We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 8 May 2012

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : Thảm Cảnh Vượt Biên




http://saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/images/thongbao1.jpg





Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được,...tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển.


VỤ THỨ NHẤT: 87 người bị giết


NHÂN CHỨNG : Bà Nguyễn Thị Thương 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo sư Trần Quang Huy, phân khoa trưởng Văn Khoa Đại Học Saigon, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.
Ghe mang số SS0646 IA dài 13 m 5, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01 tháng 12 năm 1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp ThaiLan cặp hai bên hông thuyền tị nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.
80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật qúy. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tị nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tị nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tị nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.
Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo sư TRẦN QUANG HUY. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.
Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.
Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tị nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tị nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.
Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ năm, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tị nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại TháiLan ra đón họ vào đất liền.
Không lâu sau đó Bà NGUYỄN THỊ THƯƠNG sinh thêm đứa con gái út trong trại tị nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông TRẦN QUANG HUY. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà THƯƠNG đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.
Bà NGUYỄN THỊ THƯƠNG kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói: "Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi".

VỤ THỨ HAI: 70 thuyền nhân Việt nam tị nạn bị giết

NHÂN CHỨNG : Ông Vũ Duy Thái 44 tuổi, đi cùng vợ là Bà Đinh Thị Bằng 40 tuổi cùng 4 con và 2 cháu. Hiện chỉ còn mình Ông sống sót.
Ghe VNKG 0980 dài 14 m, bề ngang 2 m 2 chở 120 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 29 tháng 12, 1979. Lúc 7 giờ sáng ngày 31/12/1979 gặp tàu hải tặc Tháilan. Tàu này sơn màu đỏ cam, mang số 128 ở đầu mũi, gồm 12 tên cướp võ trang súng dài và dao, búa, rìu. Tàu của chúng phóng tới húc vào làm nứt bể mũi ghe tị nạn. Bọn hải tặc nhảy qua và lập tức phá máy ghe làm thủng thêm vết nứt, nước bắt đầu tràn vào. Bọn chúng lục soát chụp giựt đồng hồ, nhẫn vàng v.v... trong lúc nước nước tràn vào ghe của người tị nạn càng nhiều hơn và bắt đầu bị chìm dần sau khoảng 1 tiếng đồng hồ.
Khi ghe chìm hẳn, đàn bà, trẻ con la khóc hoảng hốt níu kéo lẫn nhau. Bọn cướp nhảy xuống biển và chỉ chọn lựa cứu các cô gái trẻ đẹp. Lúc đó tàu của bọn hải tặc neo đậu cách đó 50 m. Bọn cưới đã lôi kéo về tàu chúng 5 cô gái. Một số đàn ông và thiếu niên tị nạn biết bơi cũng lội về phía tàu của chúng và bám leo lên. Nhiều người bị xô đẩy xuống, nhưng vì chúng ít người nên cuối cùng còn 50 người sống sót leo lên được tàu của chúng kể cả 5 cô gái được chúng cứu trước đó. Những người này đã chứng kiến trước mắt 70 người còn lại bị chết chìm dần dần. Mọi người nhìn thấy những bàn tay chới với ngoi lên khỏi mặt biển rồi mất hút.
Ông Vũ Duy Thái rời Việt Nam cùng vợ và 4 con, 2 cháu. Riêng Ông trong lúc hỗn loạn đã bơi bám vào tàu hải tặc và níu được vợ và một đứa con. Còn 3 đứa con khác và 2 cháu thì bị chết chìm. Tuy nhiên vợ và đứa con còn lại của Ông đã bị uống nước quá nhiều, khi kéo lên được thì không còn nhúc nhích. Ông hi vọng dùng phương pháp hô hấp nhân tạo sẽ cứu sống được, nhưng bọn hải tặc đã quăng vợ và con Ông xuống biển trở lại cho chết luôn.
Anh Phạm Việt Chiêu, 26 tuổi là tài công kể lại chính anh và một số đàn ông khác còn khoẻ đã vớt được một số người chưa chắc đã chết hẳn mà có thể chỉ mới bị ngất xỉu nhưng bọn hải tặc đã bắt bỏ họ xuống biển lại. Sau đó tàu hải tặc trực chỉ đảo KO KRA và chúng giam giữ nạn nhân trên đảo.
Ngày 1/1/1980, một chiếc tàu Hải quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang vũ khí. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thoát. Nhưng những người lính Hải quân chẳng chút thương tâm đoái hoài đến dân Việt tị nạn đang lâm cảnh khốn cùng, họ chỉ lo việc khám xét bằng cách bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái rồi bỏ đi.
Ngày 2/1/1980 một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân công khai trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét như để tìm vũ khí kẻ nào có giấu diếm. Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 4/1/1980 mới bỏ đi.
Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức 4 chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bốc nữa. Chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày.Chúng chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để làm hành động thú tính này. Năm em gái Việt Nam: KH 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NY 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người.
Lẽ ra, thảm kịch còn kéo dài chưa biết đến ngày nào chấm dứt, nếu không may mắn được vị cứu tinh là Ông SCHEITZER Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc xuất hiện kịp thời cứu giúp và kết thúc thảm ác trạng này. Ông đã đến đảo KRA trên một chiếc tàu Cảnh Sát Thái lan.

