We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 9 May 2012

Giới blogger Việt Nam kiên quyết thực hiện quyền tự do thông tin


Từ Tiên Lãng đến Văn Giang, và hiện nay là Nam Định, các vụ chính quyền Việt Nam dùng nhân viên công lực để trục xuất cư dân ra khỏi những vùng đất bị trưng thu càng lúc càng thu hút mối quan tâm của công luận. Trong một bản tin hôm nay, 09/05/2012, hãng thông tấn Pháp AFP đã ghi nhận vai trò càng lúc càng quan trọng của giới blogger Việt Nam trong việc đưa tin, bất chấp các biện pháp đe dọa và trấn áp của chính quyền.
Theo AFP, trên một đất nước mà báo chí truyền thống bị Nhà nước kiểm soát, internet đã mang lại cho giới blogger một phương tiện thông tin hữu hiệu, và họ ngày càng mạnh dạn và sáng tạo hơn trong công việc của mình.
Vụ cưỡng chế đất đai ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày 24/04/2012 đã được AFP nêu lên làm ví dụ điển hình cho thái độ mạnh dạn này : « Ngay khi công an xông vào giải tán đám đông phản đối vụ cưỡng chiếm đất đai tại Hưng Yên, các blogger đã có mặt tại chỗ, ẩn mình đằng sau các rặng cây gần đấy. Ho đã quay phim và chụp ảnh sự cố, các bằng chứng mà họ nhanh chóng công bố lên mạng. Đây là các tài liệu có chất lượng kỹ thuật kém cỏi, nhưng lại có giá trị chính trị tuyệt vời »
Từ Hà Nội, phóng sự của blogger Nguyễn Xuân Diện về vụ hàng ngàn cảnh sát xông vào trục xuất người dân tại Hưng Yên – với đoạn video cho thấy cảnh sát chống bạo động hành hung hai phóng viên một đài truyền thanh nhà nước đến đấy để làm công việc nhà báo của họ - đã lan tỏa trên mạng như một đám cháy rừng, bù đắp vào sự im lặng của các phương tiện truyền thông chính thức.
Theo giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc (Australian Defence Force Academy), « Hiện tượng các blogger đích thân đến những nơi có phong trào phản kháng để theo dõi và đưa tin là một yếu tố mới », nối tiếp theo sự kiện đã có từ lâu là nhiều nhà báo đã đưa lên mạng internet những bài viết mà họ không được công bố trên báo đài truyền thống.
Việt Nam 'sao y bản chánh' cách đối phó của Trung Quốc
Thái độ mạnh dạn của giới blogger lẽ dĩ nhiên không được chế độ tán đồng, và rất nhiều biện pháp đã được áp dụng nhằm bóp nghẹt các tiếng nói không chính thống trên mạng Internet. Biện pháp đầu tiên là hù dọa các blogger.
Một phụ nữ trong số những người đã tiết lộ vụ cưỡng chế Văn Giang hôm 24/04 vừa qua xác nhận với hãng AFP : « Họ theo dõi tôi, họ lưu lại tất cả những gì tôi viết, họ giám sát tất cả các blogger bất đồng chính kiến. Tất cả những gì họ có thể làm được để sách nhiễu chúng tôi, họ đều làm ».
Đối với người phụ nữ mà AFP đặt cho một cái tên giả là Nguyễn Thị Dung, thì chính quyền có một đội ngũ đông đảo những người chuyên « lướt net để làm báo cáo về tất cả những gì mà chính quyền không ưa ». Việt Nam, theo chị Dung đã « sao y bản chánh những gì Trung Quốc đang làm. »
Theo AFP, Việt Nam, nước bị Tổ chức Phóng viên Không Biên giới mệnh danh là một "kẻ thù của Internet", cũng đang soạn thảo một nghị định để kiểm soát các trang blog.
Theo một bản sao dự thảo văn kiện mà AFP có được, các blogger sẽ bị buộc phải đăng ký dưới tên thật và địa chỉ thật. Các website chứa các trang blog đó thì bị buộc phải khai báo bất kỳ hoạt động bất hợp pháp nào. Nghị định này cũng đòi các tập đoàn internet ngoại quốc, đi đầu là Facebook và Google, là phải hợp tác với chính quyền Việt Nam.
Tuy nhiên, theo AFP, một số quan sát viên không tin rằng chính quyền sẽ thành công trong chủ trương kiểm soát này. Một blogger khẳng định : « Bất kỳ cố gắng nào để áp đặt các hạn chế mới, sẽ chỉ dẫn đến những cách thức mới để phá vỡ các giới hạn đó. Mọi người sẽ tìm được những phương cách sáng tạo để truy cập vào các trang web bị cấm, tương tự như họ làm với Facebook ». Facebook là một trong những trang mạng thường xuyên bị chặn ở Việt Nam.
Ông David Brown, một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, từng làm việc ở nhiều nước châu Á, đã cho rằng dự án đó hoàn toàn không khả thi. « Tệ hại nhất là khả năng nghị định tạo ra các tội trạng rõ ràng hơn để truy tố các blogger, còn khó có thể tác động đến Facebook hoặc Google, hoặc làm thay đổi được quan hệ giữa các blogger và chính quyền ».
Riêng giáo sư Thayer thì cho rằng nghị định kiểm soát đó thể hiện một quyết tâm của chính quyền, không muốn bị chậm chân so với các thành phần mà họ muốn bịt miêng : « Họ sẽ xiết chặt gọng kềm trên giới bất đồng chính kiến ở trong nước, và hạn chế đáng kể hoạt động của tầng lớp này bằng cách buộc họ, cũng như là các nhà cung cấp dịch vụ internet, là phải chịu trách nhiệm về những gì được loan tải hay lưu trữ trên internet ».
Theo AFP, chế độ Việt Nam từ trước đến nay không bao giờ chấp nhận là độc quyền về quyền lực của họ bị thách thức, và internet ngày càng làm cho họ lo ngại. Nỗi lo sợ đặc biệt gia tăng trong thời gian gần đây khi nhiều người tấn công vào các vấn đề như tham nhũng, tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc hoặc các vấn đề đất đai, toàn là những vấn đề phiền phức cho chính quyền.
Nhìn chung, theo AFP, nghị định đang soạn thảo không dự báo điều gì tốt lành về ý định của chính quyền, về tương lai của các blogger. Bà Nguyễn Thị Dung thừa nhận : « Nếu được thông qua, nó sẽ cung cấp cho công an một khuôn khổ pháp lý để tiêu diệt quyền tự do ngôn luận ».

 Trọng Nghĩa

Lại Bị Mất Mưu VGCS : Tam Quyền Phân Lập?

Tại sao Việt Nam cần Tam quyền phân lập?



