We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 15 May 2012

Việt Kiều Về Chết Trong Nước :Chưa Đi Chưa Biết

Chưa đi chưa biết


Chưa đi chưa biết Bến Tre,
Nếu đi sẽ thấy cá mè như nhau.
Toàn là mặt lợn đầu trâu,
Cướp nhà, cướp đất, đè đầu dân oan.

Chưa đi chưa biết Bà Đen,
Nếu đi sẽ thấy chúng hèn đáng khinh.
Tàu xâm lăng thì làm thinh,
Dân đen phản đối, tội hình phạt ngay.

Chưa đi chưa biết Bình Dương,
Nếu đi sẽ thấy đau thương vô cùng.
Thấy tàu thì nó gập lưng,
Thấy dân thì nó lại hùng hổ lên.

Chưa đi chưa biết Cà Mau,
Nếu đi sẽ thấy một màu tang thương.
Cầm quyền là lũ bất lương,
Thụt két, tham nhũng, một phường lưu manh.

Chưa đi chưa biết Cần Thơ,
Nếu đi sẽ thấy xác xơ dân mình.
Người dân khổ cực mưu sinh,
Cầm quyền chiếm đất xây dinh, dựng nhà.

Chưa đi chưa biết Đồ Sơn,
Nếu đi sẽ thấy tệ hơn đồ tồi.
Trên cao một lũ ngu ngồi,
Để dân khốn khổ một đời lầm than.

Chưa đi chưa biết Huế thương,
Nếu đi sẽ thấy dân thường thở than.
Lưu manh, trộm cướp làm quan,
Cướp sông, cướp cạn, dân oan kêu trời.

Chưa đi chưa biết Hải Dương,
Nếu đi sẽ thấy chuyện thường xảy ra.
Có miếng đất tốt dựng nhà,
Lãnh đạo nhìn thấy, thế là mất toi.

Chưa đi chưa biết Hòn Chồng,
Nếu đi sẽ thấy dân không còn gì.
Trên cạn bị lãnh đạo đì,
Dưới biển Trung Cộng nó đì mạnh hơn.

Chưa đi chưa biết Lâm Đồng,
Nếu đi sẽ thấy đau lòng tổ tiên.
Giang sơn một giải cao nguyên,
Để tàu khai thác nát nghiền quê hương.

Chưa đi chưa biết Tây Ninh,
Nếu đi sẽ mới biết dân tình làng quê.
Ngày xưa ruộng luá ê hề,
Bây giờ xuất cảnh làm thuê cho tàu.

Chưa đi chưa biết Quảng Ninh,
Nếu đi sẽ thấy hoảng kinh phận đời.
Kiện thưa khó hơn kiện trời,
Viết ra sự thật thì ngồi tù ngay.

Chưa đi chưa biết Quy Nhơn,
Nếu đi sẽ thấy chẳng hơn nhà tù.
Dân đen cho đến thày tu,
Bất đồng ý kiến là tù mọt gông.

Chưa đi chưa biết Sài Gòn,
Nếu đi sẽ thấy chẳng còn thân quen.
Đường xá hỗn độn, thay tên,
Công an, cảnh sát tống tiền giữa trưa.

Chưa đi chưa biết Sông Hương,
Nếu đi sẽ thấy sông thường thở than.
Còn đâu đất Việt dân Nam,
Giang sơn gấm vóc nó mang dâng tầu.

Chưa đi chưa biết Nha Trang,
Nếu đi sẽ thấy từng hàng lệ rơi.
Mỗi lần nhìn ra biển khơi,
Giang sơn sao lại để trôi sang tàu.

Chưa đi chưa biết Vũng Tàu,
Nếu đi sẽ thấy giặc tàu xâm lăng.
Lãnh đạo gục mặt lặng câm,
Biểu tình, phản đối, người dân đi tù!

Chưa đi chưa biết gần xa,
Nếu đi sẽ thấy toàn là lưu manh.
Từ trung ương đến thừa hành,
Thấy tàu thì sợ chỉ hành hạ dân

Chưa đi chưa biết Cali,
Nếu đi sẽ thấy những gì đúng, hay.
Cột đèn mà có chân tay,
Nó cũng vượt biển sang đây tức thì.

Thế mà cũng thấy lắm khi,
Bao người áo gấm bay về Việt Nam.
Hoặc là nghe lũ việt gian,
Đem tiền mà cúng nuôi đoàn lưu manh.
Chúng nó đè cổ dân lành,
Đến cả những bậc tu hành chẳng tha.
Mất Hoàng Sa, mất Trường Sa,
Tây Nguyên Bauxite bán ra cho tàu.
Trí thức chống đối một câu,
Đánh đập, bắt bớ, nhốt sâu trong tù.
Quả là lũ lãnh đạo ngu,
Đôi tai đã điếc, mắt mù đã lâu.
Hỡi người dân Việt toàn cầu,
Đoàn kết chống cộng, chống tàu ngoại xâm.
Một ngày mai sẽ thật gần,
Cờ vàng rực rỡ ba phần Việt Nam.


Bùi Phạm Thành (5/15/2012)
---

  TIN VUI : Việt kiều về chết trong nước

VŨNG TÀU (NV) - Một Việt kiều Mỹ đột ngột qua đời tại nhà của người tình ở thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nhiều Việt kiều Mỹ đã qua đời đột ngột khi về Việt Nam. (Hình minh họa: travel.com)
Theo báo Bà Rịa-Vũng Tàu Online, nạn nhân là Trần Văn Lạc, 58 tuổi, Việt kiều Mỹ. Ông Lạc qua đời 2 giờ sáng ngày 15 tháng 4, tại nhà bà Trần Thị Chung. Sự việc được bà Chung trình báo cơ quan công an. Theo lời bà Chung, bà là vợ không hôn thú của ông Lạc.
Tin cho hay, công an huyện Tân Thành phối hợp với các cơ quan chức năng đã khám nghiệm tử thi và điều tra làm rõ nguyên nhân dẫn đến ông Lạc tử vong.
Thời gian vừa qua, nhiều Việt kiều Mỹ đã đột ngột qua đời khi về Việt Nam. Vụ gần đây nhất xảy ra hôm 12 tháng 4, một Việt kiều Mỹ là ông Nguyễn Tăng Thẩm, 65 tuổi về thăm nhà ở Bình Dương.
Ông Thẩm đến thuê phòng tại khách sạn A Trình ở Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trú ngụ mới vài hôm bỗng đột tử vào chiều ngày 12 tháng 4.
Theo báo Bình Dương Online, chiều ngày 12 tháng 4, 2012, ông đi đâu đó một hồi và trở về khách sạn bằng xe taxi. Ðến giờ dọn phòng, nhân viên khách sạn phát giác ra ông nằm chết từ lúc nào không hay. (KN)
---
SÀI GÒN (NV) - Hôm 26 Tháng Tư, 2012, nhiều người dân tìm thấy thi thể của một người đàn ông trong căn nhà số 944 đường Nguyễn Trãi, phường 14, quận 5, thành phố Sài Gòn, mà theo chủ nhà, nạn nhân là một Việt kiều Mỹ.
Thi thể nạn nhân được đưa về nhà xác. (Hình: Báo Tiền Phong)
Báo Tiền Phong cho biết, “Thấy có nhiều vết máu từ lầu 3 căn nhà nhỏ xuống lòng đường, người dân hiếu kỳ tập trung bàn tán. Chủ nhà kiểm tra thì thấy một người đàn ông (chưa rõ danh tính) là việt kiều Mỹ chết trong phòng, thi thể đã phân hủy, bốc mùi.”
Theo lời tờ báo, cơ quan điều tra đã tới hiện trường để xử lý vụ việc, làm rõ nguyên nhân.
Kể từ đầu năm 2012 đến nay, căn cứ vào tin tức của các báo tại Việt Nam, thì nạn nhân mới nhất này là Việt kiều Mỹ thứ 3 qua đời khi về Việt Nam.
Cách đây hơn 10 ngày, lúc 2 giờ sáng ngày 15 tháng 4, một Việt kiều Mỹ là ông Trần Văn Lạc, 58 tuổi, đột ngột qua đời tại nhà của người tình ở thôn Ngọc Hà, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Trước đó, hôm 12 tháng 4, một Việt kiều Mỹ khác là ông Nguyễn Tăng Thẩm, 65 tuổi, về thăm nhà, cũng đột ngột qua đời tại khách sạn A Trình ở Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. (K.N.)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=147422&zoneid=2

ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG : Độc giả vào mạng Internet để làm gì ?


Độc giả vào mạng Internet để làm gì ?
 

 
Có một số người cứ để ý đến những trang Web nào có số độc giả vào đọc nhiều, nhưng theo tôi, thì không phải số lượng người vào đọc nhiều hay ít là quan trọng, mà cần phải biết mục đích những người đã thường xuyên vào một trang nào đó để đọc và xem những gì, chẳng hạn như có rất nhiều người đã từng vào trang VnExpress của trong nước thực hiện (một trong những trang Web lề phải do đảng Cộng sản VN đề ra); nhưng đa số là để xem những hình ảnh “chân dài” trần truồng như nhộng, xem từ trên xuống dưới và những tin tức cũng liên quan đến… “chân dài” luôn, vì trang này là nơi cung cấp đầy đủ các “dịch vụ mãn nhãn” lắm.
 
Trong khi đó, tại hải ngoại lại có một số trang Web chỉ có một mục đích duy nhất là ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG; những trang báo này không đăng quảng cáo, không đăng những bài viết có lợi cho Cộng sản và mấy tổ chức tay sai, làm lợi cho kế sách Việt gian của Việt cộng, dù được dán lên bằng cái nhãn hiệu “chống cộng”; không quảng cáo cho những tên tuổi có mồi của Việt cộng hiện đang ở trong cũng nnư ngoài nước, không có những hình ảnh “mãn nhãn”, không có những chuyện kinh dị, chuyện phiếm...,  thì đương nhiên, số lượng người vào đọc cũng “kén” bài như chủ trương của các trang web này. Mặc dù vậy, nhưng vẫn có điều đáng mừng là những trang báo ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG thực sự đó, đã và đang được quý vị độc giả có tâm huyết với đất nước ủng hộ và theo dõi, chớ không phải vào để tìm xem, đọc những điều “mãn nhãn” mua vui.
 
Tuy nhiên, với những trang báo mà không có người nào thèm đọc, thì lại là chuyện khác… Riêng tôi, bởi vì gia đình của mình là nạn nhân của cộng sản và là một người lính chiến của QLVNCH, đã từng là một tù nhân trong các trại tù “cải tạo” của bọn Việt cộng, nên mấy chục năm nay, vẫn thường  tìm đọc những trang báo, những bài viết tranh đấu - chính trị có chiều sâu, mà có thể giúp ích cho con đường quang phục quê hương đất nước, tôi cũng được bạn bè bên Mỹ tâm sự rằng, vì tuổi già, không biết truy cập vào mạng Internet, nên họ thường mua những tờ báo giấy để đọc tin tức, hầu biết tình hình thời sự tại Việt Nam; vì từng ngày trôi qua, họ đều cầu mong cho chế độ của Việt cộng sớm sụp đổ, để tất cả đồng bào là nạn nhân của những vụ “cưỡng chế” tức là bị bọn Việt cộng ăn cướp sẽ được thoát khỏi những bàn tay độc ác của đảng cướp Việt cộng.
 
