We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 10 May 2012

NHỮNG NGÀY THÁNG TÙ ĐẦY KHÔNG THỂ QUÊN Và NHỮNG BÀI THƠ TRÊN VÙNG ĐẤT LẠNH

NHỮNG NGÀY THÁNG TÙ ĐẦY KHÔNG THỂ QUÊN


Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh “ tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH) , hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa. Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 ( số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa. Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung ( xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai.

Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam” (cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà Văn Nhà báo (nguyên dân biểu) Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần. Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên”khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được. Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục. Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc,Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ. Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.
                                &
Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên: “Đó là chính sách Nhà nước!”. Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.
                                &
Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn: “Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”. Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.
Khi đi đến trước sân “nhà khách”trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam! Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) - viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A ( làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”. Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm.Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn si măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận: “Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”. Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.
&
Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúch nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.
Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện).Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ phải gánh thêm tội.
                          &
Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter - vị ân nhân vĩ đại - sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên. Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.
                             &
Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ cỏn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.
Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết). Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản. Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ : “bác đi tới phía bụi cây bên trái”. Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói: “Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”. Anh bạn gắt nhẹ: “Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”. Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại. Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người. Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi , hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác”(vì tin đài Voa loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.
                                 &
Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói: “Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin ”. Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.
Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng . Xe đày nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.
Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền vv… Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát: “Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”. Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp - một thứ công dân hạng bét - ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1989 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.
                           &
Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề của những năm tháng tù đầy.

THANH THƯƠNG HOÀNG

-------------
 

Huy Vân

Ngày dài 30 tháng 4 năm 1975, mang lại tù đày cho cả miền Nam, và cảnh đời đã đổi trắng thay đen đưa đến sự đói khổ, sự tụt hậu cả một dân tộc, trầm luân bất tận cho đến bây giờ mà chưa có lối thoát ?!

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, CS Việt Nam thiết lập hơn 270 trại tù trong vùng rừng sâu nước độc, trải dài từ Bắc đến Nam; giam giữ hơn 1.000.000 Quân, Cán, Chính và dân lành vô tội!.

Cựu quân nhân và công tư chức trình diện tại vùng Sàigòn- Gia Định tập trung tại trại Long Giao - Suối Máu thuộc tỉnh Biên Hòa; khởi đầu theo lệnh học tập 10 ngày; hết 10 ngày, qua 1 tháng; rồi lại hết một năm và sau cùng chuyển tù đày ải ra Bắc.

TÙ CHUYỂN RA BẮC


Cuối tháng 6/1976,đa số tù nhân được chuyển bằng tàu thủy, rồi chuyển bằng tàu hỏa, đường bộ về Hoàng Liên Sơn. Những năm đày ải ra miền Bắc là thời gian tàn lụn nhất; đói khát, bệnh tật chết vì không thuốc men, không người thân thăm viếng v.v..

Liên trại 6 tại vùng núi Hoàng Liên Sơn, lòng chảo Điên Biên Phủ núi đồi hiểm hóc, vắng bóng người qua lại, là vùng tử địa cướp xác tù dễ dàng khi lâm bệnh! Người tù chịu bao nỗi cực hình, lại thêm biệt âm vô tín!

Ngày ngày lao động nặng nhọc. Sáng sớm rời khỏi cổng trại, cố gắng vượt khỏi 3 ngọn đồi có hình nấc thang nằm về hướng Tây bắc trại, tù đặt tên là Đồi Ba Dội. Vừa leo đến đỉnh đồi thứ ba, khoảng 11AM với ánh nắng hanh vàng đang chói chang dưới chân đồi. Người tù đứng trên ngọn đồi được bao phủ cả một áng mây trắng đục, lành lạnh, chỉ đứng cách xa 1 thước vẫn không thấy nhau; mây đang bay lơ lửng, bay lang thang vây kín cả khu núi đồi trùng điệp. Cảnh đẹp thơ mộng này, người tù như đứng giữa cảnh Thiên Thai?!. Vừa mơ mộng như sắp vào Thiên đàng; lại vừa lo sợ sắp rơi ngã vào vực thẳm tại vùng Sơn La đày ải?!

Sơn la đỉnh cao Đồi Ba Dội
Mây trắng bay buốt lạnh thân tù,
Miền hoang dã, ngục tù tăm tối!
Sao cảnh hư vô quá bẽ bàng?!.


Chưa kịp nghỉ ngơi 5 – 10 phút, lại tiếp tục lục lạo, xông xáo tìm kiếm cây nứa, cây vầu đúng kích cỡ ấn định, vội vàng chặt 10 –12 cây, buộc thành bó từ đỉnh núi cao lại lần mò vác hết bó nứa về trại.

Mồ hôi ướt đẫm cả áo quần, bụng dạ thì đói nhưng đến giờ ăn chỉ có sắn khoai thay cơm, vắt vừa tròn nắm tay.
Nơi đây, núi rừng khí hậu nghiệt ngã, rừng sâu nước độc, anh em gọi là Tổng Đàn của bọn Hắc đạo trong truyện Kim Dung; là nơi bọn người dùng tà thuyết hãm hại giết dần những người chống lại chúng!. Sống trong cảnh tuyệt vọng vô vàn này thấy mà thảm thương!

MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Trời rét quá càng thêm thấy lạnh
Cảnh đọa đầy cơm áo mong manh
Núi rừng sâu, một mầu xanh cỏ
Đá gập ghềnh, chôn giấu thân anh
Ngày hai bữa, khi sắn lúc khoai
Cơm thiếu ăn đào xới củ mài
Sâu một trượng thêm vài ba quả
Gửi vào lòng chẳng thấy ngày mai
Áo anh loang lỗ, quần tơi tả
Sương gió bạc mầu lẫn mồ hôi
Đường anh đi, phải chăng mai một
Hận cho đời đen bạc thế thôi
Đồi cao vách đá quá cheo leo
Thân anh trôi giạt như cánh bèo
Ngập đầy dông tố mưa dài khổ
Chống đỡ cơn đau vững tay chèo
Đêm nay gió lạnh đặc mù sương
Ngục tù đen tối khắp nẻo đường
Người nối người nhìn nhau đói khát
Màn trời chiếu đất thấy mà thương!.


Mùa này lại tiếp nối mùa khác; những đêm có trăng, tường vách khu trại còn trống trải vừa mới che tạm bợ; đêm khuya càng hiu quạnh, sương lạnh đắp bờ vai; trăng tỏa khắp vùng trời bao la, khắp núi đồi hoang vu và nơi đây những lán, trại đang còn ngổn ngang. Tù nhân ngày lao động vất vả, tối đến mệt mỏi, ngất lịm trong cơn đói đang cồn cào dằn vặt, đang mơ màng trong lúc ngủ; ánh trăng len lén xuyên qua khe tường, vách lá; trăng đến rồi đi trong giấc mộng bâng quơ ! Nỗi buồn nào, mà không xót xa ?! khi nhìn trăng vời vợi...

NHÌN TRĂNG

Nhìn trăng nghiêng bóng qua song
Vừa thương vừa nhớ sầu đông lại về
Em ơi! Nhớ giữ lời thề
Sau cơn bão táp anh về với em
Mùa đông rét mướt thâu đêm
Anh nằm canh cánh bên phên gió lùa
Gió đưa, gió thổi rì rào
Vợ Nam chồng Bắc ngày nào gặp nhau
Trăng buồn vượt đĩnh non cao
Len vào song cửa vấn an bạn đời
Đêm nay trăng đến bên lòng
Lồng chim khóa chặt từng vòng kẽm gai
Ước mơ sớm gặp ngày mai
Cho trăng hết vướng bờ gai đầu tường.




Nơi đây không có ngày về, ngày về còn xa lơ, xa lắc; chỉ thấy mỗi ngày cứ thêm rơi rụng từng người, từng người vội vã ra đi!! Kiếp đọa đày lao động khổ sai; đói khát, bệnh tật cứ triền miên!. Ngày lại ngày tiếp tục băng rừng vượt suối, đốn gỗ xẻ rừng và mong nhặt thêm ít khoai, đào thêm ít củ nừng, củ chuối; bắt cóc, nhái v.v.. chui lòn bao tử ! Nỗi buồn tủi, lúc nhớ vợ thương con, khi tưởng đến cha mẹ già, càng ngậm ngùi..

NHỚ MẸ

Tôi có mẹ già tóc bạc phơ
Mẹ tôi hiền, đẹp tựa bông hồng
Danh lẫy lừng, vang khắp thiên hạ
Sáng ngời xanh, Hòn Ngọc Viễn Đông
Tuổi hai mươi thế kỷ vàng son
Tôi lớn lên mẹ con vuông tròn
Mẹ thương con, con nhớ thương mẹ
Tình mẫu tử dạt dào xiết khôn

Thưa mẹ,
Trong dĩ vãng con làm tất cả
Dâng lẽ sống con giữ quê hương
Máu từng chảy loang hòa vào nước
Thấm vào đời, con mến muôn phương
Nhớ những chiều Đà Lạt sương rơi
Đây Vũng Tàu gió lộng bể khơi
Sài Gòn xinh tươi, như Hoa Đăng Hội
Sức sống vươn lên nhộn nhịp đời
Thôi là hết mùa hoa chớm nở
Tủi phận mình chưa rửa nợ trần
Bao tháng ngày, mặt trời đi ngủ
Lạnh ngoài đời, lạnh khắp châu thân
Bao tủi nhục, căm hờn xót xa
Bao cay đắng, nhớ thương mẹ già
Con mong đợi, mặt trời thức dậy
Cho mẹ con gặp nhau đậm đà.


Cuối năm 1978, để tránh cuộc chiến tranh giữa hai nước từng là anh em thân thiện nhất, cùng tôn thờ một chủ nghĩa cực đoan; gọi là XHCN, Việt Nam & Trung cộng!. Tù các vùng dọc theo biên giới gấp rút chuyển về miền bình nguyên, chúng tôi được chuyển về Trại Nam Hà B. Trại này có hỗn danh gọi là Trại Đầm Đùn nói lên sự cai quản cũng gian ác, đày đọa kinh tởm.

Kể từ nay, Bộ Đội trao lại quyền quản chế cho Công an. Sách lược của chúng là giam giữ tù, ngày càng làm tiêu hao sức lực; bỏ đói khát và bắt buộc lao động khổ sai, đau ốm chết chóc càng nhiều càng tốt!

Mặt khác CS lại đặc ân cho một số người hèn nhát, tiếp tay làm tay sai cho chúng, những tên đốn mạt này, anh em thường lánh xa, cách biệt và họ chỉ biết trơ trẻn thủ phận một mình, thấy mà thương hại!

Về đến Nam Hà, trại xây cất rộng lớn, có tường đá cao bao bọc kiên cố, mỗi gian nhà có thể chứa 200 người; nhốt tù vào các dãy phòng, chật cứng người sát người, dơ dáy và ngột ngạt.

Phòng ở kín đáo, nên mỗi chiều sau giờ điểm danh, khóa cửa, anh em lại có dịp gần gũi nhau, chia sẻ an ủi nhau; hoặc tụm năm, tụm bảy kể chuyện, đọc thơ, ca hát v.v...

