We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 14 May 2012

Mô Hình Sụp Đổ của Chế Độ Cộng Sản tại VN



     Có rất nhiều chỉ dấu báo trước sự cáo chung của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. Những thực trạng xãy ra tại VN hiện nay rất phù hợp và tương tự như tình hình ở Liên Sô và các nước Đông Âu trước khi tan rã. Ta thử lược qua vài chỉ dấu đưa đến sự sụp đổ của chế độ CS tại VN trước khi bàn đến sự sụp đổ này sẽ diễn ra trong bối cảnh như nào.
Sai Lầm Về Chủ Nghĩa Đưa Đến Chính
Sách Khinh Miệt Toàn Dân
     Từ ngàn xưa trong đạo trị quốc, từ Đông sang Tây bao giờ một quốc gia muốn cường thịnh, xã tắc cơ đồ muốn bền vững, cấp lãnh đạo đều phải lấy dân làm trọng. Do đó mà Mạnh Tử hơn 2.300 năm trước đã có câu “Dân vi quý, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh”. Câu nói trên có ý rằng Dân là quý (trọng) nhất, kế đến là Sơn Hà Xã Tắc (Quốc Gia) và sau cùng mới đến Vua (Người Lãnh Đạo). Đế quốc La Mã được hùng cường trong một thời gian dài cũng là nhờ biết tổ chức xã hội theo mô thức dân chủ và lấy ý kiến của dân (Citizen) làm chính sách.
     Chủ nghiã Cộng Sản, về căn bản đã không tôn trọng con người. Lý tưởng Cộng Sản là mục tiêu tối thượng trong khi con người chỉ là phương tiện thực hiện cải tạo xã hội. Phối hợp với Biện Chứng Pháp, con người rõ ràng chỉ là công cụ để thực hiện chủ nghĩa không tưởng đó mà thôi.
     Vì quá quen thuộc với cách hành xử độc đoán và coi rẽ người dân, Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc lấy dân làm gốc mà tất cả các nước Dân Chủ Tự Do đều tôn trọng. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (1) là một văn kiện xiển dương nhân quyền quan trọng nhất của nhân loại ngày nay. Việt Nam là thành viên Liên Hiệp Quốc nhưng hoàn toàn không tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này. Đó là sự khinh miệt các quyền căn bản của toàn dân Việt Nam và lừa dối thế giới.
     Từ nguyên thủy, đảng CSVN nắm quyền cai trị toàn dân không qua bất cứ một cuộc bầu cử dân chủ nào. Không một chức vụ công quyền từ thượng tầng đến cơ sở mà người dân được quyền ứng cử, ngoài trò hề “Đảng cử, Dân bầu”, kể cả Quốc Hội đại diện cho dân. Điều 83 của Hiến pháp CSVN 1992 xác định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam… Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Nhưng người dân có được quyền tự ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội hay không? Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã từng nạp đơn xin ứng cử làm Đại Biểu Quốc Hội nhưng không bao gìờ được đảng cầm quyền chấp thuận. Không cho người dân thường được quyền tham chính, đó là một sự khinh miệt trầm trọng nhất vai trò của người dân trong hệ thống công quyền của CSVN.
     Những quyền căn bản khác của người dân như quyền được biết những Hiệp Ước ký kết với ngoại bang về biên giới lãnh thổ và lãnh hải, quyền được thể hiện lòng yêu nước qua việc biểu tình phản đối ngoại bang chiếm cứ biển đảo của Việt Nam đều bị cấm đoán. Những quyền công dân khác như quyền có ý kiến về việc khai thác Bauxite gây nguy hại môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến ngưới dân, chưa kể đến vấn đề an ninh quốc gia. Việc cho ngoại bang thuê rừng đầu nguồn làm thiệt hại tài nguyên và có nguy cơ mất đất biên giới vĩnh viễn. Dự án Đường Cao Tốc vay mượn tốn kém phải trả hàng mấy thế hệ. Thất thoát tài sản quốc gia qua tập đoàn Vinashin hàng chục tỷ USD v..v… Người dân thường lúc nào cũng bị cấm đoán không được bàn tới vì đó là “bí mật quốc gia” hoặc “vấn đề nhạy cảm”. Đây là sự khinh miệt vai trò của người công dân trước sự tồn vong của đất nước. Quyền tự quyết tối thượng của dân tộc để được bảo vệ tổ quốc và bảo vệ các thế hệ tiếp nối mai sau bị ngăn cấm một cách trắng trợn.
     Những quyền căn bản khác được minh định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền luôn luôn bị chà đạp. Chẳng hạn quyền Tự Do Ngôn Luận: Cả một xã hội hơn 80 triệu con người Việt Nam tuyệt đối không có lấy một tờ báo hay cơ quan truyền thông tư nhân nào! Những quyền khác như Tự Do Tín Ngưỡng, Tự Do Tư Tưởng, Tự Do Phát Biểu, Tự Do Lập Hội v..v… hoàn toàn bị kềm chế! Đó là sự kinh miệt quốc dân và lừa dối dư luận.
Khủng Hoảng Kinh Tế Gây Ra Bởi Tập
Đoàn Bất Tài Tham Nhũng
     Việt Nam được cai trị bởi 15 Ủy Viên Bộ Chính Trị và 160 Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN. Đây là một tập đoàn hoàn toàn được bè phái cất nhắc dựa trên lòng trung thành và phe cánh nên khả năng và học vấn chỉ là yếu tố phụ thuộc. Không một Ủy Viên nào được người dân tín nhiệm bầu lên nên điều hiển nhiên là các Ủy Viên này không có bổn phận phải phục vụ nhân dân mà chỉ có nghĩa vụ với bè phái và người đở đầu mà thôi!
     Đại đa số trong 15 thành viên Bộ Chính Trị đều có trình độ học vấn rất thấp và không thông hiểu các định luật kinh tế, không có khả năng ngoại ngữ để nghiên cứu. Hầu hết chưa vượt qua trình độ Trung Học Phổ Thông nhưng theo danh sách cung cấp bởi đảng CSVN cho biết trong 15 thành viên này, 5 người có bằng Tiến Sĩ, 10 người còn lại đều có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Thật ra hầu hết đều là những bằng cấp được gọi là “Tại Chức”, có nghĩa là vừa công tác vừa học thêm. Một cán bộ cao cấp càng cần giữ thể diện với nhân dân và thuộc cấp nên vấn đề bằng cấp cũng ưu tiên thuộc về diện “chính sách”.
     Với một tập đoàn lãnh đạo toàn “trí thức” của Bộ Chính Trị đảng CSVN như vừa kể, cộng thêm quyền lực tuyệt đối không một cơ quan nào kiểm soát được, kể cả Quốc Hội, guồng máy tham nhũng mặc tình vơ vét. Từ tài sản công biến thành của riêng qua chính sách “Hoá Giá”(bán rẽ cho cán bộ), đất đai tài sản nhân dân bị “Quy Hoạch” (bồi thường rẻ mạt giống như xung công) chuyển giao cho “Tập Đoàn” gồm toàn thân nhân giòng họ của Lãnh Đạo. Cho thuê biển, thuê rừng. Đơn cử một thí dụ: Dự án “đường cao tốc Bắc Nam” sau khi hoàn tất tốn khoảng 56 đến 60 tỉ USD, nếu tính theo lạm phát phí tổn có thể cao hơn. Như vậy hợp đồng khi duyệt ký Thủ Tướng được bao nhiêu phần trăm? Nên nhớ chỉ 1% thôi cũng đã là 600 triệu USD rồi. Đó cũng là lý do vì tranh ăn nên phe “Thủ Tướng” bị thất thế tại Quốc Hội.
     Với trình độ kém cỏi và lòng tham lam vô độ như thế, nền kinh tế Việt Nam XHCN không “Xuống Hố Cả Nước” mới thật là chuyện lạ!
Khát Vọng Dân Chủ Của Toàn Dân
     Khát vọng Dân Chủ là bản năng tự nhiên của tất cả mọi dân tộc trên hoàn vũ, không riêng gì dân tộc Việt Nam. Trong lúc cả thế giới đang tiến dần đến Toàn Cầu Hóa, internet được sử dụng rộng rãi khắp mọi nhà thì tại Việt Nam và Trung Quốc tường lửa hiện diện khắp mọi nơi. Yahoo và Google bị ép buộc phải cung cấp tin tức của các nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, khát vọng Dân Chủ tại Việt Nam lúc nào cũng bỏng cháy qua các nhà hoạt động Dân Chủ, đa số là trí thức gồm Bác Sĩ, Luật Sư, Nhà Văn, Ký Giả, Linh Mục, Thượng tọa… Nhiều nhà tranh đấu bị bắt bớ, tù đày và bị quản thúc tại gia như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ… Tội của họ là yêu nước và đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho dân tộc Việt Nam.
     Các Bloggers mấy năm gần đây gần như không còn sợ hãi. Nhiều người bị bắt giam như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, anh Ba Sàigòn tức luật sư Phan Thanh Hải v..v…hoặc bị hăm dọa như Mẹ Nấm Lê Thị Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu…
    Qua những nhận định trên về tính cách độc tài toàn trị đưa đến kinh miệt người dân, tập đoàn bất tài tham nhũng khiến đất nước cạn kiệt tài nguyên, kinh tế càng khủng hoảng đời sống người dân càng khốn khó, cộng thêm với khát vọng Dân Chủ của toàn dân… Tất cả sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Câu hỏi đặt ra là: CSVN Sẽ Sụp Đổ Theo Cách Thế Của Liên Sô Năm 1990?
Boris Yeltsin tuyên bố sự cáo chung của chủ nghiã CS
     Tình hình Việt Nam ngày càng gần giống như tình trạng Liên Sô trước khi sụp đổ. Sự đổi mới nửa vời, thiếu cởi mở chính trị, tham nhũng lan tràn, đồng tiền mất gía và nạn lạm phát trầm trọng, nhất là gía cả thực phẩm lên cao cùng cực. Sự phẩn nộ của toàn dân, kể cả một số cán bộ đảng CS, gần như không còn kềm chế nổi.
     Tháng 5 năm 1990 gió đổi chiều trên Liên Bang Sô Viết. Boris Yeltsin được bầu làm chủ tịch chủ tịch đoàn Sô Viết Tối Cao (chủ tịch Quốc Hội Liên Bang) và Mikhail Gorbachev đang làm Tổng Bí Thư đảng kiêm Chủ Tịch nước. Do chính sách Glasnost (cởi mở và tự do phát biểu) và Perestroika (tái cấu trúc) mà nhóm bảo thủ chống lại Gorbachev và muốn làm đảo chánh. Trước đó một năm, Đặng Tiểu Bình, một lãnh tụ cấp tiến Trung Hoa Đỏ, vào tháng 6-1989 đã ra lệnh cho quân đội thẳng tay tàn sát phong trào dân chủ tại Thiên An Môn. Tháng 8-1991 khi Gorbarchev bị giữ tại Crimea. Boris Yeltsin và đám đông dân chúng can đảm chống lại phe “đảo chánh”. Đài truyền hình ABC phát hình toàn thế giới cảnh Diane Sawyer phỏng vấn Boris Yeltsin bên trong toà nhà Sô Viết Tối Cao trong khi đoàn chiến xa bao vây bên ngoài sẵn sàng nhả đạn. Tình hình cực kỳ căng thẳng. Một vụ Thiên An Môn thứ nhì sắp sửa xãy ra trong cái nôi Cộng Sản? Nhưng sau đó, lực lượng “đảo chánh” rút lui trước khí thế của đám đông dân chúng quyết tâm bảo vệ nền Dân Chủ non trẻ vừa mới thành hình. Chế độ Cộng Sản coi như cáo chung! Trước ống kính truyền hình, Boris Yeltsin đứng trên chiến xa bên ngoài toà nhà Quốc Hội đọc bài diễn văn trong đó có một câu để đời “Cộng Sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó”. Cả thế giới thở phào nhẹ nhõm. Thành trì Cộng Sản đã thực sự sụp đổ từ đây! Chấm dứt 40 năm chiến tranh lạnh mấy lần suýt hủy diệt nhân loại bởi vũ khí hạt nhân.
     Hiện nay Hoa Kỳ đang thay đổi chính sách tại Á Châu và nhất là tại Đông Nam Á. Hoa Kỳ đã có thái độ cứng rắn hơn với Trung Cộng trong khi xích lại gần hơn với Việt Nam. Mọi người Việt từ quốc nội cho đến khắp mọi nơi trên thế giới cùng bày tỏ niềm hân hoan và hy vọng cho cuộc liên minh và đối đầu mới này. Tuy nhiên, chúng ta vẫn hoài nghi về tính khả thi này của CSVN. Đây là một chế độ chuyên chế, độc tài toàn trị và cực kỳ tham nhũng. CSVN muốn kéo dài thời gian thống trị hết đời con sang đến đời cháu vinh thân phì gia nên ngày càng lệ thuộc Trung Cộng và càng tỏ ra nhu nhược đớn hèn. CSVN chấp nhận thà mất Nước chứ không để mất Đảng!!! Rất khó cho cấp lãnh đạo CSVN phải hy sinh quyền lực và đời sống vương giả để chịu hy sinh cho nền độc lập vững bền cho dân tộc bằng cách bước ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng. Sau đại hội 11, đảng CSVN cũng vẫn ở vào vị trí chư hầu như từ trước đến nay vì các lý do sau:
