We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 29 April 2012

Dưới Dấu Ấn Ngày 30 Tháng Tư 1975 — Under the Mark of April 30, 1975




VTT 81 DEC 15 MANDA PICTURE 25jpgChỉ vài ngày sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, hai người chú ruột miền Bắc mà tôi chưa hề biết mặt đến nhà tôi ở Sài Gòn.

Người chú ruột thứ nhất, người đến trước, là con trai út của bà nội tôi. Ông là một người làm ruộng trong một hợp tác xã. Cao trên trung bình, hơi khòm, gầy gò và xương xẩu với một nụ cười hơi nhăn nhó và có phần khó hiểu nhưng thường trực trên môi, chú tôi ngủ đêm đầu tiên ở miền Nam trong phòng tôi, trên sân thượng của một phố lầu. Đêm đó, ông đi ngủ sớm và nói với tôi là ông sẽ thức dậy khi trời chỉ hơi tờ mờ sáng. Nhưng tôi đã dậy sớm hơn ông. Khi ông mở mắt thức dậy và ngồi bật lên, tôi đã ngồi trên một ghế nhỏ ở đầu gường với một khay đồ ăn sáng: một ly cà phê phin sữa nóng, một khúc bánh mì nóng mới nướng, dao và nỉa, và hai quả trứng chiên ốp la với tiêu muối trong một đĩa nhỏ. Có lẽ mùi thơm của ly cà phê phin đang còn bốc hơi nóng đã đánh thức ông dậy sớm hơn ông dự tính. Tôi đã ngồi đó nhìn ông ăn sáng. Ông nhấp nha ly cà phê, ăn bánh mì quẹt trứng tiêu muối.  Tôi thấy đôi mắt ông hình như đẫm uớt, và ông đã nói nhỏ, như sợ ai khác nghe “Đây, chính là thiên đường…”.

Khi ăn sáng xong, ông kề môi vào tai tôi, và cũng nói thật nhỏ như sợ người khác nghe được: “Sao chúng mày còn ở đây…” rồi ông đứng dậy và đi xuống lầu. Ông ở với chúng tôi một tuần, kể chúng tôi nghe chuyện ông bị nhốt trong chuồng heo và bị xích chân gần hai năm trời vì tội làm địa chủ sau năm 1954, nhưng ông không nói gì nhiều hơn hay ca ngợi ai hay chê bai ai. Ông chỉ xin các cháu đưa ông đi thăm chổ này chổ nọ, rồi sau khoảng một tuần ông từ biệt để về lại miền Bắc. Ông không xin ai bất cứ gì, có gì ăn đó, ăn cái gì cũng khen ngon quá, và cả nhà đã rơi lệ thương ông khi tiển ông ra cổng nhà để lên đường về Bắc. Sau khi ông đi, Mẹ tôi nói nhỏ riêng với các con: “Chú sẽ đi bộ về Bắc theo đường mòn Hồ Chí Minh, để hỏi tìm xác hai con chú đã chết trên đường vô Nam…”

Người chú ruột thứ nhì, anh của người chú ruột thứ nhất, đến nhà tôi hai ngày sau. Tuy ông không hề nói ông làm gì, nhưng hình ông như có chức vụ cao tại miền Bắc, vì ông đến nhà tôi bằng xe hơi có tài xế lái, với ba hay bốn bộ đội bảo vệ. Những người này mang nón cối và quân phục xanh, người thì có súng AK-47 trên tay, người thì bên hông đeo súng ngắn. Đứng giữa phòng khách trong quần dài màu sậm và áo sơ mi ngắn tay trắng, ông chú tôi trông béo tốt, bệ vệ, và bề thế. Ông ôm choàng lấy bố tôi thật lâu và ông đã đột nhiên bật khóc thành tiếng, như để bù lại cho những thập niên dài anh em xa cách. Nhưng ông tự chế ngay, quay người lại và nghiêm nghị ra lệnh cho chúng tôi đang đứng chờ quanh ông: “Các cháu đây, ai là ai, tên gì, học gì, làm gì, ở đâu, nói cho chú nghe”. Thế thôi. Rồi ông ngồi vào ghế bành và trò chuyện riêng với bố tôi cho đến trưa.

Trước khi từ giả, ông kêu tôi ra, và chỉ thị: “Mày đi ráp khẩn trương cho chú một chiếc xe đạp tốt, hai ngày sau chú tới lấy.” Tôi và một cậu em ra một tiệm xe đạp đường Lê Thánh Tôn gần chợ Bến Thành, đặt ráp một chiếc xe đạp, và dặn chủ tiệm nhớ xài đồ bền nhất và tốt nhất, tiền không quan trọng, cứ làm rồi tính.  Đúng hai ngày sau chú tôi đến. Ông nâng, ông nắm, ông ngắm chiếc xe đạp mới ráp, ông xem xét từng bộ phận, rồi ông ra lệnh thay nhiều bộ phận trong xe. Tôi còn nhớ trong đó có cái sườn xe, vì không phải là “dura” chính hiệu, cái dĩa, vì không phải là đồ Pháp, và hai cái vỏ xe và bốn cục cao su bàn thắng, vì chúng là đồ của bọn Đài Loan cực kỳ phản động chứ không phải là đồ của Pháp hay của Ý. Chỉ trong một ngày, tôi và cậu em đã đi “tân trang” xong chiếc xe đạp mới toanh nhưng bị chê te tua đó theo đúng các chỉ thị của chú tôi. Chiếc xe đạp “mới-mới” được để một góc trong phòng khách chờ chú tôi đến lấy. Một buổi chiều vài hôm sau, khi tôi về lại nhà sau một chuyến la cà đường phố, tôi thấy chiếc xe đạp đã biến mất. Tôi hỏi thì Mẹ nói chú mày đâu có đến lấy, chú chỉ cho bảo vệ lái xe đến chở đi…

***

Bây giờ là những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 2012, ba mươi bảy năm sau ngày 30 tháng Tư 1975. Hai ông chú của tôi đã ra người thiên cổ từ lâu. Nhưng những gì tôi đã nghe và học được từ hai người đó trong những ngày tháng năm đã qua hình như vẫn còn có khả năng ám ảnh, định hướng, và thay đổi cái nhìn của tôi về mọi việc.

Từ người chú quan lớn miền Bắc của tôi, tôi đã hiểu được từ trong ruột gan thế nào là quyền lực, thế nào là sự tham lam đến mức vô sỉ của những kẽ ăn trên ngồi trước mà không hề biết mình tham lam, và nhất là, khả năng tiêu diệt tính người tuyệt đối của quyền lực tuyệt đối. Bất chấp những gì đang thấy được ngay trước mắt, tôi đã nhận thức được và tin chắc là thế gian này chưa hề và sẽ không bao giờ thuộc về những kẽ đang có quyền lực tuyệt đối, và những gì họ đã chiếm đoạt qua quyền lực và bạo lực rốt ráo sẽ chỉ là ảo tưởng. Đó là vì họ thực sự chưa hề sống được – dù chỉ là một phút giây – trong con tim con người, cho dù những người đó là gia đình con cháu họ.

Trực diện với những người như ông chú quan lớn của tôi, con người ở mọi nơi trên địa cầu này chỉ có thể có một lực chọn: chống lại họ cho đến cùng, tìm mọi cách vạch trần những toan tính độc ác phi nhân của họ đang ẩn núp đằng sau những ngôn từ hoa mỹ và những bánh vẽ ngàn đời cũng không với tới được về độc lập, tự do, và hạnh phúc; và chiến đấu cho đến khi nào khả năng áp đặt những chế độ áp bức toàn trị của họ bị vô hiệu hoá, triệt tiêu, và mãi mãi xoá tên trên thế gian này. Để cho mọi người, ở mọi nơi, có thể sống tự do, có thể phát triển được mọi tài năng, và có thể thực hiện được các ước mơ của mình trong một xã hội công bằng và, như một vĩ nhân của nhân loại đã từng nói, một xả hội [chỉ] của người dân, [chỉ] vì người dân, và [chỉ] do người dân.[1]

Từ người chú làm ruộng miền Bắc của tôi, tôi đã hiểu thế nào là đạo lý làm người khi tất cả những gì quý giá nhất trên cõi đời này – dù là danh dự, dù là tự do, dù là gia đình, hay sinh mạng, hay tài sản – đều có thể bị tước đoạt bởi những thế lực tuyệt đối và bất khả kháng ở bên ngoài. Đạo làm người của chú tôi hình như rất đơn giản: hãy mở rộng mắt, thấy tất cả, nhớ tất cả, gắng sống để làm người chứng, chấp nhận và kín đáo tỏ lòng biết ơn và trả ơn tất cả những ai thương giúp mình, và nhất là, lắng nghe và làm theo con tim. Có những đêm đông thật dài, thật dày tuyết, và thật lạnh trên xứ lạ, tôi nhớ đến chú tôi, và tôi mường tượng đến hình ảnh một con người gầy còm chống gậy bươn bải đi ngược dòng tìm xác con trên đường mòn Hồ Chí Minh. Và tôi đã thấy trong hình ảnh đó thấp thoáng bóng dáng bi tráng của một người đã tìm được tự do và đã an tâm, vì đó là một người đã lên đường theo lời gọi của con tim — con tim một người cha mãi mãi thuơng nhớ con.