Trung tá Nông-A-Pan, cựu Sĩ quan tùy viên Lào; về đêm thường kể chuyện: - Chưởng, Đường rừng, Ma quái, Chuyện dài xứ Ba Tư Nghìn Lẽ Một Đêm v.v.. lôi cuốn, hấp dẫn làm anh em say mê quên hết cả mệt nhọc trong ngày; anh em rất quí mến, thường gọi ông là: - Tiên Sinh Pan! nay ông cũng trở nên người thiên cổ!. Xin chia xẻ sự đau buồn và trân quí đến gia đình người quá cố!

Đặc biệt những đêm dài mưa rơi gió rét, buồn man mác; nơi đây, cái lạnh và đói cuộn chung nhau làm một, gói thuốc lào lúc này là thần dược diệu kỳ, khói thuốc thả lượn bay bay và những dòng thơ ai oán như cứ luôn tuôn trào..

THÔI HẾT NHẠT NHÒA.

Ngoài trời gió thoảng mưa rơi
Lòng anh xao xuyến buông lơi phím đàn
Tiếng tơ nức nở vô vàn
Gửi mây lướt gió ngỡ ngàng trao ai
Em hỡi em có nhớ anh không
Có bao lần em đã chờ mong
Ngày xưa trời nước mênh mông rộng
Bây giờ chỉ biết có đợi trông
Từng thu chết, đông về giá lạnh
Đã mấy mùa, tím ngắt mặt trời đông
Bao tháng ngày sống trong cảnh chim lồng
Đường hoa mộng vẫn chờ bay trước gió
Em có biết những đêm dài nơi đó
Lửa lập lòe thuốc lịm tắt trên môi
Dòng khói xanh, như khơi nhớ một thời
Bao dĩ vãng dâng lên trào khóe mắt
Nơi đây sương gió phủ đầy
Vượt hằng gian khổ có ngày hoan ca
Vườn Xuân sắp lại nở hoa
Tình ta thôi hết nhạt nhòa từ nay.


Dần dần, cuộc sống tại trại Nam Hà B, cuối tuần vào ngày Chúa nhựt buổi sáng, tùy tình hình anh em ở bên ngoài lén nhập vào khu bên trong (nơi đây có 2 khu). Ban tổ chức quan sát tình hình lính gác và nghiên cứu cấp thời chọn phòng tương đối kín đáo, phổ biến cho nhau biết trước 5 – 10 phút – tập trung sinh hoạt và cẩn mật đề phòng chuyện bất trắc có thể xãy ra. Buổi sinh hoạt đầu tiên do Trung tá Thông (81 BCD) và Trung tá Hồng (Phòng Quân Huấn B.TTM) phối hợp tổ chức một chương trình Văn nghệ bỏ túi đặc biệt giới thiệu: - Đây là: - Tao Đàn Tiếng Thơ Nhạc Tự Do Trong Ngục Tù CS, với những bản nhạc tù khúc nóng bỏng và những bài thơ say men trong niềm tin bất khuất, dù có phải xé gan bẻ cật vẫn phù cương thường. Tất cả anh em tham dự, đồng loạt vung cao cánh tay và hân hoan đón nhận những tràng pháo tay nồng nhiệt..

SAY

Rượu không uống, sao người mãi say
Trời đất xoay quay bao đắng cay
Ôi biệt ly, buồn dài thế kỷ
Để nhớ về, tràn ngập chân mây
Người chiến sĩ đi trong mưa gió
Thân hải hồ khoác áo chinh y
Mỗi lần đi mấy khi trở lại!
Từng dọc ngang, khắp nẻo biên thùy
Ba mươi năm chiến tranh máu lửa
Biết bao lần bom đạn tên bay
Nhưng không chết, trên hào trận tuyến
Và vẫn sống trong lòng hôm nay
Làm chiến sĩ sống đời oanh liệt
Nợ tang bồng phải trả cho xong
Thắng không làm vinh, bại không nhục
Hận thù này, khắc cốt ghi lòng
Rượu đâu uống sao người mãi say
Ta say trong bốn bức tường dầy
Khi buồn muốn la, vui lại khóc
Lúc tỉnh khi say hỡi rượu cay!?.


Buổi thơ nhạc trên làm nền tảng cho bước đi trong âm thầm qua bao sự khắc phục chịu đựng đè nén trong tâm khảm người tù; nay đánh thức tinh thần anh em, tạo cho mỗi người, biết đoàn kết thương yêu nhau hơn!.

Khí thế càng hăng say, tình thần hưng phấn được sáng tạo một cách lạ lùng, ngay trong cái lồng sắt lúc nào cũng canh phòng gay gắt, phụ họa là thành phần ăng ten luôn bám sát gót chân tù. Nếu không cùng một lòng, chắc rằng lưới bạo tàn sẽ dập tắt! Những cùm, kẹp tha hồ chăm sóc kỹ đối với anh em hết lòng ...

Thơ nhạc nở rộ trong ngục tù, là những dịp rửa sạch tâm hồn người tù vì qúa tủi nhục, không một ai dám lên tiếng hoặc chống đối nhà tù; tiếng đàn, tiếng nhạc, tiếng thơ ngân vang trong những tụ điểm, những nơi kín đáo, những lúc nhàn rỗi, làm xoáy động những tâm hồn đang chết lặng vì ngục tù CS dã man nhất thế kỷ!!.

NGUYỆN CẦU

Trời hỡi trời! tôi quá đau khổ
Mang thân tù chuốc lấy đọa đày
Đường tôi đi vinh, nhục đôi ngã
Hận biệt thù, lại thêm đắng cay
Nhục nào hơn bằng nhục mất nước
Vực nào sâu bằng vực tù đày
Nắng vàng không ấm người mong đợi
Ngẩng mặt nhìn trời chỉ thấy mây
Nơi đây máu mắt đong thành đá
Suối chảy rừng sâu gợi thêm sầu
Nắng cháy da đầu, lòng vẫn lạnh
Mùa đông giá lạnh, sốt đêm thâu
Trời hỡi trời ông giờ ở đâu
Bao nhiêu năm tháng tôi nguyện cầu
Cho Việt Nam không còn đau khổ
Cho nước nhà sớm hết Cọng nô!


Suốt ngày lao động cực nhọc, chiều tối cơm nước không đủ cung cấp nhiệt lượng; đêm về, bao nhiêu hoài vọng thương nhớ không sao nhắm mắt, và cứ mơ tưởng về Sàigòn:

Đêm đêm mơ thấy Sàigon,
Đèn xanh đèn đỏ có còn đâu em ?!.


Giấc mộng ray rứt làm tâm hồn lâng lâng bồn chồn, nôn nao và trông đợi. Giấc mộng chỉ mơ được thấy Sàigòn.. Gió ù ù thổi thêm lạnh, tâm hồn như u uất, vang vọng trong lòng não nuột cả khung trời ly biệt! Ngoài trời mưa vẫn cứ rơi..

CHO TÔI SỐNG LẠI MỘT NGÀY

Nghe mưa rơi, lòng ta nức nở suốt canh dài
Nghe gió thổi, sầu thêm cô quạnh
Đã mấy mùa ?! Mấy mùa đông giá lạnh
Khung trời vắng lặng bóng trăng sao
Ôi biệt ly buồn lắm thương đau
Ai cách ngăn ?! tình yêu chan chứa
Ai đã xé nát con tim đôi đứa
Nhưng vẫn nhớ mãi trong lòng
Nhớ em như nhớ dòng sông
Thương em như thương dòng suối mát
Cung đàn tiếng thơ ta hát
Cho tượng đá mắt cũng lệ nhòa
Nơi đây không có mùa xuân nắng đẹp hiền hòa
Nhưng vẫn nhớ, ngày nắng ấm lam chiều khói tỏa nhẹ
Em đi từng bước lòng vẫn thấy lẹ
Chờ trăng lên nao nức không quên đời
Hỡi ôi! Ngày ấy đã xa rồi
Và từ nay, ngày không ngày, trời đất như cuồng quay sụp đổ
Ôi quê hương! Ôi tình yêu tan vỡ
Trong tối tăm, cho tôi sống lại một ngày.


Kể từ nay lúc lên núi xuống đồi, khi có dịp quây quần bên nhau, bạn Nguyễn văn Thái khóa 15 Đà Lạt với cây đàn Guitare vừa được gia đình gửi đến, anh ray rứt lay động qua lời thơ mộc mạc hiền hòa và anh phổ thơ bản nhạc Cho tôi sống lại một ngày. Cả đội Rau Xanh như thêm sức sống mới và càng hy vọng hướng về tương lai và làm cho đội Mộc và Rèn nằm gối đầu bên cạnh, cùng vui hưởng những giây phút rung cảm, khi nghe bạn Thái cất tiếng hát não nề, ai oán trong những đêm mưa gió sụt sùi.Tiếng hát như gào thét giữa đêm trường; lúc trầm, bổng, dồn dập bềnh bồng như xua cái đen tối thân phận tù đày rồi sẽ qua mau.



TÙ CHUYỂN VỀ NAM

Cuối tháng 12/1980 toàn Trại Nam Hà B có khoảng 2000 người chuyển về Nam, sau 5 năm đày đọa và hãm hại thê thảm tại các trại tù miền Bắc; nào Laokay, Yên Bái, SơnLa, Phong Quang, Hà nam Ninh v.v..CS vắt hết mồ hôi, nước mắt, và xương máu tù nhân, nay chỉ còn bộ xương khô lê lết trên đường về là cả một trời tím ngắt!.

XUÔI NAM

Đường trở về thoáng hiện quê hương
Niềm thương man mác sao khác thường
Bao năm xa cách càng uất hận
Ai thấu lòng ta có biết chăng?!
Vẫn trăng đó vẫn khung trời xanh
Một nửa hồn đau tím cả lòng!
Ai tri kỷ ?! Ai người phản bội ?!
Mang đất nước nầy đến thương vong!

Hà Nội ơi!
Bao năm chìm đắm trong bức màn sắt
Hà nội không tiến, lịch sử vẫn không ngừng
Hà nội dừng lại, dân chẳng đặng đừng
Màn đen che khuất, cơn ác mộng hãi hùng!

Sàigòn ơi!
Ngày sóng đỏ, ngập đầy cánh đồng xanh
Đã gây bao thê lương tang tóc
Miền Nam kinh hoàng, trong máu lửa loài quỉ đỏ
Quỉ đỏ!! Quỉ đỏ!! Mi là quân thù,
Ta thề quyết không đội trời chung!.
Mi nói Tự Do
Dân chẳng thấy no
Hô hào Dân chủ
Đặc quyền quan to
Dân làm như phu
Chẳng khác thân tù
Lãnh tụ gian ác
Nhốt cả thầy tu
Để rồi, bao hưng vong của đất nước,
Đâu còn tiếng chuông Giáo Đường,
thức tỉnh mi,
đang gây nhiều tội ác!.
Hỡi hồn thiêng núi sông nước Việt
Hỡi anh linh phảng phất đâu đây
Hỡi những người lâm cảnh tù đày
Hãy cùng nhau, dựng lại quê hương mình!.