     - Chưa có một lãnh tụ CSVN nào đủ tầm vóc thực hiện đổi mới như Mikhail Gorbachev qua Perestroika và Glasnost. Người lãnh đạo đó phải dám nói “không” với CS Trung Hoa và thực hiện đúng mức chính sách liên kết với Hoa Kỳ và Đông Nam Á để bảo vệ tổ quốc. Phải chấp nhận có tiếng nói đối lập và lắng nghe đối lập. Phải bỏ điều 88 bộ luật hình sự dùng để khép tội những nhà bất đồng chính kiến và để đàn áp các Bloggers. Người lãnh tụ đó phải có bản lãnh và can đảm từ chức như Gorbachev đã làm khi Liên Bang Sô Viết tan rã. Một vài nhà phân tích ngoại quốc cho rằng Nguyễn Chí Vịnh có thể đóng được vai trò này. Tuy nhiên, hầu hết mọi người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước đều rất hoài nghi về tâm địa và thủ đoạn của Vịnh. Không khéo đây là một Lê Chiêu Thống tân thời sẳn sàng đem dâng sơn hà cho giặc…Phải chờ sau đại hội 11 để Vịnh chính thức vào Trung Ương đảng và sau đó được đề cử vào Bộ Chính Trị. Nhưng phần chắc là vận mạng dân tộc sẽ thê thảm hơn nhiều trước thành tích của Vịnh trong Tổng Cục 2 (tình báo quân đội) và những thập thò trao đổi tin tức với Cục Tình Báo Hoa Nam.
     - Cấp lãnh đạo CSVN chưa sẵn sàng từ bỏ quyền lực để chấp nhận một lãnh tụ kiểu “Boris Yeltsin Việt Nam”. Điểm qua các thành phần lãnh đạo CSVN tham gia đại hội 11 sắp tới, ta chỉ thấy xoàng xỉnh, không một khuôn mặt sáng gía nào có thể mạnh dạn đứng ra bảo vệ sự độc lập của Quốc Hội (dù đó chỉ là Quốc Hội bù nhìn được đề cử bởi Mặt Trận Tổ Quốc). Quốc Hội CSVN phải thực sự giám sát việc làm của đảng CSVN. Phải có kiến thức để hiểu biết vấn đề quốc gia. Phải lắng nghe ý kiến của giới trí thức và chuyên gia Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước. Các vấn đề lớn như dự án Bauxite rất nguy hại cho an ninh quốc phòng, môi trường và cả về kinh tế. Cho thuê đất đai biên giới và rừng đầu nguồn, hủy diệt thảm thực vật gây ngập lụt cho hạ lưu và có nguy cơ mất luôn phần đất cho thuê vì dân Tàu định cư vĩnh viễn trên đất đó. Dự án Đường Cao Tốc vay mượn phải trả đến đời con cháu cũng chưa dứt… Quốc Hội đó phải có trách nhiệm và biện pháp bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo như Hoàng Sa và Trường Sa, vô hiệu hoá các công hàm ngoại giao và hiệp định biên giới mà chính quyền CSVN đã ký kết với Trung Cộng…Tóm lại Quốc Hội đó phải có thực quyền để bảo vệ quyền lợi cho dân tộc Việt Nam chứ không phải làm bình phong cho đảng CSVN dể bề thao túng.
     Chắc chắn là chế độ CSVN phải sụp đổ. Nhanh hay chậm tùy hoàn cảnh và thời cơ. Nhưng nếu CSVN không sụp đổ một cách ôn hòa theo cách thế của Liên Sô vì thiếu lãnh đạo tầm cở và có bản lĩnh. Vậy mô thức sụp đổ tương tự nào có thể xãy ra cho CSVN ? Sau đây là những vấn nạn của chế độ này và các hệ quả của nó đưa đến mô hình sụp đổ:
1.- Lòng dân căm phẩn vì “Đại Họa Mất Nước”:
Cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Dân chúng
Romania tay không đương cự với chiến xa
     Chúng ta vẫn có lý do khi tin rằng tập đoàn lãnh đạo CSVN từ thượng tầng cho đến các cấp vẫn “mũ ni che tai”, lo tom góp tài sản riêng cho gia đình, dòng tộc để chuyển ra nước ngoài. Họ ý thức rất cao một phong trào quần chúng trên địa bàn rộng lớn sẽ nổ ra bất cứ lúc nào. Lòng dân đang nung nấu là vấn đề không thể chối cãi hay che dấu được. Với bản chất ươn hèn với ngoại bang nhưng lại tham tàn và bạo ngược với quần chúng nhân dân, đảng CSVN sẽ không đủ can đảm chọn thái độ tích cực bảo vệ tổ quốc và cải tổ chế độ cho một nền móng Dân Chủ Pháp Trị vững bền. Chắc chắn sau Đại Hội 11, CSVN lại càng thêm bộc lộ tính nô bộc đối với người thầy và cũng là ông chủ lớn Trung Quốc. Đảng CSVN không có những cá nhân đầy đủ bản lĩnh như Gorbachev và Yeltsin nên vấn đề chuyển giao quyền lực êm thấm sẽ vô phương xãy ra. Sẽ có một sự liên kết rộng rãi để hình thành một khối đại thể dân tộc trước “Đại Họa Mất Nước” (2). Xem DVD.
2. Cuộc sống người dân ngày càng lầm than
 khốn khổ:
     Do nạn lạm phát phi mã, tình hình đời sống của giới bình dân và quãng đại quần chúng cực kỳ bi thảm (3). Thống kê chính thức của nhà nước CSVN cho biết lạm phát tăng 11% các mặt hàng, riêng thực phẩm tăng 15%. Nhưng thực ra theo thống kê không chính thức của người dân cho thấy nhiều mặt hàng đặc biệt là thực phẩm đã tăng lên đến 50%. Nạn lạm phát tại Việt Nam phần lớn do dân chúng không tin tưởng vào thị trường và giới chức có thẩm quyền cấu kết gian thương đầu cơ tích trữ tạo lợi nhuận riêng. Cộng thêm hối xuất đô la lên do các “đại gia” bỏ tiền thu mua đô la nên tiền Việt Nam xuống gía 17% (gía chính thức ngân hàng công bố nhưng không có đô la để đổi), thị trường chợ đen chênh lệch trên dưới 30%. Chính phủ vội vã tăng lãi xuất lên (thông báo chính thức 9% và có thể cao hơn nữa) để chận đứng lạm phát. Đây là quyết định sai lầm tệ hại nhất khi bắt chước FED của Hoa Kỳ, thay vì chận đứng tệ nạn đầu cơ. Hành động tăng lãi xuất đó cũng chận luôn đà tăng trưởng kinh tế vốn dĩ đã èo uột rồi! Đời sống nhân dân càng khó khăn gấp bội bởi sự tối tăm của các chính sách kinh tế ngu muội và sai lầm. Hố cách biệt giàu nghèo giữa giới đặc quyền đặc lợi và quảng đại quần chúng càng chênh lệch hơn bao giờ hết. Đại đa số người dân lao động nghèo khó đang vật vã bán thân vì miếng cơm manh áo. Lòng căm phẩn dâng cao đến mức độ người dân khó thể nào tiếp tục chấp nhận được.
     Hàng triệu công nhân làm việc cho các công ty cả nội địa lẫn ngoại quốc đang bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ và bị chèn ép, hành hạ bởi giới chủ nhân ngoại quốc hàng ngày. Dưới sự giám thị và tiếp tay đàn áp của chính quyền, qua sự móc ngoặc giữa “công đoàn nhà nước” với giới chủ nhân, nhân công chịu đựng không khác gì một cổ hai tròng. Trắng trợn nhất là đạo luật cấm công nhân đình công đi ngược lại mọi công pháp quốc tế và là đòn chí mạng đánh vào công nhân vì sự tự vệ duy nhất của họ là đình công!!! Bảo vệ chủ nhân ngoại quốc đàn áp chính người dân của mình: Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hình là đảng Mafia phản dân hại nước.
     Thêm vào đó, mấy chục triệu nông dân đang khốn khổ vật vã đói khát trên vựa lúa do chính công sức mình tạo nên. Tại sao nông dân nghèo túng và đói khổ như vậy? Đó là do chính sách cho vay khắc nghiệt của ngân hàng nhà nước và chính sách thu mua đầy dẫy bất công. Khi cho nông dân vay vốn để mua giống, phân bón, thuốc sâu rầy và nhiên liệu v..v… nông dân phải chịu tiền lời cao và các hợp đồng ràng buộc. Khi thu hoạch, gía cả bị kềm lại có chủ ý và nông phẩm được thu mua rẽ mạt bởi tư nhân vì tập đoàn nhà nước… không đủ kho chứa! Chưa kể lề thói quan liêu vô trách nhiệm của các “Tổng Công Ty” khi ký hợp đồng cung cấp gạo và nông phẩm gía rẽ cho ngoại quốc làm thiệt hại nông dân mình. Góp phần đánh gục nông dân là thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu rầy mà không được chính quyền quan tâm trợ giúp. Có thời đại nào trong lịch sử Việt Nam mà con cái của nông dân phải bị bán đi làm tì thiếp, nô lệ tình dục và làm lao nô khắp nơi trên thế giới vì nghèo đói? Duy nhất chỉ có thời đại Cộng Sản mới sản sinh những tai họa quái đản cho dân lành.
3. Chính sách sai khiến, đàn áp trí thức và tôn giáo:
Cảnh nhân dân Romania nổi dậy trên đường
phố Bucharest 1989
     Đảng CSVN lo sợ giới trí thức và tôn giáo lãnh đạo toàn dân nổi dậy chống lại chính quyền nên đã sử dụng triệt để công an và những phần tử bất hảo, vô thần, đàn áp những nhà trí thức bất đồng chính kiến và các lãnh tụ tôn giáo, làm cho nhân tâm càng thêm công phẩn. Sức chống đối càng thêm được tập trung và quyết liệt hơn khi thời cơ đưa tới. Sẽ có một cuộc Cách Mạng Toàn Dân! Một phong trào quần chúng liên kết nhau lan rộng trên bình diện toàn quốc chống lại bạo quyền để bảo vệ đất nước. Đảng CSVN sẽ bị phân hóa và bị vỡ ra làm hai hay nhiều mảnh là chuyện hoàn toàn có thể xãy ra.
     Ta có thể nhìn thấy được rõ ràng, chỉ cần một biến cố gây tác động nhân tâm rộng lớn, hoặc một sự đàn áp thô bạo sẽ như một mồi lửa dấy động mọi thành phần nhân dân. Những người đang bất mãn đời sống nhọc nhằn nghèo khó và căm ghét chính quyền. Giới trí thức và những nhà hoạt động Dân Chủ cùng tập thể thanh niên sinh viên nếu biết vận dụng quần chúng nhân dân thì các lực lượng công nhân, nông dân sẽ là nòng cốt đứng lên lật đổ bạo quyền. Tiếp tay để tạo cuộc Cách Mạng Quần Chúng là các khối giáo dân Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo…Lực lượng sinh viên học sinh HS-TS-VN, các tổ chức Dân Oan và quảng đại quần chúng sẽ cùng tham gia. Tổ chức chính đảng Quốc Gia sẽ cùng sát cánh với các lực lượng nhân dân để tạo nên cuộc Cách Mạng Toàn Dân. Các chính đảng và tổ chức đấu tranh tại Hải Ngoại sẽ vận động Quốc Tế yểm trợ phong trào Dân Chủ của nhân dân Việt Nam, vận động Quốc Tế để cùng áp lực Trung Cộng không được can dự vào nội bộ Việt Nam giải cứu đàn em. Đồng bào Hải Ngoại sẽ sát cánh cùng Quốc Nội yểm trợ mọi phương tiện đấu tranh giải trừ quốc nạn Cộng Sản…
     Xem ra cuộc Cách Mạng Toàn Dân của Việt Nam sẽ mang màu sắc tương tự một cuộc nổi dậy của nhân dân Romania chống chế độ độc tài Cộng Sản, lật đổ và xử tử hình nhà độc tài Nicolae Ceausescu. Rất khó cho Việt Nam có được cuộc cách mạng nhung như là một diễn biến hòa bình, hay một cuộc cách mạng màu do bởi sự ngoan cố và tham lam vô độ của đảng CSVN. Một cuộc Cách Mạng Toàn Dân có lẽ sẽ là giải pháp thích hợp nhất để bảo vệ giang sơn gấm vóc do cha ông để lại. Đây là lúc từng đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam nên sám hối, trở về với dân tộc. Bài học của đảng Cộng Sản Liên Sô được “hạ cánh an toàn” nhờ không đàn áp nhân dân khốc liệt như đảng Cộng Sản Romania đáng để cho người Cộng Sản Việt Nam suy ngẫm.
        QUỐC HÙNG
*(1) Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
http://www.vietnamhumanrights.net/vi.../phanmodau.htm
(2) DVD “Đại Họa Mất Nước” do Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện:
http://www.ustream.tv/recorded/11306638
(3) Lạm phát tại Việt Nam 2010

