We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 7 May 2012

“Mầy là thằng Việt Cộng” quyến rũ Việt Kiều


Việt cộng, việt cộng
 

            Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng… nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.
            Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “ Mầy là thằng Việt Cộng” thì  có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chủi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.
            Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:
            - Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.
            - Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?
            - Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.
            - Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.
            - Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.
            Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.
            Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

            “ Còn đâu trên chiên khu trong rừng chiều
            Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
            Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
            Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”
            Hay hùng dũng, như:
            “ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”
            Hoặc:
            “Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
            Nào có sá chi đâu ngày trở về…”
            Và còn nữa:
            “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
            Kiếm nguồn tươi sáng…”
            Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:
            “Tôi muốn tôi là một cứu thương
            Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
            Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
              Băng trắng đầu mình những vết thương”
            Thật là lãng mạn, thât là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương… Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là… ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.




            Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu… Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tôi bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.
            Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao - nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bò chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình. Tại sao và tại sao? Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biên lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?
            Nhưng tôi nghĩ, Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa. Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác…
            Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ… 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng… 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.
            Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng… thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do… con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiêng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu… , lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.
            Ngày đầu năm 2012

 LÊ DINH
http://www.ledinh.ca/2012%20Bai%20Le%20Dinh%20Viet%20Cong%20Viet%20Cong.html

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : Tưởng Niệm Hương Hồn Các Nạn Nhân

Tưởng Niệm Hương Hồn Các Nạn Nhân


http://saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/images/thongbao1.jpgThoáng chốc, câu chuyện thương tâm xảy ra trên biển Đông năm nào, nay đã trải qua 22 năm thật nhanh chóng. Thời gian dù khá lâu, nhưng cứ mỗi lần hồi tưởng lại chuyến vượt biển đầy gian lao nguy khó đi tìm tự do đó, lòng tôi lại thấy lại rất rõ ràng từng chi tiết tất cả chỉ mới xảy ra hôm qua, cùng với những cảm giác ớn lạnh, bồi hồi để rồi nước mắt tôi lại dễ dàng tuôn ra, cổ họng tôi lại dễ dàng cảm thấy như muốn nghẹn lại. Không biết tôi khóc vì thương cho thân phận lưu lạc tha hương của chính mình hay cho những linh hồn thuyền nhân năm xưa nay đã khuất ?
Câu chuyện xảy ra hồi tháng 5 năm 1981, vào thời gian mà các cơ cấu hành chánh cũng như dân sự của bạo quyền Cộng sản đang rộn ràng chuẩn bị kỷ niệm cho ngày lễ Lao Động, chuyện canh phòng nghiêm ngặt những chuyến chuyển người vượt biên có hơi lỏng lẻo thì cũng là lúc gia đình của chúng tôi đã phải vội vã và âm thầm chia tay nhau trong nước mắt. Bước chân tôi như có một sức mạnh vô tình trì kéo lại, khiến cho tôi không thể nào dễ dàng bước đi mà ngăn được những giọt nước mắt bùi ngùi, trong khi mẹ tôi cứ ghé sát bên tai tôi căn dặn đủ điều. Một lần ra đi là một lần cách biệt. Không biết rằng chuyến đi này có còn cơ hội để chúng tôi gặp lại được nhau hay là một lần chia tay là một lần cách biệt nghìn trùng. Tôi đứng tần ngần với hai hàng nước mắt trào ra làm nhoè nhoẹt tất cả các cảnh vật chung quanh lúc đó, hai tay tôi cứ níu chặt lấy cánh tay mẹ giống y như ngày đầu tiên năm nào, mẹ dẫn tôi đến trường học. Hình như mẹ tôi cũng đang khóc. Đôi mắt mẹ như tối lại với ngấn lệ lưng tròng. Mẹ tôi căn dặn tôi đủ điều trong lúc hai cánh tay của mẹ vòng ra như muốn ôm trọn lấy người tôi mãi mãi không muốn rời, càng làm cho tôi cảm thấy thương mẹ, cần mẹ hôn bất cứ lúc nào. Cho nên giây phút chia ly đầy nước mắt này, tôi mới thấy thấm thía câu tục ngữ ca dao mà tôi đã học ngày nào :
" Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra..."
Nếu không vì những biến đổi độc tài khắt khe của nhà cầm quyền Cộng Sản nhằm đưa đẩy Miền Nam và cả nước vào con đường thụt lùi thoái hóa, đói khổ khốn cùng với một tương lai ngu dân cực kỳ đen tối, có lẽ bản thân tôi hoặc rất nhiều những gia đình khác đã không phải chua xót trải qua những giờ phút chia ly đầy nước mắt như thế này và chắc chắn sẽ không bao giờ phải liều mình nhắm mắt, lao thân vào một chuyến vượt biển rẫy đầy những gian lao thử thách, một sống chín chết như chuyến đi định mệnh mà tôi đã trải qua, chắc chắn sẽ chẳng có một đấng cha mẹ đành lòng nuốt trôi niềm đau đớn, đành đoạn để cho những đứa con thân yêu nhất của mình phải ra đi mà không biết đến ngày trở về.
Trước ngày ra đi, biết bao đêm tôi đã âm thầm khóc hết nước mắt, biết bao ngày tôi ủ rũ chẳng còn thiết tha đến mọi việc chung quanh chỉ vì trong lòng tôi không hề muốn xa rời cha mẹ thân yêu của mình, không hề muốn mất đi những tháng ngày êm đềm thần tiên trong ngôi nhà ấm áp có cha mẹ, có chúng bạn thường tung tăng vui vẻ chơi đùa, chỉ vì nỗi lo sợ cùng cực khi tôi nghĩ đến những ngày đêm lênh đênh một mình trên con thuyền vượt biên bé nhỏ mà không một ai có thể đoán chắc được số phận may rủi sẽ như thế nào. Quả là một chuyến đi đầy thử thách, rủi ro... Có nhiều đêm tôi trằn trọc không tài nào ngủ được. Tôi trăn trở với những ý tưởng đầy nguy hiểm đe dọa và những xúc cảm khi nghĩ đến không có mẹ không có cha bên cạnh một chuyến đi hãi hùng, đến nỗi, có lần tôi gục mặt vào lòng mẹ mà thổn thức :
- Mẹ ơi ! Con có thể không đi có được không mẹ?
Giọng nói của tôi đầy nức nở nghẹn ngào càng làm cho nỗi lòng mẹ tôi thêm tan nát. Mẹ òa lên khóc lớn hơn khiến cho bà cô của tôi hốt hoảng, cô tôi lên tiếng can thiệp :
- Không được ! Con phải ra đi vì đó là con đường tương lai của con đó !
Rồi cô tôi quay sang phía mẹ tôi, cô mắng khẽ :
- Chị phải bình tĩnh để cho cháu yên lòng ra đi...
Rồi tất cả mọi việc như đã an bài. Tôi không còn lòng dạ nào để yên ổn ngồi suy nghĩ vớ vẩn nữa. Chuyện gì phải đến sẽ đến. Dòng đời cứ thản nhiên đưa tôi đi tới những gì mà tôi sắp sửa phải đối diện. Ngày lên đường, tôi nghẹn ngào từ biệt cha mẹ gia đình để âm thầm bước chân cùng đi theo với những người khác.
Vào một đêm không trăng sao. Trời tối đen như mực. Tôi bước từng bước đi theo chân người đàn ông hướng dẫn, hồi hộp tận cùng bên cạnh những người thân yêu để vượt qua một cánh đồng trống. Vì lo sợ bị bại lộ, người đàn ông hướng dẫn chúng tôi dặn không ai được mang dép để nếu rủi ro có chuyện xảy ra thì mọi người có thể chạy thật nhanh. Nhóm người cùng đi với chúng tôi cùng lặng lẽ rảo bước theo nhau trong đêm tối, vụt qua những hào hố gập ghềnh, những cành cây khô đầy gai góc.
Hai bàn chân tôi dẫm lên không biết bao nhiêu lần những chông gai đau đớn, những mảnh sành cắt đứt từng vết dưới lòng bàn chân rướm máu để cuối cùng thì nhóm người của chúng tôi cũng tới được điểm hẹn. Những đau đớn và phập phồng lúc bấy giờ tuy có ghê gớm thật nhưng cũng chưa thấm thía gì so với những lo sợ vô vàn khi trước mặt tôi là một đại dương mênh mông đang ầm ì tiếng sóng mà tôi biết Chắc chắn rằng, rồi đây, không bao lâu nữa, số phận của chúng tôi sẽ phải giao phó cho một định mệnh không biết may rủi sẽ như thế nào sẽ như thế nào, chúng tôi sẽ may mắn tìm đến được bến bờ Tự Do hay sẽ vùi chôn xác trong lòng đại dương giá lạnh này. Tất cả cũng vì hai chữ TỰ DO.
Chiếc ghe vượt biển với một kích cỡ dự liệu chỉ vừa đủ cho khoảng 60 người. Nhưng cuối cùng, lại phải trở thêm tới hai mươi người "căn me"(tức là những người vượt biên không trả tiền ) nữa. Con số thặng dư này tạo rất nhiều xáo trộn trong lúc chuyển người lên ghe, khiến cho chủ tầu rất hoang mang và lo sợ. Trong khi đó, lại vừa có một chiếc tầu tuần tiễu duyên phòng đi kiểm soát, càng khiến cho không những chủ tầu mà tất cả chúng tôi đều rất lo sợ công việc sẽ bị bại lộ, số phận tù đày cực khổ đã hiện ra trong đầu. Chiếc tầu tuần duyên chạy xình xịch chậm chạp và chiếu đèn rọi vào về phía chúng tôi. Tất cả mọi người đều lo sợ phập phồng và sẵn sàng để bị bắt. Nhưng dường như có một phép lạ vô cùng nhiệm mầu, khiến cho chiếc tầu tuần duyên đã không nhìn thấy chúng tôi. " Nó" đã chạy qua chỗ chiếc ghe vượt biên của chúng tôi, để lại những vệt sóng trắng xóa nhấp nhô trên con kinh nước chảy bâp bềnh.
Chiếc ghe của chúng tôi nhẹ nhàng chuyển mình rời bến đậu, từ từ vượt sóng tiến vào biển khơi. Qua được một đêm một ngày, chiếc ghe đã ra tới hải phận. Tôi ngoảnh mặt nhìn lại phía sau, chỉ thấy một chân trời mênh mông xa tắp, không hề nhìn thấy bến bờ xóm làng.
Đêm thứ hai, đại dương bắt đầu nổi sóng. Từng con sóng nhấp nhô vươn cao lên tới đỉnh đầu, rồi thụp sâu xuống lòng biển cả làm cho chiếc ghe mỏng manh bé nhỏ của chúng tôi như một cánh lá trôi nổi giữa dòng. Bầu trời đêm đen kịt không một ánh sao. Không gian thỉnh thoảng loé lên những ánh chớp cắt ngang lưng trời, tiếp theo là tiếng sấm, tiếng sét kinh hồn tỏa ra trên lòng biển đêm đen tăm tối. Cơn bão nhiệt đới kéo tới dập vùi con thuyền bé nhỏ của chúng tôi trong đêm đen đầy đe dọa. Từng đợt sóng lớn đánh mạnh xuống, làm cho thân ghe vặn vẹo tròng trành như muốn lật úp trên mặt đại dương đang đùng đùng dậy sóng. Mọi người trên ghe thất kinh thì thầm van vái Phật Trời...
Bỗng cả tầu kinh hoảng hơn nữa khi chúng tôi phát giác ra chiếc ghe bị ngập nước sắp chìm. Tất cả những người đàn ông trên ghe thay phiên nhau tát nước. Nhưng tình trạng không có dấu hiệu khá hơn. Cuối cùng, chúng tôi phải chọn giải pháp chỉ để lại trên ghe một can xăng với một can nước uống. Kỳ dư tất cả những vật dụng cá nhân đem theo đều được bỏ xuống mặt biển cho chiếc ghe nhẹ hơn, mới mong vượt qua được cơn bão thập tử nhất sinh này và mạng người mới hy vọng được bảo đảm.
Sau khi mọi thứ đã được bỏ lại trong lòng đại dương, chiếc ghe mới lướt qua được từng đợt sóng cho đến sáng ngày hôm sau, chúng tôi mới thực sự thoát khỏi nanh vuốt đầy thịnh nộ của thủy thần. Đến lúc này, biển lặng sóng êm trở lại, những người trên ghe chúng tôi mới cảm thấy vừa đói, vừa khát vừa giá lạnh vô cùng. Cái lạnh đã thấm nhập vào tận mỗi tế bào của da thịt nhưng chúng tôi có còn gì đâu để mà giúp cho thân thể được ấm áp ngoài những lời cầu kinh và những điều tha thiết khấn vái. Phản ứng của tất cả mọi người chúng tôi là đi lục lọi tìm lại chút lương khô nào đó may ra còn sót lại. Nhưng hỡi ơi ! Tất cả gói to gói nhỏ mà chúng tôi mang theo bên mình đều đã quăng xuống biển trong đêm hết cả, để rồi giờ đây chỉ còn biết nhìn nhau ngậm ngùi chia xẻ từng cơn đói khát và giá lạnh. Giờ đây gia tài còn lại của tất cả chúng tôi chỉ là một ít gạo và một can nước, chỉ đủ nấu cháo để cùng chia ra mỗi người được nửa chén cầm hơi mà níu kéo sự sống qua thêm được một ngày.
Đêm thứ ba lại đến trên mặt biển đen vô tình tiếng sóng vỗ bì bạch vào thân ghe như tiếng ma quái đe dọa, khiến tôi đã sợ lại càng thêm sợ phập phồng khi nghĩ đến những câu chuyện linh thiêng của những người đi biển trước đây kể lại. Từng cơn đói khát lạnh lẽo dậy lên hành hạ khiến cho tôi liên tưởng tới mái ấm gia đình với cha mẹ và những bữa cơm no lòng, Với những đêm ngày ấm áp trong vòng tay thương yêu bao bọc của cha mẹ, của làng xóm quê hương thân thiết. Không biết trong lúc này cha mẹ của tôi, các anh em của tôi có thể biết rằng tôi đang phải chịu đựng từng cơn đói khát lạnh lẽo cùng với biết bao lo sợ vô hình đến có thể lả người đi được.
Trong cơn mê đồng thiếp đó, bên tai tôi bỗng nghe có tiếng ai đó khóc than nghe thật não lòng ai oán ! Tôi vội lắng tâm nghe ngóng, nhận ra được có cả tiếng khóc bi thiết của trẻ thơ. Rồi những tiếng khóc đó mỗi lúc như mỗi xa dần, chỉ còn lại lãng đãng tiếng mõ cầu kinh. Tôi cho rằng, rất có thể chiếc ghe của chúng tôi đã trôi dạt và tới được một vùng đất liền nào đó. Tôi định lên tiếng hỏi người bên cạnh thì bỗng có tiếng của một thanh niên :
- Bà con ơi ! Chúng ta đã tới được Thái Lan rồi...Có ai nghe tiếng gõ mõ tụng kinh không?
Tôi và mọi người cùng xác nhận :
- Có...!
Trả lời xong câu hỏi thì bọn con gái chúng tôi bỗng trở nên lo lắng khi liên tưởng tới thảm cảnh sẽ gặp, nếu chiếc ghe của chúng tôi trôi ngang qua hải phận Thái Lan và với lứa tuổi 17, 18 như tuổi của tôi thì chắc chắn không thoát khỏi bọn chúng. Theo phản ứng tự nhiên, tôi liền lấy nhớt đặc trên ghe để trét kín lên khuôn mặt của mình để bọn hải tặc Thái Lan khó lòng nhận diện, may ra thoát được tai nạn.
Tuy nhiên với anh tài công thì mọi việc lại không phải như chúng tôi đang lo nghĩ. Anh là người nắm chiếc la bàn đi biển trong tay, cho nên anh biết chiếc ghe của chúng tôi không đi về hướng Thái Lan. Với nhiều năm kinh nghiệm đi biển, hiểu rõ các hiển linh trên biển cả, với những oan hồn uổng tử vùi thây trong lòng biển lạnh để rồi hiển linh báo mộng, cho nên anh tài công ôn tồn khẳng định :
- Bà con nên giữ bình tĩnh, ngồi yên một chỗ, đừng hoang mang di động quá rất dễ bị lật ghe. Chúng ta hiện còn xa đất liền . Ai là người Công Giáo thì hãy đọc kinh. Ai là người Phật Giáo thì cũng cầu siêu cho các oan hồn uổng tử còn đang vất vưởng trên mặt biển khơi.
Nghe đến đây, tôi muốn thét lên vì sợ. Nhưng tôi kịp trấn tỉnh, quay sang ôm cứng lấy người bên cạnh. Chúng tôi chẳng ai bảo ai cùng khóc thương cho những con người bất hạnh, những đồng bào ruột thịt của chúng mình đã vùi thân trong lòng biển lạnh cũng chỉ vì hai chữ Tự Do. Trên ghe chúng tôi phần nhiều là người Công Giáo cho nên chúng tôi cùng bảo nhau đọc kinh khấn nguyện, và cầu siêu cho các linh hồn chết oan uổng trên mặt biển này.
Vì quá chăm chú cầu nguyện, cầm lòng cầm trí khấn khứa cho các linh hồn, nên tôi không biết những tiếng khóc ỉ ôi trên mặt biển vắng đã chấm dứt từ lúc nào. Chúng tôi chỉ thấy rằng, sau đó chiếc ghe trở chúng tôi đã như có một phép mầu nhiệm làm cho chạy rất nhanh và rất êm ái như đang lướt đi trên sông vắng để cuối cùng, vì đói, vì khát, vì lạnh quá mọi người đều thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn nhưng đầy sự bình an một cách kỳ lạ, cho đến khi những tia nắng ấm, êm dịu chiếu xuống chiếc ghe xơ xác của chúng tôi làm mọi người lúc bấy giờ mới bừng tỉnh giấc...Nắng ấm chan hòa khiến cho lòng tôi thêm an tịnh và thân thể cảm thấy khoẻ khoắn hơn.
Mọi người đã có thể nhìn nhau với nụ cười gượng gạo đầy tình thân chia xẻ. Chúng tôi cùng nhìn ngắm từng bầy cá Heo như đang chia xẻ niềm vui vô tình. Chúng nhảy lên từng đợt theo hướng chiếc ghe đang chạy tới.
Cho đến giữa trưa, khi ánh nắng đã chan hòa trên mặt biển như không hề có chuyện gì thì bỗng nhiên có một chiếc tầu Anh xuất hiện. Chúng tôi đồng loạt la hét ầm ĩ cùng với dải khăn trắng có viết sẵn chữ S.O.S được giăng lên. Chiếc tầu Anh đã cặp sát tới cạnh chiếc ghe mong manh bé nhỏ của chúng tôi với một chiếc thang dây thả xuống để cho tất cả chúng tôi lần lượt được đặt chân lên chiếc tầu sắt to lớn đầy vững chãi mang ký hiệu của nước Anh đầy thân ái, đã ra tay cứu vớt chúng tôi từ một chiếc ghe vượt biển bé nhỏ như một chiếc lá giữa dòng biển rộng mênh mông đầy bất trắc hãi hùng.
Chúng tôi được những người trên chiếc tầu Anh đón nhận một cách đầy tình người với những bữa ăn nóng hổi thịnh soạn mà tất cả chúng tôi, có lẽ chưa từng ai được hưởng kể từ khi Cộng sản vào chiếm Miền nam yêu dấu. Chúng tôi đứng trên boong của con tầu nhân đạo đưa mắt nhìn vào lòng biển rộng dưới kia, thấp thoáng trong ánh nắng rực rỡ chói lòa trên làn nước bạc là chiếc ghe bé nhỏ đã cưu mang, bảo bọc sinh mạng chúng tôi trong suốt mấy ngày nguy lao gian khó vừa qua. Chúng tôi chỉ biết ngửa mặt thầm tạ ơn Chúa Phật đã ban cho chúng tôi có được cơ may thoát hiểm. Nếu không có chiếc tấu Anh ra tay cứu vớt, không biết rồi sẽ ra sao, số phận chúng tôi rồi sẽ đi về đâu trong lòng biển cả vô tình...
Sau bao nhiêu năm dài sống trên vùng đất tự do no ấm, của cải dư đủ thừa mứa, không biết trong chúng ta, có ai còn nhớ lại lời hứa khi chúng ta còn đang ngụp lặn trong mênh mang mưa bão và đói khát với gian nguy, với hàng vạn nỗi kinh hoàng?
Giờ đây, chúng ta hãy thắp lên một nén hương trầm để tưởng niệm những hương hồn của các thuyền nhân đã chìm sâu thân xác trong lòng biển lạnh năm xưa. Cầu mong cho các vong linh bất hạnh khốn khổ đó sớm siêu thoát vinh thăng, sớm được yên nghỉ trên đất nước trời. Những vong linh vì hai chữ Tự Do đã nói lên đầy ắp sự can trường bất khuất, chẳng khác gì các vị anh hùng hào kiệt rất xứng đáng được ghi danh vào trang sử của dân tộc Việt Nam vào thời kỳ biến động với cuộc hành trình biển Đông xảy ra có một không hai trong lịch sử của thế gian cũng như giống nòi, để cho các thế hệ sau này có thể biết được chiến sử hào hùng của những anh hùng vượt chết đi tìm Tự Do trên biển cả, với ước vọng mưu cầu nhân quyền dân chủ và cơm no áo ấm cho toàn dân mà hiện nay còn đang bị Cộng Sản Việt Nam chiếm đoạt. Cũng còn là một phương pháp ngăn chặn áp bức, những nghiệt ngã điên cuồng mà những người Cộng Sản với guồng máy độc ác đang cai trị trên quê hương yêu dấu của chúng ta.
Cầu xin các vong linh của những thuyền nhân Việt Nam đã vùi thây trong lòng Biển Đông hoang lạnh năm nào hãy về đây chứng dám cho tấm lòng của những đồng bào thân yêu đang tha thiết khấn nguyện và tưởng niệm về nỗi bất hạnh mà các hương linh này đã phải trải qua.
Cali, 4/2/03
Trang Yến Vy