Tôi quý trọng dù bị ám ảnh bởi hình ảnh đó của người chú nông dân của tôi. Nhưng trong đầu tôi, tôi vẫn đã thấy từ lâu có một điều gì bất ổn, có một điều gì rất bức xức, có một điều gì rất xót xa trong hình ảnh đó.

Nhiều đêm, tôi đã tự hỏi, nếu trong một nước có truyền thống 80% người dân sống về nghề nông, nếu tất cả những người làm ruộng thấp cổ bé miệng như chú tôi đều chỉ muốn sống như chú tôi – dù rằng sống được như chú tôi tự nó không phải là một điều dể dàng gì – thì đất nước Việt sẽ ra sao nếu không phải là một nước cam phận hiện hữu như một cái xác không hồn trong đêm dài chế độ toàn trị ỡ trong và nô lệ ngoại bang ỡ ngoài?

Lịch sử đã cho tôi câu trả lời.

Nước Việt của tôi, và hàng chục hàng trăm nước khác, đã từng vượt thoát khỏi những đêm dài đó, đã từng có những thời đại tươi sáng, độc lập, tự do, tự chủ, vì đã có người nông dân áo vải, những người con mất cha, những người mẹ mất chồng mất con qua những oan khiên ngút trời, những kẻ cùng khổ nhất, đã dám nghe và đã dám đi theo cho đến tận cùng một lời mời gọi khác của con tim họ: hãy không biết sợ, hãy vùng lên dành lấy lại quyền sống cho người, cho mình; dành lấy lại quyền đuợc làm người tự do; và dành lấy lại quê hương. Như những giòng sông lớn tức nước vỡ bờ, những người đó đã quét sạch ngoại bang ra ngoài biên giới quê hương, trừng trị bọn chuyên chế toàn trị mại quốc cầu vinh, và kỳ diệu nhất, biến tuyệt vọng thành hy vọng.

Vào những ngày cuối của tháng tư năm 2012, hình như đất nước Việt đang chuyển mình sôi sục vì đã và đang có những người nông dân, nhũng nguời cùng khổ mất nhà mất đất mất mẹ mất cha đang cùng lên đường đi theo một lời mời gọi mới từ trái tim của họ. Và tôi tin rằng, lần này, họ sẽ có khả năng đi đến hết con đường mà con tim họ đã chọn. Chỉ cần một con tim…

Chỉ cần một con tim chân chính, là thế gian có thể đổi thay. Ý niệm chỉ đạo đó, và những lời mời gọi, những ký ức, những ám ảnh, những ước mơ, và những nhận thức quanh đó, chính là dấu ấn ngày 30 Tháng Tư 1975 của tôi, mỗi lúc mỗi rõ rệt.

Chấn Minh
28 Tháng Tư 2012

www.vietthuc.org
----------
[1] “We here highly resolve that these dead shall not have died in vain, that this nation, under God, shall have a new birth of freedom; and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth.” President Abraham Lincoln (1809-1865).  The closing words of his Gettysburg Address, delivered on November 19, 1863].



Under the Mark of April 30, 1975


A few days after April 30, 1975, two uncles of mine from the North and both of whom I have never met came to our house in Saigon.

The uncle who came first was the youngest son my paternal grandmother. He worked as field laborer in a farm cooperative. Taller than average, a little bent, skinny and rather bony, with a slightly pained smile that oddly appeared to be permanently fixed on his face, my uncle spent his first night in the South in my room on the rooftop of the family townhouse. He went to bed early that night after telling me he will be up at the crack of dawn. I woke up before him. When he opened his eyes and sat up in his bed, I was already sitting on a little stool at the head of his bed with a breakfast tray. The tray held a cup of hot coffee still dripping down a cup-size filter, half a loaf of still warm bread, and a dinner plate containing two sunny side up fried eggs pre-sprinkled with salt and pepper. Perhaps the smell of fresh drip coffee did wake him up earlier than he planned to.

In any case, I sat there and watched him eat breakfast. As his sipped the coffee, and ate the French bread dipped in egg yolk, he leaned over to me and spoke softly, as if fearing that someone would overheard what he said: “This, this is heaven…” And when he was done eating, his placed his mouth real close to my ear and whispered softy, again, as if fearing that someone would hear what he said: “And why on Earth are you guys still here…?” And then he was up, and downstairs he went.

Uncle stayed with us about a week. He told us about the two years he spent chained inside a pen full of live pigs for the crime of being a landowner in 1954, but he didn’t have a lot to say, and he didn’t praise or condemn anyone. All he asked was for one of us to take him to this place and that place. And then, after about a week, he bid us good bye to go back to the North. He asked nothing from nobody, he ate whatever was placed on the dinner table, he marveled at oh how so good each and every dish was, and the entire family broke in tears silently when we saw him to the door for his trip back North. After he left, Mother told us the children privately that “Uncle will walk back North on the Ho Chi Minh Trail, hoping to find the bodies of his two sons who died there while making their way to the South…”

My second uncle, the older brother of the first uncle who came, arrived at our door two days later. He never told us what he did, but he seemed to be a very high ranking official. He came to our house in a chauffeured command car with three or four bodyguards. These bodyguards wore the green military uniform and the pith helmets. Some have AK-47 while others have holstered side pistols. Standing in the middle of the living room, in dark pants and a white short sleeve shirt, my uncle looked very well fed, imposing, and awe inspiring. He grasped my father in his arms and gave him a very long bear hug, as if to make up for the decades when the brothers did not get to see each other and suddenly he let out a short, audible, and tearful sob. But he controlled himself very quickly, and turning toward us, the children who were already assembled around him, he intoned in a most authoritative and serious manner: “ Tell me who is who, your names, your field of study, your job, and where do you work”. Just like that. And then he sat down on a big chair, and chatted alone with Father until noon.

Just before he left, he called me out and gave an order: “Get me a good bicycle, and do it quickly. I will come back in two days to pick it up.” And so I went with another brother to a bicycle shop on Le Thanh Ton street, near the Ben Thanh Market, and ordered a custom bicycle. I told the bicycle shop owner to select the most robust and the longest lasting components and that money is no object – just do it and we will pay.

My second uncle did come back precisely two days later. He lifted the newly assembled bicycle, squeezed the tires, inspected expertly every component, and then issued his solemn orders for part replacements. The frame must be exchanged, because it wasn’t true “dura”, whatever it was. The disk was not of the highest quality because it wasn’t made in France, so it too had to be replaced. And the tires and the rubber brake pads of course they all have to go, for they were made in the extremely reactionary country of Taiwan rather than in France, or even Italy for that matter. My brother and I got the parts replaced as specified in a day. We leaned the “new” new bicycle against the wall in a corner of the living room where it waited for my uncle to come and pick it up. One afternoon after I returned from a trip into the city, I saw that the bicycle had disappeared. I asked Mother and she said: “No, your uncle did not come to pick it up; his bodyguards did, and they took it away in their command car…”

***

We are now in the last days of April 2012, thirty seven years after April 30, 1975. My two uncles passed away a long time ago. But what I heard and learned from them through the days and months and years past still haunt me, still provide me a sense of direction in life, and still change the way I think about nothing and everything.

From my uncle the big official from the North, I gained a visceral understand of what absolute power is about, what is greed that is so unbounded that the greedy – a person accustomed to be always the one sitting at the head of the table and the first to be served – doesn’t even realized that his greed has long ago crossed any limits decreed by common decency, and above all, the absolute ability of absolute power to erase all traces of humanity from the men who hold it. And, from my interactions with him and regardless of what I might see right in front of me, I realized and firmly believed that this world never belonged, and will never belong to those who hold absolute power, and that whatever they thought they have taken through power and violence ultimately will turn out to be mere illusions. This is because they have never lived, even for a second, in the heart of the people around them, be these people their children or relatives.

