We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 19 May 2012

Ở hai đầu nỗi chết Vụ Bản, Văn Giang




Cô giáo Trường đọc xong tờ giấy ép nghỉ dạy của Ủy Ban Nhân Dân xã, rồi thưa chuyện với bố và mẹ:

- Họ đòi thuyết phục gia đình tự nguyện giao đất, hoặc con bị mất việc.

Ông đội Hóp vuốt cái chùm râu bạc rồi mở miệng run run trả lời:

- Người ta muốn gì là chả được. Bao nhiêu đơn từ khiếu nại của mấy xã trong cái huyện nầy nằm trong sọt rác chính quyền nhân dân kia mà.

Bà vợ đội Hóp nhai một miếng trầu rồi nghiến hai hàng răng đen:

- Tiên sư cái quân bất lương đưa nông dân vào đường cùng không lối thoát. Đến chừng nầy rồi còn chơi cái màn như dâng đất cho tập thể đội đoàn làm chung. Chỉ khác một đằng là “lao động vinh quang cho đảng muôn năm bóc lột”, một đằng là làm giàu cho tập đoàn đỏ búa Mác liềm Lê.

Cô giáo Trường xen vào:

- Mẹ kể cho con nghe chuyện thôn xã họp hành bồi thường đất đai được không mẹ.

- Thôi đừng nhắc tới chuyện bồi với thường. Hàng ngàn, hàng vạn dân kêu oan khắp nước về nằm chật trên Cầu Giấy Hà Nội cho tới chết có Trung Ương nào đếm xỉa tới đâu. Mẹ tham dự bao nhiêu cuộc họp. Cái nào cũng như cái đó quanh đi quẩn lại yêu cầu tự nguyện, không đạt thì hăm doạ, xong tới màn kết tội vu vơ “tay sai phản động”. Họ ép buộc dân đen khố rách hơn cả ép dầu ép mỡ. Tức nước có ngày vỡ bờ…

- Thế gia đình mình có tham dự đeo khăn tang trắng cùng bà con để quyết tâm giữ đất không hở mẹ.

- Chết cũng phải làm cho thiên hạ biết mặt trái mặt phải cuộc đời. Họ mang cái ác cày sập nhà Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, nhưng đâu có cướp đi được trái tim yêu thương đùm bọc của mẹ con chị Thương trong cái căn lều lạnh lẽo ngày Tết.



Đêm Vụ Bản mây mù giăng kín không gian. Đâu đây tiếng chó sủa. Tiếng chân người chạy lật đật tìm về gặp nhau giữa đồng để cắm cọc dựng lều. Những người cùng chung số phận hoàn cảnh dễ thông cảm nhau. Bà đội Hóp khom lưng cầm cuốc đào cái lỗ. Chị nầy, chị kia cầm hai đầu cái bạt. Bà cụ già nhất trong đám chít cái khăn trắng lên đầu rồi nói bông đùa:

- Phen nầy ta quyết đi buôn vải để hảng dệt may dệt áo tang.

Một chị phụ nữ bỏ chiếc nón lá xuống đất rồi chỉ tay về hướng tây bắc:

- Chúng ta phải học bài học Văn Giang. Đừng để họ chia năm xẻ bảy ra cái thì bắt tù cái thì đánh đạp kể cả hai nhà báo Ngọc Năm và Phi Long.

Một ông già mở cái băng ra khỏi miệng lên tiếng:

- Phải chết sống bênh vực nhau. Đừng mạnh ai người đó sợ súng ống dùi cui mà bỏ chạy để bị đánh hội đồng như chuyện Ngô Thị Ánh xã Xuân Quang có hai người cầm tay giữ một người đá song phi vào bụng. Phải chi quyền cước nầy mà dùng đá vào mặt thằng Tàu khi nó trói tay người ngư dân Lý Sơn bắt đòi tiền chuộc thì dân đóng thuế nuôi đỡ nhục biết mấy.

Một người con trai căng cái lều vải xong rồi góp chuyện:

- Công an nhân dân, quân đội nhân dân, cái chi cũng mang danh nhân dân nhưng nhìn vô sự cố Tiên Lãng, Văn Giang ủi sập nhà không cho có chỗ ở, đá vào bụng đàn bà có thai, bắn súng đánh đập ông bà già phụ nữ tay không... trong lúc lãnh thổ biển đảo bị ngoại xâm thì quân đội, hải quân khoanh tay đứng ngó.

Một chị phụ nữ kéo cái ống quần đen lên mở lời:

- Thấy mà xấu hổ. Chỉ được cái tài bảo vệ tài sản cho tập đoàn ác độc. Hèn với giặc mà tàn bạo với dân. Cỡ như bà cụ nổi tiếng bênh vực dân oan Lê Hiền Đức cũng phải cải trang mượn cái nón rách, cái áo nâu, quần sắn móng lợn để trà trộn vào nhân dân Văn Giang để qua mặt lũ chó săn thì biết rõ lối đi nhỏ con đường lớn nào mà không có bóng dáng ma cơ động, cầy áo xanh lá mạ sẵn sàng dàn trận giết dân.

Một ngọn gió đêm lành lạnh lùa vào chiếc lều. Bà cụ già tên Đạt dụi mắt nói trong gió:

- Thôi khuya lắm rồi. Dựa lưng vào đất mà ngủ một tí lấy hơi cho xong một đêm dài 82 năm người làm kiếp trâu ngựa.

oOo

Trời tờ mờ sáng. Ngôi sao lẻ loi chiếu ánh lung linh một góc trời. Bà Hóp kéo người thanh niên rồi chỉ tay xa xa:

- Cháu rõ mắt xem có phải trâu bò lúc nhúc đằng kia cánh đồng không?

- Chết rồi! Cả một rừng lực lượng công an, dân phòng đang dàn trận hàng ngang đi tới. Úi chà có cả bầy chó nghiệp vụ nữa đấy.

- Bà con mình ơi! Hãy đồng tâm hiệp lực bắt tay nhau giữ đất!

Bà Hóp nói chưa dứt câu, ba người công an từ đâu đã sấn tới kéo giật tay bà. Bà ngã xuống rên la. Bốn tên dân phòng phá sập cái lều trong nháy mắt.

Một nhóm phụ nữ ngồi bệt xuống đất kêu trời:

- Người là ai? Sao đánh chúng tôi? Chúng tôi tay trắng có tội gì?

Người mặc áo xanh nhổ cái cọc sắt dí vào đầu người thanh niên:

- Mầy đem cái nầy ra đây đóng lều phá rối trật tự, tau cho mầy biết tay.

Hắn vừa nói vừa nện túi bụi vào những cái đầu nông dân đang tranh nhau chạy hoảng loạn.

Một số công an khác quay bên trái quay bên phải vừa đánh vừa đuổi bắt người như người thợ săn vào rừng bắt nai vàng ngơ ngác.

Những giọt máu từ miệng từ mũi từ đầu thi nhau thấm giọt mồ hôi chảy xuống cánh đồng. Tiếng ông già khóc. Tiếng bà già rên siết. Tiếng nổ của súng. Tiếng cười man rợ của đoàn thợ săn. Tiếng chó tru. Tiếng côn đồ tru theo. Tất cả đã vẽ lên bức tranh Vụ Bản về sáng.

Người đàn bà mặc áo tím bị dùi cui nện ở lưng, cố hết sức bò dậy níu tay chị phụ nữ áo màu lá rừng, rồi nói nhỏ:

- Tôi thấy năm, sáu người đàn ông bị còng tay bắt đi. Bà có biết ai vậy không?

- Nguy khốn rồi. Vô đồn công an có mấy ai mà được trở về. May phước bị đui què, không thì gia đình mang về cái giấy tự tử công an sắp đặt.

Người đàn ông bận áo lam ôm đầu máu lồm cồm ngồi dậy, rồi thở dài:

- Thôi thế là thôi là hết sạch. Hết ruộng hết lúa hết gạo hết cả tình người… Rồi ông nghĩ ra thơ:

“Mẹ Vụ Bản nhìn về Văn Giang ứa khóc
Gót chân nào đạp đầu tóc nông dân
Nước mắt bi thương chảy xuống ruộng đồng
Ai đổ máu chan hòa sông tội lỗi
Hi những cái đầu Trung ương chưa một lần sám hối
Hỡi những tay súng công an quân đội
Có nghe Tàu chệt tới giết người
Có nghe sông khóc núi ngậm ngùi
Có hiểu nghĩa con người khác với khỉ vượn đười ươi?...

oOo

Ông trưởng đồn công an đan mười ngón tay vào nhau, đằng hắng một tiếng rồi hỏi:

- Các đồng chí bắt được ai. Có thu lượm được tài liệu chống phá nhà nước không?

- Một số tẩu thoát. Bắt được năm tên đem về đây. Ta lục soát nắm được một số đơn khiếu kiện chúng giày vò dấu trong túi.