Tây Tạng: Hy Sinh Là Vũ Khí


Anh Jamphel Yeshi, 27 tuổi, một người Tây Tạng ở Ấn Độ tự thiêu, anh chạy trên đường phố New Delhi như ngọn đuốc sống vào ngày 26 tháng 3Vì tự do, vì phục quốc, vì bảo tồn bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ,vì quyền tự do hành đạo, hơn ba mươi tăng ni Phật Tử đã tự thiêu. Kẻ thù xâm lược, thực dân TC gọi những người hy sinh mạng sống mình cho đạo pháp và dân tộc Tây Tạng là «quân khủng bố» tuyệt vọng. Nhưng người dân Tây Tạng, quốc gia dân tộc Tây Tạng trên nóc nhà của Trái Đất, diện tích bằng ba lần nước Pháp, coi Phật Giáo là quốc giáo, tôn vinh tăng ni, Phật tử chọn hy sinh làm vũ khí đấu tranh giải trừ quốc nạn và pháp nạn do CS Trung Quốc đang thống trị quốc gia dân tộc mình – là những anh hùng dân tộc, tử vì đạo, chết vì Tổ Quốc.

Ba mươi ba tăng ni, Phật tử đã tự thiêu. Ba mươi ba trường hợp hy sinh vì quốc gia dân tộc và Phật giáo hầu như giống nhau. Người tự thiêu thường ngồi kiết già, có người trong hòan cảnh ngọn lửa thiêng đang cháy biến tấm thân ngũ uẩn của cõi ta bà này thành ngọn đuốc người, cánh tay còn cố giơ cao lên, miệng còn kêu lên lời chót, yêu cầu để Đức Đạt Lai Lạt Ma về với quốc gia dân tộc và Phật Giáo Tây Tạng.

Và sau đó tăng ni, Phật tử, thường là hàng trăm, hàng ngàn người, tập trung lại dưới sự điều khiển của vị sư già làm lễ hộ niệm, làm lễ tang theo nghi thức cỗ truyền, hết sức trang nghiêm và thành khẩn.

Nhiều khi công an, cảnh sát, và du đãng do công an tổ chức ùa tới, giành xác chết của người tự thiêu, đem đi giấu, không cho tăng ni, Phật tử làm lễ, tránh gây náo động, tập trung đông người. Nhưng vô ích công an càng trấn áp, giành giựt, tăng ni, Phật tử càng quyết tâm chống lại. Công an không đủ sức và đủ người giải tán vì tăng ni, Phật tử đông hơn, kiên quyết hơn. Như vụ tự thiêu của một Phật tử Sonam Dargye ở Rebkong ngày 14 tháng Ba, tăng ni, Phật tử đến để hộ niệm và làm đám tang có tới 8000 trong một thành phố chỉ có 80,000 cư dân.

Công an CS vô tình tạo điều kiện cho qui luật sau thành hiện thực: sức ép càng nhiều, sức bật càng cao và bạo lực kêu gọi bạo lực. Nhứt là trong thời đại tin học, với tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học, các vụ tự thiêu ở Tây Tạng được phổ biến tổng quát, CS không đủ sức ngăn chận, bưng bít.

Sự hy sinh cao cả và quí báu đó trên phương diện đối nội phát huy lòng yêu nước, trọng đạo của tòan dân Tây Tạng ở trong nước và ở hải ngọai, từ già đến trẻ. Trên phương diện đối ngọai lương tâm Nhân Lọai bị đánh động, vấn đề TC cưỡng chế, cưỡng chiếm quốc gia dân tộc Tây Tạng, vấn đề TC quốc đàn áp, bách hại tôn giáo, cào bằng văn hóa Tây Tạng, cưỡng bức, bức bách Hán hóa Tây Tạng -- trở thành vấn đề lương tâm của nhiều nhân dân và chánh quyền trên thế giới.

Trung Cộng càng ngăn cấm, càng bưng bít càng bị phanh phui. TC lập vòng vây cấm không cho báo chí ngọai quốc, người ngọai quốc đến những vùng đất của người Tây Tạng bị TC sáp nhập là tỉnh của TC như Tứ Xuyên trên không gian thực. Nhưng TC không thể làm việc ấy trên không gian ão nhưng rất thực qua truyền thông kỹ thuật số với Internet chuyển đi hình ảnh, thông tin, nghị luận bằng nhiều cách. Chỉ cấn một cái bấm trên điện thọai cầm tay tân thời có thể sữ dụng như máy chụp hình, máy computer chuyển thông tin, nghị luận bằng một cái bấm, tốc độ tranh với ánh sáng.

Trừ TC cáo gian quí vị tự thiêu là khủng bố, là thất vọng, là bắt chước, hầu hết lòai người chánh trực nhìn quí vị này là những vị tử vì đạo. Quí vị này tự thiêu không phải vì thất vọng, vì uất hận, vì bắt chước. Quí vị này tự nguyện một cách đầy ý thức hy sinh thân xác mình cho quốc gia dân tộc Tây Tạng và Phật Giáo Tây Tạng. Sư hy sinh, hành động cảm tử này là vũ khí đấu tranh, là sự tự giác để giác tha, đánh động lương tâm đồng bào Tây Tạng, đồng dạo Phật Giáo Tây Tạng, đồng lọai Con Người, về quốc nạn và pháp nạn mà quốc gia dân tộc Tây Tạng, thành tố của cộng dồng thế giới, Lòai Người đang phải chịu dưới ách thực dân kiểu mới của TC ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ lớn hiếp nhỏ.

Hy sinh, vũ khí thiêng liêng này làm cho TC bị động, mất sáng kiến, mất khôn ngoan, buộc tội và rêu rao những vụ tự thiêu này là hành động khủng bố. Một lọai tuyên truyền khiến người nghe cảm thấy bị khinh thường. Tăng ni, Phật tử Tây Tạng tự thiêu có làm hại mạng sống người nào đâu.

Trái lại ai cũng thấy người gieo tiếng ác cho quí vị tu hành hy sinh vì quốc gia dân tộc và Phật Giáo này, là cán bộ, đảng viên, công an CS và bọn du đảng do CS tổ chức trấn áp tăng ni, Phật tử và người Tây Tạng mới chính là quân khủng bố - một lọai khủng bố của nhà nước chống lại người dân, chống lại sắc tộc thiểu số gọi là state terrorists theo danh tứ chánh trị bây giờ.

Rõ rệt mười vụ như một, chính công an cảnh sát và du đảng của CS đi cướp xác người chết tự thiêu đem đi giấu và bắt bớ, đàn áp, đánh đập người thân, người dân, người đồng đạo đến hộ niệm đưa hương linh ngưới quá cố lên niết bàn.

Chính TC tạo cái vòng lẩn quẩn oan nghiệt càng ngày càng bung ra vô phương gỡ rối, cho thấy tương lai của phong trào tự thiêu của Tây Tạng sẽ đau thương, phát triễn hơn.

Chính CS Bắc Kinh là nhà nước khủng bố. Phương pháp khủng bố của nhà nước TC không thành công mà thúc đẩy phong trào tự thiêu phát triển thêm. TC bưng bít tin tức, TC trấn áp thẳng tay, TC thiết quân luật, phong tỏa những vùng có đông người Tây Tạng ở. Càng làm thế những tỉnh của TQ có cộng đồng Tây Tạng ở như Tứ Xuyên, Thanh Hải càng trở thành như ốc đảo trong nội địa TQ.

Việc làm đó của TC làm cho người Tây Tạng nhận thức rõ tự do có cái giá của nó, phải tranh đấu, phải chiến đấu mới có, mới được. Không thể chờ,không thể xin mà có.

Liên Hiệp Quốc hứa can thiệp khi số tự thiêu lên 15 nguời, rồi hứa khi lên 30 người tự thiêu, và bây giờ hơn 30 người, đã 33 người tự thiêu mà LHQ cũng không thấy động tịnh gì.

Người Tây Tạng nghĩ nếu cần tăng ni Phật tử sẽ hy sinh một hai ngàn người đề giải trừ quốc nạn và pháp nạn. Đó là chuyện của người Tây Tạng, người Tây Tạng không làm thì ai làm cho người Tây Tạng.