Và từ rất lâu, tôi đã thầm phục những vị chủ nhiệm của những trang báo ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG mà tôi  biết, vì họ có cái tâm với đất nước, với đồng bào, nên họ đã bỏ công sức, bỏ cả tiền bạc ra để tự thực hiện những trang báo đó mà không hề nhận bất cứ một sự tài trợ của một tổ chức nào. Do đó, họ không  có một chút lợi nhuận nào cả. Tôi phục họ, vì nếu vì danh vì lợi, thì họ có thể có những gì họ mong muốn, nhưng họ đã không làm như vậy. Và không phải như thế, mà nhiều lúc, họ còn bị những người không hiểu được những việc làm của họ, vì thế đâm ra ghét họ, thậm chí còn chống họ nữa. Tôi cũng phục họ, vì mặc dù biết như vậy, nhưng họ vẫn không chịu rời bỏ trang báo và những bài viết đấu tranh chống cộng.
 
Những điều đã nói, tôi nghĩ rằng, có lẽ quý độc giả cũng dư biết, vì tại sao họ không chịu đi theo một số tổ chức được cho là “nổi tiếng” để cũng được “nổi tiếng”, mà cứ chịu khổ công cặm cụi mà làm báo ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG. Tôi cũng thầm nghĩ, thà là ở trong bóng tối, không ai biết đến tên tuổi của mình, còn hơn là chường mặt ra, để làm kiểng, làm tay sai cho bọn tay sai của đảng cướpViệt cộng.
 
Tôi đã viết bài: Đã sáng mắt chưa? để nói đến những cuộc sống nghèo khổ, những cái mà đã được gọi là “nhà” của đồng bào ta, thực ra nó còn tệ hơn một cái chuồng nuôi súc vật, nhưng nó là nơi ở của những đứa trẻ đói rách, của những bà mẹ bệnh tật đang nằm liệt trên những chiếc “giường” ọp ẹp, không có thuốc men, không có được bát cháo qua cơn đói lả; nhưng cũng trong lúc đó, thì tại những nhà hàng,  những khách sạn sang trọng, thật đắt tiền, bọn đảng viên cao cấp Cộng sản tại quê hương mình, chúng đang tận hưởng những lạc thú ở trên đời. Ngoài những cảnh xa hoa của bọn Việt cộng, thì còn có thêm những kẻ đã được gọi là “Việt kiều” hàng năm cũng phải trở về Việt nam để “du Xuân” trên những bộ xương còm của những trẻ thơ đói khát, trên sự đau khổ của đồng bào nạn nhân đã và đang nằm đường, xó chợ vì bị bọn Việt cộng ăn cướp qua cái gọi là “cưỡng chế”, như trường hợp của gia đình ông Đoàn Văn Vươn trong những ngày Tết Nhâm Thìn, 2012, đầu năm nay vậy.
 
Người ta thường nghe bọn Cộng sản tuyên truyền qua câu nói của Karl Marx: “Chỉ có LOÀI THÚ VẬT mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc bộ lông của mình”. Vậy chúng, chúng là gì? khi chúng đối xử với người dân trong nước như mọi người chúng ta đã từng nghe, thấy và thấu hiểu; tôi xin được thông qua mà không bàn ở đây.

Đem so đọ câu nói trên với thực tế của những “Việt kiều” thường xuyên ấp ủ câu: “Quê Hương là Chùm Khế Ngọt... !!!” có thấu cho chăng, hay vẫn cứ tiếp tục “săm soi cho bộ lông, bộ cánh của mình” trong những chuyến “về quê ăn Tết” như “Cô Thắm với anh Hùng”, vì xem ra, thì nó cũng đẹp mặt lắm, đối với bà con làng xóm, vì đó cũng là một cách trong vô số những kẻ đã và đang TRẢ THÙ DĨ VÃNG.
 
Tôi còn muốn viết thiệt nhiều, nhiều lắm, nhưng vì không phải là nhà báo, nhà văn, nên tôi chỉ biết viết ra những gì tôi nghĩ, và tôi muốn nói với quý vị chủ nhiệm của những trang báo ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG THỰC SỰ BẤT VỤ LỢI rằng: Tôi phục quý vị, tôi phục sự dũng cảm của quý vị khi đã bỏ ra công sức, để cho chúng tôi có được những thông tin, những bài viết sâu sắc và quý giá, cũng xin các “Việt kiều” hãy thôi, hãy ngưng những “chiêu” TRẢ THÙ DĨ VÃNG.
 

Anh quốc, 13/5/2012
Hoàng Tâm
http://hon-viet.co.uk/HoangTam_DocGiaVaoMangInternetDeLamGi.htm

Hà Văn Thịnh :Tản mạn mùa Hè

Ông Hà Văn Thịnh này là Sử gia hiện dạy tại Đại-Hoc Huế. Những điều ông ấy nói về ông Thiệu và mẹ ông Thiệu là sự thật, nhưng trước năm 75 không được ai nhắc tới.
Kính mời đọc


Tản mạn mùa Hè



Trong tất cả những mùa Hạ, dù có đỏ lửa hay không mà tôi đã biết, chưa có mùa Hạ nào lại nhiều buồn đau và day dứt như năm nay... Có lẽ, không cần nói thì ai cũng biết rằng nguyên nhân chính làm nên những nỗi buồn là những gì tôi và nhiều người khác chứng kiến, ngày một đáng... buồn hơn, giống như giá cả mỗi ngày, càng ngày càng có nhiều nỗi xót xa, uất ức hơn và, càng ngày thì sự chất chứa của những bức bối, càng trở nên ngột ngạt hơn...


Dịp Lễ năm này, tôi về thăm mẹ già và các em, cháu chắt ở Vinh. Đi đâu cũng nghe thấy tiếng ta thán (có khi thầm thì, ngó trước nhìn sau rồi mới lào phào) của người dân. Thậm chí, một người bạn là lãnh đạo cấp Sở nói với tôi rằng, “Nói thật, tôi không biết đang đi về đâu” (!). Anh ấy không nói rõ “cái gì” hay “ai” – kinh tế, văn hóa..., đang “đi”, thành thử tôi cũng chẳng dám đoán mò, bởi thời buổi này viết sai là chết, có khi chưa sai cũng chết. Anh bạn kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị: Anh ấy viết bài về học tập chính trị, trong đó có câu đại ý – học tập một đàng, làm một nẻo thế này thì ngọn lửa Diên Hồng đã tắt trước khi... học. Tòa soạn báo sửa lại là “ngọn lửa Diên Hồng đang bùng cháy mạnh mẽ”. Kể xong, bạn tôi văng ra một câu: “Thế có chán đời không, biên tập như thế thì viết làm đếch gì nữa” . Một người bạn khác, cũng ở cấp lãnh đạo thì nói với tôi và vài người khác là nhìn thấy cảnh đập dùi cui vào đầu, vào mặt những nông dân ở Văn Giang, đập cả vào đầu hai phóng viên của VOV, anh không thể cầm lòng được. Khi nói câu ấy, tất cả chúng tôi thấy mắt anh đỏ hoe, còn mắt chúng tôi thì có lẽ cũng hơi cay cay một tẹo gọi là... Anh ấy mơ ước rằng các quan chức địa phương hành xử như thế phải bị kỷ luật, những người dùng dùi cui đập vào mặt dân, vào mặt phóng viên VOV phải bị đuổi khỏi ngành...! Hình như anh bạn tôi là cháu đích tôn của Chử Đồng Tử? Tại sao chính quyền thực hiện cưỡng chế quyết liệt và tàn bạo thế là câu hỏi của tất cả mọi người khi đề cập đến vấn đề này. Tại sao hai phóng viên, Người Nhà Nước chính hiệu, bị đánh đập dã man mà tất cả đều im gần giống với bồ thóc? Đọc bài của nhà báo Võ Văn Tạo mà đau, mà xót: Nhà báo Việt Nam khổ HƠN... chó! Nhất là, thời điểm của việc cưỡng chế, xét theo ý nghĩa xã hội là phi chính trị và thiển cận vô cùng bởi nó xảy ra chỉ vài ngày trước khi người ta hát khắp nơi “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...”. Tôi không thể trả lời ngoài cái ý nghĩ giả định (chẳng biết đúng hay sai, nếu sai, nhờ quan chức nào đó dạy bảo dùm): Đó có thể là thông điệp rất rõ ràng rằng những người có trách nhiệm ở Văn Giang không từ bất kỳ thủ đoạn nào, bất kể người dân bị bức bách và đau đớn ra sao, miễn là thực thi được ý chí quyền lực của họ và “thông báo rõ ràng” cho dư luận biết để mà sợ, biết để mà thôi những ngo ngoe...
Lòng dân như thế, cán bộ như kia thì thử hỏi, làm sao mà vui cho nổi? Có một điều đáng mừng là không phải tất cả quan chức đều bịt mắt bưng tai đâu. Họ hiểu và cũng dám nghĩ, dám nói lắm như hai dẫn chứng tôi vừa kể trên, chỉ có điều là cũng chỉ nói ở mức độ... thì thào.

Chẳng bao giờ tôi cắt nghĩa nổi tại sao chính quyền lại tàn nhẫn, trắng trợn và ghê gớm đến thế trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Không còn gì để nói về cái thảm thê của mấy chữ khôi hài của dân, vì dân. Coi dân như cỏ rác về địa vị, coi dân như kẻ thù về mặt ý thức quyền lực, coi dân như đối thủ bất cân xứng về quyền lợi, coi dân như một lũ ngu dốt đầy khinh miệt, xét về mặt xã hội và, coi dân như một đám ô hợp không thể nào động đến cái lông chân của vương quyền, xét về mặt tư cách cai trị - là những hình ảnh thật rõ ràng mà các nhà sử học đời sau sẽ nhớ. Ít nhất là nhớ! Nghe đâu người ta đang đổ lỗi cho clip giả (?). Giả mà không bắt được, không tống giam mới tài (!)...

Ngày 30.4, có tin nói rằng máy bay khu trục của Trung Quốc xâm phạm – khiêu khích ngay trên không phận chủ quyền của Việt Nam, rằng TQ chuẩn bị triển khai dàn khoan dầu 30.000 tấn ở Biển Đông... Đến nước này mà còn u mê, nghếch ngốc tin vào sự hữu hảo của bành trướng Trung Hoa thì có họa là bị điên hoặc là mắc chứng bệnh ngu xuẩn bền vững.

Những câu chuyện trong mấy ngày nghỉ lễ bàn rất nhiều về đất đai, về những biệt thự “sống nhờ lương” hoặc là sướng nhờ... của quan chức cao cấp, về những tài sản không thể đo đếm được... Chợt nhớ trong chuyến đi công tác mới đây ở Phan Rang, tôi nghe mấy vị già cả kể, nào là ngày giải phóng Phan Rang (17.4) – chốt chặn ác liệt nhất trong toàn bộ phòng tuyến Xuân Lộc, hàng vạn con sâu dài từ 5 đến 10 cm bò lổm ngổm đầy đường. Không biết loài sâu ấy có giống với rất nhiều sâu bây giờ (như Chủ tịch nước đã nói) hay không? Người dân kể chuyện mẹ của ông Thiệu không thèm vào Sài Gòn ở với con trai mà vẫn cứ bán bánh canh ở chợ Phan Rang, rằng ngôi nhà của thân mẫu TT VNCH nhỏ và đơn sơ lắm. Nghe đâu, khi xây cất nhà cho mẹ, ông Thiệu không đồng ý trưng thu - lấn đất của nhà hàng xóm, bằng chứng là mấy cây dừa trên 50 năm tuổi làm hàng rào giữa hai hộ gia đình vẫn còn nguyên. Người dân còn kể cho tôi nghe rằng các quan chức địa phương muốn làm đường trải nhựa vào con hẻm có nhà thân mẫu của TT nhưng ông Thiệu không đồng ý, với câu nói đại ý, nếu rải nhựa thì mọi con hẻm tương tự ở Phan Rang đều phải được rải như nhau...