Trại Z 30 D đón nhận 2000 tù từ Trại Nam Hà B như nói trên; sau 2 ngày phân tán còn lại 120 tù chuyển về Trai C, đến nơi các bạn tù Vĩnh Phú về trước1 tuần, thông báo sẽ có kiểm tra. Một tập Sớ Táo Quân được bạn bè cất giấu dùm vừa thoát cảnh lục soát gay gắt; ngay tối ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1980, chúng tôi lại có cơ hội thực hiện một buổi sinh hoạt tại buồng ở khá nhộn nhịp và tuần tự kể hết những tội ác của Trại như: - Đàn áp tù, đánh đập, trù dập, bỏ đói khát, đau ốm bệnh tật v.v.. trình tâu hết lên Ngọc Hoàng Thượng Đế ?!

- Chỉ còn 7 ngày nữa là đón giao thừa Tết Tân Dậu năm 1981, các trại tù miền Bắc lần lượt chuyển về Nam không hẹn mà gặp anh em tù trong Nam; sau ngày quê hương bị thống trị bỡi CS, tù trong Nam hầu hết là giới trẻ, sinh viên học sinh, công tư chức và các bô lão có tiền của bọn CS gọi là Tư sản mại bản v.v.. Người người đều cảm nhận thiếu mất Tự Do, thiếu mất điều gì mà từ trước họ được sống nay không còn nữa!. Tù biệt xứ nay trở về gặp lại đủ các thành phần trong xã hội cũ, mang cùng tâm trạng thương đau, vô bờ bến!.

-“Cảnh chim lồng cá chậu biết thuở nào ra”?! Trại C đang nhốt khoảng 1800 tù nhân, lợi dụng thời gian và không gian lễ hội Tết sắp đến; anh em hăng say kết nối nhau trong âm thầm quyết liệt. Theo chương trình ngày mùng 1 Tết, khu A, B, C đề cử anh em thăm viếng lẫn nhau và chúc Tết vào buổi sáng. Ánh sáng ban mai lung linh nhảy múa tràn vào từng dãy buồng tù đang trú ngụ như an ủi và cùng chia xẻ sự vui mừng qua những lời chúc tụng nhau:

- Mau sớm có ngày trở về.
- Đả đảo chính sách hà khắc đối với tù chính trị.
- Đả đảo CS.
- Hẹn ngày gặp nhau tại.. (Một số tin tức khả tín, bà Khúc Minh Thư đang vận động Mỹ thu nhận tù.)


- Qua mùng 2 Tết, đúng giờ G khoảng 3 PM, khu A dàn cảnh bày tiệc trà cùng nhau vui Tết để có dịp đánh 4 tên trật tự và ăng ten, kết quả biến động lan truyền nhanh khắp khu B, C toàn trại. Ban chỉ huy Trại báo động, lập tức điều động công an trấn áp tù khu A để giải cứu mấy tên tay sai. Trong khi công an vào đàn áp tù, không may anh Lê Quốc Tân vì quá hăng say đánh lũ người nối giáo giặc chưa thoát khỏi vòng ẩu đả, công an ào tới bắt gặp anh Tân đang dùng cây đánh những tên gian ác phản bội. Anh Tân bị công an vây bắt và đánh túi bụi vào mặt mày thân xác máu me đầy người, chúng bắt anh Tân bỏ vào bao bố kéo ra khỏi trại đánh hội đồng liên tu bất tận! Hiện trường lúc này khá sôi động, khu A, B, C đều ra khỏi nhà đồng hô to:

- Không được đánh tù chính trị.
- Yêu cầu trả anh Tân về Trại.
- Tất cả 3 khu, tù nhân đồng la, thét, vang dậy một góc trời.


Tin tức truyền tải từ khu A, qua B, rồi đến C; nối nhau như cơn bão trong lòng nhịp nhàng và không bao giờ muốn dứt!. Không khí sôi động, tiếng la, tiếng thét toàn trại hơn 1800 con người cùng một lúc trong rừng sâu tăm tối, trong ngục tù CS, chưa bao giờ xảy ra …….. nay các bạn tù đồng đứng dậy nói lên một ý chí sắt đá, một tinh thần bất khuất , kiên cường và không bao giờ chịu khuất phục!

- Mỗi khắc, giờ trôi qua, sự biến động có thể xảy ra những biến cố hệ trọng hơn; Công an tăng cường càng lúc càng đông, súng ống sẵn sàng chĩa vào lưng tù, chúng áp đảo tù khu A, rồi lần lượt khu B vào nhà khóa chặt cửa. Nay chỉ còn khu C bên ngoài khoảng 400 người, nhất quyết lấy hàng rào chắn ngang giữa khung B và C, làm điểm tựa vừa kín đáo che khuất, vừa che chở nhau. Mặt trời buông dần xuống, anh em vẫn hiên ngang tiếp tục cuộc đấu tranh và hô to các khẩu hiệu:

- Không được đánh tù chính trị.
- Không đánh đập anh Tân.
- Phải thả anh Tân trở về trại.
- Đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn những gì CS làm (Lời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu).
- Nơi nào có đàn áp, nơi đó có nổi dậy (Karl – Marx).
- Đả đảo CS – Đồng loạt vỗ tay và liên tục hát bài ca Việt Nam – Việt Nam.


Cuộc đấu tranh hôm nay, quả thật “Cá nằm trên thớt ”, dù có vùng vẫy rồi cũng bị sứt mẻ gãy gọng; sau 3 ngày thức trắng đêm hao mòn biết bao tâm huyết để rồi Ban Quản Lý trại, biệt tách hơn 52 chiến sĩ nhiệt tình, không khiếp sợ nhận lấy đau thương, chuyển hết về Chí Hòa rồi đày ải vào đội Trừng giới thuộc tỉnh Phú Khánh và Bình Long. Sau này theo tin tức được biết Thiếu tá Lê Danh Chấp gục ngã trong những ngày trừng phạt tại Trại Xuân Phước. Chúng tôi quá xúc động vì mất một người bạn kiên cường anh dũng bất chấp sự trả thù tàn bạo của CS. Thiếu tá Chấp chết đi đã để lại cho các bạn tù trại Z 30D một niềm thương tiếc vô cùng xót xa, anh vừa can trường vừa hăng say luôn kích động mọi người cùng đứng dậy hô to các khẩu hiệu suốt đêm và đến cả ngày hôm sau mùng ba Tết, anh là người hùng trong đêm nỗi dậy cho đến bây giờ anh em vẫn thương nhớ và biết ơn anh.



RỪNG LÁ NỖI DẬY

Rừng Lá,
Tiếng thét đêm nay nghe dễ sợ
Tiếng rú đêm nay nghe rợn người
Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá!
Bừng dậy đêm nay trời sáng sao!

Rừng Lá,
Đêm nay ta gào! Đêm nay ta thét
Lào Kay – Yên Bái – Sơn La,
Hà Nam Ninh – Vĩnh Phú – Phong Quang!
Nghĩa địa vùi xác tù vội vã!
Z 30D nghiệt ngã trăm bề gớm ghê!

Rừng Lá,
Tiếng rú đêm nay nghe dễ sợ
Tiếng thét đêm nay quá kinh hoàng
Rừng Lá âm u, đây Rừng Lá!
Bừng dậy đêm nay trời xót xa!

Rừng Lá,
Đêm nay ta hát cho nhau nghe
Bài ca uất nghẹn
Bài ca hận thù máu chảy
Và những bài ca trong ngục tối!
Đêm ngục tù không chăn không chiếu
Chân xích xiềng buốt giá đêm thâu
Xích xiềng nào xé nát tim ta?!
Lửa hận thù bốc cao bùng cháy!
Quân cộng thù phá nát quê hương
Bao năm dài bóp chết dân đen
Vì Tự Do ta tìm cuộc sống
Vì Tự Do ta phá bỏ chim lồng!
Ôi Việt Nam trại tù khắp nẻo
Rừng Việt Bắc lắm anh hùng bỏ thây
Ôi từng cây! Sốt rét rừng xô ngã
Da bọc xương khiếp cảnh lưu đày!
Đêm nay ta hát cho nhau nghe
Bài ca uất nghẹn, khiếp cảnh lưu đày!


Sau ngày nổi dậy, Ban Chỉ Huy Trại càng khép chặt cổng tù, càng theo dõi gắt gao từng hành động tù nhân. Sau 2 tháng, một buổi sáng toàn trại tập trung nhận lệnh đi lao động. Đột nhiên Ban Chỉ Huy Trại gọi tôi ra trước sân tập họp và đọc Lệnh phạt với lời lẽ : Chây lười lao động. Ngay lập tức hai tên trật tự áp giải tôi về phòng kiên giam, theo sau có 2 tên võ trang cầm súng. Vừa vào phòng giam, có sẵn tấm ván bề rộng khoảng 6 tấc, bề dài vừa đủ chiều cao tầm người; tấm ván kê cao bỡi 2 con ngựa cách mặt đất khoảng 1 thước, người tù bắt nằm dài, thẳng 2 chân xỏ vào 2 còng sắt tròn vừa sát cùm chân; treo toòng teng bởi cây sắt nằm ngang có 2 trụ cột gắn chặt chôn sâu dưới đất. Thế là suốt ngày đêm 2 còng sắt dính sát 2 mắt cá cổ chân, khi ăn uống, tiểu tiện, đại tiện đều nằm ngồi tại chỗ.

TIẾNG GÀO GIỮA ĐÊM KHUYA

Làm sao sống lại ngày mai
Làm sao quên hết những đêm dài
Âm u một cõi lòng nức nở
Trắng tay gối đầu sầu khôn nguôi!
Đêm nay một mình, một phản, đôi cùm sắt
Lưng mỏi loai hoay sột soạt hoài
Tiếng còng khua động ác đêm lạnh!
Oan trái nợ đời dễ ai quên ?!
Phòng giam khóa chặt đầy bóng tối
Hiu hắt bao thu lạnh tứ bề
Rằng đây có phải là địa ngục ?!
Ta gào! Ta thét ! giữa đêm khuya!
Tiếng gào còn vang mãi trong sa mạc
Tiếng thét căm hờn vọng lại từ xa
Bao nhiêu năm lưu đày khốn khổ
Bấy nhiêu năm bít lối đường về
Giờ đây lại nằm chân co chân duỗi
Thôi thúc thân tù hành hạ đắng cay
Dù phải hy sinh nơi cửa ngục nầy!
Vẫn bền chí quyết một lòng bất khuất
Vẫn tin tưởng có ngày xán lạn
Đập gông cùm phá xiềng xích dã man
Diệt hung nô thời đại bạo tàn
Làm sạch cỏ nhổ từng tên đầu sỏ
Ta sẽ về, ta sẽ trở về
Vượt Mây Tào núi dài rừng sâu
Biển Hàm Tân cát bay rát mặt
Thoát nơi này ra hẳn tối tăm
Làm sao biết được ngày mai
Làm sao biết được đường dài
Sông kia có khúc người có lúc
Dòng đời thay đổi dễ ai hay
Làm sao giết được ngày mai ?!
Làm sao quên hết những đêm dài!
Đã mấy mùa rung trống xông trận!
Chờ ngày phục hận sẽ ra tay.