Tự thiêu trở thành vũ khí đấu tranh của người Tây Tạng. Nhứt là đối với người tử vì đạo pháp và dân tộc tin ở luật luân hồi, làm việc tốt sẽ được thăng hoa ở kiếp sau.

Người Tây Tang ở trong nước cũng như ở hải ngọai tin rằng sức mạnh tinh thần luôn luôn thắng sức mạnh vật chất. Và người Tây Tạng vẫn lạc quan với niềm tin ấy, với lý tưởng hy sinh thân xác đề giải trừ pháp nạn và quốc nạn. 33 tăng ni Phật tử đã tự thiêu, từ đầu năm 2012 đến giờ, mà đã có 12 vị tự thiêu; đa số là những người trẻ, học đạo và kiến thức cao.

Về vật chất so với Tây Tạng,TC lớn mạnh lắm. Nhưng trong đấu tranh hay chiến tranh vì chánh nghĩa, vì đức tin lòng hy sinh, giá trị tinh thần còn mạnh hơn vũ khí vật chất nữa. Khi thành phần ưu tú như quí vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng quyết hy sinh cho Tổ Quốc và tôn giáo sống còn, thì sức mạnh của dân chúng sẽ phát huy thành nội lực dân tộc, tinh thần quốc gia, niềm tinh siêu hình. Lúc đó không có sức mạnh vật chất ngọai lai nào khống chế nổi. Ky tô giáo trưởng thành và phát triễn trên tro tàn của Đế quốc La Mã là một bằng cớ./.


Vi Anh

Thư gửi Bạn Già :lòng nhân đạo của các chiến sĩ miền Nam trước sự tàn bạo của người CS

