rộng lớn đã được bọn cộng sản Việt Nam tính toán trước nay chỉ đạo cho bọn Việt Gian hải ngoại thi hành, nhằm làm cho người Việt Hải Ngoại quên dần ngày 30 tháng 4 quêndần hiểm họa cộng sản đang hiện diện trên quê hương?.

3)       Hành động dùng ngày Phật Đản giả để tổ chức Phật Đản thật là một hành động gian trá, bôi nhọ đức Phật, bôi bẩn Phật Giáo lần thứ hai, theo nhu cầu chính trị của cộng sản

Thưa thầy Viên Lý,
Bản chất tôi vốn dĩ thẳng thắn, chưa bao giờ lùi bước trước bất kỳ một hăm đọa hay áp lực nào, luôn đứng chung chiến tuyến những người Việt quốc gia thề không đội trời chung với cộng sản, thề chống lại cộng sản Việt Nam hạ cấp bán nước, chống lại bọn Việt Gian đang tâm bán rẽ danh dự của một người Việt Quốc Gia cam tâm làm đầy tớ cho  thổ phỉ Việt Cộng. Chẳng lẽ thầy lại cùng chung một hành vi với tên MC Nguyễn Ngọc Ngạn, cựu sĩ quan QLVNCH và một số các ca sĩ hải ngoại mà dư luận đang đánh giá đó là hành vi bán rẽ danh dự của một người Việt Quốc Gia cho đồng tiền?
Vì có những việc làm quá vô ý thức và sai trái như thầy, nên tôi buộc lòng phải có đôi lời nghịch nhĩ thô thiển. Sự thật mất lòng, mong được thầy trả lời những thắc mắc mà tôi vừa  nêu trên. Cá nhân tôi và rất nhiều người đang kiên nhẫn chờ nghe lời giải thích của thầy. Chúng tôi kêu gọi, nếu hành động dùng việc tổ chức Phật Đản “chạy tang” nhằm làm người Viêt quên dần việc non sông Việt Nam vẫn đang chìm đắm trong thảm họa cộng sản là sự thật, thì tất cả đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản hãy mạnh mẽ tấy chay không đến các chùa này
Chúng tôi cực lực lên án tất cả các hành vi nhằm đánh lận con đen xóa bỏ Ngày Quốc Hận. Chúng tôi kêu gọi quý chiến hữu quý thân hào nhân sĩ hãy lên án và tích cực truy tầm tên của các chùa đã sử dụng ngày 30 tháng 4 tổ chức Phật Đản niêm yết lên cho đồng bào toàn thế giới được biết.
Trong lúc chờ đợi, xin nhắc lại với thầy Viên Lý và các tất cả các thầy đã sử dụng ngày 30 tháng 4 để tổ chức Phật Đản như sau:
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa

Trân trọng
Liên Thành
Địa Chỉ: P.O.BOX 6147
Fullerton, Ca.92834
Điện thoại (cell Phone): 626-257-1057
EmaiL: biendongmientrung@... 
          

DỰ ÁN ECOPARK VĂN GIANG CÓ NGUY CƠ SỤP ĐỔ

DỰ ÁN ECOPARK VĂN GIANG
CÓ NGUY CƠ SỤP ĐỔ

http://tinquansu.files.wordpress.com/2012/04/nguyen-ngoc-bich-van-giang.jpg?w=510
 
Đây là một dự án Địa ốc mà có lẽ Chủ dự án và các và những người của Chính quyền nhằm đầu tiên là bán đất khi tước đoạt đất được từ dân với giá rẻ để chia lô bán cho giới kinh doanh nội ngoại với giá cao hơn. Phía Chính quyền, tha thiết hỗ trợ cho dự án, nhất là trong việc tước đoạt đất thì tất nhiên được Chủ đầu tư hối lộ bổ béo. Phía quyền lực nhà nước thì tất nhiên đã nắm chắc tiền hối lộ bổ béo rồi. Phía nông dân thì chịu cưỡng chế thiệt thòi. Chỉ còn phía Chủ đầu tư, một đàng đã mất tiền hối lộ tốn kém, một đàng thì bấp bênh không biết tương lai xây cất và bán nhà cửa có thành công hay không.
         Nhìn tương lai của dự án, chúng tôi thấy những yếu tố đưa đến nguy cơ sụp đổ, thua lỗ nặng. Dự án Địa ốc ở thời điểm năm 2012, xét về mặt Kinh tế chung cho toàn cầu và riêng cho hai nền Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng Trung quốc và Việt Nam, sẽ mang những nguy cơ thua lỗ trầm trọng cho dự án địa ốc Ecopark Văn Giang.
Dự án được hình thành và được phép thực hiện từ năm 2004, nghĩa là cách đây 8 năm. Tình hình Kinh tế vào những năm 2004 rất lạc quan và việc kinh doanh địa ốc t6át nhiên ở vào thời vàng son. Nhưng rồi năm 2007, khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới bắt đầu và còn kéo dài đến ngày nay. Tình trạng nợ công của Liên Au và hoàn cảnh thất nhgiệp của Tây phương đã làm cho Kinh tế Trung quốc/Việt Nam tụt giốc xuất cảng và nhiều xí nghiệp phá sản. Ơû thời điểm kinh tế tụt giốc hiện nay của Việt Nam/Trung quốc, thì ngành Địa ốc mất giá. Nước ngoài không những giảm đầu tư vào Việt Nam, mà còn ra đi nữa. Chúng tôi xin đưa bản tin sau đây về tình trạng ngành Địa ốc ở Việt Nam:
“Tin Sài Gòn - Hiệp hội doanh nghiệp thành phố Sài Gòn vừa cho biết sẽ còn hàng loạt công ty kinh doanh bất động sản phá sản trong thời gian tới. Tổng giám đốc công ty cổ phần Phát triển nhà Thủ Ðức cho biết giá nhà đất tại Việt Nam so với thế giới là rất cao, điều này đã tác động tới các cơ cấu về giá thành của đất đai, vật liệu và nhân công xây dựng tăng theo tỷ lệ của lạm phát, thủ tục và phí bôi trơn giấy tờ về đất đai đã tập hợp lại khiến việc kinh doanh bất động sản ngày một rủi ro hơn so với vài năm trước. Kinh tế suy giảm khiến rất nhiều người không còn khả năng mua nhà như trước. Cộng với nguồn vốn ngân hàng cho vay để mua nhà đã ngày càng thắt chặt hơn làm cho nhiều khách hàng mệt mỏi khi vay vốn ngân hàng.
Mặc dù ngân hàng Nhà Nước đã giảm lãi suất huy động xuống còn 13% một năm cũng không giải quyết được gì trong vấn đề kinh doanh bất động sản, vì hiện nay lãi suất của ngân hàng là 22 tới 23% nên doanh nghiệp không thể kiếm lời. Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Bất Động sản thành phố Sài Gòn cho biết ngoài vấn đề lãi suất của ngân hàng, doanh nghiệp còn phải chịu những loại chi phí khác vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng mới có thể vay được vốn để kinh doanh.(SBTN)”(Posted on 19 Mar 2012—FreeVietNews)”
Ngoài vấn đề khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Liên Au và Hoa kỳ, cuộc bầu cử vòng 1 Tổng Thống Pháp cho thấy rõ rệt Khuynh hướng Bảo Hộ Mậu dịch tại Pháp và Aâu châu sẽ đi đến những quyết định gay gắt. Chúng tôi không quan tâm đến việc bầu vòng 2 cho Oâng Hollande hay Oâng Sarkozy. Nhưng chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hai Mặt Trận Tả—Hữu của Pháp sẽ làm áp lực mạnh để Pháp cũng như Liên Au chủ trương Bảo Hộ Mậu dịch. Mặt Trận cực Hữu của Bà Marin Le Pen chiếm 18% số phiếu và Mặt Trận Tả của Oâng Jean-Luc Mélenchon chiếm 11% số phiếu. Cả hai Mặt Trận này đều chủ trương Bảo Hộ Mậu dịch. Khi mà Bảo Hộ Mậu dịch đi đến gay gắt thì những nền Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng như Trung quốc và Việt Nam sẽ càng tụt giốc nhanh hơn nữa và các xí nghiệp càng phá sản mau chóng.
Ngoài việc bị ảnh hưởng từ sự tụt giốc Kinh tế hiện nay của Việt Nam, Dự án Ecopark Văn Giang không thể không lưu tâm đến tình trạng nợ công của nhà nước Việt Nam dù nhà nước có muốn hỗ trợ đi nữa. Tuần Vvietnam mới cho biết tình trạng Nợ công của Nhà Nước VN như sau:
"Độ nóng"ngày càng gia tăng của Nợ công trong thời gian gần đây, cả về định tính và định lượng, với mấy điểm nhấn đáng chú ý.
Quy mô nợ tăng nhanh vượt dự báo--Theo Bản tin nợ nước ngoài -Bộ Tài chính, đến 31/12/2009, tổng nợ nước ngoài của Việt Nam (gồm nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo lãnh) là 27,929 tỷ USD, tương đương với khoảng 479,5 nghìn tỷ đồng; Trong đó, nợ nước ngoài của Chính phủ là trên 23,9 tỷ USD. Đến 31/12/2010, tổng nợ nước ngoài của Việt Nam lên tới hơn 32,5 tỷ USD.
Điều kiện nợ ngày càng ngặt nghèo hơn.--Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với con số hơn 1 tỷ USD của năm 2009). Thực tế cũng cho thấy, lãi suất vay nợ của Việt Nam đang có xu hướng tăng lên cả do Việt Nam đã bị giảm mức nhận ưu đãi cũng như do ít nhiều giảm cả mức tín nhiệm quốc gia (theo một vài đánh giá cá biệt là từ BB+ xuống BB) vì những e ngại bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự kiện Vinashin...
Dịch vụ nợ tăng nhanh, hệ số an toàn nợ giảm.--Theo Bản tin Nợ  nước ngoài của BTC, dịch vụ nợ nước ngoài của Việt Nam trong năm 2010 là 1,67 tỷ USD, trong đó riêng tiền lãi và phí là hơn 616 triệu USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009...Theo đại biểu quốc hội Trần Du Lịch, Nợ nước ngoài của Việt Nam hiện tương đương 50 tỉ USD, lớn gấp 3 lần so với dự trữ ngoại hối (khoảng 14-15 tỉ USD). Năm 2011, dự kiến trả nợ 86.000 tỉ đồng, chiếm 12,5% tổng  thu NSNN; năm 2012 sẽ phải trả 100.000 tỉ đồng, chiếm 13,5% tổng thu NSNN-Một con số không hề nhỏ trong quy mô khiêm tốn của NSNN hiện nay (trong khi Nợ công của Thái Lan chỉ có 44,1% GDP và dự trữ ngoại hối là 176 tỉ USD;  Indonesia, Malaysia nợ công chỉ có 26,9% GDP, Philippines 47,3%...).Việc mua vào 4-7 tỷ USD trong những tháng đầu năm 2011 không phải là giải pháp bền vững xét dưới góc độ chống lạm phát tiền tệ, vì nó dễ trở thành nguồn xung lực làm tăng lạm phát tiền tệ ở nước ta, nhất là khi chậm thu hồi các khoản tiền đã chi thông qua bán trái phiếu Chính phủ .
Ngoài ra, cần thấy rằng khả năng trả nợ từ nguồn thu NSNN đang và sẽ có thể gặp căng thẳng trong bối cảnh mà, khác với thông lệ hằng năm đều vượt thu, dự toán thu ngân sách năm 2011 được Bộ trưởng Bộ Tài chính đánh giá là "chưa năm nào khả năng tăng thu căng thẳng như năm nay và có dấu hiệu chững lại từ tháng 7-2011". Đặc biệt, nguồn thu thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong quý II/2011 giảm 83% so với quý I, quý III dự kiến giảm 40% so với 6 tháng đầu năm...với 50% số doanh nghiệp khai lỗ. Trong khi đó, theo Bộ KH&ĐT, với khu vực kinh tế tư nhân trong nước thì số doanh nghiệp giải thể, phá sản và dừng hoạt động không nộp thuế.”
 