VRNs (09.05.2012) – Đồng Nai – Sửa đổi Hiến pháp, tam quyền phân lập và chống tham nhũng.
Lập pháp, hành pháp, tư pháp không độc lập: tạo bất công
Trong một nước văn minh tiền tiến, Hiến pháp quy định ba quyền độc lập với nhau: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Tại sao phải độc lập với nhau?
Thí dụ 1: Em ruột ông Thủ tướng bị bắt quả tang tham nhũng. Luật pháp bắt em ông Thủ tướng phải ra tòa. Quan tòa (tư pháp) xử ông này theo luật định.
Nếu tư pháp không độc lập, ông Thủ tướng có thể ra lịnh miệng cho Quan tòa xử nhẹ em ông ta, hoặc chỉ lôi mấy đứa tay sai cò con ra xử để cho vụ án ông em thành vụ án người khác.
Nếu Quan tòa không nghe, Quan tòa sẽ bị mất chức.
Tư pháp không độc lập với hành pháp thì không thể nào chống được tham nhũng. Không cần phải nói ai cũng biết rằng tham nhũng hiện nay ngày càng lên, càng phòng chống, tham nhũng càng lên.
Ở nước ta, các vụ án chính trị, tham nhũng quan trọng, tư pháp đều tuân lịnh hành pháp nên bản án bao giờ cũng đã có trước khi xử.
Năm trước, nhân chuyến hàn huyên với một ông luật sư người Đức đến làm việc với ngành tòa án ở Hà nội, ông này kể cho tôi nghe câu chuyện ông ta được đến tham quan một phiên tòa có luật sư Việt nam bào chữa hẳn hoi. Phiên tòa kéo dài 2 giờ với một chồng hồ sơ dày cộm. Sau đó Quan tòa nghị luận 15 phút rồi đọc một bản án rất dài. Ông luật sư người Đức nói rằng bản án đã được viết trước vì không thể nào trong 15 phút có thể làm một bản án dài đến thế.
Vụ xử án 5 năm tù cô Phạm Thị Thanh Nghiên vì biểu tình tại gia ở Hải Phòng để phản đối Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa, cũng đã được định trước bởi hành pháp, vụ xử luật sư Cù Huy Hà Vũ vừa qua cũng là do hành pháp định trước, ông Vũ dám cả gan đâm đơn kiện Thủ tướng. Hành pháp muốn trị tội ai thì cứ ra lịnh cho tư pháp là xong, chỉ vì tư pháp không độc lập.
Thí dụ 2: Cách đây vài tháng, ông Tổng thống A. Wade của nước Sénégal, một nước ở Phi châu, ra lịnh cho Quốc hội đặt một đạo luật đặc biệt chuẩn bị cho con trai mình kế vị nối ghế Tổng thống. Quốc hội nghe lịnh và một đạo luật được ra đời để làm vừa lòng Tổng thống. Dân chúng biểu tình phản đối rất mạnh, buộc ông A. Wade phải huỷ bỏ đạo luật nói trên. Sénégal là một nước pháp trị, nhưng vì lập pháp và hành pháp không độc lập với nhau nên lập pháp bị lấn áp. Nếu dân Sénégal không cảnh giác, hoặc giả ông Wade dùng bạo lực đưa công an, quân đội đàn áp các cuộc biểu tình phản đối của dân chúng, thì không biết việc gì sẽ xảy ra.
Hành pháp bao giờ cũng có khuynh hướng chèn lập pháp và tư pháp, vì đằng sau mỗi cơ chế là con người. Nếu không có cơ chế độc lập giúp con người lấy cái thiện trấn áp cái ác thì con người có khuynh hướng làm ác. Lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau cho phép tránh những bất cập hiện nay trong xã hội, tạo điều kiện cho chính bản thân con người hòa nhập vào một văn hóa sạch, thiện.
Một nước văn minh bao giờ ba quyền cũng được phân lập, bảo đảm cho một xã hội công bằng, hài hòa, ổn định. Việt nam có thật sự muốn văn minh không?
Lập pháp, hành pháp, tư pháp không độc lập: không thể giải quyết nạn tham nhũng
Hành pháp thể hiện quyền hành tập trung của Đảng cầm quyền, văn hoa hơn thì nói quyền hành thống nhất vào trong Đảng.
Trong các văn bản, tuyên bố, các nhà lãnh đạo nhà nước đều nói đến Đảng trước, nhà nước sau. Thí dụ, câu tuyên bố đầu tiên của đồng chí Nguyễn Sinh Hùng khi được bầu vào chức vị Chủ tịch Quốc hội là: “Mong nhận được sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của Nhà nước…”. Hành pháp không độc lập thì Đảng cầm quyền muốn viết gì thì viết vào Hiến pháp và dùng Hiến pháp làm cây kiểng, Quốc hội trở thành con dấu.
Quốc hội khóa trước đã cho ra đời Luật phòng chống tham nhũng, Quốc hội cũng cho phép thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương và cấp tỉnh. “Tuy nhiên, so với yêu cầu của nghị quyết Quốc hội thì thời gian qua chúng ta chưa đạt mục tiêu là ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng”. Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang xác nhận sau khi nhận chức.
Ông Sang còn nói về tham nhũng: “Văn bản nhiều, đầy đủ, không phải tốn công sức nghiên cứu văn bản nữa. Vấn đề là phải hành động như gửi gắm của cử tri”. Câu tuyệt cú của ông trong lúc tranh cử đại biểu Quốc hội là: tham nhũng từ một con sâu hiện nay đã trở thành một bầy sâu.
Ông Sang nhận định rằng Luật đã có đầy đủ rồi, chỉ còn hành động. Nói như thế, ông vô tình hay cố ý che giấu câu hỏi: ai đã cản trở hành động phòng chống tham nhũng để cho nó leo thang vùn vụt?
Thưa ông Sang, xin ông đừng đi quanh cái chậu mà hãy nhìn vào trong chậu. Hãy đập vỡ cái chậu này ra thì ông sẽ thấy rằng ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều chịu sự điều khiển của Đảng, tức là của Bộ Chính trị, tức là của một số vị. Phòng chống tham nhũng mà đụng vào các vị này thì chỉ có “Phòng chống” chết trước chứ tham nhũng vẫn sống.
Sửa đổi Hiến Pháp thế nào?
Nhà nước ta thực tế là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền dù rằng Hiến Pháp chỉ nói Đảng lãnh đạo. Lãnh đạo và cầm quyền là hai khái niệm khác nhau. Vì cầm quyền nên mọi quyền lực đều thống nhất nơi Đảng, nói dân dã hơn là Đảng điều khiển tất cả, điều khiển vừa lập pháp, hành pháp vừa tư pháp.
Trước khi Quốc hội họp khóa 13, Đảng đã ra quyết định Quốc hội thay đổi Hiến pháp phải thế này, thế nọ…. Tư duy áp đặt, quyết định cho Quốc hội nơi người lãnh đạo Đảng vẫn chưa có dấu hiệu đổi mới.
Khi Đảng giữ vai trò quyết định tất cả thì lời nói của Tổng bí thư trong chỉ thị sửa đổi Hiến pháp: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” chỉ là nói chuyện như đùa, không thể dối dân được đâu.
Cũng trong chỉ thị trên,Tổng bí thư lại nói “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, cũng chỉ là nói chuyện như đùa. Nói một cách dân dã ra là thế này: các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp sẽ do Đảng nắm và phối hợp, không để cho chúng nó độc lập với nhau.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ thị sửa đổi Hiến pháp với những lời nói như trên thì cần gì phải sửa đổi. Thực tế hiện nay là như thế rồi: vừa lãnh đạo vừa cầm quyền. Trừ khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn đem thực tế hiện nay vào Hiến pháp, để nói không ngoa rằng “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, để không ai còn nói Đảng lấn áp Hiến pháp. Dân Việt Nam đâu có khù khờ để tin những loạn từ như thế.
Vì tư duy không đổi mới được, không biết nhu cầu của đất nước đã đổi thay, không biết mong đợi của đại đa số quần chúng đòi thông thoáng hơn cho việc quản trị đất nước nên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ra một chỉ thị sửa đổi Hiến pháp rất lạ lùng: chỉ với 123 chữ mà chỉ thị đã làm nổi bật sự lúng túng, mâu thuẫn giữa nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, và khẳng định quyền lực vẫn tập trung vào Đảng. Quyền lực chỉ có nuốt vào chứ không thể nhả ra.
Ngày nào điều lệ Đảng (đảng cầm quyền), còn lấn lướt Hiếp Pháp (Đảng lãnh đạo) thì quyền lực của Đảng vẫn còn trên tất cả. Quyền lực càng cao thì tham nhũng càng leo thang, cái logic này, cả nước ai cũng biết.
Sửa đổi Hiến pháp lần này, nếu theo chỉ thị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, sẽ không có những thay đổi để cho nhà nước thật sự là của dân, do dân và vì dân. Những thay đổi, nếu có, thì hiệu quả cũng như Luật phòng chống tham nhũng của Quốc hội khóa trước không hơn không kém, vừa tốn tiền và chỉ để làm kiểng.
Các đại biểu Quốc hội có can đảm thực hiện quyền của mình, như Hiến pháp quy định, bằng cách biểu quyết những thay đối có tính chất nền tảng, đi ngược lại chỉ thị của Tổng bí thư Đảng hay không?
Đảng có chấp nhận cho các đại biểu Quốc hội của dân và do dân bầu, tạm thời thoát khỏi ràng buộc của điều lệ Đảng, vì tuyệt đại đa số họ là đảng viên, để họ có những quyết định độc lập, thực sự là đại biểu của dân, do dân và vì dân.
Để chứng tỏ sự đổi mới, Đảng có thể tuyên bố tạm ngưng áp dụng điều lệ Đảng với các vị đại biểu Quốc hội vì họ được tiếng là do dân bầu. Không có gì phải lo sợ khi ở Quốc hội hiện nay chỉ có độc đảng.
Nguyễn Phúc Hiếu
VRNs đặt tựa và biên tập

Sử Gia Mỹ In Sách: Quân Đội VNCH Anh Hùng

Sử Gia Mỹ In Sách: Quân VNCH Anh Hùng; 300 Lính Úc Đơn vị Tối Mật 547 Chờ Huy Chương
(05/08/2012) (Xem: 916)
 
bkd_1975
Quân đội VNCH anh hùng.