VỤ THỨ BA: Hải tặc Thái bắt gái vn bán vô ổ điếm

NHÂN CHỨNG : Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 tuổi đi cùng chị là Bà Nguyễn Thị Năm bà này đã bị hải tặc giết trước đó và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ kiều 17 tuổi.
Ghe không số, dài 10 m, chở 78 người, khởi hành tại NhaTrang ngày 08/12/1979. Ra khơi được 3 ngày thì hết nhiên liệu và thực phẩm, thuyền lênh đênh trên biển trong 10 ngày. Thời gian này có 12 trẻ em đã bị chết vì đói khát. Thi thể các em phải bỏ xuống biển. Đến ngày 21/12/1979 gặp 2 tàu hải tặc Tháilan. Bọn cướp buộc giây vào ghe VN với tàu của chúng, dùng vũ khí ép buộc tất cả mọi người qua tàu chúng để lục soát.
Bà Nguyễn Thị Năm 33 tuổi đang mang thai 5 tháng, đi cùng chồng là Ông Lê Văn Tư và 3 đứa con 9 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi. Cả 3 đứa trẻ này đã chết trong thời gian 10 ngày ghe bị trôi lênh đênh trước đó. Bà NĂM quá đau khổ và mệt mỏi không còn đủ sức leo qua tàu hải tặc khi chúng ra lịnh. Bọn cướp đã xốc nách Bà lên nhưng Bà vẫn nằm im, một tên cướp liền dùng xẻng xúc cá đập túi bụi vào đầu Bà NĂM. Bà đã bị nứt sọ chết ngay tại chỗ và chúng xô xác Bà xuống biển.
Mọi người kinh hoảng vội leo sang tàu hải tặc để cho chúng có chỗ trống lục soát, phá phách, xét quần áo, thân thể tìm đồ qúy. Sau đó tất cả đàn ông bị bắt nhốt vào hầm nước đá, đàn bà chúng cho ở trên sân tàu để sờ mó nghịch ngợm. Rồi chúng lùa thuyền nhân tị nạn qua trở lại chiếc ghe đã thủng nát. Khi đến ghe thì một người đàn ông đã chết vì đã bị giam giữ trong hầm nước đá lạnh cóng. Chiếc ghe tị nạn lại tiếp tục thả trôi lênh đênh trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của mọi người.
Ngày hôm sau, hai chiếc tàu hải tặc khác lại đuổi theo, tới gần vùng đảo KO KRA chúng lại lên ghe lục soát cướp bốc. Lần này 3 thiếu nữ xinh đẹp nhất bị chúng bắt đem đi. Con thuyền tị nạn lại tiếp tục trôi trong tình trạng vô cùng bi đát. Máy ghe bị hư hỏng, không thức ăn, nước uống và ghe thì đã ngập nước vì lúc đó tất cả đàn ông đã quá đói khát không còn đủ sức tát nước nữa. Không ai biết số phận 70 người còn lại trên chiếc ghe khốn cùng đó, lúc này ra sao?
Hai chiếc tàu hải tặc chia nhau 3 cô gái VN. Hai cô N.T. Ánh Tuyết và Mỹ Kiều bị chiếc tàu của tên SAMSAC làm chủ bắt giữ. Còn chiết tàu kia bắt Cô LAN 17 tuổi mang đi mất hút, cho tới bây giờ không còn nghe tin tức gì về Cô ấy nữa. Hai cô ÁnhTuyết và Mỹ Kiều bị bọn SAMSAC mang vào đất liền, nhốt trong một khách sạn tại Songkhla. Chúng tách rời hai cô ở phòng riêng khác nhau. Ánh Tuyết bị một tên, được nghe gọi là BÍT canh chừng. Còn Mỹ Kiều thì ở chung phòng với tên SAMSAC.
Ánh Tuyết kể lại là Cô đã la hét kêu ầm lên khi tên BÍT định cưỡng hiếp Cô, khiến mọi người ở các phòng chung quanh cùng khác sạn đa số là người Tây Phương đổ xô tới xem và tên BÍT đã bỏ chạy. Riêng tên SAMSAC ở phòng gần đó nghe tiếng ồn ào vội đem Mỹ Kiều đi giấu trong một khách sạn khác ở tỉnh Haadyai cách Songkhla hơn 30 Km. Khi cảnh sát đến điều tra, chính cô Ánh Tuyết đã dẫn CảnhSát đến bến tàu Songkhla, nơi có chiếc tàu của bọn SAMSAC vẫn còn đậu đó và các thủ phạm hải tặc đã bị bắt kể cả tên SAMSAC mà Cảnh sát đã tìm thấy hắn sau đó cùng với Cô Mỹ Kiều tại khách sạn nói trên.
Tại Ty Cảnh Sát chúng đã khai là định bán hai Cô gái này cho một đường giây chuyên buôn gái cho các ổ điếm.
Trên đây, chúng tôi chỉ đưa ra một vài vụ điển hình thuyền nhân Việt Nam bị thảm nạn hải tặc Tháilan hành hạ, giết chóc xảy ra trong tháng 12-1979 tại đảo KO KRA. Tưởng cần nhắc lại rằng tệ nạn hoành hành của hải tặc THÁI không phải vào thời gian này mới xuất hiện. Trong mấy năm trước 1979 khi ở Việt Nam khởi sự có làn sóng Thuyền Nhân VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO thì người Việt tị nạn của chúng ta đã trở thành những con mồi ngon cho bọn hải tặc THÁI.
Báo chí trên thế giới cũng đã nhiều lần đề cập đến thảm kịch kinh hoàng mà "BOAT PEOPLE" đã phải chịu khổ nạn. Tuy nhiên kể từ khi các ngư phủ THÁI nhận thấy việc cướp bóc Thuyền Nhân sẽ làm cho họ trở nên giàu có mau chóng hơn là đánh cá thì số ngư dân Thái kiêm thêm nghề hải tặc đã ngày trở nên đông đảo, đưa tới hậu quả là người VN đi tị nạn bằng đường biển càng ngày càng bị rơi vào mạng lưới của bọn cướp biển dày đặc bủa vây trong khắp vùng Vịnh Thái lan.

NGUYỄN HÀ TỊNH

31-08-2009

Báo Chí Nhật: Viết Về 30.4 và Số Phận Của Người Thương Phế Binh Miền Nam Việt Nam

Số Phận Của Người Thương Phế Binh Miền Nam Việt Nam 
 Báo Chí Nhật Viết Về 30 Năm sau ngày 30 Tháng 4 Năm 1975:

Trong khi nhiều tờ báo lớn trên thế giới đến Việt Nam trong hai tháng 3 và 4 vừa qua để tìm hiểu và viết về những thay đổi tại Việt Nam sau 30 năm kết thúc chiến tranh, thì ký giả Yoshigata Yushi của Nhật Bản, cũng đến Việt Nam nhưng với tâm tư khác. Ông đến Việt Nam để tìm hiểu điều mà Hà Nội hay nói là ’xoa dịu vết thương quá khứ’ trong lòng ngưới dân miền Nam. Bài viết sau đây của ông đề cập về số phận chung của những Thương Phế Binh Miền Nam.


"Hãy quên quá khứ, đoàn kết lại để xây dựng đất nước" là câu nói thường được các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam nhắc lui nhắc tới kể từ khi quốc gia này áp dụng chính sách "đổi mới" vào năm 1986 dưới thời ông Nguyễn Văn Linh. Ngày 30 tháng 4 vừa qua tại Việt Nam, các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam cũng lập lại câu này trong những buổi lễ tổ chức mừng "Chiến thắng 30/4". Lời kêu gọi này có gì sai, mà sao người dân Việt Nam không đáp ứng, phải để cho lãnh đạo hô hào hoài suốt gần 19 năm trời?

Bất cứ chuyện gì được coi là đúng khi lý thuyết phải phù hợp với thực tế, lời kêu gọi phải đi đôi với việc làm còn không thì tất cả đều vô nghĩa. Kêu gọi người ta hãy quên quá khứ thì chính mình cũng phải hòa đồng, cởi mở, đối xử công bằng với tất cả mọi người chứ không được kỳ thị. Ở đây tôi muốn nói đến số phận chung của người thương binh miền Nam hiện nay vẫn còn bị chính quyền kỳ thị cho dù chiến tranh đã kết thúc đúng 30 năm. Họ đang là nạn nhân của một xã hội bị phá sản mọi thứ tại Việt Nam và đang cần, rất cần sự giúp đỡ của mọi người trong chúng ta.

