We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 30 April 2012

Tiền đền bù đất tại Văn Giang : Rẻ Hơn Chiếc Váy

Bạn thân,
Đó là sự thật: Tiền đền bù đất tại Văn Giang, nơi 3.000 công an vừa dùng bạo lực trấn áp 700 người dân để lấy đất cho dự án Ecopark, không bằng 1/10 chiếc váy của các cô siêu người mẫu tại Việt Nam.
Bi thảm là như thế. Và rồi chính phủ đẩy người dân ra khỏi mảnh đất đã nuôi nhiều thế hệ gia tộc của họ, chỉ với giá vài mảnh vải trên thân các cô siêu người mẫu.
Bản tin BBC tuần này ghi nhận:

“...một người dân xã Phụng Công giấu tên cho biết, họ được chính quyền đề nghị ban đầu với giá 19 triệu đồng/sào, tức 360m2.
“Sau thời gian khiếu nại, chính quyền đã nâng mức giá lên đến 36 triệu đồng/sào”, người dân này nói, “nhưng khi bán ra, họ lại tính theo mét vuông, lời đến tận trăm chục lần.”
Tại sao rẻ thế, rồi họ lấy gì nuôi vợ con khi tiền này chỉ đủ sống có vài tháng? Con số 19 triệu đồng chỉ bằng 912 đôla, và 36 triệu đồng chỉ bằng 1728 đôla... chỉ đủ sống vài tháng, trong khi mảnh đất Văn Giang có thể nuôi nôngd ân cả đời naỳ, và cả đời con cháú về sau.
Một mẫu váy cưới được thực hiện gia công tại nhà may nhỏ, với giá dưới 2 triệu đồng.

Bản tin 24h khi ghi nhận “Những chiếc váy siêu đắt tiền của kiều nữ Việt” đã cho biết:
- Hoa hậu Mai Phương Thúy của năm 2006 “đã bỏ ra tới 315 triệu VNĐ cho chiếc váy đắt giá hiệu Elie Saab, cho việc xuất hiện tại một sự kiện diễn ra hồi tháng 3.” Con số 315 triệu VNĐ là bằng 15.120 USD, nghĩa là gấp nhiều lần tiền đề bù sào đất Văn Giang

- Á hậu Ngọc Oanh “từng thể hiện gu thời trang đầy thuyết phục trong mẫu váy hiệu Talbot Runhof trị giá 83 triệu đồng.” Con số 83 triệu VNĐ là bằng 4000 USD.
- Diễn viên Trương Ngọc Ánh đã mua đứt chiếc váy hiệu Jenny Packham trị giá suýt soát 70 triệu đồng. Nghĩa là 3360 USD. Và rồi “Sau đó ít lâu, cô lại sắm thêm chiếc váy cũng thuộc thương hiệu thời trang này với giá 89 triệu đồng.” Nghĩa là 4272 USD.

- Linh Nga “trong mẫu váy mang họa tiết xuân hè có mức giá 108 triệu đồng.” Nghĩa là bằng 5184 USD.
Ai bảo rằng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa không dám xài tiền? Tất nhiên, chỉ trừ tiền đền bù đất.
Có những gì quý giá đằng sau các tấm vải đắt giá mà các đạị gia dám bung tiền ra cho các cô như thế? Chắc chắn, không phải là đất, bất kể rằng đất đã nuôi lớn dân tộc Việt qua hơn 4.000 năm thăng trầm.

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH GIÀ VỚI THÁNG TƯ ĐEN.

 
[1] Ngày Quốc Hận

Tháng Tư tức tưởi lính tan hàng
Giặc đỏ tràn vào tựa sói lang
Tướng tá đi tù còn uất hận
Đồng minh tháo chạy hết nghênh ngang
Hòa bình những tưởng dân no ấm
Thống nhất đâu ngờ cảnh hỗn mang
37 năm rồi Ngày Quốc Hận
Vẫn in đậm nét một màu tang
Black April 2012

[2] Doanh trại ngày 30/4/1975

Lệnh buông súng đợi để bàn giao
Doanh trại còn nguyên giặc chửa vào
Súng đạn ngổn ngang ngoài vọng gác
Quân trang bừa bãi cạnh bờ rào
Chiến công một thuở từng oanh liệt
Xương máu hai miền uổng biết bao
Nhìn ngọn cờ vàng trong khoảnh khắc
Tướng quân cố nén lệ tuôn trào.

[3] Tướng Phạm Văn Phú

Hiệp định Paris bán đứng rồi
Đồng minh phản bội bạc như vôi
Cao nguyên triệt thoái còn chi nữa
Đất nước tan tành mất đến nơi
Lê kiếp sống thừa trên đất khách
Chẳng thà tuẫn tiết tại đây thôi
Một chai độc dược theo hồn nước
Danh tướng đời nay được mấy người.

[4] Tướng Lê Nguyên Vỹ

Tướng quân quả cảm lại thanh liêm
Chẳng đội trời chung giặc búa liềm
Tư lệnh Sư Đoàn 5 dũng mãnh
Chỉ huy đơn vị rất uy nghiêm
Đương đầu địch thủ tay mưu lược
Đối diện đồng minh chẳng tị hiềm
Nhật lệnh bàn giao giờ phút chót
Một viên đạn cuối giấc cô miên.

[5] Tướng Lê Văn Hưng

Sáu chục ngày đêm pháo nổ oành
Chiến hào nồng nặc máu xương tanh
Bốn sư đoàn địch vào công hãm
Một tướng quân ta quyết thủ thành
An Lộc kiêu hung ghi chiến tích
Bình Long anh dũng rạng uy danh
Còn dân còn nước còn hương khói
Dẫu thác ngàn đời đẹp sử xanh

[6] Tướng Nguyễn Khoa Nam

Tướng Nguyễn Khoa Nam rạng sử xanh
Thong dong tựu nghĩa chết theo thành
Thương dân chiến cuộc tàn đâu nỡ
Yêu lính, chỉ huy nhục chẳng đành
Tại thế không xa hoa vật chất
Tận trung giữ đởm lược hùng anh
Một vì sao lóe trong đêm tối
Cũng đủ soi non nước vận hành.

