We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 5 May 2012

Tạp Ghi Quỳnh Giao : Ðốt lò hương cũ...

Ðốt lò hương cũ...

I shall have vanished leaving few remains:
a lute, troth-incense burned in days gone by.
Sometime, if ever you will tune this lute
among the grass and leaves you'll see a breeze
waft back and forth -- you'll know that I've come home

Nguyen DuChúng ta nhớ Truyện Kiều ở khúc biệt ly ban đầu, trước khi nàng Kiều bán mình chuộc cha, có hai câu bất hủ:
Mai sau dù có bao giờ,
Ðốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Hình như “mai sau dù có bao giờ” là câu đã được Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc dẫn vào một bài phiếm trong cuốn “Trước Ðèn” của ông. Còn câu “đốt lò hương ấy” thì được Ðinh Hùng mượn lại cho một di cảo, vì tác phẩm xuất bản năm 1971, bốn năm sau khi nhà thơ đã tạ thế vào ngày 24 tháng 8 năm 1967. Ðinh Hùng mượn lại chữ Kiều nhưng sửa thành “Ðốt Lò Hương Cũ”...
Cuốn sách chưa đầy hai trăm trang chỉ có 14 bài đã được nhà Lửa Thiêng xuất bản tháng 7 năm 1971 với lời giới thiệu như sau:
“Cuốn 'Ðốt Lò Hương Cũ' được xem là sáng tác cuối cùng của cố thi sĩ Ðinh Hùng. Ðiều mà Ðinh Hùng không hề nghĩ tới là quyển sách ông viết về những người đã chết lại không được xuất bản trước khi ông qua đời. Một số những kỷ niệm này tuy đã được ông đọc trên đài phát thanh hoặc đăng trên một vài tạp chí, nhưng sau đó đã được ông sửa chữa lại và dự định xuất bản. Nhưng sách chưa ra thì ông đã mất.”
Người viết đọc lại cuốn này qua ấn phẩm tái bản ở hải ngoại vào Tháng Bảy, 1991. Vì nhớ lại Tháng Tư, 1975 nên lại đọc lần nữa và hồi niệm về những người đã khuất.
Trong cuốn Kiều, hai câu thơ đó là tâm sự Thúy Kiều nhớ về Kim Trọng trước khi phải rũ áo. Nàng nhớ lời nguyện ước ba sinh và cung đàn xưa với chàng Kim nên mới nói cùng em gái rằng “đốt lò hương ấy” và “so tơ phím này.” Nhà thơ Ðinh Hùng sửa ra “đốt lò hương cũ” để tưởng niệm các văn thi sĩ quá cố ông quen biết từ hai chục năm trước, những người mà ông vinh danh là bất tử, “không bao giờ chết.”
Vào lúc ấy, Ðinh Hùng sống trong Nam và đem lại cho Sài Gòn phong cách văn hóa riêng với nhiều chương trình phát thanh và những sáng tác làm đẹp cho văn chương Việt Nam. Vậy mà ông vẫn tìm về kỷ niệm. Nhờ đó hậu thế mới thấy được tâm tư và tài hoa Ðinh Hùng cùng nét văn minh của người nghệ sĩ trong cõi tự do.
Trong di cảo của Ðinh Hùng, Quỳnh Giao nhớ nhất bài “Thạch Lam Thẩm Âm” vì bài viết mở ra một chân trời mới cho những kẻ đi sau mà cũng là một khung trời đã chết. Bài này kể lại một tiệc rượu chầu tại ngôi nhà của Thạch Lam ở Hà Nội. Hôm đó có đủ những “tai mắt,” chữ tai mắt này là của Ðinh Hùng, của Tự Lực Văn Ðoàn, gồm có Nhất Linh, Thế Lữ, Thạch Lam, Khái Hưng, Trần Tiêu và ba “tiểu quỷ” là Nguyễn Tường Bách, Huyền Kiêu và Ðinh Hùng.
Chiều hôm đó, giữa tiệc rượu trong nhà Thạch Lam, không rõ là ai đã cao hứng mà khởi xướng ra việc “Ði hát Ả đào”! Kết cuộc thì Thạch Lam ôm vò rượu theo anh em tìm nơi ca hát mà chẳng biết nơi nào mới thanh lịch, kể cả Thạch Lam, tác giả của “Hà Nội băm sáu phố phường.”