- Có chụp hình chiến trận để tôi bắt chước Đại tá Ca Hải Phòng làm tài liệu viết sách không?

- Có chứ! Tổng Bí Thư đã nói dùng thanh kiếm, lá chắn bảo vệ đảng kia mà. Còn đảng còn mình thì nhân dân mặc kệ nhân dân chứ!

- Thế thì đem tụi chống người thi hành công vụ vào đây.

Ông già nông dân rút cái khăn tang trắng ra khỏi đầu định bụng cất vào túi làm vật kỷ niệm ngày để tang cho đất. Người công an tát một cái vào thái dương:

- Mầy định dùng khăn nầy mà treo cổ tự tử à!

- Tại sao tôi phải làm thế. Đây là Vụ Bản chứ không phải Bình Dương mà dàn cảnh giết chồng rồi dụ vợ người ta.

- Mầy giỏi lý sự. Được. Thế lực thù địch nào xúi dục chống lại cưỡng chế? Mầy khai rõ tao sẽ khoan hồng.

- Thế lực của chúng tôi là đôi bàn tay không Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái… làm gì đủ sức trước súng đạn, bạo lực, côn đồ…

- Mầy dám gọi công an nhân dân đi cưỡng chế là côn đồ?

Người hỏi cung nói chưa dứt câu. Gã đứng dậy dùng chiếc giày đinh giáng một cái đạp nẩy lửa vào mặt ông già nông dân.

Để cho nạn nhân ngã xuống nằm co quắp giữa sàn, gã say máu cầm tóc một người nông dân khác:

- Mầy bị bọn phản động nào móc nối, mua chuộc?

- Tôi suốt đời chân bùn tay lấm đói rách lầm than, như con gà ăn quẩn cối xay làm sao quen kẻ lạ, chỉ có nhà nước mới biết tàu “lạ” mà tránh kêu tên kêu tuổi.

- Phó Chủ tịch Hưng Yên, Nguyễn Khắc Hào đã báo cáo với Thủ Tướng “là có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước”, mầy khôn hồn thì khai ra!

- Ai móc nối cấu kết tư bản đỏ hà hiếp đánh đuổi dân ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn!? Ai dùng luật rừng để cướp tài sản nhân dân!?.

- Mầy cả gan nói xấu ư! Tau cho mầy biết thế nào là rừng với biển!

Gã công an kê cái đầu gối vào bụng người nông dân. Rồi dùng hết sức lực đạp dồn dập…

Bên ngoài. Trời Vụ Bản đổ mưa nặng hạt. Tiếng cóc tiếng nhái hòa cùng tiếng thú vật lúc nhúc trong sở thú. Những con chó ăn đêm còn chủ còn mình say sưa đi tìm máu nóng…

Ở một tửu lầu nào đó người ta khui rượu mừng chiến thắng vẻ vang…

Tháng 5 năm 2012

Lê Hải Lăng

Làm Cách Nào Bò Lên Làm Thủ Tướng :"Từ y tá lên thủ tướng"

Về bài “...Từ y tá lên thủ tướng”
- Tôi vừa đọc bài viết "Nguồn gốc từ y tá lên thủ tướng" của tác giả Thăng Long cùng các “còm” kèm theo. Nhìn chung là bài viết khá khách quan, các phân tích dễ hiểu, lôgích và thuyết phục. Tuy nhiên cũng vẫn còn đôi chỗ chưa được rõ lắm đã gây ra thắc mắc cho người đọc... Vì đây là thể loại “điều tra” nên nó được “mở” cho mọi người cùng tham gia ý kiến như ý tác giả đã viết ngay từ đầu là “chúng ta cùng phân tích...”

Trước tiên, chúng ta cần phải xác định với nhau cũng như hiểu ý của tác giả bài viết rằng:

- Đây không phải là việc đi “bới móc” đời tư của các nhân vật có mặt trong bài viết nêu trên mà là muốn nêu bật lên điều mà ai cũng hiểu (nhưng đôi khi lại không để ý khi đọc bài viết) là:

- Ở trong chế độ độc tài đảng trị thì không có chỗ dành cho những nhân tài và có đức độ thật sự đứng trong hàng ngũ lãnh đạo một cách công khai, minh bạch thông qua lá phiếu bầu thực sự dân chủ! Ngược lại những vị trí đó chỉ được dành riêng cho các loại “con ông, cháu cha” một cách mờ ám đến bất thường mà thôi, chẳng khác gì thời phong kiến mà chính cái đảng này xúi Dân vùng lên đánh đổ nó, nhưng đau đớn lại là ở chỗ chúng nó dùng chính kiểu phong kiến đó để quay lại cai trị Dân ta.

Chúng ta hãy nhớ lại, vào năm ngoái khi nghe tin thằng “em chả tân thời” bên xứ nhân sâm, đùng một phát được lão bố “ấn” vào vai cặp quân hàm đại tướng mà chưa đi lính được lấy một giờ, còn hiện thời đã là lãnh đạo tối cao ngang hàng với các “bô lão” lãnh tụ các nước. Khi chúng ta còn chưa hết bàng hoàng vì “ngạc nhiên chưa?” thì ở ngay trong “xứ thiên đường” VN ta hàng loại cậu ấm, cô chiêu “thái tử đỏ” như: Nông Quốc Tuấn, Nguyễn Xuân Anh, Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Minh Triết… cũng được các “vua cha” trong hội “vua tập thể” đưa lên tham gia chính trường hay thương trường như Nguyễn Thanh Phượng, Tô Linh Hương... nào cũng có kém gì?.

Câu hỏi phải được đặt ra là, những cái tên nêu trên có phải là do họ giỏi nhất, xuất sắc nhất nước VN này hay không? Mà giả dụ cứ cho là họ được như vậy đi thì nếu như không phải là con của các vị “vua tập thể” đó thì liệu họ có lên nhanh như thế được không?

Thật ra để trả lời câu hỏi đó là không khó, huống hồ là các bậc cha, chú của chúng nếu không có những ông nội “vô danh” đứng đằng sau thì cũng làm gì mà lên làm lãnh đạo đảng và nhà nước nhanh đến khó tin như chúng được!? Tất nhiên là ngoài diện “con vua-cháu chúa” ra thì con cán bộ thường cũng có khi leo lên được những chức vụ “ngon ăn” nhưng đó lại phải là cái loại lưu manh chính trị, thượng đội, hạ đạp tham nhũng, tống tiền dùng tiền mua quan bán tước… như dạng Đinh La Thăng, Hoàng Trung Hải, Vũ Huy Hoàng v.v… Còn con nhà bình dân cho dù có học thật giỏi, thậm chí có điều kiện du học ở các trường danh tiếng về thì cũng chỉ có thể vào được mấy công ty nước ngoài với mức lương xứng đáng với sở học, nếu như không có tiền để chạy vào các cơ quan nhà nước mà sau này còn có cửa “hái ra tiền”.

Vậy thì chúng ta có thể chấp nhận được cái loại “con vua-cháu chúa” và loại lưu manh chính trị làm lãnh đạo đất nước, lãnh đạo mình mãi được không?.

Trước khi đi vào phần chính liên quan đến bài viết của tác giả Thăng Long tôi xin kể câu chuyện sau: Cách đây mấy năm, tôi cùng một đoàn chuyên viên của một bộ vào công tác ở các tỉnh miền tây Nam Bộ. Hôm ghé ăn trưa ở một quán trong thị xã (bây giờ đã lên thành phố rồi), nhân có mấy người bàn tán về chuyện trong chiến tranh sao lại có nhiều trẻ không rõ lý lịch về cha hoặc mẹ, rồi người thì bảo có thể họ chết do bom đạn, kẻ thì cãi có khi họ hy sinh trong chiến đấu… Ngồi gần tôi có anh Tư... trước làm tuyên huấn tỉnh ủy trong chiến tranh, anh đã về nghỉ hưu lâu rồi nhưng mỗi lần có chuyện gì với Dân thì tỉnh vẫn hay mời anh giúp đỡ, vì anh rất có uy tín, đi đến xã nào anh cũng có người quen, nói chung là anh được Nhân Dân rất quí mến và tin tưởng... Thấy mọi người cứ tranh luận mãi, anh mới thủng thẳng: “Tao nói tụi bay nghe, hồi trước tụi tao nằm hầm có khi cả tháng là chuyện thường. Có hôm con gái hay cháu gái chủ nhà vừa mang cơm xuống chưa kịp chui lên thì tụi lính ập vô lùng xục, có trường hợp tụi nó đóng quân vài ngày, thậm chí cả tuần lễ trong vườn nhà ngay trên nóc hầm, lại có lúc ngay trong nhà gần cửa hầm thì làm sao dám lên? Thế là hai chú, cháu đành chịu trận ở dưới, vài ngày sau chịu hết thấu thì cái gì đến sẽ phải đến thôi, bấy giờ là giữa một thằng đàn ông và một con đàn bà chứ còn chú, cháu cái mẹ gì? Vậy là thi thoảng làng xóm bỗng thấy con hai, con ba tự dưng ểnh bụng ra mà chẳng hiểu do đâu, cứ đồn thổi loạn cả lên…” Tôi tin lời kể của anh tư hôm đó là sự thật vì nó cũng quá là đời thường.