Từ khi áp dụng chính sách "đổi mới", chính quyền Hà Nội đã hé cửa cho một số hội đoàn thiện nguyện (NGO) nước ngoài vào Việt Nam làm công tác từ thiện, giúp đỡ những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn. Tôi đã được một người trong tổ chức NGO hướng dẫn đến trung tâm trị liệu phục hồi cho người tàn tật ở Cần Thơ, tại đây tôi được gặp ông N. V. Công (73 tuổi, một thương phế binh của Việt Nam Cộng Hòa) khập khểnh bước đi bằng đôi nạng gỗ đã quá cũ mèm mà ông ta sử dụng từ năm 1973 đến bây giờ.

Một người thương phế binh khác là ông N. C. Hùng (53 tuổi) cụt cả hai chân mà chẳng có một phương tiện nào khác để di chuyển ngoại trừ hai bàn tay. Muốn đi phải dùng hai bàn tay chống để lết. 
Cả ông Công và ông Hùng chẳng được một cơ quan nào của nhà nước giúp đỡ phải tự kiếm sống bằng những công việc như đan thúng, đan giỏ ...

Người nhân viên NGO này cho biết lý do tại sao tổ chức NGO của ông ta lại quyết định chọn con đường giúp đỡ những người thương binh miền Nam. Lý do Sài Gòn là nơi đầu tiên ho được đặt chân đến để hiệp tác cho chương trình xóa đói giảm nghèo mà chính quyền Hà Nội kêu gọi. Sau khi đi tham quan nhiều nơi tại miền Nam, phái đoàn của tổ chức NGO này ra Hà Nội để tiếp tục cuộc tham quan. Tại Hà Nội và nhiều nơi khác ở miền Bắc, họ cũng được gặp nhiều thương binh bộ đội miền Bắc có người thì ngồi xe lăn, có người thì đi bằng chân giả hay chống nạng. Người thương binh đã mất đi một phần thân thể của mình cho đất nước thì chính phủ ít ra phải lo cho họ có những thứ đó để giảm bớt trở ngại trong cuộc sống hàng ngày là chuyện đương nhiên. Nhìn những thương binh miền Bắc, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi cho hoàn cảnh của những thương binh miền Nam mà chúng tôi đã gặp tại Sài Gòn, hay những vùng Lục Tỉnh... là họ đã bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Đó là lý do chính để tổ chức NGO chúng tôi quyết định công việc giúp đỡ thương phế binh miền Nam. Người nhân viên NGO này còn cho biết thêm là họ được chính quyền Hà Nội chấp thuận cho làm công việc giúp đỡ này nhưng với điều kiện là phải đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Chúng tôi đã đến nhiều quốc gia làm việc thiện nguyện, nhưng chẳng có một quốc gia nào đặt ra điều kiện kỳ quái như thế, nhưng họ đành phải chấp nhận để mong sao giúp đỡ được những người cần được giúp đỡ.

Nhóm NGO này còn kể tôi nghe rằng họ đã trao tặng các trung tâm trị liệu phục hồi cho người tàn tật nhiều xe lăn, chân giả, nạng gỗ và nhiều thứ khác, vì thấy mức độ tàn tật quá nặng của ông Hùng cần đặc biệt phải giúp đỡ nên tổ chức chúng tôi tặng riêng cho ông Hùng một chiếc xe lăn.
Tặng xong, họ yên chí là từ đây ông Hùng không còn quá nhọc nhằn như trước mỗi khi muốn di chuyển vì đã có phương tiện. Tháng sau họ trở lại gặp ông Hùng thì vẫn thấy ông ta lết đi bằng hai tay, hỏi xe lăn đâu thì ông Hùng trả lời rằng đã bị nhà cầm quyền địa phương tịch thâu vì cơ quan cho xe không qua trung gian chính phủ, bắt phải đóng tiền phạt mới được nhận xe, mà ông Hùng lấy đâu ra tiền để đóng phạt. Cuối cùng họ lại phải bỏ tiền túi đóng phạt để nhận xe lăn cho ông Hùng.

Nghe xong câu chuyện về ông Hùng nói trên, tôi không thể hiểu nổi một chính quyền cứ ra rả nói về ’quên đi quá khứ’ mà lại có những hành động vô nhân đạo đối với những người đã thua cuộc cách nay 30 năm, rõ ràng là về mặt ý thức, chiến tranh Việt Nam chưa chấm dứt. Bởi vì nếu bảo rằng đây là hành động sai phạm có tính cách cá biệt của những quan chức chính quyền địa phương thì cũng đáng buồn cho Việt Nam vì tại đất nước này ngay đến người tàn tật, bần khốn tận cùng cũng không tránh khỏi nạn bóc lột.
Tôi rất chia sẻ vì sao sau 30 năm, người Việt Nam vẫn tiếp tục đấu tranh cho sự tự do, dân chủ và nhân quyền được tôn trọng tại Việt Nam.

Nguồn : http://hoiquanphidung.com/showthread.php?3246-Số-phận-của-Thương-Phế-Binh-VNCH
 

Phúc Cho Ai Vẫn Còn Là Người Tỵ Nạn: ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

ƠN  ĐỜI  CHỨA CHAN 

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống.  Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

image

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người.  Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời.  Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

image

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng Sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây.  Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi  hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác  và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

image
Hình minh họa

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn.  Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm:“Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ :

“Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”

image
Hình minh họa

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

image
Hình minh họa

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng.  Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm. 

Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

image
Hình minh họa

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.
Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.” Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?” Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ” Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

image
Hình minh họa

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng  ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan. 

Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.
Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

image
Hình minh họa

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.
Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ  hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

image

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.
Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói : “Thà tự sướng hơn là tự khổ”

image
Hình minh họa

Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau./.


Tràm Cà Mau

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : Không Biết Mình Còn Sống



http://saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/images/thongbao1.jpg