Trong khi bản tin ABC của Úc viết về Đơn Vị 547 Signal Troop, một đơn vị bí mật của quân đội Úc tại VN chuyên nghe lén băng tần truyền tin của CSVN, hiện đang chờ  lãnh huy chương... bản tin BBC tóm lược một bài  trên báo Wall Street Journal giới thiệu cuốn sách “Black April” của nhà nghiên cứu George Veith trong đó cho thấy quân đội VNCH đã chiến đấu rất mực hào hùng bất kể các phương tiện chiến đấu đã bị quốc hội Mỹ cắt bỏ trong các năm cuối Cuộc Chiến VN.

Bản tin ABC từ Úc nói rằng  đơn vị nghe lén 547 Signal Troop trong lực lượng chiến binh Úc Châu đóng ở Nuí Đất, và trên phi cơ nhẹ thì bay với thiết bị nghe lén tinh vi... là một công tác tối mật, đã cứu nhiều sinh mạng lính Úc, và ngay bây giờ cũng còn trong hồ sơ tối mật. Lúc đó, truyền tin qua sóng là chữ Morse được mã hóa.

Dù vậy, ABC nói nhiều phần công tác nghe lén naỳ đã giải mật, thiết bị nghe lén đang được Úc trưng bày ở nhiều nơi, kể cả Đài Tưởng Niệm chiến Tranh, “và cả ở các bảo tàng tại Mỹ,” theo lời Thiếu Tá Peter Murray, người từng chỉ huy đơn vị bí mật này.

Trong suốt thời Chiến Tranh VN, có khoảng 200 tới 300 lính Úc trong đơn vị này, và bây giờ đang chờ xét lãnh huy chương.

Trong khi đó, cuốn sách “Black April” của George Veith, dày 587 trang, của nhà xuất bản Encounter, được nhà phê bình Mark Moyar giới thiệu trên báo Wall Street Journal, nói rằng truyền thông thiên tả Mỹ đã không chịu nhìn thấy rằng quân đội VNCH đã chiến đấu rất anh hùng, ngay cả sau khi quân đội Mỹ đã rút đi và việnt rợ bị cắt bỏ.

Trong khi báo WSJ đặt tựa đề bài viết là “Abandoning Vietnam” (Bỏ Rơi VN), BBC dịch thẳng ra tiếng Việt theo tựa đề sách là “Tháng Tư Đen.”

Bài viết BBC lươc5 theo WSJ sẽ trích đoạn như sau:

“...Mang tên 'Tháng Tư Đen', sách dày gần 600 trang của tác giả George Veith vẽ lại bức tranh hãi hùng của những trận chiến cuối cùng với sự thiệt mạng của 100.000 lính Nam Việt Nam.

Bản thân Hà Nội ước tính họ mất 6.000 bộ đội chỉ trong vài ngày cuối tháng Tư năm 1975, theo điểm sách 'Tháng Tư Đen' trên báo Wall Street Journal của chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark Moyar, người cũng là tác giả cuốn 'Thắng lợi Bỏ lỡ: Cuộc chiến Việt Nam, 1954-1965'.

Moyar đánh giá 'Tháng Tư Đen' đã xuất sắc "điền vào khoảng trống lịch sử" của giai đoạn 1973-1975 khi Hoa Kỳ đã rút quân và Cuộc chiến Việt Nam không còn là mối quan tâm hàng đầu của các phóng viên Hoa Kỳ, khiến các tài liệu tham chiếu bằng tiếng Anh để viết về giai đoạn này không có nhiều.

Tác giả Veith đã dùng tới các sử liệu từ phía Việt Nam bao gồm của cả miền Bắc và các cuộc phỏng vấn của ông với các tướng lĩnh Nam Việt Nam trong quá trình nghiên cứu để viết sách.

Ông Veith nhận xét thất bại trong tháng Tư năm 1975 không phải do sự lúng túng của chính quyền miền Nam và càng không phải do sự yếu kém trên chiến trường của lực lượng Việt Nam Cộng hòa.

Theo ông, lực lượng Nam Việt Nam bao gồm nhiều chỉ huy từng đẩy lùi cuộc tấn công của miền Bắc hồi năm 1972 và đã có những trận đánh thành công nhưng ít được biết tới trong giai đoạn 1973-1975.

Một số trận đánh trong đó quân miền Nam kháng cự kiên cường được nhắc tới xảy ra trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975 như các trận Mỏ Tàu và Núi Bồng ở mạn bắc, Bến Cầu và Chơn Thành ở miền trung cũng như trận Cần Thơ và Long An ở miền nam.

'Giết hại dân thường'

Theo bài điểm sách của chuyên gia Moyar, "[Ông] Veith đã minh chứng thuyết phục rằng lý do gốc rễ của sự thất bại ở miền Nam là việc cắt giảm trợ giúp của Quốc hội Hoa Kỳ trong năm 1974 khi viện trợ quân sự giảm gần một nửa.

"Khi cuộc tấn công của quân Bắc Việt bắt đầu trong tháng Ba năm 1975, sự thiếu hụt nhiên liệu máy bay và phụ tùng không cho phép quân đội chở lính tiếp viện bằng đường không nhằm củng cố biên giới miền tây trải dài 900 dặm (gần 1.500km).

"Bởi vậy Bắc Việt được tự do để tập trung các cuộc tấn công với số quân lớn vào các thành phố và thị trấn trọng yếu.

Ông Veith nói sự thiếu hụt không quân cũng làm cho miền Nam không thể cho máy bay ném bom lực lượng miền Bắc ngay cả khi họ biết những nơi đối thủ tập trung đông quân.

Ngoài ra việc dân thường di tản với số lượng lớn cũng ảnh hưởng đến khả năng triển khai và di chuyển quân của Nam Việt Nam.

Ông Veith nói việc Bắc Việt Nam giết hại những người không cầm súng ở Huế năm 1968 và dọc Quốc lộ 1 năm 1972 khiến người dân phát hoảng và họ đã tràn ra các ngả đường khi quân miền Nam rút đi.

Việc tắc nghẽn đường và cầu khi dân thường di tản làm cho một số đơn vị chiến đấu của VNCH không rút kịp và bị lực lượng miền Bắc tiêu diệt...”

Điểm đặc biệt trong bài báo WSJ được BBC dịch là tuyến phòng thủ cuối cùng ở Sài Gòn, “...Nam Việt Nam có tới hơn 760.000 binh sĩ nhưng chỉ tập hợp được 110.000 ở Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng.”

Bài báo WSJ ghi rằng lúc đó quân Bắc Việt đã mang 350,000 chiến binh vào và được viện trợ đầy đủ nhờ chuyển Đường Mòn Hồ Chí Minh thành xa lộ và gắn ống dẫn dầu dọc theo đường này.

BBC kể lại:

“Trong phần kết thúc bài điểm cuốn 'Tháng Tư Đen', chuyên gia quốc phòng Moyar nói cuốn sách là lời nhắc nhở Hoa Kỳ về cái giá phải trả bằng nhân mạng khi rời bỏ một đồng minh.

Ông nói 100.000 lính Nam Việt Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh cuối cùng, đã bỏ mạng, bị hành quyết tức thì hay chết vì bị hành hạ trong các trại "cải tạo" khổng lồ.

Hơn nửa triệu người Nam Việt Nam cũng bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ cộng sản.”

Bài trên WSJ nói, quân Bắc Việt trong những ngày cuối Tháng Tư Đen đã bị giết 6,000 bộ đội.

-----------
 
Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng: Chuyện Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ và Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long: Từ Đắng Cay Hậu Chiến.

 
Nhân Tháng Tư Đen năm thứ 37, từ nay mỗi cuối tuần, Viết Về Nước Mỹ sẽ là loạt bài đặc biệt do tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện trong Dự án “Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng” về những ảnh hưởng của tang thương và mất mát trên đời sống tình cảm của người Việt hải ngoại qua sự bảo trợ của tiểu bang California cho Chương trình Báo chí về Y tế Sức khỏe (CEHJF), và do Trường Báo chí và Thông tin Annenberg của Đại học University of Southern California tổ chức. Cô sử dụng phương pháp lịch sử truyền khẩu, cùng kinh nghiệm dấn thân cộng đồng, và tư duy trải nghiệm.

This project “Black April, Bright April” © is produced using oral history, community participation, and lived perspectives. Trangđài Glassey-Trầnguyễn reporting on trauma, loss, and emotional health in the Vietnamese diasporas was undertaken as part of the 2011-12 California Endowment Health Journalism Fellowships (CEHJF), a program of the University of Southern Californias Annenberg School for Communication & Journalism.