Trở lại với bài viết của tác giả Thăng Long. Trước hết là trường hợp năm sinh của 3 Dũng (công khai là năm 1949). Có nhiều người không tin vì cho rằng chẳng qua là cố tình khai sớm hơn cho không khớp với thời gian ông Nguyễn Chí Thanh vào hoạt động ở khu bốn cũ, tức là phải sau năm 1950 (để che giấu) vì họ vẫn tin là Dũng là con ông Thanh. Tôi nhận thấy điều này là vô lý ở chỗ:

Thứ nhất là thời gian đó việc thông tin liên lạc để giúp ông “chỉ đạo” cho “bà vợ” khai lệch năm sinh (tức là phải trước năm 1950) cho 3 Dũng nhằm che giấu sự thật là bất khả thi, hoặc là dặn dò trước khi mẹ 3 Dũng quay về Nam thì lại quá thận trọng đến khó tin trong hoàn cảnh chiến tranh chưa biết sống chết thế nào?

Thứ hai là nếu quả thật 3 Dũng là con ông Thanh thì cũng đâu đến nỗi phải che giấu năm sinh quá kín kẽ như vậy vì bản thân ông Thanh cũng không phải là nhân vật được “thần thánh hóa” như ông Hồ (nên Tổng Nông mới phải khai lệch năm sinh là trước ngày ông Hồ về nước)?

Thứ ba là thời gian chiến tranh ác liệt, 3 Dũng và các cán bộ trực tiếp cũng không chắc đã biết gã là con của ông Thanh (mà lời đồn cũng chỉ là mới sau này) vì thế việc giữ nguyên năm sinh đã khai (1949) là khả dĩ tin được, mà như vậy thì lại càng chắc chắn 3 Dũng không phải là con của ông Thanh.

Còn trong trường hợp nếu sự thật 3 Dũng sinh sau năm 1950 (nếu thật sự là con ông Thanh) thì có lẽ gã không dại gì mà không khai lại như Trần Đại Quang từ 1950 đã chữa lại năm sinh thành 1956 để có thể kéo dài thời gian tại chức?

Chúng ta phân tích thêm là để cho hết nhẽ, chứ “cộng” lại với những phân tích của tác giả Thăng Long trong bài đã dẫn thì hoàn toàn có cơ sở để tin rằng 3 Dũng không phải là con ông Thanh! Và chắc là trong bài viết tác giả chỉ muốn nhấn mạnh về thời gian vào khu bốn cũ để không làm độc giả rối mắt vì thực ra sau đó là vào khoảng cuối năm 1964 đầu năm 1965 ông Thanh mới vào Nam hoạt động, nhưng thế thì không lẽ 3 Dũng sinh sau năm 1965?! Thắc mắc như vậy thật là quá vớ vẩn, phải không?.

Trường hợp cho rằng cha của 3 Dũng là cận vệ (hay đồng chí) của Lê Đức Anh & Võ Văn Kiệt đã hy sinh tính mạng để bảo vệ hai người cũng thật khó tin, bởi lẽ:

- Tại sao trong lý lịch 3 Dũng chỉ khai chung chung cha là liệt sĩ mà không có tên, tuổi cụ thể hoặc không khai? Trong khi nếu đúng như vậy thì là cán bộ cách mạng chứ đâu phải là “phản động”? (điều này bạn vào cổng thông tin chính phủ xem, không biết đến giờ này họ có “bổ xung” hay không thì chưa rõ)

- Còn nếu cho rằng hai ông Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt “trả ơn cứu mạng” thì cũng rất khó tin đối với những người cộng sản, vì gương bà địa chủ Nguyễn Thị Năm bị bắn đầu tiên (để làm gương) trong cải cách ruộng đất vẫn còn đó! Rồi mới đây 3 Dũng bỏ tù Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, một nhà đấu tranh dân chủ bất chấp là con của một công thần của chế độ cũng là để “làm gương” đó thôi? Vả lại tin đồn này chỉ đến sau khi 3 Dũng viết bài báo (đăng trên Tuổi trẻ-tp.HCM) ngay sau đám tang ông Kiệt, nhan đề “Nhớ Anh Sáu Dân”.

Mấy năm gần đây cũng xuất hiện một bài báo “nâng bi” 3 Dũng, kể về việc gã tìm gặp người đồng đội cũ đã cứu gã thoát chết, cảm ơn vài câu và trao gói quà… rồi thôi không thấy nhắc đến nữa, nó cũng giống như cái trò PR của mấy thằng bồi bút dùng tờ báo lá cải rác rưởi tận bên Đức để “bầu” 3 Dũng làm “nhân vật của năm” mà thôi.

Một câu hỏi nữa cũng không phải là không có lý là:

- Nếu cho rằng 3 Dũng là con của Lê Đức Anh thì tại sao Lê Mạnh Hà mãi đến bây giờ mới “lẹt đẹt” leo được lên chức phó chủ tịch Tp mang tên ông Hồ?

Trả lời cho câu hỏi này, chúng ta lại phải cùng quay ngược thời gian về hơn 20 năm trước. Vào thời điểm đó lực lượng “bảo thủ” và giáo điều (điển hình là Đỗ Mười, Nguyễn Đức Bình…) ở trong đảng vẫn còn rất đông đảo, trong khi lực lượng “thực dụng” không nhiều và cũng mới ở giai đoạn manh nha, lại không phải ở trong cùng một khối đông đảo như bây giờ thì làm sao mà ông Lê Đức Anh dám công khai đưa con mình (mà ai cũng biết) vào diện “cơ cấu” được? Và lại càng không dám trắng trợn đến mức công khai kiểu như đưa mấy đứa con mới tý tuổi đầu ti toe lên làm “ông nọ, bà kia” như Dũng, như Rứa bây giờ?. Hơn nữa, lúc đó Lê Mạnh Hà cũng còn ít tuổi, chiến công lại chẳng có gì ở vào thời điểm những cuộc chiến tranh cũng chưa phải đã là quá khứ xa xôi, cho nên cách khôn ngoan nhất là “đưa” thằng con “của đồng chí Nguyễn Chí Thanh” lên, như vậy vừa được tiếng là “uống nước nhớ nguồn” lại có cơ đổ vấy cho người đã chết, cũng như được tiếng là vô tư và khách quan. Hơn nữa xét về chiến công trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, chống Khơ me đỏ thì quả thật 3 Dũng cũng có huân chương đầy mình thế thì “trung ương” mà không “ủng hộ” thì mới là chuyện lạ (đó là chưa tính đến sự đi đêm của “vua cha” dành cho thằng con vẫn phải ở “trong bóng tối”).

Tôi bỗng nhớ lại thời gian đó, ở cơ quan tôi mọi người thì thầm cứ như buôn bạc giả, mắt thì dán chặt vào một tờ giấy khổ A4… đó chính là cái “tài liệu của một đồng chí lão thành cách mạng, trước khi chết tiết lộ chuyện 3 Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh…” đúng như tác giả Thăng Long dẫn chứng! Mà cũng chẳng ai biết được nó từ đâu ra, làm sao mà nó lại “lọt” vào các cơ quan được như thế, lạ thật, không thể giải thích được! Một điều quan trọng nữa là bản thân những đứa con của các vị “vua-chúa” đó cũng cần phải có tư chất hay khả năng chính trị, nếu lại là loại lưu manh chính trị nữa thì lại càng tốt (khác với ngày nay là “vua cha” chỉ cần “bế lên” cho ngồi trên ghế là xong…). Với 3 Dũng thì gã có thừa tất cả những điều đó, trong khi Lê Mạnh Hà thì lại chỉ giỏi về chuyên môn thuần túy (những ai từng tiếp xúc, từng làm việc gần Lê Mạnh Hà sẽ cảm nhận được điều đó) và chính điều này đã giải thích tại sao ông Võ Văn Kiệt mặc dù có thừa khả năng “sắp xếp” nhưng tất cả những người con của ông lại chỉ đều thành danh trên thương trường chứ không có ai thành danh trên chính trường cả! mặc dù, để nịnh ông Kiệt “bên dưới” cũng mấy lần tính “đẩy” họ lên một chức vụ nào đó trong chính quyền (Phan Thanh Nam một dạo suýt nữa thì ra làm phó cho Trương Tấn Sang, khi ông ta làm chủ tịch thành phố, nhưng sau P.T.N từ chối?)… Mặt khác cũng có thể những cá nhân đó “không thích” bon chen chính trị, mà chỉ thích đi vào con đường kinh doanh, ví dụ như con trai cựu tổng bí thư Lê Duẩn chẳng hạn…

Thời gian sau này, khi đã lui về như một “thái thượng hoàng”, tuy quyền lực không còn được như trước, nhưng cái uy cũng như chỗ dựa khá vững chắc là con trai 3 Dũng cũng làm cho tiếng nói của Lê Đức Anh khá là có trọng lượng (tuy rằng không phải trên mọi phương diện như trước đây), nhất là vào nhiệm kỳ hai của 3 Dũng sau khi “thoát chết” từ vụ Vinashin và vài vụ nữa, 3 Dũng củng cố lại quyền lực đồng thời “đẩy” ông em lẫn thằng con cho mỗi đứa vào một ghế là điều có thể giải thích được.

