We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 13 May 2012

HAPPY MOTHER'S DAY : ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười. Trần Trung Ðạo

Tại sao cần học tiếng Việt?

   

Hình: istockphoto
Để duy trì tiếng Việt ở hải ngoại, một trong những câu hỏi quan trọng nhất cần được trả lời là: Tại sao trẻ em Việt Nam cần học tiếng Việt?
Câu hỏi ấy không những chỉ nảy sinh ra từ các em học sinh mà còn từ chính các bậc phụ huynh, tức những người thuộc thế hệ thứ nhất, sinh ở Việt Nam và chỉ ra sống ở nước ngoài khi đã trưởng thành hẳn.
Trẻ em (ví dụ trẻ em ở Úc/Mỹ) thường lý luận: Con sinh ở Úc/Mỹ, con sẽ sống suốt đời ở Úc/Mỹ. Ngôn ngữ thứ nhất của con là tiếng Anh. Mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ quốc tế; ở đâu cũng sử dụng được. Con đâu cần phải học thêm tiếng Việt làm gì nữa?
Cha mẹ thì lý luận: Ờ, cũng phải. Con cái bây giờ đã là người Úc/Mỹ rồi. Tiếng Anh mới quan trọng. Tiếng Việt thì biết cũng được; không biết cũng chả sao. Ngay cả khi biết tiếng Việt thì cũng chỉ để giao tiếp với người thân, chủ yếu với ông bà, thôi. Chứ làm được gì?
Những kiểu lý luận như vậy rất phổ biến.
Tuy nhiên, chúng lại sai.
Sai trên tất cả phương diện: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và nhận thức.
Về phương diện kinh tế, đã đành tiếng Việt không được xem là một ngôn ngữ thương mại như nhiều thứ tiếng khác (chẳng hạn, tiếng Nhật hay tiếng Hoa); tuy nhiên, việc thành thạo tiếng Việt ở mức độ nào đó, chắc chắn không phải vô ích trong một xã hội đa văn hóa và đa ngôn ngữ như Úc hoặc Mỹ (hoặc bất cứ một quốc gia hiện đại nào khác). Đối với rất nhiều nghề nghiệp, cộng đồng người Việt gồm trên 200.000 người ở Úc, và trên 1.6 triệu ở Mỹ là một thị trường to lớn. Cứ nhìn vào số phòng mạch, văn phòng luật sư hay kế toán ở các khu người Việt thì thấy ngay. Hoặc hãy vào các ngân hàng ở các khu đông người Việt mà xem: Có phải có rất nhiều nhân viên người Việt hoặc biết nói tiếng Việt? Để xin việc, bất cứ là việc gì, từ của chính phủ đến tư nhân, ở các khu nhiều người Việt định cư, khả năng tiếng Việt đều trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu.
Nhưng ý nghĩa kinh tế của tiếng Việt không chỉ nằm ở những công việc có liên quan trực tiếp đến người Việt như thế. Tại hầu hết các nước Tây phương, càng ngày người ta càng hiểu và đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của các nhận thức liên văn hóa, tức khả năng cảm nhận được những khác biệt giữa các nền văn hóa và khả năng đồng cảm với suy nghĩ của những người thuộc các nền văn hóa khác. Ví dụ, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một sản phẩm nào của Tây phương cũng đều được sản xuất để bán cho những người tiêu thụ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, có khi ở tận châu Á, châu Âu hay châu Phi xa xôi. Muốn bán được, người ta phải nghĩ đến chuyện đáp ứng thị hiếu của những người đó. Ai có khả năng làm được những việc như thế? Về phương diện chuyên môn, họ phải được học. Tuy nhiên, về phương diện tâm lý: những người ấy thường phải là những người song ngữ (bilingual) hoặc song văn hóa (bicultural). Nếu được đa ngữ (polyglot) hoặc đa văn hóa nữa thì càng tốt. Ý thức được điều đó, ở Tây phương, hầu hết các trường đại học đều khuyến khích sinh viên học một ngôn ngữ thứ hai hoặc nếu không, tham gia vào các chương trình trao đổi để có dịp đi nước ngoài một thời gian, ít nhất một học kỳ, để có cơ hội phát triển sự hiểu biết liên văn hóa (intercultural understanding) và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa (intercultural communication); ở cấp tiểu học và trung học, việc dạy ngôn ngữ thường đi kèm với việc rèn luyện ý thức liên văn hóa (intercultural awareness).
Về phương diện xã hội, nhiều bậc phụ huynh cứ nghĩ miễn con cái có thể bập bẹ được chút tiếng Việt để nói chuyện trong nhà là đủ rồi. Nhưng thật ra, với việc giao tiếp trong gia đình, mức độ thông thạo một ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, khó xác định thế nào là đủ. Khi con cái còn nhỏ, nhu cầu còn đơn giản, việc trao đổi và chuyện trò giữa bố mẹ và con cái thường chỉ dừng lại ở những đề tài căn bản trong đời sống hàng ngày, kiểu: Con đói không? Con muốn ăn gì? Phở nhé? Hoặc: Con học bài đi; con đi ngủ đi, v.v. Khi con cái lớn lên, đặc biệt ở giữa những năm trung học, khi, về phương diện tình cảm, các em bắt đầu biết yêu, biết vấn vương trước người khác phái; và về phương diện tâm lý, có những cuộc khủng hoảng về vấn đề bản sắc và ý nghĩa của cuộc đời, đề tài các em cần tâm sự càng ngày càng phức tạp hơn. Chính những lúc ấy, việc giao tiếp giữa bố mẹ và con cái trở thành một vấn đề, hơn nữa, vấn đề lớn: nếu nói bằng tiếng Việt thì các em không đủ từ vựng để diễn tả; nếu các em nói bằng tiếng Anh thì bố mẹ thường không hiểu hết. Một lúc nào đó, các em không còn tâm sự với bố mẹ được nữa. Quan hệ giữa bố mẹ và con cái, do đó, càng ngày càng xa cách dần. Khi con cái xa cách bố mẹ như thế, chúng đối diện với rất nhiều nguy cơ, trong đó, nguy cơ quan trọng nhất là rất dễ bị bạn bè lôi kéo vào con đường xấu.
Về phương diện văn hóa, tiếng Việt - cũng như bất cứ ngôn ngữ thứ hai nào - có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nó bảo vệ được bản sắc (identity) của các em. Với những người lớn tuổi, dù sống ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, chúng ta vẫn biết chúng ta là người Việt. Đó chính là căn-cước-tinh-thần của chúng ta. Trẻ em, lúc còn bé, dễ có ý nghĩ mình là một người Úc hoặc một người Mỹ. Nhưng, lớn lên, các em biết ý nghĩ đó chỉ là một ảo tưởng. Mái tóc, làn da, màu mắt và kích thước của các em luôn luôn tố giác một điều ngược lại: Các em vẫn là người Việt. Nếu biết tiếng Việt, ý thức về bản sắc sẽ dễ được củng cố. Nhưng nếu không, các em sẽ trở thành những kẻ thất cước, bơ vơ. Điều đó rất dễ dẫn đến những khủng hoảng về tâm lý. Thứ hai, biết tiếng Việt, trở thành người song ngữ, các em dễ trở thành bao dung hơn trước các nền văn hóa khác, do đó, dễ hội nhập vào đời sống xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa với tốc độ cực nhanh như hiện nay. Trước mắt, sự hội nhập ấy có thể thấy ngay ở việc hội nhập vào đời sống gia đình, đại gia đình (với ông bà và bà con, họ hàng) cũng như với cộng đồng.
Về phương diện giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy học sinh và sinh viên biết hai thứ tiếng trở lên thường học giỏi hơn học sinh và sinh viên chỉ biết một thứ tiếng. Có lẽ điều đó tương đối dễ hiểu. Thứ nhất, học hai thứ tiếng cùng lúc (ví dụ tiếng Anh và tiếng Việt), trí nhớ của các em thường xuyên được luyện tập, do đó, các em thường cường ký hơn các trẻ em khác. Thứ hai, biết hai thứ tiếng, thường xuyên chuyển dịch và so sánh tiếng này và tiếng kia, khả năng so sánh của các em có nhiều cơ hội để phát triển. Mà so sánh lại là một khía cạnh quan trọng của lý luận: Trẻ em biết hai thứ tiếng, do đó, thường nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, do đó, tránh được bệnh phiến diện, hẹp hòi và cực đoan. Riêng với trẻ em Việt Nam, cũng như hầu hết trẻ em di dân khác, việc tiếp tục học và học giỏi tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm tự tin hơn trong học vấn: Đó là môn học các em dễ đạt điểm cao, do đó, dễ chứng tỏ mình giỏi hơn hẳn người ngoại quốc.
Cuối cùng, về phương diện nhận thức, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy việc biết hai thứ tiếng làm cho người ta thông minh hơn (being bilingual, it turns out, makes you smarter.) Trong số các công trình nghiên cứu ấy, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Ellen Bialystock và Michelle Martin-Rhee vào năm 2004: Họ chia các học sinh mẫu giáo thành hai nhóm; một nhóm chỉ biết nói tiếng Anh và một nhóm nói được hai thứ tiếng, tiếng Anh và một thứ tiếng nào khác. Họ cho các em một số vật tròn màu xanh và một số vật vuông màu đỏ rồi yêu cầu các em bỏ vào hai thùng, một thùng vuông màu xanh và một thùng tròn màu đỏ. Trước hết, họ yêu cầu các em chọn theo màu: vật xanh bỏ vào thùng xanh; vật đỏ vào thùng đỏ. Tất cả các em đều làm được. Sau đó, họ yêu cầu các em sắp xếp cách khác, theo hình dạng: vật vuông bỏ vào thùng vuông và vật tròn bỏ vào thùng tròn. Đến lúc ấy, các em chỉ biết một ngôn ngữ lúng túng hẳn vì thấy các vật cùng hình dạng thì không cùng màu sắc. Trong khi đó, với các em biết hai ngôn ngữ, công việc ấy được hoàn tất rất nhanh chóng. Người ta lý giải hiện tượng này như sau: các em biết hai thứ tiếng thường biết rõ là mình biết hai thứ tiếng. Ví dụ, đang nói chuyện với anh chị em bằng tiếng Anh; quay sang nói chuyện với bố mẹ, các em sử dụng tiếng Việt. Tất cả diễn ra một cách tự phát. Điều đó vô tình giúp phát triển chức năng điều hành trong bộ óc của các em. Các em phân biệt được dễ dàng những công việc hay những vấn đề có nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ, trong thí nghiệm kể trên, các em song ngữ hiểu ngay là sắp xếp theo màu thì khác và theo hình dạng thì khác; còn các em chỉ biết một thứ tiếng thì khi được yêu cầu sắp các vật theo hình dạng lại cứ loay hoay về màu sắc, do đó, không dám bỏ các vật tròn màu xanh vào cái thùng tròn màu đỏ; và ngược lại: nói cách khác, nếp suy nghĩ của các em được định hình có một chiều.
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều quốc gia khác nhau, từ Tây Ban Nha đến Ý và Mỹ, trong nhiều cuộc thí nghiệm với những người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ sơ sinh đến trẻ em bậc tiểu học, trung học, đại học và cả những người luống tuổi, đều đi đến những kết luận tương tự: khả năng song ngữ làm cho người ta suy nghĩ nhanh, chín chắn và toàn diện hơn việc chỉ biết một ngôn ngữ duy nhất.
Những lý do nêu trên đủ để chúng ta khuyến khích trẻ em học tiếng Việt chứ?
Tôi hy vọng vậy.