[7] Tướng Trần Văn Hai

Tướng Hưng cùng với Tướng Khoa Nam
Tuẫn tiết theo thành thác đã cam
Vận nước suy vi đành thọ tử
Việc nhà bối rối biết khôn kham
Chẳng đành sống nhục quên danh dự
Thành được chết vinh giữ phẩm hàm
Chén rượu hòa tan viên độc dược
Ngàn xưa danh tướng vốn phi phàm

[8] Đại tá hồ Ngọc Cẩn

Không thể sống chung với sói lang
Một còn một mất chẳng đầu hàng
Mắt trừng họng súng lời đanh thép
Miệng mắng quân thù ý sắt gang
“Cộng Sản độc tài quân bịp bợm!
“Tự do dân chủ dáng hiên ngang !
Pháp trường lệ nhỏ ngùi thương tiếc
Một tấm trung can tỏ đá vàng.
[9] Tâm sự người lính già

Phần tư thế kỷ nặng nề qua
Người lính giờ đây tuổi đã già
Đau xót quê hương ngày gãy súng
Nhớ thương đồng đội thuở xông pha
Ngậm ngùi đất khách vầng trăng khuyết
Tủi phận chinh nhân bóng xế tà
Thao thức đợi chờ ngày quật khởi
Mùa xuân Dân Tộc khúc hoan ca.

[10] Tâm sự Đặng Dung

Đành đem tâm sự gởi vào thơ
Non nước thương ôi một cuộc cờ
Bần tiện gặp thời ngồi vắt vẻo
Anh hùng lỡ vận đứng lơ ngơ
Vàng son quá khứ chờ phai lạt
Ánh sang tương lai đợi mịt mờ
Thù nước còn đây đầu tóc bạc
Gươm mài thao thức dưới trăng mơ.

[11] Đặng Dung

Non nước đầy vơi tuổi luống già
Đất trời nghiêng ngả cõi người ta
Gặp thời bần tiện trông vênh váo
Lỡ vận anh hùng ngó xót xa
Tiếc thuở tung hoành nơi trận mạc
Buồn khi lận đận chốn can qua
Quốc thù chưa báo đầu râu bạc
Súng gãy gươm cùn hận đáo gia.

[12] Phạm Thái độc ẩm

Đối tửu hề duy ngã nhất nhân
Mang mang thiên địa hề phong trần
Tàn quân đất hỡi lìa trăm mảnh
Loạn thế trời ơi khó hợp quần
Trí đoản đơn đao khôn phục quốc
Sa trường độc mã khó toàn thân
Rượu say hồ dễ quên năm tháng
Người đẹp đi rồi nhớ gót chân.

[13] Loạn đả cảm tác

Chống Cộng hay là Chống lẫn nhau ?!
Chống người-chống-Cộng ngẫm mà đau.
Miệng lằn lưỡi mối gieo tai họa
Mép giải mồm loa rắc thảm sầu
Quốc Cộng nhập nhằng hăng tiết vịt
Bạn thù loạn đả (!) sá vàng thau ?!
Phèng la mãi võ moi tiền túi
Đất khách ngậm ngùi cuộc bể dâu.

[14] Song tịch (Double nationality)

Từ dạo vượt biên bỏ nước đi
Vì không sống nổi với Vi-Xi
Mang danh “tị nạn” thôi đành vậy
Thêm phận “kiều bào” nữa để chi ?!
Nhân sĩ phải đâu phường giá áo
Trượng phu nào thể gái vu quy
Hỡi người áo gấm về quê cũ
Song tịch chuốc vào tiếng thị phi.

[15] Ảo mộng hòa hợp hòa giải

Hòa hợp sống chung với đảng ư (?!)
Coi chừng chết bỏ bố tiên sư
Tam quyền phân lập còn nghiêm cấm
Đảng trị độc tôn chửa cáo từ
Dân chủ tự do (!) đừng ảo tưởng
Ấm no hạnh phúc phải ưu tư!
Sắp hàng ngoan ngoãn sau lung đảng
Lộn xộn mọt gông khốn khổ chừ.

[16] Dân tộc trường tồn

Tất cả đi lần tới nghĩa trang
Máu xương thù hận lệ ngàn hàng
Một thời, bán nước khoe “ưu việt”
Mấy thuở buôn dân lại “vẻ vang”.
Chủ nghĩa ngoại lai đăng cáo phó
Đảng đoàn “xã-nghĩa” chít khăn tang
Chỉ còn dân tộc trường tồn mãi
Bên lũy tre xanh dải lúa vàng.

[17] Hiu quạnh

Thôi thế lại thêm một tuổi già
Bên trời hiu quạnh đếm ngày qua
Quê hương tù ngục còn ngao ngán
Đất khách lưu đày vẫn xót xa
Chiều xuống ngậm ngùi chờ nắng xế
Khuya về thao thức đợi trăng tà
Thân bằng quyến thuộc chừ tan tác
Tâm sự đầy vơi… với tách trà.