CHỦ TRƯƠNG CỦA
NGƯỜI THỰC HIỆN:

Từ năm 1976 đến nay, mỗi Tháng Tư là một thời gian hồi tưởng, truy niệm chung cho người Việt hải ngoại. Qua dự án này, tôi muốn quy nhận truyền thống tưởng niệm này của Cộng đồng người Việt hải ngoại. Đồng thời, tôi cũng muốn đón nhận và đưa lên giá cao những ngọn đèn đã làm cho Tháng Tư 1975 không chỉ còn là một ngày của bạo lực và mất mát. Chúng ta đã xây dựng những Tiểu Việt Nam khắp dọc dài thế giới. Chúng ta đã nuôi dạy nhiều thế hệ trẻ thành nhân tài xứ người. Chúng ta đã xoay ngược thế cờ, dùng sức mạnh của thế giới và tư duy đương đại để gìn giữ lịch sử và phát triển tương lai. Những ngọn đèn đó vẫn tỏa sáng giữa chúng ta – là chính ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cái của chúng ta – đang thắp lên một bình minh mới trên những đổ nát hôm qua. Chúng ta không chỉ có một Tháng Tư Đen, mà chính mỗi chúng ta cũng là hiện thân của một Tháng Tư Sáng.

PHẦN 1(4):

MƯỜI BA NĂM KHỔ SAI

Những ngày sau 30 tháng Tư, 1975 chắc chắn là những ngày kinh hoàng nhất cho rất nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam. Nhưng đối với một số người, những ngày ấy kéo dài tưởng như vô tận, đến mười mấy năm, mà mỗi ngày là một thế kỷ của nhọc nhằn và mỗi đêm là một trường canh của kinh sợ.

Cái giai đoạn lịch sử ấy – tuy man rợ và đầy tang thương – nhưng vẫn là một di sản được những người trong cuộc ôm ấp và gìn giữ. Bởi vì, cái lịch sử ấy chính là một dấu chứng cho niềm tin vào điều thiện và sự vượt qua của những ai còn sống sót sau kinh nghiệm hỏa lò. Đó có lẽ là lý do mà khi đến Mỹ, Cựu thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã mang theo 3 vật rất quan trọng đối với mình. Một đôi găng tay may từ vải vụn, bà đã dùng trong thời gian 13 năm tù cải tạo. Hai chiếc áo tù – một bằng vải thô, và một bằng len, do chính bà đan lại từ hai chiếc áo lạnh cũ đã chật của hai con gái, do mẹ bà gửi vào. Và một cơ thể đã bị phá hủy, thương tật.

Nhưng bà cũng mang theo một gia tài quan trọng hơn cả những vật chứng này – một gia tài không ai có thể tịch thu, đấu tố, hay phá hủy: một ý chí để sống, một nghị lực phục vụ gia đình và xã hội, và một niềm tin mãnh liệt vào Chúa. Chính gia tài này đã là cứu cánh cho bà trong suốt 13 năm tù, và quãng đời sau đó.

Trên hai chiếc áo tù đó, số tù – cũng là 'nhân diện' của bà trong mười ba năm khổ sai – đã bắt đầu phai nhạt theo năm tháng. Nhưng những đau đớn về tinh thần lẫn thể xác vẫn còn hằn sâu. Có lẽ những thế hệ một và một rưỡi còn nhớ và biết cái bi kịch hỏa lò tại Việt Nam, nhưng thế giới và những thế hệ Việt ngoại biên vẫn cần một văn khố chính thức về bi kịch này.
Cô dâu Thanh Thuỷ và chú rể Lê Thành Long.
Điều quan trọng là chúng ta không để cho những sự thật về bi kịch này phai nhạt – như những số tù trên áo những người tù khổ sai năm nào. Chúng ta cần ghi lại những đau thương – không vì hận thù – nhưng vì để đấu tranh cho Công lý, Hòa bình, Tự do, Bác ái. Đến bao giờ, người Việt hải ngoại mới có một tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù của Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt giải Nobel Văn Chương 1970 với những tác phẩm vạch trần cái hỏa lò của Cộng Sản Xô Viết? Những quần đảo ngục tù vẫn còn hoành hành trên cơ thể của nhiều con dân Việt và ngay trên đất Việt qua những hậu quả khốc liệt của nó. Đến bao giờ chúng ta mới có một Solzhenitzyn của Việt Nam? Vì nếu những đau thương này đã đến từ bất công, thì chúng cũng là một mối đe dọa cho con người ở tất cả mọi nơi – như nhà tranh đấu dân quyền Martin Luther King đã nói, "Bất công ở bất cứ nơi nào là bất công ở khắp mọi nơi." Xã hội con người không tách rời nhau bởi biên giới hay ngôn ngữ, mà cộng thông trong lý tưởng công bằng, bác ái, và dân chủ.

Chiếc áo tù ngày nào, tuy nay không còn ấm lạnh trên người Nguyễn Thanh Thủy nữa, nhưng kinh nghiệm mười ba năm tù khổ sai là một chiếc áo đầy gai, vẫn châm chích và làm đau đớn tâm hồn và thể xác bà. Hai mươi bốn năm sau khi ra khỏi trại tù, bà vẫn còn oằn oại trong những bệnh tật do giai đoạn oan nghiệt này tạo ra, và những kinh hoàng của bốn tháng biệt giam vẫn bám riết tâm trí bà. Chúng ta thử cùng bà ngồi trước màn ảnh của quá khứ, chứng kiến lại những điều mà trước nay bà chưa nói được với ai, vì nó quá kinh hoàng và khó khăn để thuật lại.

Nguyễn Thanh Thủy nhớ lại, “Vài hôm sau ngày 30 tháng Tư, 1975, tôi bị gọi đến nơi làm việc của Ủy Ban Quân Quản của chế độ Cách Mạng (tức Văn Phòng Khối Đặc Biệt, đường Cộng Hòa cũ) để hỏi cung từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Cán Bộ Cộng Sản cho biết, lẽ ra giam cầm tôi luôn, nhưng vì các con tôi còn quá nhỏ, nên mỗi ngày tôi đến đây làm việc rồi về. Họ cho tôi xấp giấy, cây viết, và muốn tôi viết lại quá trình hoạt động. Mỗi ngày tôi chỉ viết lý lịch của mình, rồi tôi nộp, nhưng họ không bằng lòng. Tôi có cho họ biết là tôi không nhớ gì cả, và yêu cầu họ cho tôi thời gian để tập trung trí nhớ. Sau đó, họ giúp tôi bằng cách dẫn tôi đi vòng quanh khối Đặc Biệt, vào những phòng làm việc của Khối để nhìn từng nơi xem thấy cái gì còn, cái gì mất. Tôi chú ý đến Văn phòng của Trưởng Cơ Quan E4, nơi còn những bản sơ đồ vẽ hệ thống hoạt động, những bản thuyết trình có ám danh công tác, bí số nhân viên, nhưng không có tên tuổi thật. Tôi nghĩ trong đầu một kế hoạch để đối phó với Cộng Sản khi bị hỏi cung.”

Nguyễn Thanh Thủy không chỉ là một người tù cải tạo. Bà còn là vợ một người tù cải tạo. Chồng bà, Cựu Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long, cũng vào tù sau ngày 30 tháng Tư 1975. Ba người con nhỏ của ông bà được gửi gắm lại cho ông bà Ngoại tại Mỹ Tho. Tuy nhiên, những cố gắng để kéo dài thời gian hỏi cung của bà cũng không giúp bà được ở gần gia đình mãi. Đến 15 tháng Sáu, 1975 thì bà bị tập trung vào tù cải tạo. Theo lời bà, thì “Tôi ở chung trại với tù cải tạo nam, học tập chính trị ở hội trường, học quốc ca của Cộng Sản và những bài hát đấu tranh chống Mỹ Ngụy, làm những bài thu hoạch, phê và tự phê, kiểm điểm, nộp cho họ. Tất cả mọi người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tội nhiều hoặc ít. Đó là cách luận tội của Cộng Sản. Tôi vào trại tù cải tạo Long Thành, với một túi xách đeo vai, một chiếc chiếu nhỏ cho một người nằm. Thiếu đủ mọi thứ. Tôi phải xuống hố rác cạnh dãy nhà chúng tôi ở, để tìm chai, lọ, mấy tấm tôn để đựng nước, đựng cơm, thức ăn… Nước chỉ đủ uống, không đủ tắm. Trời tháng sáu mưa dầm dề. Chờ trời mưa, tôi gội đầu tắm giặt nhờ những dòng nước mưa chảy theo mái nhà.”