Sau một tháng cùm siết chặt 2 cổ chân, tôi được thả ra, đi đứng không vững, tất cả trời đất như quay cuồng rồi ngã gục trên đường về trại. Từ Bắc trở lại Nam còn bộ xương khô, nay chỉ tội: Chây lười lao động mà cùm 2 chân không cử động nổi. Thật đáng thương cho số phận làm tù!.. Thuở xưa, giữa hai nước có chiến tranh, sau khi chấm dứt kẻ thắng đối xử người tù vẫn coi quí trọng thân thể họ, xem kẻ thù như tình đồng loại; cho ăn uống đầy đủ, đau ốm có thuốc men điều trị, ngày thả ra còn may cho cả áo quần v.v.. Nay CS Việt Nam đã đánh mất hết bản tính con người thuần túy Việt Nam, cùng chung một giống nòi; họ không còn nghĩ đến tình huynh đệ, nghĩa đồng bào; rồi mặc tình đày đọa hằng triệu người miền Nam tại các trại tù, lâu dài 5,10,15,17 năm trời lao đao, lận đận, tả tơi đến khốn cùng!..

Giết dần 30 triệu mầm sống của nửa Dân Tộc tại miền Nam!



Vì vậy cho đến ngày nay sau 32 năm cưỡng chiếm miền Nam; CS Việt Nam chỉ có hả hê say men trên chiến thắng, chỉ biết vơ vét đầy túi tham; tham ô, tham nhũng lấy của cải tài sản của dân cùng âm mưu ăn cắp đục khoét của công làm của hương hỏa cho đời sống riêng tư tăm tối của chúng. Sau thời gian dài, chẳng xây dựng được gì cho đất nước, chỉ là con số không! Dân tộc Việt Nam ngày nay hơn 80 triệu người đang quằn quại sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói dốt nát...

Sau bao nhiêu năm dài trọn quyền cai trị, thế mà nước Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới?! Tại sao?! Vì CS Việt Nam cướp hết quyền Tự do, Dân chủ, v. v.. Để rồi độc quyền cai trị! Từ đó không có tiếng nói khác, không có đảng phái đối lập góp chính kiến xây dựng xã hội, vậy biết bao giờ Nước Việt Nam mới tiến bước kịp các nước bạn trên thế giới?!

HUY VÂN

VIỆT CỘNG : DÙNG CƯỜNG QUYỀN BẠO LỰC CƯỚP ĐẤT CỦA DÂN

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT CỘNG DÙNG
CƯỜNG QUYỀN BẠO LỰC CƯỚP ĐẤT CỦA DÂN

http://vietcongonline.files.wordpress.com/2012/02/146.jpg?w=500Người dân oan thuộc ba xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, đồng loạt đeo khăn tang trắng, thể hiện quyết tâm giữ mảnh đất ngàn đời ông cha mình để lại cho đến cùng. Nhưng thật đau lòng, khi đảng và nhà nước Việtcộng đã mất hết tính người, mất luôn phong cách của một chính quyền, không màng tới quốc thể trên chính trường quốc tế, đã tự biến thành bọn ăn cướp, dùng cường quyền bạo lực quyết cướp đất của người dân lành chân yếu, tay mềm, không được luật pháp che chở, thì nông dân đành phải mất trắng thôi. Việtcộng đã huy động trên 500 công an, côn đồ, cùng với chó nghiệp vụ, đủ loại khí giới, xe cộ tràn vào phá tan lều trại của hơn 200 nông dân, đa số là người già và phụ nữ, nhiều ngày nay trên cánh đồng thuộc xã Liên Minh, cắm dùi giữ đất qua đêm để  ‘chống lại lệnh cưỡng chế’. Từ 20/12/2010, nhà cầm quyền tỉnh Nam Định đã dùng nhiều biện pháp để cưỡng chiếm cho bằng được khu đất nông nghiệp của ba xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái, kể cả dùng tới thủ đoạn buộc cán bộ, nhân viên, con em các gia đình nông dân phải nghỉ việc, nhằm áp lực người dân làng phải giao đất cho tỉnh. Nhưng dân mất đất là mất luôn cuộc sống, nên họ cương quyết không chịu chấp nhận. Nay được đà bởi vụ cướp đất ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên toàn thắng. Nhà cầm quyền Việtcông tỉnh Nam Định liền xuống tay đàn áp dân chúng tỉnh nhà của mình để cướp đất.

Theo Danlambao: “6 giờ sáng ngày 09/05/12 phía ‘chính quyền’ bắc loa inh ỏi đọc lệnh cưỡng chế. Khoảng 06 giờ 30, cuộc tấn công  nổ ra, lực lượng cảnh sát cơ động xua chó nghiệp vụ tiến về phiá lều trại của dân. Khi đến gần, những con chó nghiệp vụ bất ngờ quay lại không dám cắn người. Cuộc tấn công bằng chó săn thất bại, ‘chính quyền’ chỉ đạo một nhóm công an thường phục, lẫn sắc phục kéo đến lều trại khủng bố bà con nông dân. Tiếp đó, xe chở lực lượng cưỡng chế  ồ ạt đổ tới. Một cuộc cuộc dàn trận không cân sức diễn ra giữa một bên là ‘chính quyền’ với quân số hơn 500 người, đi đầu là lực lượng cảnh sát cơ động trang bị tận răng; còn bên kia là những nông dân tay không tấc sắt chủ yếu là người già và phụ nữ”. “Theo ghi nhận, một cụ bà trên 70 bị đánh bất tỉnh, ít nhất là 1 người bị đánh gẫy chân, 2 người bị đánh vỡ đầu, nhiều người bị bắt”. “Sau mấy phút, cuộc tấn công của ‘chính quyền’ nhằm vào nhân dân mau chóng kết thúc với ‘chiến thắng’ thuộc về kẻ cướp đất”. “Hiện tại bà con nông dân đã kéo tới trụ sở xã Liên Minh để phản đối. Trong khi đó, lực lượng công an vẫn còn có mặt tại hiện trường để bảo vệ cho những kẻ cướp đất làm công việc đo đạc, phân lô chia chác”. Đây rõ ràng là hành vi của một bọn cướp chia của vừa chiếm được.

Đến bây giờ thì dư luận trong và ngoài nước mới vỡ lẽ ra rằng, làm thế nào mà bọn Việtcộng lại mau giầu đến thế? Thì ra, ngoài việc dùng các công ty quốc doanh để rút vốn của nhà nước, quỵt nợ quốc tế. Việtcộng còn triệt để giữ chế độ “Công Hữu Ruộng Đất” để nhân đó lấy cớ “Cưỡng Chế” đất đai sinh sống của Nông Dân, chỉ cần bồi thường 1 đồng, bán ra cho các công ty quốc doanh xây dựng đô thị lấy về 100 đồng, khi đô thị thành hình thì giá trị địa ốc lên gấp hàng ngàn đồng. Bảo sao bọn Việtcộng từ thượng tầng tới cơ sở chẳng toa rập với nhau cướp đất từ tay nông dân, cho mở rộng nhiều đô thị để cho hệ thống cầm quyền và hệ thống quốc doanh xây dựng, chia nhau làm giầu mau chóng. Chắc rằng, sau vụ cướp đất ở Văn Giang, Hưng Yên thành công, Vụ Bản, Nam Định chót lọt, thì còn nhiều tỉnh khác cũng theo nhau cướp đất của dân để làm ‘chuyến tàu chót’. Vì mới đây trên thương trường nội điạ nổ ra đợt Nhà Nước độc quyền nắm giữ ĐôLa Mỹ, nay tiếp đến đợt cướp Vàng từ tay người dân của Ngân Hàng trung ương, bây giờ tới các tỉnh thành đổ xô vào vụ cướp đất. Sở dĩ vụ cướp đầm nuôi hải sản của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng chỉ ở cấp xã, quận, chưa đụng tới quyền lợi của các Ủy Viên Trung Ương, nên nhiều tay ‘tai to, mặt lớn’ lên tiếng bênh vực cho nạn nhân, khiến báo chí lề phải nhào vào lên tiếng.

Nhưng đừng quên các Bí Thư Tỉnh Ủy, Thành Ủy đều là Ủy Viên Trung Ương Đảng, đều là những thành phần có tiếng nói quyết định trong nội bộ đảng, nếu không được chia chác quyền lợi thì 14 anh Bộ Chính Trị cũng đừng hòng yên thân. Chính vì thế, tuy vụ cưỡng chế đất của nông dân của 3 xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên để cho dự án xây đô thị Ecopark của công ty tư nhân, mà các nhân vật ‘tai to, mặt lớn’ lại cố tình ‘đánh trống lảng’. Nên vụ ‘cưỡng chế’ đất Văn Giang, Hưng Yên, ngày 24/04/12, dù có 2 nhà báo bị đánh đập thô bạo, đó là nhà báo Nguyễn Ngọc Năm  trưởng phòng và Hàn Phi Long phóng viên thời sự, chính trị, kinh tế của Đài Tiếng Nói Việtnam –VOV, Vậy mà  Sáu, Bảy trăm cơ quan ngôn luận ‘lề phải’ vẫn im thin thít, chỉ có một tờ báo Người Cao Tuổi, hôm  25/04/12, có tiếng nói thách thức quyết định của chính quyền, khi cho rằng trong vụ cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang là ‘trái luật pháp hiện hành’. Nhưng bài báo này đã không còn truy cập được nữa.

Cũng còn may, có một số Trí Thức điều hành trang mạng Bauxite, ngày 04/05/2012 đã công bố bản “Tuyên Bố Về Việc Cưỡng Chế Giải Tỏa Đất Đai Văn Giang Bằng Bạo Lực”và đã được 2788 người Việt trong và ngoài nước ký tên, đặt vấn đề với: “Các cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hãy chính thức bày tỏ quan điểm trước toàn dân về những vấn đề sau đây: Việc dùng bạo lực để giải tỏa đất ở Văn Giang ngày 24/04/2012 có vi phạm những quy định hiện hành của pháp luật Việtnam,  trong việc triệt để tôn trọng quyền mưu cầu hạnh phúc của cả một dân tộc, được tự do sinh sống trên mảnh đất độc lập do xương máu của chính mình giành được???...”. “Các cơ quan quyền lực cao nhất hãy công bố những người, những bộ phận chính quyền địa phương và trung ương chịu trách nhiệm về chủ trương và việc thực hiện vụ cưỡng chế giải tỏa trên”. “Xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark để điều chỉnh những bất hợp lý, bất hợp tình, trong dự án theo hướng ưu tiên lợi ích thực sự của Nhà Nước và người nông dân có đất bị thu hồi”. “Yêu cầu các cấp chính quyền và doanh nghiệp Ecopark khẩn trương khắc phục những hậu quả của vụ cưỡng chế…”. “Không được sử dụng lực lượng trị an của nhà nước để cưỡng chế đất đai “hỗ trợ” những dự án không phục vụ lợi ích thật sự của quốc gia, an ninh, quốc phòng”. “Nhanh chóng sửa đổi Luật Đất Đai, và những luật lệ liên quan đến việc giải phóng mặt bằng, theo hướng đặt quyền lợi của người dân có đất và quyền lợi thực sự của quốc gia lên cao nhất, tuyệt đối không để cho các nhóm đặc quyền lợi dụng luật để cướp đất của dân với giá rẻ mạt”. Sự thực thì tiếng nói, chữ viết này chỉ để cho quốc dân và quốc tế quan tâm, còn với Việtcộng thì đồng tiền đã làm mù mắt, điếc tai và mê tâm họ rồi, đâu còn thấy gì, nên mới xẩy ra việc cưỡng chế thêm ở Vụ Bản.  Chỉ đánh đùng một cái, khi mất quyền rồi họ mới hiểu ra, thì đã quá muộn!