Face to face with people such as my uncle the big official, I believe that we the people of this Earth have only one choice: to resist them to the bitter end; to do everything we can to expose their cruel and inhumane calculations; to let everyone see the shameless lies hiding behind flowery words that promised independence, freedom, and happiness; and to fight on until their ability to establish their totalitarian regimes has been utterly neutralized,  destroyed, and erased forever from the face of this Earth. So that each and every people from anywhere may live free, free to develop their abilities, free to pursue their dreams of happiness within a just society, a society that is of the people, by the people, and for the people, as a great man had said long ago.

From my uncle the field laborer, I have learned the way to live when everything that is sacred and dear to you – be it your honor, your freedom, your family, your life, or your belongings – one day may all be taken away from you by some irresistible and absolute external powers. That way, my uncle’s way, is very simple: keep your eyes open, see everything, forget nothing, stay alive to bear witness, quietly accept and just as quietly thank and try to repay all those who are kind to you, and above all, listen to your heart and just follow it to wherever it wants to go.

During some of those very hard winter nights in a strange country, when the snow on the ground was thick and the cold, unbearable, I often remembered and thought and sometimes dreamed about my uncle. In my mind’s eye, I saw an image of him as a bent old man leaning on a walking stick and making his way hurriedly against the flow, going up the Ho Chi Minh Trail searching for the bodies of his sons. At times, I also saw superimposed on this image of him, just like a dancing shadow, a second image: my uncle as a tragically heroic free man, a man at peace with himself, precisely because he was a man who simply followed his heart, the heart of a father who forever loved and longed for his lost sons.

I cherished these two images even when at times they obsessed and tortured me. Yet, in mind, I felt for a very long time that there was something unsettling, something restless, and something painful in the images I had of my uncle.

Many nights I stayed awake and asked myself this question. If every lowly and voiceless peasant – like my uncle – in a country where peasants make up 80% of the population decides to live just like him – notwithstanding that to do so isn’t that easy – then what would happen to that country, which is my country, Vietnam? Would Vietnam become a soul-less corpse doomed to merely exist and float though the long and dark nights of history as a country under a totalitarian regime internally, and as a mere nation-slave to a foreign country externally?

In history I found the answer.

Vietnam, my country, and countless other countries, have successfully escaped from these long and dark nights of history, and have thrived through shiny periods of great independence, freedom, and self-determination. All these countries could do so because they all have peasants in simple cotton cloth, children who lost their parents, mothers who lost their husbands and children through unbearable injustice, and people from the lowest rungs of society who were subjected daily to the most demeaning indignities at the hands of the security forces, all of them humble people who in one magical day decided to listen to a different call from their heart.

And this is the call they heard: do not be afraid, rise up and reclaim your right to life, liberty and the pursuit of happiness for your loved ones and yourselves, rise up and reclaim the country as your own. Like immense and surging rivers breaking out of their banks, these people swept away the foreigners who lorded on them back to where they came from, punished the totalitarians that sold their country for personal gains, and most magically, turned despair into hope.

In the last days of April 2012, it seems that something is stirring in Vietnam, my country. Somewhere up North, many peasants who lost their lands and their houses in massive and illegal land grabs, many people who lost their fathers and their mothers and their children through random acts of incredible and senseless violence by the security forces, have taken to the fields or the streets. It is as if they are on the move and acting in response to a new and different call from their heart. And I believe that, this time around, they might just be able to go all the way to the end of the long road their hearts have chosen for them. All you need is a heart…

All you need is a heart, and the world shall be remade. It is this guiding principle, and the calls to arms, and the memories, and the obsessions, and the dreams, and the insights that came with it, that are parts and parcels of the mark that April 30, 1975 has left on me.

Chấn Minh
April 28, 2012

www.vietthuc.org

Việt Nam, 37 năm sau ngày thống nhất đất nước

Gia Minh, biên tập viên RFA - 2012-04-27




Nhiều người dân Việt Nam từng trải qua hai cuộc chiến ‘chống Pháp và chống Mỹ’. Thực dân, đế quốc từng bị cho là kẻ thù tại Việt Nam. Tuy nhiên nay chính những người từng trải qua hai cuộc chiến đó cho rằng nhà cầm quyền hiện nay còn ‘ác hơn cả đế quốc Mỹ’.
Chính quyền sau 75
Cuộc chiến đưa đến chấm dứt tình trạng chia đôi đất nước gần nhất tại Việt Nam chấm dứt cách đây đã 37 năm. Có nhiều ý kiến cho rằng đất nước thay da đổi thịt rất nhiều, và vết thương chiến tranh đã lành lặn. Tuy vậy, có nhiều người vẫn khẳng định vết thương đó vẫn còn rỉ máu và khi vết thương cũ chưa lành lại có những vết cắt mới trên da thịt người dân.Suốt những năm tháng chiến tranh, người ta phải đi sơ tán để tránh bom đạn. Khi chấm dứt tiếng súng, họ trở về quê nhà để tạo lập cuộc sống.
Thế rồi những dự án phát triển được vạch ra. Nhiều người nằm trong vùng qui hoạch phải di dời đi nơi khác. Khi tiến hành hoạt động này, biết bao vụ việc do chính quyền các cấp địa phương gây ra khiến dân chúng ta thán.Hành xử trong khi cưỡng chế thu hồi đất đối với nhiều người dân là một hành động mà họ cho là ‘dã man’ hơn cả thời ‘đế quốc Mỹ’ trước đây.
Một người dân bị mất đất thuật lại câu nói của những đồng bào cùng chung cảnh ngộ:
"Năm 2009, 80 hộ chúng tôi được chủ tịch thành phố, ông Trần Thế Dũng, tiếp. Tôi có ghi băng. Có những người là thương binh đi bộ đội chống Mỹ về phát biểu: lúc phá nhà dã man hơn đế quốc Mỹ, ác hơn đế quốc Mỹ; họ nói đi nói lại ba lần."
Những người phải thốt lên so sánh đó hầu hết là những người từng sinh sống tại những vùng chiến tranh ác liệt trước đây. Hằng ngày họ phải chạy lánh nạn bom đạn do máy bay Mỹ ném xuống. Và chính họ thấy đó là một tội ác khi truy đuổi những người dân như họ.
Trước những hành động xâm lăng đó của người nước ngoài, gia đình nhiều người dân cho con cái tham gia quân đội để đi chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược. Có người mất chồng, mất con trong chiến tranh và trở thành gia đình liệt sỹ được tổ quốc ghi công.
Có thể nói trong chiến tranh, khi đất nước bị cho là lâm nguy bởi ngoại xâm, người dân sẵn sàng hy sinh tất cả, đến giọt máu, hơi thở cuối cùng không hề bận tâm suy nghĩ.
Tuy nhiên, khi tài sản, đất đai mà họ sinh sống từ bao đời nay bị xung công một cách thiếu thuyết phục. Tiền bồi thường bị cắt xén, hay thậm chí bị ‘cướp trắng’; thì họ phản ứng.
Nhưng chính quyền đã không nghe tiếng nói của người dân mà đưa lực lượng cưỡng chế đến phá dỡ nhà cửa, ruộng vườn trước sự chứng kiến vô vọng của họ nên họ không thể ‘hy sinh’ trong im lặng như thời chiến tranh.