Hồ Công Tâm

Trần Trung Đạo : Ngày 30 Tháng 4

Ngày 30 Tháng 4
 

37 Năm Niềm Tin, Hy Vọng


Ba Mươi Tháng Tư này là Ba Mươi Tháng Tư thứ ba mươi bảy. Ba mươi bảy năm niềm tin và hy vọng. Hy vọng vươn lên từ cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng nhiều vinh quang.
Các cơ quan đoàn thể chánh trị, văn hóa, xã hội, và truyền thông đại chúng của người Việt Hải Ngoại ở Âu, Mỹ, Úc châu từ mấy tháng nay đã chuẩn bị tổ chức kỷ niệm rầm rộ. Ba mươi bảy năm trên ba triệu người Việt đã gạt nước mắt rời bỏ quê nhà đi tỵ nạn CS trên 60 quốc gia, trải rộng khắp năm châu, bốn biển. Tất cả đồng loạt, đồng lòng tổ chức ngày Ba Mươi Tháng Tư thật lớn.

Ba mươi bảy năm theo xã hội học là một thế hệ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn CS, đó là cả ba thế hệ - thế hệ thứ nhứt, một rưỡi, và thứ hai -- chụm lại thành một thực thể trong cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang với hy vọng đã, đang và sẽ vươn lên theo định luật của sự sống thành một thế lực lớn mạnh thấy rõ.

Gian khổ qua 6 giai đoạn của cuộc hành trình: Di tản, Vượt biên, ODP, Đi bán chánh thức HO, Con cái HO, Hồi Hương. Đó là máu, nước mắt, mồ hôi, vui buồn, vinh nhục, sướng khổ, thành bại của ba thế hệ, là sự nghiệp, là thành tích xuất sắc chung và lớn của quần chúng, là giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc Việt. Thượng Đế cũng không thể đổi thay sự kiện lịch sử này. CS không thể và không bao giờ chối bỏ được.
Chính CS Hà nội cũng phải công nhận, từ chỗ ban đầu xem người “vượt biên” là “tội phản quốc, phản động, phản cách mạng” và chỉ một hai thập niên sau phải gọi là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, Việt Kiều yêu nước”, khan cổ kêu gọi đem kiến thức, tiền bạc về “xây dựng quê hương”, giúp cho chế độ CS đã từng lên án người Việt ra đi tỵ nạn CS.

Đó là cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN và thế giới sử cho đến bây giờ. Tổng số sống trên ba triệu và chết không dưới một phần ba. Theo lượng định của Phủ Cao ủy Người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boatpeople) đến được bến bờ tự do thì độ phân nửa chết dưới biển.

Máu, nước mắt, mồ hôi, gian nguy, khó khổ, số thương vong, số người, và dặm đường đi, đông hơn, nhiều hơn, xa đa dạng hơn cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi Cỗ Ai Cập trước Chúa Ky tô giáng sinh. Một cuộc di tản sau này trở thành linh hồn của văn minh Tây Phương với cỗ sử, niềm tin, và hy vọng của người Do Thái được đúc kết trong Kinh Cựu Ước và được chấp nhận như một phần quan trọng của Thánh Kinh (Bible) của Ky Tô Giáo.

Ba mươi bảy năm cuộc di tản của người Việt đã làm lương tâm Nhân Loại chấn động, Cộng đồng thế giới bàng hoàng. Liên Hiệp Quốc xem công tác giúp người Việt vượt biên, ra đi trong vòng trật tự là một công tác lớn nhứt thế kỷ của mình. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Trong thế giới sừ, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau mấy chục năm chiến tranh chấm dứt mà còn cứu khổn phò nguy, cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế.

Nhưng ba mươi bảy năm cuộc hành trình ấy cũng đầy vinh quang, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Đông Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d'Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Quốc Hải Ngoại (France d' Outre- Mer) trong thời thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà.

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại có chánh nghĩa hơn chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, thống nhứt được non sông mà không thống nhứt được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ.

Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được chánh quyền địa phương, hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành thị Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh tri, chánh quyền, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, ba mươi bảy năm hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên bảy, tám tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5% của số tiền kiếm được. Điều đó cho thấy tổng sản lượng thuần của người Việt Hải Ngoại cao hơn của cả nước VN. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước kiếm chưa đến 500 Đô/năm.

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trương đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. Chất xám của người Việt Hải Ngoại là cái mà CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, nhưng trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của bao thời kỳ độc lập VN, Ngô,Đinh, Lê, Lý,Trần, Lê, Nguyễn, đệ nhứt, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Tiếng Việt Hải ngoại biến “từ của CS” như hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, nhứt trí, đồng tình, thành tử ngữ. Đồng thời phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975.

Kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư là cơ hội người Việt Hải Ngoại tự xét một cách nghiêm khắc, khách quan nhưng đầy tin tưởng lạc quan. Niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi.

Sau cùng, “Ra đi không phải là chết một hai phần nào” (Partir c'est mourir un peu) như một nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết. Mà ra đi là để khôi phục niềm tin, chánh nghĩa đã bị tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc Việt. với hy vọng vươn lên dù bi quan cũng thấy đã, đang, sẽ lớn mạnh.
 
  Vi Anh

Uk Đấu Tranh Bật khóc 30.4 :Ngày Quốc Hận - Ngày Hận Việt Kiều


Lá Cờ Tưởng Đã Mất 


Chiều hôm nay, Thứ Bảy ngày 21-4-2012, một buổi lễ Vinh Danh và Tri-Ân Hải Quân Hoa-Kỳ và Hải-Quân Việt-Nam Cộng Hòa đã cứu vớt những người trốn tránh Cộng-Sản vào Tháng Tư năm 1975 tại Nhà Thờ Kinh thuộc Thành Phố Garden Grove, Calfornia.