Trong suốt thời gian bị giam một mình, bà đã canh cánh sợ bị bọn võ trang muốn làm hỗn nên không bao giờ dám chợp mắt, đã nơm nớp khiếp sợ mỗi đêm khi cai ngục lẻng kẻng xâu chìa khóa đâu đó giữa rợn rùng thăm thẳm tối. “Vì đêm trước có ai bị đưa đi, thì sáng hôm sau coi như mất tích,” bà nói. Hơn nữa, phương tiện vệ sinh căn bản nhất cũng không có. Bà hồi tưởng, “Nói đến nơi tiểu tiện bằng những cầu dã chiến ngoài trời, mưa dầm là nó lầy lội, và những con vòi trắng lềnh bềnh mà nữ thì làm sao dám ngồi để tiểu tiện, nên tôi đành nín, nhịn khát, đợi tối mới ra cái nhà tắm che bằng bốn vách lá, đi xong cho vào hố rác. Nhớ tới cảnh này, tôi luôn rùng mình, sao tôi chịu nổi dơ bẩn như thế.”

Bà nói tiếp, “Đầu tháng 10 năm 1975, tôi bị chuyển về trại giam Thủ Đức (tức 16NV). Chỉ có một người nữ bị chuyển là tôi. Tôi ở một mình trong phòng giam và bắt đầu các cán bộ thẩm vấn, điều tra từ trung ương đến. Tôi bị kêu lên đêm có, ngày có, bị hỏi liên tục, hỏi xong rồi bắt viết, thu bài. Những tháng ngày này, đầu óc tôi quá căng thẳng. Cả đêm không buồn ngủ, tựa lưng vào vách tường, kê túi quần áo và gối nằm để làm điểm tựa viết bài họ điều tra.”
Bà mẹ Thanh Thuỷ và ba con thơ tại Mỹ Tho.
Bà nhớ lại, “Tôi phải cải tạo khổ sai ở đây nhiều năm, không đủ vệ sinh và thiếu thốn. Ăn thì độn khoai mì có vỏ đỏ quấy, gọi bột ngàng phệt, hột bo bo, mì sợi luộc có cả con chuột chết vớt ra bỏ đi, lại tiếp tục chia mì sợi cho người một phần để ăn, không thì đói. Cả ngày cuốc xới mỏi mệt, tối đến vào phòng ngủ gần người lao phổi (xuất huyết phổi tới thời kỳ chót), bệnh giang mai thời kỳ thứ ba, phổ có nước thời kỳ chót. Tôi phải sống chung với họ cho tới khi họ được tha, và không bao lâu thì họ chết. Tôi phải may những nệm ngồi bằng vải vụn riêng để tránh lây nhiễm. Lúc ngủ, các bạn khỏe xếp gần nhau, chừa một chiếu cách người bệnh, xây đầu khác hướng với người bệnh và xây lưng về phía người bệnh để tránh lây nhiễm.”

Vì Nguyễn Thanh Thủy đã giữ một vai trò khá quan trọng khi phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bà đặc biệt bị quản lý nghiêm ngặt và tra khảo liên tục, làm bà chóng mặt, căng thẳng đến ngã bệnh. Cán bộ không bao giờ rời mắt khỏi bà, ngay cả về đêm. Bà kể, “Tôi là người tù bị chỉ định nằm ngay cửa ra vào hoặc ngay cửa sổ phòng tù để họ dễ kiểm soát hành vi về đêm của tôi. Cửa sổ tù không bao giờ có cửa để đóng lại, nên rất lạnh. Đêm đêm đói bụng quá, các bạn tù kể món ăn này, món ăn kia cho đỡ thèm đỡ đói. Nhớ chồng con kể chuyện hạnh phúc ngày nào thì có bà lên tiếng, kêu đừng kể nữa, vì rờ hai bên toàn chiếu không. Tới ngày thăm nuôi được gặp thân nhân gia đình, là lúc lấy dạ dày an ủi trái tim.”

Trong hoàn cảnh lao tù khổ sai, người nữ tù chịu nhiều khó khăn và khổ sở hơn người tù nam, nhất là về phần vệ sinh hằng tháng, và sự an toàn bản thân. Không chỉ những nữ tù cải tạo mới bị dòm ngó và hãm hiếp, mà những phụ nữ bị bắt vì vượt biên cũng bị lính gác bạo hành về tình dục. Sự căng thẳng của người tù nữ, vì vậy, cao gấp nhiều lần so với bạn tù nam. Bà lại kể, “Trại giam có nước máy, nên vệ sinh cá nhân cũng đỡ, nhưng vấn đề phụ nữ hằng tháng, không có băng giấy, tôi phải dùng quần áo cũ xé ra để lót, rồi giặt không xà phòng (vì không được thăm nuôi). Ăn uống, mỗi buổi sáng được một ly nước nóng, trưa một phần khoai độn, buổi chiều nửa chén cơm, một chút rau muống luộc với nước muối. Lễ lớn có một miếng thịt bằng ngón tay. Hơn một năm, một số tù cải tạo chuyển đi Bắc, một số tù cải tạo ở nơi khác chuyển tới, lúc đó mới có một số chị em phụ nữ ở trại Long Giao, trại giam Chí Hòa, Phan Đăng Lưu tới. Đa số là tù phản động. Tôi mới thoát cảnh ở một mình mà sống tập thể với bạn tù cũ, bạn tù mới. Tôi bắt đầu đi lao động, làm cỏ chung quanh trại giam, và trồng rau muống.”

Cảnh lao động vất vả của trại tù, dù sao, cũng cho người tù cơ hội được thấy ánh sáng mặt trời, mà không bị vây hãm gò bó giữa bốn bức tường bức bối. Nhưng trồng rau bằng phân người và nước tiểu người là những cực hình mà người tù phải gánh chịu, và ăn rau do chính mình trồng nhưng không được rửa sạch làm cho người tù bị tiêu chải kinh niên. Nhu cầu nha chu hay y tế căn bản cũng không được đáp ứng, nên bạn tù phải mượn kềm của tù nam hình sự, khi họ về ăn cơm trưa trong một tiếng, để nhổ răng cho nhau, khi răng đã hư quá nặng và không thể giữ được. Họ phải cầm máu bằng nước muối, vừa rát, vừa đau.

Bà kể tiếp, “Hai năm sau, tức tới tháng Bảy, 1977, chúng tôi chuyển lên trại tù cải tạo Căn Cứ 5 Rừng Lá, tức trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải. Đã di chuyển xa, nên việc phải gặp chấp pháp ít hơn, vài ba tháng một lần. Mà chủ yếu là lao động, cả đội mấy chục cô cầm cuốc, cầm xẻng, thùng tưới nước, chia nhau công tác để làm. Mới đầu chẳng biết cuốc, cả ngày trời cuốc một khoảng cỏ trước sân cơ quan mà thấy vẫn y nguyên. Lần lần gánh tranh, trồng rau muống, khoai lang, củ cải. Rau tưới bằng một lon nước tiểu pha một thùng nước suối, phân người bỏ dưới rãnh, lấp đất, trồng rau lên.

Tôi yếu sức nên đứng múc nước tiểu, pha cho người khỏe trẻ tưới. Cả ngày làm lao động mệt, chiều hết giờ chạy về bờ suối tắm 20 phút, vừa giặt giũ vừa tắm, không có quản giáo nữ canh gác. Cán bộ nam và võ trang canh gác khi đội nữ tắm. Bọn cai tù nói, “Các chị cứ coi chúng tôi như các chị, cứ thế mà tắm.” Thật là trơ trẽn. Chúng tôi cứ nhúng cả người xuống nước rồi lên giống như vịt rỉa lông. Những ngày mưa, nước suối đục ngầu, vẫn phải tắm, vì nước tiểu và phân dính cả người. Tới mùa nước suối cạn, bọn Cộng Sản chuyển đội nữ về lại trại cải tạo Long Thành. Nơi đây là trại hình sự, máy nước bị hư, không tiền sửa chữa. Mỗi ngày phát một gô nước uống, một tuần lễ mới ra suối cạn tắm một lần, giặt giũ rồi xách nước về. Về tới trại rửa cát bụi đi đường là thấy hết sô nước. Trại này trồng táo Thái Lan, dền, rau muống, cũng dùng nước tiểu, phân người làm phân bón. Chỉ trồng táo mới tưới bằng phân urê.”