Mấy chục năm là quãng thời gian không hề ngắn đối với một quốc gia dù đứng dưới bất kỳ góc độ muốn tư biện nào. Mọi ý đồ đổ lỗi cho chiến tranh hay thiên tai, “khủng hoảng chung của thế giới”, thực chất chỉ là muốn khỏa lấp cái trì trệ, kém cỏi của tư duy kinh tế - xã hội hiện đại. Để chứng minh cho điều này, lịch sử nhân loại không hề ky bo: Chỉ cần nhìn vào sự tương phản tàn nhẫn giữa hai miền Nam – Bắc Triều Tiên là đủ để biết sai lầm của quyền lực đã gây ra những hậu quả khủng khiếp và tồi tệ như thế nào! Những người tự xưng là cộng sản ở Triều Tiên có thể bất chấp tất cả - kể cả số mệnh của đất nước, của hàng triệu người dân miễn là bảo vệ được quyền lợi khổng lồ được sinh ra từ “nguyên tắc” cha truyền con nối.

Tôi ngắm mấy tấm ảnh tôi chụp căn nhà nhỏ (xin nhường sự phân tích, nhận xét cho bạn đọc) của thân mẫu ông Nguyễn Văn Thiệu, ngắm ảnh cái “biệt thự” ven biển của ông, dành cho riêng ông mỗi khi về thăm quê (nghe đâu nguyên trạng đến 90%) trong những ngày hè bức bối để chiêm ngẫm về một cái gì đó thật khó lý giải từ vô thức. Chợt giật mình vì “mới ngộ” (như lời Đức Phật – prajnã) được một trong những điều tối giản của hiểu biết: Lịch sử bị bóp méo cũng nguy hiểm chẳng khác chi tội giết người bởi nó giết chết sự thật, giết chết cả niềm tin của cả một thế hệ. Tôi chẳng phát hiện được gì nhiều nhưng chắc chắn đã thu được một điều: Căn nhà nhỏ đó không thể mang tính thuyết phục của bằng chứng về sự tham nhũng ghê gớm của ông Thiệu, như tôi đã từng được dạy, không chỉ một lần!

Nhà của thân mẫu ông Nguyễn Văn Thiệu

Con đường đầy đất đá trước cổng
“Biệt thự” – Nhà Mát ở bờ biển Phan Rang
Copy từ Boxitvn.net - boxitvn.blogspot.com
http://macphuongdinh.blogspot.com/

Chủ Đề: Nhân Ngày Tội Đồ Dân Tộc Ra Đời 19.5 : CHÚT QUÀ SINH NHẬT

“Who controls the past, controls the future; who controls the present, controls the past.”
George Orwellhttp://www.kitawebs.com/toiac.bmp
Lăng HCM
Công viên Lê Văn Tám, ở Thành phố Hồ Chí Minh, được bao quanh bởi bốn con đường lớn: Hai Bà Trưng, Võ Thị Sáu, Điện Biên Phủ và Đinh Tiên Hoàng. Giữa lòng đô thị ngột ngạt và nóng bức, sự hiện diện của một khoảnh đất rộng rãi với cây xanh bóng là một món quà tặng (vô cùng) qúi giá cho công chúng.
Vậy mà vẫn có lời ra, tiếng vào:
- Đâu có thằng nhỏ (mẹ rượt) nào tên Lê Văn Tám, mấy cha?
Cứ theo như sử Đảng thì đêm ngày 1 tháng 1 năm 1946, em Lê Văn Tám tẩm dầu vô người, xong bựt quẹt cho cháy như cây đuốc, rồi chạy cái vù vô kho xăng ở Thị Nghè. Khỏi nói cũng biết là vụ này nổ lớn.
Cái kho, tất nhiên, tiêu tùng. Đài phát thanh bên kia đường cũng sập tiệm luôn. Nguyên cả một đại đội lính bảo vệ thì bị thiêu sống, chết không còn một mạng!
Thiệt là một trang sử chói loà và khét lẹt. Đọc mà thấy ghê, tưởng cứ y như thiệt vậy. Tưởng vậy mà không phải vậy.
Sự thiệt, theo lời giáo sư Phan Huy Lê (Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) qua một cuộc phỏng vấn – dành cho báo Người Việt – vào hôm 18 tháng 3 năm 2005 thì em Lê Văn Tám chỉ là một sản phẩm tưởng của tượng mà thôi.
Và đó là lý do khiến trong thiên hạ có lời xì xào, đòi bỏ cái tên Lê Văn Tám. Tôi có “rà” lại vụ này, và thấy Wikipedia Việt Nam ghi lại như sau:
“Lê Văn Tám là một nhân vật hư cấu. Chuyện ‘ngọn đuốc Lê Văn Tám’ được tuyên truyền rộng rãi để cổ động tinh thần chiến đấu của nhân dân … Tên Lê Văn Tám đã được đặt cho một số trường tiểu học, tượng đài, rạp chiếu phim, đường phố hay các địa danh khác.”

Chèn ơi! Như vậy mà mấy cha mấy mẹ cứ nằng nặc đòi xoá tên Lê Văn Tám thì tốn kém, và phiền phức biết chừng nào mà kể. Trong hoàn cảnh đất nước đang còn gặp nhiều khó khăn (về mọi mặt) tôi đề nghị là cứ giữ tên cũ đi, chỉ cần bôi bớt một nét của chữ “m” cho nó thành “n” thôi.
Vậy là khắp nước sẽ có những công viên, trường học, tượng đài Lê Văn Tán chớ không phải là Lê Văn Tám nữa. Rõ ràng vừa tránh được điều tiếng, vừa đỡ tốn công và tốn của. Cứ kể như chuyện em Tám chỉ để tán nhảm, cho vui thôi.
Mà sử sách của Đảng ta thì những chuyện nhảm nhí cỡ đó (kể như) là chuyện nhỏ. Hổng tin, thử nhìn lại cuộc đời hoạt động cách mạng của bác Tôn mà coi.

Hình bìa cuốn Imagined Ancestries of Vietnamese Communism (Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) của Chirstoph Giebel. Nguồn: http://www.washington.edu
Cũng cứ theo như sử Đảng thì bác Tôn sinh năm 1908, tại Long Xuyên. Năm 1914, ông bị bắt lính qua Tây. Năm 1919, chính ông là người treo cờ đỏ (trên chiến hạm Pháp) ở Hắc Hải để ủng hộ cách mạng Nga. Năm 1920 ông trở về nước. Năm 1925, ông tổ chức đình công để cầm chân một chiến hạm Pháp ở nhà máy Ba Son…
Sự nghiệp và thành tích của bác còn được ghi rõ trong hai tác phẩm chính: Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực (nxb Sự Thật 1982) và Người thủy thủ phản chiến ở Biển Đen (nxb Thông Tin Lý Luận 1988).
Cả sử lẫn sách của Đảng ta đều ghi rành rành như vậy mà (rồi) vẫn có điều tiếng eo xèo, dị nghị. Trong một cuộc phỏng vấn do BBC thực hiện, nghe được vào hôm 24 tháng 8 năm 2003, ông Christoph Giebel – giáo sư sử học của đại học Washington, Hoa Kỳ – đã nói rằng bác Tôn “không có mặt trên bất kỳ con tầu nào của Pháp, liên quan đến vụ binh biến ở Hắc Hải”. Nói cách khác (ít tế nhị hơn) là vụ bác Tôn tham dự vào việc nổi loạn và treo cờ ở Biển Đen chỉ là chuyện… xạo! Cái vẫn thường được mô tả là “cuộc đình công thắng lợi” mà bác Tôn đã khởi xướng ở cảng Ba Son, tất nhiên, cũng… xạo luôn!
Cha nội giáo sư Christoph Giebel (thiệt) vô duyên hết biết luôn! Chuyện của đất nước người ta, mắc mớ gì mà ngứa miệng nhẩy vô bàn luận (và bàn loạn) như vậy chớ?
Hồi mới nghe vụ này, tui cũng tưởng là thằng chả vì rảnh quá sinh thói ngồi lê đôi mách – kiếm chuyện làm quà – nên nghe qua rồi bỏ; ai dè, năm sau, năm 2004, nhà xuất bản University of Washington Press cho ra đời cuốn Imagined Ancestries of Vietnamese Communism (Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) của Chirstoph Giebel.
Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản, tác phẩm này đã “làm sáng tỏ cuộc đời thật cũng như được tô vẽ thêm của Tôn Đức Thắng (1888-1980), một nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng và thần tượng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đấy chỉ là một bản lí lịch dùng cho các buổi lễ lạt mà thôi… Công trình nghiên cứu này theo sát những quá trình phức tạp, kéo dài hàng chục năm, trong đó những hành động dũng cảm nổi tiếng của Tôn Đức Thắng đã bị xuyên tạc hay đơn giản là bịa ra và – tuỳ theo nhu cầu lịch sử và chính trị – được Đảng sử dụng như một công cụ tuyên truyền” (*).
(Ancestries of Vietnamese Communism illuminates the real and imagined lives of Ton Duc Thang (1888-1980), a celebrated revolutionary activist and Vietnamese communist icon, but it is much more than a conventional biography…. The study traces the decades-long, complex processes in which famous heroic episodes in Ton Duc Thang’s life were manipulated or simply fabricated and-depending on prevailing historical and political necessities-utilized as propaganda by the Communist Party”).
Sự nghiệp cách mạng của bác Tôn, từ nay, kể như là đi… xuống. Nói tình ngay thì dân Việt đã biết là bác ấy “xuống” lâu rồi, chớ đâu có cần phải chờ đến lúc được cái ông giáo sư ở tuốt bên Huê Kỳ… phát hiện.
Trước đó cả thập niên, vào năm 1995, nhà xuất bản Văn Nghệ (California) đã cho trình làng cuốn Thư gửi Mẹ và Quốc hội của Nguyễn Văn Trấn. Qua cuốn sách này, Chủ tịch Nước Tôn Đức Thắng được toàn dân hết sức thương cảm và ái ngại – sau khi nghe ông than thân, bằng một câu chửi thề, được ghi lại, nơi trang 266, như sau:
“Đ… mẹ, tao cũng sợ!”
Thiệt, nghe mà muốn ứa nước mắt. Cỡ Đại tướng đang cầm quân mà bị bắt phải cầm quần cũng lật đật cầm liền (và cầm rất chặt) thì Chủ tịch Nước – nghĩ cho cùng – đâu có là cái đinh gì, trong vòng tay của Đảng. Sợ là phải (giá) và là chuyện mà ai cũng… thông cảm được.
Điều đáng tiếc (và rầy rà) là thiên hạ lại không đủ bao dung để nhắm mắt làm ngơ trước những con đường, những cơ quan, và trường học đã (lỡ) mang tên Tôn Đức Thắng. Cứ để nguyên như vậy cũng (hơi) kỳ nhưng thay thì kẹt lắm, nếu chưa muốn nói là kẹt lớn. Rồi mấy cái tên bác Nguyễn Lương Bằng, bác Lê Duẩn, bác Trường Chinh… – và cả đống những mấy bác và mấy chú (thổ tả) khác nữa – không lẽ cũng phải thay luôn? Tốn kém bộn à, chớ đâu phải chuyện chơi, mấy cha?
Cũng như trường hợp của em Lê Văn Tám, tôi xin đề nghị “một giải pháp tình thế” như sau: cứ giữ tên bác Tôn đi, chỉ đổi chút xíu thôi. Thay vì “c” ta sửa thành “t” trong chữ “đức” là… rồi. Tôn Đức Thắng sẽ biến thành Tôn Đứt Thắng. Gọn bâng. Vừa yên được lòng người, vừa đỡ mất lòng Bác, lại cũng đỡ tốn công và tốn của.
Vấn đề của em Tám và bác Tôn, cứ khoanh vùng lại như vậy – kể như – là mát trời ông Địa! Bây giờ xin nói đến chuyện (linh tinh) của bác Hồ. Bác này thì tăm tiếng (và tai tiếng) hơn bác kia… chút xíu!
Sau khi bản sao bức thư của anh Nguyễn Tất Thành (xin vào học Trường Thuộc Địa) được phát tán tùm lum, và sau khi cả nước đều biết rằng kiệt tác Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch do chính bác Hồ là tác giả thì dư luận – trong cũng như ngoài nước – bắt đầu rục rịch đòi đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh, và san bằng cái lăng của ổng.
Vì có cả trăm con đường, công viên, trường học, tượng đài… mang tên Lê Văn Tám nên chuyện thay đổi mới khó khăn, tốn kém. Chớ chỉ có một địa danh mang tên Hồ Chí Minh (quang vinh) thì chuyện đổi thay, xem ra, là chuyện nhỏ. Stalingrad hay Leningrad đều đã được giải phóng, và trở về với cái tên cũ của nó thì không cớ chi mà cái tên Sài Gòn lại bị mất luôn.
Vụ cái lăng thì còn… khỏe nữa. Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh đã có dự kiến như sau:
“Tôi đề nghị một phương pháp xử lý lăng Hồ Chí Minh như vầy: chôn ông ta thật sâu dưới lòng đất, ngay nơi xác ông ta đang quàn, rồi dán lên bên trong, bên ngoài của tất cả những bức tường, trần và các lối đi trong lăng những đầu lâu của những nạn nhân, ưu tiên là những nạn nhân trong cải cách ruộng đất, và đổi tên thành: LĂNG NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VIỆT NAM.”