Dự án Ecopark Văn Giang được ký kết và cho phép năm 2004. Nếu thực hiện Dự án vào những năm vàng son này, thì Chủ đầu tư hốt bạc thành “siêu đại gia“ dễ dàng. Nhưng ở thời điểm Kinh tế tụt giốc hiện nay của năm 2012, thì Chủ đầu tư chắc chắn phải tìm đường mắc chứng ung thư vú để trốn ra nước ngoài, mà lòng còn căm thù đám tham nhũng tà quyền đã nhận tham nhũng đầy túi. Những bà con nông dân nào bị cưỡng chế đất đai mà Chủ đầu tư chưa kịp trả tiền mua đất, thì hãy đón đường xé xác Chủ đầu tư ra quẳng cho vịt nó ăn !
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 26.04.2012
Web: http://VietTUDAN.net

ANH QUỐC XÁC NHẬN CÓ BẤT ĐỒNG VỚI CSVN VỀ NHÂN QUYỀN & DÂN CHỦ



 
Kính chuyển " để QUÝ VỊ tham khảo, góp ý, tùy nghi phổ biến rộng rãi trong lẫn ngòai nước và vui lòng tích cực, liên tục vận động nhắc nhở Nữ Hòang Elisabeth II, Thủ Tướng, Bộ Ngọai Giao, Quốc Hội Anh Quốc hãy đề cao cãnh giác, đòi CSVN triệt để tôn trọng nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ hóa Việt Nam trước khi cứu xét mở rộng mối quan hệ với CSVN".

Mong rằng đồng bào khắp thế giới nhất là các cộng đồng người Việt tị nạn CSVN tại Anh quốc tăng cường vận động với Hiến Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp Anh và các Quốc gia trên thế giới hãy quan tâm đặc biệt các vấn đề nêu trên.
Kính mến,
Bs LÊ Thị Lễ

Anh Quốc công nhận có bất đồng với Việt Nam về nhân quyền và dân chủ

Ngoại trưởng Anh William Hague (REUTERS /Francois Lenoir)
http://farm9.staticflickr.com/8004/6962423978_c08db1c1b3.jpg

Phát biểu vào hôm nay 25/04/2012 tại Hà Nội, nhân chuyến thăm Việt Nam trong hai ngày, Ngoại trưởng Anh William Hague xác nhận là giữa Anh Quốc với Việt Nam vẫn tồn tại những « bất đồng quan trọng » về nhân quyền và dân chủ.

Tuy nhiên, Ngoại trưởng Anh William Hague cho rằng nỗ lực đối thoại có thể giúp Việt Nam chuyển đổi « theo chiều hướng tích cực ». Ông nói thêm : « Một số điểm phải mất một thời gian dài, nhưng điều rất quan trọng là chúng ta phải can dự vào ».
Hãng tin Pháp AFP ghi nhận : Ông William Hague là Ngoại trưởng Anh Quốc đầu tiên đến thăm Việt Nam từ 17 năm nay. Mục tiêu chuyến công du, theo lời ông, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ thêm quan hệ giữa hai nước, đặc biệt trong lãnh vực kinh doanh.
Ngoại trưởng Anh đã nêu bật hai số liệu : Trao đổi thương mại hai chiều đã tăng 33% vào năm 2011, trong lúc đầu tư của doanh nghiệp Anh Quốc vào Việt Nam đã lên đến 2,5 tỷ đô la.
Trong quan hệ với Anh Quốc, một trong những cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, Việt Nam cũng quan tâm đến hợp tác quốc phòng. Ngoại trưởng Anh hôm nay xác nhận là hai bên đang hướng tới một quan hệ « đối thoại và hợp tác mạnh mẽ hơn về mặt quốc phòng trong tương lai ». Tuy nhiên, ông Hague cũng cho rằng quan hệ này hiện mới ở giai đoạn khởi đầu.

http://www.viet.rfi.fr/auteur/trong-nghia 
------------

Human Rights Watch kêu gọi Úc thúc đẩy Việt Nam cải thiện nhân quyền

Trọng Nghĩa
Ngày 26 và 27/04/2012 tới đây, Đối thoại song phương thường niên Úc-Việt về nhân quyền sẽ mở ra tại Hà Nội. Hôm nay 25/04/2012, tổ chức Human Rights Watch đã công bố một bản khuyến nghị, kêu gọi chính quyền Úc yêu cầu Việt Nam trả tự do cho các tù nhân chính trị và chấm dứt việc cản trở tự do ngôn luận, hội họp ôn hòa, tín ngưỡng và tôn giáo.

Trong bản khuyến nghị dài 18 trang với tựa đề đơn giản Đối thoại Nhân quyền Úc-Việt, Human Rights Watch trước hết nêu bật một loạt những vụ “vi phạm nhân quyền” xảy ra tại Việt Nam trong năm 2011 và quý 1 năm 2012 này :
« Chính phủ Việt Nam đã loại trừ một cách có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và hội họp hòa bình. Giới cầm bút độc lập, blogger, và giới hoạt động nhân quyền dám đặt nghi vấn về chính sách của chính phủ, vạch trần nạn tham nhũng nơi quan chức Nhà nước, hoặc kêu gọi thay đổi theo chiều hướng dân chủ thể chế độc đảng, đều thường xuyên bị công an sách nhiễu và theo dõi sát sao, bị biệt giam trong một thời gian dài mà không được tiếp xúc với các cố vấn pháp lý, và bị những án tù ngày càng dài vì tội vi phạm các luật lệ mơ hồ về an ninh quốc gia ».
Trong bản thông cáo báo chí, Human Rights Watch nêu bật : “Chỉ tính riêng trong quý đầu năm 2012, Việt Nam đã tống giam ít nhất 12 người chỉ vì họ thực thi các quyền nói trên một cách ôn hòa. Trước đó, trong năm 2011, ít nhất 33 nhà đấu tranh cho nhân quyền và viết blog trên internet đã bị kết án tù chỉ vì họ đã bày tỏ đức tin tôn giáo và niềm tin chính trị ».
Human Rights Watch cũng tố cáo việc chính quyền Việt Nam dùng võ lực để đàn áp mọi tiếng nói bất đồng, kể cả những người phản đối Trung Quốc gây hấn tại Biển Đông : « Công an thường xuyên tra tấn nghi phạm để mớm lời thú tội, và trong nhiều trường hợp, đã sử dụng võ lực quá đáng để đối phó với các cuộc biểu tình chống trục xuất, tịch thu đất đai, và hành động hung bạo của công an. Chính quyền cũng đã dùng võ lực giải tán các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2011, người biểu tình thì bị đe dọa, sách nhiễu, và trong một số trường hợp, bị giam giữ trong nhiều ngày ».
Trong tình hình như vừa kể, Human Rights Watch cho rằng : “Úc cần thúc đẩy Việt Nam sửa đổi hoặc hủy bỏ các điều khoản trong bộ Luật hình sự, Pháp lệnh về Tôn giáo, Pháp lệnh 44 về Xử phạt các Vi phạm Hành chính, và các luật lệ khác, mà tác động là hình sự hóa các hoạt động bày tổ sự bất đồng chính kiến một cách ôn hòa và một số hoạt động tôn giáo, đi ngược lại nghĩa vụ của Việt Nam trong tư cách một nước đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Chính trị và Dân sự”.
Tổ chức Human Rights Watch cũng kêu gọi Úc ưu tiên yêu cầu Việt Nam trả tự do ngay lập tức các tù nhân chính trị đang có vấn đề trầm trọng về sức khỏe để họ được chăm sóc y tế thích hợp. Đó là trường hợp của các ông Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Văn Lía, Nguyễn Xuân Nghĩa và bà Mai Thị Dung.
Ngoài ra, Úc cũng cần nêu quan ngại nghiêm trọng về việc áp dụng hình thức quản chế hành chính để giam giữ bà Bùi Thị Minh Hằng trong hai năm tại trại cải tạo mà không thông qua xét xử vì đã tham gia các cuộc biểu tình ôn hòa ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng Sáu đến tháng Tám năm 2011. Theo Human Rights Watch, bà Minh Hằng cũng cần phải được trả tự do ngay tức khắc.
 