Nhưng sau đó, bà bị chuyển trại, và bị đưa vào biệt giam hơn một năm để hỏi cung. Đây là gian đoạn gian nan nhất trong thời gian mười ba năm khổ sai của bà. Tuy nhiên, bà vẫn luôn giữ trong đầu một điểm đến: cố sống sót, đối diện với nghịch cảnh, để có ngày đoàn tụ với con. Bà ôn lại, “Ăn thiếu thốn, đói khát, bị vây quanh mấy tên cán bộ chấp pháp, tôi muôn điên lên vì thần kinh quá căng thẳng. Tôi sẽ gặp đau thương khi đối đầu với địch nên trước ngày cuối, để bảo mật, tôi đã hủy hồ sơ của Biệt đội Thiên Nga. Tôi cũng được bọn Cộng Sản đưa đi xem các văn phòng có liên hệ. Nhưng tôi vẫn lo lắng cho các nhân viên. Tôi muốn bảo toàn cho các bạn nữ đồng khóa, các nhân viên, và cộng tác viên. Tôi tâm niệm trong lòng mỗi lần phải gặp mặt cán bộ, tôi đều thầm nhủ đây là địch, đây là Việt Cộng, làm cho tôi thêm nghị lực, bình tĩnh hơn, mạnh dạn hơn để trả lời. Tôi ở biệt giam một mình hơn một năm, vì phải làm việc bằng đầu óc, trại giam gọi là động não quá nhiều, ăn uống thiếu thốn, ngủ nền xi-măng, tôi bị liệt một chân, phải lần vách. Tôi mới xin lau chùi quét dọn hành lang và xin phơi nắng nửa giờ mỗi ngày trừ thứ Bảy và Chủ Nhật. Tôi tập giật chân kinh và tự xoa nắn lấy chân bị liệt teo cơ do suy dinh dưỡng gây ra. Tôi tự nhắn nhủ, không nhớ con nhiều nữa, phải rán chịu đựng mọi khó khăn để có sức khỏe trở về với con.”
Trước 30 Tháng Tư 1975 và sau 13 năm tù. (Hình văn khố: Olivier Glassey-Trầnguyễn)
Thời gian biệt giam này đã dài như thế nào? Những chi tiết về gian đoạn này sẽ khiến nhiều người không thể tưởng tượng ra được, bà Nguyễn Thanh Thủy đã làm thế nào để sống sót. Bà nói, “Tháng 4 năm 1981, tôi bị đưa từ trại tù cải tạo Long Thành về trại tù biệt giam X4 (Bộ Công An Cộng Sản đường Võ Tánh, Sàigòn). Tôi ở xà lim, chung quanh tối om, ngoài một bóng đèn điện cho cả dãy xà lim, mỗi xà lim có một khoảng trống bằng một cục gạch trên sát trần nhà để thở. Trời tháng Tư ở Việt Nam, nóng bức, mồ hôi chảy như tắm, quần áo vo cao cho bớt nóng. Tuần lễ đầu tiên tôi bị xỉu, thiếu dinh dưỡng, thời tiết quá nóng. Cán bộ trại giam phát hiện do người ở cạnh xà lim đập tường hỏi thăm sức khỏe, không thấy tôi trả lời, họ đập tường gọi cán bộ cấp cứu. Sau lần cứu tôi tỉnh dậy, trại giam đưa một lọ thuốc tim nhỏ giọt để khi mệt nhỏ vào miệng và gọi cấp cứu.

Về ăn uống, sáng để gô ra, họ cho một gô nước nóng. Trưa và chiều để ít cơm trong cái thau và một chén canh ngoài song sắt xà lim, rồi tự mình mang cơm canh qua song sắt để ăn. Phải kiếm thế nghiêng thật nhanh, mang tất cả cơm canh vào. Vì không có muỗng, nên phải ăn bốc bằng tay.

Lúc mới tới, Cán Bộ chấp pháp cho biết tôi sẽ được ăn tiêu chuẩn quốc tế, dành cho người về làm việc, ngày 3 lần: sáng, trưa, chiều. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận được buổi ăn nào như thế. Các tù nhân đi với Cán Bộ trại giam giao phần ăn không được mặc áo, phải ở trần và bận quần xà lỏn (quần đùi), họ không được nói bất cứ lời nào. Muốn hỏi gì, họ chỉ tay về phía Cán Bộ, người Cán Bộ mới có quyền nói chuyện với tù nhân.

Về phần vệ sinh cá nhân, mỗi ngày được tắm một lần, 20 phút. Tù không bao giờ gặp mặt nhau, cứ người này tắm xong, mới mở cửa phòng khác cho tù ra tắm. Tiểu tiện đi vào thùng sắt đựng đạn của Mỹ, cứ đi tắm mang ra đổ, rửa sạch dùng lại.

Đưa tôi về nơi này, bọn Cán Bộ chấp pháp làm áp lực để tôi viết cam kết, với chồng hồ sơ thu thập được của nhân viên Thiên nga, cấp chỉ huy, bạn bè để trước mặt, cho thời hạn suy nghĩ là 3 ngày. Trên đường trở về xà lim, tôi nhờ chấp pháp trình lại với lãnh đạo của họ, 6 năm tù cải tạo đủ để suy nghĩ, không cần thêm 3 ngày. Tôi trả lời: Không, không bao giờ.

Thế là tiêu chuẩn ăn hàng ngày bị giảm đến mức tối thiểu, chỉ còn một chút cơm với vài hột muối hột. Thời gian này, bệnh nặng không được chữa, có lần ói từ nửa đêm đến sáng. Khi họ kiểm tra thấy nằm ói toàn mật xanh, Bs y tá tới, cho thuốc uống liền tại chỗ. Người y tá đưa thuốcd nói thật nhanh, thật khẽ, “Đừng uống.” Tôi vội nắm chặt thuốc trong lòng bàn tay, đưa tay giống như bỏ thuốc vào miệng và vội vàng uống nước. Sau này, tôi gặp người y tá đó khi khám sức khỏe đi Mỹ tại Bv Cảnh Sát. Người ấy mới kể, trước là y tá Bv Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, có thân nhân liệt sĩ, nên được giữ làm lại, biết tôi và tránh cho tôi bị thuốc.

Họ giữ tôi tại cơ quan X4 bốn tháng nhưng không khai thác được gì. Bọn chấp pháp đem cán bộ nữ ra dụ dỗ vì thương con tôi, mới khuyên tôi cam kết để tha về. Tôi khẳng định tôi về khi nào có chính sách của lãnh đạo nước, chứ về riêng lẻ không bao giờ có. Thấy tôi kiên quyết không khai, bọn chấp pháp biểu tôi đứng xa họ ba thước, nghe đọc lệnh án. Lệnh án có nội dung như sau: Do quyết định ngày… tháng… năm, Tên Nguyễn Thanh Thủy có thái độ ngoan cố không chấp hành cải tạo lao động nên tuyên án tập trung cải tạo tiếp 3 năm và quyết định có hiệu lực vô thời hạn.

Hai chân tôi bị nhốt ở xà lim, nên bị liệt không đi nổi. Trở lại xà lim, lấy quần áo chiếu mền theo họ chở về trại tù cải tạo Long Thành. Trước khi lên xe, họ đưa cái giỏ nhỏ nói là quà gia đình gửi. Sau này gặp chồng tôi, anh kể mấy ngày trước khi tôi trở lại trại cải tạo Long Thành, họ đưa một miếng giấy có chữ viết của tôi, vỏn vẹn, “Thăm anh và các con. Em vẫn khỏe mạnh.” Xong họ dặn chồng tôi mua cho tôi ít quà khô. Họ biểu đem đến cổng. Anh không biết chỗ, hỏi thăm gác cổng, họ bắt anh nhốt cho tới tối mới thả anh ra.

Sáng hôm sau là tôi chuyển trại. Họ phải xách tất cả một xách quần áo, sô đựng vài thứ linh tinh, một giỏ thức ăn. Vì tôi đi không nổi, mặt mày xanh xao, không ánh nắng mặt trời bốn tháng, màu da vàng của người VN rất đúng không sai tí nào. Nói đến hình phạt kỹ luật cho nữ, cái nhà kỹ luật là nhà có 2 lớp, giống như cái hộp có hai lớp, một lớp là phòng giam nóc bằng, cách khoảng chừng 1 thước, lớp ngoài cũng xi măng cốt sắt.

Mỗi phòng giam kỷ luật có một cái bệ. Cuối bệ có cây sắt thông ra ngoài để khóa bằng ống khóa sắt. Trên cây sắt có những cái cùm. Cái bệ xi măng có một cái lỗ để thùng đạn của Mỹ. Thùng trống không, làm chỗ tiểu tiện. Đặc biệt là kể từ ngày vào phòng giam kỹ luật cho đến ngày ra không được tắm. Khôn được tắm từ 1 tuần cho tới 3 tháng, 6 tháng, hay cả năm, chỉ những ngày kinh nguyệt phụ nữ mới được 40 phút thay quần áo.