Tượng thờ Hồ Chí Minh trong Đại Nam Quốc Tự. Nguồn: http://thuvienhoasen.org
Nguyễn Quốc Chánh nói vừa dứt lời thì đã có một thằng cha (mả mẹ) nào đó lật đật ôm bác Hồ bỏ gọn vô… Đại Nam Quốc tự, ở Bình Dương. Theo tường thuật của báo Tuổi Trẻ Online , đọc được vào ngày 10 tháng 2 năm 2007, bên trong chính điện của ngôi chùa này thờ tượng đức Phật, vua Hùng Vương và… Chủ tịch Hồ Chí Minh! Bên ngoài là khu giải trí có vườn thú, biển nhân tạo, và khu khách sạn năm ngàn phòng – giá thuê rẻ rề hà 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm, 4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm!
Ở đâu có mật là có ruồi. Rồi ra, đĩ điếm ở bến Ninh Kiều, cũng như ở khắp mọi nơi sẽ đổ về nhiều (hơn dân) là cái chắc.
Dù có tượng Phật (làm vì) bên trong chính điện, với cái thứ chùa chiền tào lao và uế tạp (với sở thú, khu ăn chơi, phòng ngủ và đĩ điếm kề bên) như thế, người Việt có tên gọi dành riêng cho nó là dâm từ.
Dâm từ, theo Việt Nam Tự Điển – Khai Trí Tiến Đức là «đền thờ thần bất chính». Còn theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh – Tịnh Paulus Của (Imprimerie Rey, Curol & Cie : Sài Gòn 1895, trang 219) là miếu thờ yêu quái. Ở dâm từ, dân gian hay thờ cúng những… dâm thần! Hồ Chí Minh vốn vẫn thường bị coi là một tay gian thần. Nay, thêm tước vị dâm thần nữa thì e (hơi) quá tải.
“Who controls the past, controls the future; who controls the present, controls the past.” Khi viết dòng chữ này, trong tác phẩm Nineteen Eighty – Four, vào năm 1948, George Orwell đã có thể hình dung ra được những thủ đoạn ma mãnh (của những chế độ toàn trị) trong việc ngụy tạo lịch sử.
Điều mà George Orwell không ngờ tới là kỹ thuật truyền thông tân tiến sẽ dẫn dắt nhân loại bước vào Thời đại Thông tin. Ở thời đại này, mọi cố gắng đánh tráo dĩ vãng chỉ tạo ra được những trò hề lố bịch mà thôi.
© Tưởng Năng Tiến
-----------
CA DAO THÀNH HỒ
Phong lan, phong chức, phong bì
Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
Phong lan ngắm mãi cũng buồn
Phong chức thì phải cúi luồn vào ra
Chỉ còn cái phong thứ ba
Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.

***
Một năm hai thước vải thô
Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra
May quần thì hở lá đa
Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ
Vội đem cất ảnh bác Hồ
Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm

***
Thanh “cha”, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì nó “thanh kiu” (thank you)

***
Đảng ta là đảng thần tiên
Đa lô (đô-la) thì được, đa nguyên thì đừng.

***
Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”
Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

***
Trăm năm bia đá cũng mòn
Bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm.

***
Thầy giáo, lương lãnh ba đồng
Làm sao sống nổi mà không đi thồ
Nhiều thầy phải đạp xích lô
Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?

***
Cô giáo phải bán bia ôm
Ôm phải học trò, ăn nói sao đây?

***
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
Tìm chi cho phải mất công
Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi.
Bác Hồ đại trí, đại hiền

Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong

Minh Khai phận gái chữ tòng

Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì.

Hoan hô độc lập tự do

Để cho tớ nhá bo bo sái hàm


***

Một thằng lên vũ trụ

Mười thằng đi Mút Cu (Moscow)

Trăm thằng chén lu bù

Triệu thằng đói rét để khu ra ngoài


***

Nhân dân thiếu gạo thiếu mì

Mày vào vũ trụ làm gì hở Tuân???

Ai lên vũ trụ thì lên

Còn tôi ở lại ghi tên mua mì


***

Ở với Hồ Chí Minh

Cây đinh phải đăng ký

Trái bí cũng sắp hàng

Khoai lang cần tem phiếu

Thuốc điếu phải mua bông

Lấy chồng nên cai đẻ

Bán lẻ chạy công an

Lang thang đi cải tạo

Hết gạo ăn bo bo

Học trò không có tập

Độc Lập với Tự Do

Nằm co mà Hạnh Phúc!


***

Ngày xưa chống Mỹ chống Tây

Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm


***

Còn trời còn nước còn non

Còn thằng cộng sản là còn nát tan


***

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời cộng sản nó thương dân mình?
Sưu tầm

Chuyện không Nên Nói : “Hôn Nhân Đồng Tính”

Tại sao kết hiệp đồng tính so sánh với hôn nhân?

Những hoang mang tiếp theo việc Obama tuyên bố ủng hộ “hôn nhân đồng tính”

Category: Giáo Hội Hoàn Vũ
BY: J.B. ĐẶNG MINH AN
http://media.nguoiduatin.vn/public/data/images/ngoctra/thang5/tuan3/nguoiduatin-gay_marriage.jpgHôm thứ Tư, Obama, người đã từng viện dẫn Kinh Thánh để chống lại việc coi “hôn nhân đồng tính” ngang hàng với hôn nhân truyền thống - giữa một người nam và một người nữ - trong cuộc tranh cử tổng thống 4 năm về trước, thì nay lại cũng viện dẫn Kinh Thánh để ủng hộ cho “hôn nhân đồng tính”.

Giải thích cho lập trường bất nhất này của mình, Obama nói rằng tư duy của mình đã “tiến hóa”. Obama đã nói với một giọng điệu thương cảm rất điêu luyện về kịch nghệ, chỉ chút xíu nữa là rơi nước mắt.

Trước diễn biến này, Đức Hồng y Timothy Dolan, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã ra tuyên bố chỉ trích lập trường của Tổng thống Barack Obama về hôn nhân đồng tính. Ngài nói rằng ngài cầu nguyện cho tổng thống và chính quyền của ông "hành động một cách đúng đắn để duy trì và bảo vệ hôn nhân như sự hợp nhất của một người đàn ông và một người nữ."

Đức Hồng Y cho rằng ý kiến của tổng thống về hôn nhân đồng tính "theo sau những hành động khác đã được thực hiện bởi chính quyền Hoa Kỳ đang làm xói mòn hoặc xem thường ý nghĩa độc đáo của hôn nhân."

Ngài nói, "Chúng ta không thể im lặng khi đối mặt với những lời nói hay hành động làm suy yếu định chế hôn nhân, là nền tảng của xã hội chúng ta”

Tuy nhiên, quan điểm của Đức Hồng Y nhanh chóng bị “chết ngộp” trong vô số những bài tường thuật trên thế giới về quan điểm liên quan đến vấn đề này của ba “thần học gia Công Giáo” đang giảng dạy tại các học viện thần học của Dòng Tên tại Hoa Kỳ.

Theo Catholic World News, ba nhà thần học Paul Lakeland của Fairfield University, Daniel Maguire trường đại học Marquette, và Frank Parella của Đại học Santa Clara - đã nhanh chóng lên án quan điểm về “hôn nhân đồng tính” của Đức Hồng Y Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Daniel Maguire nói: "[Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội nghị Công giáo Hoa Kỳ đang giải thích sai lạc giáo huấn Công giáo, và đang cố gắng để trình bày quan điểm thiểu số mang phong cách riêng của họ như là quan điểm của Giáo Hội Công Giáo."

"Các giám mục chắc chắn sẽ đứng về phía [Đức Hồng y Timothy] Dolan và Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng về vấn đề này, họ đang ly giáo về luân lý trong một Giáo Hội đã thay đổi theo chiều hướng có một cái nhìn nhân đạo hơn về quyền của những người mà Thiên Chúa đã làm cho đồng tính."

Daniel Maguire, một cựu linh mục Dòng Tên, đã xuất ra để lập gia đình nói tiếp: "Hầu hết các nhà thần học Công giáo chấp nhận hôn nhân đồng tính và người Công giáo nói chung không có quan điểm khác biệt với những người khác về vấn đề này". Maguire cũng là một người bảo vệ kiên quyết phá thai hợp pháp.

Trong khi đó, “thần học gia” Parella cho biết ông thấy "không tìm thấy gì trong các sách Tin Mừng" là cơ sở hướng dẫn Giáo Hội phản đối “hôn nhân đồng tính”.

Trong khi đó, “thần học gia” Lakeland nói rằng “chẳng có cơ sở thần học nào biện minh cho lập trường của các giám mục Hoa Kỳ phản đối ‘hôn nhân đồng tính’”

Từ Vatican, Đức Tổng Giám Mục Thomas Wenski đang trong chương trình adlimina cho biết ngài tin rằng Obama hỗ trợ cho hôn nhân đồng tính là một động thái chính trị cố ý gây ra một sự phân tâm trong chiến dịch bầu cử năm nay.

Đức Cha Thomas Wenski cho rằng Obama đã cố ý hướng dư luận chú ý đến vấn đề “hôn nhân đồng tính” mà quên đi những thảm hại về kinh tế trong 4 năm cầm quyền của mình.

Ngài nói: "Cần lưu ý đến thời điểm cụ thể mà tổng thống nêu lên lập trường này. Tuần trước, báo chí đã nói rằng trọng tâm của cuộc bầu cử này sẽ là nền kinh tế. Và tôi nghĩ rằng nền kinh tế đã không được cải thiện theo chiều hướng mà mọi người đã hy vọng.”