Nguyễn Hưng Quốc     

Chủ Đề Ngày Lễ Mẹ : CON GÁI THẦY GIÁO LÀNG ĐẠI NẪM

CON GÁI THẦY GIÁO LÀNG ĐẠI NẪM

Mến tặng chị em nhân ngày Mẹ
Lời người chị kể sau chuyến về thăm Việt Nam: “Má yếu lắm rồi nhưng đầu óc má vẫn còn nhanh nhẹn như xưa.” Chị dùng chữ “nhanh nhẹn” làm tôi vừa buồn cười vừa thấm thía cách dùng chữ của bà chị một thời nổi tiếng nàng thơ ở trường Sư Phạm Sài Gòn. Không ai dùng chữ “nhanh nhẹn” để diễn tả khả năng làm việc của bộ óc con người. Bà chị này đã từng nổi tiếng (chỉ trong gia đình thôi!) về tài dùng chữ vừa mỉa mai vừa thật lòng, vừa bóng vừa thực, vừa diễu vừa nghiêm… Mà ngay chính chị cũng không có dụng ý, đến chừng thấy chị em cười nghiêng ngữa, chị mới vỡ lẽ… chị này hơi chậm tiêu!
Chữ “nhanh nhẹn” trong trường hợp này rất thích hợp. Má chúng tôi. Chúng tôi đã từng đi từ ngạc nhiên đến giật mình vì cách suy diễn nhanh chóng, cách làm bài toán cộng trừ nhân chia trong đầu thật nhanh và chính xác của một người đàn bà chỉ học hết bằng sơ lược tại gia. Bà Tư Bê, vợ ông chồng thông thái, má của lủ con bảy đứa, lủ con thường tự hào mình là cây toán trong lớp dù trai hay gái, đã từng cho chúng tôi đo ván về tài tính nhẩm.
Là con gái lớn của một thày giáo làng Đại Nẫm, Phan Thiết, người thày dạy chữ quốc ngữ đầu tiên của làng. Sau cậu Ba là má tôi, thứ Tư, tên Bê, dì Năm tên Xê và tiếp theo đó… hai dì út lại có tên thật mỹ miều so với những người nhà quê thời đó: Xuân Lan và Thu Cúc (Làn thu thủy, nét thanh sơn, Xuân Lan Thu Cúc mặn mà cả hai). Người con cả của ông bà ngoại đã mất từ nhỏ, không thờ cúng gì cả và cũng là đề tài cho chúng tôi tò mò bàn cãi:
- Không biết mình có cậu Hai hay dì Hai ha.
- Chị không logic chút nào hết.
- Hả?
- Tui chắc chắn là dì Hai.
- Ngon há, mi hỏi bà ngoại hả?
- Cần gì hỏi. Ông ngoại là thày giáo dạy chữ quốc ngữ đầu tiên ở làng. Để làm gương, ông ngoại đặt tên cho ba người con gái đầu lòng là A, Bê. Xê. Suy diễn ngắn đường cũng hiểu là mình có dì Hai và chắc chắn tên A chứ không phải cậu Hai.
- Thông minh! Có nghĩa là ông ngoại còn làm một cuộc cách mạng nhằm nâng cao kiến thức phụ nữ nước nhà. Đặt tên ba người con gái là A,B,C là có dụng ý chứ đâu phải ông ngoại quê mùa, nghĩ sao thì đặt tên cho con như vậy.
- Quê mùa sao được. Các cậu đều mang tên ngon lành, ai cũng Nguyễn Chánh…
- Má biết đọc biết viết là ngon hơn đa số phụ nữ thời đó.
- Má còn biết làm thơ nữa chớ bộ.
- Không những biết làm thơ mà còn thuộc nhiều thơ nữa.
- Ông ngoại ngâm thơ, đọc thơ cả ngày, không muốn cũng thâm vô từ từ. Tụi mình còn được thâm, huống hồ chi má.
- Mê hát bộ, mê cải lương, mê phim Ấn Độ, mê phim tình cảm Tàu.
- Có mộng cải tổ xã hội.
- Nếu mùa lúa năm đó ở Dinh Điền không bị “mấy ổng” tịch thu thì má đã thực hiện được lý tưởng nâng cao kiến thức cho đồng bào thiểu số ở một buôn Thượng. Má dự định sau mùa lúa là má sẽ cho xây một trường học rồi vận động ông quận trưởng quận Tánh Linh bổ giáo viên về dạy học cho người Thượng.
- Ưa thương vay, mang cực nhọc về nhà cho con cái. Có nhớ chuyện thằng Minh Teo không?
- Ừ, thấy con người ta èo uột, tám tuổi mà nhỏ như đứa trẻ lên bốn, cả ngày không nói một tiếng, má quyết định đem về nuôi một thời gian, bắt tụi mình đút cơm, chuyện trò với nó, chơi với nó, đi chơi đâu cũng phải dắt nó theo….
- Coi vậy mà cũng có kết quả chớ bộ. Má sư phạm lắm, cho con nít chơi với con nít thì con nít mới phát triển bình thường. Nửa năm sau là nó chạy giỡn có thua gì tụi mình đâu, còn la to hơn nữa chớ. Chừng ba má nó xin nó về, nó khóc, nó la… Vậy mà bây giờ học lớp đệ thất trường Phan Bội Châu, ngon lành như ai chứ bộ.
- Nhớ cái áo ấm màu nâu đẹp thiệt đẹp dì Bảy tỉ mỉ đan cho tui trước khi dì theo dượng Đệ đi tập kết không?
- Ờ, bữa tối đó tui cũng run gần chết. Đang đi, bả ngồi bệt trước nhà mình, máu me tùm lum. May mà có má ở nhà. Má đem vô nhà, cắt nhao, tắm rửa, cho em bé bú sữa, rồi lấy cái áo ấm kỷ niệm của dì Bảy, bọc thằng nhỏ, cho nó luôn cái áo.
- Cái áo ấm đẹp thiệt là đẹp.
- Đến giờ mi còn tiếc sao?
- Tui có tiếc bao giờ đâu, tui phục má lanh trí cứu người, thương người.
- Má còn bao bộc nuôi dưỡng bà Hai Mù vì bà không có con cháu, cho đến khi bà chết.
- Tui là chuyên viên tiếp tế gạo, nước mắm, than củi … cho bà Hai Mù đây chớ ai.
- Có máu làm cách mạng.
- Tại mê ba, ba bỏ về thành, làm má phải theo, nhưng trong bụng còn ấm ức lắm, kể chuyện trong chiến khu hoài.
- Bởi vậy mới bị “mấy ổng” lừa cho một trận, thâu mua hết trơn mùa gặt năm đầu ở dinh điền Tánh Linh rồi chỉ trả bằng tờ giấy chứng nhận.
- Bao nhiêu vốn liếng tiêu tan, nợ nần chất đống. Tụi mình cũng lao đao nghiêng ngữa theo. Có khi nhà ăn cơm với cá nục kho và canh bí rợ suốt mùa, ngán tận cổ.
- Nếu không vì ba chị là má đi tập kết hồi năm năm mươi tư mất tiêu rồi.
- Thì tui được bú sữa Gi-Gô
- Ở đó mà bú sữa Gi-Gô. Bú nước cháo pha đường cho lớn không nổi luôn. Một mình ba làm sao nuôi nổi ba đứa con thơ con dại.
- Thì đâu có thằng con trai đầu to lưng bự, tay chưn thòng lòng.
- Ba ém tài má.
- Hay là ba có khả năng dung hòa được cái máu làm cách mạng và máu nghệ sĩ của nhà ngoại trong má, biến thành máu kinh doanh, máu cầu tiến.
- Lý thuyết này nghe sao mơ hồ, không có căn.
- Má có máu kinh doanh nhưng không có máu bà nội trợ đảm đang như dì Năm, dì Bảy, dì Chín .
- Quần áo chồng thì bỏ tiệm giặt ủi.
- Nấu ăn cũng không điêu luyện.
- Không biết thêu thùa đan may như mấy dì.
- Cần gì làm bà nội trợ đảm đang. Có người làm, có thì giờ dẫn con đi coi xi nê, đi coi cải lương… và có thì giờ làm thơ… bắt con cháu học thuộc. Đứa nào thuộc một bài thì cho tiền.
- Có thì giờ mê đánh bài tứ sắc nữa chớ.
- Cũng lạ há! Ba với má mỗi người một tánh, một đam mê, thế mà sống thiệt là thuận hòa. Người thì cầu an sống đời công chức, chỉ biết vui thú với sách báo, bàn cờ. Người thì xông xáo ngoài thương trường, không bao giờ chịu bằng lòng với công ăn chuyện làm đang có. Lúc nào cũng tìm cách cải tiến, đổi mới.
- Bởi vậy nhịp sống kinh tế nhà mình lên dốc xuống dốc đều đều, làm cuộc sống tụi mình cũng lao đao theo mà má là chủ chốt.
- Nhưng có khi nào mi xin tiền mua sách, mua truyện, đóng tiền học thêm, đi xi nê… mà má không cho chưa? Dầu cho nhà đang hồi thất bại. Má chịu chơi ở chỗ đó.
- Má còn có mộng cho con học cao nữa chớ.
- Ba học cao hơn má nhưng không có mộng cao bằng má. Đứa thì má muốn cho học dược sĩ để mở tiệm thuốc tây, đứa thì học bác sĩ để mở phòng mạch, đứa thì học làm giáo sư để mở trường học… bất kể gái hay trai.
- Má có ý định đầu tư vô lủ con mà. Không biết ai sẽ đạt được ước nguyện cho má đây, không phải tui à nhen.
- Tui thấy má tiến bộ lắm về phương diện nam nữ bình quyền.
- Cái này ta nghĩ má bị ảnh hưởng ông ngoại, ba mình. Con gái nhà ngoại ai cũng được cho đi học đâu có thua gì con trai.
- Ngoại trừ má vì má là con gái lớn, phải phụ bà ngoại buôn bán
- Còn chủ trương của ba là “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, dù trai hay gái đều phải có một nghề để tự nuôi thân, nhất là con gái, sẽ không bị lệ thuộc vào chồng. Mình có bao giờ nghe ba hay má nói “con trai của mình….” lần nào đâu.
- Bởi vậy ông Hoàng, con trai trưởng mà không được ưu tiên cái gì hết. Nhóc Hưng nhà mình cũng đâu có được cưng chiều hơn ai.
- Mà lạ lắm nghen. Tui để ý thấy ba không bao giờ chở má đi dạo trên cái xe mô-bi-lếch cà bịch cà tang của ba há!
- Không đi chung chớ nói chi đi dạo chung.
- Vậy chớ mi có thấy vợ chồng bác Chỉnh, vợ chồng chú Sáu Sang, vợ chồng cô Ba, có ai đi chung nhau ra đường lần nào chưa?
- Hi…hi…chắc thời đó còn mắc cở.
Má chúng tôi đại khái là như vậy đó, người đàn bà phong phú đa tài đa dạng, nhất là óc tổ chức và tài suy diễn, tính nhẩm. Cái tài tính nhẩm thần khốc, đã từng cho lủ con giỏi toán, ông chồng thông thái đo ván.
Công việc mua lúa từ xe này đến xe kia (“Xe” là đơn vị để chỉ số lượng lúa, chừng một trăm giạ thì phải, khoảng tám bao bố), trử lúa ở nhà máy để xay gạo bán dần quanh năm, tính toán lời lãi để định giá lúa, giá gạo… thế mà bà không hề dùng bút giấy.
Đong lúa xong, nhà một nông dân ở Ngã Hai, bà bắt đầu tính cho nhà nông:
- Một xe giá ba ngàn sáu, năm nay nhà chú được hai xe bốn chục giạ, vị chi là… ba ngàn sáu, ba ngàn sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu…
Trong khi anh con trai của chú thím nhà nông tìm giấy viết, chưa kịp ghi thì bà nói:
- Tám ngàn sáu trăm bốn chục. Chú thím mượn trước hai ngàn rưỡi, còn lại sáu ngàn một trăm bốn chục.
Chú thím nhà nông nhìn, chờ cậu con trai thông thái loay hoay tính, mười phút sau, gật đầu.
Mỗi tối, chị em chúng tôi thường quây quần ở nhà trong vì phòng này rộng, thoáng mát, đủ chỗ cho bộ ván ngựa, cái giường, cái bàn ăn, cái võng vải bố… cả chỗ giặt đồ và hồ nước. Người nằm trên bộ ván gõ đọc truyện, người đu đưa chiếc võng hát vu vơ, người ngồi co rút chân ở góc gường đọc truyện hình, vài ba người chơi cờ cá ngựa… Ba ngồi dựa lưng ở cái ghế bố đọc báo, má ngồi bệt ra nền nhà xi măng soạn vá mấy cái bao bố để ngày mai xay gạo ở nhà máy lớn. Chị Hai Cao đang bớt lửa nồi chè đậu xanh hột nấu với đường tán ở phía sau bếp. Con Tư ngưng đọc truyện hình, nói trống không:
- Lạ há, má với chị Ba cùng tuổi con rồng, cách đây mười hai năm, hồi má mới sanh chị ba, tuổi má gấp tuổi chị Ba hai mươi bốn lần. Bây giờ mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp ba lần tuổi chị Ba.
Chưa ai kịp nuốt trôi ý tưởng bất chợt khá rắc rối của con Tư thì má lên tiếng:
- Mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp hai tuổi con Ba thôi.
- Hở ?
- Hả ?
- Ờ há !
Ba cười cười, tiếp chuyện:
- Theo cái đà này, mười hai năm sau nữa, má mày bằng tuổi con Ba.
- Ông nói sai bét. Chừng đó tuổi tui gấp năm tuổi con của nó.
- Trời ! ! !
Và óc tổ chức thì cho đến nay tôi vẫn tự phụ là tháo vát những lúc gia đình có tiệc tùng, những lúc nhận chịu trách nhiệm tổ chức này nọ ở sở làm…, nhưng so với má tôi, trong thời buổi không có điện thoại, không tự lái xe, không có chuyện đặt hàng, bà có bảy đứa con, tôi chỉ có hai nhóc tì…, tôi thua xa Bà. Cứ mỗi dịp Tết, đám giỗ ông nội bà nội là chúng tôi phải phục má, ba tôi cũng vậy. Từ khi bà nội mất, ba tôi lãnh phần cúng giỗ. Tiếng là ba tôi nhưng má tôi lãnh trọn bộ, hình như ba không đụng tới móng tay, chỉ tiếp trà các ông các bác từ Đại Nẫm xách dù xuống ăn giỗ nhà tôi và trong bụng bao giờ cũng chờ một gói xôi vị nếp than đặc biệt do má tôi nhét vô giỏ làm quà buổi chiều trước khi về. Mỗi lần có giỗ, giỗ ông nội, giỗ bà nội là má tôi chuẩn bị một cách âm thầm đủ mọi thứ, nếp, rượu nếp, đậu, mượn người nuôi heo chia đôi từ sáu tháng trước, gà vịt mua về nuôi cho mập cả mười ngày. Trước ngày cúng tiên, mấy người mối lúa của má tôi từ Ngã Hai, Phú Hội mang trái cây, rau cải, bông hoa… để từng rổ ở nhà sau, như má đã đặt từ lâu. Tiệc giổ năm nào, bà con nội ngoại từ Đại Nẫm, láng giềng hàng xóm làm đầy dãy bàn ngoài phòng khách, hai bộ ván và bàn ăn nhà sau.
Còn Tết thì khỏi nói. Mọi sự được chuẩn bị chu đáo, bánh tráng, nếp nổ, rượu nếp than, heo nuôi chia, gà vịt… rộn rịp từ giữa tháng chạp… cho tới những phong bì lì xì lớn nhỏ theo tuổi cũng đã được nằm sẵn trong túi áo má tôi trước ngày mồng một. Quần áo mới cho chúng tôi cũng được đặt may cùng lúc, cất trong tủ, từ tháng mười một. Cúng giao thừa xong thì coi như chỉ việc ngã lưng ăn tết. Bánh, mứt, cốm, măng kho, thịt kho, bánh tét, củ cải chua, củ kiệu chua, rượu nếp than, cơm rượu, cây mai, chậu cúc, chậu vạn thọ… đâu ra đó, tươm tất cho đến mười giờ khuya đêm ba mươi bà mới yên tâm ngủ để chờ cúng giao thừa. Không những sắp xếp từ trong ra ngoài cho cái gia đình với lủ con bảy đứa, cộng thêm vài đứa cháu, má tôi còn chu cấp cho nhà nội, nhà ngoại món này thứ kia để ăn Tết. Ngay cả tiền cho ông ngoại đánh bài mấy ngày Tết, năm nào cứ đến trưa ba mươi là má tôi sai chị Ba đạp xe đem lên cho ông có mà vui chơi.