Tùy theo hình thức phạt, đa số hai chân đều phải cùm lại, hỏng trên cái bệ, nên rất đau đớn vì tê chân và sét ăn vào cườm chân. Muỗi đốt suốt ngày đêm, bóng tối cả ngày đêm… Những hình thức này tôi đều trải qua, hằn sâu trong da thịt tôi.”

Chính thời gian biệt giam này đã gây ra nhiều tổn thương trên thân thể bà nhất, từ việc bị bại liệt một bên người, phong thấp, các chứng bệnh đường ruột và tiêu hóa, cho đến sự căng thẳng đầu óc đến cao độ. Từ việc bị giam trong phòng tối cả ngày lẫn đêm, cho đến việc bị điều tra hỏi cung 24/24, cho đến việc bà bị trừng phạt không cho ăn uống, chỉ có chút nước và ít muối hột, hay bị phạt không được tắm, những ngày có kinh nguyệt bà cũng chỉ được 40 phút thay quần áo rồi bị cùm lại – tất cả đã khiến bà rụng gần hết răng và cơ thể bà hoàn toàn kiệt sức, không đứng được.
Tại Mỹ, với vật chứng nhà tù mang theo. (Hình phóng sự: Benjamin Vũ)
Tôi thắc mắc, sau những đằng đẵng đói lạnh và lao động quá sức, không biết trong những lúc quá cùng cực và bị bệnh thập tử nhất sinh, Nguyễn Thanh Thủy có bao giờ cảm thấy tuyệt vọng không? Mười ba năm khổ sai đã cho bà nhiều kinh nghiệm đắt đỏ và một cái nhìn thấu đáo về chế độ chính trị đang nắm quyền trên quê hương bà. Và khi bà rời nhà tù nhỏ của trại Hàm Tân Z30, bà tiếp tục bị dồn bức cho đến giây phút gia đình bà đứt ruột rời bỏ người thân và quê hương để đi Mỹ qua diện H.O.

Bà kiên trì, giữ vững tôn nghiêm của người lính, giữ tinh thần lạc quan. Cho nên “Cả 13 năm tù, tôi không muốn kẻ địch thấy giọt nước mắt của tôi. Nên khó tìm thấy nét buồn, cho tới ngày em tôi lên trại, báo tin Ba tôi mất, tôi xỉu ngay tại phòng thăm nuôi và tôi rơi nước mắt.”

Nhưng dù không biết tương lai mình ra sao, Nguyễn Thanh Thủy vẫn luôn nghĩ đến người khác, những người bạn tù của bà. Chính vì nghĩ đến người khác, nên ngay từ đầu, bà đã không khai những bí mật Thiên Nga khi bị hỏi cung, mà mới bị trừng phạt nặng nề và chịu nhiều tổn hại về sức khỏe. Đến những ngày cuối cùng, bà vẫn giúp các bạn tù, “Mấy năm trước ngày ra trại, tôi làm đội trưởng kỹ thuật may, chỉ cho các em hình sự án cao biết may gia công để đỡ cuốc đất trồng rau cực khổ trong thời gian thụ án, sau có tay nghề may.”

Là người nữ tù cuối cùng rời trại cải tạo vì bị cho là ngoan cố, Nguyễn Thanh Thủy rời tù nhỏ, về tù lớn của xã hội Việt Nam hậu 1975, với hai hàm răng đã rụng, nên các con không dám tới gần bà. Con gái bà bảo, “Kỳ quá, Mẹ không có răng!”

Tôi tự hỏi, đối với bà, đâu là nỗi đau lớn nhất trong 13 năm này: những đau khổ về thân xác trong trại cải tạo, hay nỗi đau tình cảm phải chia lìa với gia đình và con dại? Thời gian có xoa dịu được những nỗi đau này không? Hay mất mát sẽ vĩnh viễn là mất mát?

Lần đầu tôi phỏng vấn Cựu thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy là từ thập niên 1990, cho Dự Án Việt Mỹ (còn gọi là Vietnamese American Project, do tôi dùng tiền student loans để sáng lập tại CSU Fullerton, và sau được sự hỗ trợ của Đại học Nhân Văn và Khoa Học Xã Hội của trường và các tổ chức khác). Cho nên trong các cuộc thuyết trình chuyên môn về người Việt hải ngoại tại các trường đại học khắp nơi trên thế giới trong suốt gần hai mươi năm qua, tôi vẫn đặt câu hỏi: Ai sẽ trả lại cho Nguyễn Thanh Thủy và gia đình bà 13 năm chia lìa vì tù ngục cải tạo? Chứng từ của Nguyễn Thanh Thủy trong các cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu mà tôi đã thực hiện với bà sẽ tiết lộ câu trả lời của bà cho những câu hỏi này trong các kỳ tới.


Liên lạc:
vietamproj@gmail.com
 

Nữ Sinh Thác Loạn... :Nếu Chúng Ta Không Giải Thể VGCS -Sẽ Hối Hận Đến Ngàn Thu

Nữ Sinh Thác Loạn...
Bạn thân,Cái thời nữ sinh e ấp bây giờ không còn bao nhiêu nữa. Chuyện đau lòng là, tình hình nữ sinh mất đạo đức ngày một tăng.

Báo Lao Động, ghi theo VnMedia, gọi đó là “Nữ sinh thường xuyên thác loạn vì lệch lạc,” trong đó ghi nhận tình hình nữ sinh quan hệ tình dục quá bừa bãi đang là tâm điểm của dư luận và gây không ít bàng hoàng với các bậc phụ huynh.

Bản tin nói, “Ngay cả trong lớp học những "trò chơi" tình cảm được các em công khai không hề ngại ngùng.”

Thê thảm tới mức, theo báo Lao Động:


“Chuyện nữ sinh mới chỉ học lớp 8, lớp 9 sinh con đã không còn là chuyện hiếm ở Việt Nam mà mấy ngày gần đây, dư luận đang rất bất bình trước việc nhiều em học sinh có thai đã gần sinh nhưng lại không hề hay biết. Có em còn tưởng mình bị đau ruột thừa như trường hợp nữ sinh T ở Nghệ An hay như việc nữ sinh V ở Đồng Tháp sinh con trong toilet của nhà trường.

Tất cả những trường hợp trên đều cho thấy, những em nữ sinh vẫn chưa hiểu biết nhiều về quan hệ tình dục mà chỉ xuất phát từ nhu cầu muốn khám phá bản thân và để chứng tỏ ta đây là người chơi ngông, không thua kém bạn bè cùng trang lứa.

Ngoài việc nữ sinh chưa hiểu hết về vấn đề tình dục nên để có thai ngoài ý muốn gây phẫn nộ trong dư luận, còn rất nhiều nữ sinh khác phải chịu cảnh mất đi sự trong trắng của người còn gái khi bạn tình phủ bỏ tránh nhiệm...

Còn đứng ở góc độ về y tế, bác sĩ Trần Danh Cường, Bệnh viện Phụ sản T.Ư cho biết về hậu quả của việc nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên. Theo bác sĩ Cường, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu về tỉ lệ biến chứng sau nạo phá thai.”

Đó là chuyện sex. Còn chuyện nữ sinh đánh nhau nữa. Mà lại nữ sinh đánh nhau tập thể, ngay tại quê hương cụ Nguyễn Du.


Báo Giáo Dục VN nói ngay trên nhan đề, “Choáng với clip nữ sinh Hà Tĩnh đánh nhau tập thể” về chuyện xảy ra cuối năm 2011:

“Trong mấy ngày qua cư dân mạng lại lên cơn sốt với clip một nhóm nữ sinh khoảng 20 người đang đánh nhau tập thể.

Đoạn video trên được phát tán trên các trang mạng intenet đã thu hút hàng ngàn người xem mỗi ngày. Trong đoạn video có khoảng 20 nữ sinh mặc đồng phục và có vài nữ sinh mặc thường phục lao vào ẩu đả nhau bằng tay và chân.

Đoạn sau video còn là một cảnh hai nữ sinh một mặc đồng phục một mặc thường phục lao vào đánh tay đôi trong sự cổ vũ nhiệt tình của các nữ sinh bên ngoài. Hai nữ sinh này lao vào đánh nhau như những đô vật cấu véo, lôi tóc và đạp nhau ngay trên nền sân gạch đầy nước mưa....”
Nữ sinh bị tung ảnh

Tại sao như thế? Vì sao nữ sinh sex táo bạo như thế, vì sao bạo lực với nhau tàn khốc như thế?

Nhà thơ Nguyễn Du mà biết con cháu mình dùng bạo lực với nhau khốc liệt như thế tất sẽ than trời: Phồn hoa nhân vật loạn lai phi... (Dịch: Sau thời loạn lạc, nhân vật nơi chốn phồn hoa đã khác xưa rồi...)