Khiếu kiện trong vô vọng 
Căn nhà của ông Đoàn Văn Vươn huyện Tiên Lãng sau vụ cưỡng chế hôm 05/1/2012
Họ đã phản ứng, đã khiếu kiện từ năm này qua năm khác với hy vọng công lý sẽ được thực thi nhưng rồi họ vẫn mỏi mòn.
Đó là tâm trạng của bà Võ thị Nhiều, gia đình liệt sỹ:
"Tôi có hai con trai đi làm nhiệm vụ Đảng giao, ở với Đảng. Tôi có tội lỗi gì mà đập nhà cửa, tài sản của tôi mà không lập văn bản. Họ còn nhét giẻ vào miệng tôi. Tôi yêu cầu Đảng về sửa lô đất hương hỏa của tôi, làm rõ mọi đường chứ tôi đau khổ lắm."
Hay bức xúc của vợ một thương binh chống Pháp:
"Bây giờ cán bộ của tỉnh đều ‘dã man’, ‘tàn bạo’ lắm, kể cả phường, xóm, kể cả Đảng, kể cả Thanh tra tiếp dân, Hội đồng Nhân dân tỉnh. Họ ‘tàn bạo’ lắm, chẳng kể gì dân đâu. Họ chỉ kiếm lợi cho gia đình họ thôi, chứ gia đình mình họ không quan tâm đến. Theo ý tôi thì những thành phần đó Đảng, Chính phủ, Nhà Nước cần trừng trị đến nơi đến chốn, cho dân ‘ngước mặt lên với’."
Hầu như mọi thủ đoạn có thể sử dụng để buộc dân phải giao đất mà không được bồi thường thỏa đáng đều được sử dụng như câu chuyện của một người mẹ vì con đành phải nhận tiền bồi thường như sau:
"Họ đập phá nhà cửa tôi vào ngày 4/5/2004. Công an, bộ đội, dân quân đến đập 32 mét vuông mái bằng, ‘veranda’, một căn nhà hai gian rồi mọi dụng cụ tôi cho thuê bát đĩa đều bị đập mà không đền bù, cho đến nay. Năm 2011, con tôi học hết cấp 3, đi thi sư phạm, chính quyền không cho con tôi đi với lý do mẹ làm sai không nhận tiền hổ trợ, đền bù. Con tôi về khóc nói chỉ vì mấy triệu đồng mà mẹ không nhận làm ảnh hưởng đến tương lai lâu dài của con. Tôi chết chồng, có bốn đứa con nên tôi thương con nên lấy mấy triệu về hổ trợ chứ không phải bồi thường đất nhà."

Dồn dân vào đường cùng...

Người dân huyện Văn Giang khiếu kiện đất đai của họ
bị trưng thu bất hợp pháp nhưng không ai giải quyết

Người dân bức xúc tố cáo những thủ đoạn của các cấp chính quyền trong việc thu hồi đất đai của họ, vì nay họ thấy rõ những sai phạm và cách hành xử bất chấp luật pháp của chính quyền:
"Chúng tôi có làm gì mà công an, bộ đội, an ninh đến phá nhà chúng tôi. Quân đội để giữ nước, giữ nhà chứ sao đi phá hoại nhà dân. Chúng tôi đâu làm gì sai trái, đâu có cướp giật, tham ô của ai đâu. Chúng tôi đã đơn từ bao nhiêu năm nay, mà họ dồn chúng tôi vào bước đường cùng, chúng tôi biết làm thế nào?"
Trong chiến tranh sự sang giàu giữa những tầng lớp người dân không rõ nét; nhưng nay khi chấm dứt tiếng súng, bom đạn, các thành phố được xây dựng lại khang trang, các khu công nghiệp, nhà máy mọc lên, đường xá rộng rãi thẳng tắp, thì người ta lại thấy sự cách biệt giàu nghèo quá rõ.
Nhiều người trở nên giàu có nhờ vào những mảnh đất trước đây là ruộng nương, vườn tược hay thậm chí đất ‘chó ăn đá, gà ăn muối’, mà người muốn có thu nhập từ đất phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được cái ăn.
Người dân mất đất phải tha phương hay ngụ cư trên chính mảnh đất của bao đời cha ông cho đến họ sinh sống. Trước những bất công đó họ chỉ trông chờ vào công lý. Nhưng rồi luật pháp nằm trong tay kẻ mạnh, mà việc khiếu kiện dù có đúng và được trung ương có ý kiến đưa về địa phương giải quyết nhưng rồi như một trái banh, đá qua đá lại, lăn lên lăn xuống. Câu nói từ xưa của dân gian ‘con kiến mà kiện củ khoai’ lại đúng như thời xưa thuở trước.
Bất bình, uất ức, có lúc người dân đã từng hợp lòng đứng dậy như ở Thái Bình hồi năm 1997. Gần đây vào ngày 5 tháng giêng năm 2012, gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng, Hải Phòng phải nổ súng hoa cải và bình ga tự chế khi lực lượng cưỡng chế tiến vào khu nhà và đất đầm mà họ phải bao năm bỏ công khai khẩn.
Hôm ngày 24 tháng tư vừa qua, người dân tại ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên quyết giữ đất không giao cho chủ đầu tư làm khu đô thị sinh thái như được thông báo; nhưng rồi họ cũng bị lực lượng cưỡng chế ủi sạch ruộng vườn.
Thanh tra chính phủ vào đầu tháng tư vừa qua phải lên tiếng thừa nhận là số lượt người và đoàn người khiếu kiện đông người đã tăng hẳn lên. Cụ thể lượt khiếu nại tăng 50% so với tháng 2 và số đoàn đông người tăng 30%. Thanh tra chính phủ thừa nhận có từ 20-25% vụ khiếu kiện là đúng.
Theo Thanh tra chính phủ việc khiếu kiện đã xảy ra từ nhiều năm qua, mà địa phương không giải quyết đến nơi đến chốn, đùn đẩy, né tránh. Tham nhũng đất đai là căn bệnh mãn tính, và lòng tham đó khiến nhiều quan chức trở thành ‘dã man’ với chính những đồng bào của họ.
Ngày càng có nhiều người quay lưng lại với nỗi khổ đau của những người dân mà họ nhân danh để tiến hành cách mạng. Sự dã man đó được chính người dân mô tả còn hơn cả ‘đế quốc Mỹ’ trước đây.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Theo dòng thời sự:

Bài Diễn Văn Trong Cuộc Biểu Tình Quốc Hận 30.4 (28.4.2012) tại London, UK.

Phong Trào Hải Ngoại Yểm Trợ Quốc Nội Vùng Dậy (UK)

Bài Diễn Văn Trong Cuộc Biểu Tình Quốc Hận 30.4 (28.4.2012) tại London, UK.


                                                        Kính thưa:   
Quý Cộng đồng, Hội đoàn và Tổ chức đấu tranh 
Quý Cơ quan truyền thông và trang mạng điện 
Quý thân hào nhân sĩ và đồng hương tỵ nạn cộng sả  tại Vương Quốc Anh.
Thưa quý vị,

Hôm nay, chúng ta tụ họp đến đây trước sứ quán CSVN Biểu Tình Quốc Hận lần thứ 37, để lên án nhà cầm quyền VC là một lũ VG phản quốc, buôn dân, bán nước Việt Nam cho giặc Tàu kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt.

Thật vậy, sau khi chấm dứt chiến tranh đất nước hoà bình nhưng dưới ách thống trị độc đảng, độc tài toàn trị của ác đảng mafia CSVN vừa không có khả năng lãnh đạo và vận hành xây dựng đất nước VN vừa tham nhũng thối nát, bóc lột lương dân qua những lãnh vực sau đây, nên đã và đang đưa đất nước đến bần cùng, nghèo đói và lạc hậu, đưa dân tộc đến thống hận, bi thương nhất thế kỷ nhân loại ngày nay.
Về lãnh vực chủ quyền đất nước: Bọn cầm quyền CSVN đã cúi đầu thần phục giặc Tàu dâng hiến lãnh thổ phía Bắc từ Ải Nam Quan đến Thác Bản Gốc và chín (9) tỉnh phía Bắc giáp giới Cao Bằng, Lạng Sơn với hàng ngàn cây số vuông. Lãnh hải Vịnh Bắc Bộ, một phần Vịnh Hạ Long, đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà dân chúng không được biết tới, do đó, ngư dân cứ đinh ninh là vùng biển của tổ tiên đánh bắt cá từ đời cha truyền con nối bị giặc Tàu bắn giết, mà nhà nước CS không dám nêu đích danh cứ gọi là “Tàu Lạ”, đến khi bọn giặc Tàu bắt giam ngư dân và trắng trợn đòi tiền chuộc người, nhà nước CS hết cách gọi “Tàu Lạ” nữa mà cũng không dám mạnh dạn lên tiếng phản đối bênh vực lương dân, lại còn cho dân vay tiền đi chuộc người, điển hình là 21 ngư dân Quãng Ngãi mới xảy ra gần đây. Trong khi bọn ngụy quyền CSVN cúi đầu dâng hiến lãnh thổ và lãnh hải của tiền nhân đã đổ bao xương máu gìn giữ cho giặc Tàu, song song đó thì đè đầu cỡi cổ bóc lột cướp đất các tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Ðài giáo, cướp ruộng đất lương dân từ Nam chí Bắc, hàng ngàn người dân sống trong cảnh màng trời, chiếu đất trở thành một khối dân oan vô gia cư hằng ngày kéo đến các cơ quan nhà cầm quyền CSVN để khiếu kiện. Nổi cộm nhất là vụ việc cướp đất Tiên Lãng và hiện nay đang xảy ra vụ cướp đất ở Văn Giang tại miền Bắc Việt Nam.     