Trước ngày khai trường mỗi năm chừng nửa tháng là tập vở đã được chất từng chồng cao trên bàn học chung. Mỗi đứa hai bộ quần áo mới để đi học, một bộ để bận ở nhà đã được đặt may cùng lúc.
Mùa Tết Trung Thu thì dây sóng lá, hồ, giấy màu… một chiều nào đó được má bày trên bàn học, thế là cả tuần đó tụi tôi mặc sức mà trổ tài làm lồng đèn. Năm nào má tôi cũng hợp tác với gia đình chú sáu Sang, bác Sắc để lủ con nít chúng tôi gần hai chục đứa cứ đến đêm Trung Thu sau khi đi diễn hành lồng đèn với trường ở vườn bông lớn, tụ họp lại để được chia bánh kẹo và một màn văn nghệ bỏ túi do lủ nhỏ chúng tôi tự biên tự diễn với sự khuyết khích của người lớn đang ngồi uống trà ăn bánh trung thu, loại bánh đắt tiền nên chúng tôi mỗi đứa chỉ được một góc tư cái bánh.
Đó là những chuyện lớn. Còn biết bao chuyện nhỏ hàng ngày trong gia đình mà má tôi, một người rất bận rộn ngoài thương trường, đều được má chuẩn bị đâu ra đó. Không biết má tôi có hiểu thấu đáo chữ “tập thể” hay không nhưng mọi sinh hoạt gia đình tôi đều mang bóng dáng tập thể, có lẽ vì con đông, má tôi bận rộn mà lại rất chu đáo, nên phải làm chung được cái gì thì làm. Ngay cả chuyện đánh đòn, tụi tui cũng bị ăn đòn tập thể, lủ con nhớ đời. Nghĩa là một ngày đẹp trời nào đó, má kêu sáu đứa con lên nằm xếp hàng trên bộ ván gõ ngoài phòng khách, mặt úp xuống. Má bắt đầu nhịp nhịp cái roi, với giọng thật bình tỉnh ngọt ngào, bà kể tội từng đứa, răn dạy kèm theo vài cái roi làm đứa nào đứa nấy nước mắt ròng ròng mà tai thì vễnh nghe lời kể tội hấp dẩn cho “nạn nhân” kế tiếp, ngay cả “nạn nhân” cũng không nhớ là mình bị tội gì. Đánh đòn chung cho đỡ mất thì giờ và chắc cũng để nhắc nhở lủ con cái quyền lực của bà, vì công ăn việc làm, bà phải giao hết chuyện ăn học, giáo dục lủ con cho ba tôi. Biết bao nhiêu chuyện…. Khả năng tổ chức của bà được thi thố từ ngày thường cho tới ngày giỗ, ngày Tết, lễ hội…
Có một điều làm tôi bận tâm nhất khi tôi đã làm mẹ, biết chăm sóc cái gia đình nhỏ bé của tôi, là nhớ lại những lần ba dẫn chúng tôi đi chơi hoặc ở Đá Ông Địa, hoặc ở Rạng, không bao giờ có mặt má tôi. Lúc đó chúng tôi coi đó là một điều tự nhiên.
Sáng chủ nhật đẹp trời nào đó, ba tuyên bố buổi nay cho mấy đứa nhỏ đi tắm biển ở Đá Ông Địa. Thế là chúng tôi rộn rã thay cái quần phồng, hai chị lớn thì mặc thêm áo cánh ở trong. Má tôi mướn xe lam từ lúc nào không biết, xịch xịch đậu trước nhà, chúng tôi dành nhau ngồi ngoài, không ai quan tâm là má có đi hay không. Buổi trưa, tắm, chơi, rượt bắt cua bắt còng đã đời, chị Hao Cao dọn cơm vắt ăn với muối mè hay thịt ram mặn.
Món cơm vắt của má tôi lúc bấy giờ ngon không thể tưởng. Món này bao giờ cũng tự tay bà làm. Cơm gạo dẻo có trộn chút muối, một cái khăn trắng mỏng đủ ướt. Bà trải khăn ra mâm, đổ cơm nóng lên khăn, cuốn nhanh lại, dằn, bóp chặt cho đến khi ổ cơm vắt tròn đều dài độ gang tay, đường kính độ sáu centimet. Mỗi ổ bánh được gói chặt bằng lá chuối đã được hơ nhanh qua bếp nóng. Đến chừng ăn thì cắt ra từng lát như bánh tét. Đôi lúc, bà nổi hứng, bà vắt cho mỗi đứa con một vắt, gói riêng cho từng đứa. Đó là lúc chúng tôi sung sướng nhất khi được chị Hai Cao đưa chia những ổ cơm vắt nho nhỏ xinh xinh, chỉ của riêng mình.
Ăn ngon, tắm mát, đùa giỡn thỏa mãn nhưng không ai trong chúng tôi thắc mắc là: Má đâu? Sao má không ra đây nghỉ ngơi như chị em mình, như ba? Má không cần những ngày nghỉ ngơi sao? Mặc dù mọi việc đều do bàn tay sắp xếp của má! Âm Thầm! Làm sao má chúng tôi có thì giờ tham gia vào những giây phút vui chơi của các con? Cả ngày! Nhưng mọi điều kiện để cuộc vui được toàn mỹ đã do má tôi chuẩn bị chu toàn. “Lòng Mẹ” của bà là thế đó! Một đề nghị của ba tôi dành cho lủ con là bà nhanh chóng chuẩn bị, hưởng ứng hết lòng… chỉ cần giúp lủ con học giỏi thêm, tẩm bổ đầy đủ hơn, vui chơi thoải mái hơn, phát triển toàn diện hơn là bà không ngại khó nhọc, không ngại tốn kém.
***
Sau năm bảy mươi lăm, chỉ là một công chức nhỏ, ba chúng tôi không phải đi ở tù như những người khác, nhưng ông xin nghỉ việc, không muốn cộng tác với chính quyền mới. Với ông chồng chán thời, với lủ con học hành bấp bênh, má chúng tôi một mình lèo lái nhịp sống gia đình trong cơn sóng gió chung của toàn miền Nam. Mặc cho ông chồng mang nặng tư tưởng “phản động” tránh né chính quyền, tránh né hội họp. Mặc cho lủ con bất bình ngấm ngầm chống đối, tưởng không thể đội trời chung với quan thày Cộng Sản. Một mình má tôi bắt tay làm hòa với những hống hách theo thời của người hàng xóm bỗng chốc trở thành tổ trưởng, tổ phó. Một mình bà thu xếp trả công cho hàng xóm đi làm thủy lợi thay lủ con sáu đứa. Một mình chạy chọt cho thằng con trai út không bị đi nghĩa vụ qua Campuchia…
Má chúng tôi âm thầm ôm nỗi buồn thế sự của ông chồng đã một mình về quê dùng bàn tay thư sinh biến ruộng hoang thành mảnh vườn làm căn bản cho lủ con tìm đến nương thân khi tình thế đi vào đường cùng. Âm thầm cưu mang những ý tưởng phản động ngấm ngầm của lủ con trước bao bất bình. Âm thầm tìm mọi phương cách chống đỡ, xoay trở, bao che để chồng mình, con mình không phải trực tiếp đối đầu với chính quyền mới.
Sống với Cộng Sản, sống với bất bình, gây gổ với cấp trên, chống đối, cứng đầu,… chẳng làm được gì, chẳng dám có ước mơ vượt biên như mọi người vì lủ con hiểu rõ hoàn cảnh kinh tế gia đình. Để rồi một cuối tuần, lủ con như thường lệ, về nhà để được tẩm bổ, bà tuyên bố: “Má lo được một chỗ đi vượt biên, các con ai muốn đi trước? Đi được một đứa là lần lượt đứa này lo cho đứa kế.”
Chuyến đó không thành, nhưng ý tưởng vượt biên tìm đường thoát đã mở đầu cho chục chuyến về sau, bao nhiêu vốn liếng làm ăn của bà mất hết đợt này sang đợt khác. Cuối cùng thì lủ con trốn thoát. Lủ con ra đi, không một quay lưng nhìn lại để nhận mang theo hình ảnh má mình đứng dựa gốc cây me nhà ngoại, cố nhón chân nhìn theo bóng ba đứa con gái mất dần mất dần trên đường xuống bãi chiều hôm đó, mất và không bao giờ còn gặp được nữa. Lủ con ra đi không một vấn vương về sự mất mát đớn đau mà ba má mình sẽ nhận chịu.
Bây giờ, trong những lần quay quần bên nhau đốt lò hương cũ, nhìn lại những sinh hoạt trong cái tiểu gia đình của chính mình, chị em chúng tôi thường lắc đầu bái phục má chúng tôi, thắc mắc không hiểu làm sao bà có thể đảm đương nhiều chức vụ cùng một lúc: Bộ trưởng bộ Kinh Tế, bộ trưởng bộ Ngoại Vụ, bộ trưởng bộ Nội Vụ, bộ trưởng bộ An Sinh, bộ trưởng bộ Y Tế, bộ trưởng bộ Xã Hội…. Ba tôi tiếng là thủ tướng nhưng chỉ được tài đề ứng, tài bàn… sau đó là má tôi lãnh hết, thu xếp hết, không cần bàn tới bàn lui, trong sự tin tưởng tuyệt đối của thủ tướng và toàn dân. Hai cánh tay vươn những ngón thon dài của bà vẫn mãi mãi cố gắng thu xếp mọi ước muốn nhỏ lớn của lủ con đã thành gia thất, sống xa bà ngàn dặm, cho đến ngày hôm nay, mọi sự. Thế mà chúng tôi, không ai thực hiện nổi, không ai cố gắng tận lòng để những ước mơ của bà được hoàn mỹ, không ai thành bác sĩ, dược sĩ, giáo sư để bà mở phòng mạch, tiệm thuốc tây, trường học.
Sống trong ngành giáo dục lâu năm, tôi mới nhìn nhận rằng má chúng tôi là một nhà giáo dục thật là thực tiển, không cần tốt nghiệp một trường Sư Phạm nào, không cần nghiên cứu, không cần tham khảo một quyển sách nào. Cùng với chồng, bà biết tạo đủ mọi điều kiện để lủ con được lớn lên trong không khí gia đình thuận hoà êm ấm, tuổi trẻ phát triển vững bền và tự tin, một nền tảng căn bản cho mọi đứa trẻ bất cứ giàu nghèo.
Bà không giỏi đan thêu, bánh mứt, nhưng chúng tôi, bốn người con gái của bà khéo léo chuyện nội trợ không kém một người bạn nào. Học nữ công ở trường, học lóm bạn bè, học qua dì Chín, chúng tôi muốn làm món bánh, đan cái áo, thêu cái khăn bàn, móc cái màn cửa, may cái áo kiểu mới… chỉ cần xin tiền là bà sốt sắng cho, không hỏi tới hỏi lui. Tôi nhớ hồi năm học lớp chín, tôi mới học may trong những giờ nữ công với cô Nhan, tôi tìm lục trong tủ ra một sấp vải má tôi mua để dành may áo Tết. Tôi loay hoay cắt may một cái áo bà ba cho má, vạt áo dỉnh ra ngoài, cổ áo chật phải sửa tới sửa lui thành rộng tênh… vậy mà bà mua thêm hai xấp vải nữa biểu tôi may cho bà. Quả thật, đến cái áo thứ ba thì áo đẹp không thua gì đưa tiệm may. Và tôi trở thành thợ may của gia đình, đồ bộ, áo dài, quần tây, pyjama… cở nào tôi cũng thử tài, xấu có, đẹp có, nhưng ai ai cũng thỏa mãn. Kinh tế gia đình có xuống dốc đến độ nào đi nữa thì cái máy may hiệu Singer bao giờ cũng hiện diện trong gia đình chúng tôi. Sau năm bảy mươi lăm, tình hình kinh tế cả nước xuống tận cùng, nhờ cái khéo léo may vá tự học và cái máy may Singer, có lần tôi dự định mở tiệm may kiếm sống qua ngày. Cái khéo léo của chị em chúng tôi không do má dạy bảo nhưng do má tạo điều kiện tốt để phát huy và phát triển.
Có một lần, tôi và người chị kế than với nhau:
- Bác Chỉnh gái ở nhà, tụi Minh Thảo, Minh Thu, có chuyện gì cũng hỏi ý má nó. Bà Minh Thảo rả đám với bồ, bác Chỉnh gái dỗ dành. Má mình đâu có thì giờ như vậy.
- Còn Thím Sáu Sang thì đan thêu thiệt đẹp. Ước gì mình cũng có một người mẹ khéo léo, thân mật lo cho con như vậy.
Thật bất công với má tôi! Chúng tôi không biết rằng thím Sáu Sang khéo léo đan thêu nhưng hai người con gái của thím chẳng quan tâm gì đến chuyện nữ công gia chánh, vua diện của phố Ba Mươi Căn. Thím khéo nhưng thím không tạo điều kiện cho con cái học hỏi, tập tành. Chúng tôi không quan tâm đến cảnh vợ chồng bác Chỉnh gây gổ nhau ngày này qua ngày kia đến nổi tụi con bác phải qua chơi lì nhà tôi, không muốn về nhà. Tụi nó đâu được má nó dẫn đi xi nê, đi coi cải lương. Đâu được má nó cho đi Sài Gòn chơi, lên dinh điền Tánh Linh nghỉ hè, lên Ma Lâm nghỉ hè,… hưởng những mùa hè tràn ngập tiếng cười trong tình thương gia đình, khi ở núi rừng Núi Ông Tánh Linh, khi ở miền biển ngọt Hòa Đa. Đâu được má tìm đủ mọi cơ hội để lủ con có một tuổi thơ hoa mộng bình an… ngay cả những khi nền kinh tế gia đình đang xuống dốc trầm trọng. Tôi tin là những người con của chú thím Chỉnh không ai học hành tới nơi tới chốn, người bỏ đi tu, người uống thuốc độc tự tử hụt, người thất tình bỏ nhà ra đi, vợ chồng đổ vỡ vì tuổi thơ của họ không được lót bằng hoa thơm, bằng sự bình an tâm tư.
Như thế đó, hợp tâm với chồng, má tôi đã cho chúng tôi một tuổi thơ an bình, chúng tôi được nuôi dưỡng bằng tình thương chân thật và tận tụy. Chúng tôi tin tưởng rằng tình thương chân thật và tận tụy chúng tôi được thừa hưởng đó, là một gia tài to lớn vô hình, vô giá, làm hành trang cho cuộc đời chúng tôi. Những người con của Ông Bà đang cố gắng san sẻ cái diễm phúc đó với cái gia đình nhỏ bé của mình để tuổi thơ của các con cũng được lót bằng hoa thơm. Thật đúng như Sidney Harris đã nói: “Ngoài những lề lối, nề nếp sống ra, kỷ niệm đẹp (tốt) là những gì tốt nhất, ta có thể truyền đạt cho con cháu”. Và thành ngữ “đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn” cũng rất đúng trong nhịp sống gia đình chúng tôi. Vợ chồng đâu cần phải có chung sở thích, học vấn đâu cần phải ngang ngữa nhau… chỉ cần đồng tâm đồng lực, đi cùng hướng thì khó khăn nào cũng vượt qua được.
Võ Thị Điềm Đạm