Cuối cùng thì họ xuống Ngã Tư Sở và bị lạc trong khu bàn cờ cho đến khi được một người chỉ ra sinh lộ. Người đó là Nguyễn Tuân và sinh lộ ông chỉ ra là trà thất của nàng Bạch Liên, có nghệ danh là “cô đào Sen.”
Vì khách hôm đó toàn những danh gia khét tiếng nên cô đào lập tức huy động các danh kỹ thuộc đàn chị. Ðinh Hùng kể ra những tên tuổi khiến chúng ta, hạng con cháu sau này, chợt thấy bồi hồi. Hai chị em Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm, Dì Trưởng Bẩy, Bích Thạch Hồn, Hồ Vạn Thái, hay Phúc Hậu một đào nương đã từng là người tình của Ðoàn Phú Tứ.
Khi chầu hát được bất ngờ mở ra, Ðinh Hùng kể lại rằng Nhất Linh, Khái Hưng và cả Thạch Lam đều cao hứng ngồi đánh trống chầu mà chẳng ai là khách quen của làng ca trù.
Ðám hậu sinh chúng ta đều biết từ khi đi học rằng Thạch Lam tạ thế rất sớm, ở tuổi 32 vào năm 1942. Nhất Linh thì du học bên Pháp từ năm 1927 và đến năm 1930 mới về nước. Khái Hưng thì bị thủ tiêu vào năm 1947, còn Nguyễn Tuân ở lại bên kia vĩ tuyến làm một thứ cây cảnh.
Qua bài viết của Ðinh Hùng về buổi tiệc chầu, hậu thế biết thêm nhiều chi tiết.
Nhất Linh được gọi là “tai” vì giỏi nghe nhạc dù là nhạc Tây phương, lại còn biết thổi kèn “clarinette,” Thế Lữ được gọi là “mắt” vì có thị giác rất tinh, Khái Hưng là “lưỡi” vì ăn nói đều nhanh, còn Thạch Lam là “mũi” vì đánh hơi rất sành những miếng ngon của Hà Nội.
Nhờ bài viết của Ðinh Hùng, mình có thể xác định trận trống chầu và tiêu phách ly kỳ đó ở vào thời mà ta gọi là “tiền chiến,” nghĩa là sau năm 1939 khi Nhất Linh hồi hương, nhưng trước năm Thạch Lam tạ thế là 1942.
Nhớ chuyện Tháng Tư, Quỳnh Giao nhắc tới Ðinh Hùng và tập di cảo của ông vì nhờ nhà thơ và nhà văn này mà hậu thế mới biết về phong cách rất đẹp của các văn nghệ sĩ thời xưa. Viết như ông mới thật là “viết cho hậu thế” để cảm tạ tiền nhân, kể cả khi ông viết về những nét phù du của nghệ sĩ và nghệ thuật.
Chi tiết làm chúng ta thấy mình chậm tiến là khi Ðinh Hùng kể lại rằng Khái Hưng dù đã say vẫn ngồi rất chững. Ông đường hoàng múa roi chầu điểm thêm hai tiếng Thôi Cổ là trống giục. Nhưng đến hồi gay cấn là khi đào hát cất tiếng, Khái Hưng giáng liền hai tiếng Song Châu vào tang trống khiến cái trống văng từ trên giường xuống sàn gác và lăn long lóc vào gầm bàn. Sau đó, Khái Hưng lăn theo, tay vẫn cầm roi chầu, tay kia níu lấy trống và rút cuộc thì chui dưới gầm bàn ngáy khò khò. Bạn hữu gọi dậy thì họ cứ ngồi lì dưới gầm bàn mà uống tiếp.
Thời ấy, chúng ta chưa có phim ảnh hay máy ghi âm nên đã mất hết. May là còn có Ðinh Hùng và lời tâm niệm đốt lò hương cũ. Nhà thơ viết cho các người bạn quá cố rồi cũng từ trần sau đó, nhưng nhờ sách báo xuất bản, mình được biết về ký ức một thời.
Xin thắp nén nhang cho nhà thơ tài hoa trong tiếng nhạc “Chiều Tím.” Ca khúc nổi tiếng này là do Ðan Thọ viết nhạc rồi Ðinh Hùng mới viết lời thật nhanh. Không là bài thơ mà vẫn cứ như thơ mới là chuyện thần tình.
Ðọc lại Ðinh Hùng thì mình ngậm ngùi thấy rằng đời sau vẫn thua xa.
 Tạp Ghi Quỳnh Giao