Phải than là đúng vậy.

---------------

Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc : Xin Đừng Tiếp Tay Bọn VGCS Cướp Dân, Bán Nước.

Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc thăm Trương Quốc Việt

Trương Quốc Việt tọa kháng trước Quốc Hội Úc vào ngày thứ 8
9.05.2012

Sáng nay trời Canberra nắng ấm, anh Trương Quốc Việt không bị ướt lạnh như mấy ngày qua. Nắng ấm đủ để sưởi thêm tinh thần của anh đã tọa kháng đến ngày thứ 8 trước Quốc Hội Úc và ngày thứ 15 kể cả 8 ngày anh tọa kháng trước toà đại sứ VC ở Canberra. Ấm áp hơn khi được hai vị Đại diện của Ủy Ban Điều Tra Nhân Quyền của Quốc Hội Úc, ông Philip RuddockLaurie Ferguson đến thăm, hỏi han anh về lý do và nguyện vọng của anh khi tọa kháng trước Quốc Hội Úc. Anh Việt cho biết là căn nhà và đất đai của gia đình anh đã bị VC cướp đi, anh và dì của anh đã bị đánh đập và bỏ tù khi thưa kiện chính quyền địa phương.

Ông Philips đề nghị anh gởi đơn tường trình rõ sự việc cho Hội đồng Nhân Quyền rồi họ sẽ xem xét và yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội giải thích về sự kiện nầy. Cuối cùng anh Việt nói rằng anh tọa kháng ở đây không chỉ là cho anh mà cho rất nhiều người dân Việt Nam cùng cảnh ngộ như anh. Mục đích và nguyện vọng của anh ngồi trước Quốc Hội là anh muốn cho chính phủ Úc biết tình trạng tồi tệ về nhân quyền ở VN và mong chính phủ Úc nên ngưng viện trợ cho VN vì số tiền giúp cho VN không giúp gì được cho người dân nghèo mà chỉ giúp cho sự tồn tại của một chế độ độc tài, một chế độ bất công, tham nhũng đầy bất công.

Trường hợp của anh Trương Quốc Việt đã cho chúng ta thấy rằng tuy đơn độc nhưng với sự quyết tâm anh đã gây được sự chú ý và quan tâm của chính khách Úc như Dân Biểu Chris Haynes, Nghị Sĩ Laurie Ferguson, Thượng Nghị Sĩ Philip Ruddock, ngoài ra anh Việt còn được giới truyền thông ngoại quốc (Pháp, Anh) tìm đến phỏng vấn. Sự đơn độc và lòng can đảm của anh Trương Quốc Việt, một người chân ướt chân ráo từ Việt Nam mới sang, đã đánh động lương tâm của chính giới Úc. (Điều này nói lên việc làm của một nhân chứng đơn độc đôi lúc còn gây được nhiều tác động hữu hiệu hơn cả ngàn người toạ kháng). Vậy xin mạn phép tạm sửa câu "one picture worth a thousand words" lại thành "one man worth a thousand voices"!






















http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/2113-2113
 ---

Letter from Phong Nguyen to ABC News - www.abc.net.au

Re: Response to your inquiry about ODA are used to abuse HR in VN


Hi Ms.Puccini,

Thank you for being interested on the lone protester from VN in Canberra Mr. Truong Quoc Viet. I would like to brief you about the AusAID that the Australian Government has been spending to improve poverty and human rights in VN. You can get all of the details of this program and figures of aid moneys spent via the Communist government of VN since 2001 to date on the AusAID website. However, I have listed herewith the amounts of aid Australia has given to VN since 2001 for your perusal:

2001-02 73.3 millions dollars
2002-03 72.2 mil
2003-04 72.1 mil
2004-05 73.7 mil
2005-06 77.3 mil
2006-07 81.5 mil
2007-08 90.8 mil
2008-09 93.1 mil
2009-10 105.9 mil
2010-11 137.9 mil
2011-12 150.4 mil
TOTAL : 1,028.2 million dollars

According to the AusAID website, the fundamental purpose of Australian aid is to help people overcome poverty and the strategic goals of the program are:

saving lives
promoting opportunity for all
sustainable economic development
effective government, and
humanitarian and disaster response
The Aid program also aims to support effective governance to:
deliver better services through improved government efficiency and effectiveness
improved security and enhanced justice
enhanced human rights
In a nutshell, if the aim and purpose of Australian aid is to provide the poor Vietnamese people with MORE housing, MORE lands, MORE justice, LESS human rights abuses then it has failed MISERABLY!. VN today after more than 11 years of aid from Australia is moving backward. Ten of thousands of poor farmers and landoweners were stripped of their houses and lands by the corrupted and brutal government officials. Serious human rights abuses are rampaging. One must ask where the money of our Australian aid has gone? How come the communist party members and government officials are extraordinary rich with billion and million dollar accounts within VN and in overseas Swiss banks whilst Vietnamese ordinary citizens continue to live at or below the poverty line of $2.00 per day? Tens of thousands of people and even independent churches have lost their homes and lands, even sacred burial sites to the government and local corrupted officials without any or extremely little compensations.

Mr Truong Quoc Viet is a typical example of these actrocities. Instead of the Vietnamese poor and disadvantaged people benefited from the last 11 years of AusAID, they saw no improvements and continue to suffer in the hands of the regime that received direct aid from Australia but spent most of its money on thugs, riot police and prisons to take away poor people's lands, houses and brutally supressing human rights.


Please also read a letter written to the Foreign Minister Bob Carr by Human Rights Watch on www.hrw.org/nes/2012/04/15/letter-senator-carr-re-australia-s-human-rights-influence-asia to know more about the human rights situation in VN.
Please also visit www.radioaustralia.net.au/international/2012-02-09/302338 and www.rightnow.org.au/writing-cat/article/ausaid-link-to-human-rights-abuse-in-vietnam-labour-camp
You could also peruse our Community's recent submission to a parliamentary inquiry on the Human rights violations of the SRVN government (please view the attachment)
We hope these information can help you in doing a story on the plight of TRUONG QUOC VIET in Canberra.

Please fell free to contact me Phong Nguyen, Federal President of the Vietnamese Community in Australia on 0411 756 552 at any time.


Regards,
__._,_.___

CANADA : BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG SẢN VÀ ĐẤU TRANH ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM, 5-5-2012

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TẠI THỦ ĐÔ OTTAWA, CANADA BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG SẢN VÀ ĐẤU TRANH ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN CHO VIỆT NAM, 5-5-2012


Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng,

Vào ngày 5 tháng 5 năm 2012 vừa qua, tại Thủ Đô của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, OTTAWA, Canada, Cộng Đồng Người Việt Canada đã xuống đường, biểu tình để yễm trợ Thỉnh Nguyện Thư gửi Quốc Hội Canada do Liên Hội Người Việt Canada phát động với mục tiêu đấu tranh đòi Tự Do, Dân Chủ và Nhân quyền cho Việt Nam được sự hổ trợ tích cực của các vị Dân biểu Quốc Hội Canada cùng chung chiến tuyến.

Chúng tôi từ Edmonton Alberta với quyết tâm cùng người Việt khắp nơi đồng lòng đứng lên đáp lời sông núi, hành trang mang đầy nhiệt huyết cho quê hương, thiết tha kêu gọi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền Khẩn Cấp cho dân tộc Việt Nam.

Trong số các hoạt động chính của cuộc biểu tình gồm:

- Khẩn thiết kêu gọi nhân loại hãy Cứu nguy dân tộc Việt Nam chúng tôi sắp phải đắm chìm!. Đây là biểu tượng của hồn thiêng sông núi đã và đang lan tràn khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt Quốc Tế sẽ quan tâm giúp cộng đồng người Việt Quốc Gia vạch trần tội ác diệt chủng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam.

- Khẩn thiết kêu gọi Người Việt hải ngoại kịp thời yểm trợ người Việt trong nước vùng lên diệt Cộng sản để cứu nguy Sơn Hà.

Đặc biệt trong cuộc biểu tình này, có sự tham dự của Bác Sỹ ĐÀO BÁ NGỌC, và Phu Nhân là bà ĐẶNG THỊ DANH, Chủ tịch PHONG TRÀO PHỤ NỮ VIỆT NAM HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC.

Chúng tôi kính gởi đến quý vị, quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng một số hình ảnh của cuộc biểu tình này:

Nguyễn Lợi

 CT.Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Edmonton
 Được sự ủy quyền của HT.Trương Minh Liêm
 ĐD.Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Edmonton
 Tham dự biểu tình trước Tòa nhà Quốc Hội Canada



Bài Xem Nhiều