  LÝ ĐẠI NGUYÊN 
– Little Saigon ngày 7/05/2012.

HÀ NỘI :20 BỆNH NHÂN PHONG BỊ BỎ ĐÓI VÀ BỊ ÉP ĂN THỊT SỐNG

KINH HOÀNG 20 BỆNH NHÂN PHONG Ở HÀ NỘI BỊ BỎ ĐÓI VÀ BỊ ÉP ĂN THỊT SỐNG


Kính thưa quý vị,
kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng,
Hơn 20 bệnh nhân phong tại bệnh viện Da liễu Hà Đông bị các hộ lý ở đây bỏ đói và “ép” những bệnh nhân này ăn thịt sống?

Bỏ bệnh nhân ăn thịt sống?

Một số y tá hiện đang trực tiếp làm việc tại Khoa Điều Trị Nội Trú – Trung tâm Da Liễu Hà Đông (trụ sở tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội) phản ánh về tình trạng 21 bệnh nhân bệnh nhân mắc bệnh phong, bị tàn phế nặng đã bị các hộ lý của Khoa ngược đãi một cách thậm tệ?.

Khoa điều trị nội trú - Trung tâm Da liễu Hà Đông

Trao đổi với phóng viên, chị T. T. B, y tá Khoa điều trị nội trú cho biết: “Khoảng 9h40 phút ngày 4/5/2012 khi tôi đi thăm khám cho 20 bệnh nhân mắc bệnh phong, thuộc loại tàn phế nặng của khoa, số bệnh nhân này thuộc diện chăm sóc hoàn toàn thì phát hiện thấy bệnh nhân kêu khóc vì không có cơm ăn. 

Tìm hiểu sự việc, tôi mới phát hiện số bệnh nhân này sáng 4/5 được các hộ lý của khoa phát cho mỗi người: Một suất gạo đủ dùng trong hai bữa trưa và tối, 4 đến 5 miếng thịt sống, một ít rau để bệnh nhân tự xoay sở với lý do hết chất đốt, họ không thể đun nấu được. 

Trước tình trạng đó, tôi đã báo cáo sự việc với ông Vũ Văn Trình, PGĐ trung tâm Da Liễu Hà Đông, người trực tiếp quản lý Khoa điều trị nội trú thì ông Trình trả lời rằng: “Tôi không cần biết, cô đi mà báo cáo với những người ở trên... Ngày mai cũng có thể sẽ như thế này nữa…?”. 

Sự việc này cũng được Y sĩ P. T. T, hiện đang công tác tại Khoa điều trị nội trú – Trung tâm Da Liễu Hà Đông xác nhận. 

Theo điều tra của phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam: Trụ sở của Khoa điều trị nội trú – Trung tâm Da Liễu Hà Đông có tổng cộng 90 bệnh nhân phong đang được điều trị. Trong đó, 70 bệnh nhân phong còn khả năng tự sinh hoạt được phân sang một khu; 20 bệnh nhân không còn khả năng tự sinh hoạt, thuộc diện được chăm sóc hoàn toàn phân sang một khu riêng để tiện cho quá trình chăm sóc và điều trị. 

Trao đổi với PV, cụ Vũ Thị Bớt (89 tuổi, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, TP Hà Nội) nghẹn ngào: “Khổ lắm các chú à! nhiều lúc nghĩ sao thấy số phận của mình bất hạnh quá. Tôi bị mắc căn bệnh phong quái ác này từ những năm 1960, đến năm 1969, khi bệnh tình có dấu hiệu nặng tôi được chuyển về Khoa điều trị nội trú – Trung tâm Da Liễu Hà Đông để điều trị theo tiêu chuẩn của nhà nước cho đến nay. 

Cũng vì mắc phải căn bệnh quái ác này, nên cái ước muốn được cưới chồng rồi sinh con đẻ cái đã trở thành một điều gì đó quá xa vời, nhiều lúc nghĩ thấy tủi thân, ứa nước mắt. Nhất là những lúc ốm đau, không có ai bên cạnh, một mình vật lộn với cơn đau, không biết kêu ai đành phải cắn răng chịu đựng. Những lúc đó, tôi chỉ ước ao dù chỉ có một người thân ở bên cạnh, chăm sóc, an ủi thôi!”.

Cụ Bớt chia sẻ với phóng viên

Về sự việc sáng ngày 4/5, cụ Bớt chua xót nói: “Sáng 4/5, tôi được các hộ lý mang đến phòng cho một phần gạo đủ nấu hai bữa sáng, chiều, một vài miếng thịt sống cùng một ít rau. Thấy lạ, vì bình thường đến giờ ăn trưa các cô ấy thường mang đồ ăn đã nấu sẵn đến cho chúng tôi, nhưng hôm nay lại toàn là đồ sống, nên tôi hỏi thì các cô ấy trả lời hết ga rồi không nấu được, nên phát đồ sống cho chúng tôi, làm thế nào thì tùy. 

Các chú thấy đó, tay chân tôi bị “ăn” hết thế này thì có còn đủ khả năng tự sinh hoạt đâu, vậy mà các cô ấy lại có hành động như vậy. Do không biết làm thế nào, sáng nay tôi đành nhờ người pha cho gói mì tôm ăn tạm và nhịn đói đên tối...”.

Bón cơm bằng cách dùng thìa chọc vào miệng?

Còn cụ Nguyễn Văn Rộng (SN 1935, ở Phú Xuyên, TP Hà Nội) thều thào: “Từ khi biết mình mắc phải căn bệnh này, tôi đã không còn nghĩ đến chuyện tìm cho mình một mái ấm nữa, bởi vì như vậy không chỉ có tôi bất hạnh mà người tôi yêu sẽ còn đau đớn hơn. Tôi vào điều trị tại Khoa điều trị nội trú – Trung tâm Da Liễu Hà Đông này từ năm 1999 đến nay cũng đã mười mấy năm nhưng chưa bao giờ bị đối xử như những gì mà các hộ lý tại đây đã làm vào ngày 4/5 khi phát cho bệnh nhân chúng tôi gạo, thịt sống và rau trong khi họ thừa biết tôi cũng như 19 bệnh nhân trong diện được chăm sóc hoàn toàn không có khả năng tự sinh hoạt”.

Thậm chí khi tôi bị ốm được những bệnh nhân khác đưa lên bệnh xá của khoa để điều trị thì các hộ lý trực cũng bỏ mặc chẳng ngó ngàng gì. Trong suốt 20 ngày nằm điều trị tại bệnh xá nằm trong khuôn viên Khoa điều trị nội trú –Trung tâm Da Liễu Hà Đông, các hộ lý không hề nấu ăn cho tôi, không tắm rửa, thay quần áo cho tôi dù chỉ một lần. 

Tôi đành phải thuê hai bệnh nhân khỏe mạnh khác trong khoa nấu ăn và tắm rửa cho tôi. Thậm chí bệnh tình tôi như thế, thuốc men cũng không được phát, thấy lạ tôi hỏi thì một hộ lý bảo thuốc để trong tủ không có chìa khóa nên không mở được. Cho đến khi một số y tá trong khoa phát hiện ra nhắc nhở hộ lý họ mới nấu ăn cho tôi, tuy vậy về cung cách phục vụ của họ tôi không thể nào chấp nhận được. Thức ăn họ nấu cho tôi nhiều khi còn sống, không thể ăn được, khi bón cơm cho tôi, một số hộ lý dùng thìa thọc thẳng vào mồm tôi…”.

Theo ghi nhận trực tiếp của PV tại phòng của 21 bệnh nhân này, phần gạo cùng những thực phẩm sống như thịt và rau do các hộ lý phát sáng ngày 4/5 cho đến ngày 5/5 vẫn còn nguyên, để ở một góc do bệnh nhân không biết làm cách nào để nấu nướng. Rất nhiều người trong số 21 bệnh nhân này đã phải nhịn đói, kêu khóc, cầu cứu tới một vài người còn có trách nhiệm tại đây như Y tá Trần Thị Bắc, Y sĩ Phạm Thị Thủy.

Trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, một lãnh đạo trung tâm Da liễu Hà Đông khi đó đã xác nhận thông tin bệnh nhân phong bị bỏ đói và "ép" ăn thịt sống là đúng sự thật. 

Liên quan đến sự việc này, theo dự kiến đúng 14h hôm nay (9/5) phóng viên sẽ có buổi làm việc với ông Nguyễn Việt Cường, Chánh thanh tra Sở Y tế Hà Nội để có thông tin chính xác trong vụ việc này để cung cấp thông tin đến bạn đọc.
Báo điện tử Giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này….

http://giaoduc.net.vn/Ban-doc/Kinh-hoang-20-benh-nhan-phong-Ha-Noi-bi-bo-doi-va-ep-an-thit-song/160214.gd

Tấm Lòng Cao Quý của Người Việt Úc Châu: Cô Là Ai ?

Đơn độc với một cái bàn xếp, với một lá Cờ Vàng, với một cái máy hát phát bài "Anh Là Ai?" và "Việt Nam tôi đâu?", một đồng hương đã tự nguyện đến các khu thị tứ đông Người Việt để xin chữ ký cho bản Kiến Nghị Thư về vấn đề nhân quyền tại VN do CĐNVTD Úc Châu mở ra cho tất cả mọi trên thế giới.

Cô là một người phụ nữ dấn thân, có lòng với quê hương Việt Nam đang đứng trước hiểm hoạ mất nước vào tay TC. Tuần trước, chỉ riêng tai vùng St. Albans (VIC), cô đã xin được trên 1300 chữ ký, nay cô qua khu phố Footscray (VIC) để tiếp tục xin chữ ký cho bản Kiến Nghị Thư. Cô đã tự nguyện làm việc này chỉ vì cô là một người rất nặng lòng với quê cha đất tổ, là một người biết xót xa với nổi đau của một dân tộc.

Inline image 1

Inline image 2

Inline image 3

Inline image 4

Inline image 5

Inline image 6


Kiến Nghị Thư nầy do Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu khởi xướng và Thượng Nghị Sĩ Liên Bang Ron Boswell (Queensland, Australia) bảo trợ.
 