Buổi Lễ có một chi tiết làm mọi người cảm động và MC Việt-Dzũng đã bật khóc khi một sĩ quan Hải quân Hoa-Kỳ đã trao lại lá quốc-kỳ VNCH cho một sĩ-quan Hải-Quân Việt-Nam. Lá cờ này đã phải kéo xuống khỏi chiến-hạm của Hải-Quân Việt-Nam trên đầy dân tỵ-nạn và thay bằng quốc kỳ Mỹ mới được vào Vịnh Subic, Phi-luật-tân.
Đã bao chiến sĩ Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa và đồng bào tỵ-nạn đã đau xót, tức-tưởi, ngậm ngùi, bật khóc khi Quốc-Kỳ VNCH bị kéo xuống. Ngày nay một số quân nhân cũng như đồng bào đã khuất, tưởng rằng lá cờ sẽ bị bỏ mất. Nhưng, lá quốc-kỳ thân yêu đó được trang trọng cất giữ để 37 năm sau lại được trả về cho đồng bào tỵ nạn mà nay đã là những người Mỹ gốc Việt.

.image
.

Gần 3 ngàn người đều đứng dậy, cùng hát quốc-ca trong bùi ngùi, xúc-động, đón nhận biểu tượng thân yêu của Tổ-Quốc, tưởng mất nhưng vẫn còn.


Tưởng Cờ đã mất hôm qua
Nay vừa nhận lại xót xa, ... vui mừng
Ôm Cờ nước mắt rưng rưng
Hình hài Tổ Quốc còn chừng ấy thôi ...
Cờ từ quê Mẹ xa xôi
Mong ngày Cờ sớm phản hồi cố hương !
Thu Lan

-----
Việt Kiều Yêu Quái...!!!


     Cuộc chiến-tranh vừa qua, nhiều người lầm tưởng đã kết thúc vào ngày 30.4.19 75 và bị đánh giá là cuộc nội-chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền-Lương vắt qua giòng sông Bến-Hải, trên Vĩ-tuyến 17 là biểu-tượng cho một giai-đoạn xót-xa của lịch-sử. Thật ra, cuộc chiến-tranh đó vẫn được tiếp-diễn, nhưng theo thế-trận khác và ý-nghĩa cũng được nhận-định lại đúng đắn hơn !

    
Sau 30.4.19 75 Cộng-sản phơi bày chân-tướng là một phỉ quyền tham ác lưu-manh; nên Người Quốc-Gia giành đoạt được chính-nghĩa và tiến-hành cuộc chiến-tranh giải-phóng Dân-tộc hầu có điều-kiện đưa đất-nước đến phồn thịnh, nhân-dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, người Quốc-Gia đang thắng-thế, từng bước chứng-minh Cộng-sản Việt Nam là tội-phạm nhân-loại, là tội-đồ Dân-tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng-ngũ chúng ta có hiện-tượng giao-động, địch biết tránh né, thoát hiểm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy-hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “Việt-kiều” !.

     Tất-cả những người Việt Nam , nếu không là bọn có quyền thế sống hoan-lạc trên nỗi thống-hận Dân-tộc, và nếu có điều-kiện đều phải đành lòng chấp-nhận gian-nan, nghiệt-ngã, nguy-hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại-dương, rừng sâu, hải tặc, thổ-phỉ…... không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng-sản dưới nhiều hình-thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo-lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), Cựu nhân-viên Chính-phủ Hoa-Kỳ (U.11), thuyền-nhân hồi hương (ROVR); đào tỵ khi xuất ngoại như công-tác, biểu-diễn nghệ-thuật, thi đấu, công-nhân trong chương-trình"xuất-khẩu lao-động"; ngay cả những du-học-sinh hay du-lịch… v.v...phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng-sản.

     Ðối với Việt-cộng, những người hội đủ điều-kiện được tái định-cư ở nước ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “Việt-Kiều”.

     Nếu lấy 30.4.19 75 làm thời-điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý-do:

A.- Tỵ-nạn do bị bức hại:

I/ Thời nhà Lý có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao-Ly (hay còn gọi là Triều-Tiên hoặc Ðại-Hàn):

1/ - Ðại-Ðô-Ðốc Kiến-Hải-Vương Lý Dương-Côn cùng chiến thuyền binh-sĩ thuộc quyền, gia-nhân và gia-thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu-Hiếu Thái-Hậu và Cảm-Thánh Hoàng-Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàng-tử Thiên-Tộ (Tức vua Lý-Thần-Tôn).
2/- Các Ðô-Ðốc Kiến-Bình-Vương Lý-Long-Tường, Bình-Hải-Công Lý-Quang-Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái-Sư Trần-Thủ-Ðộ trong mưu-đồ tiếm-đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần.

II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều đợt với nhiều lý-do, đa số cư ngụ tại Bangkok Thái-Lan:

1/ - Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn-Ánh (tức vua Gia-Long), vào cuối Thế-kỷ thứ 18.
2/ - Nhóm theo Thiên-chúa-giáo lánh-nạn sát đạo dưới thời Minh-Mạng, Thiệu-Trị (1820 –1847).
3/ - Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan-Ðình-Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng 1895.
4/ - Nhóm theo Cụ Phan-Bội-Châu (1908 – 1909).
B.-Vì những lý-do khác:

Bị Thực-dân Pháp lưu-đày, ép buộc trong chương-trình mộ dân, gia-nhập Quân-đội Liên-hiệp Pháp, du-học và không trở về hoặc xuất bôn chiến-đấu giành chủ-quyền cho Tổ-Quốc. Phần đông lưu-trú tại Pháp hay các Quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung-Hoa, Cao-Mên. Ai-Lao. Ngoài ra còn có một số ít định-cư tại những Quốc-Gia khác vì nhiều lý-do.

Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng-sản, những người có nguồn-gốc Việt Nam, đang sinh-sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân-biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh-thổ Việt Nam như Ấn-kiều, Hoa-kiều, Pháp-kiều. Nên khi Cộng-sản gọi những người Việt Nam đang định-cư ở nước ngoài là Việt Kiều đã hàm chứa ý-nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam . Số phận Việt Kiều chơi-vơi giữa người Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy theo từng trường-hợp, nhưng bao-giờ Việt Kiều cũng bất-lợi kể cả trường-hợp so-sánh giữa Việt Kiều và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh-thổ Việt Nam trong cùng thời-gian và cùng có lý-do phạm pháp giống nhau.