 
 
 
 

Chuyện dòng sông : Bên kia là quê hương

Chuyện dòng sông_
thơ Miên Thụy
phổ nhạc Nguyễn Văn Thành
trình bày do chính tác giả


Chuyện Dòng Sông ( nhạc Dân Chủ ca)
Thơ Miên Thụy


Bên kia là quê hương
Dòng sông chia nhánh buồn
Có người em buồn tủi
Một kiếp đời buôn hương

Bên kia là quê hương
Dòng sông chia đau thương
Có người anh gian khổ
Trong ngục tù cô đơn

Bên kia là quê hương
Dòng sông buồn trăm hướng
Có người Mẹ từng chiều
Gánh quãng đời hẩm hiu

Còn đâu ôi còn đâu
Một dòng sông quê hương
Một dòng sông xưa cũ
Quê hương ôi! tan lòng

Còn đâu ôi còn đâu
Một dòng sông quê hương
Một dòng sông xưa cũ
Nước mắt đỏ trên sông

Bên kia là quê hương
Dòng sông buồn trăm hướng
Dân tôi buồn trăm đường
Đường nào cũng đau thương.

Chuyện dòng sông dòng sông
Dòng sông chia nhánh buồn
Trôi kiếp đời lưu vong
Chuyện dòng sông quê hương

(để hết)
Bao giờ ta về lại
Con sông xưa một dòng ?
Bao giờ ta về lại
Ôi dòng sông quê hương?

VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21
 
Chưa bao giờ vấn đề nông dân Việt Nam đặt ra một cách cấp thiết trước phong trào dân chủ nước ta như hiện nay. Nông dân là khối người đông đảo chiếm đến trên 70% dân số cả nước. Bằng lao động cực nhọc của mình, từ nghìn xưa cho đến ngày nay họ đã và đang nuôi sống dân ta. Từ năm 1993 đến nay, nông dân đã góp phần tăng sản lượng nông nghiệp lên gấp đôi và tăng khối lượng xuất khẩu nông phẩm của nước ta ra thế giới, nhờ đó đến năm 2008, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nhất nhì trên toàn cầu về gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, cá, tôm... Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, thu nhập của hai phần ba dân số Việt Nam phụ thuộc vào ngành nông nghiệp. Thế nhưng, khốn thay, từ trước đến nay, nông dân nước ta đã bị kẻ cầm quyền ngược đãi, đối xử rất tàn tệ và, kể từ năm 1930 cho đến nay, họ luôn luôn là đối tượng của cái chính trị lừa bịp của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).
Những quả lừa “vĩ đại” của ĐCS
Quả lừa đầu tiên là cái khẩu hiệu “người cày có ruộng” mà ĐCSVN đưa ra ngay từ khi đảng mới ra đời, nghe rất bùi tai nông dân khi... ĐCS chưa cướp được chính quyền. Hồi đó, ĐCS ra sức ve vãn, phủ dụ nông dân, gọi nông dân là «hậu bị quân», là “một trong những chủ lực quân” của “cách mạng” để họ “sướng cái bụng” đem tiền của, sức lực và thậm chí cả thân mạng của mình hết lòng ủng hộ ĐCS với niềm tin vững chắc mà ngây thơ là khi cách mạng thành công, ĐCS sẽ thực hiện “ước mơ ngàn đời” của mình là “người cày có ruộng”! Nhưng thực tế lại quá phũ phàng cho bà con nông dân nước ta!

Quả lừa tiếp theo là ĐCS “phát động cải cách ruộng đất” nói là để tiêu diệt giai cấp địa chủ, tước đoạt ruộng đất của giai cấp này chia cho dân cày, trước nhất là bần cố nông. “Thắng lợi vẻ vang” (!) của  cuộc CCRĐ hồi giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, báo chí đã nói nhiều, giờ chỉ xin nhắc lại vài điều thôi. CCRĐ thực sự là một cuộc thảm sát có tính diệt chủng đã làm cho 172 nghìn 008 người dân ở nông thôn, chủ yếu là nông dân, trở thành nạn nhân, nghĩa là bị bắn giết, đọa đày đến chết, trong số đó 123 nghìn 266 người (tức là 71,66%) về sau được xác nhận là oan; riêng 26 nghìn 453 người bị quy là địa chủ cường hào gian ác thì có đến 20 nghìn 493 người (tức là 74,4%) được xác nhận là oan!  Còn 62 nghìn người bị quy là phú nông thì có đến 51 nghìn 003 người (tức là 82%) được xác nhận là oan! Trong số những người bị oan cũng có hàng nghìn cán bộ, đảng viên cộng sản (tài liệu chính thức trích từ cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam, tập 2). Đó là chưa nói đến những hậu quả nguy hại khác của cuộc tàn phá khủng khiếp ở nông thôn mà ĐCS gọi là “cuộc cách mạng long trời lở đất” là: bằng cuộc CCRĐ theo khuôn mẫu Mao-ít, ĐCS đã phá vỡ truyền thống tốt đẹp, hòa hiếu, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn mà cha ông ta đã tạo dựng hàng mấy nghìn năm trước; đã phá hoại đạo lý, luân thường của dân tộc và tạo nên một lối sống giả dối, man trá, điêu toa, vu khống, bất nhân mở đầu cho sự băng hoại đạo đức, nhân cách sau này; đã phá hủy cuộc sống tâm linh vốn có lâu đời, vì chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ, những nơi thờ tự... đều bị phá phách, triệt hạ... CCRĐ kết thúc, một số bần cố nông hớn hở được nhận ruộng tưởng rằng “ước mơ ngàn đời” của họ đã bắt đầu được thực hiện. Họ được chụp ảnh, quay phim để ĐCS tuyên truyền khoe khoang “công ơn” của đảng đối với nông dân, thì... chưa đầy một năm sau, ĐCS đã lùa những bần cố nông đó, cùng các nông dân khác bắt họ đem ruộng đất tư vốn có của họ vào hợp tác xã, vô hình trung ĐCS tước đoạt mất quyền tư hữu mà giao ruộng đất của họ cho các chủ nhiệm hợp tác xã quản lý. Đấy, ĐCS đã thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” một cách bịp bợm như vậy!
Đến quả lừa “vĩ đại”, tồi tệ nhất của ĐCSVN đối với nông dân và nói chung cả với toàn dân ta, là... khi soạn thảo và thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, bằng điều 19 của Hiến pháp, ĐCS đã nhẹ nhàng, gần như thầm lặng, không “long trời lở đất” tí nào, chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Từ đây, thực tế ĐCS đã “quốc hữu hóa”, hay nói chính xác hơn “đảng hữu hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước. Từ đây,  ĐCSVN thực tế đã tự biến mình thành một siêu đại địa chủ. Đến lần sửa đổi hiến pháp năm 1992, điều 19 Hiến pháp năm 1980 lại được đổi thành điều 17 cũng với nội dung giống như lần trước. Cả hai Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và năm 1992 đều nhằm mục tiêu tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, đều vi phạm nghiêm trọng điều 17 Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền mà Việt Nam đã ký và cam kết thực hiện.
       “Sở hữu toàn dân” là một hư ảo, một điều bịa đặt của các lãnh tụ cộng sản, nó hoàn toàn phi lý, trái ngược với bản tính con người - và cả con vật nữa - từ nghìn xưa đến nay luôn luôn muốn có tư hữu, mà cái bản tính đó chính là động cơ thúc đẩy xã hội loài người tiến bộ mãi. Cho nên cái gọi là “sở hữu toàn dân” chỉ là tấm màn dối trá che đậy âm mưu của ĐCS cướp đoạt ruộng đất của người dân, vì thế người viết bài này mới dùng từ “đảng hữu hóa” là ý như vậy. Xin bạn đọc hãy xem điều 1 Luật đất đai năm 1993 ghi rành rọt: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”, mà nhà nước dưới chế độ cực quyền toàn trị thì chính là ĐCS đứng đầu là Bộ chính trị, chứ còn ai khác? Hãy xem Luật đất đai năm 2003, ở đấy còn ghi trắng trợn hơn nữa: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”. Như vậy, ĐCS tự nhận mình là “quản lý” của “chủ sở hữu toàn dân về đất đai”, nói trắng ra là siêu đại địa chủ nắm toàn bộ ruộng đất của cả nước! Đây là quả lừa xảo trá nhất, đê tiện nhất, phản bội lại tất cả những lời ĐCS đã hứa hẹn về “người cày có ruộng”! Không những là siêu đại địa chủ, ĐCS còn là siêu đại địa chủ cường hào ác bá  nhất nước, luôn luôn sẵn sàng cướp đoạt ruộng đất của dân, luôn luôn sẵn sàng huy động công an, quân đặc nhiệm, bộ đội, tòa án... đàn áp thẳng tay mọi cuộc phản kháng của người dân “thấp cổ bé họng” muốn chống lại sự “cưỡng chế” của đảng. Còn ở các địa phương, các cán bộ lãnh đạo noi gương kẻ cầm quyền cấp trên cũng nhanh chóng tự biến mình thành những địa chủ cường hào gian ác còn tồi tệ hơn cả dưới thời phong kiến. Đám địa chủ “thẻ đỏ tim đen” này không sợ ai hết, vì chúng nắm trong tay toàn bộ các cơ quan quyền lực, cả công an, cả kiểm sát lẫn tòa án...
        Để thực hiện Hiến pháp năm 1980 và 1992, nhà nước đã ba lần ban hành Luật đất đai vào năm 1987, 1993, 2003 và hai lần sửa đổi vào năm 1998, 2001 với hàng trăm văn bản dưới luật nhiều lần sửa đi sửa lại! Những luật và văn bản này rất rối rắm, chồng chéo nhau, mâu thuẫn nhau, tạo ra vô số kẽ hở cho đám quan lại cộng sản tha hồ tham nhũng.
        Như vậy, bằng những quả lừa xảo quyệt nói trên, các lãnh tụ của ĐCSVN, từ Hồ Chí Minh trở xuống đã từng bước tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, trước hết là của nông dân, họ trắng trợn phản bội lại quyền lợi của nông dân mà trước đây họ tâng bốc là «hậu bị quân», là “một trong những chủ lực quân” của cách mạng! Vì thế, dưới cái chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa” của ĐCS, thân phận người nông dân vốn đã bèo bọt, thảm hại lại càng bèo bọt, thảm hại hơn bội phần.
Thảm kịch  “dân oan”