Thông Cáo Báo Chí của TNS Ron Boswell (LNP, Queensland)
 
Hướng dẫn ký Kiến Nghị Thư Kính mời quý đồng hương theo các hướng dẫn với trình tự như sau:
 
1- Mở trang mạng Kiến Nghị Thư bằng cách click vào đường nối sau đây: http://www.gopetition.com/petitions/nhanquyentaivn.html hoặc www.kienghithu.com
2- Đọc nội dung Kiến Nghị Thư (có cả phần tiếng Anh và tiếng Việt)
3- Xuống cuối trang, click vào nút: Sign the petition
4- Điền vào các ô có dấu hoa thị đỏ * - riêng phần Tên Đường và Số Nhà (Street Address) thì không cần điền vào vì không bắt buộc.
5- Sau hàng Verification Code, trong ô chữ nhật lớn xin đọc 4 mẫu tự (Capchapicture) trên hàng chữ nhỏ Enter code & click 'Sign' và ghi 4 mẫu tự ấy vào ô chữ nhật trắng.
6- Để kết thúc việc ký tên, xin quý đồng hương click vào chữ SIGN.
7- Tên của quý đồng hương sẽ hiện lên ngay trong trang chữ ký. Muốn xem trang chữ ký xin vui lòng click vào link:http://www.gopetition.com/petitions/nhanquyentaivn/signatures.html
 
Kính mong quý đồng hương các nơi phổ biến rộng rãi Thư Ngỏ và Lời Kêu Gọi này để chứng tỏ quyết tâm đoàn kết với quốc nội trong mục tiêu đấu tranh giải thể cộng sản vì sự toàn vẹn lãnh thổ và vì tự do dân chủ cho 90 triệu bà con trong nước.

GHI CHÚ: Có thể dùng một đia chỉ email (one email address) để ký cho tất cả những người trong gia đình, cho các người thân, nhất là cho các người lớn tuổi không có email, không biết dùng internet.

Oan Hồn Người Cha Trong ‘Ngày Vui Đại Thắng’







Ai có thể làm thống kê, tổng kết xem từ ngày quê hương chúng ta sa vào thảm hoạ Cộng Sản, có mấy chục triệu người, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, là nạn nhân của đảng giặc VC? Khó khăn hơn nữa là những trường hợp của hàng ngàn, hay hàng chục ngàn gia đình, bị VC tàn sát không còn người nào.

Dù sao, chúng tôi thiết tưởng, khi mang trong lòng mối "thù nhà nợ nước" thì lẽ ra, tất cả các nạn nhân đều có ý chí Chống Cộng hăng say.

Nhưng không hiểu sao, có nhiều trường hợp, họ lại cúi đầu sống trong ô nhục, làm tôi tớ cho kẻ thù, phản bội đồng bào, "vong ân bội nghĩa" với ông cha?

Câu chuyện "Oan Hồn Người Cha Trong Ngày Vui Đại Thắng” — khởi đầu năm 1945 và kết thúc năm 1975 — là trường hợp điển hình cho nhiều trường hợp khác nhau. Trong đó có nỗi oan khiên của người cha là học giả Phạm Quỳnh và sự việc ô nhục của người con là “nhạc sĩ vẹm” Phạm Tuyên.

Còn thảm cảnh nào ô nhục hơn cuộc đời của Phạm Tuyên? Sau khi đảng giặc VC đã giết cha mình, làm cho gia đình mình tan nát, làm cho đất nước tan hoang, làm cho đồng bào VN khốn khổ thì Phạm Tuyên lại đi làm tôi tớ cho kẻ thù, viết bài hát mừng VC chiếm được miền Nam ngày 30.4.1975:

"Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng...

Lời Bác dậy đã thành chiến thắng huy hoàng

Ba mươi năm đấu tranh giành trọn vẹn non sông

Ba mươi năm Dân Chủ Cộng Hòa,

kháng chiến đã thành công"

Hiển hiện, "ngày vui" ấy là ngày vui của đảng giặc VC. Ngày "đại thắng" ấy là ngày đại thắng của Quốc Tế Cộng Sản mà Nga Tàu là hai kẻ đầu xỏ.

"Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc...... ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi VN !" Đó là lời tuyên bố của Tổng Bí Thư Lê Duẩn trong buổi họp mặt với bọn đồng đảng năm 1976. Lời 'TỰ THÚ' này có giá trị lịch sử, cho thấy vai trò của CSVN: Làm TAY SAI cho Nga-Tàu trong khối 'Quốc Tế Cộng Sản'.

Thật ra, chiến tranh VN (1960-1975) chỉ là “điểm nóng” trong “chiến tranh lạnh” (Cold War 1945-1990) giữa hai khối Quốc Tế Cộng Sản và Dân Chủ Tây Phương. Phía VNCH có Hoa Kỳ, Nam Hàn, Thái Lan, Úc, Tân Tân Lan đã công khai đem quân tham chiến. Phía VC có Nga Sô, Tàu Cộng và Bắc Hàn đã bí mật, gởi quân đến VN qua các vai trò: Không chiến, pháo binh phòng không, cố vấn, huấn luyện, phòng thủ miền Bắc VN và chỉ huy các mặt trận lớn trong Nam.

Nhìn lại cội nguồn từ năm 1919 thì Quốc Tế CS, hay Đệ Tam Quốc Tế CS, chỉ là tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Sô-Viết ¾ do Lênin thành lập, tiếng Nga là ‘Communestcheskig International’, nghĩa là Quốc Tế CS, gọi tắt là Comintern ¾ có nhiệm vụ vận động, phát triển chủ nghĩa CS ở các xứ khác để phục vụ hữu hiệu nền an ninh và những quyền lợi khác của nhà nước Sô-Viết.

Đồng thời, căn cứ vào thư của Hồ Chí Minh và nhiều tài liệu khác của đảng VC thì ai cũng thấy, Hồ là ‘Ðại Diện’ của Quốc Tế CS, lãnh lương của QTCS, làm theo lệnh của QTCS. Như vậy thì hiển nhiên, Hồ là tay sai của Sô-Viết, không hơn không kém. Chính Hồ đã để lộ vai trò tôi tớ hắn khi tuyên bố: "Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ".

Hai chữ “cách mạng” trong câu nói của họ Hồ có nghĩa là “cách mạng vô sản”. Đó là việc áp đặt ách đô hộ Mác-Lênin trên quê hương chúng ta.

Trong 30 năm chiến tranh, dưới chiêu bài "đánh Pháp chống Mỹ", Quốc Tế CS đã sử dụng đất nước VN làm bãi chiến trường. Quốc Tế CS đã đem "núi xương sông máu" của dân tộc VN, lót đường cho chủ nghĩa phi nhân Mác-Lênin bành trướng. Kết quả hiện thời là hàng chục năm trôi qua, sau khi năm chiến tranh chấm dứt, VN vẫn là nơi nghèo khổ, lầm than và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.

Vì vậy, khi VC tung ra bài “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng” thì dân chúng VN, đối kháng bằng cách đổi ngược tất cả lời ca cho đúng với sự thật trong lịch sử. Hầu hết những người lớn tuổi, sống trong chế độ VC hiện nay (2003), đều nghe trẻ nhỏ tụ tập, vui chơi ngoài đường phố, nghêu ngao hát sau Tháng Tư Ðen 1975:

"Như có bác Hồ trong thùng phi đậy nắp

Lời Bác nay trở thành thối hoắc trong thùng

Ba mươi năm Bác làm tan nát non sông

Ba mươi năm Dân Chủ Cộng Hoà chẳng thấy...”

NHƯ CÓ BÁC HỒ TRONG THÙNG PHUY ĐẬY NẮP ♫♫

MỞ NẮP RA LÀ MỘT CÁI CÓC LÊN ĐẦU ♪♪

NHƯ CÓ BÁC HỒ TRONG CẦU TIÊU ĐẦY CỨT ♪♪♪♪

GẠT CỨT RA LÀ TRÔNG THẤY BÁC LIỀN.  ♫♫♫♫♫♫♫

Như vậy, trong ngày 30 'Tháng Tư Đen 1975', nếu người con là Phạm Tuyên vui mừng ca hát "như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng" thì ngược lại, oan hồn của người cha là Phạm Quỳnh, ắt hẳn phải cảm thấy, vừa ngậm ngùi, vừa tủi nhục. Ngậm ngùi trước thảm cảnh “nước mất nhà tan”. Tủi nhục vì có đứa con đi làm tôi tớ cho kẻ thù, phản dân hại nước mà lại tưởng là vinh!



Văn Nhân Sinh Tặc Tử



Trong thời gian trước đây, nhiều cây bút lão thành đã viết bài nhằm minh oan cho học giả Phạm Quỳnh. Vấn đề này, chắc chắn sẽ đuợc lịch sử phát xét công minh. Tuy nhiên, khi đề cập đến chuyện "Văn Nhân Sinh Tặc Tử" thì thiết tưởng, cũng cần nhắc lại vài nét đại cuơng về nguời quá cố.

Qua Văn Học Sử VN, nhiều quý vị còn nhớ, Phạm Quỳnh là người có công rất lớn trong văn học. Vốn là người uyên thâm Nho Giáo và triết học Tây Phương, học giả Phạm Quỳnh còn tốt nghiệp trường Thông Ngôn (Collège Des interprêtes) năm 1908. Ông được bổ nhiệm làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1917, ông là chủ biên và là linh hồn của Nam Phong tạp chí. Năm 1919 ông sáng lập hội Khai Trí Tiến Đức. Cả hai tổ chức văn hóa này đã "vang bóng một thời" trên hai miền Nam Bắc VN. Năm 1932, ông được vua Bảo Đại mời vào kinh đô Huế, giữ chức vụ Thượng Thư Bộ Lại — tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện thời. Đến năm 1945, Việt Minh Cộng Sản nổi dậy cướp chính quyền. Học giả Phạm Quỳnh bị bọn côn đồ Trần Huy Liệu, nhận lệnh của Hồ Chí Minh, đến kinh đô Huế, ép buộc vua Bảo Đại trao Ấn Tín. Chúng còn bắt học giả Phạm Quỳnh cùng nhiều nạn nhân khác, trong đó có hai cha con ông Ngô Đình Khôi — bào huynh của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm — đem vào rừng, đập bể sọ, rồi chôn vùi trong nấm mồ tập thể với bản án “Việt gian”!

Ai can tội Việt gian? Nếu học giả Phạm Quỳnh can tội “Việt gian” vì theo học “Trường Thông Ngôn” rồi làm việc cho vua Bảo Đại thì Hồ Chí Minh can tội gì khi khi làm bồi cho thực dân Pháp trên tàu L'Admiral La Touche Tréville? Sau khi đến Pháp, Hồ viết thư van xin bọn Thực Dân cho vào học nội trú trại “Trường Thuộc Địa”. Như vậy thì rõ ràng, sau giấc mộng làm tay sai cho Pháp không thành, Hồ xoay sang làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế CS.

Còn trong lãnh vực báo chí, học giả Phạm Quỳnh là người có công hay có tội? Chúng tôi xin nêu lên nhận xét của những cây bút lão thành:

Trên trang 939 của cuốn "Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân Tự Điển" Quyển II, xuất bản tại Sài Gòn năm 1967, soạn giả là giáo sư Trịnh Vân Thanh — người bất đồng chính kiến với học giả Phạm Quỳnh mà cũng phải nhìn nhận: "Trên lãnh vực văn hoá, Phạm Quỳnh xứng đáng là một kiện tướng có đủ năng lực, tài ba để điều khiển một cơ quan ngôn luận và có công rất lớn trong việc phát huy những khả năng tiềm tàng của Việt Ngữ và xây dựng một nền móng vững chắc cho Quốc Văn, bằng cánh tô bồi với những tinh hoa mà ông đã rút tỉa, trong những tư tưởng và học thuật của Âu Tây”.