Giáo Hội đang đứng trước những khó khăn nhất định khi những lập trường đứng đắn của mình lại bị chính các “thần học gia” phê phán là “bảo thủ” và “phi nhân bản”.

Chúng tôi xin trích thuật dưới đây tài liệu chính thức của các Giám Mục Hoa Kỳ về các kết hiệp đồng tính.

Dẫn Nhập

Ngày nay một trào lưu đang lớn mạnh muốn đưa những mối quan hệ thường được gọi là sống chung đồng tính lên ngang hàng về mặt luật pháp với hôn nhân. Tình trạng này thách đố những người Công Giáo - và tất cả những ai tìm kiếm sự thật - phải nghĩ sâu xa về ý nghĩa của hôn nhân, mục đích của nó và giá trị của nó đối với những cá nhân, gia đình và xã hội. Suy niệm về vấn đề này, qua sự vận dụng cả lý trí và đức tin, là một khởi đầu thích hợp và là khuôn khổ cho sự bàn bạc hiện nay.

Chúng tôi, các Đức Giám Mục Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, xin được đưa ra nơi đây những sự thật căn bản để giúp hiểu biết giáo huấn Công Giáo về hôn nhân và giúp đề cao hôn nhân cũng như tính chất thánh thiêng của nó.

1. Hôn nhân là gì?

Hôn nhân, như đã được thiết lập bởi Thiên Chúa, là một sự kết hiệp trung tín, độc quyền và suốt đời giữa một người nam và một người nữ được kết hiệp trong một một cộng đoàn mật thiết của đời sống và tình yêu. Họ dâng hiến hoàn toàn chính họ cho nhau và cho bổn phận diệu kỳ là đem con cái của họ vào trong thế gian này và nuôi dưỡng chúng. Ơn gọi hôn nhân được đan sâu trong tâm trí con người. Nam cũng như nữ. Tuy nhiên, như đã được tạo dựng, họ tuy khác biệt nhưng đã được tạo ra cho nhau. Sự bổ túc lẫn nhau này, bao gồm cả sự khác biệt về giới tính, lôi kéo họ lại với nhau trong một sự kết hiệp yêu thương lẫn nhau và luôn mở ngõ cho sự sản sinh con cái (x. Sách Giáo Lý Công Giáo - SGLCG- số 1602-1605).

Những sự thật về hôn nhân này hiện hữu theo trật tự tự nhiên và có thể lĩnh hội dưới ánh sáng của lý trí con người. Những sự thật này đã được xác nhận trong Mạc Khải Thánh Thiện của Thánh Kinh.

2. Đức tin nói với chúng ta điều gì về hôn nhân?

Hôn nhân xuất phát từ bàn tay từ ái của Thiên Chúa, Đấng đã tạo nên cả người nam và người nữ giống hình ảnh thánh thiện của Ngài (x. Kn 1:27). Người đàn ông "lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (Kn 2:24). Người đàn ông nhận người đàn bà như là "xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" (Kn 2:23). Thiên Chúa chúc phúc cho hai người nam nữ và ra lệnh cho họ "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều" (Kn 1:28). Chúa Giêsu cũng đã lập lại những lời dạy trong Sách Khởi Nguyên khi nói: "Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt." (Mc 10:6-8).

Những đoạn Thánh Kinh này giúp chúng ta hiểu chương trình của Thiên Chúa dành cho hôn nhân. Đó là một sự kết hiệp mật thiết trong đó những người phối ngẫu, như những con người bình đẳng với nhau, ban tặng chính mình cho nhau hoàn toàn và đầy thương yêu. Qua món quà trao tặng nhau là chính mình, họ hợp tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản con cái và chăm sóc cho chúng.

Hôn nhân vừa là một cơ chế tự nhiên, vừa là một sự kết hiệp thánh thiêng bởi vì nó bắt rễ từ chương trình tạo dựng thánh thiện của Thiên Chúa. Thêm vào đó, Giáo Hội dạy rằng hôn nhân hợp pháp của những người đã chịu phép Rửa Tội là một bí tích - một thực tại cứu độ. Đức Giêsu Kitô đã biến hôn nhân thành một biểu tượng cho tình yêu của Ngài đối với Giáo Hội (x. Eph 5:25-33). Điều này nghĩa là một cuộc hôn nhân bí tích làm cho thế giới thấy, theo khía cạnh nhân loại, những điều gì đó về tình yêu trung tín, sáng tạo, phong phú và cho đi của Đức Kitô. Một hôn nhân chân thật trong Chúa với ơn sủng của Ngài sẽ mang đến sự thánh thiện cho những người phối ngẫu. Tình yêu của họ một khi được diễn tả nơi sự trung tín, nhiệt thành, sinh sản, quảng đại, hy sinh, tha thứ, và chữa lành sẽ đem tình yêu của Thiên Chúa đến cho gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Ý nghĩa Kitô Giáo này xác nhận và củng cố giá trị nhân bản của sự kết hiệp hôn nhân (SGLCG số 1612-1617; 1641-1642).

3. Tại sao hôn nhân chỉ tồn tại giữa người nam và người nữ?

Cấu trúc tự nhiên của tính dục con người khiến cho người nam và người nữ trở nên những đối tác bổ túc lẫn nhau trong việc di truyền sự sống con người. Chỉ có sự kết hiệp giữa người nam và người nữ mới diễn tả sự bổ khuyết tính dục theo ý Chúa định cho hôn nhân. Cam kết vĩnh viễn và độc quyền của hôn nhân là bối cảnh cần thiết cho sự thể hiện tình yêu đôi lứa mà Thiên Chúa đã định nhằm di truyền sự sống con người và xây đắp mối giây ràng buộc giữa người chồng và người vợ. (x SGLCG số 1639-1640).

Trong hôn nhân, người chồng và người vợ ban tặng hoàn toàn chính họ cho nhau trong nam tính và nữ tính của họ (SGLCG số 1643). Họ bình đẳng như những con người, nhưng khác biệt nam và nữ để bổ sung lẫn nhau qua sự khác biệt tự nhiên này. Sự bổ khuyết độc đáo này khiến cho mối giây ràng buộc hôn nhân, là trung tâm điểm của đời sống hôn nhân, có thể thực hiện được

4. Tại sao kết hiệp đồng tính không thể so sánh với hôn nhân?

Có những lý do cho thấy kết hiệp đồng tính trái ngược với bản chất của hôn nhân: nó không dựa trên sự bổ khuyết tự nhiên của người nam và người nữ; nó không hợp tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng sự sống mới; và mục đích tự nhiên của kết hiệp lứa đôi không thể đạt được qua hôn nhân đồng tính. Những người trong mối liên hệ đồng tính không thể tiến vào một sự kết hiệp hôn nhân phu phụ. Do đó, là sai lầm khi đánh đồng quan hệ của họ với hôn nhân.

5. Tại sao đối với xã hội điều quan trọng là phải bảo tồn hôn nhân như một kết hiệp duy nhất giữa một người nam và một người nữ?

Vượt trên thời gian, và những khác biệt rất xa về văn hóa và tín ngưỡng, hôn nhân luôn là căn bản của gia đình. Đến lượt mình, gia đình là đơn vị căn bản của xã hội. Vì vậy, tuy hôn nhân là một quan hệ riêng tư, nó có một ý nghĩa đại chúng.

Hôn nhân là khuôn mẫu căn bản cho những mối quan hệ nam nữ. Nó đóng góp cho xã hội bởi vì nó tạo ra khuôn mẫu theo đó những người nam nữ sống phụ thuộc vào nhau và cam kết tìm kiếm điều tốt đẹp cho nhau trong suốt cuộc đời.

Kết hiệp hôn nhân cũng đem lại những điều kiện tốt nhất để nuôi dạy trẻ em: chẳng hạn, quan hệ vững bền và yêu thương của một người mẹ và một người cha chỉ hiện hữu trong hôn nhân. Nhà nước đúng đắn khi nhìn nhận mối quan hệ này như là một định chế công cộng trong luật của mình bởi vì quan hệ này tạo ra một đóng góp độc đáo và thiết yếu cho thiện ích chung.

Luật pháp đóng một vai trò giáo dục vì chúng hình thành khuôn mẫu tư duy và hành vi, đặc biệt về những điều mà xã hội cho phép và được chấp nhận. Thành thử, khi ban cho những kết hiệp đồng tính một tình trạng pháp lý ngang bằng với hôn nhân nó cũng công khai ban một sự chuẩn thuận cho hành vi đồng tính luyến ái và coi đó như một điều vô thưởng vô phạt về mặt luân lý.

Khi hôn nhân được tái định nghĩa sao cho những quan hệ khác được ngang bằng với nó, định chế hôn nhân bị hạ giá và bị suy yếu hơn nữa. Việc làm suy yếu định chế căn bản này ở mọi cấp độ và bởi các thế lực khác nhau đã khiến cho xã hội phải trả một giá quá đắt.

6. Có phải từ chối hôn nhân của những người đồng tính là thể hiện một sự phân biệt bất công và một sự thiếu tôn trọng họ như những con người không?

Việc phủ nhận tình trạng pháp lý của các kết hiệp đồng tính không phải là bất công bởi vì hôn nhân và các kết hiệp đồng tính là những thực tại khác biệt nghiêm trọng. Thực ra, chính công lý đòi hỏi xã hội phải hành động như thế. Để giữ ý định của Thiên Chúa dành cho hôn nhân, trong đó quan hệ tính dục có vị trí đúng đắn và độc quyền, không phải là xúc phạm đến phẩm giá của những người đồng tính. Những người Kitô hữu cần phải là chứng tá cho toàn bộ sự thật luân lý và chống lại, như một điều vô luân, cả những hành vi đồng tính luyến ái lẫn việc kỳ thị bất công những người đồng tính.

Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo khuyến khích những người đồng tính luyến ái "được chấp nhận với sự tôn trọng, lòng thương yêu, và sự tế nhị" (số 2358). Sách Giáo Lý cũng khuyến khích tình bằng hữu thanh sạch "Sự khiết tịnh được biểu lộ cách cao thượng nơi tình bằng hữu với tha nhân. Dù nó được nảy nở giữa những người cùng giới hay khác giới, tình bằng hữu đem lại một sự tốt đẹp cao cả cho mọi người". (số 2347).

7. Những người đang sống trong các mối quan hệ đồng tính có đáng được hưởng những phúc lợi xã hội và kinh tế dành cho các cặp vợ chồng không?

Nhà nước có trách nhiệm đề cao gia đình, bắt rễ từ hôn nhân. Do đó, nhà nước đúng đắn khi chỉ cấp cho những cặp vợ chồng các quyền lợi và phúc lợi mà không nới rộng cho những kết hiệp khác. Nói cho cùng, sự ổn định và phát triển của xã hội tùy thuộc vào sự ổn định và phát triển của đời sống gia đình lành mạnh.

Việc nhìn nhận hợp pháp hôn nhân, bao gồm cả những phúc lợi đi liền với nó không chỉ là vì chuyện riêng tư cá nhân, nhưng còn là vì sự cam kết xã hội của vợ chồng trong việc làm thăng tiến xã hội. Sẽ là sai lầm khi định nghĩa lại hôn nhân vì muốn cung ứng các phúc lợi cho những ai không thể chính đáng bước vào đời sống hôn nhân.