Thừa Thiên Huế : VGCS Dùng Tổ Chức Xã Hội Đen Bóc Lột Công Nhân

Công nhân bị đàn áp bóc lột tại công trường Dự án Khách sạn-Nhà nghỉ Angsana, thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế



VRNs (08.04.2012) – Huế – Công trường Dự án Khách sạn-Nhà nghỉ Angsana (Angsana Hotels & Resorts), tọa lạc tại thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế -nơi có rất nhiều công nhân người Việt đang lao động- xem ra là chốn tung hoành của một tổ chức xã hội đen hơn là một công trường xây dựng đúng nghĩa.
Ngoài việc thường xuyên bị các công ty nhà thầu phụ chạy làng không trả tiền, quỵt lương bổng, công nhân còn bị các quản đốc người Hàn Quốc đối xử rất thậm tệ: chửi bới, ăn hiếp, đánh đập. Họ làm việc nhưng không biết mình sẽ làm được đến bao lâu. Nếu ai phản ứng thì lập tức bị đuổi việc. Nhiều công nhân vì thế phải im lặng nhẫn nhục, cắn răng chịu đựng. Sau đây là một số sự kiện làm bằng chứng.
Bản đồ thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc
Nhà thầu chính tại đây là công ty GS E&C (Hàn Quốc) với ông Kim Yong Tae làm giám đốc công trường. Theo anh Nguyễn Đức Hải, tài xế đưa đón ông ta cho biết: ông rất có máu cờ bạc, thường đến khu Crowne Plaza (Shilver Shores cũ) và khu Furama Resort ở thành phố Đà Nẵng để đánh bạc. Khi ăn thì ông vui vẻ, còn khi thua về là ông gây gổ với công nhân, thậm chí gây gổ với cả nhân viên văn phòng, chửi họ như chửi con vật.
          Khu Khách sạn-Nhà nghỉ Angsana này là công trình 5 sao, nhưng nhiều kỹ sư cho biết nó bị rút ruột rất nhiều và xây dựng không đúng với kỹ thuật. Gạch rất mềm do nung chưa tới, tường dễ vỡ vì vật liệu dỏm. Do đó công nhân thường xuyên lâm phải tai nạn. Khi tai nạn lao động xảy ra thì công ty chỉ chở nạn nhân đến bệnh viện rồi để cho gia đình họ lo, vì đa số công nhân ở đây – một số từ miền Bắc vào- đều không có hợp đồng lao động. Nhiều người sau đó không thấy trở lại công trường nên chẳng ai biết tình hình sức khỏe của họ ra sao.
Giám đốc công trường Kim Yong Tae
Cổng vào công trường
Vào ngày 12-2-2012 có mấy người Hàn Quốc thuộc công ty TOP (là nhà thầu phụ nhận lại của công ty GS), đi taxi từ Đà Nẵng ra đến công trường Angsana, đồng hồ báo 650.000 đồng phí chuyên chở. Xuống xe, những người Hàn Quốc này bắt taxi chở một số công nhân khác vào lại Đà Nẵng với giá 350.000đ. Tài xế taxi không chịu, nói là những người này không phải khách đã thuê xe của anh nên nếu vào lại thì phải trả 500.000đ. Nhưng vì chẳng biết nói làm sao cho mấy tay Hàn Quốc “trùm sò” này hiểu, tài xế taxi liền vào nhờ anh Nguyễn Văn Trung (là tài xế và chủ xe đang hợp đồng chở người Hàn Quốc tại công trường) nói giùm. Không biết tiếng Hàn, anh Trung chỉ ra dấu 5 ngón tay, ý nói 500.000 đồng. Vậy là một người Hàn Quốc của công ty TOP liền gây sự với anh. Vốn là chủ xe, anh Trung không sợ và nói lại, tay này liền chạy vào văn phòng GS nói sao đó với đồng hương. Lập tức bảy tám người Hàn chạy ra. Nghĩ là do ngôn ngữ bất đồng, anh Trung tránh mặt. Thế là đám người ấy chạy vào bót của bộ đội biên phòng (do công ty GS thuê bảo vệ công trường), chửi bới bộ đội như chửi con của họ. Lực lượng bộ đội ở đây là của đồn biên phòng cửa khẩu cảng Chân Mây, làm việc dưới sự sai khiến của những người Hàn, nhằm đàn áp các công nhân phản đối họ. Hễ ai phản đối là bị bộ đội đuổi ra khỏi công trường, có khi còn bị bắt về trạm để tra khảo. Chẳng hạn có lần làm việc 3-4 tháng nhưng không được nhận lương, công nhân lên tiếng đòi hỏi thì lập tức bị bộ đội tống ra khỏi công trường.
Văn phòng công ty GS E&C
Xe chở thuê công nhân
Trở lại chuyện của anh Trung tài xế và chủ xe. Anh vừa chạy xe ra khỏi cổng thì bị tay Hàn Quốc hồi nãy chận lại và đập mạnh vào xe của anh. Quá tức tối, anh kháng cự. Hai ngày sau đó anh Trung bị Công ty GS ra lệnh cho lực lượng bộ đội biên phòng cấm xe anh vào công trường. Riêng ông Kim Yong Tae ra lệnh cho nhà thầu phụ đang thuê xe của anh phải cắt ngay hợp đồng với anh.
          Mới đây, hôm 26-03, vào lúc 6g30 sáng, có một người Hàn Quốc thuộc công ty TOP xô xát với một công nhân, liền bị công nhân vây quanh rất đông đánh lại. Không tìm ra kẻ xô xát với tay Hàn Quốc này, ông Kim Yong Tae liền buộc các tài xế phải tường trình tố cáo. Bị họ từ chối, ông liền ra lệnh cho bộ đội biên phòng lấy hết giấy tờ của các tài xế vốn trước đây đã nộp trong hồ sơ xin việc ở công ty Kim Châu Duy. Các tài xế biết được liền yêu cầu thiếu tá Nguyễn Hồng Giang thuộc đồn biên phòng cửa khẩu phải đứng ra giải quyết theo pháp luật. Thế nhưng ông Giang xem ra chỉ muốn làm theo lệnh của ông Kim Yong Tae là phải đuổi hết các tài xế đang phục vụ ở công ty GS.
          Xin mở dấu ngoặc là hiện nay Trung Cộng đã và đang đe dọa vùng biển Việt Nam, nhưng bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng Chân Mây vẫn bám đít người Hàn Quốc để đàn áp công nhân lao động Việt. Đây là điều cần phải lên án, bởi lẽ nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, thế nhưng tại đây họ chỉ lo bảo vệ người Hàn để kiếm tiền, chỉ lo bị đuổi việc như giới công nhân, đang khi họ đã được lãnh lương hằng tháng từ tiền thuế của dân chúng.
          Hiện nay tập thể tài xế đang làm việc tại công trường Angsana Hotels-Resorts chưa biết ngày nào sẽ bị lực lượng bộ đội biên phòng dưới lệnh của ông giám đốc Kim Yong Tae tống khứ ra khỏi công trường. Dù vậy, họ vẫn đứng lên đấu tranh quyết đòi lại công bằng cho họ và cho tất cả các công nhân đang làm việc tại nơi này.
          Nhóm phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Lăng Cô
          Dưới đây là đơn khiếu nại của tập thể các tài xế và công nhân Việt Nam.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
 —————
ĐƠN XIN CỨU XÉT KHẨN CẤP

          Kính gửi: Ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên-Huế.
          Tôi tên là Nguyễn Trọng Quân, 42 tuổi. Hiện ngụ tại thôn An Cư Đông I, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện tôi đang là tài xế lái xe cho công ty DV-TM du lịch Kim Châu Duy, Địa chỉ: 271 Nguyễn Tri Phương, thành phố Đà Nẵng.
          Đại diện tập thể tài xế lái xe các công ty và tập thể công nhân lao động tại công trường xây dựng Angsana Hotel & Resorts, xin phản ánh đến quý ông một việc như sau:
          Hiện công ty chúng tôi đang hợp đồng đưa đón công nhân viên của công ty GS là nhà thầu xây dựng công trình xây dựng khu du lịch Angsana Hotels& Resorts tọa lạc tại thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do ông Kim Yong Tae làm giám đốc công trường.
          Kính thưa quý ông, sau 14 tháng làm việc đưa đón công nhân viên của công ty GS, tôi thường xuyên có mặt tại công trường, chứng kiến cách đối xử của nhà thầu chính công ty GS và các nhà thầu phụ công ty TOP, công ty TECHCOVINA, công ty HAVINA v.v… là những công ty của người Hàn Quốc, đã đàn áp đối xử bất công với những công nhân là người Việt Nam đang làm thuê cho họ tại công trường này.
          Kính thưa quý ông, hằng ngày công nhân VN đến đây làm việc cho các công ty trên, họ đều bị đối xử như những người nô lệ, thường xuyên bị những người Hàn Quốc chửi bới thậm tệ, thậm chí còn đánh đập. Đa số công nhân đến đây làm cho họ đều không được ký hợp đồng lao động hoặc bảo hiểm (trừ những nhân viên văn phòng). Mặc dù công nhân đã nhiều lần yêu cầu họ ký hợp đồng lao động, vẫn không được họ đáp ứng. Vì lẽ đó những người Hàn Quốc của các công ty trên mặc sức đàn áp công nhân lao động Việt Nam. Nếu có công nhân nào phản ứng lại việc làm sai trái của những người Hàn Quốc thì lập tức họ lệnh cho lực lượng bộ đội thuộc đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng Chân Mây đang hợp đồng làm kinh tế thuê cho công ty GS, đuổi công nhân ra khỏi công trường không cần lý do.
          Kính thưa quý ông, công nhân thường là những người địa phương từ thị trấn Lăng Cô đến thị trấn Phú Lộc, và những người từ các nơi xa xôi đổ về. Họ là những người lao động chất phác, nên mỗi khi bị đối xử bất công như vậy họ đều im lặng để được làm việc. Song rất nhiều người làm từ 3-4 tháng cho một số công ty như công ty TOP, đến nay vẫn chưa được trả lương. Nhưng khi công nhân tập trung lại yêu cầu họ trả lương thì bị ông giám đốc công trường Kim Yong Tae và ông quản lý công trường tên Wow Song Cho công ty GS người Hàn Quốc chửi bới và có vài công nhân còn bị hai ông đó xách cổ áo đòi đánh và đuổi ra khỏi công trường.
          Kính thưa quý ông, mới đây vào lúc 6g35 phút ngày 27-3-2012 tôi và một số anh em tài xế chuyên lái xe đưa người Hàn Quốc và nhân viên văn phòng của các công ty đến công trường Angsana Hotel & Resorts, khi vào công trường anh em tài xế chúng tôi thấy nhà để xe do công ty GS bố trí cho chúng tôi đỗ xe hơn một năm rưỡi nay, bị rào lại bằng thép B40; anh em tài xế chúng tôi mở thép B40 để đưa xe vào nhà xe trước sự chứng kiến của ông giám đốc công trường Kim Yong Tae. Thế nhưng trong lúc chúng tôi đang mở rào thì có một sự xô xát xảy ra giữa những người công nhân VN và một người Hàn Quốc thuộc công ty TOP gần nhà đỗ xe, sự việc xảy ra chưa đầy một phút. Sau khi có sự xô xát xảy ra, ông KimYong Tae ra lệnh cho một số nhân viên văn phòng và công nhân của công ty GS, cũng như lực lượng bộ đội Biên phòng mỗi người viết môt bản tường trình về sự việc xô xát giữa công nhân và người Hàn Quốc của công ty TOP nói trên, trong số đó có người vừa mới đến công trường. Có rất nhiều người chưa đến nhưng ông đều bắt họ viết tường trình nộp cho ông một cách phi lý. Qua phiên dịch tôi được biết ông nói ai không viết thì ông đuổi việc. Vào lúc 8g cùng ngày ông Kim Yong Tae cho gọi các tài xế vào gặp ông, ông cũng bắt mỗi người viết một bản tường trình về việc xô xát trên và phải cho ông biết những người công nhân nào xô xát với ông Hàn Quốc của công ty TOP. Thấy việc làm của ông rất vô lý, vì trong lúc chúng tôi mở rào để đưa xe vào cũng như khi việc xô xát xảy ra đều có ông Kim Yong Tae chứng kiến, nên anh em tài xế chúng tôi không viết. Nay ông cho gọi người chủ xe của chúng tôi ra gặp ông vào chiều ngày 28-3-2012 tại công trường, ông yêu cầu chủ xe của chúng tôi phải cho nghỉ việc hết các tài xế đang lái xe của công ty Kim Châu Duy phục vụ tại công trường Angsana Hotel & Resorts. Nếu chủ xe chúng tôi không đuổi việc chúng tôi thì ông sẽ cho cắt hợp đồng thuê xe.
          Kính thưa quý ông, nay anh em tài xế chúng tôi rất hoang mang vì mình sẽ bị nghỉ việc một cách phi lý do sự áp đặt của những người Hàn Quốc, tôi viết đơn này gửi đến quý ông mong được quý ông cấp thiết cứu xét và nhanh chóng can thiệp cho anh em tài xế chúng tôi cũng như những người công nhân lao động ở đây. Những người Hàn Quốc này cố tình vi phạm luật lao động của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đối xử bất công với công nhân lao động người Việt Nam tại công trường.
          Chúng tôi đặt niềm tin vào quý ông và mong quý ông sớm vào cuộc bảo vệ anh em công nhân để chúng tôi được yên tâm làm việc, không còn cảnh bị đuổi việc một cách phi lý.
          Trong khi chờ đợi được quý ông cứu xét và can thiệp, tôi xin gửi nơi đây lòng biết ơn./.
          Lăng Cô ngày 29-3-2012
          Kính Đơn
          Nguyễn Trọng Quân