Một người đàn ông ngồi rung đùi hai chưn bỏ thòng vắt qua bờ của bộ ván ngựa gỗ, tay se điếu thuốc rê vấn giấy báo nhựt trình, nhìn chăm chăm ra phía cửa cái, tay cầm sẵn cái hộp quẹt diêm để mồi lửa. Còn người đàn bà ngồi ở chiếc ghế đẩu kéo ống quần dài tới vế khìa tay gảy bắp thịt sồn sột, mắt đảo tứ phía, liếc nhìn chung quanh như sợ có người rình rập bên ngoài. Không nghe động tĩnh người đàn ông liền bước xuống đất lộn dây ruột tượng lòi ra sấp vàng cây mỏng vánh lén đút nhanh qua tay người đàn bà và ra dấu gói lại ràng thun thật kỹ.
Có tiếng chó sủa rất xa, một người xề tới cạnh bàn kề miệng định thổi tắt ngọn đèn dầu tranh tối tranh sáng. Người đàn bà đưa tay ngăn lại:
- Đừng. Anh cứ để tự nhiên.
- Phải đó, tắt đèn ở ngoài dễ thấy bên trong.
- Chị coi chừng vợ chồng thằng cha tổ trưởng an ninh tối hay rình nhà người khác để báo cáo.
- Thì đừng có hành vi gì lố bịch để thiên hạ khỏi nghi. Thôi anh đừng xì xào nữa.
Vàng bạc là manh mối câu chuyện. Vừa nói người đàn bà tên Bảy Bét liếm tay thấm nước miếng lẩm nhẩm đếm từng cây vàng, soi qua loa trước bóng sáng ngọn đèn dầu nửa trong nửa đục quan sát giả thiệt rồi nhét từng lá vào chiếc áo cót-sê, phần còn lại đút lòn qua tay chồng, nháy mắt cho Bảy Bét lòn đi ra cửa sau phi tang phòng khi bất ngờ công an xô cửa ập vào khám xét kiểm tra hộ khẩu.
Tiền trao cháo múc, anh Vỹ tiếc tiền đưa ra mua giấy tàu đi vượt biên:
- Tui có bao nhiêu tài sản chừng đó tin tưởng đem giao hết cho anh chị thì cố gắng lo cho vợ chồng tui và hai đứa con tui rất tội nghiệp. Có gì không suôi là chắc tui tự vận .
Nghe chồng than vợ không dằn được xúc động nước mắt chảy ròng ròng hai khoé :
- Đi quả nhiên là được. Quẻ thầy bói coi rất tốt. Mình ăn ở hiền lành Trời Phật dòm xuống phù hộ vợ chồng mình tai qua nạn khỏi. Anh đừng nói xui quẩy không nên đâu.
Thấy vợ khóc anh Bảy xót xa:
- Em sao kỳ quá ! Nói được rồi còn khóc lóc làm gì ! Việc gì rồi cũng tai qua nạn khỏi hết.
Chị Bảy Bét là người môi giới, an ủi:
- Anh Tư đừng lo. Tụi tui làm ăn đàng hoàng mà ! Đã mười mấy hai mươi chuyến, chuyến nào cũng trót lọt . Nhằm nhò gì tụi công an đối với tụi tôi. Chuyến đi thành công anh qua bển làm ăn khá giả nhớ gởi về cho vợ chồng tui thêm đô la .
Qua giây phút mọi người nín thinh, chị Bảy tiếp lời nửa nạc nửa mỡ:
- Thì anh chị Tư cứ nghĩ lại đi nếu sợ thì thôi, tôi thối lại. Tôi về. Đi vượt biên ai dám ép.
- Anh Vỹ sợ mất cứu tinh tay ngoắt lia ngoắt lịa cầm chị Bảy ở lại:
- Nói là nói vậy thôi. Chớ tôi nhất quyết đi thì đi. Ở với tụi này rồi cũng sẽ chết. Không chết trước thì cũng chết sau. Thà đi !
- Ừ ! Phải thẳng thừng như ruột ngựa như vậy thì tốt.
- Tụi tôi có cần đem thuốc uống say sóng gì không? Sao tui lo quá ! Con Út nhà tui hay ọc sữa.
- Úi chà ! Nói chuyện với anh riết rồi tui cũng lây cái bệnh truyền nhiễm nhát như thỏ đế . Chủ tàu, tài công họ lo đầy đủ hết rồi. Cụ bị hoàn chỉnh lắm rồi ông cụ non à ! Họ còn lo hơn anh nữa đó. Chuyến này đánh chuyến chót tài công đem theo vợ con đi luôn . Như vậy đủ lo cho anh chưa?
Chập tối thành phố lên đèn. Dãy cột đèn đường treo lủng lẳng các bóng đèn cái bị cháy đít, cái còn xót một hai chỉ đồng loe ngoe làm rơi rớt vài tia sáng hấp hối xuống mặt đường như thảm hoa. Trong khi đó tại một hẻm cụt, vô trong một đường mòn liên tổ của “Thành phố Hồ Chí Minh”, trong căn nhà lá nhỏ một bên chủ bên khách chụm đầu vào nhau bàn bạc vừa mặc cả tổng số cây vàng để mua một chuyến vượt biên. 3 cây vàng cho một đầu người. Luật giang hồ nếu “Đóng hụi” sòng phẳng tại Sài Gòn thì được hồi “nửa” cây.
Bàn chuyện xong xuôi, đánh nhanh rút lẹ, Anh Vỹ tiễn chân khách ra cửa còn xầm xì hỏi với:
- Tui mặc quần áo gì cho không bị khả nghi?
- Ừ ! Cứ bận đồ làm mướn như ở nhà. Giản dị thôi. Một bộ trong mình đủ rồi. Qua Mỹ có tiền mặc sức mà mua sắm. À, nhớ là đứng đội nón lưỡi trai, dân Rạch Giá họ sẽ biết ngay mình ở thành phố xuống. Anh phải chịu khó dan nắng chút xíu cho nước da đen đen như dân biển thì việc gì mà không xong.
Vỹ lóng tai nghe lời chị Bảy dậy, búng tay một tiếng chóc:
- Chị Bảy Bét mới thật là một chuyên viên vượt biên !
Nói rồi ray qua hôn lên má vợ một cái ngọt sớt. Bị chị Bảy đẩy ra :
- Cái ông khỉ này ! Cứ mỗi lần vui chuyện gì là lại đè tôi ra bắt tôi vui lây !
Tại bờ biển Rạch Giá, điểm vượt biên.
Bắt đầu từ 11 giờ đêm, từng nhón 5,3 người len lỏi trong vuờn mía từ từ chui ra có mặt tại tụ điểm. Đủ hạng người Nam, Trung, Bắc, đàn ông, đàn bà, nam nữ, ông già bà cả. Người cụ bị áo quần, người xách túi xách hoặc giỏ đi chợ đựng đồ ăn giống như người đi chợ . Cả bọn không ai bảo ai đều im thin thít.
Một hồi lâu lại có tiếng người đàn bà rầy con:
- Đi ỉa lại không đi trước bi giờ phải làm sao đây? Khổ cho tui quá ! Đồ quỷ !
Một người bực mình giọng nói pha nghiến răng lè nhè:
- Làm gì mà quát tháo ầm ĩ lên thế ? Muốn bị cùm cả tộc đấy à? Cứ cho nó đùn trong quần thì có sao ư? Để xú uế thế còn hơn đi ra ngoài cho công an thộp cổ. Rõ ngợm !
Lại thêm một tín đồ dị đoan:
- Đồ cô hồn các đảng ! Bữa nay đi không đốt vàng bạc trám họng cho nên bây giờ gặp đám cô hồn đây nè !
Nghe nạt một cô gái ấm ức, bị người la:
- Muốn chết hay sao cơ ? Bịt miệng nó lại đi các bố các mẹ ! Khờ !
- Đi vượt biên sao chị lại khóc ?
- Em sợ quá ! Em nhớ má quá ! Ở đây người ta dữ quá ! Xin cho em về !
- Trời !
Trong bóng tối mờ trăng, Vỹ thấy ông bạn vừa kêu trời mang khẩu súng K-54 thả xệ hông. Vỹ đoán biết chính gã là công an làm việc cho quận huyện gì đây nhưng đã thông đồng “bán bãi” làm lơ cho đám vượt biên trốn ra khơi.