Nhiều phúc lợi hiện nay những người sống trong các loại kết hiệp đồng tính đã có thể nhận được bất kể tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, các cá nhân có thể đồng ý sở hữu tài sản chung với người khác, và họ có thể chỉ định ai là người thừa kế di chúc hay ai là người có quyền quyết định trong việc chăm sóc sức khoẻ cho họ một khi họ đau yếu liệt lào.

8. Dưới ánh sáng của giáo huấn Công Giáo về sự thật và vẻ đẹp của hôn nhân, người Công Giáo nên làm gì?

Không thể có sự tách biệt giữa đức tin của ta với đời sống dù là trong phạm vi riêng tư hay công cộng. Tất cả mọi người Công Giáo phải hành động theo đức tin của họ với một lương tâm trưởng thành theo Thánh Kinh và Thánh Truyền. Qua tiếng nói và lá phiếu của họ, họ nên đóng góp cho sự hưng thịnh của xã hội, cũng như phê phán đời sống xã hội qua những tiêu chí của lý trí đúng đắn và sự thật Tin Mừng. Thi hành bổn phận công dân có trách nhiệm là một nhân đức. Dự phần trong tiến trình xã hội là một bổn phận luân lý. Đây là một điều cấp thiết dưới ánh sáng của nhu cầu cần phải bảo vệ hôn nhân và chống lại việc đánh đồng về mặt luật pháp giữa hôn nhân và các loại kết hiệp đồng tính.

Chính những cặp vợ chồng, qua chứng tá của tình yêu trung tín và cho đi, là những trạng sư tốt nhất cho hôn nhân. Qua gương sáng của họ, họ là những nhà giáo đầu tiên của thế hệ tiếp theo về thế giá của hôn nhân và nhu cầu phải bảo vệ nó. Như những nhà lãnh đạo của gia đình - mà Công Đồng Vaticanô II đã gọi là "một giáo hội tại gia" (Hiến Chế Ánh Sánh Muôn Dân số 11), các cặp vợ chồng nên đem những ơn huệ cùng như những nhu cầu của họ đến với Giáo Hội rộng lớn hơn. Nơi đó, với sự trợ lực của những cặp vợ chồng khác và những mục tử cũng như những cộng tác viên, họ có thể củng cố cam kết của họ và nuôi dưỡng bí tích hôn nhân của họ suốt đời.

Kết luận

Hôn nhân là một định chế căn bản của loài người và xã hội. Dù hôn nhân bị chi phối bởi luật dân sự và Giáo Luật, hôn nhân không xuất phát từ Giáo Hội hay nhà nước, nhưng từ Thiên Chúa. Do đó, cả Giáo Hội lẫn nhà nước đều không có quyền thay đổi ý nghĩa và cấu trúc cơ bản của hôn nhân.

Hôn nhân, với bản chất và những mục đích được thiết lập bởi Thiên Chúa, chỉ có thể là sự kết hiệp giữa một người nam và một người nữ và phải được giữ nguyên như thế trong luật pháp. Trong một thể thức không giống bất kỳ một thứ quan hệ nào khác, hôn nhân tạo ra một sự đóng góp độc đáo và không thể thay thế được cho thiện ích chung của xã hội, đặc biệt thông qua việc sinh sản và giáo dưỡng con cái. Sự kết hiệp suốt đời giữa một người nam và một người nữ trở thành một điều tốt cho chính họ, gia đình, cộng đoàn và xã hội của họ. Hôn nhân là một ơn sủng phải được tán dương và bảo vệ.

Đức Ông. William P. Fay

Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ

Xem Thêm

Second Vatican Council. Pastoral Constitution on the Church in the Modern World (Gaudium et Spes), nos. 47-52. December 1965. Available online at www.vatican.va.

Catechism of the Catholic Church, nos. 369-373, nos. 1601-1666, and nos. 2331-2400. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops-Libreria Editrice Vaticana, 2000.

Pope John Paul II. On the Family (Familiaris Consortio). Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1982.

Congregation for the Doctrine of the Faith. Considerations Regarding Proposals to Give Legal Recognition to Unions Between Homosexual Persons. July 2003. Available online at www.vatican.va.

United States Conference of Catholic Bishops. Follow the Way of Love: A Pastoral Message of the U.S. Catholic Bishops to Families. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 1993.

United States Conference of Catholic Bishops. Faithful Citizenship: A Catholic Call to Political Responsibility. Washington, DC: United States Conference of Catholic Bishops, 2003.

THƯ SỐ 7: GỞI NGƯỜI LÍNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM



http://danluan.org/files/u1/sub02/cuong-che-dat-tien-lang.jpg

Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó, tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam khi mà quê hương cội nguồn của tôi chưa có dân chủ, tự do, và nhân quyền thật sự.

 

Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo quân đội”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Thời gian đang là tháng 5 năm 2012, nhớ lại tháng này năm 1975 là tháng bắt đầu cho thời gian hơn 20 năm của gần hai triệu người Việt Nam đã phải chấp nhận “vượt lên sự chết để tìm sự sống”, sống tự do, sống cho bản thân, cho các con, cho thế hệ mai sau, và sống cho quê hương dân tộc.

 

Các Anh có biết tại sao không? Với thư này, tôi giúp Các Anh nhìn lại 37 năm trước, kéo dài đến nay và chưa biết còn bao lâu nữa, để có nét nhìn thiện cảm -không phải nét nhìn thù hận của người cộng sản- và trân trọng nhau trong tình đồng bào cùng là da vàng máu đỏ, cùng âm thanh tiếng nói Mẹ Việt Nam, qua những tài liệu từ cơ quan Liên Hiệp Quốc. Các Anh cũng sẽ nhận ra những đắng cay của lãnh đạo cộng sản quốc tế và quốc nội, khi nói về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng trọng tâm của tôi là muốn giúp Các Anh thêm một lần nữa, nhận ra bản chất của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. 

Trước khi vào bài, tôi nghĩ là Các Anh cần nhớ lại sự kiện 58 năm trước. Đó là nửa cuối năm 1954 ngay sau Hiệp Định Geneve chia đôi lãnh thổ Việt Nam trở thành hai quốc gia, sự kiện 875.478 người dân miền Bắc đã ào ạt chạy trốn cộng sản độc tài, vào miền Nam lập lại đời sống mới trên đất nước tự do, đã nói lên một cách hùng hồn về tính chất tàn bạo sắt máu của cộng sản mà trường hợp điển hình là chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất 1954-1956” đã giết 172.008 nạn nhân tại 3.563 xã. (Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 của Viện Kinh Tế CSVN ấn hành). Với cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam đến lúc bấy giờ, “là cuộc bỏ phiếu bằng chân” của người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã chứng minh mạnh mẽ sự chối bỏ một chế độ độc tài tàn bạo dưới sự cai trị của đảng CSVN.    

Nếu Các Anh là thế hệ trẻ, hãy hỏi lại người thân để hiểu thêm sự thật, giúp cho sự suy nghĩ của Các Anh có được nét nhìn chính chắn về sự kiện chính trị nói trên, để có kết luận theo nét nhìn của con người bình thường với những quyền căn bản mà Công Ước Quốc tế công nhận. Bây giờ mời Các Anh vào nội dung ...

Chiến tranh Việt Nam là giải phóng hay xâm lăng?

Trong một cuốn sách mỏng (không nhớ tên) của xã hội chủ nghĩa mà “Đoàn 776 quân đội nhân dân” Các Anh bắt chúng tôi đọc hồi năm 1977 khi bị giam tại Trại Cốc, trong một thung lũng nhỏ phía nam thị xã Yên Báy khoảng 6 cây số. Nội dung cuốn sách cho thấy lãnh đạo của Các Anh đã chuẩn bị “chiến tranh xâm lăng” Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chúng tôi từ cuối những năm 50 dưới dưới lớp võ “giải phóng miền Nam”, nối tiếp hành động đã giấu lại trên lãnh thổ VNCH chúng tôi hằng chục ngàn đảng viên cộng sản khi thực hiện kế hoạch rút quân (mà lãnh đạo của các anh gọi là tập kết) về xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc theo qui định trong Hiệp Định Geneve tháng 7/1954. Điều này cho thấy lãnh đạo Các Anh bắt đầu chiến tranh xâm lăng VNCH từ đó, và bành trước qua từng giai đoạn cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 ...  

Các Anh  hãy nhớ lại, ...
“Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (VNDCCH) các anh theo chế độ cộng sản độc tài, đã thiết lập bang giao (mà các anh gọi là quan hệ) với 15 quốc gia (năm 1960), và đã trao đổi những cơ quan ngoại giao giữa thủ đô Hà Nội với thủ đô các quốc gia đó. Đây là sự thật.

“Nước Việt Nam Cộng Hòa” chúng tôi theo chế độ dân chủ tự do, đã thiết lập bang giao với 81 quốc gia (năm 1960), và đã trao đổi cơ quan ngoại giao giữa thủ đô Sài Gòn với thủ đô các quốc gia đó. Đây là sự thật.

Trong bang giao quốc tế, không có vấn đề tình cảm mà chỉ có quyền lợi quốc gia, huống chi là giữa VNCH chúng tôi với VNDCCH các anh không có bang giao, nên quyền lợi quốc gia càng mạnh mẽ hơn nữa. Vì vậy, quân của nước VNDCCH đánh chiếm nước VNCH, ngoài hai chữ xâm lăng ra, không có nhóm chữ nào khác sử dụng được trong trường hợp này. Đây là sự thật. Những nhóm chữ mà lãnh đạo Các Anh đã sử dụng qua từng giai đoạn để chỉ cuộc chiến tranh này, đều là tuyên truyền và dối trá.

Các Anh hãy nghe ông Mikhail Gorbachev, một thời là Tổng Bí Thư đảng cộng sản Liên Xô, vừa hối hận vừa than thở, khi ông nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản, ngày hôm nay tôi phài đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”. Chưa hết, ông Vladimir Putin,một thời là Tổng Thống nước Nga (năm 2012 lại đắc cử Tổng Thống lần nữa), quả quyết hơn: “Kẻ nào tin những gì cộng sản nói, là không có cái đầu (chắc là ông muốn nói kẻ đó ngu. PBH). Kẻ nào làm theo lời của cộng sản, là không có trái tim (chắc là ông muốn nói kẻ đó vô cảm. PBH).

Còn nữa, nhà văn Nguyễn Khải (trong nước) trong bài viết như vừa tâm sự, vừa tự hào ẩn chứa nỗi đắng cay của người cộng sản trước khi nhắm mắt xuôi tay: “... Là một chuyên gia nói dối có tổ chức, có chỉ đạo suốt gần 30 năm trời, tôi quá rành 1001 kiểu nói dối mà chính bản thân tôi đã nói dối lem lẻm, nói dối cứ như chuyện thật, nói dối một cách tự nhiên đến mức trở thành nhiệm vụ hàng ngày. Ngay cả khi biết mình đang nói dối với đồng bào, nhưng vẫn cứ phải nói dối, vì không nói dối mà nói thật thì mất miếng cơm, mất chiếc ghế, và .. mất mạng như chơi!”

Và đây là vài oạn trích trong bài viết của nhạc sĩ Tô Hải (cũng trong nước) thật rõ ràng và thằng thắn: “Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ trên đất nước này lại có một xã hội giáo dục cho công dân đừng sống trung thực, mà phải biết nói dối. Nói dối tỉnh bơ, nói dối không biết ngượng, nói dối càng giỏi càng đạt  nhiều thành tích!”..... Và một đoạn khác, ông viết: “... Cuộc Nói Dối Vĩ Đại nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược! Sự Thật đã bị đánh tráo quá trắng trợn! Hàng triệu con người đã mất xác mà đến nay đa số vẫn chưa tìm ra được, hàng vạn thương phế binh của cả hai miền, hàng triệu gia đình mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, chỉ vì Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã từng nói rằng: “... Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc"....