Đi, gặp và nghe nói : " Quê Hương Là Chùm VC " Cướp Dân-Bán Nước "

Kính chuyển.
Người Việt ở trong nước từ đại gia cho đến kẻ bần cùng kể cả những kẻ quyền uy cũng muốn bỏ nước ra đi ( kẻ uy quyền thì tháo chạy để an toàn cả tính mạng lẫn tiền tài đã cướp được của dân ).Nhưng ngược lại có những kẻ nghe bùi tai " Quê hương là chùm khế ngọt " ở hải ngoại lại hăng hái và cuồng nhiệt trở thành " chim dại " chui trở lại chuồng cũ mà năm xưa chính mình đã cố sức chui ra.
Loan.

 

Đi, gặp và nghe nói

 

Trên chuyến bay đường dài xuyên lục địa, rất tình cờ tôi được xếp ngồi bên một phụ nữ người Á Đông. Trong đầu có ý nghĩ cô là người Việt Nam nhưng với bản tính dè dặt vốn có, tôi không mở lời gợi chuyện làm quen vì trên các đường bay quốc tế trong thời gian hiện tại, có thật nhiều người tóc đen đi làm ăn lẫn đi du lịch nước ngoài. Trong khối người đó không ít "đại gia" với các quan chức nhà nước đi công tác lẫn đi "du hí" nước ngoài. Lẽ khác, tôi muốn giữ khoảng cách và nguồn gốc Việt Nam để thuận lợi trong việc quan sát, nghe thấy, ghi nhận cảm nghĩ của người Việt trong nước lúc di chuyển và chờ đợi ở các trạm chuyển tiếp trong các phi trường quốc tế.

Quả đúng như tôi tiên đoán, người phụ nữ ngồi bên cạnh đúng là người Việt Nam, cô đã chủ động hỏi tôi có phải là người Việt Nam không? Rồi từ thái độ dửng dưng lúc ban đầu, qua trò chuyện chúng tôi dần thân thiện với nhau lúc nào không hay. 

Có thể nói cô chiếm được cảm tình của tôi bởi những điều cô nói về cô có thể tin được. Cô là một doanh nhân thành đạt bằng chính sự chăm chỉ, cần cù lao động của cả gia đình cô. Sự thành đạt của cô hiện tại có nhiều may mắn, nó khởi đi từ chiếc xe cũ đưa rước khách nước ngoài của chồng cô, một người đàn ông hiền lành, chân thật đã tạo được sự tin tưởng của một doanh nhân Hàn Quốc đến Việt Nam tìm cơ hội làm ăn thời mở cửa, và sau đó nhiều doanh nhân khác qua sự giới thiệu về chồng cô của ông này như là một địa chỉ đáng tin cậy nên các doanh nhân Hàn Quốc đến sau đều tìm đến thuê mướn chồng cô đưa rước, đi đến trong lẫn ngoài thành phố Saigon đã bị đổi tên, giúp đại gia đình cô có cuộc sống ổn định so với số đông người dân Saigon còn lại thời đó. 

Đến khi cơ sở sản xuất của các doanh nhân Hàn Quốc đưa vào hoạt động, các thành viên trong gia đình cô lần lượt được nhận vào làm việc trong các cơ sở này. Một lần nữa do sự cần cù chăm chỉ, tận tụy tận tâm với công việc được giao phó, rồi nghề dạy nghề cô được đưa vào những vị trí cao hơn và trách nhiệm nhiều hơn. Cuối cùng cơ hội đến với gia đình cô, khi các ông chủ Hàn Quốc tín nhiệm giao khoán sản phẩm cho gia đình cô tự thuê mướn người, tự tổ chức điều hành công việc độc lập, không xen vào các quyết định thuộc công việc "nội bộ" của gia đình cô. Từ đó gia đình cô vươn lên có của ăn của để và sự thành đạt như ngày hôm nay, theo cô tưởng chừng như không thể tin được nhưng lại là sự thật. 

Câu chuyện cô doanh nhân thành đạt qua tài năng trí tuệ trong cuộc hành trình tìm kiếm thịnh vượng bằng chính đôi chân của chính mình, tôi được nghe trên chuyến bay dài xuyên lục địa, nếu câu chuyện chỉ có thế thì không có gì đặc biệt, đáng để kể ra ở đây. 

Điểm đặc biệt ở cô không chỉ biết làm giàu lo cho bản thân và gia đình, cô còn biết phẫn uất với bất công xã hội do các luật lệ kỳ quái của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa gây ra cho những người dân lao động nghèo sống chung quanh cô. Có nhiều điều cô nói với giọng bức xúc như vẫn còn văng vẳng bên tai tôi: "Tại sao bắt phạt người đội mũ bảo hiểm không đủ tiêu chuẩn khi tham gia giao thông mà không bắt người bán, người sản xuất?... Tại sao lại đòi phạt người dân lấy lãi ngân hàng cao hơn mức nhà nước qui định mà không bắt các ông ngân hàng trả lãi cao ngoài văn bản để lôi kéo khách hàng?..." 

Có lẽ bức bối dồn nén lâu ngày như quả bóng căng cứng không có dịp xả ra nên giọng nói của cô càng lúc càng thêm gay gắt, cô làm như chính tôi đại diện của nhà nước cộng sản Việt Nam không bằng: "Thử hỏi người dân lao động đầu tắt mặt tối chạy ăn từng bửa, bao nhiêu người biết cái mũ bảo hiểm nào tiêu chuẩn, cái nào không đủ tiêu chuẩn?... Là doanh nhân gởi tiền vô ngân hàng, anh muốn có được lãi cao hay lãi thấp?... Luật lệ gì như con nít làm luật!" 