Vài năm trước cũng có một luồng thông tin cho rằng sở dĩ Lê Mạnh Hà “lên” chậm là do không được lòng ông bố vì đã ra mặt phản đối khi ông Lê Đức Anh lấy người vợ thứ ba (Lê Mạnh Hà là con bà hai), cũng tựa như trường hợp Nông Quốc Tuấn phản đối cha lấy vợ mới khi bà cả chết mới được hơn một năm khiến hai cha con to tiếng…

Cũng theo nguồn tin trên thì cha, con Lê Đức Anh cũng chỉ mới “làm lành” độ dăm năm nay sau chuyến về thăm quê nội. Thật ra, xét cho cũng thì mâu thuẫn đó (nếu có) cũng không mấy ảnh hưởng tới con đường hoạn lộ của Lê Mạnh Hà bằng chính những điều như vừa phân tích ở trên…

Xâu chuỗi tất cả các sự kiện và tính lôgích của nó, cũng như tác giả Thăng Long, tôi cũng tin rằng 3 Dũng chính là con của Lê Đức Anh.! Tiện đây, cũng nói sơ qua về cuộc chiến chống Khơ me đỏ, tôi cũng đồng ý với tác giả là việc đánh chúng là điều phải làm và không cần bàn cãi, nhưng vấn đề là cách đánh như thế nào để đỡ tốn xương máu nhất, đó mới là tầm nhìn của một vị tướng tài, còn có bạn đi ví với cuộc chiến chống Mỹ thì quả là quá khập khiểng bởi vì tính chất của hai cuộc chiến cũng như địa thế, địa hình và địa chính trị thời bấy giờ là hoàn toàn khác nhau. Để diễn giải thì phải cần một dịp khác không phải nằm trong chủ đề chính của bài viết này…

 
Trần Phong
---

Nguồn gốc từ y tá lên thủ tướng

Thăng Long (Danlambao) - Lâu nay bạn đọc thường vẫn hỏi nhau một trong những câu hỏi, mà cho đến gần đây chưa có câu trả lời thỏa đáng, có chăng thì cũng chỉ là những lời đồn thổi khó thuyết phục vì xét ra cũng là thiếu lôgich: Tại sao Nguyễn tấn Dũng, với nhân thân (công khai) có thế nói rằng không có gì nổi bật, nếu như không muốn nói là quá tầm thường, mà lại leo cao, trèo sâu nhanh đến như vậy?.

Hôm nay, Thăng Long tôi xin cùng phân tích với quí vị để trả lời cho câu hỏi nêu trên (mọi người chớ có cho rằng tôi là... thầy bói đấy nhé). Chúng ta cùng ngược lại thời gian cách nay hơn 20 năm, lúc đó không hiểu từ đâu bỗng thấy xuất hiện một tài liệu nặc danh (chỉ đề là: một lão thành cách mạng, biết không còn sống được bao lâu, nên chỉ muốn các đồng chí biết một sự thật mà tôi và một số đồng chí khác đã trực tiếp chứng kiến) câu chuyện như sau: 

Năm 1948 một nữ cán bộ khu chín ra khu bốn cũ (vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh) công tác, có gặp và rồi có tình cảm với đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Sau đó thì nữ đồng chí này có thai, được khoảng trên ba tháng gì đó thì phải nhận nhiệm vụ quay về miền nam tiếp tục công tác rồi sau đó sinh ra một cháu trai. Theo lời dặn của anh Thanh, đặt tên cháu là Nguyễn Tấn Dũng... 

Ảnh - Nguyễn Chí Thanh

Tài liệu vừa trích dẫn, chưa biết đúng-sai thế nào nhưng nó cũng làm dư luận xôn xao một thời gian dài và quả thật, gần như ngay lập tức trên chính trường bỗng xuất hiện một nhân vật lạ hoắc mang tên Nguyễn Tấn Dũng (mà lần lượt "kinh qua" nhiều chức vụ "chuyên trị" làm cấp phó và cấp trưởng nhỏ ở nhiều cơ quan khác nhau... rồi bây giờ đang là thủ tướng nhiệm kỳ hai). 

Xâu chuỗi các sự kiện, người ta đặt ra câu hỏi: ông Nguyễn Chí Thanh đã chết từ rất lâu rồi, lại không thể đủ uy tín và tầm cỡ như ông Hồ (ám chỉ trường hợp Nông Đức Mạnh). Hơn nữa vào thời điểm đó dù Nguyễn Chí Vịnh có ra tay giúp người anh cùng cha khác mẹ (tạm cho là như vậy) thì cũng khó thuyết phục, bởi vì lúc đó Vịnh cũng "chưa là cái gì" cả dù y có là trùm tổng cục 2, vì bên trên toàn là loại"cây đa cây đề", cũng không dễ để y tự tung tự tác như thời gian sau này... 

Vậy thì do đâu mà Dũng lại được cả "tứ trụ triều đình" thời bấy giờ nhất lòng nâng đỡ và ủng hộ đến mức bất thường đến thế? Câu hỏi là quá khó để trả lời thì lại thấy xuất hiện một lời đồn mới là "Nguyễn Tấn Dũng chính là hậu duệ của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tức là thuộc dòng dõi ông Hồ. Lời đồn thổi này quả thực cũng có lý (thiên hạ đem ra để so sánh với trường hợp lên nhanh của Nông Đức Mạnh). Xét về mọi mặt, lời đồn này có thể còn "si nhê" hơn là cho rằng y thuộc dòng dõi Nguyễn Chí Thanh... Nhưng, khi chúng ta bình tĩnh lại mà suy xét thì lại cay đắng nhận ra rằng: Tất cả chỉ là một trong những "quả lừa" mà đảng cộng sản và những kẻ nhân danh nó cho Dân chúng "ăn" liên tục mà thôi!!! 

Bây giờ, chúng ta xét trường hợp cụ Phó bảng trước: Nếu Nguyễn Tấn Dũng là hậu duệ, xét về tuổi tác thì phải là hàng cháu chắt mà cha, con ông Hồ lại đã chết từ rất lâu rồi. Hơn nữa bản thân ông Hồ cũng lại chết trước khi thống nhất đất nước những sáu năm thì làm sao biết được Nguyễn Tấn Dũng là ai để mà "dặn dò" hậu thế nâng đỡ? (trong khi Nông Đức Mạnh thì họ đã biết từ lâu rồi...). Giả sử có người "biết chuyện" báo cáo với trung ương thì liệu có ai tin? Cụ phó bảng trước khi chết cũng không thể biết trước được sau này mình lại có hậu duệ tên là Tấn Dũng để mà viết di chúc hay làm sẵn gia phả? Quả là điều không tưởng nếu như không muốn nói là quá vớ vẩn. Do đó ta hãy loại bỏ trường hợp này, vì nó quá phi lý! 

Vậy còn trường hợp Nguyễn Chí Thanh có phải là cha Nguyễn Tấn Dũng? Ta xét quá trình công tác của ông Thanh thì thấy rằng: Ông Nguyễn Chí Thanh mãi đến sau chiến dịch biên giới 1950 mới vào công tác tại khu bốn cũ (tức là vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay). Trong khi đó thì ai cũng biết là Nguyễn Tấn Dũng sinh năm 1949, thế thì mẹ y có bầu với ai đó chứ làm sao mà đỗ thừa cho ông Thanh được? Sự vô lý còn ở chỗ, ai cũng biết là "Bộ tham mưu" của Việt minh nằm hết ở chiến khu Việt Bắc, chứ đâu có ở khu bốn cũ mà người nữ cán bộ từ mãi tận trong Nam ra đó thì công tác cái nỗi gì? Không lẽ ra chỉ để "gặp" người chưa quen biết rồi đẻ ra Nguyễn tấn Dũng?... Hơn nữa, thời đó thì làm gì đã có nhiều ô tô để cấp riêng cho bà cán bộ đó, dù là có bầu với (ông Thanh); do đó, bà phải đi bộ như những người khác, mà từng ấy cây số, lại đã có bầu trên ba tháng mà phải đi bộ đầy hiểm nguy gian khổ như thế mà bà không đẻ non dọc đường thì mới là chuyện lạ, không lẽ cố mà lết về đến tận Kiên Giang mới chịu cho Nguyễn tấn Dũng chui ra? 