Chủ Đề Ngày Lễ Mẹ : Má tôi, người đi tìm tự do




Có nhiều điểm má tôi không giống với những người phụ nữ cùng thế hệ. Đầu tiên và rõ nhất là cái tiếng “má”. Ba má tôi đều là người miền Bắc, lớp người bỏ quê vào Nam di-cư-đi-tìm-tự-do. Gia đình tôi vẫn nói bằng giọng Bắc đặc sệt, rõ ràng từng chữ một. Nhưng tôi chỉ ý thức được điều đó năm học lớp Tư, khi lên đọc bài cửu chương. Nghe tôi đọc “chín lần một là chín” đám bạn ngồi dưới cứ khúc khích cười hoài. Hồi sau hỏi ra mới biết tại số 9 của tôi nghe không giống số 9 của tụi nó; số 9 của mấy đứa Nam Kỳ có thêm chữ “h” đàng đuôi. Ấy vậy mà anh chị em chúng tôi vẫn gọi cha mẹ là “ba má” thay vì “bố mẹ” hay “cậu mợ” theo lối thông thường của người miền Bắc. Khi tôi hỏi thì má bảo “Tại chữ ‘ba má’ nghe dễ chịu hơn”. Tôi không biết tại sao dễ chịu hơn nhưng không hỏi tiếp nữa vì cũng thích hai chữ “ba má” hơn, nhất là khi tôi dài giọng “má ơi má, con muốn...” Thì chữ má hình như hợp với cái miệng nhõng nhẽo của tôi hơn.

Má rất cưng tôi, có lẽ vì tôi là con gái út. Mà không cưng sao được vì tôi trông mũm mĩm trắng trẻo với cái mặt tròn quay, nhưng cũng còn vì tôi ngoan, nghe lời, chăm học, biết làm việc nhà. Nhà đông con, nhưng không hiểu từ lúc nào sự phân công trong nhà cho mấy đứa con đã trở thành cái lệ. Tôi tuy không phải ẵm em đến trẹo hông (như chị Hai tôi thường than thở) nhưng vẫn phải làm mấy thứ lặt vặt như phơi quần áo, rửa chén buổi trưa, và ủi đồ. Mãi sau này, khi nói chuyện với thằng bạn cũng là con út, mới hiểu người miền Bắc vốn có tính chuyên cần, thường dạy con cái chăm làm việc ngay từ lúc nhỏ. Ngày nhỏ tôi ham chơi lắm, nhìn chồng tô chén lủ khủ trong lòng thiệt ngán thấy mồ, chỉ mong sao mấy chị dễ thương “ra tay tế độ dùm em” nhưng rồi vẫn phải phụng phịu đứng rửa cho hết chồng chén dĩa.