C.- So-sánh giữa Việt-kiều và ngoại-kiều:

1/- Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp-lý, hành-chánh, thuế khóa, kiểm-soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương-diện kiểm-soát quản lý và những gì thuộc về kinh-tế, tài chánh.

2/- Khác nhau: Nếu vì bất cứ lý do gì có liên-quan đến pháp-lý thì ngoại kiều được chi-phối bởi luật-pháp và thói quen mà quốc-tế đã chuẩn-nhận. Nhưng trong trường-hợp nầy thì Việt Kiều bị xem là " Công-dân Việt Nam ”. Nghĩa là chúng thông-báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng.

Chưa Quốc-gia nào có chính-sách kỳ-thị và ty-tiện với Kiều bào của mình như ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam . Dưới mắt chúng, Việt Kiều là thành-phần nguy-hại cho sự tồn tại chế-độ chúng, mặc dầu Việt Kiều cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời Việt Kiều cũng là những kẻ vong thân, nên Việt Kiều bị Việt Cộng xem như là những kẻ nô-lệ dùng để kháng-cự và tấn-công các tổ-chức yêu nước chân chính. Tóm lại, Cộng-sản Việt Nam xem khinh, xử -dụng sai khiến Việt Kiều nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại Việt Kiều .

Khi nền kinh-tế kiệt quệ, Cộng-sản thử nghiệm chính-sách chiêu-dụ Việt Kiều bằng nhiều hình-thức như: Gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân-nhân, du-lịch, hợp-tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam .

Có khá nhiều trường-hợp những Người Quốc-Gia chân-chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình-cảm, vì trách-nhiệm đối với thân-nhân, đồng-bào, đang lâm cảnh thiên-tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục: xin được chia xẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm-thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân-thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng-mộ những anh-hùng trở lại quê hương đối diện trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo-quyền Cộng-sản Việt Nam .

Ðối-tượng câu chuyện hôm nay là những Việt Kiều trở về trên tư-thế của kẻ “hãnh-tiến”, loại "áo gấm về làng", những kẻ đi tìm hoan-lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng-bào, đồng đội, những kẻ ích-kỷ manh tâm đồng-lõa với Cộng-sản bất chấp lương-tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại Việt Kiều đã lưu lại dấu vết gì với đồng-bào, đồng đội trong nước:

D.-Việt-kiều đã làm đồng-bào, đồng đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:

Một Mỹ-kim có giá-trị tương-đương khoảng trên 20,000 đồng Việt Cộng nên Việt Kiều tiêu xài hoang-phí làm ảnh-hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành-phần sống bám theo ảnh-hưởng Việt Kiều dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với Việt Cộng gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai-cấp mới gọi là liên-minh thống-trị. Ðồng tiền Việt Kiều cũng là nguyên-nhân chủ-yếu của các tệ-nạn hối-lộ tham nhũng, mãi-dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ-nhiên nạn-nhân vẫn là lương dân nghèo khó.
E.-Việt-kiều giúp cho Việt Cộng chạy tội vi-phạm nhân-quyền:

Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, Việt Kiều tung những thông-tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho Cộng-sản; làm lu mờ chính-nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình-thức như hợp-tác, đầu tư, cố-vấn, giao-lưu “văn-hóa, nghệ-thuật”, và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu-trợ”. Việt Kiều vẫn là lực-lượng tiếp-sức hữu-hiệu cho bọn Việt Cộng. Bởi vì chính bọn Việt Cộng mới là kẻ được thụ-hưởng còn những người cùng khổ là đại đa-số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “vật nhân-danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và bọn Việt Cộng càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ Việt Kiều dám nhìn nhận sự ấu-trĩ, hèn nhát, phản-bội, và bất nhân của họ.

Tùy thuộc vào những gì Việt Kiều có và những gì Việt Cộng cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến-thuật. Chiến-lược là: trấn-lột là trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời-gian để thêm lần nữa nhận-diện Việt Cộng đổi thay về cái gọi là chính-sách đối với Việt Kiều.

F.-Việt-Kiều là Phản-Quốc:

Cộng-sản xem những người vượt biên, vượt-biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản-động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ điếm, lười biếng v.v. không một hình-dung-từ xấu xa nhơ bẩn nào mà VC không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ-nhiên Việt Cộng cũng có chính-sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch-thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân-nhân bị giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lý, bị kỳ thị. Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp-lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản-Quốc vẫn còn đó, chờ cơ-hội lên án và trừng phạt.

G.- Việt-Kiều là khúc ruột nối dài:

Khi nền kinh-tế trì-trệ, tài sản Quốc gia bị Việt Cộng đục khoét tham nhũng; lầm than, thống-hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều-kiện làm cuộc bạo loạn. Việt Cộng liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản-Quốc” kia thành Việt Kiều; rồi hóa thân cho Việt Kiều thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử-nghiệm, Việt Cộng thấy rằng còn có thể khai-thác tận-dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều-Vụ Nhiệm-vụ chủ-yếu của Kiều Vụ là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả-năng, trí-tuệ của Việt Kiều hầu giữ vững chiếc ghế quyền-lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ-phận Kiều Vụ không những chiêu dụ Việt Kiều về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương-trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư-bản đỏ đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ-chức những bọn nầy thành lực-lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính-nghĩa, làm nản lòng Người tâm huyết.