Xét về hình thể, rõ ràng ta thấy rằng ông Nguyễn Chí Thanh là người nhỏ thó. Khuôn mặt và dáng người Nguyễn Chí Vịnh là khá giống cha còn Nguyễn Tấn Dũng lại khác hoàn toàn từ dáng người cho đến khuôn mặt... Từ tất cả những dẫn chứng nêu trên, ta có thể nói rằng Nguyễn Chí Thanh không hề có thằng con nào như thế và việc gán cho ông suy cho cùng cũng chỉ là cái trò "gắp lửa bỏ tay người" để đánh lừa dư luận mà thôi!. 

Vậy thì Nguyễn Tấn Dũng là con ai mà lại lên nhanh đến thế? Kẻ đó chính là "Thái thượng hoàng" Lê Đức Anh. Những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước tuy chỉ làm chủ tịch nước nhưng lại được đàn anh là Lê Đức Thọ bảo kê và "dìu dắt" (lúc này Lê Đức Thọ như Thái thượng hoàng) chính y đã ép thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định nâng cấp cục 2 thành tổng cục 2 trực thuộc bộ chính trị, cho theo dõi toàn bộ ban chấp hành trung ương để giúp y nắm gáy mọi người nhằm dễ bề khuynh loát chính trường và thời gian này con đường hoạn lộ của gã con hoang của y cũng thực sự bắt đầu. 

Trước tiên, ta hãy xét quá trình hoạt động của Lê Đức Anh. Không tính thời gian y làm cai đồn điền cho mật thám Pháp thì suốt trong những năm theo Việt Minh chống Pháp cũng như sau này, trước năm 1975 thì chưa bao giờ y ra khỏi vùng gọi là Quân khu 9 (tức là mấy tỉnh cực nam của tổ quốc). Trong đó, dĩ nhiên bao gồm cả vùng đất đã sinh ra và nuôi dưỡng Nguyễn Tấn Dũng! 

Xét về hình tướng thì cha con y rõ ràng có những nét vô cùng tương đồng: cùng cao lớn, khuôn mặt và các chi tiết như mũi, gò má, cằm, trán v.v... Chúng ta đem so sánh hình ảnh chụp công khai của cha, con y thì sẽ tự đối chiếu ra thôi, có khó gì? 


Cho nên đã có nhiều bạn thấy thằng Nguyễn Thanh Nghị rất giống Lê Đức Anh thì cũng không có gì là lạ, vì xưa nay cháu có nét giống ông nội là chuyện thường tình. 

Nói về một điều khá lạ nữa cũng liên quan đến cha, con y là mỗi khi xảy ra một sự việc nào đó, hễ mà thái thượng hoàng cha lên tiếng công khai thì y như rằng được thằng con "chấp hành" ngay còn người khác có là cỡ nào nói thì cũng chẳng "xi nhê" gì (ta lấy ví dụ gần nhất là vụ Tiên Lãng thì thấy rõ liền...). 

Tội ác của cha, con y đối với Dân tộc như đã và đang xảy ra thì rất nhiều người đã biết, nhưng vụ bị mang tiếng với quốc tế vì xâm chiếm Campuchia dẫn đến bị cấm vận trong hơn 10 năm thì có lẽ ít người biết một cách tường tận: "Nếu đánh trả Khơ me đỏ theo cách của Tướng Giáp thì ngày nay làm gì còn Khơ me đỏ để tòa án quốc tế mất thời giờ xét xử!..." Tại sao BBC lại bình luận như vậy? Họ ngồi trong phòng có điều hòa rồi võ đoán chăng? Xin thưa là không, mà là họ nói rất đúng! 

Ảnh - Lê Đức Anh

Trước tiên, chúng ta phải khẳng định rằng việc đánh trả Khơ me đỏ xâm lược và giết hại dã man đồng bào ta là đúng! Vấn đề là ở cách đánh như thế nào.? Chúng ta đều đã biết là sau năm 1975 Quân đội VNCH đã để lại gần như nguyên vẹn mọi khí tài thuộc tất cả các quân binh chủng Hải-Lục-Không quân... Ta dùng trực thăng vận đổ quân bao vây toàn bộ biên giới Thái Lan-Campuchia, phía biển dùng tàu chiến các loại & tàu đổ bộ bao vây toàn bộ các hải cảng (ví dụ cảng sihanucvin...) Dùng bộ binh, tăng, thiết giáp, pháo binh tấn công dọc biên giới VN-Campuchia và Lào - Campuchia vậy thử hỏi Khơ me đỏ nếu không đầu hàng thì chạy đi đâu? Đó chính là cách đánh của Tướng Võ Nguyên Giáp mà BBC đã bình luận ở trên! Vậy mà tiếc thay, tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ - Văn Tiến Dũng không những không nghe mà lại cử Lê Đức Anh (kẻ cơ hội chỉ quen đánh trộm kiểu du kích) làm tư lệnh chiến trường... 

Kết quả là không những không thể giải quyết đánh nhanh thắng nhanh (là binh pháp sơ đẳng khi phải chiến đấu trên đất nước đối phương) mà phải kéo dài sự chiếm đóng bất đắc dĩ kéo theo cái chết "bất đắc kỳ tử" của hàng chục ngàn binh sĩ đêm đêm làm mồi cho du kích Khơ me đỏ. Đã thế lại còn đẩy Dân tộc lâm vào cảnh đói nghèo vì kiệt quệ do chiến tranh quá kéo dài, danh dự-uy tín của Quốc Gia trở về con số không to tướng... Ấy vậy mà sau vụ Xiêm Riệp (Lê Đức Anh chỉ đạo giết hại rất nhiều đảng viên Khơ me vô tội...) Lê Đức Anh về nước lên làm bộ trưởng quốc phòng thay Văn Tiến Dũng, rồi từ đó lên chủ tịch nước như chúng ta đã biết. Thời gian này y cùng "bộ tứ" khom lưng cúi đầu dâng đất, dâng biển qua hiệp định Thành Đô ô nhục để giữ chế độ độc tài đảng trị... Tội ác này của tập đoàn cộng sản VN rồi đây sẽ có ngày Nhân Dân sẽ phán xét phân minh!... 


Xin Đừng Đọc Nếu Có Sợ: "Don’t Die Before You Read This"


“Đừng Chết Trước Khi Đọc Bài Nầy”



1) Nên khảo giá nhiều nơi dù vợ có cằn nhằn cũng thây kệ.
“ Sai lầm lớn nhất của tang quyến, là không chịu khảo giá năm ba nơi khác nhau. Người ta cho giá nào, thì cũng nhận, không dám hỏi mà cũng không dám mặc cả từ quan tài, cho đến đất chôn, và các nghi lễ tốn kém khác."
"Sai lầm kế tiếp là chọn lựa nhà quàn. Thường chọn gần nhà, hoặc nơi đã có người quen làm đám tang rồi. Nếu không khảo giá vài ba nơi, tang quyến có thể trả giá gấp 3 lần nơi khác. Ví như cùng việc mai táng, có nơi cho giá 2500 đô mà chỗ khác đến 6500 đô. Cũng việc thiêu xác, có nơi chỉ 395 đô, mà nơi khác đến 5600 đô.”

2) Có nên chưng mặt người chết ra không?
"... người Việt mình bắt chước Mỹ, trưng bày mặt người chết cho bạn bè thân nhân nhìn lần cuối trước khi đem chôn là một việc làm không nên. Vì dù có trang điểm cách nào đi nữa, thì khi đã chết, mặt mày cũng không còn dễ nhìn như khi còn sống, nếu không nói là xấu xí, rờn rợn, hốc hác, tái mét."

Khi làm mặt và trang điểm cho người chết, tôi xem chiếu trong phim tài liệu, mà sợ. Ngoài việc moi hết tim gan phèo phổi, dạ dày, ruột non ruột già, thấy người ta còn dùng mấy cây sắt dài chừng nửa thước, to hơn chiếc đũa, xiên từ trong miệng xuống cổ, vào thân, có lẽ để giữ cho cái đầu và xác ở vị trí thẳng. Rồi cắt trong nướu, để dùng dây kẽm may, xâu hàm trên và hàm dưới lại với nhau trong vị trí bình thường, cho miệng khỏi há ra, và may môi lại với nhau. Dùng chất dẻo đắp vào các nơi cần đắp. Sau đó, dùng phấn, màu, thoa lên mặt, tạo thành một lớp giống như da thường. Cắt tóc, cạo hay tiả râu lại cho đẹp. Nếu mình chứng kiến tận mắt khi họ làm cho thân nhân mình, thì đau lòng lắm.”
Nói cho cùng, rất nhiều người đi phúng viếng người chết rất ngại ngùng khi phải bước đến quan tài nhìn mặt người quá cố dú không ai tiện nói ra.