THƯ GỬI BẠN GIÀ


Anh T. thân mến,


http://img.photobucket.com/albums/v440/12317073/Aviation/Cong%20San/VC11Surrender.jpgTuần qua tôi có nhận bức thư không đề ngày của anh thăm hỏi, trong đó anh nêu một vài việc anh muốn biết. Xin cám ơn anh viết bức thư gợi nhớ đến cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến dài nhất thế kỷ trong lịch sử cận đại của nhân loại mà “ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.” Không quên nhưng cũng không lên tiếng vì đa số chúng ta nay đã qua tuổi nhi nhĩ thuận, tuổi nghe ai nói gì, dù đúng hay sai, cũng gật đầu cho là phải rồi yên lặng. Huống hồ tôi nay đã quá cổ lai hi, tuổi với ngày mai có thể không có thật. Thế nhưng, khi anh lên tiếng thì tôi xin theo thứ tự trả lời như sau.
Lực lượng Thủy Bộ là một đại đơn vị tổng trừ bị được Bộ TMT tăng phái hành quân cho Quân đoàn 4 và V4CT từ năm 1969, hậu cứ thời bấy giờ đóng tại Trà Nóc, Cần Thơ. Khi tôi nhận đơn vị này vào thời điểm anh nói thì phần lớn các Giang đoàn Thủy bộ đã được tăng phái cho một số tiểu khu trong vùng. Do thế mà ngày tôi đến trình diện TL/V4CT, tướng Nguyễn khoa Nam, để nhận việc, ông yêu cầu tôi gấp rút nghiên cứu rồi trình ông kế hoạch tái lập Lực Lượng Đặc nhiệm Thủy Bộ như những năm 1969-70. Quyết định của ông cho biết ông dự trù sẽ có những trận đánh lớn trong Quân khu của ông; và đó cũng là để nói lên lòng ông tin tưởng ở khả năng tác chiến của những thủy thủ phục vụ vùng có nhiều sông rạch.
Thời phục vụ các giang đoàn, tôi có tìm hiểu những gì đã làm cho thủy thủ trong sông không chùn chân trước khi đi vào chiến địa. Tôi cho đó là tình yêu thương đất nước quê hương, là tinh thần chiến đấu, là quyết tâm trả thù cho những bạn bè bị ngã gục. Kế đó là tinh thần kỷ luật cao độ cộng với niềm hãnh của người lính trận có truyền thống riêng. Những yếu tố này khiến thủy thủ trong sông tự tin và ngạo nghễ, vừa hào hùng vừa lãn mạn đến mức thành "ba-gai" một cách đáng yêu. Việc bỏ tàu bỏ bạn trong hành quân bị xem là hành vi xấu xa, là một sứt mẻ trầm trọng cho tự ái cá nhân. Tóm lại, người thủy thủ xuất sắc luôn biết sống chết với quê hương, chung thủy với bạn bè, luôn tự tin với tinh thần lạc quan, và biết tự trọng mà bám sông bám biển. Tôi được cái may ở chung đơn vị với nhiều thủy thủ như thế trong những năm tháng vui buồn với cuộc chiến ta không lựa chọn, nhưng chấp nhận tiến hành vì ý chí bảo vệ quê hương gồm gia đình và lối sống tự do của người dân miền Nam cương quyết đứng về phía ta như cuộc chiến Mậu Thân năm 1968 đã chứng tỏ.
Từ cuối 1974, chắc anh còn nhớ, chiến sự trên quê hương miền Nam thêm sôi động; binh sĩ và các cấp chỉ huy tại những đơn vị chiến đấu cảm thấy gần nhau hơn bao giờ hết. Những ai trong tác chiến từng thấy binh sĩ của mình chẳng nay bị thương vong, hay chính mình bị ngã tại trận tiền mà còn được chiến tranh tha thứ, máu mình hòa với máu đồng đội thì hiểu rõ điều này. Gần gũi và cùng thích một việc thì ghét nhau. Nhưng gần gũi chung lo một việc thì sinh gắn bó là lẽ thường. Khi còn trong quân ngũ, có đi đâu rồi cũng tìm về, nghĩa là sống chết có nhau.
Sự gắn bó đó vừa xúc tác, vừa hỗ trợ tinh thần của binh sĩ đang tại nhiệm sở địa đầu. Nhiều cây bút quân đội xác đáng cho đó là kỷ luật cần thiết để bảo đảm sự an toàn trong chiến trận, đồng thời còn giúp quân nhân trấn áp được nỗi sợ để giữ phẩm giá của mình trong giờ phút nguy nan cao độ. Phẩm giá này, nếu mất đi, sẽ gây tủi nhục cho thế hệ kế tiếp khi họ bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhật báo Người Việt, Nam Cali, (Mục Diễn đàn - B1) ngày 4 tháng 11 năm 1998, có bài Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn Trong Rặng Bình Bát của tác giả Nguyễn Bửu Thoại. Trong lời phi lộ, tác giả nói là viết để trả lời cho câu hỏi các con của ông. Câu đó là "Ngày Xưa Ba Đi Lính Đã Làm Gì Mà Phải Bỏ Nước Ra Đi? ”[1]
Với tác giả, tôi có tiếp chuyện. Ông nói có nhiều người cũng đã thắc mắc về nghi vấn nói trên, đồng thời ông còn xác nhận tuổi trẻ, khi thấy tự ái bị xúc phạm thì sẽ có những câu hỏi không ngờ. Riêng tôi xin ý kiến của tác giả bài viết vì thấy câu hỏi các con ông cũng gần giống như câu vấn trong thư anh “Vì sao đa số quân nhân Thủy Bộ bị kẹt lại, không di tản được.” Tôi hiểu câu của anh có đại ý: khi con tàu đất nước sấp bị chìm thì di tản là tốt, kẹt lại là không tốt.” Hai phạm trù này vừa thống nhất vừa đối lập nhau giống như tốt với xấu hay là thiện với ác.
Suy cho cùng, trên đời này chỉ có thiện mà không có ác. Giống như có bóng tối là do thiếu ánh sáng, có màu đen là do thiếu sắc tố, lạnh là do thiếu sự nóng, điều con người gọi là ác chỉ là cái thiện còn bị thiếu sót mà ra. Cái ranh giới giữa thiện và ác như thế quả thật mong manh, vì nếu nói theo Alexandr Soljenitsyne thì đường ranh giới này không chạy ngang các quốc gia mà chạy qua trái tim con người. Hay là giữa thiện và ác có nhiều trăn trở, trong đó lương tâm con người là thẩm quyền quyết định. Ngoài sinh hồn và giác hồn mà tất cả sinh vật khác đều có, con người, còn có linh hồn và lương tâm biết suy xét đúng sai. biết thiện biết ác, và biết thế nào là lòng tự trọng. Ngày đó, sự bỏ nước ra đi hay ở lại cũng đều qui về cái thiện, tức là đời sống con người. Điểm khác nhau giữa hai lựa chọn này là đời sống cho cá nhân hay đời sống cho tập thể, nếu quả có sự lựa chọn đó.
Để sang một bên cái thuần lý chung chung của vấn đề “bị kẹt lại” thì thấy tình hình miền Tây không giống như Sài Gòn. Ở Sài Gòn thời đó có Hạm Đội đi biển như phương tiện qui mô mà người Mỹ cần thu hồi theo chương trình Lend-Lease Act hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 3 năm 1941, trong khi miền Tây thì không. Cố Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt ký pháp án này như con lưỡi dao hai lưỡi. Nó đã cho phép Hoa Kỳ chi viện các nước đồng minh giúp Hoa Kỳ chiến thắng Thế chiến 2 để từ đó mà lên ngôi bá chủ cho đến nay. Nó giúp nhiều quốc gia, trong đó có Đệ nhất Công Hòa miền Nam đứng vững từ 1954; và cũng chính nó đã góp phần xóa bỏ nền Cộng Hòa này tháng 11 năm 1963, rồi đến tháng 4 năm 1975 thì nó thành lá bùa hộ mạng cho hơn 30 ngàn đồng bào ta ra khơi chạy nạn chiến tranh. Lý do của điểm sau cùng này là theo nội dung của Lend-Lease, các chiến hạm Hoa Kỳ chuyển giao cho Việt Nam dùng trong chiến tranh chỉ là cho mượn, khi xong việc thì thu hồi về bằng mọi giá.
Tại Vùng 4 Chiến Thuật vào thời anh nói, nếu để ý sẽ thấy:(1) Dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Quân Đoàn 4, các đơn vị chiến đấu cơ bản (Sư đoàn) thuộc Quân Khu 4 còn nguyên phong độ đến khi có lệnh buông súng, (2) Không một Tư lệnh Sư đoàn nào trực thuộc Quân khu 4 bỏ nhiệm sở mà ngược lại có nhiều vị tướng khác, sau khi cố hết sức mà không giữ được thủ đô bèn tìm về Quân Khu 4, mong giúp lật ngược thế cờ, và (3) Hầu như không một dân thường miền Tây nào bị tử vong hay bị cướp bóc trong ngày định mệnh của đất nước. Quan trọng nhất là không có diễn lại thảm cảnh miền Trung. Tại Vùng 4, cứu cánh này là do lời giao ước của Tư lệnh Quân Khu 4 với người dân miền Nam tự do nói chung và người dân miền Tây nói riêng. Ông quan niệm rằng chiến sĩ tuyến đầu rất cần có một địa phương ổn định mới yên tâm hành quân diệt giặc. Ngược lại, một địa phương muốn được ổn định thì rất cần binh sĩ kỷ luật, hữu hiệu, nương nhau thành một khối, không có bất cứ một hành động nào gây đại họa, kinh hoàng, hay khủng hoảng cho thường dân, đặc biệt vào giờ phút nghiêm trọng nhất.
Nhiều năm hoạt động trong ngành Tâm Lý, chắc anh cũng cho đây là hình thức cố định của tình quân dân cá nước. Khi nghĩ như trên, tướng Nam đã thật sự nắm được nghĩa triết học của chữ SƯ (đoàn) được người xưa diễn dịch bằng quẻ Khảm và quẻ Khôn, tức là quân với dân như Nước với Đất. Bình thường thì nước nằm trong đất. Khi cần thì nước từ lòng đất tung ra dũng mãnh như thác xuyên ghềnh. Xong rồi thì nước chui lại vào đất, yên lặng, ngoài nhìn không thấy. Đó là vì sao khi nhận trách nhiệm vùng 4 chiến thuật, tướng Nam đã đặc biệt chú ý nâng phẩm lượng tác chiến của Nghĩa quân và Địa phương quân tại khấp miền Tây, trong khi quân chính qui thì thành lực lượng trừ bị của vùng.[2]
Anh có thể hỏi nước với đất là tương khắc, sao đứng chung với nhau được. Đúng vậy. Nhưng cái tương khắc đó sẽ được hóa giải bằng đức độ của súy, bằng kỷ luật nghiêm minh của quân đội. Theo luật an toàn vật thể thì đạn và nhiên liêu dễ cháy phải nằm cách nhau từ 200 đến 300 thước, ở giữa có tường ngăn. Nhưng trên chiến hạm, hai thứ này chỉ nằm cách nhau mươi thước là nhiều. Kỷ luật phòng tai trên tàu hóa giải cho mối nguy này. Cho nên trong chiến trận, tướng Nam tin ông nắm được quân và ông rất bình thản mà —trong trường hợp chẳng đặng đừng— đưa kế hoạch của ông hội tụ vào điểm cao nhất, khó thực hiện nhất của lời giao ước nói trên là: Kỷ luật để thắng mình, thắng giặc, và cứu dân lành trong chiến trận.
Phải ở cạnh ông trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975 mới thấy ông và vị tướng phụ tá của ông rõ ràng có chuẩn bị thi hành lời giao ước đó từ quan niệm quân đội trách nhiệm bão quốc an dân đến cách điều binh và rồi đi gặp định phận của chính mình. Khác với việc bỏ nước ra đi, theo lời con ông Nguyễn Bửu Thoại, cái kết cuộc của hai ông không phải được thành hình trong một sớm một chiều. Đó cũng không phải để phủ nhận cái định phận tối tăm của những tên lính chì trên một bàn cờ với mục đích mua vui cho ai đó. Nó đã nằm trong tâm nguyện khi hai ông chọn cho mình đời binh nghiệp, trong đó điều tối kỵ là "Mệnh lệnh chí kỳ... ” [3] Cho nên vì tự ái, ông không thể thất hứa rồi quay mặt với từng binh sĩ thuộc quyền, với gia đình của họ, với thân phận các thương bệnh binh trong quân y viện và oan hồn tử sĩ còn tại các nghĩa trang quân đội, điều mà mỗi khi nghĩ đến, người có tấm lòng thường quên ăn mất ngủ.
Từ xưa, tử sĩ thường được nhắc đến bằng những lời thơ thật trân trọng, thanh thoát nhưng cũng thật buồn, vì nghe như vọng lại từ bên trong phần mộ. Lý do tử sĩ đâu màng được truy tặng huân công hay cấp bực. Không ai nỡ nghĩ rằng sự hi sinh của mình tại trận tiền là định giá cho người đời đổi lấy cái vinh quang thường là lắm chuyện. Có ai muốn đời mình sẽ thành mặt trái của những huy chương cho người khác mang trên ngực và cấp bực mới trên vai [4]. Nơi chín suối họ chỉ mong ước quê hương vắng bóng quân thù, và ông bà, cha mẹ, gia đình con cái họ được chăm lo y như khi họ còn sống. Đó là đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam lấy gia đình làm trọng [5], và cũng là một tình cảm rất người, mỗi đồng đội coi đó như món nợ mà người cùng hội phải lo thanh thỏa cho nhau. Do đó, khi chiến trận còn tiếp diễn, danh sách tử sĩ ngày một dài ra. Sau cùng thì khi vận cùng thế kiệt, tướng thủ thành thường tử tiết chính vì món nợ này. Món nợ mà người ở cấp chỉ huy nếu chưa trả thì sẽ còn đó, dù cho có theo dòng định mệnh mà trôi dạt về một không gian và một thời gian khác.
Trong hoàn cảnh đó, nếu quyết định tự kết liễu cuộc đời khó khăn bằng một thì -như tướng Nam (V4CT) và các vị đã thành nhân [6] khác khi cuộc chiến vừa tàn đã nghĩ- sự di tản cho cá nhân mình mà bỏ lại thuộc hạ thì còn khó khăn hơn thế nhiều lần. Ông là một vị tướng còn mang tinh thần võ sĩ đạo cuối cùng thời quá giữa thế kỷ 20. Ngày xưa khi ở quân trường đến bài giảng về uy nghi và lao dịch của đời thủy thủ thì thầy dạy rằng trong chiến đấu trên biển, nếu không may chiến hạm mình bị chìm thì hạm trưởng phải là người di tản sau cùng, nghĩa là ông phải bảo đảm rằng đến lượt ông rời tàu thì trên tàu không còn một ai còn sống sót. Nhưng trong hải chiến, có vị hạm trưởng nào dám đoan chắc rằng trên tàu mình không còn thượng binh bị kẹt đâu đó trong những hầm đã bị hư hại, cửa ra vào bị kẹt không mở được. Do đó mà lương tâm của người được chỉ định chức vụ hạm trưởng đã chọn cái định phận theo tàu của mình rõ ràng là một định lệ bất thành văn. Với Hải Quân Hoàng Gia nước Anh thì cụ thể hơn. Năm 1958, trong một chuyến du hành thực tập trên chiến hạm HMS Chichester của Anh, thấy có vài cuộn dây móc ở nóc phòng lái, tôi hỏi vị sĩ quan người Anh, Thiếu tá Jon Austick, những dây đó để làm gì. Ông nói:” Để hạm trưởng dùng tự buộc ông vào tay lái khi tàu này bị chìm.” Thời đó các nay đã hơn nửa thế kỷ! Sinh lực Hải Quân của họ nằm ở truyền thống hải nghiệp lâu đời nhất trên thế giới này, một truyền thống mà tướng TL/V4CT đã nhìn thấy.
Chiều ngày 30 tháng Tư, ông một mình lái xe đi thăm tử sĩ tại nghĩa trang quân đội ở Cần Thơ. Xong về Tổng Y Viện Phan thanh Giản thăm và bắt tay các thương bệnh binh như một cữ chỉ biết ơn. Hừng sáng hôm sau ông đi, sau vị phụ tá của ông khoảng không đầy 10 tiếng đồng hồ. Thời đó, ông có một Sư đoàn Không Quân trong tay, nhưng ông biết giữ lời hứa danh dự cho riêng ông. Ông và nhiều vị tướng tử tiết khác biết sống với danh dự và thác với phẩm hạnh mà lên thần. Tâm tư của ông ngày đó ông giữ cho riêng mình. Nhưng có thể ông nghĩ trong ngày tàn của đất nước, bỏ đi hay ở lại với đơn vị là tùy thái độ mỗi cấp chỉ huy tự xử trước lương tâm và lịch sử. Và đó là định phận cho từng cá nhân, nên dù bỏ đi hay ở, không ai có lỗi cả. Nhiệm vụ chiến đấu của ông ngày đó đã chấm dứt nhưng trách nhiệm tinh thần của ông đối với các quân nhân thuộc hạ của ông vẫn còn.
Ông đã gánh trên đôi vai của ông một miền Nam đang hấp hối. Và ông lấy cái chết của chính mình để một mặt cho quân nhân các cấp hãnh diện có một chủ súy xứng đáng với danh xưng, một mặt ngăn cho thuộc hạ của ông những nỗi khổ sở vì bị bỏ rơi, và ngừa những cái chết oan uổng một khi cuộc chiến đã được sấp xếp để cho miền Nam bị thua lúc bấy giờ [7]. Tôi nghĩ do hiểu như thế mà các vị Tư lệnh Sư đoàn cũng như đơn vị trưởng các đại đơn vị khác không nỡ bỏ ông, bỏ ngũ, bỏ rơi binh sĩ của mình. Ông đã làm sống lại gương dũng cảm của những Nguyễn tri Phương, những Trần bình Trọng, những Võ Tính, những Bùi thị Xuân, và nhiều nữa khi đất nược gặp nguy vong.
Trong hoàn cảnh đó, Lượng Thủy Bộ nằm trong cái thế cân bằng quân sự toàn vùng, nên khó thể tháo lui mà không gây hoang mang rã ngũ cho những đơn vị bạn, kéo theo cảnh hỗn loạn tất nhiên trong dân chúng; rồi lịch sử sẽ còn nói đến với lời lẽ khó thể nhẹ nhàng. Bị người đời chê cười —oan ưng chưa biết— thì coi như nhận cái cười chê để xả nghiệp. Bị lịch sử chê cười thì là nổi nhục cho cả dòng họ, là đại bất hiếu theo nghĩa của Đông phương.
Đến đây anh có thể hỏi những người phải ở lại để chịu phận tù đày có oán hận những người đả bỏ đi hay không? Tôi nghĩ đại để hầu như là không. Thường những ai đã làm hết sức mà không thoát khỏi định phận nghiệt ngã của mình thì biết tất cả mọi sự đều do nghiệp lực mà ra. Lúc đó thì giữa sống và chết không có gì khác biệt. Họ cũng không ưng thấy các cấp lãnh đạo hàng quốc gia miền Nam ở lại để vào tù, vì họ không phải là những người lấy ghen tức làm lẽ sống.
Vào những năm sống trên đất Bắc, tôi gặp hầu hết quí vị sĩ quan cao cấp và Tư lệnh các Sư đoàn trực thuộc Quân Đoàn 4 trước kia. Tôi cũng gặp lại nhiều sĩ quan thuộc lực lượng Thủy Bộ. Không ai còn nhắc đến quá khứ hay phiền trách gì ai. Dường như trong nhiều năm sống với yên lặng và suy tư, nhiều lúc cảm thấy như cận kề cái chết vì bệnh tật, vì đói khát, quí vị đó hiểu rõ tác năng của chữ nghiệp trong cuộc đời mỗi người. Đi theo chữ nghiệp này, họ còn giữ được danh dự của một người lính sống chết với quê hương. Ngoài ra, họ còn có dịp học được bài học khó nhất, quí báu nhất là biết mình là ai, hay là tìm được bản thân mà trước đó mình đã đánh mất hồi nào cũng không nhớ!
Riêng có một cựu Chỉ huy trưởng Giang đoàn Thủy Bộ nay không biết ở đâu, khi tình cờ gặp tôi đang ngao du trong một khu rừng Yên Bái, anh biếu tôi một ống pipe nay tôi còn giữ làm kỷ niệm. Tuy hơn anh ấy những mười tuổi đời mà chưa từng nghe ai nói, " Ngày trước em đi trận đánh tụi này không nhân nhượng. Không phải ghét chúng mà em chỉ muốn góp phần cứu dân miền Bắc ra khỏi sự u mê Mác Lê, và cứu miền Nam chúng ta khỏi nạn khủng bố và tham nhũng nếu để bị thua trận. Rồi nay nghiệp báo viên thành, trong bộ đồ tù của bọn chúng, em thấy mình vẫn uy nghi."
Anh ngừng một vài giây rồi tiếp:" Bây giờ em thấy những gian khổ em đang gánh chịu đây, nếu em còn sống và ra khỏi nơi này, sẽ giúp tuổi già của em có được sự bình yên. Em đã tòng quân giữ nước, trả thù nhà vì anh em của em đều vào lính Cộng Hòa, bị thương tích đầy người, và bây giờ thì em đang trả nợ đời lính của em. Thời trước em dẫn quân đi bắn mổ cũng nhiều. Tổ quốc cho rằng em có công, nhưng Thượng đế thì có luật nhân quả của Ngài. Không biết điều em nói đây là đúng hay sai nhưng qua nhiều suy tư giữa rừng già, em thấy nó phải là như vậy. Một thời làm vua, cả đời là vua; một thời làm lính, cả đời là lính; một thời làm cấp chỉ huy, dù cao dù thấp, cả đời phải sống như mình là cấp chỉ huy. Em nay không còn thắc mắc gì nữa,. thưa ông thầy (!) Lịch sử không kết tội em là được. "
Cố Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Richard M. Nixon, có nói một câu hơi lạ mà nghĩ thì cũng đúng, là: “Lịch sử sẽ được viết tùy theo người nào viết ra nó.” Lý do là những người làm nên lịch sử thường không còn, những người còn lại để viết thì không có mặt tại nơi xảy ra từng sụ kiện lịch sử, chỉ ngồi nhà nghe chuyện trong bàng dân thiên hạ nói về những chuyện gì đó rồi mang vào những trang giấy cho có đầy chữ rồi gọi đó là lịch sử. Do thế mà hi vọng sau này, người viết sử không quên là khi vận nước đến thời nghiêng ngửa, bản đồ thế giới cần được vẽ lại phù hợp với quyền lợi ai đó, miền Nam phải bị bại vong theo kế hoạch cũng của ai đó, quân nhân miền Tây thật sự có cố gắng bảo vệ dân lành cho đến lúc cuối, đồng thời lo an ninh bờ sông cho đa số đồng bào trên sông Cửu Long an toàn di tản ra biển. Chừng đó, những chiến sĩ miền Tây cũng như các chiến sĩ tại các miền khác còn quyết tâm cố giữ vững trận địa trong những ngày u tối đó, may ra mới được an lòng nếu còn sống, và khỏi ngậm ngùi nếu đến hạn phải ra đi.
Tôi nay thì lực dĩ bất tòng tâm, ký ức chứa toàn những chấp vá, luộm thuộm, nhớ đâu viết đó thành một thứ tạp-pí-lù. Qui luật này nào ai tránh được, khi mà nhìn quanh từ bàn ăn, bàn rửa mặt, bếp núc đâu đâu cũng thấy thuốc thứ này thứ nọ bày la liệt, ngày nào cũng dùng lia chia, khi cần đến thì đỡ phải tìm! Cho nên thư này chỉ được viết với tính cách trao đổi giữa hai chiến hữu già mà thôi. Viết xong thấy không ưng ý, nhưng cũng phải gửi kẻo anh mong.
Chúc anh nhiều sức khỏe, rất cần.
Thân mến,
Tiểu Đĩnh