Về lãnh vực kinh tế: Bọn cầm quyền CSVN điều hành một cách quái đản là “kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN”, mà người lú lẫn cũng biết XHCN là một tập quyền chuyên chính vô sản độc quyền chỉ đạo không đối kháng và cạnh tranh, vậy thì làm sao phát triển kinh tế theo khuôn mẫu thị trường được; bởi vì, có môi trường cạnh tranh thì thị trường công, thương, doanh nghiệp mới phát triển được. Thêm vào đó, tiền quốc tế viện trợ nhân đạo và cho vay nhẹ lãi để xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh, bị cán bộ có chức quyền chia nhau bỏ túi riêng. Do đó, cho đến nay 37 năm đất nước vẫn không khá hơn gì so với thời kỳ chiến tranh Nam Bắc do CS gây nên, dưới sự lãnh đạo của hai chính quyền đệ nhất và đệ nhị VNCH được thế giới mệnh danh là hòn ngọc viễn đông. Cho nên, 37 năm dưới chế đô CSVN dân chúng ngày càng lầm than, đói khổ mà cán bộ nhà nước CS thì ngày càng giàu sang nhà lầu xe hơi cho con du học Tây phương.
Những khẩu hiệu trong thời tiêu thổ kháng chiến CS kêu gọi đào tận gốc, trốc tận rễ Trí, Phú, Ðịa, Hào vì chúng cho rằng đây là thành phần cường hào, ác bá, bóc lột xương máu của đồng bào. Tuy nhiên, sau khi thống nhất đất nước, đảng mafia CSVN đã hiện nguyên hình một lũ cường hào ác bá bóc lột tận xương tủy của đồng bào, không khác gì nếu không nói là tệ hơn bất cứ thời kỳ Bắc thuộc hay thời thực dân phong kiến trong lịch sử VN. Thật sự, cần phải đào tận gốc trốc tận rễ bọn ác đảng VC, VG bán nước thì dân chúng mới được sống an bình, thịnh vượng, đất nước có cơ hội phục hưng. 

Về lãnh vực kiến thiết và xây dựng: Bọn cầm quyền CSVN để cho Tàu phù qua nước ta với ngụy từ khai thác Bauxite nhưng thực chất là để cày xới Tây Nguyên trung phần, gây ô nhiễm trầm trọng, phá hoại mùa màng và sinh thái thiên nhiên, đặc biệt là cài quân đội chính quy vào vị trí then chốt trong địa hạt quân sự khi có chiến tranh xảy ra. Thêm vào đó, giặc Tàu lấy cớ thuê mướn dài hạn để tàn phá rừng núi từ Quảng Nam tới Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa gây nguy hại chăn nuôi và trồng trọt lâu dài cho đất nước làm suy thoái kinh tế xã hội. Ngoài ra, mafia CSVN còn tạo điều thuận lợi cho dân Tàu tràn ngập vào VN không cần giấy thông hành nhập cảnh, tự do đi lại xây dựng cơ sở doanh thương, trường học, thành lập làng xóm, đặt tên đường bằng tiếng Tàu, lấy vợ VN, điển hình khu tự trị Tây Nguyên, khu phố Tàu ở Bình Dương miền Nam và Hải Dương miền Bắc.
Ðường xá, cầu cống và thủy điện có nơi xây cất chưa xong đã xập, điển hình như cầu Cần Thơ và nơi nào xây dựng xong thì vài năm sau như đập thủy điện Tam Hiệp, đập thủy điện Sông Tranh ở miền Trung bị nứt, lỗ rịn nước có nguy cơ vỡ đập mà vẫn được báo cáo an toàn, Cầu Nhơn Hội, Quy Nhơn có tiếng dài nhất nước VN thì nay không cho dân đi qua lại vì nhịp cầu bị nứt và bể trụ, đường trải nhựa ở Sài Gòn và Hà Nội giữa đường trụt đất thành hố nước xe cộ không qua lại được.

Về lãnh vực giáo dục: Bọn cầm quyền CSVN nhồi sọ học sinh với mớ lý thuyết Mác-Lê-Mao-Hồ lỗi thời và lạc hậu, đã bị thế giới vứt vào sọt rác lịch sử, ngoài ra, Thầy và Cô giáo thiếu khả năng chuyên môn và trách nhiệm giáo dục, cho nên nạn mua bằng cấp học vị Tiến sĩ, Thạc sĩ chạy đầy đường XHCNVN mà cũng không kiếm được việc làm nuôi thân, nên con gái thì bán thân làm vợ cho những người già háo sắc, và những người tật nguyền không ai chịu lấy làm chồng nơi xứ họ như Ðài Loan, Ðại Hàn, Tàu, Mã Lai; ngoài ra, bán trôn nuôi miệng, nuôi gia đình là chuyện xảy ra hằng ngày ở VN; số khác thì xuất cảnh lao động, dở sống, dở chết nơi xứ người, thân nhân gia đình phải bán nhà, bán đất để trả nợ mà họ đã vay tiền nhà nước, lo lót để được đi xuất cảnh lao động theo chính sách chiêu dụ của nhà cầm quyền CSVN.

Về lãnh vực y tế: Bọn cầm quyền CSVN xây dựng riêng những bệnh viện khoa học tân tiến như Tây phương, để điều trị cho cán bộ và gia đình thân nhân của chúng, còn người dân thì chỉ được vào những bệnh viện xưa cũ thời chiến tranh để lại tu bổ lấy lệ, thiếu vệ sinh và phương tiện y khoa, một giường nằm chen lấn ba, bốn người bệnh nhân khác nhau về bệnh trạng, nên truyền nhiễm nặng nề vô phương cứu chữa. Cho nên, gần đây một số tin tức cho biết có người trong nước ví von rằng: “Bệnh viện nước Ta, nhà tù xứ Tây”, vì nhà tù Tây phương mỗi người ở mỗi phòng riêng biệt có TV, tủ lạnh, cầu tiêu, chậu rửa mặt, ăn uống vệ sinh sạch sẽ, còn hơn bệnh viện XHCN nước ta một giường nằm ba, bốn bệnh nhân, chân người này đạp vào mặt người kia. Ðã thế, còn phải có phong bì đút lót mới được nhập viện điều trị. Mặt khác, các xứ Tây phương giàu lòng nhân ái, họ kêu gọi những BS chuyện khoa thượng thặng, thành lập một nhóm đi VN chữa trị và cấp thuốc miễn phí cho người dân, thế nhưng, sau khi phái đoàn y tế vừa rời khỏi bệnh viện, thì nhà cầm quyền CSVN bắt buộc bệnh nhân phải trả phí tổn theo giá tiền nhà nước qui định, có người vì quá nghèo khổ, bần cùng không còn gì để bán, đành phải bán con hoặc cho đi ở đợ để có tiền chữa trị. Trấn lột người dân đến tận xương tủy như thế, nếu không gọi chúng là đảng cướp ngày, bọn cường hào ác bá thì phải gọi chúng bằng từ ngữ gì cho đúng nghĩa của nó.      

Về lãnh vực tôn giáo: Bọn cầm quyền CSVN qua tôn giáo quốc danh do công an đầu trọc trá hình sư sãi kêu gọi những người Việt tỵ nạn nhẹ dạ, háo danh góp tiền về xây dựng chùa chiền trong nước để làm công đức. Cho nên chùa chiền tại VN phần đông không phải là nơi học hỏi giáo lý phật pháp, tu hành chân chánh, mà là nơi tụ tập những thành phần mê tín dị đoạn do chủ nghĩa xã hội tạo ra, đến đó để van xin cầu khẩn theo lòng tham muốn. Do đó, xã hội ngày càng trụy lạc, đạo đức suy đồi, nhân phẩm và nhân cách đồi bại hết chổ nói, chỉ biết miếng ăn là trên hết, cấu xé, chà đạp, giành giựt, đánh đập nhau không một chút nương tay.

Tóm lại, một XHCN dưới sự lãnh đạo của cái gọi là đỉnh cao trí tuệ đảng CSVN nên dân tộc VN mới điêu linh hơn nửa thế kỷ qua kể từ khi tên HCM du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai, vong bản áp đặt lên đất nước và dân tộc VN hơn 67 năm tại miền Bắc và 37 năm tại miền Nam. Do đó, những ngưòi còn chút lòng trăn trở cho nỗi thống khổ đầy uất hận của đất nước và dân tộc, dù rằng đang có cuộc sống nơi xứ tự do, dân chủ và giàu lòng nhân ái, nhưng hằng năm vào ngày Quốc Hận 30.4 vẫn không quên đồng bào và tổ quốc, tập trung trước sứ quán VC để phản đối hành động phản dân, hại nước của bè lũ Việt cộng, Việt gian bán nước trước công luận thế giới, để góp phần đấu tranh sớm giải thể chế độ CSVG phi nhân, phản quốc, ngõ hầu quang phục quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta.