3) Người Công Giáo có được hỏa thiêu hay không?
Ngày xưa giáo hữu Thiên Chúa Giáo tin rằng đến ngày phán xét, linh hồn sẽ nhập vào xác, đội mồ sống dậy nghe bản án cuối cùng. Nếu xác đã bị thiêu, hồn lấy gì để nhập vào mà nghe Chúa phán xét? Vì vậy, trước đây, người Công Giáo không được hỏa thiêu và các linh mục không được làm lễ cho các đám tang mà người chết bị đưa lên dàn hỏa. Thời Trung Cổ, giàn hỏa dành cho những kẻ rối đạo, những người dị giáo.
Đến năm 1963, Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Sáu tuyên bố việc hoả thiêu là không trái với Giáo Luật
Ba năm sau, 1966 các linh mục được phép làm lễ cho các đám tang hoả thiêu.
Tóm lại, ngày nay, không có trở ngại chi cho việc hỏa thiêu người Công Giáo

4) Cuối cùng, xin đọc di chúc của một cụ bà rất hiểu biết:
“...Sau nầy mẹ chết, thì mẹ ước mong các con làm đám tang đơn giản. Không khăn sô, không tụng niệm, không để bà con xem mặt, không phúng điếu, không vòng hoa, và mẹ muốn được thiêu xác. Tro cốt thì đem thả xuống Thái Bình Dương, để mẹ hoà tan vào biển cả, may ra thấm về thấu tận quê nhà bên kia đại dương. Đừng chôn tiền xuống đất. Tiền tiết kiệm được đem cúng cho hội từ thiện ..”