Trên trang 76 của cuốn "Nhà Văn Hiện Đại" Tập I, soạn giả là nhà văn Vũ Ngọc Phan, đã nêu nhận xét về học giả Phạm Quỳnh: "Ông là người chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền Quốc Văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hoà với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hoá được".

Hồi đầu năm 1999, chúng tôi được biết thêm 2 nhà văn khác là cụ Mạc Kinh ở Luân Đôn và cụ Duy Xuyên ở Houston, Hoa Kỳ. Cụ Mạc Kinh viết bài "Nỗi Oan Khiên Của Nhà Học Gỉa Phạm Quỳnh", đăng trên tờ Việt Báo ở Houston số 71. Còn cụ Duy Xuyên thì viết bài "Đốt Lò Hương Cũ Số 9". Trên trang 84 của tờ VB số 72, cụ Duy Xuyên đã nêu lên nhận xét về học giả Phạm Quỳnh: "Một người chỉ dùng cây viết tô điểm thêm đậm nét dòng văn hóa Tổ Tiên, người đã mượn ba tấc lưỡi Tô Tần thuyết phục người Pháp trả lần hồi nền tự trị cho quê hương, người đã hết lòng cúc cung tận tụy phò vua trẻ hồi loan từ 1932 cho đến 1945, trung quân ái quốc một lòng một dạ, vì đã thấm nhuần Nho Gíao, lấy tam cương ngũ thường làm chuẩn, nhưng buồn thay, người quân tử gặp lúc nhiễu nhương, cây bút làm sao chống lại mã tấu, lựu đạn của bọn vô lại đầu đường xó chợ".

Quả thật là như vậy, dẫn đầu "bọn vô lại ấy" là Hồ Chí Minh. Trong những năm đầu của thảm hoạ Cộng Sản, ngoài việc thủ tiêu học giả Phạm Quỳnh, quốc tặc Hồ Chí Minh còn là thủ phạm trong các vụ thủ tiêu Đức Huỳnh Phú Sổ, các ông Lý Đông A, Trương Tử Anh và Khái Hưng. Hàng ngàn chiến sĩ cách mạng khác, chỉ vì có khuynh hướng Quốc Gia, mà bị họ Hồ lừa gạt và sát hại vô cùng dã man.

Tại sao, Trần Huy Liệu giết cha của Phạm Tuyên mà lại còn bắt giam anh của Phạm Tuyên là Phạm Giao và cướp luôn chị dâu của Phạm Tuyên nữa? Chuyện thê thảm xẩy ra chỉ vì, chị dâu của Phạm Tuyên — vợ ông Phạm Giao — là người đẹp nổi tiếng trường Đồng Khánh. Trước đó, Trần Huy Liệu đã say mê, theo đuổi một thời. Nhưng Liệu là kẻ vô luân nên bị "người đẹp" khinh bỉ. Khi "nàng" kết hôn với ông Phạm Giao thì Liệu "ôm hận ngàn thu", mong đợi có dịp trả thù. Dịp ấy đã đến khi Cộng Sản cướp chính quyền năm 1945. Cụ Duy Xuyên đã nêu lên nhận xét về hành động đểu cáng và tàn ác của Trần Huy Liệu: "Chỉ vì không lấy được người mơ ước mà Liệu đã nỡ lòng làm tan nát nhà họ Phạm và dập liễu vùi hoa để thoả mãn thú tính của một tên vô lại".

Câu chuyện đểu cáng, bất nhân không ngừng ở đó. Sau khi "người đẹp" qua tay Trần Huy Liệu thì lại lọt vào tay quốc tặc Hồ Chí Minh. Vì biết ý họ Hồ thèm muốn người đẹp nên Liệu tức tốc, gởi "nàng" đến Phủ Chủ Tịch “làm quà” biếu Bác để Bác thoả mãn nhục dục!

Như vậy thì rõ ràng, VC đã làm gia đình họ Phạm tan nát. VC đã làm đất nước tan hoang. VC đã làm đồng bào lầm than, nghèo khổ. Mang mối "thù nhà nợ nước" rõ ràng như thế mà Phạm Tuyên lại cúi đầu, đi làm tôi tớ cho Cộng Sản, viết lời ca "Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng" thì còn ô nhục nào hơn! Nhiều người bảo rằng "cha nào con nấy", nhưng trong câu chuyện này thì hiển nhiên là trái ngược: "Văn Nhân Sinh Tặc Tử".



Luận Cổ Suy Kim



Thật ra, câu chuyện nêu trên chỉ là câu chuyện điển hình. Vấn đề chính yếu được nêu lên: Từ ngày "nước mất nhà tan" đến nay, có bao nhiêu người, thay vì nung nấu trong lòng mối "thù nhà nợ nước", chống lại chế độ Mafia VC thì lại bắt tay thân thiện, hưởng ứng chiêu bài của kẻ thù tung ra? Nguyên do nào làm họ mù quáng? Họ không còn nhớ cội nguồn của bản thân họ, của gia đình họ là những nạn nhân đau thương của đảng giặc VC?

Quả thật là như vậy. Trong 2 năm 1945-1946, hàng trăm ngàn người có ông cha đã bị VC sát hại, trong các “chiến dịch” thủ tiêu, ám sát hay chém giết tập thể khi VC nổi lên cướp chính quyền. Trong những năm “Cải Cánh Ruộng Đất”, hàng triệu người có cha mẹ bị VC cướp hết cơ nghiệp, rồi đem ra đấu trường hành hạ trước khi giết hại hay tống giam. Hồi Tết Mậu Thân năm 1968, hàng chục ngàn người có thân nhân bị VC sát hại tập thể ở Huế. Kế tiếp là sau khi miền nam thất thủ năm 1975 thì con số phỏng đoán không còn ở mức “hàng triệu” người nữa. Mà ở mức “hàng chục triệu” người — có ông bà, cha mẹ, vợ hay chồng, anh hay chị em, họ hàng hay bạn hữu v.v. bị VC đầy đọa chết trong tại tù hay bị VC xô đẩy vào đường cùng, nên sa vào thảm họa trên hành trình vượt biển tỵ nạn.

Đến nay thì hàng chục năm trời đã trôi qua. Nhiều người bị tiêm nhiễm “nọc độc trí vận” của VC cho rằng, đó là chuyện “hận thù trong quá khứ, nên bỏ qua để hướng về tương lai”. Chúng tôi xin khẳng định rằng, bản tính con người, khi biết yêu quý điều THIỆN thì tất nhiên, sẽ ghê tởm những điều GIAN dối và HẬN THÙ những kẻ gây ra tội ÁC. Mà VC là bọn đại gian, đại ác. Nên ai có lương tri cũng phải hận thù VC. Do đó, nếu thế hệ cha anh chưa xoá bỏ được chế độ Mafia VC thì thế hệ con em sẽ nối tiếp, Chống Cộng đến cùng, cho đến khi nào đảng giặc VC không còn hoành hành thì đất nước ta mới có Dân Chủ Tự Do. Đồng bào ta mới ấm no, hạnh phúc.

Đó là điều sơ đẳng. Rất sơ đẳng trong đời sống. Chỉ tiếc rằng, trong khi đảng giặc VC có sở trường đại gian đại ác, nhất là kỹ thuật “lừa già dối trẻ” rất thiện nghệ thì tình trạng dân trí của khá đông đồng bào VN lại “thấp kém”.

Trong đó, người thì nhẹ dạ dễ tin; người thì cuộc sống chỉ biết “giá áo túi cơm”; người có bằng cấp chuyên môn cao, tưởng là “trí thức”, nhưng lại chỉ biết “vinh thân phì gia” hay “cháy nhà hàng phố bình chân như vại”! Mặc dù, tất cả các thành phần kể trên, đều là thành phần thiểu số, nhưng đã dẫn đến hệ quả: Mắc mưu VC hết chiều bài này đến chiêu bài khác! Ấy là chưa kể, những người sa vào trường hợp như “nhạc sĩ vẹm” Phạm Tuyên — sau khi VC đã giết cha mình, làm cho gia đình mình tan nát, làm cho đất nước tan hoang, làm cho đồng bào VN khốn khổ — mà lại bắt tay, hợp tác thân thiện với giặc dưới nhiều hình thức khác nhau. Chẳng lẽ, họ không biết, hay đã quên cỗi nguồn của bản thân họ? Chẳng lẽ họ lại không nhận ra, hàng chục triệu đồng bào hiện nay, không nhiều thì ít, không trực tiếp thì gián tiếp, đều là nạn nhân của chế độ Mafia VC.



Nhìn Lại Cội Nguồn



Ngược dòng thời gian thì vào đầu tháng 4 năm 1975, Quốc Tế Cộng Sản đã điều động hàng chục sư đoàn chính quy từ miền Bắc VN — với xe tăng T54, đại pháo 130 ly, hoả tiễn 122 ly và SA-7 của Nga Sô; với súng liên thanh AK và B40 của Tàu Cộng — để tiến quân, đánh chiếm miền Nam. Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mâu, dân chúng hoảng hốt. Hầu như ai cũng hiểu rằng, miền Nam nhỏ bé, mà lại bị cô thế, viện trợ Mỹ bị cúp, súng đạn chẳng còn bao nhiêu thì tất nhiên, VNCH sẽ xụp đổ. Thảm cảnh "Tháng Tư Đen" diễn ra. Ở bến tàu. Ở phi trường. Ở Toà Đại Sứ Mỹ. Dọc theo quốc lộ từ miền Trung vào miền Nam . Tổng cộng mỗi ngày, hàng trăm ngàn người chen lấn nhau, đạp lên nhau, tranh giành nhau lên tàu, tranh giành nhau lên phi cơ, hoặc liều chết dùng những chiếc thuyền bé nhỏ để vượt đại dương! Nhiều người từ Kontum, từ Pleiku, chạy ra Đà Nẵng. Cộng Sản chiếm Đà Nẵng, họ chạy vào Sài Gòn. Cộng Sản chiếm Sài Gòn, họ chạy lên Tây Ninh, băng qua biên giới, rồi vượt cả ngàn dặm rừng núi ở bên Cao Miên, để đến Thái Lan. Họ chấp nhận muôn vàn chông gai trên đường lánh nạn VC. Nào là thú dữ. Nào là Khờ Me Đỏ dã man tàn ác... Nhưng thà chết còn hơn kéo dài cuộc sống lầm than trong chế độ Cộng Sản!