Phụ lục
Khu du lịch sinh thái Laguna Huế
Thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế

          Laguna Huế là khu du lịch sinh thái sẽ có 7 khu khách sạn cao cấp với 2.000 phòng, hơn 1.000 căn hộ cao cấp, khu spa, khu mua sắm, trung tâm hội nghị quốc tế, sân gôn, các địa điểm giải trí, cùng nhiều hạng mục khác để phát triển du lịch, hứa hẹn sẽ là địa điểm nghỉ dưỡng lí tưởng dành cho du khách.
Hiện trạng dự án tháng 4/2011
Vị trí
          Dự án Khu du lịch sinh thái Laguna – Huế được xây dựng tại thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm trong Khu Kinh tế Chân Mây – Lăng Cô
          Quá trình thực hiện dự án
          Dự kiến, việc xây dựng sẽ được triển khai theo 4 giai đoạn. Giai đoạn 1 được khởi công xây dựng gồm 2 khách sạn 5 sao và các nhà nghỉ (Banyan Tree Resort: 120 phòng; Angsana Resort: 320 phòng; Laguna Holiday club: 180 phòng).
          Giai đoạn 2 sẽ tiến hành sau khi khởi công giai đoạn 1, bao gồm việc đầu tư xây dựng 2 khách sạn 5 sao với quy mô mỗi khách sạn 400 phòng, sân golf quốc tế 18 lỗ, trung tâm và hội nghị triển lãm, khu mua sắm cùng với hệ thống nhà ở xung quanh.
          Giai đoạn 3 sẽ xây dựng 3 khách sạn, trong đó có một khách sạn 320 phòng, 1 khách sạn 400 phòng, đặc biệt có 40 villa và 1 khách sạn 210 phòng siêu cao cấp “6 sao”, dự kiến giai đoạn này sẽ hoàn thành vào cuối 2011
          Giai đoạn 4 của dự án sẽ đầu tư 470 khu biệt thự để bán.
Tháng 3,4 năm 2011 : Nhà thầu đang tiến hành thi công cơ sở hạ tầng, các căn villa, phần móng các hạng mục như Spa block…

Thông tin quy hoạch chung
Tên dự án: Khu du lịch sinh thái Laguna Huế
- Loại hình dự án: Khu du lịch sinh thái
Địa chỉ: Thôn Cù Dù, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Quy mô: gồm khu khách sạn cao cấp với 2000 phòng, 1000 căn hộ cao cấp cùng nhiều địa điểm giải trí khác
Diện tích: 280 ha
Số vốn đầu tư: 875 triệu USD
Hiện trạng dự án: Đang triển khai
Ngày khởi công: 1/8/2009
Ngày hoàn thành: 2014
Chủ đầu tư: Tập đoàn Banyan Tree (Singapore)
Đơn vị thi công: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Xây dựng Investco

Thông báo về tình trạng tù nhân chính trị Trương Minh Đức vừa ra khỏi tù nhỏ ngày 5-5-2012

Ký giả Nghê Lữ phỏng vấn ký giả Trương Minh Đức vừa ra tù ngày 5/5/2012
Kính thưa quý vị.
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng,
Anh Trương Minh Đức, sinh năm 1960, Nguyên quán tỉnh Kiên Giang.
Hiện cư ngụ tại: Đường N3, Thị Trấn Mỹ Phước I, Xã Thới Hòa, Huyện Bến Cát, Tỉnh Bình Dương.
Là một phóng viên can trường cộng tác với tất cả các báo “ lề trái lẫn lề phải” như Tiền Phong,Tuổi Trẻ, Pháp Luật, Thanh Niên, Kiên Giang và các trang báo Mạng… miễn đem tâm can mình phục vụ cho tổ quốc qua nghiệp vụ người ký giả chân chính, phản ảnh hiện thực suy đồi, bất công, và nạn cường hào ác bá bóc lột nhân dân đến tận cùng nỗi cùng cực và đầy dẫy trong xã hội Việt Nam đương đại… Ký giả Trương Minh Đức là một tấm gương sáng cho sự phát ngôn vì trung thực và tình yêu nước thương nòi qua hàng loạt những bài phóng sự, bài viết nổi tiếng với nhiều bút danh….

Chính vì vậy Ký giả Trương Minh Đức đã bị tà quyền CSVN bắt giam ngày 05/05/2007, một năm sau đó anh Đức đã bị kết án 5 năm tù giam. Theo bản án số 92 ngày 18/07/2008.
Sau năm năm thụ án tại trại giam, tù nhân chính trị Trương Minh Đức không được giảm án một ngày nào vì anh đã cương quyết phủ nhận mọi tội lỗi mà nhà cầm quyền CSVN quy kết cho anh đối với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
Ngày 05/05/2012 Thượng Tá Trần Trọng Luận phó giám đốc trại giam Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai ký Giấy Chứng Nhận số 493 /GCN chấp hành xong án phạt tù để mở cửa trại giam cho Ký giả Trương Minh Đức rời khỏi nhà tù nhỏ, trở về gia đình ở nhà tù lớn Việt nam.

Ký giả Trương Minh Đức đã trở về gia đình trong trạng thái đau nữa đầu, ù tai, hoa mắt, đồng thời da bị sững búng, có dấu bệnh gan; tay trái bị gãy vết thương đã lành nhưng ráp trật khớp hiện còn đau nhức cần chữa trị…
Dù có nhiều khác biệt về cách nhìn, cách đánh giá về số phận của các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm Việt Nam nhưng qua những lý do vì hành động từ chính lương tâm mà họ phải vào tù chịu khổ đau cho dân tôc là đáng được lịch sử vinh danh. Và chúng ta, toàn thể con người của thế giới văn minh sẽ hết lòng, hết sức trợ giúp và chăm sóc họ.
Kính mong quí vị, quý thân hữu, quý chiến hữu cùng toàn thể cộng đồng Người Việt Quốc Gia hết sức quan tâm đến tình trạng sức khỏe của Ký giả Trương Minh Đức và các tù nhân Lương Tâm khác đang ở trong các nhà tù nhỏ, cũng như nhà tù lớn Việt Nam…
Ký giả Trương Minh Đức đã mang về một tập “Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, một tập thơ đã theo Nhạc Sỹ, tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu suốt hơn 30 năm tù đày lao lý qua nhiều nhà tù nhỏ của CSVN
Luật Gia Nguyễn Bắc Truyển
( Quyền Tổng Thư Ký HAHTN CT&TG.)
Nguồn: http://quynhtramvietnam.blogspot.com/

THIÊN ĐƯỜNG MỚI :Quyền được… cởi truồng

Quyền được… cởi truồng


Có lẽ không ở đâu trên trái đất này thoáng như… Pleiku, có hẳn một quy định hay gì gì đó, yêu cầu người dân không… mặc gì đi ra đường.
Đây là con đường hiện đại nhất ở Pleiku, đường Nguyễn Tất Thành nối từ Ngã sáu Hoa Lư ra ngã ba Phù Đổng. Nó chính là một khúc đường HCM chạy qua thành phố, cờ và các pano treo phấp phới. Trong khi chờ quảng trường hoàn thành thì chiều nào mình cũng quằn quại đi bộ ở đây. Và vì thế mà phát hiện ra là ngay cả đi bộ cũng không phải… mặc gì?
Có cái Pano như thế này:

Cận cảnh phát đọc cho rõ:


Chưa hết, mệnh lệnh này còn được lặp lại ở mặt sau, để bất cứ ai đi từ hướng nào đều có thể thấy và… thực hiện.

Cười xong rồi thì mời thưởng thức hoa nhà tớ để thư giãn nhé, cũng chụp chiều qua, sau khi chụp tấm pano cho phép… cởi truồng kia.
Văn Công Hùng
----
Hiểu chết liền!

Do thấy vách nhà chung cư quá mỏng nên vừa cưới xong là một đôi vợ chồng son thoả thuận với nhau: – Em à, để bảo mật cho sự riêng tư của đôi ta, anh tính soạn một bộ tự điển nho nhỏ gồm những từ mà chỉ vợ chồng mình mới hiểu, chẳng hạn nếu em muốn rủ anh... tắt đèn ngủ sớm thì gọi là “làm ăn”, bữa nào anh hơi mệt thì anh sẽ trả lời “mất khả năng chi trả”... – Hay quá, thế hôm nào mệt thì em sẽ từ chối khéo là đang “lạm phát” nhé! Quên nữa, hàng tháng anh cần nhớ là em sẽ có vài ngày “khủng hoảng”... – Nhớ rồi. Còn cái này nữa, anh nói ví dụ thôi nhé, là mai mốt nếu chẳng may tình nghĩa đôi ta có thế thôi thì xin cứ nói với nhau là muốn “từ chức”, “miễn nhiệm”, chứ đừng dùng từ “ly hôn” hay “ly dị”, nghe buồn lắm! – Anh của em thông minh quá! Thế là từ nay mình có thể thoải mái bàn chuyện “làm ăn” mà không sợ mắc cỡ với láng giềng! Một đêm nọ của mười năm sau, cả lô chung cư thức giấc vì đôi vợ chồng này to tiếng kịch liệt với nhau: – Đã bảo giảm “lạm phát”, qua thời “khủng hoảng” mà cứ rủ “làm ăn” thì ông mở miệng than “mất khả năng chi trả”, là sao? Là sao? Giải trình ngay! – Bà thông cảm, đâu phải chỉ bà mới biết “làm ăn”... – Á! Ra là ông có “đầu tư ngoài ngành”! Nói ngay, ông rải vốn những đâu, khai mau! – Thôi mà bà, thời buổi này có thằng nào không “đầu tư ngoài ngành” đâu, bởi càng được chiều chuộng thì vốn liếng càng dư dả, không kiếm chỗ rải nó... ức chế lắm! – Trời ơi là trời! Thế ông không thấy những thằng “đầu tư ngoài ngành” chỉ toàn lỗ lã hay sao? Còn ông, bao giờ ôm về một cục nợ chà bá đây? Phen này tôi cho ông “miễn nhiệm” nhé! – Bà có gan thì cứ miễn! Thằng này thà chết chứ không “từ chức”! 

Người già chuyện 

 MUỐN BẢO VỆ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA,
TUYỆT ĐỐI KHÔNG DÙNG TỪ NGỮ CỦA CỘNG SẢN

Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm : Một chút tâm tình với Đức cha Nguyễn Văn Long

Một chút tâm tình với Đức cha Nguyễn Văn Long

Giám mục Vincent Nguyễn Văn Long
Kính thưa Đức Cha,
Trước khi viết lá thư này, con đã ngần ngại. Đức Cha là linh mục Việt Nam thứ ba ở hải ngoại, và là người đầu tiên tại Úc được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá. Ngay từ lúc thông tin này được loan tải, Đức Cha đã lôi kéo sự chú ý của công luận, từ phù hiệu của Đức Cha trong đó có lá cờ vàng ba sọc đỏ, đến những lời tuyên bố qua đó Đức Cha công khai nhìn nhận căn cước vượt biên tỵ nạn cộng sản của mình mà có thời bị xem như cặn bã của xã hội. Trong tư thế một ngôi sao đang lên của Đức Cha mà một linh mục ở tuổi về hưu như con, dám mon men ngỏ lời lại chẳng hoá ra “thấy người ta sang bắt quàng làm họ” hay sao, cho dù thực sự Đức Cha cũng như con, đều thuộc dòng họ Phan, con cái thánh Phan-xi-cô Át-xi-di. Nhưng yếu tố cuối cùng đã khiến con mạnh dạn viết thư này, chính là bài giảng của Đức Cha tại một nhà thờ bên Úc nhân ngày 30 tháng 04 vừa qua, ngày mà Đức Cha đau đớn gọi là ngày “quốc nạn”.
Thú thật với Đức Cha, con sợ bài giảng của các giám mục lắm. Cứ ý như là có mũ, có gậy rồi, muốn phán gì cũng được, dài bao nhiêu cũng được, có ai dám cãi đâu ! Đến nỗi có anh em linh mục tuyên bố : “Biết ông đó sẽ chủ tế, tôi sẽ không đồng tế nữa !” Có vị khi giảng chỉ nói toàn những chuyện thiêng liêng cao cả trên chín tầng mây, vị khác nữa, chữ nghĩa thì nhiều, ý tứ chẳng bao nhiêu. Sơ sơ vậy để Đức Cha hiểu cho tại sao con dị ứng.
Dám nói thẳng, nói thật
Điểm đầu tiên đáng chú ý trong bài giảng của Đức Cha, theo con, đó là tính thẳng thắn lòng can đảm. Điều hiển nhiên là Đức Cha không né tránh, không nói vòng vo tam quốc, kiểu ba phải, huề cả làng theo chiêu bài “đối thoại” và “hợp tác” ! Đức Cha đã không ngần ngại gọi ngày 30 tháng 04 năm 1975 là ngày “Quốc Nạn”, khởi đầu cho bao đau thương, bao tai hoạ xảy đến cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam. Khi đề cập đến “những bế tắc của lịch sử”, Đức Cha không chỉ làm một thứ bảng liệt kê ngắn gọn nhưng đầy đủ các biến cố đau thương khởi đi từ ngày 30 tháng 04 năm 1975, nhưng còn vạch mặt chỉ tên những tác nhân của các biến cố đó. Vì không thể rút gọn hơn được, con xin phép trích dẫn đoạn này : “Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những thương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước. Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.”
Thời sự dưới ánh sáng Lời Chúa
Ngày 30 tháng 04 thường rơi vào Mùa Phục Sinh là thời gian Giáo Hội mừng Chúa Ki-tô sống lại. Cũng như các cộng đoàn Do-thái lúc bấy giờ, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi tiếp tục đọc Lời Chúa, nhưng từ nay, đọc dưới ánh sáng Chúa Ki-tô phục sinh. Câu thánh vịnh “Tảng đá người thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 117,22) không chỉ là một câu nói văn vẻ, nhưng qua cuộc thương khó của Chúa Ki-tô, rồi đến việc Ngài từ cõi chết phục sinh thì các Ki-tô hữu đã hiểu ra ai là thợ xây, ai là tảng đá. Đến lượt Đức Cha hôm nay cũng vậy, Đức Cha không chỉ đọc Lời Chúa và dừng lại đó, nhưng đã đem Lời Chúa chiếu soi các câu chuyện thời sự để nhận ra ai là thợ xây, ai là tảng đá. Con không có khả năng rút gọn mà chỉ xin phép trích dẫn nguyên văn : “Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, ‘người thợ xây’ là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; ‘người thợ xây’ là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và ‘phiến đá bị họ loại bỏ’ là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc, hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng…”
Thán phục lòng yêu nước
Chắc hẳn sau bài giảng của Đức Cha, sẽ có không ít người kể cả trong hàng giáo phẩm Việt Nam, trề môi bảo : “Ông ấy không sống tại Việt Nam, muốn nói gì mà chẳng được !” Trước hết, theo con biết, trong số các linh mục và giám mục Việt Nam hải ngoại, rất ít người công khai lên tiếng về hiện tình đất nước. Còn giả sử hôm nay Đức Cha đang sống ở trong nước, trong tư cách một giám mục, liệu Đức Cha có nói năng thẳng thắn và mạnh mẽ như Đức Cha đã làm không thì không ai biết. Nhưng điều không thể hoài nghi là qua bài giảng của Đức Cha, ngoài tính thẳng thắn và can đảm, Đức Cha còn cho thấy lòng gắn bó thiết tha với quê hương, đất nước, với người nghèo, người bị áp bức, bóc lột, gắn bó với tiền đồ của tổ quốc. Nếu vì chịu áp lực quá nặng mà các giám mục sống tại Việt Nam không dám mạnh mẽ lên tiếng bênh vực công lý, bênh vực tự do dân chủ, thì ít ra người dân cũng có quyền chờ đợi nơi các ngài nếu không phải là một sự dấn thân mạnh mẽ thì ít là một sự thông cảm, một sự nâng đỡ, đặc biệt đối với nạn nhân của bất công, tham nhũng, một sự gắn bó với tiền đồ của tổ quốc. Khi hoạ mất nước như thanh gươm treo lơ lửng trên đầu mỗi người Việt Nam mà Giáo Hội Công Giáo chỉ lo xây cất với lễ lạc, không mảy may có chút ưu tư với sự sống còn của dân tộc, liệu chúng ta có xứng đáng nhận mình là người Việt Nam ? Chính lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào cùng với lòng tin của người Ki-tô hữu đã khiến Đức Cha thốt lên : “Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.”
Xin cám ơn Đức Cha đã cho con tấm gương xán lạn của người mục tử dám hy sinh vì đoàn chiên, một chứng nhân kiên cường của công lý và sự thật, một người Việt Nam dù sống nơi xứ lạ quê người, vẫn nặng lòng với đồng bào, với quê cha đất tổ.
Kính thư,
Sài Gòn, ngày 04 tháng 05 năm 2012
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Bắc Kinh: Làm Sao Giết Nhà Đấu Tranh