Câu chuyện của cô doanh nhân mà tôi gặp trên chuyến bay xuyên lục địa chưa kết thúc nhưng tạm dừng lại ở đây, bởi trong chuyến đi dài ngày này, tôi còn gặp ba "đại gia" trong nước do thân nhân của một trong ba đại gia này sống ở nước ngoài giới thiệu. Một gia đình đại gia có nhiều quán ăn, nhà hàng ở thành phố Sàigon, đang xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp một trăm năm mươi căn hộ ở Mũi Né, Phan Thiết trên mãnh đất rộng nhiều mẫu tây, có con du học và có bất động sản ở nước ngoài. Một bà đại gia khác làm chủ bệnh viện tư cùng một số nhà cửa ở nơi đắc địa nhất Việt Nam là quận nhất Saigon và cũng có con du học thành tài trở về quản trị bệnh viện tư của bà. Bà đại gia còn lại làm chủ khu nghỉ dưỡng cho thuê kim làm chủ trang trại hoa tiếng tăm, cung cấp chính cho lễ hội hoa Đà Lạt cùng nhiều lễ hội của nhà nước lẫn tư nhân, khắp cả nước. 

Ở đây tôi không đi xa cũng như không đi sâu vào các thông tin ít ỏi có được mà chỉ có vài nhận định chung về ba đại gia này. Cả ba đại gia có điểm chung là ở nơi công cộng rất kín tiếng, nếu cần phải nói thì chỉ nói những câu đại loại chung chung như: "Đất nước còn nhiều khó khăn... nhà nước đang cổ phần hóa các công ty quốc doanh..." Những điều họ nói không khác mấy với những gì tôi được nghe mấy chục năm nay trên các phương tiện truyền thông của đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam. Thế nhưng ở nơi riêng tư, chỉ có tôi và riêng rẽ từng đại gia một thì nội dung cuộc nói chuyện có khác, có phần tích cực dễ thông cảm, đáng tin hơn tuy lời nói, cách diễn đạt của cả ba đại gia có khác nhưng có cùng một ý chính: "Làm ăn ở Việt Nam phải quan hệ với quan chức nhà nước mới làm ăn được... cái gì kiếm được mình chuyển ra ngoài... còn làm ăn được thì làm, không được nữa thì chạy... nhà nước này tham ô từ trên xuống dưới, kể cả cấp thấp nhất là phường, khóm... họ làm từng dự án riêng lẻ để xóa dấu vết tiêu cực... sớm muộn nó phải sụp thôi!..." 

Có thể nói trong chuyến đi dài ngày xuyên lục địa, tôi đã gặp và nghe tâm tư rời rạc không đầu không đuôi của những người giàu mới nổi trong nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ cô doanh nhân đến các đại gia. Tất cả họ bày tỏ thái độ đối với nhà nước cộng sản khác nhau, người thì bảo "làm luật như con nít" kẻ thì nói "tham ô từ trên xuống dưới, sớm muộn nó phải sụp thôi!" 

Theo tôi, họ là thiểu số may mắn trong số đông kém may mắn trong nước hiện nay nên họ không có nhu cầu dựng chuyện "nói xấu" hoặc mang lòng thù hận như "ngụy quân, ngụy quyền; bọn phản động lưu vong; các thế lực thù địch nước ngoài..." có âm mưu tuyên truyền chống phá chế độ như nhà nước thường rêu rao, họ chỉ bày tỏ cảm nghĩ thật của mình đối với nhà nước cộng sản này, một nhà nước làm luật như con nít, một nhà nước tham ô từ trên xuống dưới, sớm muộn phải sụp thôi!... 

Tất cả những người này đều không có "nợ máu" với nhân dân như những người phải gạt nước mắt bỏ nước ra đi vào những ngày, tháng của năm 1975 thế kỷ trước. Thế nhưng tại sao trong tư tưởng của họ có ý nghĩ bỏ nước ra đi, có toan tính tháo chạy khỏi thiên đường cộng sản Việt Nam nơi họ sinh ra lớn lên với nhiều kỷ niệm "xã hội chủ nghĩa" gắn bó cả đời người, nơi mà những kẻ giàu tiền lắm bạc như họ lên xe xuống ngựa có kẻ hầu người hạ như ông hoàng bà chúa hơn hẳn các người giàu ở các xứ tư bản giãy chết. Thế thì tại sao... tại sao họ lại toan tính bỏ nước ra đi, còn là một câu hỏi khá nhức nhói cho ai còn lải nhải chế độ ta ưu việt, tốt đẹp vạn lần hơn...? 