Tới giờ nhất định có đám người lạ mặc một thứ vải kaki đen mới tới trong đó có anh chị Bảy Bét, có lẽ họ ở trong ban tổ chức, đến từng người nhận diện và thu lại thẻ mua giấy tầu của khách hàng, dấu hiệu là hộp lưỡi lam hiệu Bà Đầm . Ở đằng xa, con tàu lù lù xuất hiện tức thì đám đông như ong vỡ tổ, túa ra chạy vụt tới để leo được lên tầu mới chắc ăn là “ Hàng vượt biên thứ thiệt”
Chiếc tầu từ từ rời bến ai nấy đều mừng nhưng không dám thở mạnh vì còn phập phồng sợ đám công an biên phòng ăn không đồng chia không đủ trở mặt. Không ai bảo ai tất cả mọi người đều nằm sát trên ván tầu để mục tiêu thu nhỏ đằng xa khó nhận dạng. Có người thúc dục:
- Thêm ga cho tầu máy chạy lẹ coi !
- Đồ ngu ! Chưa ra hải phận cho máy hú để mà tự tử à?
- Câm miệng lại được không các cha !
- Ừ, ai không phận sự xin giữ im lặng cho . Đâu phải đi ăn giỗ.
Vỹ lo sợ không tưởng tượng được đây là con tàu vượt biên vì nó nhỏ thó dài chỉ độ 13 thước. Không mui. Không thuyền trưởng. Không lương thực. Không thuốc men. Vậy mà chuyên chở trên 50 mạng người, vách tàu khẩm chỉ còn cách mặt biển không hơn một gang tay.
Đêm ở biển màn trời tối đen như tiến tới gần trùm sát với mặt đại dương. Người người mở mắt thao láo hãi hùng trước sự yên lặng mênh mông đến lạnh lùng của của vực sâu biển cả. Đang lặng thinh bỗng có tiếng người đàn ông khàn giọng chửi thề :
- Đ.mẹ ! Chết hết một máy xăng rồi.
Có tiếng chân trần dẫm lên be tầu cây lẹt xẹt chạy về hướng đuôi tầu, nói xen vô:
- Liệng mẹ nó mấy can xăng đi.
- Ừ, còn lại cái máy dầu liệu đi nổi không?
- Nổi hay không nổi thì sao chớ? Còn cách nào hơn nữa?
- Ừ !
Vỹ thắc mắc:
- Sao anh không giữ lại can xăng để khi nào sửa lại được máy thì có xăng dùng?
- Máy vô nước rồi còn giữ xăng lại làm gì cho nặng ghe.
Bây giờ Vỹ sáng mắt ra, đây là chiếc ghe máy chứ không phải là chiếc tầu lớn như thường thấy ở bến Bạch Đằng . Dù thất vọng nhưng còn nước còn tát:
- Tôi là thợ máy xăng hai thì, đâu anh đưa tôi dụng cụ để tôi sửa chữa thử coi. Họa may.
Anh tài công loay hoay lấy một vật bằng sắt nhét dưới khoang ghe lẹ làng đưa qua tay Vỹ:
- Có cái kềm mũi nhọn được không?
- Trời ! Cái kềm loại này thì làm được khỉ gì. Đồ nghề đơn giản như vầy thì vượt biên nỗi gì?
Lúc đó trời mờ sáng, Vỹ thấy rõ viên tài công là một người đàn ông tuổi khoảng 30, ốm nhom, tóc dài quá mép tai . Hắn mặc cái áo thung màu xám nhà binh để lòi cánh tay xương xẩu suông đuột như que củi chấp nối với một cán cây điều khiển bánh lái chân vịt. Vỹ nhìn mà thương hại cho anh tài công, thân xác bé nhỏ, tài năng thấp kém lại đảm đang việc quá sức mình. Vỹ một mình cười lớn, đám người trên ghe nhìn sang Vỹ tưởng rằng ông này tuyệt vọng đến cuống trí chớ đâu có biết rằng họ bị Vỹ cười chê, mọi người tại đây, kể cả Vỹ, đều ngu xi giao tính mệnh cho một gã tài công “dỏm”
Mạng người có số. Lù khù có ông Cù độ mạng. Ghe chạy cà xịt cà lui cuối cùng cũng ra được hải phận quốc tế.
Lúc này quang cảnh ở đại dương như một buổi tiếp rước náo nhiệt tại khải hoàn môn. Họ vui cười la ó mừng chiến thắng.
- Ba má ơi con sống rồi ! Sống rồi !
- Tui sẽ gởi thư về báo tin cho anh chị tui mừng ! Lo đi chuyến nữa.
- Hết lượm bịch ny-lông bán va cahi rồi các con ơi !
- Việt Cộng không còn làm gì được tụi mình rồi bà con ơi !
Giữa biển trời bao la bầy chim hải âu bay lượn trên mặt biển như múa hát hòa với lời ca của đoàn người vượt biên:
- Tung cánh chim tìm về tổ ấm...
Một cảnh nhộn nhịp lao xao chưa từng có trên mặt biển như thế này. 53 người là 53 tổng đài ra–dô nào ca hát, nào tiếu ngạo, nào thời sự. Ôi thôi ! Cả bầu trời trên trời dưới nước nổ tung với lời ca tiếng hát, chen lẫn lời kinh kệ Nam mô A di đà Phật, Chúa cứu thế Amen!
Vui tới đó rồi ngưng tại đó vì chuyến đi còn tiếp tục .
Biển rộng bao la bao trùm chiếc ghe cỏn con. Có khác nào con kiến vàng nhỏ nhí đeo chiếc lá hoang trôi trên sông cái . Xa thăm thẳm. Ghe vẫn trôi theo giờ khắc định mệnh, đủng đỉnh lần hồi đo từng gang tấc của lãnh thổ đại dương . Bắt đầu có người trên ghe bị say sóng ụa mửa, tay móc họng cho nôn oẹ. Ở đây tiếng người rên như bị cúm. Kia, tiếng khóc của trẻ con đói bụng. Từng cơn đói giày vò, già trẻ trai gái mệt lả đi và thiếp dần. Một lớp cá mòi người đóng hộp, nằm sát bên nhau, ôm ấp nhau tìm hơi ấm. Lâu lâu một cơn sóng tạt qua sút nước rửa ráy lớp người hôi thúi vì sự đóng cặn của bụi cát, mồ hôi, bãi ói và tổng hợp của cứt đái gia vị trên thân thể da thịt của lớp cá mòi gần như sình thúi.
Họ lại thức dậy. Người mắt trổm lơ . Kẻ tóc tai rũ rượi . Trưa, biển nóng như người phóng hỏa. Đàn ông cởi trần chỉ giữ lại quần đùi. Đán bà con gái bị nóng hành hạ bứt rứt giựt đứt nút áo lúc nào không hay để thích hợp với tiết trời lửa đốt . Rõ ràng đay là khu người điên có mặt trên biển, chỉ có mặt trời chứng kiến.
Giống tố chưa tới nhưng tàu cướp đã ào tới gần.
Từ đằng xa một con tàu đầu rồng chạy xồng xộc tới, gia tăng tốc lực gây tiếng máy nổ chát tai điên cuồng. Một đám đực rựa lũ khủ đứng trước mũi tàu la hét chí choé như bầy khỉ đột ở sở thú Sài Gòn. Tới gần mới thấy thằng nào thằng nấy mình mẩy đen thui như quét lọ, tay chân kệch cỡm, dân đánh cá nên tên nào cũng lực lưỡng, sức lực mạnh bạo dị thường, chúng chỉ mặc cái quần xì, có đứa dâm ô cởi truồng bệ vệ như pho tượng đồng đen, trên tầu ai thấy cũng kinh hồn vì biết chắc chắn rằng sẽ bất lực trước bọn cướp biển.
Thấy cướp có người trên ghe sợ quá nhẩy đại xuống biển lội ra xa chìm mất dạng. Còn lại những người trên ghe người này hỏi người kia tìm cứu tinh:
- Cướp Thái Lan ! Cướp ! Anh ơi ! Làm sao bây gi...ờ?
- Vò đầu cho tóc rối bù lên. Mau lên !
- Nè, tui có đem thủ chai hũ trầu quét vô quần đại đi để chúng tưởng mình có kinh nguyệt mà không hiếp. Tui sợ quá ! Xin Trời Phật Cứu con ! Nam mô a di đà Phật ! Đại từ bi !
- Mẹ ơi chúng nhảy qua xuống mình rồi kia kìa !
Đám cướp biển rần rần nhẩy phóng qua ghe vượt biên làm cho chiếc ghe tròng trành nước biển đổ vào tràn đầy như cơn nước dẫn thủy nhập điền . Tiếng khóc. Tiếng kêu trời. Van xin. Cầu nguyện. Không được năm phút tất cả đàn ông đàn bà Việt trên ghe dều bị chúng ra lệnh cởi trần truồng để chúng khám vơ vét đồng hồ, vàng bạc nữ trang. Có một tiếng khóc ré kinh hãi, nhìn lại ở trên ván đầu ghe một tên hải tặc Thái xé quần xé áo một cô gái Việt Nam hai tay bốc hốt làm điều tồi tệ. 5 tên, 10 tên.20 tên, cả lũ như kiến tấn công thay phiên nhau làm việc dâm ô táo bạo trên ghe. Đám người Việt không ai dám trở tay. Một người đàn ông Việt lui cui tìm vật gì dưới khoang liền bị một tên Thái nghi ngờ có hành vi kháng cự liền lại gần bưng bỏng anh lên và quăng đùng xuống biển. Có tiếng người la thất thanh quay lại là người đàn bà vừa bị hãm hiếp xong chưa hết khiếp đảm lại nối tiếp kinh hoàng khi thấy cảnh chồng mình run lập cập bị quăng xuống biển, đang lóp ngóp. Không lau xác chồng chị bị chìm sâu dưới lòng đáy biển, nhấp nhô.
Một ông già Việt nam tuổi ngoài 50 có cái bịt răng vàng ở hàm trên bị mộ tên cướp bắt ông nhe răng, nó lấy cái búa vổ vào hàm để bươi chiếc răng vàng. Chúng reo hò khi lấy được cái răng vàng trong khi không còn ai nhận ra ông già đó nữa mà chỉ nhìn thấy trên cổ của ông là một cái tô vun máu hơn là mặt người. Một đứa bé 2, 3 tuổi đang ôm bú sữa mẹ, cuối cùng cũng bị một tên hải tặc kéo lôi xềnh xệch đứa bé ra khỏi vú mẹ liệng xuống biển như trò chơi ném dĩa bay vèo trên mặt nước, rồi quay lại ôm thân thể người đàn bà xé tẹt chiếc quần xì líp để hành lạc trước mặt mọi người. Một cô gái lõa lồ vừa mới bị chúng hiếp xong còn quá khiếp sợ vội ôm một cậu thanh niên đứng gần nhờ che chở, sợ bị chúng bề hội đồng tập thể . Nhưng chúng không tha, chúng bày trò ra lệnh cho cặp trai giá làm tình trước mặt mọi người. Cậu thanh niên thi hành ạch đụi bị chúng đập bể đầu rồi quăng xác xuống biển mất dấu. Hãi hùng như vậy mà chúng lại cười thỏa thích. Gom góp vàng bạc, đống hồ cà rá. Đứa nào còn tiếc rẻ thì kéo các cô gái trẻ lại hãm hiếp đợt hai, đợt ba, đợt bốn.
Tầu cướp Thái Lan đi xa để lại trên khúc biển: Khóc lóc. Rên xiết. Kêu trời. Kêu Phật. Gọi cha, gọi mẹ. Có người bị lên cơn điên. Thêm người nhảy biển tự tử . Đám người Việt là nạn nhân. Không ai can gián, không ai tiếc thương ai. Số người còn lại trên ghe là dấu vết nhơ bẩn trong cảnh người hiếp người còn xót lại trên mặt biển .
Chiếc ghe mất hướng trôi theo dòng nước chảy xuôi chung chung với mấy tấm ván lở và các bộ quần áo trôi theo dòng nước tiến tới trước tiếp nối định mệnh.
Một chiếc tầu khác màu mè như rắn biển từ xa bay lượn tới.
Lần này tàu cướp khổng lồ, quái vật. Bọn hải tặc đông đảo tên nào tên nấy mừng rỡn trửng giỡn cười hố hố đói khát dục vọng như đàn chó sói bắt được mồi. Người trên chiếc ghe vượt biên đã kiệt sức. Mọi người bị bầm dập bởi cướp biển, bị hành hạ bởi sóng gió, bị cồn cào bở đói khát . Một cô gái quần áo bị xé rách lõa lồ thân thể đứng ở mũi tầu ra dấu hiệu bọn chúng thảy qua tàu vượt biên hai can nước ngọt thì cô tình nguyện nạp mạng cho chúng. Trước mắt mọi người một đàn chó sói bu quanh vùi dập thân xác một cô gái đẹp đẻ nhưng yếu đuối, biết trước không thể nào chống cự được với bọn quỷ dâm dục cô ra điều kiện lấy nước để cứu đám người người đang chết khát.
Trên mặt biển bao la và thanh thiên bạch nhật tiếp tục xảy ra cảnh tượng dã man, thô tục: Hãm hiếp đàn bà con gái. Búa rìu đập đầu dàn ông . Bày tỏ dùng người làm trò chơi qua cách thắt thóng lọng qua cổ người xô xuống biển, kéo xác trôi theo chiếc tàu lướt sóng làm tàu kéo. Sau đó là trận cười hả hê dội lên không trung của đám người mất lương tri.
Thỏa mãn thú tính, trước khi buông mồi, bọn hải tặc đập phá chiếc ghe tan nát, ván ghe bềnh bồng trong đám người vượt biên đó đây trên mặt biển, ngoi ngóp sặc sụa và lần lượt chìm sâu trong vực thẳm. Sau đó, vài đợt sóng thần đi ngang qua bào mặt biển thành một bàn thủy tinh tạo sức quyển rũ cho thế giới đại dương. Màn đêm với muôn sao lóng lánh trở lại trùm lên mặt biển, tất cả đều phẳng lặng chím đắm như không có biến cố gì xảy ra.
Nơi đây Califonia, một tiểu bang của nước Mỹ, xứ của Nữ Thần Tự Do .
Một người còn sống sót trong đám 53 người vượt biên ra khơi ngày 13 tháng 7 năm 1981 có tên trong giấy an sinh xã hội của Mỹ ghi là Nguyễn Cảnh Vỹ. Hồ sơ lý lịch tại sở di trú ISN ghi rõ hơn, ông chính là thuyền nhân “boat people” bị tai nạn đi tầu vượt biên bị chìm tầu, may mắn bám được vào tấm ván trôi nên sống sót và được một tầu Mỹ làm việc ở khoan dầu ngoài khơi cấp cứu. Tại Department of Social Security thì ghi hồ sơ tên Vỹ bằng tiếng Mỹ.
::: Trần Đông Thành :::
Chuyện thật xảy ra như thế nào khôngcòn ai biết đến, biến cố chìm sâu trong quên lãng . Lịch sử của chuyến vượt biên chỉ còn lại một chứng nhân 1/53 người trong một vụ hải tặc, không ai khác hơn là ông Nguyễn Cảnh Vỹ, giờ đây chỉ còn lại là một cái xác mất hồn vía, với các báo cáo trên đủ Là hội chứng cho người Mỹ, họ có lòng nhân đạo chấp thuận cho ông Vỹ, quốc tịch Việt Nam, lãnh tiền bệnh Social Security Income, từ lúc bước vào đất Mỹ tìm “Tự Do”.
Trần Đông Thành