Làm Sao Giết Nhà Đấu Tranh
 

Về vụ nhà đấu tranh Trần quang Thành trốn thóat nơi bị Trung Cộng quản chế và vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chánh trị, câu kết luận của bài trước “Một Trắc Nghiệm Nhân Quyền Với TT Obama” là “Chờ xem kết quả bài trắc nghiệm về nhân quyền của TT Obama trong thời gian tới”. Không dè đến quá mau kết quả phũ phàng do những chính khách và ngọai giao cực kỳ thực dụng Mỹ của chánh quyền Obama dành cho Ô. Trần quang Thành mà báo chí Tây Âu gọi là “luật sư chân đất” và người Trung Hoa coi như “anh hùng dân tộc” trên công luận ngòai luồng của Đảng Nhà Nước TC.

Thực vậy, không bao lâu sau -- xin phép dùng nguồn tin của báo Pháp cho được vô tư hơn trong nội vụ -- heo thông tin, nghị luận của một tờ báo lớn có uy tin của Pháp là nhựt báo Le Monde cho biết “Người Mỹ và Trung Quốc thỏa thuận về số phận của Trần quang Thành”.


Sau khi Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Bắc Kinh, ngày thứ Tư, 2 tháng Năm, vài giờ sau một viên chức hữu trách của Mỹ tuyên bố Trung Quốc bảo đảm “an tòan” cho Trần quang Thành, ông sẽ ở lại ở nước nhà của Ông và không xin tỵ nạn chánh trị trong tòa đại sứ Mỹ nơi mà ông đã vào trốn và đã rời khỏi.


Nhưng Ô. Trần quang Thành vào chiếu thứ Tư tuyên bố với thông tấn xã của Pháp là AFP, Ông rời khỏi tòa đại sứ Mỹ dưới sự bó buộc và nỗi lo nhiều chuyện xảy ra cho gia đình Ông.


Phối kiềm với tin của thông tấn xã AP của Mỹ, chỉ một ngày sau, ông Trần Quang Thành nói với hãng tin AP rằng, ông muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, vì ông lo sợ cho mạng sống của họ. Ông cho biết các giới chức Hoa Kỳ đã nói với ông, là nhà chức trách Trung Quốc sẽ đánh vợ ông tới chết nếu ông không rời khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Nhưng phát ngôn viên ngọai giao Mỹ ở Washington đính chính nói các giới chức Mỹ không bao giờ nói với ông Trần về bất cứ đe dọa nào đối với vợ và con ông, nhưng Trung Quốc đã nói với họ, là gia đình ông sẽ bị đưa về tỉnh Sơn Đông nếu ông Trần ở lại tòa đại sứ Hoa Kỳ. Các giới chức Mỹ cũng đã xác nhận trên Đài VOA, rằng Ô. Thành muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, một ngày sau khi rời khỏi Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ông đang nằm bịnh viện dưới sự giám sát của TC.

Còn thông tấn xã của TQ thì loan tải nhà ly khai rời khỏi tòa đại sứ Mỹ với sự “tự nguyện”. Ông được khám bịnh ở bịnh viện Chaoyang, trung tâm Bắc Kinh, cũng là vùng tòa đại sứ Mỹ tọa lạc. Theo trang web nhiều người đọc thì người ta cũng thấy tại nơi đây khi Ô. Thành vào bịnh viện, có mặt Đại sứ Mỹ Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa và rất đông những nhà báo.


Còn ngành ngọai giao của TQ thì tỏ vẻ rất bất bình và tố cáo Mỹ với lời lẽ cứng rắn: “Phải nhìn nhận rằng tòa đại sứ Mỹ tại TQ đã dùng những phương tiện bất thường đưa công dân TQ Trần quang Thành vào tòa đại sứ. TQ rất bất mãn”…” Cách hành động đó của Mỹ là can thiệp vào nội bộ của TQ, là điều không thể chấp nhận được đối với TQ”. TQ đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.” Và một viên chức Mỹ có trách nhiệm tuyên bố với tư cách dấu tên, nói tự hậu một việc như vậy không còn tái diễn nữa.”


Còn theo tin từ Washingon Mỹ, việc Ông Thành rời tòa đại sứ Mỹ, không xin tỵ nạn chánh trị là kết quả một cuộc thương lượng với nhà cầm quyền TQ. Nhà cầm quyền TC hứa với Mỹ ngòai việc để cho Ông và vợ Ông tự do học luật, còn hứa bảo đảm cho Ông một chỗ ở an tòan. Ông Thành điện thọai cám ơn Ngọai Trưởng Mỹ, “Tôi muốn có thể hôn Bà”.


Thế là Mỹ và TC đã giải quyết và an bài số phận của người Ls mù lòa này rồi.


Nhưng chưa chi kết quả cuộc dàn xếp Mỹ và TC, lời hứa của TC đã vi phạm một cách trắng trợn. Công an canh gác Ô. Thành ngay tại bịnh viện. Bè bạn Ông, vợ con Ông rất lo sợ. Chỉ một ngày sau Ông muốn đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ. Làng dân báo, công luận của dân Trung Hoa trên web rất bất bình thái dộ và hành động của Mỹ và lo cho Ô. Thành. Chính phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland hôm thứ Năm nói các giới chức Mỹ đang thảo luận các lựa chọn với ông Trần, hiện đang nằm bệnh viện tại Bắc Kinh dưới sự giám sát của Trung Quốc.

Giải pháp của Mỹ và TC để đưa Ông Thành ra khỏi Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh là giết sinh mạng chánh trị của người “luật sư chân đất”, một người mù dũng cảm, kiên trì đấu tranh chống lại chính sách một con mà hậu quả là cưỡng bức phá thai của Đảng Nhà Nước TC nữa – thành một nhà đấu tranh.


Nó hạ cấp một nhà đấu tranh danh tiếng, có uy tín thành một sinh viên vô danh mắt mù đi học luật với vợ ở một đại học nào đó của nước TQ với gần 1 tỷ 400 triệu người sống dưới chế độ CS độc tài, đảng trị, tòan diện.Nó tạo điểu kiện để TC chỉ định cư trú Ô. Thành với lới hứa cho Ô. Thành một chỗ ở “an tòan”. Cũng như Việt Cộng hứa với quân cán chính VNCH cho đi “học tập cải tạo tập trung” là để bảo vệ an tòan tránh nhân dân đòi nợ máu, mà thực tế là đi tù lao động khổ sai, biệt xứ đúng theo định nghĩa của luập hình trên thế giới.


Trớ trêu thay nhà đấu tranh nhân quyền, nhà ly khai đấu tranh cương quyết, vào tù ra khám nhiều lần cho tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị lịch sử mà chính Mỹ đã chủ trương kêu gọi và hứa hẹn dân tộc các nước, lại bị giết sinh mạng chánh trị bới chính những chính khách thực dụng của chánh quyền TT Obama.


Chính Ngọai Trưởng Clinton đã từng kêu gọi TC trả tự do cho Ô. Thành, bây giờ vì cuộc họp đối thọai về kinh tế và chiến lược với TC, mà chỉ vài giờ sau các nhà ngọai giao phù thủy đã buộc Ông Thành ra khỏi khuông viên tòa đại sứ, trên nguyên tắc là lãnh thổ của Mỹ mà quốc ca Mỹ gọi là trái tim của những người tự do!


Tuồng kịch chánh trị bá đạo và cực kỳ thực dụng này của chánh khách Mỹ thực hiện với những cán bộ đảng viên CS ở TQ làm trong phòng cửa đóng kín. Thật là một trò cười ra nước mắt cho những nhà đấu tranh tin vào các chính khách và nhà ngọai giao Mỹ như TT Obama, NT Clinton. Họ giải quyết số phận nhà đấu tranh Trần quang Thành cũng như dân chúng và dân tộc bị áp bức, trên đầu trên cổ người dân. Họ dọn sạch, họ tẩy trùng bầu không khí, tạo dư luận thuận lợi cho cuộc họp thường niên đối thọai về kinh tế và chiến lược giữa hai thành phần chấp chánh ở Washington và Bắc Kinh.


Nhưng không ai tin việc làm của những chánh khách thực dụng Mỹ được TC đáp ứng thuận lợi. Bản chất của TC mềm thì nắn, rắn thì buông. Sau khi Mỹ thực tế là “trao trả” Ông Thành cho chế độ, CS Bắc Kinh đã có những lời lẽ hết sức chống Mỹ như TQ rất bất mãn, Mỹ can thiệp vào nội bộ của TQ và đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.


Có nhiều dấu chỉ cho thấy việc những chính khách và nhà ngọai giao Mỹ trong chánh quyền TT Obama vo tròn bóp méo vụ Ô. Thành rời khỏi tòa đại sứ Mỹ, ban đầu có vẻ là một thành công ngoại giao của chánh quyền Obama, Ngọai Trưởng Clinton. Nhưng không bao lâu sau đó bị phản tác dụng nặng nề. Thái dộ và hành động quá mềm yếu của họ với TC, việc thiếu trách nhiệm với lời hứa ủng hộ tự do, dân chủ, nhân quyền ấy; TT Obama có thể trả một giá rất đắc. Nó ảnh hưởng bất lợi cho việc tái tranh cử của TT Obama, vì bị coi như thất bại của TT Obama đối với TC, quá mềm yếu với TC, như nhiều lần thất bại trong việc yêu cầu TC giảm giá đồng nhân dân tệ, để hàng hóa TC tràn ngập thị trường Mỹ, làm mất công ăn việc làm của người dân Mỹ, và mang nợ TC như Chúa Chổm./.


Vi Anh

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : "Hồi Ký Vượt Biên" (5-6)

Hồi Ký Vượt Biên (5) : Chuyến Vượt Biên Thứ ChínVĩnh Khanh (Thương Tặng Con Trai LVS) C/N 2011/08

Chiếc ghe cặp sát vào chân cầu nhỏ ngay bến đò, tôi lật đật nắm tay đứa con trai bước lên, mặt ván cầu trơn ướt làm thằng bé trợt chân chúi nhủi về phía trước, may mà tôi níu nó kịp và cái tay vịn bằng thân cây tràm dọc theo cầu cản lại, không thì nó đã té xuống nước rồi. Có tật giật mình. Tôi làm bộ cúi xuống phủi sơ trên quần của nó, thật ra đâu có dính gì đâu mà phủi, nhưng mắt thì đảo lẹ một vòng xem có ai ngó tới cha con chúng tôi không. Trời mới vừa tờ mờ sáng, ngó chưa rõ mặt người. Trên mặt sông lác đác vài chiếc xuồng chở hàng bắt đầu tìm chỗ tấp vào bến. Không ai chú ý tới cha con chúng tôi cả.

Nhớ lời dặn của Hai Tốt, gã chèo ghe đưa gia đình chúng tôi từ hôm qua đến giờ, tôi nắm tay con trai tôi đi thẳng một mạch lên hướng chợ ra vẻ như là dân địa phương rành đường lắm vậy. Vợ tôi bồng đứa con gái nhỏ mới hơn một tuổi lẽo đẽo theo xa xa ở phía sau. Hai cha con bước vào nhà lồng chợ Huyện Thốt Nốt. Gọi là chợ nhà lồng cho xôm tụ, chứ nó rất nhỏ, chỉ có một mái ngói phía trên là tươm tất, còn thì bốn bề trông suốt nhau. Tôi nghĩ đứng đầu này nói vói qua liên lạc với đầu kia dễ dàng.

Thằng con trai tôi thỉnh thoảng quay lại ngó về phía sau để thăm chừng xem Mẹ và em nó có còn đó hay không, tôi cúi xuống nhắc nhỏ vào tai nó :
- Con đừng quay lại nhìn Mẹ và em nữa, Ba vẫn để ý không để Mẹ và em lạc đâu ...

Con trai tôi dù đã nguỵ trang cẩn thận, nhưng vẫn không thể che hết làn da trắng và gương mặt của một đứa bé thị thành. Giữa đám bạn hàng và dân chúng trong chợ đang bắt đầu đông dần lên, tôi có cảm tưởng cha con chúng tôi nổi bật lên hết, ý nghĩ đó làm cho tôi không thấy an tâm chút nào. Theo như lời Hai Tốt, tụi B2 ở huyện Thốt Nốt này không nhiều, nhưng dáng vẻ của gia đình chúng tôi cũng có thể phân biệt với người địa phương rõ ràng, dù tôi cố gắng nguỵ trang cho ra vẻ một tay miệt vườn thứ thiệt, còn vợ tôi thì với chiếc nón lá cũ và bộ đồ bà ba bạc màu, thật tình mà nói, tôi thấy cũng chẳng giống một người nhà quê chút nào cả, cho nên tụi tôi phải thiệt cẩn thận nếu không dễ bị thua lắm.

Trời sáng dần, mọi vật trong chợ theo đó cũng rõ hơn lên. Tôi nắm tay lôi thằng con đi len lõi qua những thúng gánh ngổn ngang của bạn hàng để ra phía bên kia chợ. Sau khi quan sát kỹ thấy không ai để ý, tôi dắt con đi lẹ ra khỏi nhà lồng chợ rồi tấp vào xe hủ tiếu mì của một người Hoa ngay phía bên phải.Vợ tôi bồng con gái lẽo đẽo theo sau như đã dặn dò từ trước, rồi tắp vào một gánh hàng rong gần đó, vừa mua chút gì cho đứa con gái lót dạ, vừa chờ đợi động tỉnh của cha con tôi phía trước.