Những tâm tình riêng tư của người Việt Nam cùng dòng máu đỏ da vàng mà tôi gặp và nghe họ nói trong chuyến đi dài ngày, khiến cho lòng tôi len nhẹ một niềm đau lẫn dậy sóng vui buồn lẫn lộn. Vui vì trong tất bật mưu sinh nhiều may mắn họ vẫn còn thấy được, phân biệt được tốt xấu, hay dở của một chính quyền làm luật như con nít, một chính quyền tham ô từ trên xuống dưới sớm muộn phải sụp thôi! Buồn vì nhiều người tài giỏi, lương thiện cứ toan tính bỏ nước ra đi thì lấy ai đấu tranh chống xấu ác, chậm tiến lạc hậu cho đất nước tốt đẹp hơn, cho tương lai Việt Nam sánh vai các nước tiên tiến và theo kịp thời đại? 

Tuy thế, tôi rất thông cảm cho sự chọn lựa hướng đi có phần tiêu cực bởi họ trưởng thành trong khuôn khổ xã hội chủ nghĩa, được dạy "vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc" nên trong họ không còn một tổ quốc để chết sống, để đi về, để "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" cũng như họ được dạy yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, nên chi khi nhận thấy chủ nghĩa xã hội hiển hiện trần trụi “xương trắng với da khô, với lúc nhúc giòi bọ” không có gì đáng để yêu, thậm chí là đáng ghét nên họ sẵn sàng ngoảnh mặt dứt áo ra đi không luyến tiếc, không có gì để trách họ, có trách có giận chăng là những kẻ đã gây nên hậu quả này. 

Hôm nay khi ngồi trước bàn phiếm ghi lại những cảm nghĩ rời rạc không ăn nhập gì với nhau nhưng rất thật của những người đồng bào tôi đã gặp, nghe họ tâm tình trong chuyến đi xuyên châu lục nhiều ngày và trong tôi vẫn còn in đậm nét nhiều hình ảnh không hư cấu, ngụy tạo của những người đồng bào không hẹn mà gặp trên xứ lạ quê người. Ôi, dân tộc tôi sao khốn khổ thế! Đất nước tôi gần bốn mươi năm được người ta hả hê gọi là thống nhất, chế độ của nước tôi được người ta ra rả ca ngợi tốt đẹp vạn lần hơn... thế mà sao đến hôm nay hơn nửa thế kỷ, kể từ ngày cộng sản cướp được Miền Bắc Việt Nam xây dựng xã hội chủ nghĩa vẫn còn có rất nhiều người toan tính bỏ nước ra đi. Tôi biết, đồng bào tôi biết còn rất nhiều người có ý định “tháo chạy” không chỉ có những người tôi đi, gặp và nghe nói mà có cả giòng tộc của những kẻ đang nắm giữ quyền lực, độc quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam thu gom vơ vét, buôn quan bán chức, bán cả giang sơn của tổ tiên nghìn đời để lại! 


NHỮNG GÌ NGHE THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG:GIẢI THỂ VGCS HAY LÀ CHẾT!?

LTS: CÁC ANH CÒN NHỚ HAY  ĐÃ QUÊN : BỞI VÌ AI MÀ RA  NÔNG NỔI NẦY?

                                                  ----------

Có nên hồi hương tranh đấu?

Ngay sau năm 1975, khi những người yêu nước ở quốc nội bí mật thành lập các tổ chức phục quốc để chống lại chế độ Cộng sản mới vừa cưỡng đặt lên miền Nam, thì những người Việt vừa ra hải ngoại tỵ nạn cũng đã bắt đầu nỗ lực hồi hương chiến đấu.  Người Việt Nam biết đến chí sĩ Võ Đại Tôn, sinh viên Trần Văn Bá, Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh như là những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần liều chết trở lại quê hương tìm sự sống cho dân tộc. Chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới đổi thay, lòng người nhũng nhiễu... song ý nghĩa và tinh thần hy sinh không tính toán đó vẫn luôn nguyên vẹn.