Lời của ông Lê Duẫn không phải là chính ông ấy, mà là trong ý nghĩa câu nói của ông Khroutchev, một thời là nhân vật đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô.Ông Khroutchev đọc bản báo cáo tại đại hội các đảng cộng sản vào tháng 11/1960, có đoạn: “... Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ cố gắng đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”...Tháng sau đó, khi thăm thủ đô Austria (Áo quốc), trong bài phát biểu của ông Khroutchev có dòng chữ ngắn: “Đời vắn lắm. Tôi ước ao sống tới ngày được nhìn thấy lá cờ đỏ bay phất phới trên toàn thế giới ...”  

Dưới đây là trích vài đoạn trong bài viết không tên của Blogger  Huỳnh Thục Vy (trong nước) ngày 20/4/2012:

... “Kết quả là, "sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước" đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn, mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước "giải phóng" hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn, thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?”

“Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng". Hay như Lê Duẩn từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước, cho cả nhân loại". Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt”.

“Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày "giải phóng", giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ, để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn”....

Trong thư số 1 gởi Các Anh hồi tháng 11/2011, phần đầu của Kết Luận là nhận định của tôi: “Chiến tranh 1946-1954, CSVN đánh thực dân Pháp không phải giành độc lập tổ quốc, mà là nhuộm đỏ một nửa giang sơn phía Bắc với chế độ độc tài tàn bạo hơn thời bị thực dân Pháp cai trị. Chiến tranh 1954-1975, nước Viêt Nam Dân Chủ cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, không phải để thống nhất đất nước, mà là nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo mục tiêu của cộng sản quốc tế là thống trị toàn thế giới”.

Tôi dẫn lời của một số nhân vật một thời là lãnh đạo cộng sản quốc tế và trí thức trong nước, để chứng minh thật rõ ràng và xác định: “Nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của các anh, đã xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa tự do của chúng tôi, trong mục đích cuối cùng là cộng sản thống trị toàn thế giới, mà CSVN là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế trong  vùng Đông Nam Á Châu”. Các Anh nhận ra rồi chớ? 

 

Vì xâm lăng nên thẳng tay chiếm đoạt tài sản.

Sau khi chiếm xong VNCH chúng tôi, lãnh đạo của các anh: (1) Nhanh chóng cướp 16 tấn vàng (gồm 1.234 thoi, mỗi thoi nặng từ 12 đến 14 kí lô) và hơn1.000 tỷ đồng tiền giấy dự trữ trong ngân khố quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, do ông Huỳnh Bửu Sơn người giữ chìa khóa, và ông Lê Minh Kiếm người giữ mật mã các cửa hầm bạc, hướng dẫn và giao toàn bộ vàng bạc và sổ sách cho Hoàng Minh Duyệt. Cùng lúc, cướp những máy điện tử tối tân sử dụng trong các cơ quan cũng như tại các nhà ở, chuyển về Hà Nội và tất cả biến thành tài sản cá nhân. (2) Vô cùng tàn nhẫn khi đẩy hơn chục ngàn thương binh VNCH đang điều trị trong các Quân Y Viện và Tổng Y Viện ra đường phố, bất cứ họ có đi được hay không đi được! (3) Dối trá dưới lớp võ “tập trung cải tạo” để đẩy gần nửa triệu quân nhân viên chức VNCH cũ vào trong hơn 200 trại tập trung từ đồng bằng Cửu Long, núi đồi heo hút miền Trung, rừng già Lạng Sơn Yên Báy, đến trại Cổng Trời sát biên giới Việt-Trung, đày đọa 17 năm ròng rã mà không qua một cơ quan luật pháp nào, vừa thỏa lòng thù hận vừa cướp đoạt tài sản. (4) Đánh gục xã hội VNCH đang sung túc, xuống ngang bằng xã hội nghèo khổ đến tận cùng của Miền Bắc 20 năm xã hội chủ nghĩa, để thực hiện chính sách cướp đoạt nhà cửa, đất đai vườn ruộng, tiền bạc vòng vàng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, thương mãi, vận chuyển, .... (5) Đào xới mồ mả trong các nghĩa trang quân đội VNCH chúng tôi, để tranh nhau từng khu đất nghĩa trang làm tài sản cá nhân.

Xin hỏi: “Các Anh có bao giờ nghe nói đến những sự kiện đó không?” Dĩ nhiên, đây mới là vài sự kiện trong hằng ngàn hằng chục ngàn sự kiện cướp đoạt tàn nhẫn của hằng triệu người dân VNCH chúng tôi, những người đã góp phần tạo nên một xã hội sung túc và phóng khoáng trong chế độ dân chủ tự do, rồi đày đọa  họ trong các trại tập trung như những Người Lính chúng tôi thua trận!

Kẻ xâm lăng là vậy đó, Các Anh nhận ra sự thật chưa?

Nhưng trên đây mới là nguyên nhân nhìn thấy từ bên ngoài, đã dẫn đến tình cảnh hằng triệu người VNCH cũ phải vượt biên vượt biển tìm tự do, đã để lại những dòng sông đẫm máu và xác người nhấp nhô trên biển cả mệnh mông, đến mức thế giới phải kinh hoàng trước sự can đảm tột cùng của người Việt Nam tự do, đồng thời cảnh tỉnh thế giới về chủ nghĩa cộng sản. Đây là cuộc chạy trốn cộng sản độc tài lần thứ 2 trong lịch sử Việt Nam.

Thống kê năm 2000 của cơ quan Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, cho thấy những con số dưới đây:

Thứ nhất. Trong đợt di tản trong những ngày cuối tháng 4/1975, khoảng150.000 người thoát khỏi Việt Nam.

Thứ nhì. Vượt biên vượt biển là cuộc chạy trốn đông đảo nhất và bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại nói chung, và lịch sử Việt Nam nói riêng, ròng rã trong 20 năm kể từ tháng 5/1975 đến năm 1995, chia làm 4 giai đoạn với 839.200 người đến bến bờ tự do tị nạn:       

Giai đoạn 1, từ tháng 5/1975 đến cuối năm 1979, có 14.600 người vượt biên giới trên đất liền, và 311.400 người vượt biển mà thế giới rất xót xa khi gọi là “Thuyền Nhân”. Cộng chung của giai đoạn 1 là 326.000 người tị nạn.

Giai đoạn 2, từ năm 1980 đến năm 1984, có 11.000 người vượt biên giới và 242.000 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 2 là 253.100 người tị nạn.

Giai đoạn 3, từ năm 1985 đến năm 1989, có 10.500 người vượt biên giới và 186.500 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 3 là 197.000 người tị nạn.

Giai đoạn 4, từ năm 1990 đến năm 1995, có 6.700 người vượt biên giới và 56.400 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 4 là 63.100 người tị nạn.

Không một cơ quan quốc tế nào có đủ dữ kiện về số người Việt Nam vượt biên vượt biển đã bị bỏ xác trong rừng sâu và trên biển cả, mà các cơ quan truyền thông quốc tế, sau khi tiếp xúc phỏng vấn hằng chục ngàn người tị nạn tại các trại tạm trú Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hong Kong, họ ước tính cứ 3 người Việt Nam vượt biên vượt biển thì 2 người đến bến bờ tự do và 1 người chết. Như vậy, có khoảng từ 400.000 đến 500.000 người chết mất xác trên đường chạy trốn chế độ cộng sản độc tài!

Vào những ngày cuối tháng 3 năm 2005, một phái đoàn qui tụ nhiều thành phần xã hội trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn, từ nhiều quốc gia khác nhau mà đông nhất là từ Hoa Kỳ, cùng đến Mã Lai và Nam Dương là hai quốc gia đã đón nhận cưu mang khoảng 700.000 đến 800.000 đồng bào Việt Nam chúng tôi trong thời gian tạm trú, chờ đi định cư các quốc gia thứ ba. Một trong những câu chuyện cảm động nhất là lời thuật của người Mã Lai, rằng: “Khi chúng tôi hay tin tàu chở người Việt Nam vượt biển bị chìm, chúng tôi cùng kêu gọi nhiều người nữa ra biển vớt được “130 xác thuyền nhân Việt Nam”, và chôn trong một cái hố!”

Các Anh thử hình dung cái quang cảnh 130 xác người Việt Nam bập bềnh trên sóng nước vịnh Thái Lan? Các Anh nghĩ gì nếu như trông thấy 130 xác đồng bào lớn nhỏ nhầy nhụa ngổn ngang bị quẳng vào cái mồ chôn tập thể? Thật là thê lương! Thật là bi thảm! Nhóm lãnh đạo CSVN độc tài là nguyên nhân duy nhất đẩy dân tộc vào nỗi thê lương bi thảm này khi họ cai trị tàn bạo nghiệt ngã sau khi chiếm VNCH chúng tôi!  Không lẽ Các Anh lại vô cảm đến mức không một chút xót xa thương cảm nào gợn lên trong lòng Các Anh, trong khi Họ là những người có “chứng minh nhân dân do nhà nước nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam của các anh cấp”?  Nếu vô cảm đến như vậy, Các Anh hãy nghe ông Boris Yeltsin, một thời là Tổng Thống Nga phát biểu: “Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.                               

Và thứ ba. Với các chương trình Đoàn Tụ Gia Đình, Cựu Tù Nhân Chính Trị (HO), Con Lai, ..v..v..., bắt đầu từ năm 1990, dù rằng những năm trước đó lác đác đã có chương trình Đoàn Tụ Gia Đình. Số người thuộc các chương trình này đến Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2002 là 481.245 người, trong số đó có 112.000 cựu tù nhân chính trị.

Cộng Đồng chúng tôi tị nạn CSVN vươn cao hơn dự tưởng.

Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2010 là 1.548.946 người, bằng 1.7%  dân số trong nước là 86.000.000 người. Làm chủ 229.000 cơ sở kinh doanh thương mãi, với doanh thu 28 tỷ 800 triệu mỹ kim (năm 2008), bằng 32.3% tổng sản lượng 89 tỷ mỹ kim của nước CHXHCNVN (năm 2008). Nên nhớ, khi chúng tôi đặt chân đến Hoa Kỳ chỉ là những bàn tay trắng, vì bị nhóm lãnh đạo cộng sản xâm lăng cướp đoạt hết rồi.

Về khối nhân lực quí giá trong Cộng Đồng chúng tôi, các anh sẽ rõ khi đọc hai đoạn trong bài viết “Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám Của Việt Kiều” dưới đây của ông Nguyễn Phú Bình, năm 2005 là Thứ Trưởng Ngoại Giao nước Việt Nam cộng sản, kiêm Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Ở Nước Ngoài:   

 “... Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng  trong các Viện Nghiên Cứu, Trường Đại Học, Bệnh Viện, Công Ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới, người nước ngoài gốc Việt, đang hình thành và phát triển,nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại....”

“......Chính thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài, đang làm thay đổi cơ cấu Cộng Đồng từng bước thay thế lớp người lớn tuổi. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào  luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước....”