Chính vì thế, từ những năm 80 thế kỷ trước – tức là sau khi Hiến pháp “xã hội chủ nghĩa” được ban hành, trên đất nước ta xuất hiện thảm kịch “dân oan” thời “đổi mới” ở khắp nơi. Vì sao có thảm kịch “dân oan”? Vì người dân, nhất là nông dân, đã mất quyền sở hữu, nói chính xác hơn là mất quyền tư hữu ruộng đất của mình, họ chỉ có quyền sử dụng ruộng đất của “nhà nước” có hạn định mà thôi, và ĐCS với danh nghĩa nhà nước hay chính phủ, muốn thu hồi, trưng thu, tước đoạt, hay “cưỡng chế” lúc nào cũng được. Khi thu hồi, kẻ cầm quyền bồi thường cho người dân một số tiền “tượng trưng”, chưa bằng một phần mười giá thực tế, còn bọn tham quan ô lại xà xẻo bớt nữa, nên người dân càng thiệt thòi hơn. Có lắm khi các “quan lớn” cộng sản vẽ vời ra những dự án đô thị hóa, công nghiệp hóa... đồ sộ, không thực tế, rồi cưỡng chế thu lại ruộng đất của dân (xót xa nhất là ruộng đất màu mỡ đã thâm canh), thu xong rồi bỏ đấy chờ được phê duyệt, ruộng đất màu mỡ nằm năm này qua năm khác, có khi hàng chục năm, đã trở thành đất hoang... Thế là đám tham quan ô lại bày mưu tính kế đem bán lại cho nhà giàu, cho các “đại gia” với giá đắt ngút trời. Còn hàng trăm, hàng nghìn gia đình nông dân mất ruộng, hết kế sinh nhai, ôm một cục tiền “đền bù”, mà cũng không biết sử dụng thế nào cho có lợi, hơn nữa đồng tiền lại mất giá, nên tiêu dần, cuối cùng rồi cũng hết. Hết tiền,  sống dở chết dở, đói rét phải đi lang thang, phiêu bạt hay chạy vào các đô thị kiếm sống. Nỗi oan của người dân từ đó mà ra. Lúc đầu, bà con “dân oan” thấy rõ những bất công, những hà lạm, tham nhũng của bọn cầm quyền địa phương nên họ tranh đấu bằng hình thức khiếu kiện. Họ chỉ tưởng nỗi oan khiên của họ là do bọn quan lại địa phương gây ra (điều này đúng, nhưng chỉ là phần hiển lộ thôi), họ có biết đâu rằng căn nguyên sâu xa nỗi oan khuất của họ là ở cái chính sách của ĐCS tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, là ở sự lừa đảo và phản bội của ĐCS đối với nông dân! Nỗi đắng cay, tủi nhục, khổ ải của bà con “dân oan” đi khiếu kiện thật là to lớn khôn cùng, không có bút mực nào diễn tả hết được – họ đi từ làng quê đến các cơ quan cấp tỉnh, không được giải quyết, họ lại đến các cấp cao hơn, không được nữa thì họ lại đến thủ đô, ăn chực nằm chờ ở các dinh thự của các “ông lớn” của ĐCS, các cơ quan chính phủ, quốc hội, thậm chí đến cả Mặt trận Tổ quốc dù cái tổ chức này chẳng có thẩm quyền giải quyết oan ức của họ.
Hồi năm 2007, chúng tôi đã viết bài “Chuyện dài dân oan”, nay chỉ xin nhắc lại vài điểm thôi. Mọi người đều biết, đã hơn 30 năm nay, hàng triệu “dân oan” nhẫn nhục đi khiếu nại, đi từ cấp chính quyền này đến cấp chính quyền khác, nhưng khắp mọi nơi các cấp chính quyền không giải quyết gì cả. Cấp nọ chỉ “chuyền bóng” đến cấp kia, cấp trên lại chuyển về cấp dưới... cốt làm cho dân oan mệt mỏi, tốn tiền hao của, rồi nản lòng thối chí. Nhưng vì đây là cuộc vật lộn cho sự sống của họ, cho nên họ không thể nào “bỏ cuộc”. Trái lại, có khi vì uất hận đã bùng lên thành những cuộc đấu tranh quyết liệt, như vụ nông dân đồng bằng sông Cửu Long nổi giận kéo lên Sài Gòn hồi năm 1988; dân chúng vùng Thanh Nghệ Tĩnh liên tục đấu tranh sôi nổi trong những năm 90; nhân dân vùng Xuân Lộc (Đồng Nai) đứng lên hồi năm 1997; nông dân Thọ Đà (Hà Tây), Kim Nổ (Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) đánh nhau với công an để bảo vệ ruộng đất hồi năm 1996 và 1998; 250 nông dân ở nhiều tỉnh đã biểu tình trước Quốc hội đang họp ở Hà Nội (20.05.1999) để tố cáo nạn tham nhũng và cường hào ác bá hoành hành ở các địa phương; trên 30 người phụ nữ tỉnh Đồng Tháp ra tận thủ đô biểu tình trước trụ sở ĐCS căng biểu ngữ với hàng chữ: “Nhân dân thành phố Sa Đéc quá thất vọng. Không có dân chủ” (14.04.2000); 74 gia đình, gồm người già và phụ nữ ở khu Chùa Vẽ thành phố Hải Phòng lên Hà Nội phản đối các quan chức của đảng cướp đất của dân, v.v...