Mới sáng sớm nên xe hũ tiếu mì còn vắng khách, chỉ có một bà có vẻ là con buôn đang ngồi ăn ở cái bàn nhỏ phía ngoài. Tôi dắt con đến ngồi ngay phía trước xe mì kêu một tô hoành thánh cho nó, còn tôi thì chỉ gọi một cái cà phê sửa nhỏ. Ông chủ xe mì phải kêu vói qua quán cà phê ngang đó mang qua cho tôi vì ông không có bán cà phê. Trong khi thằng con đang tò mò một cách thích thú trước những hình vẽ kể chuyện Tề Thiên Đại Thánh trên những tấm kiếng bọc chung quanh xe mì, thì tôi nôn nóng ngó qua bến xe đò ở phía bên kia đường. Trước khi cặp vào bến đò, Hai Tốt còn cẩn thận dặn kỹ lại một lần nữa :
- Bến xe bắt đầu bán dzé đúng 7 giờ sáng, anh nhớ canh kỹ để mua được giá chính thức, nếu không chỉ trễ một chút là hết liền. Tụi cò mòi nó « xăng tăng » với ban điều hành bến xe để chúng nó bán chợ đen chia chát với nhau, dzé giá chính thức chỉ được bán cho có lệ thôi.

Tôi còn lạ gì cái trò này nữa, bao nhiêu chuyến đi trước, may mắn lắm chúng tôi mới mua được vé chính thức, còn toàn là mua vé chợ đen, dễ gì mà chen lấn dành được với đám đông trước phòng bán vé. Sau 75, tình trạng này trở thành một cái gì quen thuộc hàng ngày cho những ai có việc phải di chuyển bằng xe đò. Nhưng nói cho cùng, tất cả mọi thứ đều tệ hại hết chớ có phải riêng gì chuyện mua vé ở các bến xe đò đâu ! !

Trong khi chờ đợi, tôi trả tiền tô hoành thánh và ly cà phê trước cho chắc ăn. Cổng bến xe còn đóng, bên ngoài các người đàn bà đã bu đông trước cửa để chờ ào vô dành mua được vé chính thức giá rẽ. Tôi không dám dẫn thằng con trai đứng chờ trước cửa bến xe như họ, vì ngại tụi B2 lảng vảng đâu đó thấy bộ tịch của cha con tôi rồi sà tới hỏi thăm thì « kẹt đạn » lãng xẹt ... Thôi thì cứ chắc ăn chờ đợi cho đến khi bến xe mở cửa rồi hãy qua, mua được vé chính thức hay không, không quan trọng, miễn an toàn là được mặc dù tiền bạc chúng tôi không còn bao nhiêu.

Khi bên trong phòng bán vé có người ra mở cánh cổng, đám đông bắt đầu nhốn nháo hẳn lên, tôi quay lại ra hiệu kín đáo cho vợ rồi kéo tay con trai tôi đi qua bên kia đường. Thằng bé còn tiếc nuối mấy bức tranh thầy trò Đường Tam Tạng, Tề Thiên Đại Thánh ... trên chiếc xe mì, nên dùng dằng chưa muốn đi. Tôi phải vừa dỗ dành vừa lôi nó đi. Vợ tôi bồng đứa con gái cũng băng qua đường và chen vào trong đám đông để vừa tránh lộ nguyên hình và đồng thời cũng cố mua cho được vé chính thức bán với giá ưu tiên cho người có con nít ... Sau một hồi vất vả chen lấn dữ dội, cũng may trong phòng bán vé có một người thấy vợ tôi bồng đứa con gái nhỏ kẹt trong đám đông, mặt mày chắc là bèo nhèo dữ lắm, cho nên anh ta kêu réo ra ngoài bảo đám đông nhường chỗ cho vợ tôi bước lên phía trước phòng vé và bán cho vợ tôi. Bà xã tôi ngoái lại chỉ về phía cha con tôi đang còn lẩn trong đám đông ở phía sau, cho biết là chúng tôi đi cùng với nhau ... Cuối cùng thì cũng mua được 2 vé, thiệt là mừng ! Con gái tôi thì còn quá bé, vợ tôi bế trong lòng rồi không kể, còn thằng con trai thì tôi sẽ cho nó ngồi trên đùi của tôi cũng tốt rồi, chịu khó một chút đỡ phải tốn tiền mua thêm một vé.

Khi xe ra khỏi bến rẽ lên con đường tráng nhựa hướng về tỉnh lộ, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhỏm. Con trai tôi đã bắt đầu lim dim, vợ tôi cũng đang dỗ cho con gái ngủ. Tội nghiệp hai đứa nó, mấy ngày qua không ăn ngủ gì đàng hoàng cả, hai vợ chồng tôi cũng đừ vô cùng, nhưng vì quá lo lắng nên không thấy mệt, còn hai đứa bé hể buông ra là chúng nó ngủ say sưa ngay. Nhìn thằng con đang tựa vào lòng tôi ngủ, một mối cảm xúc từ đâu bỗng dâng lên, hai khóe mắt cảm thấy cay cay. Đây là lần thứ 9, con trai tôi đã theo tôi vượt biên và lần này lại bất thành nữa ! ! ! Hai cha con đã chịu biết bao nhiêu vất vả, thiếu thốn, ngay cả còn bị vào tù. Trong lòng tôi pha trộn nỗi buồn, hận bất tận. Nghĩ thấy số phần của gia đình tôi sao lận đận quá. Chiếc xe đò lắc lư và bắt đầu ra đến tỉnh lộ, tôi liếc ngang qua bên cạnh, vợ tôi cũng bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Tôi cố nhắm mắt một chút nhưng không thể nào ngủ được cả, trong vùng tối sâu thẳm của ký ức, bao nhiêu hình ảnh bỗng cuồn cuộn chạy về, trước sau rất rõ ràng, như đang đối diện với tôi vậy.

* * * * *

Ba ngày trước khi đi, vợ chồng tôi đã tất bật lo chạy mua từng viên thuốc say sóng, vitamin và những đồ khô để dự trù cho chuyến đi sắp tới. Lần này vợ chồng chúng tôi phải gom góp bán hết tất cả những đồ dùng nào còn khả dĩ bán được có giá vì bao nhiêu tiền bạc, nữ trang ... đã không cánh mà bay theo những chuyến thất bại lần trước rồi.

Vợ tôi than thở :

- Lần này nếu không đi được nữa chắc có nước chết quá. Tiền bạc không còn gì cả, hai đứa nhỏ cũng đã èo uột bệnh lên bệnh xuống dây dưa hoài qua mấy lần thất bại trước. Anh liệu tính làm sao thì tính. chứ em mệt mỏi quá rồi.
- Tính gì nữa mà tính bây giờ ? Vấn đề là mình có muốn tiếp tục đi nữa hay không ? – Tôi trả lời vợ tôi. – Người ta cho cả gia đình mình đi không tốn tiền, trong khi biết bao nhiêu người không có cơ hội như chúng ta. Nếu mình đi không được là tại số của gia đình mình thôi. Chuyện khó khăn thì mình phải chấp nhận chứ biết làm sao bây giờ. Anh nói thật nếu còn những cơ hội như vầy thì anh không muốn bỏ qua. Nếu bỏ cuộc không đi thì ở đây thử hỏi có làm được gì ? Làm ăn không được, con cái sau này học hành sẽ tới đâu. Thà là chết trên biển chứ anh không chịu nổi cuộc sống tù túng, không có tự do này.

Vợ tôi trả lời :

- Ai mà không biết vậy, nhưng thà là đi trót lọt được, còn không thì chết trên biển, chứ bị bắt ở tù hoặc lủi thủi trở về trong khi tiền bạc mất hết thì thật không biết phải sống như thế nào ?
- Em thấy đó. Ở đây thì cũng có khác gì ở trong một nhà tù lớn chứ. Sống cũng lây lất chứ sướng ích gì. Anh thà là thử nữa chứ không bỏ cuộc. Em tưởng anh không lo rầu sao ? ? ?

Đại khái có những cuộc cãi vã nho nhỏ giữa vợ chồng chúng tôi chung quanh vấn đế này như thế đó. Kể từ những lần vượt biên thất bại kỳ trước, vợ tôi nản chí dần, tiền bạc thì hết ... cuộc sống của chúng tôi đã khó khăn từ trước lại càng khó khăn hơn sau mỗi lần thất bại trở về. Tôi cũng buồn thúi ruột chứ đâu có sung sướng gì. Lo rầu đủ thứ mà không làm cách nào khác hơn được. Mổi lần thất bại trở về nhìn thấy vợ con nheo nhóc trong khi bản thân mình cũng không xoay sở gì được, là tôi lại muốn điên lên. Cũng may còn có người Dì ruột thương gia đình chúng tôi vô cùng đã cho chúng tôi một chỗ ở và đùm bọc với nhau rau mắm qua ngày. Tuy vậy những áp lực của cuộc sống hằng ngày cũng tạo cho không khí gia đình nhiều nổi bất an.Vì thế cái lo của vợ tôi là một cái lo âu thường tình. Sau mỗi lần cãi vã, tôi luôn luôn tìm cách an ủi và khuyến khích vợ tôi ... và thế là chúng tôi lại thử thêm một lần nữa, mọi hy vọng đành đặt hết vào tay Phật Trời an bài.

Chuyến đi này được hình thành do một chủ ghe khoảng 45, 46 tuổi tên Tư Trầu. Tay này đàn ông mà ghiền ăn trầu còn hơn mấy bà già. Trong túi của ông ta lúc nào cũng có một gói đựng những miếng trầu têm sẵn. Đứng nói chuyện với Tư Trầu, nhìn cái miệng đỏ lòm nhai nhõm nhẻm của ông ta thấy mà phát ớn. Tuy vậy Tư Trầu rất hiền và ăn nói chửng chạc lắm. Tôi biết được ông này do một người chuyên môn lo về vụ Taxi đưa đón người đi ra cá lớn tên Tư Thêm giới thiệu. Tôi gặp ông Tư Thêm trong tù Cầu Ván, Rạch Sỏi trong lần thất bại đầu tiên. Ông Tư Thêm khoảng hơn 60 tuồi rồi nhưng còn rất khoẻ mạnh, quê ở vùng Ô Môn, Cần Thơ. Ông có dưới tay một lực lượng ghe nhỏ toàn là con cháu của ông, chuyên « bốc » khách đưa ra cá lớn, làm ăn rất uy tín trong nghề này. Trước đây ông nghèo lắm, chỉ sống bằng nghề giăng câu ban đêm, sống đạm bạc qua ngày với bà vợ bị loà hai mắt. Các con ông đã có gia đình ở riêng nhưng cũng chẳng có đứa nào khá giả gì cho lắm.

Khi phong trào vượt biên rầm rộ nổi lên, trong vấn đề tổ chức việc đưa đón khách rất là quan trọng. Đa số khách từ thành phố về, đôi khi phải « ếm » ở nơi an toàn một vài bữa trước khi đưa ra ráp nối với cá lớn. Đã có biết bao nhiêu chuyến vượt biên thất bại do taxi bị bể mà ra. Ông Tư Thêm có con cháu đông, lệnh lạc do ông nhận về truyền lại cho đám con cháu đâu đó răm rắp là một điều mà tay tổ chức vượt biên nào cũng thích cả. Ông được nhiều tay tổ chức chuyên nghiệp mời rủ tham gia vào nghề đưa đón, ếm khách này mấy năm rồi. Thắng thua cũng nhiều chuyến và cũng đã từng ngồi tù Cầu Ván, Rạch Sỏi. Khi bị bắt, một mình ông gánh chịu hết cho con cháu. Tôi nói chuyện với ông lúc trong tù Cầu Ván đã thấy ông có nét bất cần đời rồi, ông nói :
- « Qua » già rồi, sống được bao lâu nữa đâu, làm cái nghề này nguy hiểm « qua »  biết chứ. Nhưng ráng làm kiếm chút đỉnh cho con cháu chứ cậu nghĩ coi, từng tuổi này « qua »  còn làm cái gì ra được tiền nữa. Nếu lỡ thất bại, « qua »  gánh hết cho con cháu. « qua »  hỏng có ngán mấy thằng công an này đâu. Tổ cha nó. Hồi đó tụi nó còn ở trong bưng, nửa đêm « qua »  chèo xuồng tiếp tế cho nó, vậy mà giải phóng dzìa tụi nó thấy « qua » , thiếu điều không thèm ỉa dzô mặt nữa.

Lúc đó trong hoàn cảnh tù tội, rảnh rỗi cứ ngồi tán gẫu nói chuyện phiếm qua ngày với nhau. Ông ta và mấy tay trong tù khoái nghe tôi kể những chuyện Tàu, kiếm hiệp, Tam Quốc Chí ... & ... & ... giải buồn. Ông rất khoái mẫu người « trượng nghĩa anh hùng » như Đơn Hùng Tín, Quan Vân Trường ... nên cứ yêu cầu tôi kể về những nhân vật này hoài, tôi thì cứ nhớ tới đâu kể tới đó, đôi khi không đầu không đuôi gì cả ... vậy mà ông cũng khoái nghe lắm. Tôi còn nhớ rõ giọng nói ông nghẹn ngào bày tỏ cảm xúc thật sự khi nghe tôi kể lại lúc Trình Giảo Kim dâng rượu trong mẩu chuyện Tống Tửu Đơn Hùng Tín ... Đại khái con người ông Tư Thêm như vậy đó : Bộc trực và giàu tình cảm.

Ai dè sau này tôi còn có dịp gặp lại ông ! Khi được biết tôi đã thất bại nhiều chuyến và có khả năng sử dụng bản đồ, hải bàn ... Ông muốn giúp tôi nhưng không có quyền quyết định nên giới thiệu qua chủ ghe Tư Trầu đồng thời cũng là tay đứng đầu trong tổ chức vượt biên lần này. Tư Trầu cũng đồng ý giúp tôi nhưng hai vợ chồng và hai đứa con thì đông quá, ông ta chỉ nhận giúp cho một mình tôi thôi.

Dù biết rằng mình được giúp cho đi không tốn kém như vậy là tốt lắm rồi, nhưng tôi cũng đành cám ơn Tư Trầu không thể chấp nhận được vì sau nhiều lần thất bại trở về, tôi đã nói với vợ tôi trước đây rằng : « Chắc số anh và thằng S không đi được, nên bây giờ nếu có điều kiện, cơ hội đưa đẩy đến thì thà là cả gia đình mình cùng đi, sống chết gì cũng cả gia đình chịu chung chứ anh không muốn đi riêng rẽ nữa ». Do đó tôi từ chối nhã ý của Tư Trầu luôn.

Câu chuyện tưởng như vậy là xong. Nhưng một hôm tình cờ tôi gặp lại ông Tư Thêm đi với Hai Tốt, con trai thứ của ông, lên Sài Gòn có công chuyện riêng gì đó. Chúng tôi vui vẻ hỏi thăm xã giao mấy câu, bỗng ông Tư Thêm hỏi tôi :

- Cậu em nhắm xuống giữ ghe dùm cho Tư Trầu được hông ?
- Có chuyện gì ? Ghe làm sao mà phải giữ ?
- Thằng tài công giữ ghe bấy lâu nay, nhưng bà già dzợ nó hấp hối nó phải về nhà lo cho bã. Bây giờ chỉ còn có mình thằng thợ máy phụ mới 15 tuổi nằm ở dưới, Tư Trầu hông an tâm bỏ ghe cho một thằng nhỏ như vậy. Y nhờ « qua »  kiếm dùm một người, nhưng chưa kiếm ai được. Nếu cậu nhận lời thì « qua »  nói dzới y rồi tranh thủ xuống liền đi. Còn nếu cậu hông nhận lời thì chắc « qua »  phải cho con của « qua »  đi giữ ghe quá chứ đâu có thể bỏ được.

Ông còn nói thêm cho tôi an tâm :
- Nếu cậu nhận lời, tiền công giữ ghe « qua »  chắc Tư Trầu hông có trả hẹp hòi gì cho cậu đâu. Ngoài ra nhân cơ hội này biết đâu y đổi ý cho vợ con cậu đi luôn thì sao ? Cái đó cũng hỏng biết chừng à nghen ? Một mặt « qua »  cũng sẽ nói dzô luôn cho.