Nhưng hạnh-phúc không bao giờ đến với kẻ phản-bội! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh-nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân-cách. Thật vậy, người Việt Nam định-cư nước ngoài tuy vì nhiều lý-do nhưng lại cùng một nguyên-nhân là kinh-tỡm Cộng-sản, họ cũng là chứng-nhân xác nhận bọn ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam là quân vô lại, bất-nhân, bạc-ác không đáng để được gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước khi ra đi Việt Kiều đều ít nhiều ấp ủ:

Một ước mơ: Cộng-sản phải đổ

Một hoài bão: Nhân-dân Việt Nam được sống đúng với giá-trị con NGƯỜI.

Thoát được xiềng ách Cộng-sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng-sản Việt Nam trước lương-tâm nhân-loại. Ước-mơ và ý-chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương-tâm loài người, và Nhân-loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tỵ-Nạn Cộng-Sản Việt Nam họ đã từng được:”thế giới ngưỡng-mộ như những anh-hùng”.

Nhưng rồi vì một số trong những người Tỵ-nạn Cộng-sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí-hướng, họ phản-bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, cũng từng là đồng-tâm, đồng-bào, đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đấu. Sự phản-bội đã có hậu-quả xảy ra. Tương-quan giữa hậu-quả và nguyên-nhân là tỷ-lệ thuận.
H.- Loại Việt Kiều áo gấm về làng:

May mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh-hoang, kiêu căng và thích thú. Chúng bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan-lạc dục vọng, chúng thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn hạ với bọn cán-bộ Cộng-sản để an toàn. Chính bọn Việt Kiều nầy, phần đông đã cung-cấp tin-tức, vu khống người Việt hải-ngoại cho Việt Cộng, biện-hộ và đồng-lõa sự tham bạo của Việt Cộng với nhân-dân trong nước. Khi trở lại nơi định-cư, chúng rỉ tai tuyên-truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn Việt Kiều vô lại nầy tình-nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi Việt Kiều cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền lực mà cúi đầu phủ phục trước mũi giày Cộng-sản hoặc a tòng với cộng sản trong những mưu-đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn nầy đã bị Việt Cộng cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh-toán bởi ghen tương.

I.-Việt-Kiều nhân-danh tình thương:

Tình thương và lòng nhân-ái, Quê-hương và Tổ-quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn Việt Cộng, Việt Kiều. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường che giấu chân-tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị bọn Việt-cộng liên minh với Việt Kiều bất lương kinh-doanh. Lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương (nói theo ngôn ngữ của Nhật-Tiến). Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v...(như của Nguyễn xuân Bảo hay của Vũ thành An - nghe đến đây Cộng-sản vừa ngạc-nhiên vừa mừng!)

Ðây là trách-nhiệm của ngụy-quyền Cộng-sản, toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa-vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm Người cho Dân Việt. Tại sao kinh-tế Quốc-doanh bao giờ cũng ghi nhận thua và ngân-sách Quốc-gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư ? Bởi vì, toàn-bộ các công-ty Quốc-doanh phải đài thọ cho cá-nhân và toàn gia-đình của non 500 ủy-viên trung-ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán-bộ. Theo sự tiết-lộ của "Tổng công-ty Xuất khẩu hải sản Miền Nam Seaprodex" (đơn-vị trực tiếp chi trả mọi chi-phí cho Mai-chí-Thọ, và tên Ðại-tá quản-gia của y, cho Vũ-đình-Liệu và một số quan chức đỏ khác) thì cứ 4 tháng 1 du học sinh (loại được du học do lý lịch) phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn ở, xe cộ, bảo-hiểm...) 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán-bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hỡi phường bất lương

J.-Việt-Kiều văn hóa, văn-nghệ:

Loại Việt Kiều nầy trở về khúm núm bợ đỡ xin áo cơm (như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan…).Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo-hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời-luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương-nhiên loại Việt Kiều nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tỵ-nạn vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay.

Chưa về, cứ tưởng mình ngon
Về rồi cúi mặt như con chó hèn

Hay

Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ
Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha
Việt kiều về nước hát ca,
Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.

Ước mong các ca-sĩ, các trung-tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào.

K.-Việt-Kiều về hơp tác kinh-doanh:

Bọn nầy là những tên thương lái vô lương-tâm, chúng biết đồng-bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ nhục công-nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương…...những chủ Việt Kiều nầy có thái-độ gì không ? Thưa không, rất rõ ràng là không !

Dưới mắt bọn Việt Cộng thì Việt Kiều phải là vật hy-sinh: Để bảo-vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái-độ quyết-liệt với nhau khi nội-vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia Việt Cộng xử tử Việt Kiều để bịt đầu mối như vụ bà Việt-kiều Nguyễn Thị Hiệp ở Canada, hay vụ tống vào tù để trấn lột như Việt-kiều Trịnh-vĩnh-Bình ở Hòa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ-kim; và Việt Kiều Lưu-hùng-Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài-Gòn Nam California, Hoa-kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu đô-la về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân !

Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng-bào căm hận Việt-kiều đã đóng vai Việt-gian, đồng lõa với Việt-cộng, gieo bao đau thương tan tác thãm-nạn, nên trong nước có câu ca-dao mới
như sau:
  
Việt-Gian, Việt Cộng, Việt-Kiều,
Ba thằng Việt ấy, tiêu-điều Việt Nam .