Nổi bật nhất là những cuộc biểu tình của nông dân Thái Bình (hồi những năm 30 tỉnh này vốn được coi là “cái nôi” của ĐCSVN) đã diễn ra hồi cuối năm 1996, rồi biến thành những cuộc nổi dậy từ tháng 05 đến tháng 06.1997, lúc đầu thu hút hàng ngàn nông dân ở xã An Ninh huyện Quỳnh Phụ (đêm 26 rạng 27.06.1997), sau đó toả ra toàn huyện Quỳnh Phụ, lan khắp 5 huyện, là Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Đông Hưng, Thái Thuỵ (trong số 7 huyện của tỉnh Thái Bình). Từ tháng 05 cho đến tháng 11.1997, công an vây chặt khu vực có biến động. Mọi thông tin về vụ biến động đều bị ĐCS bịt kín. Sau khi các “ông lớn” từ Trung ương ĐCS, trong số đó có TBT Đỗ Mười, đến Thái Bình phủ dụ dân chúng, thi hành kỷ  luật một số cán bộ đảng  để lấy lòng dân chúng thì cuộc bạo động lắng xuống. Khi đó, Đỗ Mười liền cho công an bí mật bắt bỏ tù mà không xét xử những người tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh – phần đông là cựu chiến binh của “quân đội nhân dân”, cán bộ cũ đã về hưu của ĐCS. Trong tù, những người này bị nhốt chung với thường phạm, và công an theo lệnh “trên” đã khuyến khích thường phạm giết hại họ cực kỳ man rợ.
Tiếp sau cuộc vùng dậy của nông dân-dân oan Thái Bình là cuộc nổi dậy của người Thượng vùng Tây Nguyên hồi tháng 02.2001. Sau đó, đến ngày 10.04.2004, hàng vạn dân Thượng lại nổi dậy, lần này có quy mô và tổ chức hơn lần trước. Nguyên nhân các cuộc nổi dậy là do chính sách của ĐCS di dân người miền đồng bằng lên Tây Nguyên, rồi cán bộ, đảng viên người Kinh cùng bà con của họ đã lấn chiếm, cướp đoạt nương rẫy của người Thượng, mặt khác cũng do chính quyền ngăn cấm tự do tín ngưỡng của người Thượng. Một lần nữa ĐCS lại tung quân đàn áp dã man cuộc nổi dậy này làm hàng chục (có tin hàng trăm) người chết. Trong hai lần nổi dậy, vì bị đàn áp khốc liệt nên đã có hàng nghìn người Thượng chạy sang Cam Bốt.
Từ sau những cuộc nổi dậy ở Thái Bình và Tây Nguyên, “dân oan” thường dùng hình thức khiếu kiện và biểu tình một cách hoà bình. Để có được tiếng vang lớn, họ thường tập trung đông người hơn, dài ngày hơn ở các đô thị lớn, nhất là thủ đô. Vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Trụ sở tiếp dân ở Cầu Giấy Hà Nội cũng như Trụ sở tiếp dân ở đường Võ Thị Sáu, Văn phòng 2 Quốc hội ở Sài Gòn thường là những nơi tụ tập của dân oan đến từ nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Đặc biệt là cuộc biểu tình khiếu kiện dài ngày ở Sài Gòn của “dân oan”, chủ yếu là nông dân ở 19 tỉnh thành Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bà Rịa, Vũng Tàu, Bình Định, Bình Thuận... và 9 quận huyện ở Sài Gòn – một cuộc biểu tình sáu-bảy trăm người, có khi lên đến 1000 người và kéo dài 27 ngày (kể từ ngày 22.06 đến đêm 18 rạng 19.07.2007). Đây là một cuộc biểu tình hoà bình đông đảo và lâu nhất chưa từng thấy dưới chế độ toàn trị của ĐCS. Người biểu tình căng những băng-rôn tố cáo đích danh bọn quan lại cộng sản cướp đất, bóc lột và lừa dối «dân oan», như: “Chính quyền Tiền Giang dối đảng lừa dân”, “Đả đảo Nguyễn Kim Châu, thanh tra chính phủ báo cáo không trung thực với Thủ tướng”, “Đả đảo bà Nhàn, thanh tra Tiền Giang áp dụng luật rừng với bà con. Đề nghị cách chức”, “Mười hộ dân Đồng Tháp tố cáo chủ tịch tỉnh Trương Ngọc Hân và chủ tịch huyện Lai Vung Tạ Văn Hội cướp đất cướp nhà, gây bức xúc lòng dân, làm dân chết một người”, “Đả đảo chánh án tòa án tỉnh Tiền Giang lợi dụng chức vụ chỉ đạo thẩm phán xử oan, trục lợi cá nhân”, “Tập thể bà con nông trường Sông Hậu tố cáo UBND thành phố Cần Thơ bao che nông trường Sông Hậu. Giám đốc Trần Ngọc Sương lừa đảo chiếm đoạt đất đai của dân và thu không có quyết định của Nhà nước”, “Công ty cổ phần Bạc Liêu cấu kết với chính quyền cướp đất giữa ban ngày”, "Tố Cáo Huỳnh Tấn Thành, Chủ Tịch UBND tỉnh Bình Thuận tham nhũng", v.v... Những khẩu hiệu này cho thấy người nông dân đã thấy rõ cội nguồn những đau khổ của họ là các quan lại cộng sản. Khi cả một khối người đông đảo biểu tình công khai gần một tháng trời, chịu đựng biết bao thiếu thốn, cơ cực trong cảnh màn trời chiếu đất, dầm mưa dãi nắng, thì công an theo lệnh của đảng, bao vây, đe doạ, cấm cản đủ điều, gây thêm nhiều khốn khổ cho «dân oan». Thế nhưng, họ vẫn kiên trì đấu tranh cho đến ngày ĐCS ra lệnh cho công an  đàn áp dã man bằng dùi cui, vòi rồng xịt nước, đèn cao áp, bình chữa lửa, roi điện, lựu đạn cay...  để dẹp cuộc biểu tình ở Sài Gòn.
Sau đó, ĐCS đã cho cán bộ về các địa phương diễn trò “giải quyết tại chỗ” những oan khuất của dân chúng, bồi thường phần nào cho những hộ bị mất đất hòng xoa dịu lòng căm phẫn của «dân oan». Nhưng «dân oan» vẫn không hài lòng, họ vẫn thấy thiệt thòi và lại khiếu kiện tiếp.

Thế là cuộc biểu tình khiếu kiện lại tiếp diễn trong tháng 08.2007, cả ở Hà Nội lẫn Sài Gòn. «Dân oan» các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và nhiều nơi khác, kể cả một số người từ miền Nam mang theo con cái ra Hà Nội đứng biểu tình trước cửa Trụ sở tiếp dân ở số 110 Cầu Giấy. Còn ở trong Nam, ngày 25.08, hàng trăm bà con dân oan các tỉnh Bình Thuận, Bến Tre, An Giang, Lâm Đồng, Rạch Giá, Tiền Giang, Sóc Trăng... lại kéo về Sài Gòn tụ tập trước cổng Trụ sở tiếp dân ở đường Võ Thị Sáu để khiếu kiện, đòi đất đai, ruộng vườn, tài sản bị chính quyền cướp đoạt. Sáng ngày 29 và 30.08, công an lại dùng vũ lực vây bắt và đưa dân oan về các địa phương...
Cứ thế, trên 30 năm trời, “dân oan” đã tranh đấu không ngừng, hết năm này qua năm khác, hàng triệu lá đơn đã «dâng» lên các «ông lớn» và bị «xếp xó». Chẳng những thế, hàng trăm cuộc đấu tranh khác từ Bắc chí Nam của «dân oan» đã bị ĐCS ra lệnh đàn áp với lực lượng hùng hậu gồm các loại công an nổi chìm, “dân phòng”, chó nghiệp vụ, gây thương tích, làm tử vong  «dân oan», như ở Trảng Bom, Đồng Nai (năm 2008), ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa (năm 2010) hoặc đã làm cho «dân oan» quá uất hận, như kỹ sư Phạm Thành Sơn ở Sơn Trà, Đà Nẵng phải tự thiêu trước UBND Thành phố Đà nẵng (năm 2011) và anh Nguyễn Văn Tưởng ở Thăng Bình, Quảng Nam phải tự tử (năm 2012). Hàng trăm «dân oan» ở Thái Bình (năm 1997), ở Quận 9 Sài Gòn (năm 2008), ở Tây Nguyên (năm 2001, 2004, 2011), Khoái Châu, Hưng Yên (năm 2008), ở Lục Ngạn, Bắc Giang (năm 2012), ở Tiên Lãng, Hải Phòng (năm 2012)  đã bị vu khống, ghép tội vô lý và tống ngục, có những người bị giết trong tù, như những người lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Thái Bình. Hàng chục người vì lòng thương xót đồng bào bị oan khuất đã giúp cho bà con «dân oan» viết đơn khiếu kiện, viết bài kể nỗi khổ của «dân oan» trên báo chí, cũng như nhiều luật sư vì lương tâm nghề nghiệp đã đứng ra bênh vực «dân oan» trong các vụ án đã bị vu khống và bỏ tù, như LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân, LS Huỳnh Văn Đông, LS Cù Huy Hà Vũ…...
Tiếng sấm Đoàn Văn Vươn

 
Đùng một cái, ngày 05.01.2012, ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ ông nông dân-kỹ sư Đoàn Văn Vươn và gia đình, quá uất ức vì lệnh cưỡng chế vô lý của chính quyền huyện Tiên Lãng đã nổ súng (súng hoa cải!) chống lại «cả trăm cảnh sát, công an, bộ đội... tham gia cưỡng chế khu đầm 19,3 ha của gia đình ông Vươn» «khiến 4 cảnh sát và 2 bộ đội bị thương»  (những chữ trong ngoặc kép là nguyên văn báo chí trong nước). Sự kiện động trời này làm rung động cả nước!
Đầu đuôi câu chuyện như sau: Tháng 10 năm 1993, UBND huyện Tiên Lãng giao 21 ha đất cho ông Vươn, đến tháng 4 năm 1997, lại giao bổ sung 19,3 ha đất (thực tế là đầm nước ven biển) để nuôi trồng thủy sản trong thời hạn 14 năm tính từ năm 1993. Nhận được đầm nước, ông Vươn và người em Đoàn Văn Quý cùng gia đỉnh ra sức khai phá, trước hết là làm đập ngăn nước biển tràn vào. Sau bao nhiêu lần bị thất bại, sóng biển vỗ vào phá vỡ đập, nhưng cả hai anh em đã nhẫn nại làm đi làm lại nhiều lần, cuối cùng thì đập đứng vững, họ bắt đầu làm các công trình để nuôi thủy sản. Các hộ láng giềng theo gương ông Vươn cũng đắp đập nuôi tôm cá.  Công việc dần dần tiến triển tốt hơn, họ bắt đầu có thu nhập để trả dần món nợ lớn cho ngân hàng. Đám quan lại ở địa phương thèm thuồng dòm ngó và bày mưu tính kế... Thế rồi, vào tháng 4 năm 2008, rồi lại tiếp đến tháng 4 năm 2009, UBND huyện Tiên Lãng ra hai quyết định thu hồi số đất đã cho thuê. Ông Vươn điếng người, nhận thấy quyết định này quá ư vô lý nên không chịu thi hành. Thế là UBND huyện Tiên Lãng ra lệnh cưỡng chế, ngày 05.01.2012, họ điều động cả trăm cảnh sát, công an, bộ đội... đến cưỡng chế khu đầm của gia đình ông Vươn. Anh em ông Vươn đã nổ súng để chống cự. Sau vụ đó, chính quyền địa phương đã cho xe ủi san phẳng ngôi nhà 2 tầng của ông Vươn cho em trai Đoàn Văn Quý ở nhờ, còn ngôi nhà của vợ chồng ông Vươn đang ở - xe ủi không vào được - thì họ ra lệnh dùng búa đập phá tan hoang, rồi đốt cháy hết quần áo, đồ đạc trong nhà. Bốn người trong gia đình họ Đoàn bị tống giam, chờ ngày xét xử, họ bị buộc tội «cố ý giết người». Một số nhà báo trong nước có công tâm đã mạnh dạn phanh phui, vạch rõ việc kẻ cầm quyền ở địa phương âm mưu cướp đoạt thành quả lao động của hai gia đình anh em họ Đoàn. Vụ án này gây chấn động mạnh trong dư luận xã hội, đến nỗi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải trực tiếp xem xét và kết luận (ngày 10.02.2012). Sau đó, một vài cán bộ địa phương ở cấp huyện, xã đã bị thi hành kỷ luật, trừ cấp thành phố được thủ tướng «hoan nghênh việc lãnh đạo thành phố Hải Phòng nghiêm túc kiểm điểm... », dù vụ việc này không phải là không có bàn tay lông lá của các «quan» thành phố đã bật đèn xanh cho phép cấp dưới thực hiện vụ cướp đoạt này, còn bây giờ thì họ làm ra vẻ ngây ngô, quanh co, dối trá... để trốn trách nhiệm (xem: những lời của giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca và phó chủ tịch Hải Phòng Đỗ Trung Thoại...). Trong lúc thủ tướng Dũng khen lãnh đạo Hải Phòng thì ngày 17.02.2012 tại Câu lạc  bộ Bạch Đằng ngay trước mặt bí thư thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành, một cán bộ của đảng đã lên micro dõng dạc nói lớn: «Đề nghị Bộ chính trị cách chức bí thư Thành» và mọi người đã hoan hô nhiệt liệt!