Ðả đảo bè lũ Việt cộng, Việt Gian phản quốc bán nước
Human Rights for Vietnam
Democracy for Vietnam
Religious Freedom for Vietnam
Freedom for Vietnam.                                 

Trân trọng kính chào quý vị

 Ngô ngọc Hiếu

------------

HCM và đảng vgcs làm tay sai cho ngoại bang và bán nước
Cho tàu cộng để cầu vinh.


Trước khi trình bày những hành động làm tay sai và bán nước cho tàu cộng của HCM và bè lũ việt gian cộng sản (vgcs )tôi xin phép được hỏi qúy vị một câu hỏi.
Đảng vgcs đã tuyên truyền rằng HCM là một người yêu nước,có đúng vậy không?
Đúng vậy, đảng vgcs đã dối trá,gian manh và tô vẽ HCM là người yêu nước và đã đi tìm đường cứu nước để đánh lừa toàn dân VN.
Sau đây là những hành động của HCM và bè lũ việt gian cộng sản (vgcs) làm tay sai cho ngoại bang và bán nước cho tàu cộng để vinh thân.
HCM làm phụ bếp trên tàu Pháp Amiral Latouch Tréville,ngày 05/06/1911 tàu rời bến Hàm Rồng/SG đi Marseill.
Sau khi đến Pháp,ngày 15/09/1911 HCM đệ đơn đến bộ trưởng bộ thuộc địa Pháp để xin đặc ân được vào học trường hành chánh thuộc địa và nguyện xin làm thân khuyển mã,phục vụ đế quốc đại Pháp sau khi tốt nghiệp.Nhưng đơn của HCM không được cứu xét.Cho nên HCM bất mãn,sau đó gia nhập đảng xã hội Pháp sau đổi thành đảng cộng sản Pháp.
Năm 1924 HCM tham dự đại hội lần thứ 5 quốc tế cộng sản (cs)tại Moscow,HCM được cs đệ tam quốc tế chỉ định phụ trách bộ phương Đông,cục phương Nam.Từ đây HCM được Liên Xô trả lương.
-Ngày 25/09/1924 HCM được đưa đến Quảng Châu/Trung Hoa(TH) để hoạt động.Trong thời gian hoạt động ở TH,HCM có liên lạc với cụ Phan Bội Châu cho nên được biết tin tức về cụ Phan.
-Ngày 25/06/1925 HCM đã chỉ điểm cho Pháp bắt cụ Phan khi cụ từ Hàng Châu đến Thượng Hải để dự ngày giỗ của Liệt sĩ Phạm Hồng Thái.Do sự chỉ điểm này HCM đã được Pháp thưởng công cho 100,000 quan Pháp. Đây là hành động đầu tiên HCM làm tay sai cho ngoại bang giết hại người yêu nước chân chính.
Mặc dù cụ Phan Bội Châu đã chết  nhưng 15 năm sau trong cuộc cải cách ruộng đất(CCRĐ),HCM đã ra lệnh cho đội CCRĐ ở Nghệ An,là quê hương của cụ,làm hình nộm y như cụ Phan và đem ra treo giữa chợ để bêu xấu Cụ. Chúng ta đã từng nghe thấy bè đảng vgcs không những trả thù người sống mà chúng cũng đã trả thù cả những người đã chết.Thí dụ như mồ mã của các chiến sĩ QLVNCH trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã bị bọn chúng đập phá và cấm thân nhân đến thăm viếng và tu sửa.Hai ngôi mộ của cố TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu được cải táng từ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi về tỉnh Bình Dương,02 tấm bia không được phép khắc tên thật mà chỉ được khắc là HUYNH và ĐÊ .
-Ngày 03/02/1930 HCM thành lập đảng cs/VN tại Hồng Kông.Nguồn gốc của lá cờ máu kia là lá cờ của đảng uỷ tỉnh Phúc Kiến được treo lần đầu tiên vào ngày 21/11/1931.HCM đã mang về treo ở hang Pắc Bó ngày 19/05/1941 trong ngày thành lập Mặt trận Việt Minh.
-Năm 1946 HCM bị áp lực của Trung Hoa Quốc dân đảng phải thành lập chính phủ Liên hiệp nhưng sau đó vào ngày 06/03/1946 HCM ký hiệp ước với Pháp, đồng ý Pháp trở lại Miền Bắc để cùng với Pháp giết hại những người QG yêu nước.Các cụ Nguyễn Hải Thần,Vũ Hồng Khanh,Nguyễn Trường Tam…….phải lưu vong sang Trung Hoa để lánh nạn.
-Năm 1949 Trung cộng (TC)chiếm toàn bộ Hoa lục,từ đó HCM và đảng vgcs được TC chi viện đầy đủ và cung cấp cố vấn quân sự đánh Pháp.
HCM phải vâng lệnh TC ký Hiệp định Genève 20/07/1954 chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17.
Sau khi thống trị được miền Bắc,HCM xin chỉ thị và nhận đoàn cố vấn TC sang chỉ đạo,tiến hành và giám sát cuộc CCRĐ.
Bà Cát Thành Long Nguyễn Thị Năm là mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Trường Chinh,Lê Đức Thọ,Hoàng Quốc Việt …là người đã nuôi dưỡng Bộ chính trị cộng đảng trong những ngày chống Pháp,bà cũng có người con làm Trung đoàn trưởng trong bộ đội Việt Minh.Trong tuần lễ vàng bà đã hiến tặng 100 lượng vàng cho đảng vgcs nhưng bà là người đầu tiên bị bắn tại Thái Nguyên trong cuộc CCRĐ.Bà đã được bọn chúng trả ơn bằng phát súng tử hình đầu tiên.
Ngày nay đồ đảng của HCM vẫn tiếp tục trả ơn các bà mẹ chiến sĩ trước đây đã nuôi dưỡng,che chở bọn chúng bằng cách cướp trọn nhà cửa,ruộng vườn núp dưới chiêu bài đất đai thuộc sở hữu toàn dân.Nhưng thật ra là lạm dụng quyền lực, ăn cướp giữa ban ngày,bán cho tư bản để lấy tiền chia nhau bỏ tuí.Phong trào dân oan đã và đang nở rộ khắp nước.Rồi đây sẽ là cơn bão giật xập chế độ ăn cướp.
Trong cuộc CCRĐ từ năm 1953-1956 đã giết oan hơn 200,000 nông dân,trong số này chỉ có một số ít thật sự là địa chủ. Đồ đảng vgcs của HCM đã vâng lời TC phải nâng hàng trung nông lên hang địa chủ để đủ số 5% tại mỗi địa phương.
Tên bồi bút Tố Hữu đã làm thơ ca tụng cuộc tắm máu này :
“ Giết ! giết nữa ! Bàn tay không phút nghỉ ?
   Cho ruộng đồng tươi tốt,lúa lên bông !
   Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
   Thờ Mao chủ tịch,thờ Stalin bất diệt !
-Ngày 14/09/1958 Phạm văn Đồng thừa lệnh HCM gởi công hàm ngoại giao cho Chu ân Lai công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của tàu cộng .
Kể từ năm 1960 HCM nhận đầy đủ phương tiện chiến tranh như vũ khí, đạn dược,xe tăng và xăng dầu của Liên Xô,Trung cộng và toàn khối cs đông Âu xâm lăng Miền Nam(MN) thân yêu của chúng ta.
Tết Mậu Thân 1968 HCM và đảng vgcs đã phản bội giao ước hưu chiến.Ngay ngày Tết đầu năm,ngày thiêng liêng của dân tộc đã tấn công trên toàn thể các tỉnh thành của MN,gây
đau thương chết chóc cho dân chúng. Đặc biệt trong 25 ngày bọn chúng chiếm đóng thành phố Huế, đã thảm sát ghê rợn hơn 5000 đồng bào vô tội. Đây là tội ác tầy trời của HCM cùng bè đảng vgcs.Anh Liên Thành đang hoàn tất hồ sơ tội ác của chúng để truy tố  chúng ra tòa án Quốc tế ,những kẽ gian ác như Hoàng phủ Ngọc Tường,Nguyễn Đắc Xuân……….
Trước đây khi Lê Duẩn còn sống trong dịp họp đảng vgcs đã  nói “ ta đánh MN là đánh cho LX,cho TC. Đây là một sự thú nhận của đảng vgcs làm tay sai cho LX và TC.
Chính quyền MN của chúng ta bị ép buộc ký Hiệp định đình chiến da beo Paris ngày 27/01/1973.
Quân dân MN của chúng ta đã chiến đấu kiên cường nhưng vì bọn vc nằm vùng trong các đoàn thể và tổ chức đã khuấy động làm ung thối chính trị hậu phương và đặc biệt đồng minh Hoa kỳ phản bội đã làm ngơ cho vgcs vi phạm hiệp định Paris 27/01/1973 và cúp toàn bộ viện trợ.Cho nên chúng ta không còn đủ phương tiện tự vệ, đưa đến kết qủa đau thương,Quốc Hận 30/4 cách đây 37 năm.Thế mà tại London này vào ngày mai có những người tỵ nạn trở cờ tổ chức và đi xem “ bọn xướng ca vô loại “ hát ca mừng ngày chiến thắng của kẻ thù dân tộc.Xin đề nghị với Qúy vị nói với bạn bè hãy tẩy chay toàn diện buổi ca hát vào ngày mai.