Gần bốn thập niên trôi qua, nhiều người Việt Nam lưu vong đã âm thầm tìm kiếm một con đường trở lại quê nhà để giải trừ nạn Cộng sản độc tài. Công luận biết đến một số vụ án phục quốc có tầm vóc song trong thực tế, có vô số nỗ lực âm thầm đã được thực hiện bởi các tổ chức đấu tranh và những người không chấp nhận sự cai trị của chế độ CS. Những sự dấn thân không tên tuổi này đã, đang và sẽ tác động không ít vào tiến trình giải trừ nạn độc tài, tham ô và bất công.
Trong thời gian gần đây, nhiều người đấu tranh từ hải ngoại đã cố gắng xâm nhập Việt Nam để tổ chức hoạt động. Một số nhỏ bị sa cơ và vướng vòng lao lý. Chuỗi sự kiện này khởi dậy một khuynh hướng tưởng đã qua đi là: hồi hương tranh đấu.
Công cuộc đấu tranh ngày nay không còn là nỗ lực phục quốc của những người VNCH thất trận lưu vong, hay chỉ là phản kháng riêng của người trong nước. Ranh giới "Quốc-Cộng" không còn đơn giản là sự đối kháng giữa những người có lý lịch Quốc gia và Cộng sản; mà là giữa những người muốn dân chủ hoá Việt Nam với những kẻ muốn bảo vệ chế độ Cộng sản -- giữa Thiện và Ác, giữa Dân chủ với Độc tài.
Sau 37 năm, hàng ngũ đấu tranh để thay đổi chế độ CS không còn đơn thuần chỉ là những người nạn nhân của chế độ CS ở miền Nam, mà đã được phát triển rộng lớn bởi những người yêu nước trí thức vốn có một khoảng đời đóng góp cho quá trình xây dựng và bảo vệ chế độ đương quyền. Cuộc đấu tranh cũng không còn là phản ứng của các thế hệ tham dự cuộc chiến trước 1975, mà mỗi ngày đang có sự hiện diện nhiều hơn của những người trẻ chào đời sau ngày đất nước chấm dứt chiến tranh bom đạn. Công cuộc dân chủ hoá Việt Nam ngày nay là một cuộc chiến mới bởi, do và vì toàn thể dân tộc.
Đối với tập thể những người ly hương đã ổn định cuộc sống ở quê hương thứ hai, thì ý tưởng hồi hương tranh đấu là một sự lựa chọn quan trọng và ý nghĩa. Nó khẳng định lý do ra đi bởi biến cố 30/04 là Tỵ Nạn Chính Trị -- không phải một cuộc trốn chạy vĩnh viễn và thiếu trách nhiệm.
Số lượng người trở lại Việt Nam để hoạt động đấu tranh có thể khó quy tụ được số đông để đủ sức mạnh thay đổi cục diện chính trị Việt Nam, song sự quay trở lại chắn chắn khơi dậy mạnh hơn tinh thần đấu tranh cứu dân, cứu nước. Đó là một chất xúc tác cần thiết để thúc đẩy phong trào quần chúng cùng nhau đứng lên đấu tranh để giành lại sự sống và quyền sống cho chính mình. Những người con Việt trở về an toàn hoạt động sẽ là nhân tố tích cực cho toàn cục. Trường hợp những người trở về không may bị bắt đi tù cũng biểu hiện được rằng: người Việt hải ngoại vẫn gắn bó với vận mệnh Quốc Gia và sự an nguy của đồng bào trong nước.
Dư luận từ những người ngoại cuộc có thể phê phán, chỉ trích này kia... song những ý kiến vô tình đó không cản trở được làn sóng những người ly hương có quyết tâm trở lại quê Cha đất Tổ để góp phần tranh đấu trực diện với chế độ độc tài Cộng sản. Ngày nay, với những điều kiện phát triển thuận lợi hơn so với thời gian đầu sau 1975, hầu hết các tổ chức đấu tranh đều có mặt ở cả hai địa bàn quốc nội và hải ngoại. Xuất xứ và hoàn cảnh của mỗi tổ chức mặc nhiên tạo môi trường hoạt động mạnh mẽ ở địa bàn này hay lãnh vực khác, nhưng ngăn cách địa lý không còn trở ngại như trước đây. Vì vậy, sự phối hợp trong - ngoài giữa các tổ chức, và trong mỗi tổ chức, đang mỗi ngày một phát triển sâu rộng hơn.
Trong chiều hướng đó, việc người hải ngoại về nước đấu tranh cũng cần được ủng hộ và trân trọng tương tự như người đang dấn thân đấu tranh ở trong nước. Với tinh thần dấn thân đấu tranh không ngại mất mát, hiểm nguy... những chiến sĩ tự do từ hải ngoại về nước đấu tranh cũng đáng để được tuyên dương như những nhà dân chủ ở quốc nội.
Hồi hương đấu tranh để có Dân Chủ Tự Do cho đất nước không là vấn đề NÊN hay ĐỪNG, KHÔN hoặc DẠI, mà là một nhu cầu hoạt động bình thường của những người còn nặng lòng với quê nhà. Số lượng người hải ngoại về hoạt động trong nước càng đông thì càng tốt; nếu số người bị bắt có tăng lên thì càng chứng tỏ là nhà cầm quyền Việt Nam không muốn đất nước có dân chủ, dù là với các phương thức ôn hoà bất bạo động, mà chỉ muốn độc tài cai trị. Khi người đã ra đi lại ồ ạt trở về để tạo điều kiện hoạt động sinh động hơn, thì khí thế đấu tranh sẽ mang hướng tích cực hơn. Khi ranh giới địa lý giữa quốc nội và hải ngoại không còn cách ngăn được người ỏ trong và ngoài nước, thì vòng cô lập của chế độ sẽ mất hiệu nghiệm, và phong trào dân chủ sẽ bùng dậy, phát triển nhanh hơn.
Mong sao rằng làn sóng hồi hương tranh đấu sẽ trở thành một phong trào đấu tranh mới, góp phần đẩy mạnh công cuộc giải trừ nạn độc tài, tham ô và bất công trên đất nước chúng ta.
Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)
www.vidan.info