Tôi suy nghĩ một lúc, đề nghị này cũng lại là một cơ hội nữa đây, nhưng đang đứng ngoài đường gần chợ Trương Minh Giảng, tôi không thể quyết định được. Chuyện này quan trọng, tôi phải bàn với vợ tôi trước, vả lại chưa chắc Tư Trầu đã đồng ý cho cả gia đình tôi đi, tôi nói với ông Tư Thêm :

- Chuyện tiền công thì tôi không màng đâu, nếu tôi nhận lời thì xuống dưới lo cho tôi ăn uống đủ rồi. Nhưng quả thật nếu Tư Trầu đồng ý cho hai vợ chồng và 2 đứa con tôi đi thì làm cái gì thêm nữa tôi cũng làm chứ đừng nói là giữ ghe không ? Ngoài ra tôi cũng nói thiệt với chú là riêng tôi thì không sao nhưng chưa bàn qua với bà xã, tôi thật chưa quyết định được. Bao giờ chú về dưới ? Tôi hỏi thêm.
- Sáng mai.
- Chú cho tôi chiều nay trả lời chú được không ? Tôi phải về nói chuyện với vợ tôi cái đã. À ! Chú cho tôi hỏi thêm. Nếu tôi nhận lời đi xuống dưới giữ ghe thì tôi sẽ ở dưới với thân phận gì, tôi không có một tờ giấy lận lưng, làm sao ăn nói với nhà cầm quyền địa phương ?
- « Chiện » đó cậu khỏi lo. Cậu xuống dưới sẽ là công nhân nhà máy xay lúa gạo. Tư Trầu có giấy tờ chứng nhận công nhân nhà máy sẵn hết rồi. Thằng Mạnh tài công ghe cũng xài giấy này hồi nào tới giờ êm re. Giấy này là giấy « thiệt » đó, chủ tịch Huyện ký có dzô trong sổ bộ đàng hoàng.

Ông vỗ vỗ vai tôi trấn an thêm :
- Đừng có lo gì mấy « chiện » này. Dzìa bàn dzới bà xã đi. Nếu cậu đồng ý thì chiều nay cho « qua »  hay rồi chuẩn bị mai dzìa dưới dzới « qua »  luôn. Khi xuống dưới đâu đó xong xuôi để « qua »  dò ý tứ Tư Trầu coi y ta nói sao ?

Ông ta hẹn tôi địa điểm liên lạc buổi chiều hôm đó rồi chúng tôi chia tay.

Ngay sau khi từ giã hai cha con Tư Thêm, tôi về nhà bàn với bà xã tôi ngay. Thật ra tôi đã quyết định đi xuống dưới đó một chuyến xem tình hình ra sao, lúc đó có dịp gần gủi Tư Trầu sẽ mở ý thẳng với ông ta xin cho cả gia đình đi luôn, còn không được nữa thì thôi cũng không mất mát gì. Tôi chỉ không muốn bỏ lỡ cơ hội như thế này. Vợ tôi nghe nói cũng phân vân, nhưng tôi thuyết phục vợ tôi là dù sao tôi cũng nên đi xuống dưới xem tình hình ghe cộ thế nào, nếu may Tư Trầu đồng ý thì mình cũng biết ít nhiều về chuyện này còn hơn là không. Còn nếu không được thì tôi lại trở về, cứ thử thời vận một lần nữa xem sao ... Vợ tôi cuối cùng đồng ý.

Thế là chiều hôm đó tôi báo tin cho ông Tư Thêm. Qua sáng hôm sau, 3 người chúng tôi đi về Trà Vinh, con « cá lớn » đang nằm ụ ở đó. Tư Thêm dẫn tôi đến ngay bến chỗ ghe đang đậu, giới thiệu tôi với thằng phụ máy tên Hiếu, bảo tôi cứ ở đó chờ một chút ông ta sẽ trở lại. Nhìn thấy « dung nhan » của con cá lớn tôi không khỏi ngao ngán, « ban ngày ban mặt » trông nó còn nhỏ hơn tôi tưởng tượng nhiều ! ! Nó lại không phải là loại ghe đi biển chuyên nghiệp mà chỉ là loại ghe lớn đi trên sông nhưng được cải biến trước mũi để có thể lướt sóng, mà người ta gọi là mũi Thái Lan. Hai bên hông được be cao lên thêm để có thể cản bớt sóng ... So với chiếc ghe tôi đã biết trong những chuyến vượt biên trước đây thì chiếc ghe này quả thật nhỏ hơn nhiều. Trong khi chờ đợi, tôi vào trong buồng lái trò chuyện với thằng Hiếu. Tôi đã được ông Tư Thêm cho biết trước thằng Hiếu này là phụ máy đi theo tài công trên ghe chở lúa gạo cho nhà máy xay Châu Thành bấy lâu nay, trong vấn đề vượt biên lần này nó hoàn toàn không biết gì hết. Nó chỉ biết theo giữ chiếc ghe lên nằm ụ để sửa chữa máy móc và tu bổ thêm vậy thôi. Dân chúng và công an địa phương cũng không ai để ý gì vì ghe nằm ụ ở giáp ranh của Cần Thơ và Trà Vinh nằm sâu trong nội địa, biển còn xa lắc xa lơ, nói chung không ai nghi ngờ đây sẽ là ghe vượt biên cả ... Vả lại ở chỗ này lại là nơi tập trung nhiều ụ sửa chữa ghe cộ, nhiều chiếc chủ ở rất xa cũng kéo về đây sửa chữa. Ghe lại có giấy tờ đầy đủ thì không có gì phải sợ cả.

Khoảng hơi xế chiều thì ông Tư Thêm trở lại, ông kêu thằng Hiếu chạy đi ra chợ nhỏ gần đó mua chút đỉnh đồ về nấu cơm ăn và nhậu chơi. Đợi thằng Hiếu đi rồi, ông cho tôi biết đã báo cáo với Tư Trầu là tôi nhận lời giữ ghe dùm, ông nói chuyện của tôi để từ từ khi có cơ hội ông sẽ tìm cách nói với Tư Trầu cho, bây giờ y ta lu bu quá không tiện mở miệng nói. Ông căn dặn tôi mỗi ngày ở trên ghe không được đi đâu hết, công an phường khóm có tới hỏi giấy tờ ghe thì đưa ra. Ghe này hiện nay trên danh nghĩa là ghe của nhà máy xay lúa gạo Châu Thành ở Cần Thơ. Giấy tờ hiện thằng Hiếu đang giữ, ông sẽ nói nó đưa lại cho tôi. Còn thằng Hiếu ở đây chịu trận cả tháng rồi, ngày mai Tư Trầu cho nó về thăm nhà. Ông lại còn nhắc tôi :
- Nếu có ai hỏi han gì tới cậu, kể cả mấy thằng công an địa phương thì cứ nói là cậu ở Huyện Ô Môn đi qua giữ ghe cho nhà máy trong khi sửa chữa. Giấy tờ « qua »  đưa cho cậu là giấy « thiệt » có chứng nhận ở Huyện Ô Môn đàng hoàng đó. Cho nên không có gì phải sợ hết nghen.

Ông ta đưa cho tôi một tờ giấy do Chủ Tịch Huyện Ô Môn chứng nhận tôi tên là Nguyễn Thanh, tự Ba Thanh ở xã Phước Thới, Huyện Ô Môn là công nhân của nhà máy xay lúa gạo Châu Thành, Cần Thơ. Đi công tác tu bổ, sửa chữa ghe cho nhà máy tại Thị Xã Trà Vinh. Tờ giấy chứng nhận không có hình ảnh gì hết và nhìn qua thấy chẳng có giá trị gì cả, nhưng ông Tư Thêm cứ luôn miệng nói :
- Giấy này là giấy « thiệt » đó nghe cậu. Do Chủ Tịch Huyện ký có dzô sổ đàng hoàng. Cậu em đừng có sợ gì hết. Dzới lại tin « qua »  đi, không ai hỏi han gì cậu hết đâu.

Tôi xếp tờ giấy bỏ vào túi mà cảm thấy không tin tưởng vào nó chút nào ! Nhưng quả nhiên như lời Tư Thêm nói, cả tuần lể ở đó coi chừng ghe không ai thèm để ý tới tôi cả. Thằng Hiếu được cho về nhà ngay ngày hôm sau. Trước khi về, theo lệnh của Tư Thêm, nó đi chợ mua đủ thứ cho tôi chất trong khoang hầm. Có người thay thế giữ ghe cho nó về, nó khoái quá nên đi liền, không thắc mắc gì cả. Còn mình tôi, suốt ngày chỉ nằm trong khoang. Hết ăn lại ngủ. Không dám đi đâu cả. Có hai tay thợ máy thỉnh thoảng tới lui sửa chữa gì đó trong hầm máy, xong lại đi. Họ chỉ chào hỏi tôi mấy câu xả giao rồi việc ai nấy làm. Nói chung khi biết tôi là người của nhà máy xay lúa gạo Châu Thành gởi tới nằm giữ ghe, họ cũng chẳng thắc mắc gì tới tôi hết. Buồn buồn không biết làm gì, tôi đi xuống khoang hầm, cầm đèn bão lần theo mấy vết chai ở những chỗ ráp nối mấy miếng ván xem chai có trét kỹ không, có chỗ nào nứt không. Lòng cứ nghĩ thầm, biết đâu mình sẽ đi vượt biên trên chiếc ghe này, cẩn thận coi có vết chai nào bị nứt hoặc trám không kỹ thì sẽ cho họ hay sau để họ trét lại kỹ càng cũng an tâm hơn.

Được 1 tuần thì Tư Trầu với Tư Thêm tới. Ông ta vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa hỏi tôi có gì lạ không ? ? Có ai tới hỏi han gì không ? ? Tôi cho biết là không có gì cả ... đồng thời báo cho Tư Trầu mấy chỗ chai trét bị nứt trong hầm mà tôi phát hiện ... Cả hai chui xuống xem xét một hồi rồi leo lên vỗ vai tôi cười :
- Mấy chỗ đó không có gì đâu, ghe nào lại không bị mấy chỗ như vậy. Tại bên trong khoang hầm nóng quá thì ghe nào cũng phải bị vậy thôi nhưng không sao cả, còn tới mấy lớp chai lận.

Cả hai cứ cười chọc tôi chuyện đó hoài làm tôi cảm thấy cũng quê quê.

Nhân cơ hội này ông Tư Thêm nói với tôi ngay trước mặt Tư Trầu :

- « Qua »  nói dzới y rồi. Y bằng lòng, như vậy là cậu em chịu trách nhiệm "đề lô" phải không ?
- Chuyện này thì tôi làm được. Có đồ nghề sẵn cho tôi thì không thành vấn đề với tôi. Anh đã có đồ nghề chưa ? –Tôi hỏi Tư Trầu, ám chỉ bản đồ, hải bàn và thước đo toạ độ ...
- Chưa ! Thằng Mạnh tài công nói nó kiếm được. Bị "chiện" bà già dzợ nó bịnh đây không biết ra sao nữa ? Để tui hỏi lại coi. Nếu nó kẹt lo cho bà già dzợ nó. Em kiếm cho tui được không ?
- Được, tôi kiếm mua cho mấy tay trước đây mấy lần rồi.Có điều giá cả đôi khi tụi nó thay đổi, lên xuống chút đỉnh không biết trước được.
- Giá cả xê xích chút đỉnh thì không sao. Tư Trầu nhai nhóp nhép, suy nghĩ một chút rồi nói với tôi – Thôi dzầy đi. Chờ thằng Mạnh này rủi tới giờ chót trở quẻ thì « giựt con mắt » lắm. Em lo cho tui « chiện » này đi, được không ? Tui sẽ cho người liên lạc dzới em dzề chiện này. Tiền bạc tới đó sẽ có người lo cho em. Còn chiện của em, chú Tư Thêm có nói dzới tui rồi. Như dzậy đi. Cho dzợ chồng em dzới hai đứa nhỏ « oánh » luôn đó. Ráng giữ ghe thêm mấy bữa nữa chờ tui đưa người tới lấy ghe xong thì mới dzề thành phố nghen. Chịu khó, đừng bỏ đi đâu nghen.

- Anh yên tâm đi, chỗ này lạ nước lạ cái tôi cũng không muốn đi đâu hết.
- Như dzậy đi há.

Dặn dò xong xuôi ông ta phun một bãi nước trầu đỏ lòm xuống bờ sông rồi cùng Tư Thêm bỏ đi mất.

Tôi mừng quá, như vậy là điều tôi mong muốn đã đạt rồi. Nghĩ lại số mình cũng còn may mắn đi đâu cũng có người giúp đỡ, chứ thời buổi này kiếm đâu ra người chịu cho gia đình tôi đi không như vậy ?

Sau lần giữ ghe ở Trà Vinh đó. Tôi về lại Sài Gòn báo cho vợ tôi hay tin mừng đó. Sau đó mấy bữa, quả nhiên có người do Tư Trầu phái lên gặp tôi để nhờ tôi mua dùm « Giấy, đồng hồ, thước kẻ », chuẩn bị cho ngày đi. Cũng như những lần trước, chuyện này tôi thực hiện dễ dàng. Sau đó chúng tôi còn liên lạc với nhau mấy lần nữa cho tới ngày hẹn.

Đã được hướng dẫn từ trước nên đến ngày hẹn, hai vợ chồng tôi và 2 đứa con cứ thế mà ra Xa Cảng Miền Tây đón xe đi Cần Thơ. Theo như kế hoạch thì chuyến vượt biên này chúng tôi sẽ lên cá lớn ngay trên sông Hậu Giang và từ đó chạy qua Trà Vinh đi ra cửa biển Định An. Những cánh « bốc quân » của mấy tay đưa taxi khác không biết ở đâu, nhưng riêng vợ chồng tôi sẽ được đón ngay tại bắc Cần Thơ. Sau khi xe đò tới bắc Cần Thơ, chúng tôi xuống xe, vào một quán cơm ven đường ngay tại bắc Cần Thơ ăn cơm trưa đồng thời chờ đến giờ hẹn. Còn khá sớm nên chúng tôi cứ chẩm rải ăn uống. Ngay tại bắc Cần Thơ, người người lủ lượt đi đi lại lại rất đông đảo, không ai chú ý tới chúng tôi cả, vả lại nơi đây không có gì phải sợ. Chờ tới khoảng 1 giờ 30 chiều, tôi mới trả tiền và dẫn vợ con xuống bến phà. Ngay tại dưới bến đã có Hai Tốt cặp ghe chờ sẵn rồi. Tôi đã gặp Hai Tốt một lần khi anh ta lên Sài Gòn với ông Tư Thêm trước đây nên khi nhận ra anh ta từ xa, tôi cứ đi thẳng tới. Chúng tôi chào hỏi với nhau rất tự nhiên và bước xuống ghe, ai nhìn vào cũng ngỡ là Hai Tốt và chúng tôi là bà con với nhau.

Hai Tốt là một thanh niên trẻ khoảng 24, 25 tuổi, tướng tá nhỏ người. Miệng lúc nào cũng như có vẻ cười nên trông gương mặt gã rất vui vẻ. Chiếc ghe đón chúng tôi là loại ghe có khoang lợp bằng lá dừa nước, ngồi bên trong mát và khuất, ít bị người trên bờ chú ý tới. Kiểu ghe này dành cho những gia đình sinh sống luôn dưới ghe, nên bên trong có sẵn gạo mắm muối, mền gồi đầy đủ. Nhờ thế vợ con tôi cũng đỡ vất vả. Còn tôi thì ra chèo mũi phụ với Hai Tốt băng ngang qua sông Cần Thơ.

Từ bên này bờ chúng tôi chỉ nhìn thấy một vệt lờ mờ phía bên kia bờ. Chiếc ghe trên sông trông giống như một chiếc lá nhỏ, có vẻ mảnh mai yếu đuối và dễ lật quá, nhất là những lúc có những tàu, ghe lớn chạy qua, dù từ đàng xa nhưng cũng tạo thành nhiều đợt sóng làm chiếc ghe chao đảo dữ dội. Không quen với những cảnh chòng chành của ghe như thế, chúng tôi cứ giật mình hoài, nhưng Hai Tốt thì vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra. Anh chàng ta đã quen với sông nước quá rồi !

Khi đứng trong bờ nhìn ra đã thấy con sông Cần Thơ giáp nối với sông Hậu rộng lớn vô cùng, nhưng khi ra giữa dòng nhìn lại thì thấy nó còn mênh mông hơn nhiều. Ai đó đã ví von « Chiếc lá giữa giòng » thật là đúng với trường hợp này. Chiếc ghe của chúng tôi nhỏ nhoi giống y như một chiếc lá giữa giòng, tôi có cảm tưởng như đang đi trên biển chứ không phải sông nữa. Bốn bề chỉ thấy trùng trùng điệp điệp một màn trời nước bao la tưởng như vô cùng tận. Sông Cần Thơ quả thật lớn quá. Phải mất hơn 4 tiếng rưỡi đồng hồ ghe chúng tôi mới tới được điểm Hai Tốt muốn tới ở bờ bên kia !