Sau khi chiếm trọn MN đảng vgcs đã áp đặt chủ nghĩa ngoại lai,bạo tàn và chế độ công an trị lên toàn khối dân tộc.Tập trung tất cả Quân cán chính VNCH vào trại tù để trả thù bằng cách sỉ nhục,hành hạ thể xác bằng lao động kiệt sức nhưng ăn uống thì thiếu thốn và bệnh hoạn thì không được cấp thuốc men. Đã có biết bao nhiêu người bị chết trong trại tù của chúng .Còn quần chúng thị bị đày đi kinh tế mới là nơi rừng thiêng nước độc.Bần cùng hóa nhân dân bằng bằng chính sách đánh tư sản và đổi tiền cùng với chính sách ngăn sông cấm chợ và dùng phương thức xiết bao tử để kiểm soát tư tưởng của người dân .
Vì không thể sống với bọn qủy dữ,thà chết trên biển cả còn hơn sống với bọn chúng.Cho nên đã có hơn 02 triệu người thoát ra biển trên những chiếc thuyền mong manh giữa đại dương sóng nước mênh mong mà chỉ có 01 phần sống,09 phần chết để tìm Tự Do. Đã có hơn 500,000 người chết giữa đại dương trên đường vượt thoát.Phong trào vượt biển ở thập niên 80 đã làm cho Lương tâm nhân loại thức tỉnh.
Năm 1989 và 1991 khối cs Đông âu và Liên xô sụp đổ đã làm cho đảng vgcs khủng hoảng ý thức hệ và hoảng sợ.Cho nên ngày 03/09/1990 Nguyễn văn Linh,Phạm văn Đồng và Đỗ Mười chạy sang Thành đô/TC để qùy lạy trước Giang trạch Dân (GTD) và Lý Bằng (LB) xin thần phục.
-Ngày 28/07/1991 Đỗ Mười và Lê đức Anh sang Bắc Kinh triều kiến GTD và LB,một lần nữa xác nhận HS+TS là của tàu cộng,và nguyện xin làm chư hầu cho đại Hán.
-Ngày 30/12/1999 Lê khả Phiêu ký với TC hiến dâng 10,000km2 vùng đất biên giới ,mất đi Ải nam quan,một địa danh lịch sử và Thác Bản giốc cho tàu cộng .
-Ngày 25/12/2000 Trần đức Lương đến Bắc kinh ký với GTD hiến dâng 12,000km2 vùng biển Đông để nhận lấy 2 tỷ mỹ kim đem về cho bọn đầu lảnh chia nhau bỏ túi.Do đó TC rất mạnh miệng tuyên bố vùng biển đông bao gồm HS+TS là của TC.
-Ngày 19/01/2004 đảng vgcs đã để cho TC làm lễ hội Hoa đăng với 30 cụm Hoa đăng ở bờ biển Đà nẳng để kỷ niệm 30 năm đánh chiếm HS.
-Ngày 17/02/2009 vgcs đã để cho TC làm lễ hoa đăng tại Hànội để kỷ niệm 30 năm đánh chiếm 6 tỉnh biên giới.
-Ngày 01/10/2010 vgcs tổ chức lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.Nhưng thật ra là mừng ngày Quốc khánh tàu cộng.Vì theo ghi chép của lịch sử vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long vào tháng 7.
Hải quân TC đã bắn giết, đánh đập, cầm tù, đòi tiền chuộc và ủi chìm tàu đánh cá của ngư dân VN đánh bắt cá tại vùng biển gần HS.Nhưng đảng thổ phỉ vgcs miệng câm như hến,chẳng dám hé môi phản đối.
Những con két biết nói của bộ ngoại giao VN từ Phan thanh Thúi trước kia cho đến Lương thanh Nghị bây giờ thỉnh thoảng hót lên một cách thụ động HS+TS là của VN.
-Ngày 26/05/2011 tàu hải giám TC cắt cáp tàu Bình Minh 2 cách Phú Yên 120 hải lý,ngày 08/06/2011 Nguyễn tấn Dũng đến dự lễ hội Biển tại Nhatrang đã chém gió với lời tuyên bố HS+TS là của VN.Nhưng liền hôm sau lúc 09 giờ sáng ngày 09/06/11 một lần nữa tàu hải giám TC cắt cáp tàu Viking 2 gần vùng biển Vũng Tàu.
-Ngày 25/11/2011 tại diển đàn quốc hội bù nhìn lại một lần nữa Nguyễn tấn Dũng mị dân bằng cách chém gió và lên gân tuyên bố HS+TS là của VN.
Chúng ta nên nhớ rằng ngày 27/02/2002 Giang trạch Dân và tháng 11/2006 Hồ cẩm Đào đã đến tắm biển Đà Nẳng và đã tuyên bố bờ biển Đà Nẳng,Hội An và Chu Lai “ có chung giòng nước Việt-Trung. Điều này đã chứng tỏ rằng Hồ cẩm Đào đã xác quyết vùng biển cận bờ của VN cũng đã thuộc về TQ.Vì rằng VN đã là chư hầu của tàu cộng.
Thật vậy nếu đảng vgcs nói rằng HS+TS là của VN.Thế tại sao Thanh niên và Sinh viên VN biểu tình liên tục tại Sàigòn và Hànội lên án TC đánh chiếm HS+TS và mặc áo có chữ HS+TS/VN hoặc có hình cắt lưỡi bò thì bị đàn áp khốc liệt.
Chị Phạm Thanh Nghiên chỉ tọa kháng tại nhà sao lại bị cầm tù,anh Điếu cày Nguyễn Văn Hải tố cáo TC cũng bị bắt bớ và mới đây Chị Bùi Thị Minh Hằng đội nón lá có chữ HS+TS/VN cũng bị đưa vào trại tù cải tạo nhân phẩm.
Trước những nghịch cảnh này nhạc sĩ Việt Khang Nguyễn Minh Trí,một người trẻ tuổi sinh sau 1975 đã sáng tác 02 bản nhạc yêu nước :”Anh là ai? Và VN tôi đâu ?”: xin hỏi anh ở đâu? Ngăn bước tôi,chống giặc tàu ngoại xâm,sao đan tâm làm tay sai cho tàu và giờ đây…VN còn hay đã mất?mà giặc tàu ngang tàn trên Quê hương ta,Hoàng,Trường sa đã bao người dân vô tội chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu!
Hai bản nhạc đó ,cao ngất lòng yêu nước của VK đã gây xúc động cho triệu triệu con tim của người Việt từ trong nước ra đến hải ngoại. Đưa đến chiến dịch 150,000 người Việt ở Mỹ ký Thỉnh nguyện thư và 1000 Đồng bào biểu dương lực lượng trước Tòa Bạch ốc vào ngày 05/03/2012.
Đảng vgcs đã để cho người Hoa ra vào VN không cần visa, được tự do đi lại và được ở lại sinh sống .
Chúng đã cho tàu cộng vào khai thác Bauxit Tây nguyên và khai thác rừng đầu nguồn của 18 tỉnh,làm vùng tự trị,cấm dân chúng léo hánh đến các khu vực này.TC đã đưa quân lính trá hình đội lớp công nhân dân sự làm việc tại các nơi đó. Đó là những vùng chiến lược rất quan trọng của đất nước.Chúng ta đã biết trong cuộc chiến vừa qua ai làm chủ Tây nguyên thì người đó sẽ làm chủ đồng bằng. Thêm 01 bằng chứng nữa vgcs đã bán thêm lảnh thổ cho tàu cộng.
Từ ngày 10-15/10/2011 Nguyễn phú Trọng đến Bắc kinh triều kiến thì ngày 14/10/2011 đài TV trung ương Hànội trương cờ đỏ TC với 06 ngôi sao và thêm 01 lần nữa ngày 21/12/2011 Tập cẩn Bình(TCB) Phó Chủ tịch kiêm Phó Tổng bí thư đảng tàu cộng đến dinh chủ tịch gặp Trương tấn Sang, đảng vgcs tổ chức 100 cháu gái mặc áo đỏ và tay cầm cờ đỏ TC với 6 ngôi sao để tiếp đón. Điều này đảng vgcs đã xác quyết với TCB, người sẽ là Tổng bí thư vào cuối năm nay rằng VN là 01 tỉnh,là chư hầu của đại Hán.
Cả 02 vụ trương cờ đỏ tàu cộng có 6 sao này đã bị nhiều người dân trong nước phản đối kịch liệt.Bọn cầm quyền đã gian dối cho rằng đó là do lỗi lầm kỹ thuật.
-Ngày 14/03/2012 vừa qua bộ Giáo dục đã ra thông tư,sẽ dạy Hán văn trong chương trình Tiểu và Trung học.Cũng bị dân chúng phản đối.Chúng gian xảo cải chính chỉ dạy cho các em người Hoa mà thôi.
Tất cả những gì tôi đã trình bày trên đây chứng minh một cách hùng hồn rằng HCM và đồ đảng vgcs đã làm tay sai cho Nga Tàu, đem chủ nghĩa ngoại lai,phi nhân,bạo tàn và sắt máu về áp đặt trên toàn khối dân tộc.Tạo nên cuộc chiến huynh đệ tương tàn,nồi da xáo thịt không cần thiết và ngày nay đã và đang từng bước bán nước cho tàu cộng,nguyện làm chư hầu 1000 năm lần thứ 2 cho đại Hán,kẽ thù truyền kiếp của dân tộc để cầu vinh. Đảng vgcs áp đặt lên toàn dân tộc một chế độ toàn trị, đưa đất nước đến tình trạng phá sản toàn bộ từ kinh tế tụt hậu so với các nước trong vùng cho đến giáo dục nhồi sọ,từ chương và mua bán bằng cấp,văn hóa mất gốc đề cao vật chất và hưởng thụ.Cán bộ cao cấp thì giàu có nứt vách trong khi đó dân đen thì đói khổ,lầm than .Cảnh giàu nghèo chênh lệch qúa lớn. Đảng vgcs lạm dụng quyền lực cướp đất đai,ruộng vườn của dân bán để làm giàu riêng,gây cảnh bất công.Triệt tiêu Tư Do,Dân chủ và Nhân quyền.
Hồ Chí Minh và đảng VGCS là tội đồ của toàn Dân tộc VIETNAM.
                                                                     HCQN/VQA: 28.4.2012
Người lính gìa.
-----------