37 Năm Thương Kính Nhớ Anh Vô Cùng: Lá Thư Gửi Anh NAM (NKN)

Lá Thư gửi anh NAM


Giáo Sư Tiến Sĩ, nguyên Phó Viện Trưởng
kiêm Khoa Trưởng Đại Học Khoa Học, Viện Đại Học Huế

http://i249.photobucket.com/albums/gg238/hon_dan_toc/Vinh%20Danh%20QLVNCH/TuongNguyenKhoaNam.jpg
Anh Nam kính mến,
Chúng tôi vừa coi xong cuốn video "Chiến Tranh và Hòa Bình" của hãng Asia. Một đoạn video gây chúng tôi nhiều xúc động nhất là buổi phỏng vấn anh Phước về cái chết đầy khí tiết của Anh, một vị Tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vào giờ phút buồn thảm nhất của lịch sử đất nước. Một chi tiết đến hôm nay chúng tôi mới biết và làm tôi ngạc nhiên đến sửng sốt là Anh thọ trì thần chú Thủ Lăng Nghiêm đã từ lâu. Sửng sốt là vì thật không ngờ từ lâu Anh đã suy ngẫm nhiều về chân tướng cuộc đời, phát tâm tin Phật Pháp thâm diệu, sống ung dung thanh thản giữa một thế giới lắm tai ách và khổ đau.

Thực ra, Anh là người đã rất nhiều lần gây cho tôi những giây phút bàng hoàng sửng sốt. Duyên nghiệp cho tôi được cái vinh dự cùng Anh học một lớp và ở chung một ký-túc-xá suốt năm năm ở trường Trung Học Khải Định. Lúc bắt tay Anh lần đầu khi Anh sắp leo lên chiếc giường ngủ đặt sát cạnh giường tôi đêm trước ngày khai giảng niên khóa 1940 - 4, tôi có ngay cảm tưởng từ hôm nay tôi may mắn có thêm một bạn đồng song hiền lành, chăm học, dáng ngoài đúng điệu một thư sinh. Nhưng tôi để ý Anh có một nụ cười bí ẩn, mãi đến nay tôi vẫn còn chưa hiểu hết ý nghĩa của nó. Thường Anh ít nói mà chỉ cười, cười kiểu "ngậm kim". Có khi tôi tưởng Anh cười nhạo báng, có khi tôi tưởng Anh cười đồng ý, và có khi tôi cho là Anh cười để tránh nói ra những cảm nghĩ làm mất lòng người khác.

Bây giờ tôi kể lại để Anh nhớ một hai câu chuyện hồi còn ở trường Anh đã gây cho tôi bàng hoàng sửng sốt. Thường ngày vào giờ Vẽ, tôi ngồi gần Anh trong phòng Họa, ở sát ngay Nhà Chơi của Trường. Cả lớp đều biết Anh có tài hội họa, vẽ truyền thần và phong cảnh. Kể ra, vốn tự biết mình vụng về không vẽ nên thân, tôi tìm ngồi gần Anh là cốt học mót nơi Anh cách vẽ, chứ thầy Tôn Thất Đào đâu có đủ thời giờ trong một tiếng đồng hồ đi chăm sóc từng trò một trong một lớp có đến 50 tên. Một năm nọ, vào kỳ thi lục cá nguyệt, thầy Đào ra đề tài cho vẽ tùy ý một cảnh hoạt động ngoài trời. Thế là tôi lúng ta lúng túng, hết gôm rồi lại xóa, làm mòn gần hết viên tẩy, thay tờ giấy vẽ này sang tờ giấy vẽ khác, rốt cuộc năm mươi phút trôi qua mà chẳng vẽ ra cái cảnh nào nên hồn cả. Anh thương tình, biết tôi tự ái, không bao giờ mở miệng cầu viện, mới hỏi: Cậu ưng mình vẽ hộ cho cậu không? Không đắn đo suy nghĩ, tôi cảm ơn lòng tốt của Anh và đưa cho Anh một tờ giấy vẽ còn nguyên. Thế là chỉ trong năm hay bảy phút gì đó, Anh đã họa xong giùm tôi một hoạt cảnh "Đá banh." Tôi mừng thầm có cứu tinh phò trợ chuyến này chắc tai qua nạn khỏi. Ngờ đâu, khi nhìn vào tờ giấy vẽ trước khi đem lên nạp thời trời đất ơi! Anh đã vẽ một thằng bé chổng mông rách quần trên sân cỏ!!! Vì đã hết giờ và không còn cách nào hơn, tôi đành đem bức họa "quỷ khóc thần sầu" ấy lên nạp. Tôi nghĩ lại tất cả là lỗi tại tôi, đã có ý gian thì phải cúi đầu mà lãnh đủ quả phạt. Buồn cười là câu chuyện không chấm dứt như dự tưởng. Sau hơn ba năm dạy tôi môn Vẽ, thầy Đào thừa hiểu tôi không bao giờ đủ tài năng sáng tác ra một bức họa để đời như vậy. Thầy không cho tôi là người có tội nên phê vào tờ giấy vẽ đề tên tôi điểm 19 trên 20. Còn điểm bức họa của Anh thì chỉ được 18 trên 20 mà thôi. Tôi được một trận cười ra nước mắt, nhưng Anh thì đón nhận bài của mình vẫn với cái nụ cười "ngậm kim" muôn thuở!