Đó là sự thật trong lịch sử. Đó là kết quả của cuộc chiến 15 năm (1960-1975) do đảng Cộng Sản khởi xướng: Máu và nước mắt của tù nhân ướt đẫm khắp nơi trong trại tù đầy. Máu và nước mắt của đồng bào lai láng khắp nơi trên biển Đông. Trong lịch sử nước nhà, một ngàn năm giặc Tàu đô hộ dân ta, một trăm năm thực dân Pháp giầy xéo đất nước ta, không ai thấy giặc ngoại xâm nào ác độc và xảo quyệt bằng giặc Cộng. Chưa có thời kỳ nào, Xã hội VN có nhiều chuyện vô luân, nhiều chuyện bất nhân như thời “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Chứng cớ điển hình là sau khi chiếm được miền Bắc, VC đã chủ mưu, xách động người nghèo, đấu tố người giàu. Thảm trạng cướp cuả giết người trong những năm “Cải Cách Ruộng Đất” diễn ra khắp nơi. Luân thường đạo lý trong xã hội tiêu tan. Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng. Họ hàng hoặc bạn hữu nghi kỵ nhau, tố cáo nhau, hậm hực tranh giành nhau từng ly từng tý! Sau khi chiếm được miền Nam , VC “đánh tư sản” làm cho hàng triệu gia đình tan nát. Đồng thời, chúng đầy đoạ để trả thù hàng trăm ngàn Quân Nhân, Công Chức và Cảnh Sát VNCH trong ngục tù — nguỵ danh là trại “học tập cải tạo”. Thâm độc và đểu cáng nhất là chiến dịch “Hoa Nở Về Đêm”! Vì “Đảng” thừa biết, hàng trăm ngàn gia đình Quân Nhân, Công Chức, Cảnh Sát VNCH, bị sa vào cảnh bần cùng. Khi người chồng bị đầy đọa trong tù thì người vợ trẻ ở nhà, biết làm gì nuôi thân và nuôi con? Nên “Đảng” bèn bật đèn xanh, cho cán bộ, bộ đội, hay công an đến nhà dụ dỗ, hăm dọa và lừa gạt. Trước cảnh “cây gậy và củ cà rốt” có bao nhiêu thiếu phụ, vẫn giữ lòng son sắt trong khi chồng bị sa cơ? Có bao nhiêu người đã “thay dạ đổi lòng”? Có bao nhiều người bị sa ngã, hoặc bị lừa gạt?

Dù sao, lời nói của tên thổ phỉ Nguyễn Hộ vẫn là bằng cớ hùng hồn cho thấy, chiến dịch “Hoa Nở Về Đêm” là sự thật. Nhiều người còn nhớ, khi thảo luận cùng đồng đảng về cách đối xử với thành phần “Quân, Cán, Cảnh VNCH” thì Hộ công khai bảo rằng: “Nhà của chúng: Ta ở; vợ của chúng: Ta lấy; con của chúng: Ta sai; còn chúng: Ta cho vào tù trong những khu rừng thiêng nước độc...”.

Hiện thời, hàng chục năm trời đã trôi qua — kể từ khi chiến tranh chấm dứt. Nếu phỏng theo luận điệu của VC thì “dưới ánh sáng Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, nước VN đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” đến mục tiêu: Trung tâm mua bán nô lệ, kể cả nộ lệ tình dục và trẻ thơ, với giá rẻ nhất thế giới. Điển hình là kỹ nghệ du lịch gắn liền với các dịch vụ mãi dâm — do các công ty “Quốc Doanh” hay Công An và Quân Đội VC khai khác — là một trong những tệ đoan do nhà nước XHCN chủ xướng, không thể nào chối cãi. Bên ngoài thì VC đóng kịch cấm đoán chuyện mãi dâm. Nhưng thực sự bên trong, chúng muốn sử dụng thân xác gái điếm, nhằm thu hút du khách làng chơi ngoại quốc, kiếm Ðô-La, nuôi Công An và Bộ Đội, bảo vệ chế độ.

Trong thời XHCN thì "thượng bất chánh, hạ tắc loạn". Bên trên thì trùm Mafia Đỏ làm chuyện hại dân hại nước, dâng cả lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu Cộng. Bên dưới thì trùm Mafia Đen là Năm Cam cùng ma cô, du đãng, cướp trộm hoành hành. Hồi đầu năm 2003 vừa rồi, báo chí VC đã tiết lộ, có cả ngàn cán bộ Cộng Sản, kể cả đảng viên cao cấp — như cựu thủ tướng VC Võ Văn Kiệt; Trần Mai Hạnh, Giám Đốc đài phát thanh VC; Phạm Sĩ Chiến, Phó Giám Đốc Viện Kiểm Soát Nhân Dân v.v. — đã đỡ đầu, che chở, hay đồng loã với trùm Mafia Năm Cam trong các “dịch vụ”: Mãi dâm, tống tiền, thủ tiêu nhân chứng, cướp đoạt tài sản của dân, buôn lậu ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ thơ ra ngoại quốc.

Thảm cảnh trên đất nước chúng ta, đại cương là như thế. Nên hình ảnh cán binh VC — chân đi "dép râu", đầu đội "nón cối" hay nón "tai bèo" — đã làm cho dân chúng VN ghê tởm:

Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ

Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai

Vì “đời son trẻ bị dẫm nát”. Vì “tương lai bị che khuất”. Nên hàng triệu người Việt phải bỏ “quê cha đất tổ”, liều mình trốn chạy VC. Theo Liên Hiệp Quốc phỏng đoán thì tổng cộng có khoảng từ 6 đến 7 triệu thuyền nhân đã liều mạng vượt biên vượt biển. Nhưng chỉ có độ 40% là đến được bến bờ Tự Do. Phần còn lại bị chết vì đắm tàu lúc gặp bão. Vì hải tặc giết hại, hay bị chúng bắt mang đi rồi biệt tăm. Thảm cảnh đau thương diễn ra liên tiếp khoảng 10 năm trời. Máu và nước mắt của đồng bào tỵ nạn lai láng khắp nơi trên biển Đông. Muôn người khóc than ai oán. Tưởng là gỗ đá cũng mủi lòng thương. Thế mà VC lại có thể buông lời mỉa mai đồng bào tỵ nạn lúc sa vào thảm cảnh “thần sầu quỷ khốc”: “Chúng là rác rưởi, trôi dạt khắp năm châu bốn biển. Không ai thèm vớt. Nếu có vớt thì cũng vì bắt buộc”. Đó là lời nói của thủ tướng giặc VC là Phạm Văn Đồng. Tiếp đến là Ðỗ Mười, cũng nhân danh là Thủ Tướng, chửi bới đồng bào tỵ nạn thậm tệ: “Chúng là bọn du đãng đĩ điếm, trốn chạy theo Mỹ Ngụy ra nước ngoài để có bơ thừa sữa cặn mà ăn ”. Thế nhưng, khoảng 10 năm sau, bọn “lòng lang dạ thú” đánh hơi, biết trong túi người tỵ nạn có nhiều Đô-La thì chúng xoay chiều 180 độ, ngỏ lời ve vãn: “Họ là da thịt của chúng ta. Họ là máu mủ của chúng ta. Họ là khúc ruột của chúng ta ngoài ngàn dậm”.

Quả thật là “nói như VẸM”, trâng tráo như thế là cùng! Vậy mà vẫn có người nghe!!! Chứng cớ là nhiều người đã xin kẻ thù cấp chiếu khán, “bỏ áo tỵ nạn”, mặc “áo gấm về làng”.

Ai Mặc ‘Áo Gấm Về Làng’?

Ai Đi Theo ‘Tặc Tử’ Phạm Tuyên?

Đó là những người về VN với chủ đích để huênh hoang “cái tôi giàu sang phú quý” — trước thảm cảnh lầm than nghèo khổ của họ hàng hay bạn hữu và đồng bào quốc nội. Thậm chí, một số người còn vô luân và bất nhân đến độ, về VN với dã tâm, đi từ nơi này đến nơi khác để lừa gạt các thiếu nữ nghèo khổ — muốn đi Mỹ; hay mua trinh tiết của các trẻ thơ; hoặc vui thú trên thân xác của các thiếu nữ bất hạnh sinh ra trong thời XHCN!!! Nhiều kẻ thì về VN thường xuyên vì mấy ‘cô vợ non’, ‘bồ nhí’ hoặc ‘gái bao’ thúc dục!!! Phải chăng, tất cả những thành phần này muốn quên “cỗi nguồn tỵ nạn VC”? Kẻ thì biến thành “những con kên kên” trước cảnh khổ đau của đồng bào. Kẻ thì biến thành “Việt Kiều” đúng như ý bọn Mafia mong muốn. Tệ trạng “áo gấm về làng” đã góp phần không nhỏ giúp VC vừa “được tiếng, vừa được miếng”. Được tiếng là “cởi mở”, là “đổi mơí”, là “hoà hợp hoà giải dân tộc”... Được miếng là mỗi năm có vài tỷ Đô-la. Hiển nhiên, VC sử dụng ngân khoản ấy để mua thêm súng đạn, tăng cường phương tiện cho công an và bộ đội, để chúng có thêm sức mạnh, xiết chặt gông cùm Mác-Xít trên đầu trên cổ người dân. Đồng thời, VC còn dùng số tiền “viện trợ” ấy để hoạt động “nằm vùng” ở hải ngoại; trả tiền cho bọn Việt gian cùng bọn bồi bút — viết báo hỗ trợ những chiêu bài của mấy tổ chức “chống cộng cuội” và đánh phá những người Quốc Gia chân chính, gây ra cảnh nhiễu nhương trong cộng đồng tỵ nạn. Hệ quả là đồng bào chán nản. Ý chí đấu tranh cũng như tinh thần chống Cộng bị suy thoái.

Có lẽ, quái gở nhất trong khối tỵ nạn là hành động của một số cựu Quân Nhân và Công Chức “trở cờ đón gió”. Dẫn đầu là vài ba Tướng Tá, đã có những hành động PHẢN PHÚC — không khác Phạm Tuyên “vong ân bội nghĩa” với ông cha. Không hiểu nguyên do nào mà cảm quan của họ đã bị tê liệt? Tê liệt đến độ không còn biết đến liêm sỉ hay danh dự của chính bản thân họ! Chứng cớ là họ đã hưởng ứng quỷ kế xuyên tạc lịch sử của VC. Kẻ thì viết bài ca tụng tên quốc tặc Hồ Chí Minh và đảng giặc gian manh VC. Kẻ thì bịa chuyện trong “hồi ký” để bôi nhọ Chính Nghĩa của VNCH mà chính bản thân đương sự đã phục vụ gần hết đời người. Thậm chí, có kẻ còn tự ý “bôi tro trán trấu” vào mặt, đi về VN làm công cụ tuyên truyền cho giặc. Ắt hẳn, tất cả danh tánh và hành động của họ sẽ bị “lưu xú vạn niên” trong sử sách.

Chỉ tiếc rằng, trong khi đảng giặc VC có sở trường đại gian đại ác, nhất là sách lược “Công An Trị” cùng kỹ thuật tuyên truyền để “lừa già dối trẻ” rất thiện nghệ thì tình trạng dân trí của một số khá đông đồng bào chúng ta lại “thấp kém”, nên cứ bị lừa gạt hết lần này đến lần khác.

Chỉ tiếc rằng, trong khi Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc càng ngày càng sáng tỏ thì nhóm thiểu số cựu Quân Nhân và Công Chức VNCH lại “trở cờ đón gió” cùng với bọn “áo gấm về làng” đã “tiếp máu” cho VC — mỗi năm vài ba tỷ Đô-La.

Đó là vài nguyên nhân điển hình đã “giúp” đảng giặc gian manh VC tiếp tục nắm quyền cai trị trên đất nước trong khi các nước CS Đông Âu và Ðế Quốc Ðỏ là Liên Bang Xô Viết đã tan rã từ nhiều năm qua.



Ngày Quốc Hận 30-4



Trần Quốc Kháng

Bài Xem Nhiều