BIẾT ĐÂU LÀ KHỞI ĐIỂM CUỘC RONG CHƠI
Mẹ vợ ông Hàn mới chết, con cháu từ xa đổ xô về chịu tang. Các anh chị em vợ của ông chọn một cái hòm do nhà quàn đề nghị, với giá 12 ngàn đô. Ông Hàn chê đắt, bảo khoan quyết định, chờ ông khảo giá đã. Ông Hàn bình tĩnh ngồi bên máy vi tinh, lục tìm khảo giá. Bà vợ ông thì chạy lui chạy tới trong phòng khách, dẫm chân đành đạch trên sàn nhà, khóc bù lu bù loa, rồi đến day áo ông mà nói:
“Giờ nầy mà anh còn ngồi đây thong dong khảo giá? Chuyện nầy cấp bách. Có phải mua món hàng gia dụng đâu mà chần chờ? Tốn kém bao nhiêu anh em chúng tôi cũng chung chịu. Mẹ chết có một lần. Làm chi cái việc hà tiện xấu thế?”
Ông anh vợ cũng bối rối nói:
“Giờ phút nầy, thì nhà quàn ra giá bao nhiêu, mình cũng phải nhận. Có đắt hơn ít trăm bạc, cũng không sao. Mình lựa chọn cái hòm đó, chứ họ có ép mình đâu?”
Ông Hàn quay ngoắt lại, nói với giọng cứng rắn:
“Ít trăm thì tôi khảo giá làm chi? Phải ít nhất là mấy ngàn đồng. Có thể tiết kiệm được từ 40% đến 60% toàn bộ chi phí tang lễ. Dù là tiền của ai đi nữa, tôi cũng không muốn phung phí.”
Bà vợ thét lên:
“Rồi mua phải thứ hòm giả mạo, không tốt. Nó đâu đem đến liền cho mình được, chờ đến bao giờ mới có? Chậm trể việc ma chay. Mà lỡ nhà quàn không chịu nhận hòm từ nơi khác đưa tới, thì đem cái hòm đi tặng ai, tôi nhất định không cho để trong nhà nầy.”
Ông Hàn cười hề hề, chậm rải trả lời:
“Giả mạo làm sao được? Cũng hòm ấy, cùng hiệu, cùng tên, cùng nhà sản xuất. Nhà quàn cũng mua tại các nơi đó thôi. Rồi cọng thêm chi phí, tiền lời, mà tăng giá lên. Ai dại mua thì ráng chịu. Nhà quàn cũng không làm gì sai trái. Họ làm thương mãi, phải kiếm cho được nhiều tiền lời càng tốt. Họ chẳng có gạt gẫm ai. Nhưng nếu mình mua được hòm đúng giá, thì người bán sẽ chuyển ngay đến nhà quàn trong vòng 24 giở. Chắc chắn. Theo luật liên bang Mỹ, bắt buộc nhà quàn không được từ chối quan tài và các vật dụng cần thiết cho người chết do thân nhân mua và đem đến. Trường hợp đó, nhà quàn chỉ lo các dịch vụ tang ma, các lễ lạc mà thôi. Tôi còn phải kêu nhà quàn cung cấp cho mình bảng ghi giá cả của từng mục, gọi là FPL (Funeral Price List) theo luật định. Tôi sẽ so sánh thêm giá cả của từng mục dịch vụ để không bị hố, trả giá cao, đắt. Bà đừng lo, nếu nhà quàn không nhận hòm, thì tôi bán lại kiếm chút lời.”
“Bây giờ không phải là lúc đùa giỡn được. Anh có chắc hòm được giao đúng thứ mình muốn, và trong vòng 24 giờ không. Giao cho nhà quàn, họ tráo hòm khác thì sao? Anh đã có kinh nghiệm nào đâu?”
“ Mình có thể đòi hiện diện trong lúc giao hàng, ai mà đánh tráo được?”
Cả nhà bực mình, xôn xao vì thái độ kỳ cục của ông Hàn. Một bà chị vợ gay gắt:
“Có phải vì không là mẹ ruột, nên cậu nhẩn nhơ, và đòi làm những chuyện trái đời?”
Ông Hàn hơi giận, giọng cứng, gằn: “Nầy, chị đừng nói thế. Mấy năm nay ai chăm sóc mẹ? Ai đưa mẹ đi bệnh viện, làm đủ thứ giấy tờ, nhắc mẹ uống thuốc hàng ngày? Thằng nầy chứ ai. Thế thì bây giờ mẹ qua đời, tôi không có quyền phụ giúp mẹ và cả gia đình nầy, cử hành tang lễ đàng hoàng hơn, ít tốn kém hơn hay sao?”
Ông Hàn gầm gừ bỏ đi, lục lọi tìm tòi trong mấy chồng hồ sơ, và quăng ra một tờ bào “US News & World Report” và nói:
“Các anh, các chị đọc bài “Đừng Chết Trước Khi Đọc Bài Nầy” (Don’t Die Before You Read This) đi, để biết.”
Vợ ông Hàn la lên: “Trời ơi, giờ nầy còn bụng dạ nào mà đọc báo? Mà nó viết gì? Sao anh không tóm tắt kể cho bà con nghe, xem có lọt tai không?”
Ông Hàn chầm chậm nói: “Tác giả Miriam Horn viết về chuyện linh mục Henry Wasielewsky. Vị linh mục nầy đã vạch trần cách làm ăn thiếu lương thiện, bóc lột quá đáng của một số nhà quàn trong lúc tang gia bối rối. Đã bị những nhà quàn bất lương hăm dọa, nhiều lần kêu điện thoại lúc nửa đêm đòi xin tí huyết, không những thế, ông còn bị cảnh sát địa phương săn đuổi, và cả vị Giám Mục địa phận cũng đày ông đi xa. Bài báo viết rất hay, kể rõ một số thủ đoạn của những nhà quàn thiếu lương thiện.”
Ngưng một lát, uống hớp nước xong, ông Hàn nói tiếp: “Tác giả viết thêm rằng, người ta không có kinh nghiệm, không có thì giờ trong thời gian cấp bách, không có đủ bình tĩnh khi đang đau buồn, bối rối, cho nên nhà quàn và nghĩa địa làm giá rất cao. Tang quyến mệt quá, và nghĩ rằng người chết chỉ có một lần, nên giá nào cũng chịu. Cò kè giá cả trong lúc đau buồn nầy, thì thấy có cái gì lấn cấn trong lòng. Trong bài báo nói, giá cái hòm chỉ 675 đô, mà nhà quàn đưa giá 3495 đô, cũng gật đầu chấp nhận. Giá xe tang mỗi giờ vào thời đó chỉ 25 đô mà tăng lên 200 đô hay cao hơn nữa. Cũng như các món khác như là hoa, bia mộ, thiệp cám ơn vân vân, tăng gấp 3 đến 8 lần. Nếu giá chỉ tăng 100% thôi, là đã là phước cho tang chủ lắm.”
Ông Hàn cười, và tiếp lời: “Bài báo viết thêm rằng, trường hợp tang chủ kêu đắt, họ nói khéo lắm. Đề nghị bỏ xác vào thùng giấy đem chôn sẽ được rẻ hơn nhiều, tang quyến nghe mà xót xa, đau lòng, tủi thân, nghĩ rằng mình thương người quá cố không đủ, thế là cắn răng chịu giá cao.”
Bà Hàn hỏi thêm: “Còn gì nữa không?”
“Đây, tác giả viết rằng, có một bà đã khóc và xin bà con bạn bè trợ giúp tiền bạc để làm đám tang cho chồng. Nhà quàn đòi 995 đô cho cái hòm. Khi có người hỏi sao đắt thế, họ bảo đó là loại hòm đặc biệt. Có người không tin, đi khảo giá, cũng hòm đó, loại đó, thì nơi sản xuất bảo rằng đó là loại rẻ nhất bằng ván ép. Người ta đến phàn nàn với nhà quàn, thì họ giảm giá xuống 50%.Có nhà quàn gián tiếp hối lộ cho tu sĩ, giáo sĩ, tặng những vé máy bay đi chơi, du lịch miễn phí, để họ dành cho nhà quàn sắp xếp chương trình tang lễ. Có thế mới ra giá cao được. Có thể tưởng tượng được không, cùng một cái hòm, mà có nơi đưa giá chỉ 1495 đô, mà nơi khác cho giá 9910 đô. Một số nhà quàn kiếm tiền của thân nhân kẻ quá cố dễ dàng, bằng cách bán các phụ kiện trong đám ma. Ví như gắn thêm một tượng kim loại nhỏ, hình Đức Mẹ Maria, giá mua chỉ chừng 3 đến 5 đô, mà tính đến một hai trăm. Người ta ngại, không dám hỏi về những biếu tượng thiêng liêng nầy.”
Ông Hàn đưa tờ báo cho mọi người và thúc hối : “Đọc đi, mọi người đọc đi để thấy việc tôi làm đây là đúng hay sai. Nếu không biết, thì để cho người khác làm, đừng cản trở”
Vừa lúc đó, thì có bà Kim đến. Bà nầy trước đây làm việc cho nhà quàn, bà là trưởng giám đốc tang lễ, nay đã về hưu. Ông Hàn như bắt được của quý, xoắn lấy bà Kim, yêu cầu giúp đỡ, hướng dẫn dể làm sao giảm thiểu được chi phí đám tang . Bà Kim ngồi cười. Vợ ông Hàn chạy ra phân bua:
“ Giờ nầy mà ông xã em còn khảo giá trên mạng để làm tang lễ. Ông ấy muốn giảm chi phí, vì nhiều nhà quàn thường cho giá cao trên trời. Chị làm trong nghề, xin chị chỉ giúp tụi em với.”
Bà Kim chậm rải: “Không phải nhà quàn nào cũng thiếu lương thiện, muốn nhân cơ hội tang gia bối rối mà moi tiền. Rất nhiều nhà quàn đàng hoàng, uy tín, nhưng họ cũng thừa khôn ngoan, để tìm lợi tức tối đa cho cơ sở kinh doanh của họ. Giá cả cũng có cao, nhưng cao vừa phải, không quá lố. Nếu họ có đề nghị, quảng cáo khách hàng mua thêm mục nầy, mục kia, thì là lẽ thường trong việc kinh doanh kiếm lời. Với chủ trương không gạt gẫm ai, nhưng ai muốn có những thứ xa xỉ, đắt tiền, mà có khả năng tài chánh, thì tại sao nhà quàn lại bỏ lỡ cơ hội ? Nhà quàn là nơi làm thương mãi, kiếm lợi tức, chứ không phải nơi làm phước thiện.”
Ông Hàn nhỏ nhẹ: “Chị có nhiều kinh nghiệm trong ngành nầy, chúng tôi xin chị vài lời vàng ngọc hướng dẫn cho, làm sao để giảm thiểu chi phí chôn cất thân nhân, tránh những sai lầm tốn kém vô ích.”
Bà Kim cười: “ Sai lầm lớn nhất của tang quyến, là không chịu khảo giá năm ba nơi khác nhau. Người ta cho giá nào, thì cũng nhận, không dám hỏi mà cũng không dám mặc cả từ quan tài, cho đến đất chôn, và các nghi lễ tốn kém khác. Sai lầm kế tiếp là chọn lựa nhà quàn. Thường chọn gần nhà, hoặc nơi đã có người quen làm đám tang rồi. Nếu không khảo giá vài ba nơi, tang quyến có thể trả giá gấp 3 lần nơi khác. Ví như cùng việc mai táng, có nơi cho giá 2500 đô mà chỗ khác đến 6500 đô. Cũng việc thiêu xác, có nơi chỉ 395 đô, mà nơi khác đến 5600 đô.”
Bà vợ ông Hàn bẻn lẻn nói nho nhỏ: “Nếu chị không nói ra điều đó thì em tưởng ông chồng em là người khùng, gàn dỡ, chướng ách. Nhưng em hỏi chị, thì giờ đâu mà đi khảo giá, thân nhân mình chết rồi, có nằm đó mà chờ được không?”
Bà Kim cười nhẹ nhàng:
“ Cứ thong thả, để xác thân nhân tại bệnh viện, nơi đây có đủ phòng lạnh để tồn trử, không ai đem xác quăng đi hoặc gởi hoá đơn xuống âm phủ đòi tiền người chết. Khi nào tìm được nơi làm tang lễ tốt, giá cả xứng đáng, chịu được, thì mới ký hợp đồng”