-----------

Khi Việt cộng “tha tù” và những điều cần biết


Hàng năm, cứ đến tháng Tư, thì thế nào người dân cả nước cũng được nghe, xem, biết đến những màn trình diễn mà nếu tinh ý một chút, thì sẽ thấy ngay được những nhân vật nào đã được đảng Cộng sản Hà Nội nhắm tới, và chọn để đưa ra trình diễn trong dịp “mừng đại thắng tháng Tư”.
Nhưng có một điều, mà người viết cứ thấy như là những chuyện đùa; đó là, có những tổ chức thuộc hàng “quốc tế”, mà cứ luôn luôn đòi Việt cộng “phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện”.
Làm sao mà “trả tự do khắc và vô điều kiện” được. Bởi vì, CẦN PHẢI BIẾT ở trong chế độ của Cộng sản Việt Nam, một khi đã bị bắt vào nhà tù rồi, thì lúc trả tự do, cũng đều phải qua các thủ tục như quyết định ký, và cấp “giấy phóng thích – giấy ra trại”, đó là chưa nói đến người tù phải viết “kiểm điểm” nữa. Và cũng cần phải biết đảng Cộng sản Việt Nam không giống như những đảng Cộng sản khác trên thế giới. Vì chính những lẽ đó, cho nên bất cứ một tổ chức nào, nếu muốn đấu tranh để giải trừ đảng Cộng sản Việt Nam, thì cũng cần phải tìm cho ra những kế sách hữu hiệu nhất, hầu để đạt đến mục đích tối thượng, chứ cứ theo những kiểu “đấu tranh” bằng những  “đòi quyền làm người -kiến nghị - thỉnh nguyện thư” thì chắc chắn sẽ không bao giờ đem đến những kết quả như ý nguyện của tất cả đồng bào hiện đang phải sống dưới ách thống trị của đảng Cộng sản Hà Nội.
Còn nhớ, những năm  trước ngày 30:4/1975, cũng từng đã có những tổ chức, đã từng hô hào “phản chiến” rồi “thành phần thứ ba” suốt ngày, suốt tháng cũng cứ kêu gào “Mỹ phải rút quân tức khắc”, “Thiệu-Kỳ phải từ chức tức khắc”. Làm sao mà một lực lượng quân đội từ nước Mỹ sang, và một ông Tổng thống-Phó Tổng thống - một chính phủ mà phải “tức khắc” cho được, vì mọi việc, nó đều phải có trình tự hẳn hoi, ngay như cái chuyện ăn và ngủ, mà vẫn không thể “tức khắc” ngay được kia mà. Và lấy cái quyền gì mà đòi mọi thứ đều phải “tức khắc”, nếu không phải là có đảng Cộng sản Hà Nội chống lưng.
Và cũng chính vì thế, nên các tổ chức tranh đấu tại hải ngoại nếu muốn đòi Việt cộng phải “trả tự do tức khắc” cho bất cứ người “tù lương tâm” nào, thì cần phải có sự hiểu biết về những cách “giảm án” của chế độ Cộng sản Việt Nam, để cho mọi người chưa biết sẽ hiểu được, mà không bị người khác lừa gạt, vì mỗi lần có một “tù nhân lương tâm” nào đó, được ra tù, thì mấy cái tổ chức “đấu tranh” này lại tự nhận là do công lao của họ đấu tranh, nên Việt cộng mới trả tự do cho những “tù nhân lương tâm” ấy, người viết xin tóm lược như sau:
Mỗi năm, ở trong các trại tù của Việt cộng, đều có tổ chức những “buổi lễ giảm án”. Những tù nhân được giảm án, là “diện” đã bị kết án trên ba năm, họ có thể được giảm từ ba đến sáu tháng, cũng có người có án tù trên 10 năm được giảm một năm còn dưới 03 năm, thì không được nằm trong “diện xét giảm án”. Do đó, nếu có án dưới 3 (ba) năm mà được ra tù trước thời hạn là vì những lý do khác… chứ không phải vì sợ các tổ chức “tranh đấu nhân quyền” của người Việt hải ngoại mà Việt cộng phải thả những người nầy ra… tức khắc.
Điều tiên quyết  để được giảm án, là đã “chấp hành nghiêm chỉnh: Bốn tiêu chuẩn học tập cải tạo của Bộ Nội Vụ” và “Nội quy của trại”.