[1] Nội dung bài viết này nói lên lòng nhân đạo của các chiến sĩ miền Nam trước sự tàn bạo của người CS đối với người của họ.
[2] “Sau vụ Tết Mậu Thân 1968 Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại Tướng Creighton Abrams lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc chiến và phương pháp hành sử. Tướng Abrams nhấn mạnh “chiến tranh toàn diện” gồm cả hành quân, bình định và gia tăng khả năng QLVNCH theo một quy trình cấp bách ngang với chiến trận. Chiến thuật cũng thay đổi từ quan niệm “truy và diệt” qua “bình định và giữ đất”. Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân thì quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho địch trở lại. Do đó Địa Phương Quân được phát triển tối đa để phụ trách an ninh và bình định lãnh thổ” -Trích Xác Định Giá Trị Của Người Chiến Sĩ VNCH của tác giả Trần đổ Cung.
[3] “Mệnh lệnh chí kỳ vi chi tặc.”
[4] ....
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”
Bài thơ Thương ca 1 đã được phổ nhạc, của tác giả Lê thị Ý

[5] Với người làm cách mạng thì “Cách mạng với gia đình không là một.” Lớn lên với đất nước trang 157
của tác giả Vy Thanh.

[6] Hai chữ thành nhân trong câu nói được lưu truyền của liệt sĩ Nguyễn thái Học (Không thành công thì cũng thành nhân) có nghĩa vì nước mà hi sinh hay là tử tiết.
[7] Theo tài liệu viết tay của cựu Đại tá Trưởng Phòng 3 Quân Đoàn 4, hiện sống tại Nam California, thì trong lúc tiếp người đại diện của GPMN trưa ngày 30 tháng 4, sau khi ông DVM tuyên bố miền Nam buông súng, tướng NKN có nói đại ý, “ Chúng tôi thi hành lệnh của nguyên thủ chúng tôi,. Riêng tôi thì cuộc chiến chưa chấm dứt ở đây.”

Lời tuyên bố :Đảng Cộng sản Trung Quốc không mang lại hạnh phúc cho dân

Bí thư Quảng Đông: « Đảng Cộng sản Trung Quốc không mang lại hạnh phúc cho dân »


RFI
« Nói đảng Cộng sản và chính quyền phục vụ nhân dân là một điều sai quấy cần phải dẹp đi ». Lời tuyên bố « lịch sử » này đã được ông Uông Dương, bí thư tỉnh Quảng Đông đưa ra vào ngày 09/05/2012 nhân đại hội đảng bộ địa phương, trong bối cảnh đảng Cộng sản Trung Quốc chuẩn bị thay đổi lãnh đạo.
http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=143508&at=0&ts=300&lm=634725971542670000 
Phải chăng một trang sử mới tại Trung Hoa lục địa đang hé mở ? Lần đầu tiên một khẩu hiệu tuyên truyền chính thức của đảng Cộng sản bị một quan chức cao cấp thuộc khuynh hướng cải cách xé bỏ. Trong cuộc họp của đảng bộ tỉnh Quảng Đông cách nay hai hôm, Bí thư Uông Dương tuyên bố: « Chúng ta phải vất bỏ đi ý tưởng sai lầm cho rằng hạnh phúc của nhân dân là do đảng và chính phủ mang lại ».

Chưa hết, nhân vật được tiếng thuộc phe cải cách bổ túc thêm : Mưu tìm hạnh phúc là quyền lợi của người dân. Còn vai trò của chính phủ là để cho nhân dân được tự do dũng cảm đi tìm hạnh phúc bằng con đường riêng của mình.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông nhấn mạnh chuyện xây dựng hạnh phúc của người dân và vấn đề cá nhân mà đảng Cộng sản và chính quyền không có vai trò gì cả. Nếu có, thì Đảng và Nhà Nước phải phục vụ cho dân chứ không phải ngược lại.

Quan điểm trên đây thật ra là một ý tưởng bình thường tại các nước dân chủ nhưng nó không bình thường trong chế độ phong kiến « ơn vua lộc nước » và trong chế độ được gọi là cộng sản « nhờ ơn Đảng và nhà nước… »

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông đã hơn một lần chứng minh ông là một nhà cải cách. Khi dân làng Ô Khảm biểu tình đuổi chính quyền địa phương thì chính ông đã dàn xếp không dùng biện pháp đàn áp, và để cho dân làng tổ chức bầu cử tự do chọn người mới. Tuy tuyên bố « không theo mô hình Tây phương » ông cũng chống lại chủ trương « tân Mao-ít » của cựu lãnh đạo Trùng Khánh, Bạc Hy Lai. 

Nhận định về sự kiện độc đáo này vừa xảy ra tại Trung Quốc, hãng tin công giáo Á châu Asia News ghi nhận rằng ông Uông Dương đã tách ra khỏi những tín điều truyền thống : nhờ Đảng mà Trung Hoa được độc lập, hạnh phúc, ổn định và thành công.

Từ khi Mao Trạch Đông cướp được chính quyền tại Hoa lục thì từng thế hệ học sinh được dạy là mang ơn Đảng từ viên kẹo cho đến quyển vở. Mao chủ tịch được tôn vinh như Ngọc Hoàng giáng thế, chăm lo đời sống của nhân dân từ lúc lọt lòng cho đến lúc qua đời. Thế nhưng, từ khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ, và Đặng Tiểu Bình phải cải cách kinh tế để tự cứu thì tại Trung Quốc tràn ngập những vụ bê bối, tham ô, những lạm quyền thế, biển thủ công quỹ mà thủ phạm là cán bộ, quan chức. Tệ hại hơn nữa là họ tìm cách đưa con cháu vào các chức vụ quan trọng để tính chuyện thống trị lâu dài.

Trong khi đó thì người dân Trung Quốc được gì ? Chỉ cần đơn cử một thống kê của Viện Khoa học Xã hội hồi cuối năm ngoái : trong 20 năm trở lại đây, chính sách cưỡng chế trưng thu đất đai đã làm cho 50 triệu người dân mất nhà, mất đất. Hôm qua, tại Vân Nam, một phụ nữ dân oan bị trưng thu nhà đã cho bom nổ tự sát ngay trong văn phòng chính quyền địa phương.Đó chỉ là một trường hợp thương tâm trong muôn ngàn oan khiên trong chế độ mà trung bình mỗi sáu phút có một cuộc biểu tình chống tham ô và nhũng lạm quyền thế.

Theo Asia News, đối với những cán bộ có suy nghĩ, con đường hạnh phúc của họ là tách dần ra khỏi đảng. Theo thống kê năm 2006, trong số 70 triệu đảng viên, hơn một phần ba chọn theo một tôn giáo. Hơn 20 triệu theo đạo Thiên chúa.

Những lời phủ nhận tín điều truyền thống trên đây được xem là « lịch sử » vì ông Uông Dương tuyên bố công khai, và ông là một nhân vật lãnh đạo cao cấp, rất có thể sẽ là một trong những ủy viên thường trực Bộ Chính trị nhân đại hội Đảng vào cuối năm nay.

Mặc dù báo chí chính thức không tường thuật, nhưng trên mạng internet những lời tuyên bố này đã được loan tải rộng rãi và được dự báo sẽ « đi vào lịch sử ».