Tôi nhấn mạnh với Các Anh về khối nhân lực có trình đại học trở lên mà ông Nguyễn Phú Bình ước tính trong bài viết là 10% (300.000 trong tổng số 3.000.000 người). Về phẩm chất giáo dục (các anh gọi là chất lượng) ở bậc đại học Hoa Kỳ được công nhận là tân tiến trên thế giới, vì vậy mà số sinh viên từ các quốc gia đến Hoa Kỳ du học là 690.923 sinh viên trong năm học 2009-2010. Trong số đó, Việt Nam có 13.112 sinh viên. Vậy là Các Anh có thể tự mình đánh giá phẩm chất giáo dục của tuổi trẻ tốt nghiệp đại học Việt Nam với tuổi trẻ hải ngoại tốt nghiệp đại học tại Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung, để nhận ra sức mạnh về kiến thức của Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại mà ông Thứ Trưởng Ngoại Giao các anh đã nhận định và mơ ước....  

Mời Các Anh đọc tiếp đoạn ngắn dưới đây nhà văn Dạ Ngân (trong nước), để có thêm dẫn chứng:

“... Nếu cứ đùa dai với truyền thống hiếu học thì sẽ còn chuyện học sinh đi du học hết. Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị, đang có xu hướng “ấn” con mình đi du học càng sớm càng tốt? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay?

“Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài. “Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm” Chỉ vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm. Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền, không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học thêm mãi ....Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục”.

Chưa hết. Với bài “Trào Lưu Du Học Sớm” đăng trên Tiền Phong chủ nhật 24/4/2012 tại Hà Nội, cô học sinh Phạm Tâm Anh, lớp 10A trường trung học phổ thông ngoại ngữ, tháng 7 /2012 này sẽ du học Hoa Kỳ ở bậc trung học. Bài báo cho rằng: “Đây là một thách thức với nền giáo dục trong nước”. Quan điểm này cùng quan điểm với nhà văn Dạ Ngân là  “du học để tị nạn giáo dục”.   

Nhớ lại lúc tôi bị giam trong trại tập trung Long Giao cuối năm 1975, Thượng Tá công an tên Bình đã “dạy” chúng tôi rằng: “Tư bản chủ nghĩa đang giãy chết tại dinh lũy cuối cùng của nó là đế quốc Mỹ..” Có điều lạ là tư bản chủ nghĩa đã giãy 37 năm rồi mà chưa chết, trái lại càng giãy càng hùng mạnh hơn lên, đến mức nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” m à Các Anh gọi là đỉnh cao trí tuệ, thay phiên nhau lặn lội nửa vòng trái đất để cầu lụy giúp đỡ. Trong cầu lụy này còn có chương trình cho sĩ quan các anh sang “đế quốc đang giãy chết” học sử dụng vài loại vũ khí, trong khi tuổi trẻ Việt Nam đua nhau sang Hoa Kỳ “tị nạn giáo dục” như lời của nhà văn Dạ Ngân.

Đến đây Các Anh đã nhận ra mức độ tệ hại của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa như thế nào rồi. Hãy nhìn xa hơn nữa để hình dung nền giáo dục này sẽ tác hại ra sao với những thế hệ sau Các Anh?  Và liệu đất nước Việt Nam sẽ như thế nào nếu nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” cộng sản độc tài vẫn tồn tại? Tùy Các Anh ...

Dưới đây là tóm lược bài “Cả Nước Đã Bị Lừa” của Châu Hiển Lý, là “bộ đội tập kết 1954”, để Các Anh có thêm nét nhìn nữa. Người Việt Nam tự do chúng tôi, khi nhìn vào sự kiện nào cũng nhìn từ nhiều phía với những tranh luận tìm đến nết nhận định chung, chớ không như “Các Anh chỉ được nhìn duy nhất một phía” do đảng cho nhìn”.

“ ... Nhìn lại Việt Nam sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ cộng sản, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra: (1) Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao gần 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam? (2) Sau năm1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp? (3) Tại sao sau khi được "giải phóng khỏi gông cùm của Mỹ Ngụy”, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết  gần kề trên biển cả mênh mông? (4) Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CSVN đi công tác hay đi tranh giải thể thao, thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị? (5)  Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến Việt Nam để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng? (6) Tại sao Liên Xô và các nước Đông  Âu sụp đổ? (7)Tại sao có cuộc sống cách biệt quá xa giữa Đông Đức cộng sản  với Tây Đức tự do, giữa Bắc Hàn cộng sản với Nam Hàn tự do, và giữa Miền Bắc Việt Nam cộng sản với Miền Nam Việt Nam tự do? (8) Tại sao các lãnh đạo CSVN lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch “đang giãy chết”?

“Hỏi tức là trả lời. Người Việt Nam đã “bỏ phiếu bằng chân” từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.... Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không dám công khai nhìn nhận, đó là họ đã hy sinh bốn triệu sinh mạng trong một cuộc chiến sai lầm, chỉ vì họ được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, cho nên từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, lãnh đạo CSVN đã hy sinh hơn bốn triệu người, để rồi đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản “đang giãy chết” để tồn tại.... “

“Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không suy nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn là bắt người ta phải từ bỏ các suy nghĩ của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.... Và tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam, nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu cái ác nghênh ngang, dương dương tự đắc, trong khi cái tốt cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối, thì tương lai dân tộc này sẽ đi về đâu? Mượn 2 câu thơ sau đây củanhà thơ Bùi Minh Quốc, diễn tả xã hội ngày nay: “Quay mặt phía nào, cũng phải ghìm cơn mửa. Và một thời, đểu cáng đã lên ngôi!” Hết phần tóm lược.

Mời Các Anh nghe vài câu hát của nhạc sĩ Việt Khang “Việt Nam ơi thời gian quá nửa đời người. Và ta đã tỏ tường rồi. Và nhận định của Khang: “Chiến tranh xảy ra tại Việt Nam mà không ở đâu khác, chỉ vì Việt Nam có đảng cộngsản”. Nghe tiếp 2 câu thơ của nhà thơ Trần Dần: “Tôi đi giữa phố phường. Chỉ thấy nước mắt sa trên nền cờ đỏ”. Và nhận định của ông Trần Độ, cựu Trung Tướng quân đội nhân dân Các Anh trong quyển nhật ký Rồng Rắn: “Tại sao chỉ có từ các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến hằng mấy triệu người bất kể hiểm nguy sống chết khi ra đi tìm đường sống ở các nước khác?”

Các Anh hãy nhìn lại lịch sử thế giới từ đầu thế kỷ 20 khi đảng cộng sản lật đổ chế độ Nga Hoàng đến nay, có người dân nào từ các nước tự do chạy sang quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền xin tị nạn không? Chắc chắn là KHÔNG. Từ đó, có khi nào Các Anh tự hỏi “tại sao không?” Nếu chưa bao giờ, thì hãy tự hỏi bản thân Các Anh, rồi đọc lại nội dung thư này sẽ có giải đáp cho Các Anh.           

Kết luận.

Như nói ở trên, điều mà tôi muốn gởi đến Các Anh trong thư này là bản chấtcủa cộng sản mà nhóm lãnh đạo Các Anh đã và đang thực hiện. Bản chất của đảng cộng sản là độc tài. Vì biết rằng không một dân tộc nào trên thế giới chấp nhận độc tài nói chung, và dân tộc Việt Nam nói riêng, nên phải che giấu bằng chính sách dối trá mà phương tiện là hệ thống giáo dục và hệ thống truyền thông trong tay đảng. Độc tài dẫn đến quyền lực, vì không có bất cứ cơ quan nào kiểm soát. Từ quyền lực dẫn đến độc đoán khi quyết định những chính sách ngang qua Quốc Hội dưới quyền lãnh đạo của đảng gọi là luật, tạo điều kiện cho một hệ thống tham nhũng bằng bất cứ hình thức nào mà mọi cấp mọi nơi cho là thích hợp khi áp dụng những văn bản đó, và quyết định độc đoán cao nhất là Hiến Pháp. Cuối cùng của độc tài là đạt đến quyền lợi cá nhâncho các đảng viên trong hệ thống tổ chức đảng với nhà nước ngày nay, và tùy lúc tùy nơi tùy từng vụ mà cấp lãnh đạo Các Anh “sẽ nhân danh bảo vệ đảng” để che chắn cho nhau bằng những cách mà họ cho là thích hợp.              

Một góc nhỏ của quyến lợi cá nhân trong bản chất của đảng cộng sản mà nhóm lãnh đạo CSVN “đã và đang nhiệt tâm” vơ vét bằng nhiều cách khác nhau, nhưng cách cưỡng chiếm đất đai đồng ruộng ao hồ của người dân, mà điển hình gần đây của những vụ dã man nhất trong lịch sử Việt Nam là vụ Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày 5/1/2012, Văn Giang (Hưng Yên) ngày 24/4/2012, và Vụ Bản (Nam Định) ngày 8/5/2012.

Tôi gởi sự suy nghĩ này đến Các Anh, hãy bình tâm nhận định một chuỗi sự kiện mà  Các Anh vừa đọc qua, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa mà hãy hành động “như một đầu tàu”, kéo theo 89 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, và mạnh dạn đứng lên giành lại quyền làm người từ tay cộng sản độc tài tàn bạo, một chế độ đã tạo nên một xã hội băng hoại bắt nguồn từ chính sách dối trá, ngu dân, để cùng nhau xây dựng một nền văn hoá khai phóng, nhân bản, khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình. Nếu Các Anh “không thể đứng dậy làm đầu tàu” thì khi người dân đứng dậy, Các Anh hãy đứng về phía đồng bào mà hành động.

Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Gốc Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.

Xin hãy nhớ rằng  “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.

Texas, tháng 5 năm 2012
Phạm Bá Hoa


 ---------

THƯ CỦA NGƯỜI LÍNH BIÊN CƯƠNG

   CÓ NGHE CHĂNG, HỠI NHỮNG AI CÒN LƯƠNG TRI


Thưa chư vị, 

Trong vụ cưỡng chế sáng ngày 9 tháng 5 tại Vụ Bản, tỉnh Nam Định có 05 người dân bị công an bắt đi và giam giữ. Cho đến chiều qua, hai người trong số họ đã được thả. Chiều nay thêm một người nữa được thả. Và hiện nay vẫn còn 02 người bị giam giữ trong đồn công an (anh Phương ở xã Liên Minh, anh Dũng ở xã Liên Bảo).Những người bị giam giữ được thả cho biết họ được ăn uống và không bị đánh đập.

Nói về vụ đàn áp ở Vụ Bản, một người lính đã đọc được Đơn Kêu cứu Kính gửi Cụ Lê Hiền Đức tại NXD-Blog, đã không cầm nổi nước mắt và viết:

Tôi người lính con của quê hương Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định đang làm nhiệm vụ nơi biên cương.  Hôm nay tôi mới được xem tin này, tôi không cầm nổi dòng nước mắt vì thương bà con quê mình quá! Tủi hận cứ trào dâng trong tôi. Mình đi lính là bảo vệ Tổ quốc bảo vệ Nhân dân, trong đó có người thân của mình thế mà ở nơi quê hương những người thân của mình lại bị chính những người đồng đội mình đàn áp chà đạp một cách dã man vậy, đến loài chó còn biết phân biệt ta địch, thế mà các đồng đội của tôi...những em nhỏ chỉ biết tu tu khóc..thương quá .. 

Hỡi những đồng đội có còn là con người nữa không??? Chúng tôi đang phải đứng nơi tuyến đầu thì các anh ở nhà núp sau lưng chúng tôi dở thủ đoạn đê hèn đối với người thân của chúng tôi như thế??? Ai chả có cha mẹ vợ con anh em, nếu giờ chúng tôi quay súng bắn vào thân nhân các anh thì các anh nghĩ sao??? Chúng tôi yêu cầu chính quyền hãy làm rõ việc này và trả lời trước công luận để chúng tôi được rõ.
 --------

Bài Xem Nhiều