Và, đây là: “Bốn tiêu chuẩn cải tạo:
1- Thành khẩn khai báo hết tội lỗi của bản thân và tố giác những tội lỗi của người khác mà mình biết.
2- Lao động tự giác
3- Chấp hành nghiêm chỉnh Nội Quy và các pháp lệnh nhà nước
4- Giúp bạn cải tạo cùng nhau tiến bộ”.
Với những điều đã ghi trong “Bốn tiêu chuẩn học tập cải tạo” và “35 điều Nội quy” có trại tới “38 điều” vô cùng ác nghiệt, vì thế, cho nên tù nhân khó có thể được “giảm án”.
Về những người được ra khỏi nhà tù, nhưng phải chịu “quản thúc - quản chế”, thì thực ra cũng không khá hơn lúc ở tù là mấy.
Diện quản thúc, dành cho những “thành phần nguy hiểm”, những người này mỗi tuần đều phải đến đồn công an địa phương trình diện - báo cáo  và viết “Bản tường thuật” về những việc mình làm, những người đã tiếp xúc trong tuần, không được đi ra ngoài “tổ dân phố”, hoặc “nhóm” ở nông thôn; mỗi lần muốn đi thăm con, cháu đều phải xin phép “tổ, nhóm”, nếu không, thì phải chịu sự “tăng quản”. Ngoài ra, có người hàng tháng phải đến trình diện tại “Phòng bảo vệ chính trị 2” (cơ quan phản gián) để làm tờ khai trình đủ hết mọi sinh hoạt riêng tư trong tháng nữa. Những chuyện này, chỉ có dưới chế độ của Cộng sản Việt Nam. Thật kinh hoàng, khủng khiếp !
Diện “quản chế” thì dễ thở hơn, nhưng phải chịu sự giám sát của công an phường, khóm tại địa phương, không được tự do đi lại.
Sở dĩ người viết tự thấy cần phải viết ra điều này, bởi vì, ngày xưa người ta thường nghe nói đến chỉ một tên “Hoàng Cái”. Còn ngày nay, không ai có thể biết được đã và đang có bao nhiêu “Hoàng Cái” ? Và người Việt hải ngoại thì lại thích những người “tù lương tâm”. Vì vậy, thiết nghĩ chúng ta, phải càng cẩn trọng hơn, phải dò xét từng lời nói, từng tấm hình chụp trước khi “bị bắt vào tù” để phân biệt có phải là trình diễn hay không, để không phải “ôm” những người “tù lương tâm” do Việt cộng cung cấp…
Chúng ta không cho phép chính mình được quên rằng: Vũ Ngọc Nhạ đã từng đi vòng quanh từ Pháp, rồi trở về Việt Nam, từng xuống “tàu há mồm” di cư vào Nam, và để lấy lòng tin Vũ Ngọc Nhạ cũng đã từng đặt tay lên cuốn Thánh Kinh để thề trước mặt Đức Cha Lê Hữu Từ: “con không phải là Cộng sản”; cho đến sau ngày 30/4/1975, thì mọi người mới biết Vũ Ngọc Nhạ là một tên tướng tình báo của Việt cộng.
Ngoài những tên “Hoàng Cái” như đã nói, chúng ta, những người đã và đang đấu tranh chống cộng thực sự, cũng không được thờ ơ đối với những người luôn luôn tìm cách đến nhà với những hành động khả nghi và hay tìm hỏi về những thông tin cá nhân, và cả những người đã kéo cả bầu đoàn thê tử về Việt Nam “du lịch” hoặc hiện đang có con cái đang làm ăn thành đạt tại Việt Nam nữa…
Đã một lần bị mất nước, bị vào tù, bị mất hết tất cả, thì chúng ta không thể ngây thơ, mà cần phải ghi nhớ lại, ngày xưa khi những cán binh Cộng sản từ miền Bắc xâm nhập vào Nam, có người phải tự làm cho mình bị thương bị bỏ rơi, để được Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cứu thương rồi xin chiêu Hồi giả, cũng có người bị bắt, nhưng sau một thời gian đã thực lòng  xin được hưởng chính sách Chiêu Hồi, những người này, đã được làm việc tại các Trung tâm Chiêu Hồi, và họ đã khai rõ, là khi vào Nam họ được phép chửi Hồ Chí Minh, chửi càng nhiều càng tốt. Lại cũng có người đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã biết rõ là chiêu hồi giả, nhưng vẫn cho làm việc tại trung tâm Chiêu Hồi, và đến tận hôm nay hiện vẫn đang ở trong một vài tổ chức chính trị của người Việt hải ngoại…
Khi viết lên những điều này, người viết đã bao lần đắn đo, suy nghĩ, là có nên nói hay không, nhưng cuối cùng, tiếng nói của lương tâm đã thôi thúc mình phải viết, dẫu biết rồi sẽ có người thù ghét, sẽ tìm mọi cách để hãm hại, nhưng đã quyết tâm dùng ngọn bút để dấn thân vào con đường tranh đấu, hầu mong được đóng góp một phần bé nhỏ vào đại cuộc chung, thì đương nhiên đã chấp nhận mọi gian nguy, bất trắc, kể cả sinh mạng của mình, nên người viết phải viết ra những điều cần phải viết. Vì đó, là bổn phận và lương tâm của những người cầm bút.
Pháp quốc, 5/5/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 

Bài Xem Nhiều