Đoàn Văn Vươn đáng lẽ phải được nêu lên làm một tấm gương sáng về tính năng nổ, lao động kiên trì và sáng tạo của người nông dân thì cái chế độ toàn trị đầy tham nhũng hiện nay lại đẩy ông ta vào vòng lao lý vì bọn quan lại cộng sản mưu đồ cướp đoạt thành quả lao động vô cùng gian khổ, khó nhọc nhiều năm của ông và gia đình ông. Không một người nào yêu chuộng công lý mà không thương xót hai anh em họ Đoàn. Vì thế vụ án Đoàn Văn Vươn đánh động lương tâm của rất nhiều người trong và ngoài nước. Đặc biệt cảm đông là cụ bà Lê Hiền Đức, 81 tuổi, một đảng viên cộng sản lâu năm, công bằng và chính trực, nổi tiếng là người nhiệt tình chống tham nhũng và giúp đỡ «dân oan», đã lớn tiếng bênh vực hai anh em họ Đoàn. Bà nhìn sâu vào nội tình ĐCS và đã tuyên bố thẳng thừng: «Chừng nào ông Đoàn Văn Vươn và những người thân của ông còn phải nằm trong vòng lao lý, còn chưa được bồi hoàn các quyền lợi về vật chất, tinh thần đã bị xâm phạm thì chừng đó tôi còn nhìn chính quyền trung ương của Việt Nam chỉ như là sự phóng to của chính quyền huyện Tiên Lãng, chính quyền thành phố Hải Phòng». Lời nói của cụ làm mọi người rất cảm phục
Vụ án Đoàn Văn Vươn báo hiệu lòng uất hận của người «dân oan» đã lên gần đến điểm đỉnh, nó có thể bùng nổ bất cứ lúc nào và bất kỳ ở đâu.

            Mới đây, vào ngày 11.04.2012, một cuộc biểu tình khoảng gần 1000 bà con nông dân đã diễn ra trước trụ sở Văn phòng Thanh tra Chính phủ tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. Đa số bà con đền từ Văn Giang (Hưng Yên) và Dương Nội (Hà Đông). Ngoài ra có một số người từ miền Nam ra, họ ăn chực nằm chờ nhiều tháng nay để khiếu kiện, chủ yếu chỉ vì cưỡng chế và đền bù đất đai vô lý. Nông dân  phản đối quyết định cưỡng chế đất trái pháp luật của chủ tịch và phó chủ tịch UBND huyện Văn Giang. Ở đây, hơn 1800 hộ dân ở ba xã Xuân Quang, Cụng Công và Cửu Cao đang bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đất để làm dự án khu đô thị-thương mại-du lịch Ecopark có diện tích trên 500 ha. Người dân được đền bù 43000 đồng một mét vuông, một mức giá mà họ cho là quá bất công chỉ mua được vài mớ rau muống. Còn bà con ở Dương Nội bị chính quyền cưỡng chế đất để làm dự án khu đô thị Lê Trọng Tấn. Nông dân Văn Giang và Dương Nội đã khởi kiện từ nhiều năm trước nhưng chẳng được giải quyết gì. Lòng dân rất phẫn uất, thế mà kẻ cầm quyền tuyên bố vẫn sẽ thi hành cưỡng chế ở huyện Văn Giang vào ngày 20.04. Còn nông dân thì nói rằng: «đối với chúng tôi mất đất là mất hết nguồn sống, nên chúng tôi sẽ đấu tranh đến cùng và sẵn sàng chiến đấu» và họ đã làm chòi ở đồng ruộng để tổ chức canh phòng. Cảm thấy dường như tinh thần Đoàn Văn Vươn đang thấm nhập vào tâm tư «dân oan», báo hiệu những trận cuồng phong sắp tới...
Theo tin tức nhận được sáng nay, 24.04.2012, chính quyền đã huy động một lực lượng hùng hậu hàng ngàn công an, an ninh (BBC đưa tin là khoảng 2000-4000) mặc sắc phục và thường phục cùng bọn «đầu gấu» xã hội đen, từ 4h30 sáng đã đột nhập vào xã Phụng Công, xã Xuân Quan để chia cắt dân, chặn đứng các ngả vào cánh đồng, rồi bắt giữ và đánh đập một số người canh phòng trên đồng ruộng. Nông dân ở các nơi khác đổ xô đến yểm trợ bà con thì bị tấn công, đánh đập tàn tệ. Dã man nhất là chúng bắt 10 người, khóa tay, rồi xịt hơi cay vào mặt, đe dọa, sau đó thả ra, nhiều người bị ngất xỉu. Ở phía xã Phụng Công, có tiếng nổ liên hồi, người ta đoán là tiếng súng AK. Tồi tệ nhất là đám công an ném xuống ao tất cả lương thực, bánh mỳ dự trữ của dân.  Tiếng khóc của phụ nữ, trẻ em vang khắp cánh đồng. Ở xã Xuân Quan có hai người bị trúng đạn hơi cay, một trong hai người đó đạn trúng vào chân, máu me đầm đìa. Cuối cùng những người dân tay không đã bị đẩy lùi trước lực lượng  cưỡng chế hùng hậu của ĐCS. Trận đàn áp nông dân lần này – theo lời bà con nông dân – chẳng khác gì trận chiến đấu chống quân khủng bố. Tiếp theo sau lực lượng công an, an ninh là đoàn xe ủi xông vào san ủi ruộng đất của bà con, những gia đình không di chuyển kịp các chậu cây cảnh quý giá đắt tiền cũng bị tàn phá hết. Thử hỏi hành động tội ác này của ĐCS có khác gì hành động của địa chủ cường hào ác bá không? Nhất định người nông dân sẽ không quên nỗi uất hận này!

Vụ án xử oan, nhưng không phải đối với «dân oan»
       Một thời gian ngắn trước vụ án Đoàn Văn Vươn, là vụ án nông trường Sông Hậu, xử oan bà Trần Ngọc Sương, giám đốc nông trường. Vụ án này xử oan người vô tội, chứ về thực chất bà Sương không phải là «dân oan» bị cướp đoạt ruộng đất, nhà cửa dưới thời «đổi mới». Tuy vậy, cũng xin nói qua vài nét.

       Nông trường Sông Hậu là một đơn vị kinh tế nhà nước được thành lập hồi năm 1979 với diện tích lúc đầu là 3450 ha, về sau được mở rộng thêm, tổng diện tích lên tới 6924,78 ha. Trong quá trình mở rộng diện tích có thể đã có sự chiếm đoạt ruộng đất của nông dân thế nào đó, nên trong cuộc biểu tình 27 ngày của «dân oan» hồi năm 2007 ở Sài Gòn, ta thấy có tấm băng-rôn ghi rõ: “Tập thể bà con nông trường Sông Hậu tố cáo UBND thành phố Cần Thơ bao che nông trường Sông Hậu. Giám đốc Trần Ngọc Sương lừa đảo chiếm đoạt đất đai của dân và thu không có quyết định của Nhà nước”. Chúng tôi chỉ nhắc lại điều đó ở đây, chứ không thể có kết luận gì.
       Nằm trên vùng đất trũng, bị nhiễm phèn và bị hoang hoá nhiều năm, không có kênh mương thuỷ lợi, nông trường đã đi lên bằng nguồn vốn vay ngân hàng: đã cải tạo đồng ruộng, xây dựng công trình thủy lợi, kết hợp làm đường giao thông, cơ giới hoá nhiều khâu trong sản xuất, chuyển đổi diện tích lúa mùa nổi một vụ trở thành đất trồng lúa 2 vụ, nâng sản lượng hàng năm lên trên 60000 tấn lúa và tổ chức nuôi trồng thủy sản trên 5000 ha. Nông trường đã xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư máy móc thiết bị phát triển công nghiệp chế biến nông sản và đã có nhiều thành tích trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Tóm lại, nông trường là một đơn vị kinh tế khá nổi bật trong thời «đổi mới» nhờ đó tạo được cuộc sống tương đối ổn định cho hơn 2300 hộ nông trường viên. Công việc đang tiến triển tốt thì hồi tháng 04.2006, chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ ra quyết định thanh tra nông trường Sông Hậu. Đúng một năm sau, công an thành phố Cần Thơ quyết định khởi tố vụ án hình sự «cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế». Tháng 08.2009, tòa án huyện Cờ Đỏ mở phiên tòa xét xử vụ án «lập quỹ trái phép». Tòa tuyên án phạt bà giám đốc Trần Ngọc Sương 8 năm tù, bắt bồi thường thiệt hại 4 tỷ đồng. Trên 3400 hộ nông trường viên làm đơn phản đối và bà Sương kháng cáo. Tháng 11.2009, TAND thành phố Cần Thơ xử phúc thẩm, quyết định y án 8 năm tù đối với bà Sương và buộc phải trả cho nông trường 4,3 tỷ đồng. Bà tiếp tục kháng cáo lên tòa án tối cao... Cuối cùng, nhờ sự can thiệp của một số cán bộ đảng cao cấp, tháng 01.2012, viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã ra quyết định đình chỉ vụ án nông trường Sông Hậu.
        Vụ án này cho thấy ĐCSVN độc quyền nắm cả ba thứ quyền – lập pháp, hành pháp, tư pháp, do đó hệ thống tư pháp, kiểm sát, công an, tòa án ở các cấp đều bị lệ thuộc hoàn toàn vào hệ thống đảng. Ở nơi nào cán bộ lãnh đạo, vì đấu đá nội bộ hoặc tham nhũng mà muốn bỏ tù ai thì cả hệ thống tư pháp ở nơi đó đều răm rắp làm theo lệnh đảng, bất chấp công lý và nỗi oan khiên của người khác. Bà Sương là Anh hùng lao động được nhà nước cộng sản tôn vinh mà còn bị chà đạp như vậy, thì thử hỏi «đám dân oan vô danh tiểu tốt» làm sao đương nổi với bọn quan lại cộng sản tham nhũng nắm toàn bộ quyền lực trong tay?