MỘT SỰ QUAN PHÒNG : TRÁCH NHIỆM NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ TRONG CHÍNH TRỊ

Một sự quan phòng


http://gpbanmethuot.vn/sites/default/files/Images/card_thuan2.jpgNăm 1961, khi ông Trần Văn Lắm được Tổng Thống Ngô Đình Diệm cử đi làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Úc Đại Lợi, ông đã năn nỉ thân phụ và thân mẫu Linh Mục Thuận cho một người trong gia đình đến làm việc trong Tòa Đại Sứ Úc ở Canberra với ông. Ông Lắm hy vọng rằng nếu có một người cháu của ông Diệm cùng làm việc với ông, ông có thể dùng người cháu này để nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm mỗi khi gặp rắc rối với Phủ Tổng Thống VNCH. Vì trong gia đình của cụ Ấm ai cũng đã có công ăn việc làm nên không ai muốn đi. Cuối cùng, gia đình quyết định gởi cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu, lúc đó mới 20 tuổi, đến làm việc ở Tòa Đại Sứ Úc.
Tuy nhiên, ngày 2.11.1963, khi được tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ và hạ sát, ông Trần Văn Lắm đã đuổi cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu ra khỏi Tòa Đại Sứ VNCH ở Úc. Đây là một biến cố rất phủ phàng, nhưng không ngờ đó lại là một sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nghe cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu kể lại những gì đã xẩy ra trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Catholic News Service ngày 10.2.2001.
Cô cho biết sau khi cô bị đuổi khỏi Tòa Đại Sứ, người anh của cô là Linh mục Nguyễn Văn Thuận đã viết cho cô một lá thư và nói: “Hãy ở lại đấy, một ngày kia, có thể em sẽ cứu được cả gia đình".
Phóng viên Catholic News Service nói: Tuy nhiên, cả bà lẫn người anh đã không thể nào tưởng tượng ra nổi hai mươi lăm năm sau bà đã trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào tranh đấu đòi tự do cho người anh đang sống trong lao tù Cộng Sản Việt Nam, để rồi người anh ấy, Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đã cầm đầu một bộ quan trọng trong Giáo Triều Rôma và ngày 21.2.2001 được tấn phong Hồng Y tại Vatican.
Bài báo viết thêm:
Theo lời khuyên của người anh, cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu lúc ấy mới 22 tuổi đã lấy hết can đảm chấp nhận cảnh bơ vơ nơi xứ lạ quê người và không quay về Việt Nam. Cô đã ghi danh học khoa chính trị và ngôn ngữ tại trường Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi (Australian National University) và sau đó trở thành một cô giáo để mưu sinh. Cô không thể ngờ được là cuối cùng cô đã phải sống xa tổ quốc nhiều năm như vậy.
Sau khi không còn được làm việc trong Tòa Đại Sứ nữa, cô đã được các nữ tu dòng Ursula, các linh mục, giám mục Úc Đại Lợi và bạn bè giúp đỡ rất nhiều để mỗi năm cô có thể gia hạn giấy phép lưu trú. Mười năm sau biến cố 1963, cô mới được gia nhập công dân Úc. Ngay sau khi trở thành công dân Úc, mùa Giáng Sinh năm 1973 cô mới dám về Việt Nam thăm gia đình sau 12 năm bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Cô kể lại:
"Ngay sau khi tôi được cấp quyền công dân, tôi trở về thăm cha mẹ tôi. Tôi đã ở đó đón mùa Giáng Sinh và dành nhiều thời gian trò chuyện với anh tôi, nay đã là một Giám Mục tại giáo phận của ngài. Năm sau đó, ngài đến Úc để dự một hội nghị và khi chia tay ngài đã nói với tôi tại phi trường 'Năm sau anh sẽ lại gặp em tại Úc này.' nhưng anh tôi đã không thực hiện được lời hứa ấy".
Năm 1975, cô đã bảo lãnh được cho cha mẹ di tản đến Úc chỉ 5 ngày trước khi Sàigòn, thủ đô miền Nam, rơi vào tay cộng sản.
Vài tháng sau đó, cô và gia đình đã điếng người đi khi nghe tin anh cô đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam với tội danh mà nhà cầm quyền vu khống là "có nợ máu với nhân dân", một tội danh thường sẽ dẫn đến cái chết không cần xét xử. Cô Hàm Tiếu tâm sự:
"Tôi có thể nhớ lại được, anh tôi luôn khao khát trở thành một linh mục. Khi còn bé, trong cái ngăn kéo ở đầu giường ngủ, anh ấy thường làm những kiểu mẫu bàn thờ bằng giấy. Anh ấy luôn luôn là kiểu mẫu về lòng bác ái cho chúng tôi, một con người rất tốt. Tôi quyết định làm tất cả những gì tôi có thể làm được để cứu anh ấy".
Các Đức Giám Mục Úc Đại Lợi đã hoàn toàn ủng hộ gia đình cô và đã cử hành nhiều thánh lễ cầu nguyện cho sự an nguy của Đức TGM Nguyễn Văn Thuận. Cô cho biết:
"Tôi đã đi khắp nơi trên thế giới để xin các nhà cầm quyền can thiệp với nhà nước cộng sản Việt Nam trả tự do cho anh tôi và ở mọi nơi mọi người đã rất tốt. Chúng tôi đã in hằng ngàn thư và thỉnh nguyện thư."
Năm 1984, nhờ sự giúp đỡ của Đức Ông Vincent Trần Ngọc Thụ, thư ký riêng của Đức Thánh Cha, cô đã được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Cô đã xin Đức Thánh Cha cầu nguyện và can thiệp cho anh cô.
Năm 1988, tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại Bangkok, hai anh em gặp lại nhau. Người anh trông hốc hác đi rất nhiều trong khi cô em cười tươi như tên của cô trong niềm vui vì công khó của cô đã có kết quả.
Nhìn lại những năm gian nan, đầy lo buồn trong đời, cô Hàm Tiếu nói với phóng viên Catholic News Service:
"Thật tình mà nói, luôn luôn có điều gì đó nuôi dưỡng đức tin của tôi, thường tôi cảm thấy thiên thần hộ thủ luôn bên tôi"
ooOoo
Những lời Đức TGM Nguyễn Văn Thuận viết cách đây 37 năm, lúc ngài mới bị đưa đến quản thúc tại giáo xứ Cây Vong, giờ đây nếu đọc lại, chúng ta sẽ thấy đây là lời tiên tri về cuộc đời của ngài:
Cha lại đi thêm một quảng đường
Chông gai, mịt mù và vô định.
Trên đường Cha gặp lắm lữ khách,
Cha đã xem tất cả là bạn,
Xem mọi biến cố là kinh nghiệm quý báu,
Vì tất cả là hồng ân.
Lữ Giang
Ghi chú: Trích trong cuốn “Vài đòng về ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận” của Lữ Giang phát hành 10.000 cuốn năm 2008.
----------------
---- ------- 
     TRÁCH NHIỆM NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ TRONG CHÍNH TRỊ ( 1 )


Trong thời gian g ần đây một bài được đăng trên một vài tờ báo ở Ý Quốc cho thấy có sựđối chọi giữa hai khuynh hướng, - ở Ý Quốc cũng như ở nhiều Quốc Gia khác có truyền thống Kitô giáo -,  đối chọi giữa việc các vị mục tử nhấn mạnh đến tầm quan trọng hay đúng hơn đến việc cần thiết người công giáo phải dấn thân vào chính trị, trong khi đó thi  dường như lan tràn khắp đó đây dân chúng bỏ lơ lãnh vực vừa kể.

Tệ hơn nữa, thái độ lơ đảng đó cũng lây đến lãnh vực các giáo lý viên, tức là những người đặc trách đào tạo thế hệ công giáo mới ( R. çombardi, Per una educazione cristiana all'impegno politica, in A A:VV, Chiesa e politica, Morcelliana, Brescia 2000: Città del Vaticano 2005, 79-112).

Bài báo có thể đưa đến hai nhãn quang đối ngược:

   - thái độ bi quan: đó là các tín hữu Chúa Kitô, nhứt là các giáo lý viên, là những người có dịp tiếp xúc gần gũi với các lời huấn dạy của Giáo Hội, mà lại không nhận thức được cần thiết phải có sự hiện diện  của người có cùng đức tin vào các lãnh vực trần thế, nhứt là chính trị, thì thật là uổng công  để kêu gọi, tổ chức thêm nữa, tổ chức hội thảo nầy, nhóm hợp kia. Các giáo lý viên là những người phải dạy dỗ đào tạo thiên hạ, nhứt là giới trẻ trong tương lai, mà còn thờ ơ đến như vậy, thì còn phải nói gì với ai nữa?

   - thái độ lạc quan: thái độ thờ ơ trong lãnh vực chính trị có thể được dùng để kích thích thêm đối với việc huấn dạy liên quan trong lãnh vực, cho thấy sự cần thiết phải hiện diện, và nhứt là những đặc tính phải có cho người hoạt động liên hệ. Cần phải kích thích học hỏi sâu đậm hơn,  không những là những đặc tính thuyết lý phải có, mà còn là những phương thức áp dụng thiết thực và chính xác để có được kết quả mong muốn.



Về vấn đề vừa kể, chúng ta nên nhớ lại lời ĐTC Phaolồ VI trong Thông Điệp Evangeli nuntinad:



   - " Loan báo Phúc Âm là một tiến trình phức tạp và đòi buộc nhiều yếu tố khác nhau: đổi mới nhân loại, nhân chứng, loan báo rõ ràng, hiệp nhứt bằng tâm hồn, hội nhập vào cộng đồng, đón nhận những dấu chứng, các sáng kiến tông đồ " ( ĐTC Phaolồ VI Evangelii nuntiandi, 08.12.75, n. 24).



Như vậy cả việc loan báo Phúc Âm trong xã hội cũng đòi buộc các yếu tố đó:

   - cần được đào tạo trí nảo để biết phải hành động thế nào;

   - canh tân hoá tâm hồn để yêu mến, bền tâm thực hiện, nhân chứng, bằng động tác và bằng lời nói, động tác chuyên cần dấn thân đó, động tác cá nhân hay tập thể cũng vậy;

   - lòng  ao ước phổ biến cho người khác chính những lý tưởng về chuyên cần dấn thân xã hội đó.



Để cho bài viết được phân chia rõ ràng, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên chia thân bài làm hai phần:

   - quyền và bổn phận của người công giáo trước vấn đề chuyên cần dấn thân xã hội;

   - một vài yếu tố giúp cho việc tiến hành công cuộc dấn thân đó được tốt đẹp.



   I - Quyền và phận vụ người công giáo trong việc dấn thân xã hội.



Tất cả nhũng ai tham dự vào đời sống xã hội, nghĩa là tất cả mọi người, đều có quyền và nhiệm vụ dấn thân vào lãnh vực chính trị.

Dĩ nhiên, mỗi người hành xử theo phương thức khác nhau, tùy theo tình trạng và năng khiếu, nhưng không ai được dững dưng, đứng ngoài, " ngồi chơi xơi nước "  đối với bổn phận quan trọng nầy.

Điều đó còn có giá trị cá biệt hơn nữa đối với người tín hữu Chúa Kitô, theo ba nhãn quang khác nhau, nhưng bổ túc cho nhau dưới đây: công trình Cứu Độ, hoàn hảo hoá cá nhân và hoàn hảo hoá đời sống xã hội.



Nhưng trước khi đề cập trực tiếp đến những phương diện vừa liệt kê, thiết tưởng chúng ta nên xác định rõ: quyền và bổn phận tham gia vào đời sống chính trị thoát xuất từ quyền công dân trong một đất nươc.

Với ý nghĩa đó và về phương diện công dân, người công giáo không ở trong một trạng thái cá biệt nào để có thể đươc tăng thêm hay bị giảm bớt quyền và bổn phận so với phần dân chúng còn lại trong xã hội.

Ngoài ra người công giáo, trước lương tâm mình, còn có thêm lý do để sống có trách nhiệm hơn trong việc chuyên cần dấn thân vào đời sống chính trị.

Nội dung bài viết của chúng ta đặc tâm lưu ý hơn vào phương diện thứ hai nầy, như là tiếng kêu gọi lương tâm của người tín hữu Chúa Kitô, chớ không phải đến các người công dân, đến các tổ chức cơ chế Quốc Gia, để họ cho phép và dành mọi dễ dàng cho việc chuyên cần dấn thân của người Kitô hữu.



1)  Phận vụ dấn thân chính trị của người tín hữu Chúa Kitô dưới nhãn quang công trình Cứu Độ.



Đời sống người tín hữu Chúa Kitô không phải là một học thuyết thuyết lý, mà là một cuộc sống, cuộc sống trong Chúă Kitô, cuộc sống môn đệ đi theo Người, biến đổi mình thành đồng nhứt với Người.

Cuộc sống môn đệ theo Chúa như vậy, phải là cuộc sống thực sự sống trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người, cả trong lãnh vực chính trị.