Trời cũng vừa sụp tối. Hai Tốt tấp vào một con rạch nhỏ, neo ghe lại đó để ăn cơm.Trước đó khi còn trên sông lớn, Hai Tốt đã chỉ vợ tôi lấy gạo trong một cái khạp nhỏ và đã nấu cơm xong, đồ ăn thì có cá lóc kho sẵn và dưa leo. Hai Tốt cho chúng tôi biết theo như kế hoạch, khuya nay gã sẽ chèo ghe ra điểm hẹn chờ cá lớn đến ngay sát bên sông Hậu Giang và từ đây cá lớn sẽ chạy suốt đêm, băng ngang qua Trà Vinh rồi đi ra cửa Định An. Tôi hỏi anh ta :

- Chỗ « đánh » tối nay gần đây không ?
- Hỗng xa lắm, nhưng cũng phải đi thêm độ 1 tiếng nữa. Anh chị cứ cho mấy đứa nhỏ ăn uống thoải mái, nghỉ ngơi một chút rồi mình đi.

Tôi hỏi thêm Hai Tốt về tình hình kế hoạch tối nay thì anh ta không biết rõ lắm, nhưng theo như những gì gã nghe nói thì tối nay khoảng 9 giờ tối, ghe lớn sẽ đến điểm hẹn bốc "hàng", từ đây cá lớn sẽ chạy thẳng ra biển luôn. Theo dự trù thì ra đến cửa biển Định An trước khi trời bắt đầu sáng. Trong bụng tôi thấy không an tâm với lối bốc hàng sâu trong nội địa như thế này, vì từ đây chạy thẳng ra biển còn xa quá. Hình như đoán được sự lo lắng của tôi, Hai Tốt cười nói :

- Tư Trầu « oánh » mấy « chiến » như dzầy rồi. Thắng đủ mấy « chiến » ! Tui nghe Tư Trầu nói « chiện » dzới ba tui là bốc hàng sâu trong này ít bị để ý. Lúc bốc hàng là lúc căng nhất, vì lộn xộn và ồn ào lắm. Còn một khi hàng nằm hết trên cá lớn rồi thì phẻ re, cứ như dzậy mà chạy ra biển thôi. Ba tui nói « chiến » nào Tư Trầu cũng có mua bãi đáp hết nên « oánh » êm lắm.
- Hồi đó giờ em có đưa taxi chuyến nào cho Tư Trầu chưa ?
- Có chứ sao hông ? Đâu có « chiến » nào sót tui ! Ba tui « mần » taxi cho Tư Trầu mà. « Oánh » trong này đi taxi êm hơn ở dzùng gần biển, ít bị ai để ý.

Chúng tôi ăn uống xong, ngồi nghỉ ngơi một chút chờ đến khoảng 7 giờ 30 tối thì bắt đầu di chuyển. Hai Tốt đứng sau ghe chèo đôi dọc theo bờ sông Hậu. Tiếng mái chèo vỗ vào nước phát ra những tiếng róc rách đều đều nghe nhàm chán đến độ buồn ngủ. Ban đêm gió trên sông thổi mát lạnh, tôi ngước nhìn lên bầu trời đầy sao mà không khỏi liên tưởng đến những đêm vượt biên trước đây. Bầu trời hình như cũng vẫn vậy, nhưng chúng tôi đang ở vào một chặng đường khó khăn khác mà trong phút chốc đây không biết sẽ ra sao ? ?

Nhìn từ bờ bên này ngược về phía bắc Cần Thơ xa xa chỉ thấy một vệt sáng mờ mờ. Chiếc xáng cạp khổng lồ xúc cát nạo vét lòng sông lúc chiều ghe chúng tôi đi ngang qua, nay chỉ còn là một hình thù kỳ dị, đứng sừng sửng đen ngòm giữa nền trời sông nước, với hai ngọn đèn đỏ trên cao như hai con mắt thò lỏ của một loài ma quái nào đó, báo hiệu cho các ghe tàu khác nhìn thấy phải sợ mà tránh ra xa. Thỉnh thoảng một vài chiếc ghe bầu chở lúa khẩm đến độ be ghe muốn chạm tới mặt nước, từ phía ngoài sông vượt qua mặt chúng tôi, tiếng máy nổ xình xịch vang lại từ xa nghe như thể tiếng thở nặng nề của con trâu già hậm hực kéo lê chiếc cày quá nặng trên một miếng ruộng khô cằn ! Ban đêm nhìn những chiếc ghe bầu này có cảm tưởng như những pháo đài bí mật, phủ vải đen ngòm trôi dật dờ trên sông ! Cảnh vật trên sông sao mà im lìm buồn não nuột, lại trúng vào tâm trạng lo âu, bất an của chúng tôi nên cảnh vật lại càng có vẻ thê lương hơn.

Bên trong khoang, ngọn đèn bão nhỏ móc trên một cọng kẻm bẻ cong, hiu hắt soi dáng vợ tôi đang dỗ đứa con gái ngủ sao mà thảm thương chi lạ ! Ngó qua nhìn thấy đứa con trai đang ngồi một mình bên góc chiếu trong khoang, thấy tội nghiệp thằng bé quá. Nó là đứa chịu cực với tôi trong vấn đề vượt biên này nhiều nhất qua mấy chuyến đi từ trước tới giờ. Tôi lom khom chui vào trong khoang, chen chúc ngồi ghé xuống cạnh chỗ ra vào, ôm thằng bé trong lòng hỏi nhỏ :
- Hồi nãy con ăn cơm no không ?

Nó gật gật cái đầu, tay vẫn còn nghịch nghịch món đồ chơi nhỏ trên tay.

- Con chơi một chút rồi ngủ đi nghe, chứ đêm nay mệt lắm không có ngủ được đâu.

Thằng bé dạ một tiếng nhỏ, nhưng mắt vẫn không rời món đồ chơi. Nhìn con trai rồi nhìn vợ đang ngồi dỗ đứa con gái, lòng tự nhiên thấy buồn kinh khủng, tôi bò ra phía sau chỗ Hai Tốt hỏi nhỏ gả có muốn tôi phụ gì không ?

- Hông ! Một mình tui chèo quen rồi. Phẻ re, hỏng có gì đâu ? Gã cười rồi nói thêm : Anh dzô trong khoang nghỉ đi, hay ra phía trước ngồi cho cân ghe tui dễ chèo hơn. Gần tới tui cho anh hay.

Tôi lại bò ngược lại, muốn dành cả khoang trống cho vợ và hai đứa nhỏ có chỗ ngả lưng nên chui qua khoang ra thẳng đàng trước mũi ngồi ngó mênh mông, thỉnh thoảng quơ quơ cây dầm cho có lệ chứ chẳng biết làm gì khác hơn !

Ghe cứ thế lầm lủi tiến từ từ về phía trước trong đêm tối. Chuyến đi này tuy cũng lo âu, thấp thỏm, nhưng tôi không có cảm giác quá hồi hộp như những lần trước, vì ở đây xa biển, không ai nghi ngờ ghe chở người trốn đi vượt biên ở chỗ này cả. Nếu có bị xét hỏi thình lình, cũng không có gì phải sợ. Nhưng nghĩ đến khi nằm trên ghe lớn từ đây đi ra cửa biển Định An quá xa chắc chắn là hồi hộp lắm, vì sẽ đi qua biết bao nhiêu là trạm thu thuế nông sản và những đồn công an địa phương ... Tôi không khỏi nghĩ ngợi, lo lắng lung tung. Hai Tốt rẻ vào một nhánh sông nhỏ và chèo dọc theo sát bờ bên phải. Chúng tôi đi khoảng hơn một tiếng thì ra lại sông lớn, đây là ngã ba tiếp giáp với sông Hậu Giang. Hai Tốt nhẹ mái chèo tấp ghe vào một cái vàm khuất sau khóm dừa nước lớn và neo ghe lại đó. Tôi lồm cồm bò ra phía sau chỗ Hai Tốt. Bên trong khoang hai con tôi đã ngủ, vợ tôi đang ngồi quạt muổi cho hai đứa nhỏ, thấy tôi liền hỏi nhỏ :

- Tới chỗ rồi hả ?
- Anh cũng không biết nhưng chắc có lẻ vậy. Em ngồi đây với hai con đi, anh ra phía sau nói chuyện với Hai Tốt xem sao ?

Được một cái là nơi đây ít muổi nên hai đứa nhỏ ngủ yên. Qua ngọn đèn vàng vọt tôi nhìn nhanh xuống gương mặt dễ thương của hai con rồi chui ra đàng sau ngồi xuống cạnh Hai Tốt hỏi nhỏ :

- Tới nơi rồi hả ?
- Ừ ! Tối nay mình lên ghe lớn ở phía ngoài ngã ba sông. Gã giơ tay chỉ về phía trước – Bây giờ mình ở đây chờ.
- Em biết còn bao lâu nữa không ?
- Chắc hông lâu lắm đâu. Ba tui nói khoảng 9 giờ tối thì cá lớn tới.

Trên sông vắng hoe, gió từ sông Hậu Giang thổi vào lạnh cả người. Chúng tôi ngồi sau mũi yên lặng chờ đợi. Chung quanh tiếng côn trùng rỉ rả không ngớt, thỉnh thoảng tiếng cá đớp bóng đâu đó cộng với đom đóm bay chập chờn trên sông làm cho cảnh vật có vẻ thê lương một cách kỳ lạ. Tôi hỏi nhỏ Hai Tốt :
- Để đèn sáng trong khoang có sao không ?

Hai Tố cười :
- Ghe cộ đi trên sông ban đêm để đèn là thường mà. Nói vậy chứ không có sao đâu. Anh yên tâm đi. Ở đàng xa nhìn lại hông thấy gì hết đâu. Mà có thấy cũng đâu có gì phải sợ, hông có ai nghi ngờ gì ở chỗ này đâu ?

Nói xong anh ta móc bao thuốc Hoa Mai ra mời tôi một điếu rồi mồi bật quẹt hút thuốc tỉnh bơ. Nghĩ lại đúng là tôi có tật hay giật mình đôi khi quá lo xa. Ở đây là địa phận Cần Thơ, người di chuyển trên sông rạch chằng chịt suốt ngày đêm. Ai mà để ý tới tụi tôi đang âm mưu vượt biên ở đây đâu mà sợ. Tôi cảm thấy yên tâm hơn nên cũng đốt thuốc ngồi hút với Hai Tốt.

Khoảng độ 30 phút sau, con « cá lớn » từ từ lộ diện ngay ngã ba sông nổi bật lên một hình thù đen ngòm trên nền sông nước xa xa. Trong bóng đêm trông nó cũng bình thường như những ghe lớn khác trên sông. Hai Tốt hích cùi chỏ ra dấu cho tôi biết, rồi nói nhỏ :
- Anh nói chị chuẩn bị đi. Tới rồi đó. Đợi đèn báo hiệu là mình xông ra liền nghen.

Tôi bò vào khoang bảo vợ tôi chuẩn bị cho cho đứa con gái lúc đó đang ngủ say. Còn tôi thì chụp cái túi xách nhỏ rồi định bế thằng con trai lên, nhưng thấy nó đang ngủ ngon lành nên tôi không nở đánh thức nó dậy sớm quá . Tôi nói với vợ tôi :
- Cứ để cho thằng S nằm ngủ thêm chút nữa đi, chưa có gì đâu. Đừng đánh thức nó dậy sớm làm gì. Anh sẽ ra chèo mũi phụ với Hai Tốt khi nào gần tới, em đánh thức nó dậy rồi anh sẽ vào bế nó sau. Phần em thì lo cho bé T. nghe.

Sau đó tôi lom khom ra trước mũi. Chúng tôi chờ cho đèn báo hiệu an toàn trên ghe lớn ra dấu xong xuôi, hai đứa cắm đầu cắm cổ chèo thật nhanh về phía « cá lớn ». Nhưng không biết từ lúc nào, gần như tất cả mọi phía cùng một lúc đổ xô ra mấy chục chiếc ghe, tất cả đều hối hả hướng về chiếc ghe lớn. Chỉ không đầy 5 phút trên ngã ba sông đã đen nghẹt những ghe xuồng đủ cở chùm nhum lại với nhau chật cả một khúc sông vắng.

Đã bắt đầu nghe có tiếng ồn ào phía trước khi ghe chúng tôi hãy còn ở mãi tuốt đàng sau. Nhìn thấy số lượng ghe nhỏ đang hướng về chiếc ghe lớn, tôi không khỏi lo ngại. Con số đông quá ! Khi đi giữ ghe lúc trước, tôi đã biết con cá lớn này « lớn » cở nào rồi, với số người trên tất cả các ghe nhỏ này đổ lên thì chỗ nào mà chứa cho nổi ! ! Nếu không tới trước thì sẽ gặp khó khăn khi leo lên ghe lớn vì chắc chắn sẽ đông người bám vào lắm. Đã vậy chiếc ghe của Hai Tốt chở chúng tôi là loại ghe có khoang dùng cho gia đình sinh sống. Tốc độ của ghe chúng tôi không bằng được những chiếc xuồng ba lá nhỏ nhắn nhưng lướt rất nhanh, nên chẳng mấy chốc tôi thấy chiếc ghe của chúng tôi tụt lại phía sau dù Hai Tốt và tôi đã ra sức chèo cật lực. Mấy chiếc xuồng phía trên càng lúc càng gần vào ghe lớn bỏ lại chúng tôi còn lủi thủi phía sau. Phía trước ghe lớn đã bắt đầu bốc người lên rồi. Chúng tôi quính lên càng ra sức chèo. Khi ghe chúng tôi gần tới thì phía trước mặt đã dầy đặt các ghe xuồng bao chung quanh chiếc ghe lớn, không cách gì chúng tôi chen vào được. Tiếng người la hét cải cọ, chưởi bới đã nổi lên um sùm.Tôi than thầm trong bụng : « Điệu này không xong rồi ! ! Hỗn loạn như vầy thì chưa lên tới ghe lớn đã bị bể rồi ! ».

Khi ghe chúng tôi tiến sát vào thì không còn có một lối nào có thể tiếp cận vào ghe lớn được nữa. Mấy chiếc xuồng ngay phía trước tôi cũng loi ngoi cố lèo lách để tiến cho bằng được vào trong, không ai nhường ai tạo thành một cảnh hỗn loạn chưa từng có. Những người trên ghe lớn cố kéo những người trên những chiếc xuồng tiếp cận sát bên hông lên, nhưng vẫn không xuể vì số người bám vào hai bên hông nhiều quá. Ngay cả những chiếc xuồng trống cũng là một cản trở. Tiếng la hối thúc, chưởi rủa nổi lên đủ mọi hướng, đại khái như sau :

- Đạp mấy chiếc xuồng trống ra ngoài. Tránh ra, tránh ra. ĐM lên được rồi không chịu đạp dùm xuồng trống ra ngoài, làm sao người khác dzô được.
- Mày là khách của ai ? ? ĐM tụi bây đi hôi mà còn muốn lên trước hả ? ? ?
- Ghe chật hết rồi. Không lên được nữa. Buông tay ra, buông ra đi. Té chết bây giờ ...
- Hai ơi, Hai ơi. Mày ở đâu. Tránh ra tránh ra ... Làm ơn kéo dùm em tôi lên với. Hai ơi, mày nghe thấy tao không ? Lên tiếng coi ...

Tiếng con nít la khóc nổi lên và tiếng người lạc nhau, la hét kêu gọi tên người thân càng lúc càng ồn ào không gì kềm chế được nữa ! ! !

Trong khi đó ghe chúng tôi vẫn không cặp vào được, mấy ghe xuồng nhỏ phía trước lấy dầm chỏi mạnh mũi ghe của chúng tôi dang ra để lấy đà tiến lên phía trước. Tôi thấy tình hình này nguy hiểm quá, vả lại không cách nào vào được sát ghe lớn. Hai đứa con tôi trong khoang đã bắt đầu la khóc. Vợ tôi cũng sợ quá gọi tôi, giọng mếu máo :
- Kiểu này không được đâu anh ơi. Có tắp vô được thì không cách gì em với hai đứa nhỏ leo lên được đâu. Anh chen lấn lên được thì chắc mình cũng bị lạc. Thôi bỏ đi. Bỏ đi. Cái gì mà dành giựt thấy dễ sợ quá. Thôi bỏ đi anh ơi. Không làm sao leo lên ghe được đâu. Em sợ quá.