Hậu quả của việc xóa bỏ tư hữu ruộng đất

Ở trong một nước, nhất là nước nông nghiệp như nước ta, nơi mà nông dân chiếm tuyệt đại đa số (trên 70%), thì điều trước tiên một nhà nước thật tâm «vì dân, vì nước», muốn cho «dân giàu nước mạnh» phải làm là khẳng định, xác lập rõ ràng quyền tư hữu ruộng đất của người dân, coi đó là cái quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, có như vậy mới khích lệ người dân vì quyền lợi của họ mà ra sức tăng gia sản xuất, nhờ đó mà dân mới giàu, nước mới mạnh được. Nhưng các lãnh tụ ĐCS đâu có thật tâm «vì dân, vì nước», nên họ đã tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân để chuyển thành cái gọi là «sở hữu toàn dân» về thực chất là quyền sở hữu của ĐCS, như chúng ta đã phân tích trên. Việc xóa bỏ đó đã gây ra biết bao tai họa cho người dân, trước hết là nông dân, vì đã cắt mất cái cơ sở tạo nên nguồn sống của họ!
Ngoài việc tạo ra hàng triệu «dân oan», tước mất kế sinh nhai của họ, đẩy «dân oan» vào cuộc sống bần cùng, bế tắc, việc tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. Bị tước mất quyền làm chủ trên mảnh ruộng đất vốn là của mình, nay người nông dân chỉ là người thuê mướn ruộng đất để sử dụng mà thôi (ở đây, nông dân trở thành «tá điền» thời xã hội chủ nghĩa-phong kiến), thuê mướn có hạn định (20 năm, cây lưu niên thì 50 năm), nên tâm lý của nông dân đã thay đổi, họ không còn tha thiết gắn bó với mảnh ruộng đất mình thuê mướn nữa. Họ coi mảnh ruộng đất của nhà nước giao như là một vật dụng được mượn tạm, trước sau gì cũng phải trả lại, cho nên họ cố khai thác triệt để theo kiểu vắt kiệt mảnh ruộng đất đó để cố kiếm lợi nhanh chóng nhất, chứ không muốn xây dựng cho mình kế hoạch lâu dài, họ không muốn đầu tư công sức, tiền của để cải tạo chất đất, tăng độ phì nhiêu cho đất để tăng năng suất, tăng thu hoạch cho mình, vì họ sợ uổng phí công sức, tiền của mà cuối cùng bản thân mình và con cháu chẳng được hưởng gì khi mảnh ruộng đất đó bị thu hồi. Cái tâm lý đó ảnh hưởng rất tiêu cực về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước, nhưng các lãnh tụ ĐCS nhắm mắt làm ngơ. Chính vì thế, ngày nay, chúng ta thấy có những chuyện ngược đời hết sức đau lòng cho những ai biết lo nghĩ đến tiền đồ đất nước, đến hạnh phúc của người dân: ruộng đất canh tác ngày càng thu hẹp một cách nhanh chóng trong lúc dân số thì tăng mạnh, gây ra nhiều khó khăn cho cuộc sống của người dân. Chính Bộ nông nghiệp Việt Nam cũng đã phải xác nhận: từ năm 2001 đến năm 2006, đã có 376000 ha ruộng đất trồng lúa đã bị thu hồi, làm hơn một triệu nông dân bơ vơ vì mất kế sinh nhai... Thế mà hàng nghìn ha vốn là «bờ xôi ruộng mật» đã bị bỏ hoang hóa! Vì sao vậy? Vì các «quan lớn» ham chạy theo món lợi lớn trước mắt – chủ yếu là lợi riêng – đã lập ra quá nhiều, nhiều đến mức phí lý, các dự án đô thị cao cấp và siêu sang trọng, các khu vui chơi, giải trí, các khu du lịch sinh thái, các sân golf… rồi cứ mặc sức thu hồi ruộng đất của người dân. Có rất nhiều dự án đô thị hóa, công nghiệp hóa lập nên, chưa được cấp trên chuẩn nhận, hay chuẩn nhận mà không có tiền thực hiện... nên ruộng đất của dân đã thu hồi rồi cứ để nằm đấy hàng chục năm trời, dần dần trở thành hoang hóa. Có ai trước đây có thể tưởng tượng nổi tình trạng này đã và đang xảy ra dưới thời «xã hội chủ nghĩa» của ĐCS?  Nhiều nơi nông dân thi nhau đào đất bề mặt ruộng – là lớp đất màu mỡ nhất bên trên – để đem bán cho người ta làm các bãi cỏ sân golf hay bãi cỏ công viên giải trí, du lịch, v.v... Trong lúc đó, đội quân thất nghiệp của nông thôn ngày mỗi tăng, - theo báo chí trong nước - trong vài năm tới sẽ lên tới nhiều triệu người, họ phải chạy ra các đô thị kiếm sống, bổ sung thêm vào số người thất nghiệp ở đô thị vốn đã đông càng đông hơn.
ĐCS đưa ra khẩu hiệu

cơ giới hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn, nhưng lại tước quyền tư hữu ruộng đất của người dân, thì trong tương lai nước ta làm sao có được những chủ ruộng đất lớn, những chủ trang trại lớn có khả năng làm việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa đó? Không có những người nông dân hay người trại chủ thật sự làm chủ ruộng đất của mình thì cái khẩu hiệu cơ giới hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn chỉ là chuyện tào lao vô bổ của kẻ vô công rồi nghề hay những tên bịp bợm!
Tóm lại, suốt mấy chục năm nay, tấn bi kịch của người dân bị tước đoạt ruộng đất đã trở thành một nỗi đau nhức nhối của xã hội Việt Nam. Biết bao cuộc đấu tranh đã bùng nổ và đã bị ĐCS đàn áp tàn bạo; biết bao người, kể cả phụ nữ và trẻ con, đã ngã xuống vì súng đạn của «công an nhân dân» «hết lòng vì đảng»; biết bao người «dân oan» và những người bênh vực cho «dân oan» đã và đang phải ngồi rục xác trong tù!
Không thể để tình trạng này kéo dài mãi được nữa!  Các chiến sĩ, các tổ chức, các đảng phái đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền trong và ngoài nước cần phải đặt ngay việc đòi ĐCSVN trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho người dân, trước nhất là nông dân, vào chương trình hành động của mình, coi đó là một trong những mục tiêu đấu tranh căn bản cần toàn tâm toàn ý nhắm tới. Thiết nghĩ, việc đòi sửa lại Luật đất đai là cần thiết, nhưng cái căn bản nhất, trước mắt nhất vẫn là phải đòi xóa bỏ điều 17 trong Hiến pháp năm 1992, và Hiến pháp phải khẳng định quyền tư hữu ruộng đất của người dân là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Việc đòi xóa bỏ điều 17 cũng như điều 4 trong Hiến pháp năm 1992 phải là nội dung chủ yếu trong cuộc đấu tranh của mọi người trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này. Nhưng xét cho cùng, chừng nào còn ĐCSVN thì e rằng việc xóa bỏ hai điều vừa nói đó sẽ rất khó thực hiện được, cho nên phong trào dân chủ nước ta sẽ không dừng lại ở chỗ đấu tranh đòi sửa đổi Hiến pháp, mà phải nhắm tới cái đích xa hơn là đấu tranh đòi thay đổi hệ thống chính trị, kiến lập chế độ dân chủ đa đảng với ba quyền phân lập rõ rệt.
Nếu ĐCS không đủ thông minh để trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho người dân thì rồi đây sẽ còn có hàng chục, hàng trăm Đoàn Văn Vươn khác nữa, sẽ có nhiều cuộc bùng nổ to lớn hơn nữa, và nếu không khéo thì nỗi uất hận của người dân bị kìm nén lâu ngày sẽ bùng lên thành ngọn lửa vĩ đại thiêu rụi cái chế độ toàn trị của ĐCS. Lúc đó, ngay cả những binh lính, sĩ quan của quân đội và công an - vốn xuất thân từ nông dân, từ nhân dân – chắc chắn sẽ không còn là «thanh gươm và lá chắn» cho ĐCS nữa mà số đông sẽ đứng lên bảo vệ người dân và quay súng lại chống ĐCS./.
Moskva 24.04.2012
Nguyễn Minh Cần


Xin gửi lại bài VẤN ĐỀ NÔNG DÂN... vì có bổ sung vài câu
Rất mong các bạn dùng bản này
Câu thêm như sau

Nhưng xét cho cùng, chừng nào còn ĐCSVN thì e rằng việc xóa bỏ hai điều vừa nói đó sẽ rất khó thực hiện được, cho nên phong trào dân chủ nước ta sẽ không dừng lại ở chỗ đấu tranh đòi sửa đổi Hiến pháp, mà phải nhắm tới cái đích xa hơn là đấu tranh đòi thay đổi hệ thống chính trị, kiến lập chế độ dân chủ đa đảng với ba quyền phân lập rõ rệt.
------------
LOẠN RỒI!