Bởi đó lời huấn dạy của Giáo Hội liên quan đến lãnh vực chính trị gồm cả những gì vượt qua bên kia lằn mức các nguyên tắc, các định chuẩn phán đoán và các chỉ thị định hướng.

Lời huấn dạy của Giáo Hội, là lời mời gọi và trợ lực làm sao để có thể hoà đồng được với Chúa Giêsu - tức là tìm kiếm sự thánh thiện - qua các động tác chuyên tâm chu toàn các bổn phận xã hội của mình.

Chúa Kitô đã cứu độ cả con người, cả trong mối tương quan căn bản với người khác và với xã hội.

Thực tế tự nhiên xã hội đã được đảm lấy trong đồ án cứu độ của Chúa, như những gì Tân Ước đã liên tưởng đến rõ ràng:

   - " Xin Thầy cho biết ý kiến, có được nộp thuế cho Cesare hay không ? ...Của Cesare trả cho Cesare, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa " ( cfr. Mt 22, 15-22)

Cũng vậy, diễn từ của Thánh Phaolồ ở Aeropago cũng nói đến: cho thấy nhân loại từ một nguồn gốc duy nhứt, cho thấy mục đích và các phương tiện họ phải dùng để đạt đuợc mục đích, mà mọi người được tiền định cho:

   - " Từ một người duy nhứt, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất. Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẵm mà tìm thấy Người; tuy rằng thực sự người không đi xa mỗi người chúng ta ( Act 27, 26-27).

Cũng vậy, trong Thư gởi các tín hữu Colosseo, Thánh Phaolồ cũng dạy chúng ta nguồn gốc duy nhứt của loài người được làm cho vững mạnh thêm bằng công trình cứu độ của Chúa Giêsu:

   - " Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra truớc mọi loài thọ tạo, vì trong Người muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình..." ( cfr Col 1, 15-20).

 Như vậy tất cả các động tác trần thế có thể được sống như là những đáp ứng lại ơn gọi của Thiên Chúa, trong đó con người sống theo dấu vết của Chúa.



Công trình cứu độ, mà Chúa Giêsu đã thực hiện, chính yếu là giải thoát khỏi tội lỗi, nhằm hướng con người đến đời sống bất diệt và nhân loại chúng ta nhận được ơn cứu độ đó như là một quà tặng từ trời cao.

Tuy nhiên, trong kinh nghiệm của sự cứu độ, con người khám phá ra ý nghĩa đích thực tự do của mình và được giáo dục dùng tự do đó một cách chính đáng.

Như vậy một tầm mức luân lý ( dimension éthique)  được thêm vào tầm mức cứu độ của sự giải thoát: con người được mời gọi hành động

   - tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc giải thoát khỏi những gì nô lệ hoá con người,

   - cả trong những gì có liên quan đến các mối tương quan xã hội.

Mặc dầu công trình cứu độ của Chúa Giêsu không thể chỉ hạn hẹp vào tầm mức luân lý - xã hội, nhưng vì là một hậu quả của ơn cứu độ, việc phân tích giữa tầm mức ơn cứu độ và luân lý -xã hội không đưa đến việc tách biệt giữa hai tầm mức đó.

Thật vậy, ơn gọi con người đến sự sống vĩnh cửu không loại trừ, mà đúng hơn còn xác nhận, việc con người có bổn phận phải dùng nghị lực của mình và các phương thế mình có để phát triển tốt đẹp đời sống trần thế cho mình và cho anh em mình.

Nói cách khác, con người có ơn gọi phải dùng tài năng và nghị lực Chúa cho tiếp tục công trình tạo đựng của Người, làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn về mọi mặt.

Đó là lý do tại sao, sau khi dựng nên con người,



   - " Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn địa đàng, để trồng trọt và canh giữ đất đai " ( Gen 2, 15).

Hiểu như vậy, chúng ta thấy không có lãnh vực nào của thực thể con người, kể cả những gì thuộc lãnh vực chính trị ( có mục đích tổ chức tốt đẹp cho cuộc sống con người, từng cá nhân cũng như đoàn thể ) là lãnh vực bị loại ra bên ngoài, là xa lại với đồ án cứu rỗi của Chúa và xa lạ đối với việc loan báo Phúc Âm, đến sứ mạng của Giáo Hội và của mọi tín hữu Chúa Kitô.

Hiểu như vậy,lãnh vực trần thế, cả lãnh vực chính trị, không thể tách rời khỏi lịch sử cứu rỗi, bởi vì xã hội cùng với những gì hàm chứa trong đó, có liên quan đến đời sống thiết thực của mỗi con người, là



   - " con đường tiên khởi và chính yếu của Giáo Hội " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Redemptor hominis, 04.03.1979, n. 23).



Chăm lo cho con người, đối với Giáo Hội và đối với người tín hữu Chúa Kitô, có nghĩa là lôi cuốn cả xã hội vào việc cứu rổi.

Người tín hữu Chúa Kitô, theo gương Chúa Giêsu, có phận sự phải chu toàn trong những lãnh vực khác nhau của đời sống xã hội, và họ không thể có thái độ hành xử dững dưng vô trách nhiệm đối với lãnh vực chính trị. Làm như vậy không khác nào họ tự tách ra khỏi thế giới  và khỏi dòng lịch sử, mà trong đó họ được Chúa đặt để vào và mời gọi chu toàn sứ mạng của mình.

Bởi đó chúng ta cần mạnh mẽ xác nhận rằng

   - " Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội thuộc toàn phần quan niệm Kitô giáo về đời sống " ( ĐTC Gioan XXIII, Mater et Magistra, 15.05.1961: AAS 53 ( 1961), 453).



   - " Tuy nhiên nhiều khi chúng ta cũng gặp được những thái độ thoát xuất từ việc không có khả năng thẩm thấu được vào mầu nhiệm nầy của Chúa Kitô. Ví dụ như tâm trí của những ai chỉ thấy được Kitô giáo như là tổng hợp các tác động thiết thực và các động tác bác ái, mà không nhận ra được mối liên hệ của Kitô giáo với các hoàn cảnh sống thường nhật, với việc khẩn thiết phải đáp ứng lại các nhu cầu của người khác và với việc ra công gắng sức để loại trừ những bất công. Tôi nghĩ rằng ai có tâm thức đó, là người chưa hiểu được sự kiện Con Thiên Chúa nhập thể có ý nghĩa gì, Người đã nhận lấy thân xác, linh hồn và tiếng nói nhân loại, đã chia xẻ số phận của chúng ta, đến nỗi kinh nghiệm được sự tàn phá rách nát tận cùng của cái chết. Có thể vì vô ý, một vài người xem Chúa Kitô như là người không liên hệ gì đến hoàn cảnh sống của con người.

Một vài người khác, trái lại, có khuynh hướng tưởng tượng rằng để thực sự sống cho ra người, cần phải bỏ ra ngoài tai một vài khía cạnh chính yếu đức tin Kitô giáo. Bởi đó họ hành động như là đời sống cầu nguyện, tiếp tục chuyện trò với Chúa, là thái độ lẫn tránh trách nhiệm của mình, là thoát tục, lìa bỏ thế giới. Họ quên rằng chính Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta tình yêu và phục vụ phải được đẩy đến cùng mức. Chỉ có khi nào chúng ta tìm hiểu mầu nhiệm tình yêu thương của Chúa, mầu nhiệm tình yêu cho đến kết thúc cuộc đời, lúc đó chúng ta mới sẽ có thể hy sinh hoàn toàn chúng ta cho người khác, không để mình bị các khó khăn hay thái độ dững dưng đè bẹp " ( San Josemaria escrivá, È Gesù che passa, /° ed., Ares, Milano 2003, n. 98).



Nhãn quang tổng thể của công trình Cứu Độ cho chúng ta thấy rõ rằng chân lý đích thực của động tác chính trị chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng



   - " mạc khải hoàn hảo con người cho con người và ơn gọi tối thượng của con người " ( Gaudium et spes, n. 22).

Các động tác xã hội, mặc dầu bị tội lỗi làm cho trở nên nặng nhọc, nhưng đã được Chúa Kitô làm cho trở nên vững mạnh như là nơi con người hội ngộ với Chúa, và được nhắc lên một địa vị mới đáng ngưỡng mộ.

Trước khi được Chúa Giêsu tuyên bố rõ rệt trong các lời giảng dạy của Người, điạ vị mới đầy hứng khởi và ngưỡng mộ đó, chúng ta có thể gặp được trong hoàn cảnh sống của Chúa Giêsu.

Người đảm nhận lấy một cuộc sống nhân loại hoàn hảo, thực hiện trọn hảo ơn gọi tiên khởi cội nguồn của con người,

   - qua thập giá Người thánh hoá những gì khó nhọc trong cuộc sống chúng ta

   - và với Phục Sinh Người mở rộng ra viễn ảnh đời sống đời đời.

Còn nữa: Chúa thiết lập nên tình huynh đệ nhân loại trên sự thông hiệp giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhờ đó nhân loại nhận lãnh được đẳng cấp chính đáng hơn trong gia đình Thiên Chúa, trong đó việc tuân giữ trọn hảo lề luật là tuân giữ trong tình yêu thương. Bởi đó không ai có thể triển nở hoàn hảo con người của mình, nếu không qua động tác chân chính hy sinh, hiến tặng mình cho người khác, cho anh em mình.

Chúa Kitô đảm nhận dòng lịch sử nhân loại, bằng cách đánh động, thanh tẩy và tăng cường thêm sức mạnh cho các ước vọng con người, để con người quản trị các thực tại trần thế theo giới răn tình yêu ( Gaudium et spes, n. 22.24.32.38; ĐTC Gioan Phaolồ II, laborem excercens, 14.0.1981, n. 26-27).

Thật vậy

   - " việc chuyên cần dấn thân để có được một xã hội công bình hơn và liên đới hỗ tương hơn là một món nợ tình yêu mà mỗi người tín hữu Chúa Kitô mắc phải đối với mỗi con người và đối với tất cả mọi người, trong mỗi con người đó đều chiếu hiện lên diện mạo của Chúa Cha, mà anh đang tìm kiếm và cầu nguyện " ( G. crepaldi, Presentazione, in AAVV. Radicalità evangelica e impegno politico, AVE, Roma 1994, p.7).



Nói  ngắn gọn,

   - mặc dầu việc tăng trưởng Vương Quốc của Thiên Chúa và việc thăng tiến con người không phải là hai việc đồng nhứt nhau,

   - nhưng giữa hai sự việc có một sự tiếp nối liên kết sâu đậm và bất khả phân.

Bởi đó việc làm môn đê theo Chúa Kitô

   - đòi buộc bổn phận chu toàn các nhiệm vụ chính trị

   - và các nhiệm vụ chính trị vừa kể có thể được hoàn thành tốt đẹp hơn, nếu là những nhiệm vụ được thúc đẩy năng động hoá bằng tình thần Kitô giáo.

Tất cả những điều đó đặt ra cho người tín hữu Chúa Kitô những đòi buộc xác đáng. Đó là người tín hữu Chúa Kitô

   - không được xem các cấu trúc xã hội, chính trị và kinh tế như là những gì không có gì liên hệ đến lịch sử cứu rỗi,

   - nhưng trái lại đó là những thực thể được Chúa giao phó cho chúng ta như là bổn phận phải chu toàn và được thực hiện bằng việc chọn lựa tự do và có trách hiệm của con người .

Và đó là những sự lưạ chọn tích cực hay tiêu cực đối với các giá trị của Nước Trời.

NGUYỄN HỌC TẬP

Bài Xem Nhiều