Nhưng những công việc đó không đáng gọi là “công dung ngôn hạnh”. Công dung ngôn hạnh hiểu theo nghĩa con gái phải biết nữ công gia chánh, biết làm bánh làm trái, biết may quần may áo, lại còn biết đi đứng sao cho uyển chuyển, ăn nói sao cho dịu dàng. Nói chung, những thứ các bà mẹ thường chuẩn bị kỹ lưỡng cho con gái trước khi về nhà chồng. Má tôi chẳng bao giờ nói với tôi 3 chữ “về nhà chồng” hay 4 chữ “mai mốt lấy chồng”. Ngược lại, má phán một câu xanh rờn: “Học giỏi, làm ra tiền là xong hết!”

Vào những năm 70, lúc quần áo vẫn còn ra tiệm may hay may lấy ở nhà, ít ai ra chợ mua đồ may sẵn thì câu nói của má tôi đáng là một lời tiên tri vĩ đại, bởi bây giờ dù làm ra tiền tôi cũng vẫn không đủ tiền để vào tiệm may hay không đủ thì giờ để tự may lấy quần áo. Ra tiệm mua đồ là rẻ nhứt. Chắc chắn má tôi không có quả cầu thủy tinh, cũng chẳng phải là chiêm tinh gia Huỳnh Liên để thấy tương lai, má chỉ có ý muốn nói: “Ráng học cho giỏi để có tương lai.” Đời má đã không được học. Dù sinh ra trong một gia đình khá giàu có, ông bà ngoại tôi vẫn cho các con gái lấy chồng sớm thay vì học nhiều. Thương chồng con, má tôi tự học may quần áo, học nấu các món ăn ngon, học buôn bán, nhưng má vẫn không cho đó là những phẩm chất cao quý mà người phụ nữ phải có. Bỗng dưng, tôi là đứa được hưởng lợi nhứt nhờ vào cái “trào lưu tư tưởng” của má.

Rồi tới Tháng Tư năm 75, như bao gia đình khác gia đình tôi mất rất nhiều thứ của những ngày trước. Tôi phải làm việc nhà nhiều hơn. Rồi cũng phải tập nấu ăn, phải tập may quần áo. Chẻ củi, xách nước, chuyện nhỏ! Tôi còn vác cái thang sắt dài ngoằng đi quét mạng nhện khắp nhà thay các anh đã đi xa. Rồi tới ngày gia đình tôi qua Mỹ. Tôi không “học cho giỏi” nữa mà phải lo “làm cho giỏi”, nói theo kiểu người Việt mình là “cày 2, 3 dóp”.

Còn má tôi thì ngày kia được giấy báo được căn phòng chung cư trong một “nhà già”. Má mừng, khăn gói tức tốc lên đường “di cư” lần nữa. Lần này má hoàn toàn “tự do độc lập”. Hết còn nhức đầu vì nghĩ tới món ăn nào cho ngày mai, hết còn lo lắng đứa con nào đi sớm về trễ. Từ nay, má tôi có thể đường hoàng nói rằng mình đã hoàn thành được một nửa câu tục ngữ nước Nam: “Sống mỗi người mỗi nhà”. Sự tự do được má diễn tả thiệt thoải mái, “Tha hồ vào buồng tắm, muốn ngồi bao lâu cũng được, chả phiền ai”. Nghe dễ sợ, nhưng mà đúng!

Tới lúc này tôi mới hiểu, má tôi không hẳn cho rằng hai chữ “ba má” nghe dễ thương hơn “bố mẹ” hay “cậu mợ”, nhưng một cách gián tiếp, má tôi dùng 2 chữ “ba má” như một hành động đoạn tuyệt với cái quá khứ, cái quá khứ của một miền Bắc êm đềm nhưng cũ kỹ, đầy thành kiến, trong đó có một cô bé thông minh nhưng không được gia đình xã hội tạo cho điều kiện mở mặt với đời. Và rồi bây giờ, hành động dứt khoát “ra riêng” của má lại là cách đoạn tuyệt với cái quá khứ của một miền Nam sung túc nhưng lộn xộn, đầy thương đau. Bây giờ má tôi bắt đầu một cuộc đời mới, cuộc đời như một bà Mỹ già, tách biệt với con cái, cô độc nhưng tự do.





Má và tôi
Từ đó má thành một “đại sứ lưu động”, một tàu con thoi đi đi lại lại giữa nhà mấy đứa con. Má đáp xe bus đi chợ, đi nhà thờ, đi Hội Người Già rất nghề. Nếu như có ai hỏi đi xe bus vậy có phiền không, má đáp, tỉnh rụi: “Phiền gì mà phiền, xe đưa rước có tài xế Mỹ, còn muốn gì nữa”. Và như những người bà, người mẹ Việt Nam trên đất Mỹ, có lúc má cười khoe rằng “Mình bây giờ giỏi hẳn ra!” vì những món bánh trái khó làm như bánh khúc, bánh dày, những món nem chua, giò chả, ngày xưa ở Sài Gòn má vẫn phải ra chợ mua nay ở nhà tự tay làm lấy mà ăn vẫn thấy ngon ra phết.

Má làm thức ăn rồi tiếp tế cho các con. Chẳng phải để giữ con giữ cháu mà vì đó là cách vận động tay chân. Còn con cái đứa nào muốn đến chơi thì đến, không ai đến thì má đọc báo, coi ti vi. Má thường đến nhà tôi, ở chơi cuối tuần. Một tối điện thoại reng, thì ra bà chị dâu. Má nói chuyện với chị, câu chuyện về đứa con trai lớn của anh chị tôi, từ nhỏ không học tiếng Việt, nhưng bây giờ đi làm, ở Cali, thằng nhỏ bỗng dưng muốn học tiếng Việt. Má tôi lên tiếng “cảnh báo”, giọng sôi nổi hẳn: “Coi chừng đó con ơi, bây giờ nhiều tiếng của Việt Cộng lắm, học lầm thì nguy lắm. Như là cái chữ “bức xúc” đó. Bức xúc là cái gì? Tại sao không nói là “khó chịu lắm” hoặc “rất bực mình”. Rồi còn cái gì mà “nợ trần”? Tại sao không nói là “giới hạn mức nợ lên”? Rõ là vô duyên”.

Tôi nằm buồng bên, hình hịch cười. Nhớ lời của một người bạn làm báo, anh ta bảo nếu có lấy bài viết từ các báo trong nước đều phải đọc và sửa cẩn thận, đừng tưởng bạn đọc không để ý mà lầm to, có nhiều người đọc không chịu được mấy chữ mới của việt cộng thì sẽ không thèm mua báo luôn. Đó, “bạn đọc khó tánh” đó đang ở ngay trong nhà tôi đây nè. Nhưng nói cho ngay, chính tôi cũng rất “bức xúc” vì cái chữ “bức xúc”, nghe kỳ kỳ thế nào, nó làm tôi nghĩ tới một cảnh quái quái, cứ như là vì trong người khó chịu bực tức quá mà phải bứt cả nút, xút cả áo ra. Tôi dù khó chịu bực mình cách mấy cũng nhất định không “bức xúc”.

Rồi tôi nghe má nói tới chuyện mê-đi-keo. À ra cái vụ đám lừa đảo ở Cali bị túm. Má đọc báo hàng tuần nên theo sát tin tức thời sự lắm. Má kể cho chị dâu nghe, giọng hào hứng thấy rõ:

“Trời ơi, cái tụi đó làm trắng trợn lắm. Như năm ngoái năm kia kìa, có mấy tay tự xưng là nhóm y tế này nọ, đến hội người già của má. Họ bảo sẽ xin cho, người thì cái thắt lưng, người thì đôi giày, người thì cái gậy,… Sau đó gởi biu tính tiền Medicare. Mà đâu có ít, tính gì mà ra tới cả ngàn bạc. Vậy mà chả thấy cái giầy, cái dép nào hết. Thế là má bảo con Trúc gọi phone cho văn phòng Medicare báo cho họ biết. Con còn nhớ ông Th. không? Ông đó cũng gọi cho Medicare nữa. Mấy cái tụi lừa đảo đó cứ tưởng bở, ai ngờ đụng phải mấy ông bà khó nhai rồi … hì hì”

Hèn chi có câu “kẻ cắp gặp bà già”, đụng tới má tôi là xong game! Gần một tiếng đồng hồ, má tôi khi im lặng nghe, khi đáp trả lời, khi kể lể, có khi còn cười to “há há há”. Dù đã hơn 80, giọng nói má vẫn không suy giảm “cường lực”, vẫn sang sảng như tự thuở nào. Tôi bỗng giựt mình nhận ra hình như tôi được thừa hưởng cái cười của má. Không những vậy, còn phát triển nó thêm lên mấy bực, nên khi nào tôi khoái chí cười ha hả mấy đứa bạn thường trợn mắt, cười gì mà cứ như xé quần xé áo người ta.

Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ thừa hưởng được tài nấu bếp hay tài may quần áo của má như các chị tôi. Nhưng các chị cũng vì thích nấu ăn, may đồ nên mới học mấy thứ nữ công gia chánh đó chứ họ vẫn được học chụp hình, học vẽ, học thể dục thẩm mỹ cơ mà. Những đứa con gái của má được học những thứ mà nó thích chứ không phải những thứ để làm vừa lòng người khác. Nhìn ở góc độ nào đó, các chị và tôi đã được má cho nếm mùi vị của Tự Do ngay trong lòng một xã hội còn rất nhiều gò bó.

Ở góc độ nào đó, má tôi, cũng giống như người mẹ da đen trong bài thơ “The Negro Mother” của Langston Hughes, hy vọng những đứa con rồi sẽ vươn lên từ kinh nghiệm đau thương của cha mẹ.


Remember my sweat, my pain, my despair.
Remember my years, heavy with sorrow,
And make of those years a torch for tomorrow.
Make of my past a road to the light,
Out of the darkness, the ignorance, the night.

Và câu nói “Học giỏi – Kiếm nhiều tiền” của má tôi nên được hiểu là “Nhỏ lo học, lớn lo làm, tự mình làm chủ đời mình”. Đó là quan niệm về tự do - giản dị, thực tiễn như chính cuộc đời của má tôi.Trúc Xanh


Dịch nghĩa đoạn trích trong bài thơ “The Negro Mother” (Người Mẹ Da Đen) - Các con hãy nhớ những giọt mồ hôi, niềm đau đớn, nỗi tuyệt vọng của mẹ. Hãy nhớ những năm tháng nặng trĩu khổ đau của mẹ. Và các con hãy biến những điều ấy thành ngọn đuốc cho ngày mai. Hãy biến quá khứ của mẹ thành con đường đi tới vùng ánh sáng, thoát ra khỏi bóng tối, thoát ra khỏi sự ngu dốt, thoát ra khỏi đêm đen.


-----------
NGÀY CỦA M

Các bạn Tù Z30D mà được Mẹ đến thăm nuôi... thì làm sao mà quên Mẹ được ? Xin chia sẻ.