Hay:

Việt-gian, Việt-cộng, Việt-kiều,
Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ?
Việt-kiều, Việt-cộng, Việt-gian
Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu

Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin lược trình bài phóng-sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris :
Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định-cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống-thiết như sau: "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý-do nhân-đạo, tôi trân-trọng thỉnh-cầu nước Pháp vui lòng chấp-thuận cho tôi được tỵ-nạn chính-trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương tôi không còn duy trì chế-độ Cộng-sản”. Nhưng ông Tuyền đã phản-bội tư-cách tỵ-nạn của ông liên-tục từ năm 1995 đến Tết Canh-Thìn 2.000 tới 7 lần (Chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ-quan bảo-vệ những người tỵ-nạn và vô Tổ-quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf-Conduit (hộ-chiếu đặc-biệt) của Cảnh-sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông-báo rút lại thẻ tỵ-nạn với lý-do: "Ông tự-ý trở về xứ cũ, khi chế-độ độc-tài Cộng-sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý-kiến hoặc thông-báo cho cơ-quan chúng tôi biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tỵ-nạn chính-trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A-2 của Hiệp-định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tỵ-nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao-Ủy Tỵ-Nạn Liên-Hiệp-Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách-nhiệm với ông, về tình-trạng cư-trú, xin việc làm, hưởng trợ -cấp xã-hội, theo diện tỵ-nạn chính-trị”. Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình-trạng tương-tự là 22.417 người. Theo lời ông M.Motu thì người tỵ-nạn có quyền trở về xứ cũ trong trường-hợp đặc-biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ; trong các trường hợp đó người tỵ-nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến tòa Ðại-sứ Việt Cộng xin visa trước khi có hộ-chiếu đặc-biệt. Tên trưởng-phòng cấp chiếu-khán Việt Cộng rất đểu cán khi giải-thích vấn-đề nầy: "nhà nước Việt Nam rất có thiện-chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh-sách ghi nhận tất-cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông-hành) lên sứ-quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính-phủ Pháp là nhằm mục-đích chứng-minh cho dư luận Quốc-tế thấy rằng, bọn Việt-kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý-do kinh-tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân-quyền như bọn họ đã từng vu-khống”. Và một giới chức cao cấp trong bộ Ngoại-giao Pháp mạnh-mẽ phản-đối:

- Chính-phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính-phủ Việt Cộng từ lâu, qua các trào Võ-văn-Sung, Mai-Văn-Bộ, Trịnh-ngọc-Thái, Nguyễn-chiến-Thắng và Nguyễn-mạnh-Dũng đã xem người Việt Nam là thành-phần cực-kỳ phản-động, cần phải triệt-hạ, khéo-léo áp-dụng chính-sách gậy ông đập lưng ông” .

-
Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tỵ-nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tỵ-nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ ty-nạn.

- Sau khi cấp chiếu khán bừa- bãi, tòa đại-sứ lại ra thông-cáo cho Bộ Nội-Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam .

- Một khi bị rút thẻ ty-nạn, họ bị mất luôn thẻ thường-trú (Carte de séjour). Muốn xin việc làm phải có thẻ Lao-động (Carte de travail). Nếu muốn cư-ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tỵ-nạn đang được sống Tự-do, bỗng trở thành công-dân Việt Cộng, đặt mình dưới sự kiểm-soát của CSVN cho đến mãn kiếp.

- Chính-phủ CSVN cũng phải hiểu rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lõa. Cấp visa cho người tỵ-nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn-đề nầy với chính-phủ CSVN

     Ðồng-bào trong Nước đã đầy ắp thống khổ và căm-hận. Chấm dứt ngay những con người manh-tâm mang "lòng Việt gian" trong chiếc áo Việt Kiều. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn muốn trở thành VIỆT KIỀU.

Tống-Phước Hiến


-----------
 From: thomas tran <zigzag928@yahoo.com>
    Subject: Re: [VN-Online] QUA THÁNG TU+ RO^`I
Mot Cựu Công Chức Cộng Hòa da tam su voi mot Việt kieu,

    (Khong biet lam tho , Xin duoc ke lai Nhan Ngay 30 thang 4 nam 2012,)
    Moi dem ve trong cai ngo hem nay toi lai nghe duoc tieng khoc, tieng khoc ke le, tieng khoc tuc tuoi khong lon nhung du de nghe thay , du de cam thong ..
    . Nhin những dau khổ bất hạnh chỉ biết khóc , Toi da khóc như những người cha khóc con, khoc chau, hay những ba` ngoại  dau xót thưong nhung dứa cháu gai nhỏ bé bất hạnh mà bà dã không the che cho truoc cac nghich canh. Nhung dua tre 13 14 15 da bat dau khoc tham , khoc de tham thia cuoc doi.

    Cuộc chiến trước nam 1975 là một cuộc chiến Nam Bac, Người Viet chem giết lẫn nhau, Sau ngày 30 tháng Tư nam 1975 , Người Việt tiếp tục thanh toán nhau trả thù không nương tay . Người mất cha, kẻ mất chồng, mất con,  có những tiếng khóc rống trong dêm lồng trong khung cảng dau thương tàn tạ nghéo nan của dất nước . Gia tài nhà cửa mất hết . Ca nước ngheo kho trong nhung vung kinh tế mới . Vao nam 1980 người Việt bắt dầu trở về voi nhiều dollar. Và cuộc sống xa hoa bắt dầu . Bất kể kẻ sang người hèn, thất học hay có học , Sau vài năm xa quê hương nay trở vê họ la Việt Kiều và nhiều rất nhiều tien. Xã hội dang trong cơn túng quẫn nghèo khó , Tiền, Tiền , Tình, Sex.  Che do CS va Tu Ban da giao thoa tai mot thoi diem  X. Dat nước dã trải qua một tình trạng tệ hại nhât trong lịch sư của VN. Xa hội băng hoại từ gốc rễ, Cac giá trị dạo dức không có chỗ dứng , nếu có cũng chỉ là rất khiêm nhường trong một cuộc sống .
    Thấy dược các nguồn lợi nhà nước mở các trung tam du lịch phục vụ cho Viet Kiếu . Tổ chức du lịch dành riêng (,sex tour trá hình , ) nay không còn nữa . Va cũng không cần nữa . Vì các tổ chức dã bắt rễ vào cuộc sống của người dân, và việc phục vụ Việt Kiều trở thành chuyên nghiệp ,  vấn dề mai mối dưa rước gai cho Viet Kiếu da phát triển theo kiểu bùng phát . Dôi khi so cung vượt quá số cầu .  dua dến tình trạng du thua va da co cac tổ chức moi gioi hon nhan Hàn Kiếu. cung chi la so it, Moi nam co the toi nhieu chuc ngan co gai trinh da duoc cac Viet Kieu chieu co, con so nay chi la uoc luong , nhung cung dua theo cac hieu biet co dan chung.
    Thay duoc moi loi lon Nha nuoc dua ra cac chinh sach vo vet dan ap boc lot va tham nhung. lam cuoc song tu nong thon den cac do thi cang kho khan hon, Nguoi dan chi con cach ban con, ban vo de song,
    Khuc ruột ngàm dặm van tiep tuc lam dau kho  quê hương .
    Tren 30 nam da qua toi van con nghe  Tieng khóc trong dêm vẫn vang vang do’ dây cac the he cu noi tiep nhau no am i nhu tieng tho cua nhung nguoi dan o day
    Da co bao nhieu ngo hem nhu cai ngo hem nay tren cac thanh thi, thon que VN