            Sáng hôm nay, 24/4, tỉnh dậy tôi vào xem tin trên mạng và đập mắt nhất, làm cho tôi tỉnh hẳn là tấm hình trên BBC Vietnamese lấy từ xuandienhannomblog: Tấm hình cho thấy bộ-đội dàn quân ở xa trong ánh sương mờ buổi sáng, chuẩn-bị cho chuyện cưỡng-chế lấy 72 héc-ta đất của dân ba xã Xuân Quang, Phụng Công và Cửu Cao thuộc huyện Văn-giang, Hưng-yên, để cho Công-ty Việt Hưng (Vihajico) chuyển thành Ecopark, một dự-án xây nhà sang trong một khu đặc-quyền dành cho tư-bản đỏ.
            Theo một nhân-chứng, ông Kiên, nói với BBC thì: "Sáng nay 4h30 sáng nó đưa công an đến nó giải vây trước.  Nó đi dàn hàng ngang, dồn bà con vào đánh đập. Nó ném lựu đạn pháo, xong rồi nó dồn về cánh đồng [xã] Xuân Quang, rồi nó đưa gần 100 cái máy ủi xuống nó càn quét, phá phách vườn cây cối của dân."
            Vẫn theo BBC, "Người dân Văn Giang tự trang bị gậy gộc trong vụ giữ đất [song] bất thành."
            Hãng tin Reuters thì dẫn lời một người tên Tuyên nói: "Nếu họ muốn lấy đất, chúng tôi đề nghị các nhà đầu tư đến nói chuyện trực tiếp với chúng tôi nhưng họ không làm vậy."
            Còn theo AFP, số người dân "bám trụ" để bảo vệ đất trong vụ chống cưỡng chế "lên tới 700 người."
            Tin tức về sự phản-đối của dân làng và vụ cưỡng-chế chưa xuất hiện trên truyền-thông trong nước nhưng một vài bloggers đã về tận nơi để đưa tin.  Video từ các trang mạng xã-hội cho thấy người dân xuất hiện với số đông, nhiều người đầu đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu-trang.  Một số người mang theo gậy gộc.
            Hình ảnh từ video cũng cho thấy cảnh-sát chống bạo-động với những lá chắn lớn tiến vào khu đất vào sáng 24/4.  Có những lúc họ phải lùi lại khi bị dân làng ném đá, thậm chí cả chai xăng.  Nhưng số đông công-an và những người mặc thường-phục cuối cùng đã áp đảo hàng trăm dân làng.
            Vẫn theo ông Kiên, "Chúng tôi ném chai xăng vào họ nhưng không ăn thua gì vì họ có lá chắn.  Họ dùng dùi cui đánh chúng tôi.  Kể cả khi chúng tôi chạy về làng họ vẫn đuổi theo và đánh tiếp.  Họ đã chiếm đất và dùng xe ủi phá hủy mùa màng.  Chúng tôi đã thua.  Tôi không biết sẽ làm gì tiếp."
            Ông Kiên cũng nói cảnh-sát đã ném lựu đạn gây choáng vào dân làng và bắt đi 10 người.  Ngoài ra, còn có tin là bà con ở một hai tỉnh, huyện lân-cận như Bắc-ninh và Dương-nội cũng tìm cách kéo sang để ủng-hộ người dân ở Văn-giang chống lại bạo-quyền đang "cướp đất" của dân.

Những liên-tưởng đến Nazi và thời Xô-viết

            Chúng ta không có những hình ảnh xa xưa để biết khi Pháp sang xâm-chiếm VN và cưỡng-chiếm đất của dân ta làm nông-trại hay vườn cao-su, họ có phải điều động đến những lực-lượng công-an, bộ-đội đông đảo đến như dưới thời "CSVN dân-chủ hơn vạn triệu lần các nước dân-chủ Tây-phương" không.
            Có điều người Việt chúng ta ngày nay có ít nhất ba triệu đôi mắt mở to trên khắp thế-giới và tôi ngờ là không ở đâu, trong các nước Tây-phương (hay chỉ cần văn-minh như Nhật-bản hay Đại-Hàn thôi), ta lại được chứng-kiến những việc làm thô bạo như ở Văn-giang ngày hôm nay.
            Để có những hình ảnh tương-tự, ta chắc phải trở về những năm 1930-40 ở Đức Quốc-xã hay các nước bị Hitler xâm-chiếm hoặc khi quân-đội Nhật đánh chiếm Nam-kinh (1937) mới có thể có được những hình ảnh kinh-hoàng đến như thế.  Và cũng như người Do-thái ở Tây-Âu ngày đó hay người Miên dưới thời Pol Pot, người dân Việt ngày hôm nay cũng bất lực không kém, họ không thể ngờ được rằng đây là những công-an, bộ-đội "đồng-bào" của họ mà giờ đây sẵn sàng đang tâm giết chết "đồng-bào" của mình để phục vụ cho những lợi-ích bẩn thỉu của tư-bản đỏ cấu-kết với tư-bản nước ngoài (trường-hợp này là tư-bản Ăng-lê có cổ-phần trong công-ty Vihajico).
            Có lẽ vì thế mà ta còn thấy rơi rớt một chút lương-tâm trong ngay những toán quân đi làm việc cưỡng-chế.  Theo Blog [Nguyễn] Xuân Diện, một số nhân viên an ninh trẻ đã khóc khi bị cụ bà Lê Hiền Đức "mắng" họ là "đem súng ống bắn vào dân" và đi "cướp đất của cha mẹ... cho bọn quan chức tham nhũng."

Sắp đến ngày tàn của chế-độ?

            Những vụ như Văn-giang hay Tiên-lãng (tức vụ Đoàn Văn Vươn, tuy ở một quy-mô nhỏ hơn) chứng tỏ:
            Người dân có thể bị ức-hiếp nhưng họ hết sợ rồi.  Vì sao?  Vì họ biết là lẽ phải ở về phía họ.  Rằng không chế-độ nào có thể tồn-tại được khi nó phải dựa vào bạo-lực (triền miên, trải khắp) để "cướp" của dân.
            Vấn-đề quyền tư-hữu ruộng đất là vấn-đề sống còn của ít nhất 70-80% dân-số Việt-nam, như "Tuyên bố" mới nhất của Khối 8406 (ra ngày 20/4/2012) đã khẳng-định và cũng như một tác-phẩm nổi tiếng mới đây của cựu Thẩm-phán Nguyễn Cao Quyền ở ngoài này chứng minh.
            Đã đến lúc người dân, 90 triệu dân Việt-nam từ Nam chí Bắc và nhất là ở hải-ngoại, phải trưởng-thành và không còn mù quáng để cho một "chính-quyền" bất lực và phản quốc dẫn dắt đi mãi như một đàn bò vào ngõ bế-tắc, lệ-thuộc ngoại-bang (Trung-Cộng).
            Đã đến lúc 90 triệu dân VN, như Luật-sư Lê Quốc Quân viết mới đây trên BBC, phải có nhân-phẩm và hưởng những quyền tự do căn-bản của con người như được Liên-hiệp-quốc và quốc-tế công-nhận, đặc-biệt khi những quyền này đã được minh-thị định nghĩa và Hà-nội bắt buộc phải tôn trọng (như trong Tuyên-ngôn Quốc-tế Nhân-quyền 1948 và hai Công-ước Quốc-tế về các Quyền Dân-sự và Chính-trị cũng như về các Quyền Kinh tế, Xã-hội và Văn-hoá mà Hà-nội đã ký kết từ tháng 9/1982).
            Nói cách khác, ta không cần phải đi đâu xa để mà nhìn ra ngày tàn của chế-độ ở trong nước trong lúc này.  Ta chỉ cần trích dẫn ngay những người chóp bu trong chế-độ tàn mạt đó như:
            Nguyễn Minh Triết, chủ-tịch nước, mới ngày nào đã phải thổ-lộ ở Tokyo: "Bỏ Điều 4 Hiến-pháp [cho đảng CS độc-quyền lãnh-đạo đất nước] là tự-sát."
            Nguyễn Phú Trọng, tổng-bí-thư đảng CSVN, tuy thường được gọi là "Trọng Lú" cũng đã phải tỉnh táo mà nói với Tổng-cục 2 (tức Tổng-cục Tình-báo của Bộ Quốc-phòng Hà-nội) mới hôm 23/4: Tình-hình trong nước và thế-giới hiện đang có những "diễn-biến khó lường" cũng như đang có các nguy-cơ "diễn-biến hoà-bình," "tấn-công mềm," "tự-chuyển-hoá" và thúc đẩy "tự-diễn-biến" của "các thế-lực thù địch."  Thậm chí, ông còn nói Tổng-cục 2 cần phải quản-lý chặt chẽ cán-bộ trong chính Tổng-cục để tránh xảy ra tình-trạng "người trong đội-ngũ mình phản lại mình."
            Nếu đó là những nguy-cơ mà Tổng Trọng trông ra ngay trong nội-bộ Đảng, nội-bộ Quân-đội và ngay cả nội-bộ của cái Tổng-cục "con cưng" của chế-độ thì ta đâu cần đến "thế-lực thù địch" nào.  Kẻ thù ngồi ngay sau lưng ngựa đó thôi!  Nó có thể đâm sau lưng "ta" một nhát bất cứ lúc nào đó, đồng-chí Trọng ạ!

Tâm Việt

Bài Xem Nhiều