Tường trình và một số hình ảnh tưởng niệm Quốc Hận 30-4

ngày 28/4/2012 tại London




Tường trình buổi tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng Tư tại London, thứ Bảy, ngày 28/4/2012

Trong tinh thần tưởng nhớ đến biến cố quan trọng lịch sử của nước Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, và của cả dân tộc Việt Nam nói chung, ngày Quốc Hận 30 tháng Tư, 1975.
Hội đoàn, đoàn thể, giới truyền thông và cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại Vượng quốc Anh đã lại cùng nhau tổ chức một cuộc biểu tình trước sứ quán ngụy quyền CSVN tại Anh quốc vào chiều Thứ Bảy, ngày 28 tháng Tư năm 2012.
Dưới bầu trời âm u và cơn mưa rả rích từ đêm hôm trước, một vài luồng gió lạnh bất chợt của tháng Tư như niềm cảm thông, đồng tình của đất trời với tâm tình của những người con dân nước VNCH ly hương, tỵ nạn CS tại xứ sương mù trong buổi tưởng niệm Quốc Hận năm nay.
Khoảng 12 giờ 30 chiều, một vài đồng hương đã đến địa điểm tập trung tại công viên Kensington, phía cổng đối diện con đường trực chỉ đến sứ quán ngụy quyền Việt-gian cộng sản, đường Victoria, London W8 5RD.
Buổi tưởng niệm Quốc Hận năm nay, đã khởi hành tiến đến mục tiêu là sứ quán Vgcs tại London vào lúc 14:00 giờ, vẫn đầy đủ nghi thức từ lúc khai mạc cho tới khi trở lại địa điểm tập trung và giải tán.
Các đại diện Hội đoàn, tổ chức và cộng đồng trong Ban tổ chức cuộc biểu tình ngày Quốc Hận, đã đã lần lượt ra phát biểu các đề tài liên quan đến ngày Quốc Hận:

1.     Hồ chí Minh đích thực là một tên việt gian phản quốc. Và đảng CSVN là lũ buôn dân bán nước.

2.     Nguyên do sự hiện diện của hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CSVN trên khắp thế giới, kể cả cộng đồng người VIệt tỵ nạn CS tại nước Anh.

3.     Những hậu quả sau khi cướp trọn nước VNCH, từ chính trị, văn hóa, xã hội và sự nô dịch Tàu cộng do đảng CSVN làm tay sai, công cụ buôn dân bán nước gây ra.  Đó là một hậu quả vô cùng tệ hại, có một không hai trong lịch sử của nước nhà.

4.     Cảnh báo chính quyền Anh quốc về những xâm nhập trái phép của một số những phần tử, cùng tổ chức lạm dụng tôn giáo… để thi hành nghị quyết 36 của Vgcs trên đất nước Anh trong cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại đây.

5.     Kêu gọi toàn thể con dân nước Việt Nam Cộng Hòa, vận động quốc tế trên tinh thần tuân thủ Công Pháp Quốc Tế của tất cả các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc, bằng mọi cách đòi lại đất nước, tài sản của nước VNCH dựa theo tinh thần các hiệp ước quốc tế, mà bè lũ việt-gian, đảng CSVN của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  đã bất chấp và trắng trợn vi phạm dưới sự đồng lõa, làm ngơ của một vài quốc gia tham dự viên cũng như quan sát viên trong các cuộc họp đưa đến từ hai bàn hội nghị tại Genève, 1954, và Paris 1973, về Việt Nam. Không nên ỷ lại, trông chờ sự tiếp tay, giúp sức của ngoại bang mà quên đi sức mạnh của toàn dân. Và cũng không nên rơi vài bẫy câu giờ của giặc, mà trông chờ đàn con lũ cháu của những tên Việt gian đang cướp quyền cai trị cả nước sẽ thay đổi. Người dân Việt trong cũng như ngoài nước phải cùng nhau đứng lên hành động.

Sau mỗi bài phát biểu của các đại diện đoàn thể, tổ chức, cộng đồng; BTC đã kèm vào những bản hùng ca đấu tranh, đã làm bừng lên khí thế tranh đấu của mọi người tham dự. Những vị cao niên, lớn tuổi đã quên hẳn cái lạnh và ướt át của thời tiết bất chợt thay đổi vào cuối tháng Tư năm nay.

Trong buổi tưởng niệm năm nay, lá cờ máu của Vgcs đã cuốn lại thật thảm hại trước khí thế đấu tranh của người Việt tỵ nạn CS và điềm Trời báo trước cho sự sụp đổ của cả guồng máy cai trị của đảng CSVN trên đất nước Việt Nam chúng ta đã gần kề.


Cuộc biểu tình đã diễn ra trong vòng trật tự với sự cảm mến của đồng bào và các nhân viên công lực giữ gìn trật tự cho đoàn biểu tình trên suốt chặng đường đoàn biểu tình tuần hành đi qua. 

Ngoài ra, chúng tôi còn thấy có sự hiện diện của đại diện và một vài thành viên của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh (đảng viên đảng Việt Tân), nhưng đã không phát biểu trong cuộc biểu tình.
Cuộc biểu tình tưởng niệm Quốc Hận năm nay đã kết thúc vào lúc 16:00 cùng ngày.

http://hon-viet.co.uk/BTQuocHan30thangTu2012_London.htm

London Ngày Quốc Hận 28.4.2012 Audio Biểu Tình Quốc Hận 28.4.2012

Bài Xem Nhiều