Melbourne : Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long trong bài giảng“ôn cố tri tân”

http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/11/VTT-76-NOV-10-babui_112011_1.jpgXin giới thiệu toàn văn bài giảng chúa nhật 29.04.2012 của Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám mục phó Tổng giáo phận Melbourne (Úc Đại Lợi) để quý Cha, quý thầy và anh chị em khắp nơi có cơ hội hiệp thông.
 
Kính thưa toàn thể qúy ông bà anh chị em,

Một lần nữa, ngày 30 tháng 4, ngày ghi sâu trong ký ức của toàn dân Việt Nam như một ngày Quốc Nạn lại trở về với chúng ta, nhất là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Có nhiều người nói rằng chúng ta không nên nhìn về qúa khứ nữa, chúng ta không nên tưởng niệm ngày quốc nạn hay quốc hận nữa mà hãy hướng về tương lai. Có không ít người còn nói rằng: “Việt Nam bây giờ đã đổi mới, chính thể Cộng Sản đã thay đổi với thời đại, đâu còn gì để chúng ta phải ôn lại dĩ vãng xa xưa, hãy bắt tay vào việc xây dựng tương lại của đất nước trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tiến về tương lai nếu chúng ta không biết nhận ra những bài học của lịch sử? Có “ôn cố mới biết tri tân”. Tôi thiển nghĩ rằng, không ai thiết tha với vận mệnh của dân tộc Việt Nam có thể làm ngơ trước những bài học của lịch sử. Nếu lịch sử là một dòng sông thì những bế tắc trong chiều dài của nó phải được đả thông cặn kẽ. Lúc đó dòng sông mới được chảy đều và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu; lúc đó chúng ta mới mong có tương lai tươi sáng.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những phương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước. Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Kính thưa toàn thể qúy vị và nhất là các bạn trẻ,

Hôm nay chúng ta cùng “ôn cố tri tân” trong niềm tin vào tiến trình tất yếu của lịch sử. Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến những nạn nhân trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Chúng ta cùng ôn lại những bài học của lịch sử. Nhưng trên hết, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta sự an ủi và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một bình minh mà bóng tối của tà thần sẽ không chế ngự được. Thánh Phêrô đã dùng lời Thánh Vịnh để nói với dân chúng về Đức Kitô rằng “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. “Người thợ xây” trong bối cảnh này chính là những con người tượng trưng cho thế lực của bóng tối và tội lỗi. “Người thợ xây” đây là Giuda, là quân dữ, là những kỳ mục, là Philatô, là Cêsarê và đồng thời là tất cả những ai đứng về phía của sự dữ. Họ đã loại bỏ Đức Kitô, tức là loại bỏ ánh sáng và sự sống, công lý và sự thật cùng tất cả những giá trị nhân bản và siêu nhiên. Nhưng Đức Kitô là phiến đá bị họ loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường. Ngài đã chiến thắng trên tà thần và tội lỗi. Chiến thắng của Ngài vượt không gian và thời gian, để rồi những ai đứng về phía công lý và sự thật đều được thông phần vào chiến thắng của Ngài. Qủa thế, dù cho thế lực của sự dữ lấn án sự lành, dù cho những kẻ cường bạo giết hại những bậc chí nhân, nhưng chúng ta có thể tin chắc vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, “người thợ xây” là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; “người thợ xây” là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và “phiến đá bị họ loại bỏ” là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc,hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng. Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.


“Ta là mục tử nhân lành. Ta hiến mạng sống vì chiên ta”. Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay nói lên một chân lý bất hủ là chỉ có tình yêu hiến thân cho người khác mới là lẽ sống của người tín hữu. Sứ mạng của Đức Kitô cũng chính là hiến thân để sự sống viên mãn được thể hiện nơi con người. Hôm nay, một cách đặc biệt, chúng ta tưởng nhớ đến những người con của tổ quốc đã vì nước vong thân. Họ đã chẳng màng danh vọng, vinh quang, phú qúy hay trường thọ. Họ hy sinh chính mạng sống ngay trong tuổi thanh xuân để quê hương có ngày tươi sáng. Chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước những gương anh linh của tổ quốc. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về mục đích mà chính họ đã làm những viên gạch lót đường: đó là sự sống viên mãn cho tha nhân, sự phục hưng cho dân tộc và sự trường tồn của cơ đồ tổ quốc.

Kính thưa qúy ông bà anh chị em,

Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta. Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.

Bài Xem Nhiều