CON TÙ - MẸ THĂM NUÔI
Mẹ tôi lặn lội thăm nuôi
Mắm cơm, thuốc lá, thư chui nước ngoài
Mẹ tôi – nói nhỏ vào tai
Toàn dân đang đói dài dài – con ơi..!
Thôi thì - ráng đợi - cơ trời
Thoát vòng lao lý - vượt khơi sau nầy
Riêng tao già chết nay mai
Còn mày phải sống - liệu xoay con cờ
Nơi  nào - Dân Chủ - Tự Do
Toàn dân Hạnh phúc - Ấm no đàng hoàng
Đừng như tụi nó huênh hoang
Tuyên truyền láo khoét – dân càng hết tin
Bây chừ – chỉ thấy nhãn tiền
Dân thì đói khổ – Đảng quyền no thôi...!
Mẹ tôi – lặn lội thăm nuôi
Mắm cơm thể hiện tình Người biển đông
Mẹ tôi chỉ nhắn đôi dòng
Mà tôi cảm thấy như rừng tinh hoa
Mẹ ơi cơm mắm muối cà
Con ăn - nước mắt - chan hòa Hàm Tân*
VÔ TÌNH
* TrạI Tù Cải Tạo Z30D - Hàm Tân - 1981

Từ Cải Cách đến Cưỡng Chế

 
 - Tôi sinh ra dưới ngôi sao xấu nên phải chứng kiến triền miên những bất hạnh xảy đến vơi đất nước và dân tộc mình. Chẳng hạn như trận dịch hạch Cải Cách Ruộng Đất trên Miền Bắc thập niên 50 của thế kỷ trước, lúc tôi vừa có trí khôn, và tai ương Cưỡng Chế Ruộng Đất đang xảy ra khắp nước, ở tuổi cuối đời. Cả hai tai họa đều do con người tạo nên, và đều có cái tên viết tắt là CCRĐ; chỉ khác ở chỗ CCRĐ xưa và CCRĐ nay ở tầm cở mức độ “hoành tráng”.

Tôi còn nhớ như in ánh mắt kinh hãi của mẹ tôi cái buổi tối bên ngoài trời mưa phùn gió rét, đang ngồi bên bếp bị du kích xông vào nhà thúc ép đi xem buổi đấu tố ông Lý Thưởng là người bà con mẹ tôi gọi bằng cậu. Mẹ tôi nghe đến hai chữ đấu tố là kinh hoàng vi mới đây dì Bang ngoài Hà Tĩnh bị đấu tố giết chết. Cảnh đấu tố diễn ra sao thì ngày nay ai cũng đã biết được phần nào sự dã man khủng khiếp của nó rồi. Điều tôi muốn đề cập nơi đây là sự thay đổi quá dễ dàng của lòng dạ con người.

Làng Yên Phú bên bờ La Giang không giàu như cái tên gọi, nhưng từ khi có trí khôn, tôi biết được dân làng sống với nhau rất yên hoà và thuận thảo. Vậy mà chẳng bao lâu sau ngày có đám người lạ mặt đầu nón cối chân dép râu, bên hông mang kè kè cái xắc cốt về “phát động phong trào quần chúng đấu tranh”, họ trở ra e dè với nhau rồi có những kẻ đối xử với nhau thậm tệ hơn loài thú... Những người bần cùng nhất làng được đoàn cán bộ Cải cách ưu ái chiếu cố. Chẳng hạn bà X ... là chỗ đi lại thân tình với gia đình tôi một hôm khoe với mẹ tôi bà được học tập để đấu tố địa chủ. Mẹ tôi sửng sốt bàng hoàng song không dám ngỏ lời khuyên can. Bà X khoe tiếp là, sau khi đấu tố bà sẽ được chia phần “quả thực” là tài sản tịch thu của địa chủ. (Nhưng rồi đấu tố xong, chờ mãi không thấy gì, bà lại đến xầm xì với mẹ tôi lòng ăn năn việc bà làm).

Đó là Cải Cách... những năm xưa, người dân bần cùng hiền lành chất phác chỉ vì một lời hứa lèo mà đã thay lòng đổi dạ, quên mất mình là ai để đứng khua tay múa chân chỉ vào mặt người từng giúp mình trong lúc hoạn nạn hỏi “mày có biết tao là ai không...” rồi kể ra một lô tội lỗi do đoàn cán bộ mớm cho và tập đi dượt lại nhiều đêm nơi trụ sở xã.

Trong Cưỡng Chế thời hiện đại thì “hoành tráng” hơn nhiều. Đất đai, ruộng vườn, nhà thờ chùa chiền nghĩa trang hay bất cứ thứ gì muốn tiếm đoạt hôm nay, người ta không cần mượn tay nhân dân bần cố nữa, mà đường chính chính là Công An nhân dân, Quân Đội nhân dân, lại còn cả Côn Đồ nhân dân và Chó nghiệp vụ nhân dân. Hàng hàng lớp lớp trước sau trong ngoài.
Khác với CCRĐ xưa “đấu sĩ” trang bị... tay không, chỉ mới được hứa lèo phần “quả thực” mà đã làm như vậy. CCRĐ nay, các lực lượng “cưỡng sĩ” được hứa thật, phần “quả thực” - chưa nói đến các món thuộc “bí mật quốc phòng” không thể tiết lộ - đã nắm trên tay như cơm hộp, nước ngọt Coca Cola, nước say Heineken; lại mặc đồng phục, trang bị dùi cui lựu đạn, súng dài súng ngắn, xe trục xe ủi, thì bọn “địa chủ” như cụ già kia chúng đánh cho nằm xỉu bên lề đường; chị phụ nữ gầy còm nọ bị lôi đi như quân Du Dêu điệu Chúa Giê Su đi đóng đinh; hai nhà báo chính thống, chúng cũng khện nhừ tử, lại còn dắt về đồn là chuyện không gì phải ngạc nhiên.

Trong Cải Cách Ruộng Đất, các “đấu sĩ” thay phiên nhau từng người một, đứng trước mặt địa chủ đang bị quỳ trước toà án nhân dân kể tội, mạnh lắm là nhui đầu hay đá điạ chủ vài cái; chứ không có quyền đánh gục “đối thủ” tại trận. Trong Cưỡng Chế thì “cưỡng sĩ” một lúc vài ba ngàn quân ào ào xông tới; kết quả như mọi người thấy nơi video clip đang được phổ biến khắp toàn cầu.

Cải Cách Ruộng Đất xưa xuất phát từ chính sách chủ trương của nhà nước. Cưỡng Chế Ruộng Đất nay là do cái gật đầu của kẻ đứng đầu công ty nọ, công ty kia thuộc tư nhân. Nhưng ngọn cờ Cưỡng Chế Ruộng Đất ngày nay phất cao hơn, phấp phới hơn ngọn cờ Cải Cách Ruộng Đất 60 năm về trước, khi Việt Nam ta mới giải phóng được một nửa nước. Sở dĩ được như vậy là nhờ sự kết hợp kỳ tài giữa nhà nước với một bộ phận nhân dân ưu tú. Cứ cái đà kết hợp nhuần nhuyễn như thế này, làm cho khí thế vụ cưỡng chế sau cao hơn vụ cưỡng chế trước, chắc chắn chẳng bao lâu nữa con cháu ta khỏi phải bận tâm về chuyện tái cải cách ruộng đất nữa. Bởi vì khi đó, ruộng đất Việt Nam ta đã được bê-tông hoá, nhựa đường hoá, sân Gôn hoá, cây cảnh hóa, khu sinh thái hoá, sòng bài hoá, khách sạn hoá, vân vân hoá... và nhất là “bạn” hoá từ đất liền đến biển đảo .

Từ Cải Cách Ruộng Đất đến Cưỡng Chế, lòng người dân quê từ chỗ mộc mạc hiền lành chất phác qua truyền thống bao đời bỗng chốc biến thành dạ thú, ngày một ác độc hơn, bầy đàn hơn. Những anh Công an, chú Bộ đội, cậu Dân phòng trong lực lượng Cưỡng Chế kia, và nhất là những kẻ quyền lực đứng sau lưng, từ đâu sinh ra vậy?

Nhớ lại ánh mắt mẹ tôi thời Cải Cách Ruộng Đất khi bị du kích đến bắt đi xem đấu tố, tôi bất chợt nghe tiếng thét của bà cụ Lê Hiền Đức khi người đảng viên CS kỳ cựu này đứng trên cao chứng kiến toàn cảnh Cưỡng Chế đất của đồng bào huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên vừa rồi. Và bên tai tôi văng vẳng tiếng hát Việt Khang, “Việt Nam tôi đâu?”

Vì ai nên nỗi!
 
 
Nguyễn Bá Chổi

Chủ Đề Ngày Lễ Mẹ : Hồi Ức Về Mẹ




Đã mười mấy năm nay, mỗi buổi sáng tôi không còn nghe tiếng dép quen thuộc của mẹ nữa ở phòng bên cạnh. Cụ dậy thật sớm, quét tước nhà cửa rồi pha lấy một ấm trà, một ly cà phê, cụ ngồi nhâm nhi chờ trời sáng hẳn.
Nằm ở phòng bên này nhà, mái tôn chung, chỉ ngăn cách bằng một bức tường lửng và tấm cửa gỗ mỏng, tôi tưởng tượng ra được đủ thứ, từng công việc của mẹ. Nào là lúc cụ pha trà vào cái bình trà nhỏ xíu có hình tiên ông, ly cà phê cụ pha vào cái phin bằng đồng của tôi được người ta tặng hồi làm báo, mà bà giữ rất lâu, mấy chục năm trời. Cái phin này cụ giữ mới còn, nếu vào tay tôi hồi đó thì đã ra chợ trời lâu rồi. Thời gạo châu củi quế, cái gì cũng bán được ngoài chợ trời. Thuởấy sao mà khổ thế, sau ngày 30 tháng Tư năm 75, miền nam bại trận, tôi thất nghiệp, hết thời. Sau khi sách báo xuất bản ở miền Nam trước năm 1975 đều bị người thắng trận đốt sạch, và ký giả, nhà văn thì bị bắt bỏ tù coi như tội đồ, đổ cho nhiều thứ tội. Nhà báo, nhà văn chúng tôi bị kỳ thị ra mặt, bị coi như cùi hủi. Những nhà báo nhà văn chếđộ cũ, còn một chút gì trong đầu phải tự gác bút mà thôi, tôi ở trong số người ấy. Niềm đau ấy còn mãi đến bây giờ. Mặc dầu tôi từng được công an khuyên nên quên đi để xây dựng đất nước, nhưng làm sao tôi quên được, khi niềm đau của tôi vẫn còn mãi trong ký ức. Bao nhiêu là đám giỗ của người thân quen vào ngày 30 tháng Tư, mà phải đổi lại ngày âm lịch là ngày 19 tháng Ba năm ấy, để khỏi bị làm phiền, trong khi người ta ăn mừng chiến thắng tưng bừng, cờ xí rợp trời và những phát biểu của vị nguyên thủ quốc gia cùng những người có công trong chiến thắng ấy. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng và thống nhất, mang lại hoà bình cơm no, áo ấm cho toàn dân. Sao những người như tôi vẫn thấy đau, vẫn khốn khổ. Vì nhiều thứ, từ những cuộc chia ly người gia đình, mà tưởng chừng như không bao giờ còn gặp lại nữa và tiễn những người thân vượt biên ra đi, để có người còn trở lại, có người vĩnh viễn nằn dưới lòng biển đông.