Tôi cũng hoảng hồn không ngờ được tình trạng quá sức hỗn loạn như thế này. Kiểu này không xong rồi. Đừng nói là chúng tôi còn kẹt bên ngoài, dù có tiếp cận được vào ghe lớn, chưa chắc cả gia đình chúng tôi lên được hết trên ghe lớn. Thất lạc nhau là cái chắc. Đang còn hoang mang, tôi lại nghe tiếng những tiếng la :

- ĐM tụi bây làm quá ghe chìm bây giờ. Mở máy chạy đi. Tài công đâu, mở máy chạy lẹ đi. Chết hết bây giờ.
- Ê làm gì mà xô tui. Ông lên được thì sao tui lên hông được ...

Đại khái cảnh hỗn loạn lúc bấy giờ như vậy đó. Tiếng la hét lẩn tiếng con nít khóc rần trời, ồn ào cả một khúc sông rộng.

Tôi bước trở lại đứng thẳng trước khoang nói lớn với Hai Tốt ở phía sau :
- Không xong rồi Hai Tốt ơi. Quay ghe lại đi. Không thể nào lên ghe lớn được nữa đâu. Đứng lớ ngớ đây một chút là chết liền bây giờ. Quay lại ngay đi.

Nói thì nói vậy chứ cũng không phải là dễ quay ghe lại với tình thế này. Mũi ghe của chúng tôi trong lúc dằn co cố gắng chen vào đám đông lúc nãy đã vướng dính với mấy chiếc xuồng khác khó mà rút ngay ra được. Tôi la lớn với mấy người chèo xuồng trước mặt.

- Bỏ đi đi, chết hết bây giờ. Ồn ào như vầy, công an tới bắt hết cả đám bây giờ.

Tôi vừa la vừa ngồi xuống sát mũi ghe, giơ chân đạp chỏi mạnh lên chiếc xuồng bên cạnh để chiếc ghe của tôi có thể nhích lui lại một chút, trong khi đàng sau Hai Tốt cố gắng chỏi ngược mái chèo đi lui lại. Với cách như thế, nhích từng chút một chiếc ghe của chúng tôi cũng ra khỏi được đám đông hỗn độn đó. Ngay lúc đó tôi nghe tiếng máy ghe nổ lớn rồi chiếc ghe lớn bắt đầu chạy lôi theo nhiều người còn đang đeo bám bên hông. Tiếng la hét lúc này còn ầm ỉ hơn trước nữa. Hình như có mấy người rớt xuống nước, tôi nghe có tiếng kêu cứu ầm ỉ ở phía đám đông bát nháo đó.

Không còn lòng dạ nào nghĩ tới chuyện gì khác, chúng tôi phải lánh xa chỗ này ngay. Vừa cố gắng chèo cật lực ở phía trước mũi, tôi vừa la lớn thúc hối Hai Tốt :
- Hai Tốt ! Mình phải đi ra khỏi chỗ này ngay. Tôi bảo đảm chỉ một chút công an kéo tới đầy hết cho xem.

Hồn vía Hai Tốt lúc đó chắc cũng không còn lưu luyến gì với cảnh này. Không nghe anh ta trả lời gì cả, nhưng tôi chắc bao nhiêu sức lực của gã lúc bấy giờ đều cho ra hết trên đôi tay chèo. Con « cá lớn » lúc đó đã xả hết tốc lực bỏ chạy đi khá xa, không chiếc xuồng ghe nào đuổi kịp nữa. Trên sông chỉ còn sót lại những chiếc xuồng không người trôi dật dờ tản mác khắp nơi, trong khi nhiều chiếc ghe giống tình trạng chúng tôi không "chất hàng" lên cá lớn được cũng đã thất vọng, bắt đầu tìm đường rút lui. Tiếng ồn ào giảm nhiều nhưng vẫn còn tiếng la khóc, gọi tên tìm người thân bị lạc đâu đó vang lên không ngớt.

Thật là một cảnh tượng kinh hoàng và bi đát vừa diễn ra trên ngã ba sông ! Tôi tự hỏi không biết có người nào chết khi rơi xuống sông lúc nãy hay không và có bao nhiêu người bị thất lạc người thân trong cảnh vừa rồi ? ? Lòng dạ tôi còn bàng hoàng, sững sốt lẩn nổi sợ hãi ... làm cho trí óc tôi trơ cứng ra trong một trạng thái mơ hồ không tự chủ được. Tôi quả thật không bao giờ ngờ lại xảy ra cảnh hỗn loạn đến như thế ! Vợ và con tôi vẫn còn khóc rấm rức trong khoang mà tôi cũng không biết phải làm sao để an ủi.

Chiếc ghe của chúng tôi quay về hướng cũ, đâm vào nhánh sông nhỏ lúc nãy, lủi trốn như con thú bị thương ! Hai Tốt cũng không nói lời nào. Chúng tôi cứ thế mãi miết chèo. Hai Tốt rẽ tới rẽ lui mấy lần qua những khúc sông nhỏ, tôi không rõ là chúng tôi đang đi đâu nhưng tôi không cần biết, chỉ mong sao đi càng xa chỗ vừa rồi càng tốt. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, ghe chúng tôi ra một con sông thật lớn. Tôi hoàn toàn mù tịt không biết đây là đâu. Hai Tốt nhẹ tay chèo, tấp ghe vào một bãi lục bình thật lớn sát bờ sông và cắm sào nghỉ ngơi. Lúc này tôi mới phát giác người tôi ướt nhẹp mồ hôi. Té ra trong lúc quá sợ hãi khi nãy, tôi đã ra sức chèo cật lực đến độ gió ban đêm mát lạnh trên sông cũng không đủ ngăn mồ hôi tôi tuôn ra ướt hết áo hồi nào không hay ! Tôi giơ tay lên vuốt mặt mới cảm thấy hai cánh tay mình mỏi nhừ, lòng vẫn chưa hết bàng hoàng vì chuyện xảy ra vừa rồi.

Tôi bò vào trong khoang hỏi thăm vợ con thì thấy hai con tôi đã được dỗ ngủ trở lại, nhưng vợ tôi thì vẫn còn thút thít khóc. Tôi biết vợ tôi vẫn còn ám ảnh cảnh tượng vừa rồi, đồng thời lo lắng cho tương lai sắp tới ...

Lòng tôi đau đớn vô cùng nhưng không biết phải nói gì để an ủi vợ trong lúc này. Trước khi đi, hai vợ chồng tôi đã có cầu nguyện Phật Trời, trong lời cầu nguyện chúng tôi đã cầu xin ơn trên cho chúng tôi đi được trót lọt, êm xuôi ... còn nếu lỡ thất bại thì xin thà cho chúng tôi chết ở giữa biển cả, chứ đừng để chúng tôi phải thất bại trở về như những lần trước, chúng tôi sẽ khổ sở lắm. Lời cầu nguyện đó là lời cầu nguyện rất thành thật. Có ai ở vào cảnh ngộ chúng tôi mới hiểu được tại sao chúng tôi đã cầu nguyện như vậy. Nhưng nay rõ ràng chúng tôi lại thất bại trở về nữa rồi ! Tôi đặt tay lên vai vợ bày tỏ lòng cảm thông nhưng không nói được một lời nào trong khi hai mắt đã bắt đầu cay xè.

Sau đó tôi chui ra khỏi khoang ra phía sau. Hai Tốt chắc có lẽ cũng mệt đừ, đang ngồi yên lặng như người mất hồn, tôi lên tiếng hỏi :

- Đây là đâu vậy Hai Tốt ?
- Gần Huyện Thốt Nốt, Cần Thơ.

Tôi nhắc lại chuyện hồi nãy :

- Đánh đấm gì mà hỗn độn như vậy. Nguy hiểm quá. Sao mà kỳ vậy Hai Tốt ? ?
- Tụi canh me đi quá đông. Như vậy tui chắc là có ai lộ ra bãi đáp rồi.

Tôi giật mình. Đúng rồi. Hồi nãy la hét rùm trời có ai đó đã la lên vấn đề « đi hôi » này rồi, có lẻ lúc đó căng thẳng quá nên tôi không để ý tới.

- Hình như Tư Trầu mua bãi đáp, dám tụi công an bán bãi rồi lộ ra bãi đáp kiếm thêm chút cháo cũng không biết chừng ?

Hai Tốt gật gật đầu :
- Tui cũng nghĩ như vậy. Rầu quá, hồi nãy ì xèo ghe xuồng mà tui hông thấy mấy đứa em tui, Tụi nó cũng đưa khách bữa nay mà ? ?

Hai Tốt lầm bầm những gì không rõ rồi lấy gói thuốc Hoa Mai ra đưa cho tôi một điếu. Tôi vừa mồi thuốc vừa hỏi :

- Bây giờ phải tính sao đây. Tôi muốn sáng sớm đón xe về ngay thành phố. Gần đây có bến xe nào không ?
- Nếu muốn đi xe về thành phố thì phải đi ngược về Cần Thơ mới có xe về thẳng thành phố. Bây giờ khuya rồi. Chèo liên tục cả đêm suốt tới sáng mới băng ngang qua sông Cần Thơ được chứ không phải chơi đâu. Gần đây có Huyện Thốt Nốt, bến xe ở đó chỉ đi về tới Cần Thơ, sau đó đổi qua xe khác đi về thành phố. Tui nghĩ như vậy tiện hơn. Có thì giờ nghỉ ngơi một chút chứ giờ này mà chèo sáng đêm qua sông Cần Thơ thì oải quá.

Tôi thấy Hai Tốt nói cũng có lý. Giờ này khuya rồi phải nghỉ ngơi một chút rồi đi tiếp chứ bắt nó chèo suốt đêm sao được. Vả lại tôi cũng mệt mỏi quá rồi. Tôi nói với Hai Tốt mà như thể là lời than thở cho chính tôi :

- Như vậy thì mình nghỉ ngơi rồi canh giờ chèo cho chúng tôi đến chỗ nào đón xe đò đi về chuyến sớm nhất sáng mai nghe. Bị bể vụ này thiệt tình tôi không còn ham muốn gì nữa Hai Tốt ơi, chỉ muốn làm sao về được Sài Gòn càng sớm càng tốt thôi.
- Được rồi. Tui cũng rầu lắm. Sáng mai đưa anh chị dzìa rồi, tui còn phải tìm ba tui dzới mấy đứa em coi có bị gì hông ? ?

Tôi trầm ngâm một lúc rồi hỏi Hai Tốt :

- Tình hình chung quanh bến xe ở Huyện Thốt Nốt và vùng đó như thế nào ? Em có rành không ?
- Ý anh muốn nói là tình hình công an địa phương, an ninh ... ở đó hả ?
- Ờ ! Tôi nghĩ sau cái vụ hồi nãy, nếu công an địa phương phát giác được thì thế nào cũng báo động tùm lum và ngày mai ở mấy bến xe địa phương lân cận có thể có công an chìm theo dõi để bắt những người chạy về. Đây chỉ là ngừa vậy thôi. « Cẩn tắc vô áy náy » vậy mà.
- Đúng rồi, anh lo xa như dzậy cũng phải. Làm sao biết được chuyện gì sẽ xảy ra ? ? Nhất là « chiến » này nhiều người còn rớt lại lắm. Hồi nãy ghe mình bỏ đi trước nên đâu biết được tụi công an có tới không ? –Hai Tốt im lặng như suy nghĩ một hồi rồi nói tiếp - Ở Huyện Thốt Nốt tụi B2 hông có đông, nhưng sau dzụ này nếu tới tai Công An thì tụi B2 thế nào cũng bung ra dò xét, vậy thì anh chị phải cẩn thận trước cho chắc ăn. Mai tui sẽ cặp ghe vào bến đò gần chợ Huyện, chỗ đó cũng gần bến xe đi Cần Thơ. Anh chị trước khi dzô bến xe mua dzé tốt nhất nên dòm ngó cho kỹ rồi hãy xếp hàng mua dzé. Nếu thấy hông ổn thì đón tụi cò mồi mua dzé chợ đen cho chắc ăn.

... Và thế là mờ sáng hôm sau Hai Tốt cặp ghe vào bến đò Huyện Thốt Nốt cho chúng lên đón xe đi về Cần Thơ.

* * * * *

Chiếc xe đò nhảy xốc lên khi qua một ổ gà trên đường trước khi rẽ vào bến xe Cần Thơ và tiếng người ồn ào phía trước đánh thức tôi trở về với thực tại. Thằng S còn đang ngủ mê mệt trong lòng tôi. Liếc nhìn qua bên cạnh, vợ tôi cũng vừa thức giấc đang đu đưa đôi tay theo một phản xạ tự nhiên vỗ về nhè nhẹ ru đứa con gái sợ nó giật mình thức dậy. Nhìn chiếc xe đò từ từ đỗ vào bến xe Cần Thơ khiến cho tôi có cảm giác như vừa dứt bỏ đi được một gánh nặng. Đến được Cần Thơ là an toàn rồi.

Sau khi vào tới bến, chúng tôi mua vé chuyển xe khác đi về Sài Gòn ngay.

Không bao lâu sau, chúng tôi nghe tin chiếc ghe đó đã tới Thailand thành công ! ! Tôi đã lặng người đi trong một trạng thái gần như choáng váng, hầu như không tin tưởng vào những gì mình vừa nghe. Chiếc ghe mà tôi đã có dịp nằm giữ gần 2 tuần lể, tôi đã nhìn nó « ngao ngán » với chiều dài chỉ khoảng hơn 10 mét, ngang hơn 2 mét và tôi đã tỉ mỉ thăm dò từng vết chai trét trong khoang hầm, sợ rằng những vết chai trét nứt nẽ không được an toàn cho chuyến vượt biên ! ! Vậy mà chiếc ghe đó đã chứa được hơn 60 người và đã tới được bến bờ tự do bình yên. Chuyến vượt biên như vậy là thành công mặc dù việc « bốc » hàng bị lộ bến bãi và người đi canh me quá đông đã làm cho một số khách rớt ở lại, trong đó có vợ chồng con cái chúng tôi. Tin này đưa tới như xác nhận một lần nữa là số phần của chúng tôi không thể nào đi được, đừng uổng công vô ích !

Sau chuyến đi này thật sự chúng tôi đã nản chí lắm rồi. Tôi nói với vợ tôi là sẽ không bao giờ mơ tưởng tới chuyện vượt biên nữa. Người xưa có câu : « Tận nhân lực mới tri thiên mệnh », chúng tôi đã tận nhân lực quá đủ rồi và cũng quá nản rồi ! ! Thiên mệnh đã an bài, không còn gì cải chối được nữa. Vả lại chúng tôi phải đối diện với những khó khăn của cuộc sống thực tế, phải đương đầu với sinh kế hàng ngày đã là một thách đố lớn đối với chúng tôi hiện tại. Sau 9 lần thử thách và thất bại đủ 9 lần, tôi đã nếm đủ mọi mùi vị của sự vượt biên : Nào là vượt qua được những khó khăn của giai đoạn bãi ếm, giai đoạn taxi, đã lên cá lớn thành công, chạy cả ngày trời trên biển tưởng rằng đã thoát được ... đã bị cướp bóc (dù đó là do chính tàu VN cướp : Chuyến đi thứ nhất tàu đánh cá Quốc Doanh Kiên Giang 2 đã cướp chúng tôi), đã bị bể ghe suýt chết ... đã bị vào tù tội vượt biên, đã bị lường gạt, đã bị thua non, đã bị bỏ rơi lại vì người đi canh me quá đông ... và cuối cùng còn sót lại chỉ là một thất bại não nề cộng với những khó khăn chồng chất sau mỗi chuyến thất bại trở về.

Nhưng trong một đời người, thiên mệnh như thế nào khi chưa tới lúc thì chúng ta cũng vẫn chưa biết được ! Số phần chúng tôi hình như vẫn còn vướng với nghiệp chướng này. Những lận đận trong cuộc đời vẫn còn đeo đuổi tôi ... không lâu sau đó một sự kiện xảy ra đã khiến tôi phải vào tù Chí Hoà, tại đây tôi đã gặp một kỳ ngộ ảnh hưởng và thay đổi cả cuộc đời tôi. Chuyến vượt biên thứ 10 cũng phát xuất từ kỳ ngộ này ...
Vĩnh Khanh, 
Phố Đá Tròn 2005/07
-----

Hồi Ký Vượt Biên (6) : Chuyến Vượt Biên Cuối CùngVĩnh Khanh (Thương Tặng Con Trai LVS) C/N 2011/08