Sau đây là một câu chuyện khác, nhưng lần này xin nhường cho Phan Thụy Dung, một người bạn học khác của Anh kể hay hơn tôi nhiều: Một hôm trong lớp học xuất hiện một giáo sư Việt Nam, thầy B. H., dạy tiếng Nhật vừa được ghi thêm vào chương trình trung học. Học trò bên ngoài ngoan ngoãn học ngoại ngữ mới, thật ra bên trong chẳng mấy người hăng hái sốt sắng vì mặc cảm hết tiếng Tây đến tiếng Nhật đang đè nặng. Tất nhiên đám học trò có phản ứng và sự việc xảy ra đã làm cả lớp thích thú:

Hôm đó thầy B.H. giảng cách dùng tiếng Nhật khi nói về "đàn ông" và "đàn bà," đại khái nói về "đàn ông" thì dùng chữ "Watakusi," về "đàn bà" thì dùng chữ "Watasi." Một anh bạn đứng dậy giơ tay nói: Thưa thầy, như rứa là "đàn bà" thì không có "ku" phải không? Cả lớp được một dịp cười hả dạ. Tui không bao giờ quên được anh bạn đó, người đã dùng óc hài hước để hóa giải mặc cảm nói trên. Người học sinh có óc hài hước đó lại là một con người tài ba, sau này đã thành công trong đời, đã lên đến đỉnh cao trong binh nghiệp và khi không giữ được nước, đã noi gương trung liệt của Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Phan Thanh Giản, v.v... làm rạng danh một dòng họ lớn ở đất Thần Kinh: họ Nguyễn Khoa. (Trích trong Tiếng Sông Hương "Kỷ Niệm 100 Năm Trường Quốc Học").

Anh Nam ơi! Rồi duyên nghiệp đưa tôi trở thành con rể trong gia đình bên ngoại Anh, và qua nhà tôi, tôi trở thành người em cô cậu của Anh. Tin Anh tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù sau khi mãn khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức làm tôi kinh ngạc hết sức. Đúng ra, theo phong cách của Anh, Anh phải là một văn nhân, một nghệ sĩ. Nay Anh lại tự ý muốn trở thành quân nhân quả cảm của một binh chủng có tiếng oai hùng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, điều này làm tôi mến phục Anh vô cùng!

Anh nhớ không, sau Tết Mậu Thân, tôi có dịp cùng một số sinh viên Đại Học Huế lên thăm tiền đồn của Dù bảo vệ Huế đóng trên núi ở phía Tây kinh thành. Lại một lần nữa Anh làm tôi bàng hoàng sửng sốt khi thấy nơi chốn Anh ăn nằm không có chút gì khác biệt giữa cương vị của một vị Đại Tá cao cấp với một anh binh Nhì thuộc cấp.

Trong thời gian Anh đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, tôi được gặp Anh một lần ở Sài Gòn và hỏi về chuyện một Giáo Sư trường Đại Học Dược Khoa muốn theo Anh để nâng khăn sửa túi. Nhưng rồi Anh không nói có, Anh cũng chẳng nói không, mà chỉ cười cái cười ngậm kim như thuở nào!

Anh Nam ơi! Trong trại tỵ nạn ở Subic Bay, chúng tôi bàng hoàng sửng sốt khi nghe tin Anh đã tự sát để đền nợ nước và để tránh khỏi đầu hàng quân địch. Anh lại gây trong lòng chúng tôi một sự sót xa kính phục vô cùng tận không lời nào tả xiết.

Cuối cùng, nhờ được biết Anh thọ trì Thần chú Thủ Lăng Nghiêm từ lâu, nên nay chúng tôi mới rõ trong thời kỳ trước 1975, Anh đã thần thông thấy, biết trước mọi điều bất hạnh sẽ xảy ra cho đất nước, nhưng với trí tuệ giải thoát, Anh vẫn sống an nhiên tự tại, quan niệm sanh tử tức Niết Bàn, thảy thảy đều không. Nay tuy Anh đã đi vào cảnh chân như tịch tịnh, đời đời hậu thế sẽ không bao giờ quên đề cao gương trung liệt của Anh.
Thương kính nhớ Anh vô cùng
Nguyễn văn Hai & gia đình
Hai tay nâng mảnh khăn tang
Trăm năm thôi vĩnh biệt Chàng từ đây
Vì đâu đến nước non này
Lệnh kia sao lại trói tay anh hùng ?

Trước hờn bức tử non sông
Thiên thu đâu lẽ thẹn cùng cỏ cây
Mịt mù bốn phía trời mây
Tiếng gầm đại bác, tiếng cày xe tăng
Phút giây oan nghiệt bất bằng
Giận cơn hồng thủy cuốn phăng sơn hà
Âm thầm, Chàng bỏ lại ta......
Giữa trăm ngàn nỗi xót xa nghẹn ngào !
Kỳ đài, cờ rũ trên cao
Ngỡ ngàng nghe lệnh chiến hào bỏ không
Đau thương nhìn lại xác chồng
Chàng đi theo nước, em không trách Chàng !
Xé manh áo, quấn khăn tang
Lên đầu con trẻ, hai hàng lệ rơi
Xa nhau.....Vĩnh biệt nhau rồi......
Mà không nói được một lời từ ly !!!
Mắt thần chẳng khép làn mi
Một dòng máu đỏ, tứ chi lạnh dần
Ôm chồng, thân ngã vào thân
Tứ bề pháo giặc xa gần ầm vang

Hai tay nâng lá cờ vàng
Phủ lên cho ấm lòng Chàng, lòng ta !
Tên Chàng dù chẳng sử hoa
Nhưng hồn Chàng đã nhập hòa núi sông
Vô Danh Vạn thuở Anh Hùng !
trích thơ Ngô Minh Hằng
 
Nguyễn Văn Hai

Bài Xem Nhiều