Những buổi sáng như thế, ởấp Đông Ba xưa, nay là phường Bẩy quận Phú Nhuận. Căn nhà xưa của gia đình, mẹ tôi gìn giữ nó, không để cho bị tịch thu, vì anh em tôi đều bịđưa đi học tập cải tạo hết rồi. Mẹở một mình trong căn nhà ấy, đồđạc trong nhà có gì bán dần, bán mòn đi đểăn và thăm nuôi hai anh em chúng tôi trong trại học tập. Cụ lặn lội vượt hàng trăm cây sốđường rừng đểđến với con, những đứa con tù tội khốn khổ của bà. Tới trại tù, trước khi được thăm nuôi người ta dạy mẹ tôi và những thân nhân thăm tù, gặp mặt phải khuyên bảo và giáo dục những người tù như chúng tôi câu: "Con ráng học tập tốt rồi nhà nước nhân đạo, khoan hồng tha cho về xum họp với gia đình".
Bây giờđã mấy chục năm qua, khi ai nhắc hoặc nghe lại câu này tôi vẫn có cảm giác muốn buồn nôn. Tôi biết sau khi phải học vẹt như thế thì họ mới cho thăm nuôi con mình, không biết cụđã nghĩ gì. Nhưng có lẽ mẹ tôi rất là đau khổ, tôi chỉ biết thương mẹ và cảm ơn mẹ, khi mẹ gầy hốc hác ngồi trước mặt tôi. Không chừng mẹđã phải nhịn đói, nhịn khát để mang miếng cơm vào cho con. Một chút gạo, quí giá như những hạt châu ngọc. Vậy mà tôi từng bị tịch thu những hạt gạo ấy, bỏ vào kho, hoặc cho ai ăn không biết, có thể là mấy thằng khốn nạn, có thể lợn gà. Với mẹ, tôi vẫn là đứa con nhỏ bé, dù tôi đã lớn, đã trưởng thành, nhưng những hạt cơm của mẹ cho, tôi coi quí giá như những hạt châu ngọc. Vào thời tù tội đó, mỗi khi ra cổng trại đểđi lao động và thoáng gặp những bà mẹ tay xách, nách mang đi thăm con. Tôi lại giấu những giọt nước mắt của mình, lúc đó tôi rất nhớ mẹ tôi.
Tôi và những bạn bè có những nỗi đau giống nhau, có thể họ có những mất mát lớn hơn tôi nhiều, vậy mà chúng tôi vẫn cố gắng sống, chỉ người nào chịu đựng không nổi nữa thì chỉ còn một lối thoát là chết hoặc câm lặng để sống mòn. Tôi không đủ can đảm nên chọn cách sống mòn và mấy chục năm qua, tôi đã là một lão già ốm đau dặt dẹo, gần đất xa trời, chưa biết bao giờ thì xa lìa trần thế.
Nhận được tin sét đánh mẹ ra đi do bạn tôi (Từ, Nhã) báo tin qua điện báo, tôi rất buồn. Hồi ức về mẹ sống dậy trong tôi.
Tôi tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, giắt díu vợ con về sống bên mẹ, trước những ngày mẹ sẽđi nước ngoài do em gái tôi bảo lãnh cho cụ. Tôi là người không có hộ khẩu, không có gì hết ngoài tờ giấy ra trại, và cũng đã từng bịđuổi khỏi nơi cư trú vì không có quyền công dân. Nhưng tôi cứ liều trở về ngôi nhà cũđể sống bên mẹ, dù có bị kết tội là "cư trú bất hợp pháp trên căn nhà mình làm chủ". Và sẵn sàng khăn gói quả mướp đi tù thêm một lần nữa, nếu họ muốn bắt tôi về tội ngoan cố hoặc chống đối gì đó, tôi cũng thây kệ cha nó!
Buổi sáng khi tôi nghe những tiếng động và tiếng dép của mẹở phòng bên cạnh, ngăn cách bằng một bức tường lửng, cánh cửa thông sang. Tôi cũng thức giấc, sửa soạn cho một chuyến đạp xe thồ xuống tận Long An buôn vài giạ gạo để kiếm tiền chênh lệch về nuôi vợ con. Thằng con trai út của tôi, thằng Cua, lẫm chẫm xách bị quần áo của cụ, mà vợ tôi giặt chiều qua mang ra trước cửa sổđểđưa cho bà nội. Con chó Ki của bà nội, lẩn quẩn bên chân bà mừng rối rít. Nó phởn phơ, hạnh phúc. Nó cũng thương bà cụ, tôi biết tối nào nó cũng nằm ngủ dưới gầm giường của cụđể canh chừng. Phòng của bà cụ có cửa sổ nhìn qua hàng rào sang chùa Huê Nghiêm. Ở căn nhà này gia đình tôi đã nghe tiếng tụng niệm tiếng cầu kinh đều đều cả mấy chục năm trời, với tiếng chuông chùa buồn vang vọng lan xa tới những nếp nhà tranh cuộn mình trong khói lam chiều, và cũng từ nơi này tôi trở thành nhà văn, nhà báo.
Hồi ức về mẹ thì nhiều lắm, với một bà cụ sống gần trọn thế kỷ. Từ những ngày thơấu ở Láng ngoài Bắc, trận chết đói năm Ất Dậu, 1945, rồi ngày Hà Nội nổ súng kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, ngày mà nhiều người yêu nước trẻ ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch để trở thành chiến sĩ vô danh, những ngày chạy tản cư lên mạn ngược, bố tôi từng theo kháng chiến, mẹ tôi phải gói những chiếc bánh gai đi bán, nuôi anh em tôi thời thơ dại, tiếp tế cho bố, đang đeo đuổi cuộc kháng chiến chống thực dân. Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội, mục đích chính là để cho tôi được học hành, không phải là học để trở thành một thứ nhi đồng, sẵn sàng đấu tố cha mẹ hoặc tố cáo cha mẹ là Việt gian hoặc được dậy dổ phải căm thù tầng lớp trí thức tiểu tư sản, mà cha mẹ tôi là những người thuộc tầng lớp ấy, làm vừa lòng những ai đó đang cầm quyền sinh sát ngoài vùng kháng chiến. Bố tôi cũng trở về Hà Nội mang theo bệnh sốt rét kinh niên. Trước ngày chia đôi đất nước, gia đình tôi đã vào miền Nam sinh sống, chính xác là Sài Gòn, rồi bố tôi mất, khi đó tuổi ông còn rất trẻ.
Sau đó cuộc di cư vĩđại của người miền Bắc năm 1954, mang theo bao nhiêu bạn bè đồng hương của tôi, căn nhà gỗ lợp tôn của gia đình tôi ở hẻm Phát Diệm, mà ngày xưa có tên là sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm, vùng Cầu Kho, đã đón bao nhiêu những người bạn nhỏ của tôi, khi đó các anh còn ở trại học sinh Phú Thọ. Những bữa cơm Bắc kỳ, cà pháo chấm mắm tôm, canh cua rau đay của mẹ mời, làm các anh cũng ấm lòng, đỡ nhớ quê hương.
Chúng tôi mon men theo nghiệp thơ văn. Căn gác của tôi lưu lại biết bao nhiêu là thơ văn của Trần Dạ Từ, thơ của Đỗ Quí Toàn, nét bút tài hoa của Lê Đình Điểu, anh thường sang nhà tôi chơi, thơ lục bát của Viên Linh và nhiều những bài thơ, bản thảo của các bạn khác nữa, những bài thơ viết lên vách ván hoặc giắt trên mái tôn. Từ cửa của căn gác gỗ luôn luôn mở rộng tôi nhìn lên thấy tháp chuông nhà thờ Huyện Sĩ và nhìn xuống thì thấy con hẻm lầy lội, cái máy nước suốt ngày đông đảo người gánh, đôi khi xảy ra xô xát, cãi vã, cả chửi thề, chính anh em chúng tôi cũng phải đứng canh để xách nước cho gia đình, trong xóm lúc nào củng ồn ào, có tiếng ca cải lương của một cô gái nào đó mơước một ngày nào mình trở thành đào cải lương, sáng chói trên sân khấu, thời đó là thời của Út Trà Ôn, của Thành Được, của Hữu Phước, của Út Bạch Lan v.v.. những chuyện nhậu nhẹt ăn nói lung tung của những anh bất mãn đời vì nghèo.
Căn nhà đó không còn nữa khi mẹ tôi thất bại trong chuyện làm ăn, bà phải bếđứa em gái nhỏ của tôi đi Lào cùng với bà Dì tìm đời sống khác, tiếp tục nuôi anh em chúng tôi, dưới mắt bà chúng tôi vẫn là những đứa trẻ nhỏ dại, cần đến sự săn sóc của bàn tay người mẹ.
Ngày mẹ tôi đi Lào thật nghèo nàn, tôi tiễn mẹ ra sân bay Tân Sơn Nhất, mẹ mặc áo cánh trắng quần đen, trên tay bếđứa em gái tôi, xách theo một bị quần áo, không có lấy chiếc va ly, mẹ còn kịp cho tôi mấy chục đồng bạc, tiền bà còn sót lại không thể tiêu được ở xứ người. Mẹ tôi đi vào phòng cách ly cùng với đám hành khách đông đảo, tất cả mọi người đều ăn mặc sang trọng, riêng mẹ tôi và em gái tôi thì nghèo nàn đến thảm hại. Khi đó nước mắt tôi mới chảy ra, mẹ và em tôi khuất bóng sau cửa kính tôi mới quay đi, tôi ra bãi cỏ trước phi trường nằm ngửa mặt nhìn lên trời nắng gắt xem chiếc máy bay nào đưa mẹ và em tôi đi. Thằng em trai tôi thì ở lại sống nhờ vả họ hàng, hy vọng còn được học hành đàng hoàng. Đó là lần thứ hai trong tuổi đời còn non trẻ của tôi phải chịu đựng nỗi buồn xa mẹ. Lần thứ nhất khi còn ở Hà Nội, tôi chia tay với mẹ, để mẹ cõng thằng em trai tôi lên chiến khu tìm bố. Buổi sáng hôm ấy Hà Nội có sương mù, tôi đứng trên bao lơn ở số nhà 38 ngõ Hoà Mã, nhà của bác tôi nhìn mẹ khuất trong sương mù ởđầu chợ Hôm. Những chục năm đã qua, mẹ vẫn tần tảo nuôi con, bây giờ mẹ lại phải ra đi vì cơm áo.
Tôi dời công viên, đạp xe lang thang trên đường phố Sài Gòn, tôi chẳng thiết ăn uống gì, mặc dầu trong túi có mấy chục bạc của mẹ cho, tôi phải mang về chia cho thằng em, nó cũng cần đồng quà tấm bánh của mẹ. Thôi xa rồi những bữa cơm canh cua rau đay cà pháo chấm mắm tôm. Tôi đạp xe qua trường học, các bạn tôi đã vào lớp, hôm nay vắng mặt tôi và có lẽ sẽ vắng mặt vĩnh viễn.
Buổi chiều tôi đạp xe về khu trường đua Phú Thọ, qua con đường Nguyễn văn Thoại, còn là rừng cao su rợp bóng cây, bên phải con đường rải rác những nếp tranh toả khói lam chiều, sau lùm cây kia là xứ Nam Hoà, xứđạo của người Bắc di cư, tôi nghe tiếng chuông nhà thờ và nghe tiếng cầu kinh bài kinh Lạy Cha: "Lạy cha chúng con ở trên trời…chúng con nguyện danh Cha cả sáng…nước Cha trịđến… ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời…Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con…như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con…Xin chớđể chúng con sa chước cám dỗ…hằng chữa chúng con cho khỏi sự dữ…A men..", nắng chiều thoi thóp và tiếng cầu kinh sao mà buồn thế.
Tôi có hẹn với Hoài Nam, tức Trần Dạ Từ, ở nhà Nguyễn Nhật Duật ở Bình Thới thuộc khu Phú Thọ. Khi đó tôi đói meo, nhưng vẫn không ăn gì. Trần Dạ Từ, có lẽ từ trong trại học sinh Phú Thọ ra, hỏi tôi câu đầu tiên:
-Mẹ đi rồi hả?

-Ừ mẹ đi rồi.
Tôi trả lời thế, vì Trần Dạ Từ coi mẹ tôi cũng như mẹ anh. Tình thân ấy kéo dài suốt mấy chục năm trời cho đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn. Những đứa con của mẹ không bao giờ quên mẹ.

Tôi đói quá, hỏi Nguyễn nhật Duật:
-Nhà còn gì ăn không?
-Cơm thì hết rồi, nhưng miếng cháy làm rượu thì còn, cậu ăn tạm nhé.
Gia đình Nguyễn Nhật Duật thuởấy nghèo lắm cũng như bao nhiêu người di cư khác, ông bà phải cất rượu đi bán để nuôi bầy con. Tôi ăn miếng cháy cơm rượu sao mà ngon thế, lần đầu tiên tôi phải ăn nhờ và tôi nhớ mãi không quên.
Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, khu Bình Thới, giáp ranh với đường Lạc Long Quân là một vườn hoa nhài, người miền Nam gọi là Hoa Lài thơm ngát. Sau một chầu cà phê ở quán Con Nhạn, trong khu vườn lài, chúng tôi ra ruộng hoa lài ngồi chơi, ngắm trăng, lòng dạ tôi rối bời vì nhớ mẹ, mẹ bây giờđã ở bên Lào rồi, có lẽ mẹ cũng đang nhớđến những đứa con của cụ. Không biết đêm nay cụ và em tôi ngủ nhờ nhà ai? Bà dì tôi đã thu xếp được một căn nhà nào chưa? Tôi lại muốn khóc. Khi đưa cụđi tôi chưa khóc được, hoặc mới khóc được một ít.
Tiếng thổi tiêu tài hoa của Trần Dạ Từ cất lên vi vút, tôi nhớ tiếng sáo này khi mới quen anh ở quán cà phê Gió Bắc ởđường Phan Đình Phùng, hoà với tiếng ở cái đĩa hát đa mòn hát bài Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ. Ngày hôm sau và nhiều hôm sau nữa tôi và Trần Dạ Từ bắt đầu cuộc sống bụi đời, chúng tôi thuê căn gác ở Bình Thới, nhìn xuống con đường Lạc Long Quân, đêm đêm nghe tiếng bánh xe bò di chuyển không biết nó vềđến đâu, tiếng xe bò nghiến trên mặt đường đá âm thanh khô khốc… cái đèn bão treo ở gầm xe đung đưa. Chúng tôi không có nghề nghiệp gì, nghiệp thơ văn thì quá eo hẹp, những bài thơ của Trần Dạ Từđăng báo thì không có tiền, những truyện ngắn của tôi viết còn dở quá nên bị toà báo vứt vào xọt rác là chuyện thường. Những buổi chiều bụng hai thằng đói meo, chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch thường xuyên xẹp lốp đi kiếm ăn, đúng ra là nhờ bạn bè cũng chưa có nghề nghiệp như hai đứa chúng tôi khúc bánh mì, hoặc quí giá là bao tô hủ tíu ăn không đủ no bụng…của đứa trẻ tuổi đang lớn.
Rồi tôi nhập ngũ thời gian sau, từ trại huấn luyện tôi viết thư về cho Từ, Từ hồi âm, tôi còn nhớ câu Từ viết: "…cũng may mà cậu có cơm ăn, không còn đói như tớ bây giờ nữa, cố gắng lên…hãy ghi nhận lại tất cả." Giòng đời không xuôi chảy, sau đó tôi ở tù khám Chí Hoà mất một năm. Khu quân phạm. Mẹ tôi nghe tin từ bên Lào trở về, thăm nuôi tôi cụ mang vào cho tôi một bát canh cùng những đồăn thăm nuôi. Tôi nhớ mãi bát canh ngày hôm đó. Sau này tôi viết thành một truyện ngắn nhan đề là Bát Canh Của Mẹ, tôi trúng giải nhất của một tờ tuần báo. Rồi từđó tôi vào hẳn nghề làm báo viết văn, cùng với bạn bè ngày xưa nay cũng đeo đuổi nghề làm báo viết văn. Từđã có vợ là Nhã Ca, cũng là người làm thơ viết văn. Chúng tôi trôi nổi với nghề nghiệp qua nhiều chục năm trời. Mẹ tôi từ Lào lại về, gia đình đoàn tụ, thế là đủ…
Cho đến ngày tôi trở thành kẻ ngã ngựa, rồi tù tội, mẹ vẫn không bỏ con, bỏ những đứa con không còn nhỏ dại gì, nhưng chúng quá khổ. Tôi lại gặp cụở phòng thăm nuôi, già yếu hốc hác. Con đường rừng hiểm trở, người thăm nuôi phải vịn nhau mà đi. Dù khổ sở nhưng tôi muốn được ở mãi bên mẹ.
Buổi sáng sớm tinh mơ tôi không còn nghe tiếng dép lẹp kẹp của mẹở nhà bên cạnh nữa, những âm thanh quen thuộc mà thân yêu ấy cho đến ngày hôm nay và đã vĩnh viễn mất hẳn, như nhiều cái tôi đã mất trong đời. Mẹ tôi đã có lần hứa về thăm quê hương, nhưng sức khoẻ cụ không cho phép.
Hai giờ rưỡi sáng, tôi đạp xe đạp vào phi trường tiễn mẹ. Phi trường đêm ấy lồng lộng gió. Tiễn mẹ đi đêm ấy, tôi linh cảm thấy không bao giờ còn được gặp mẹ nữa…Dáng cụ xiêu xiêu đi vào phòng cách ly, cụ lại dúi cho tôi những đồng tiền Việt Nam còn sót lại trong túi, như hồi mấy chục năm về trước. Phi trường bây giờ mở rộng khang trang hơn trước nhiều. Vì nghĩ chẳng bao giờđược gặp mẹ nữa, nên nước mắt tôi chảy ra, tôi khóc, như hồi nào ở số 38 ngõ Hoà Mã Hà Nội ngày mẹ tôi lên đường đi tìm cha tôi ở chiến khu Việt Bắc. Ngày đó tôi cũng sợ mất mẹ như bây giờ. Ngày đó chiến tranh dữ dội, mạng sống con người không có gì bảo đảm. Quê hương tôi vậy đó.
Đoán chừng mẹ đã đi rồi, tôi đạp xe ra khỏi phi trường, ánh đèn huỳnh quang vàng dọc theo lối đi dài sao mà buồn thế. Phi trường vẫn lộng gió. Tôi đạp xe vòng sân bay qua Ngã Tư Bẩy Hiền, xuống chợ Bà Quẹo, ngồi uống cà phê ở một quán cóc bên đường nhìn lên trời lúc gần về sáng. Tôi hy vọng rằng mẹ tôi từ trên máy bay nhìn xuống thấy quê hương, thấy Sài Gòn, thấy Biên Hoà nơi để mộ phần của bố tôi. Tôi nhỏ bằng hạt bụi trong mắt cụ không thể nhìn thấy được, nhưng cụ tưởng tượng ra đứa con của cụđứng lóng ngóng ởđâu đó trong đám chúng sinh nhỏ bé này.
Nhiều buổi sáng thằng con út của tôi xách cái giỏ không ra cửa sổđứng đón chờ bà nội đểđưa quần áo giặt. Nó làm vì thói quen, vì nhớ bà nội. Con chó Ki thì bỏăn, nó nằm trên cái áo rách của mẹ tôi, về sau nó già quá rồi chết. Mười năm sau mưa gió đất xói mòn, bây giờ tôi không còn biết nấm mồ nó ởđâu, chỉ biết xương nó còn trong vườn.
Tất cả chúng con đều nhớ mẹ, bàng hoàng khi nhận được tin mẹ qua đời. Cụ thọ vào bậc nhất rồi nhưng sao tôi vẫn buồn. Cụ mất ngày 13 tháng 8 âm lịch bên Mỹ, còn hai ngày nữa là tết Trung Thu ở Việt Nam. Hôm nay ởđây tôi làm lễ phát tang cho mẹ, đúng vào ngày rằm Trung Thu, tôi e rằng trời lại mưa, như nhiều năm tôi ở miền Nam không bao giờ tôi được ngắm trăng rằm. Ở miền nam này nói đến chuyện rước đèn đêm rằm Trung Thu là chuyện hy hữu. Vì mùa này là mùa mưa bão ở miền Nam, tôi chưa thấy trăng rằm tháng Tám bao giờ trong 50 năm sống ở miền Nam. Mấy hôm nay tin khí tượng lại cho biết một cơn áp thấp nhiệt đới thổi qua đất nước tôi.
Thế mà đêm nay trời quang mây tạnh, tôi ra vườn sau ngồi pha trà ngắm trăng rằm. Tuy không sáng không đẹp như trăng rằm Trung Thu miền Bắc mà tôi đã sống thời thơấu. Tôi nhớ những đêm rằm trung thu ở Láng, mẹ tôi bầy cỗ cho tôi được chơi trò phá cỗ, rước đèn vòng quanh sân gạch. Rồi tôi ngủ thiếp đi trong lòng mẹ, trăng rằm trung Thu sáng vằng vặc.
Tuổi thơấu không bao giờ trở lại với tôi nữa. Tôi muốn khóc vì nhớ mẹ, nhưng còn nước mắt nữa đâu. Một đời mẹ gầân một thế kỷ nổi trôi theo vận nước. Những đau thương này thay cho những giọt nước mắt của đứa con nay đã già.
Rằm tháng Tám năm Gíáp Thân

NGUYỄN THỤY LONG

----------
NGÀY CỦA M

Các bạn Tù Z30D mà được Mẹ đến thăm nuôi... thì làm sao mà quên Mẹ được ? Xin chia sẻ.

CON TÙ - MẸ THĂM NUÔI
Mẹ tôi lặn lội thăm nuôi
Mắm cơm, thuốc lá, thư chui nước ngoài
Mẹ tôi – nói nhỏ vào tai
Toàn dân đang đói dài dài – con ơi..!
Thôi thì - ráng đợi - cơ trời
Thoát vòng lao lý - vượt khơi sau nầy
Riêng tao già chết nay mai
Còn mày phải sống - liệu xoay con cờ
Nơi  nào - Dân Chủ - Tự Do
Toàn dân Hạnh phúc - Ấm no đàng hoàng
Đừng như tụi nó huênh hoang
Tuyên truyền láo khoét – dân càng hết tin
Bây chừ – chỉ thấy nhãn tiền
Dân thì đói khổ – Đảng quyền no thôi...!
Mẹ tôi – lặn lội thăm nuôi
Mắm cơm thể hiện tình Người biển đông
Mẹ tôi chỉ nhắn đôi dòng
Mà tôi cảm thấy như rừng tinh hoa
Mẹ ơi cơm mắm muối cà
Con ăn - nước mắt - chan hòa Hàm Tân*
VÔ TÌNH
* TrạI Tù Cải Tạo Z30D - Hàm Tân - 1981

Bài Xem Nhiều