Một ông rể trong gia đình xen vào câu chuyện: “Trường hợp của gia đình tôi, ông bố vừa tắt thở tại bệnh viện, thì khoảng mười phút sau có nhân viên của nhà quàn đến tiếp xúc với gia đình, nói là họ được kêu điện thoại để đem thi hài thân nhân quý vị về nhà quàn. Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng là tự nhiên có người lo cho mình, khỏi phải đi tìm, chạy ngược xuôi trong lúc bối rối nầy. Chị có biết tại sao nhà quàn biết giỏi thế?”
Bà Kim cười: “Có gì lạ đâu? Nhiều nhà quàn liên lạc mật thiết với các y-tá trong các khu cấp cứu, hồi sinh. Khi có người qua đời, thì y tá báo ngay cho nhà quàn biết. Cũng là chuyện làm ăn thường tình”
Ông Hàn hỏi: “Làm sao giảm thiểu được chi phí tống táng, mà tang lễ vẫn được trang trọng, bình thường?”
Bà Kim nói: “Đừng gồng mình lên mua tất cả các mục không cần thiết mà nhà quàn liệt kê và khuyến cáo. Mua tối thiểu mà thôi. Vòng hoa trên ngực, vòng hoa trên quan tài, mình mua chỉ mấy chục đô, nhà quàn sẽ tính đắt gấp năm, gấp mười lần. Nếu khôn ngoan, thì làm lễ tưởng niệm tại nhà, tại chùa, nhà thờ. Trang trọng và thân mật hơn.”
Bà Hàn lo lắng hỏi: “Chỉ có mua hòm và đất chôn thôi, là đã đủ. Còn chi phí gì khác nữa chăng ?”
Bà Kim cười : “ Có lẽ ai cũng tưởng chôn cất là đơn giản như chị nghĩ. Không. Cả mấy chục thứ chi phí , tôi kể sơ ra đây mà thôi, nghe chán lằm. Nầy nhé, chi phí cơ bản tại nhà quàn để bàn định việc chôn cất, giấy phép chính quyền, khai tử, mua hòm, vải tẩm liệm, quách bao quanh hòm dưới đất, chuyển xác từ nơi chết về nhà quàn, tẩm xác bằng cách rút hết chất lỏng trong người ra và bơm chất hoá học vào, trang điểm cho người chết, áo quần liệm, giữ xác trong phòng lạnh, mướn phòng viếng thăm, đem xác ra vào, lễ viếng thăm, thức ăn, giải khát, tổ chức cử hành tang lễ, in chương trình tang lễ, cuốn tập ghi khách viếng thăm, vòng hoa trên ngực và vòng hoa trên giá, tụng niệm tôn giáo, ban nhạc, xe tang chuyển hòm từ nhà quàn ra huyệt mộ, xe lớn chở thân nhân theo quan tài, xe chở các vòng hoa ra nơi chôn, đất chôn, đào và lấp mộ, chuẩn bị mặt bằng để làm lễ hạ huyệt, căng lều, ghế ngồi, xếp đặt việc hạ huyệt, bia mộ tạm, đăng cáo phó, bia mộ, khắc chữ, dựng bia vân vân, mỗi mục là tính tiền riêng. Chưa kinh nghiệm thì tưởng chỉ có mua hòm và đât chôn là xong. Cọng tất cả lại, cũng là số tiền rất lớn, tang gia không ngờ được.”
Bà Hàn hỏi: “Thế thì mục gì mình có thể từ chối, không mua?”
“Còn tùy cách lựa chọn, thường thì mục nầy kéo theo mục kia, nhưng có nhiều mục có thể bỏ qua được. Nếu muốn tránh những chi phí linh tinh, thì tốt nhất là giảm bớt các nghi tức rườm rà, như thăm viếng nhìn mặt, làm lễ tại nhà quàn. Thân nhân có thể làm lễ tưởng niệm tại nhà thờ, chùa hay tại tư gia trong khung cảnh nghiêm trang, và bà con đỡ phải cực nhọc thăm viếng. Người quá cố được đưa từ bệnh viện đến nhà quàn, rồi thẳng ra huyệt mộ. Ngày nay, nhiều gia đình Mỹ tổ chức tang lễ đơn giản cho người quá cố, chỉ riêng trong vòng bà con thật gần gũi thân thiết, không tiếp bạn bè, quan khách, không vòng hoa, không phúng điếu”
Bà Hàn cắt ngang lời: “Thế thì không sợ người ta nghị dị, chê cười? Thiên hạ tưởng gia đình keo kiệt, bần tiện, không dám chi tiền, hoặc người ta chê mình nghèo?”
Bà Kim thở dài: “Quan trọng nhất là ước nguyện của người quá cố. Biết họ muốn gì, và mình làm được gì trong khả năng tài chánh của gia đình. Nhiều người chết, muốn tang lễ đơn giản, mà gia đình sợ bạn bè bà con dèm pha, phải gồng mình lên chi tiêu, nợ nần, mua lo âu vào thân. Cách tốt nhất, là mỗi người, làm sẵn di chúc, viết rõ các ước muốn của mình, trong khả năng tài chánh có thể. Chuẩn bị trước khi chết một chương trình và lối tang lễ mà mình ưa thích, mong muốn, và hợp với khả năng tài chánh sẵn có. Đừng để gánh nặng đè lên vai người còn sống, và đôi khi thực hiện tang lễ trái với ý muốn của mình. Đừng có dặn miệng thôi, không có bằng chứng, con cháu nhiều người quên mà không ai nghe. Khi đó, gia đình đỡ bối rối, vì kẽ muốn thế nầy, người muốn thế kia, gây gổ nhau. Nếu tang lễ có đơn giản, thì cũng không ngại ai chê cười. Nếu những người có dư tiền, muốn hoang phí đem chôn tiền xuống đất, thì cũng không ai trách móc . Bà nội tôi ngày trước, muốn con cháu mặc áo sô, thắt lưng rơm, dép cỏ, khóc lóc, nằm lăn lộn cản đường xe tang. Thuê thêm người khóc mướn làm điếc tai bàng dân thiên hạ. Thấy không đẹp, thiếu văn minh. Nghe đâu ông cố nội của tôi chết, hòm quàn trong nhà gần môt năm dài, tiếp khách viếng tang, chôn xong thì bà cố chết vì quá mệt nhọc, và gia đình sạt nghiệp.”
Ông Hàn hỏi: “Trẻ như chúng tôi, có nên viết di chúc không? Khi nào là lúc nên viết?”
“Trên năm mươi tuổi, thì viết được rồi. Những người bệnh nặng, nên viết ngay là tốt nhất. Tôi biết, nhiều người Mỹ giàu hàng trăm triệu, khi chết cũng muốn làm đám tang đơn giản, tối thiểu, không cho ai nhìn mặt, và chỉ có vài chục thân nhân tham dự. Trong nghề, tôi biết khá nhiều gia đình Việt Nam giàu có, khi chết cũng chuyển xác từ bệnh viện thẳng đến nhà thiêu luôn, khỏi phải qua nhiều giai đoạn, nghi thức rườm rà. Rồi bà con bạn bè đến nhà làm lễ tưởng niệm, nhắc chuyện vui buồn liên hệ đến người quá cố trong không khívui vẻ, bình thường. Tôi nhấn mạnh ở điểm nầy, nếu không muốn cho thân nhân bối rối khi mình qua đời, thì mỗi người lớn tuổi, nên viết sẵn lời dặn dò cho gia đình”
Ông anh lớn nói: “Theo tôi nghĩ, người Việt mình bắt chước Mỹ, trưng bày mặt người chết cho bạn bè thân nhân nhìn lần cuối trước khi đem chôn là một việc làm không nên. Vì dù có trang điểm cách nào đi nữa, thì khi đã chết, mặt mày cũng không còn dễ nhìn như khi còn sống, nếu không nói là xấu xí, rờn rợn, hốc hác, tái mét. Cái hình ảnh cuối cùng trong trí của bạn bè rất quan trọng. Nếu không được đẹp đẽ, thiếu sống động như xưa, uổng vô cùng. Nhiều lần đi đám tang bà con, tôi thấy mặt mày người chết hốc hác, méo mó, miệng vẩu, mắt sâu, mà cứ buồn và tiếc mãi, giá như tôi đừng nhìn thấy hình ảnh đó thì hơn, để tôi còn giữ mãi trong trí cái khuôn mặt vui tươi, rắn rỏi, dễ thương ngày xưa. Nhất là nhiều người bạn, cứ nhắc đến tên, là tôi mường tượng ra đôi mắt sáng, nụ cười như hoa tươi, thay được bằng một hình ảnh vêu vao khó nhìn. Tôi cứ muốn quên đi, để lấy lại hình ảnh đẹp đẽ xưa, mà không được. Tôi chắc không ai muốn bị bạn bè nhìn họ với một nhan sắc xấu xí cả. Tuy nhiên, cũng có rất ít trường hợp, thấy mặt người chết đẹp hơn khi còn sống. Đó là những trường hợp người chết chưa bị bệnh lâu dài, nhan sắc chưa bị tàn phá nhiều. ”
Bà vợ ông Hàn nói: “Theo tôi, thì vì người trang điểm kém, hoặc chi ít tiền trang điểm, nên người chết không được đẹp”
Bà Kim cười lớn: “Một chiếc xe Ford đời cũ, làm sao mà sửa lại thành đẹp bằng chiếc xe Mercedes đời mới. Tô trát cũng có giới hạn thôi, ngoại trừ mang cái mặt nạ khác. Theo kinh nghiệm của tôi, thì không phải đám tang nào của người Mỹ cũng trưng bày mặt người chết cho bạn bè nhìn. Nhất là những người đã đau yếu bệnh hoạn lâu ngày, ngay cả khi chưa chết, họ không muốn ai thấy họ đã ốm o, hốc hác, xấu xí cùng cực.”
Ông Hàn thêm vào câu chuyện; “Khi làm mặt và trang điểm cho người chết, tôi xem chiếu trong phim tài liệu, mà sợ. Ngoài việc moi hết tim gan phèo phổi, dạ dày, ruột non ruột già, thấy người ta còn dùng mấy cây sắt dài chừng nửa thước, to hơn chiếc đũa, xiên từ trong miệng xuống cổ, vào thân, có lẽ để giữ cho cái đầu và xác ở vị trí thẳng. Rồi cắt trong nướu, để dùng dây kẽm may, xâu hàm trên và hàm dưới lại với nhau trong vị trí bình thường, cho miệng khỏi há ra, và may môi lại với nhau. Dùng chất dẻo đắp vào các nơi cần đắp. Sau đó, dùng phấn, màu, thoa lên mặt, tạo thành một lớp giống như da thường. Cắt tóc, cạo hay tiả râu lại cho đẹp. Nếu mình chứng kiến tận mắt khi họ làm cho thân nhân mình, thì đau lòng lắm.”
Ông anh vợ cắt ngang: “Thôi, thôi, dượng đừng nói chuyện đó, nghe mà ghê. Khuất mắt, mình không thấy thì đỡ sợ. Sao không trở lại câu hỏi chính, là làm thế nào để chi phí tang lễ ít tốn kém nhất?”
Bà Kim cười: “Cách tốt nhất là thiêu xác, và nếu thiêu liền, chuyển xác từ nơi chết, trực tiếp đến lò thiêu, tang lể làm tại nhà, không nhìn mặt, thì đỡ được rất nhiều chi phí khác như tẩm liệm, ướp thuốc, xem mặt, thuê phòng, xe tang. Thường phí tổn chỉ trên 1000 đô thôi.”
Bà Kim hớp thêm ngụm trà, rồi tiếp: “Có người nói sợ nóng, không dám thiêu. Nhưng khi chết rồi, thần kinh đã tê liệt, thì đâu biết chi nữa mà nóng hay lạnh. Nếu còn biết nóng lạnh, thì khi nằm dưới đất lạnh lẽo, tối om, chật chội, ngộp , dòi bọ vi trùng đục khoét, mặt mày teo rúm, há hốc mồm miệng, nhăn răng, khô đét, hoặc rữa mũn ra, thì có khó chịu hơn không? Chưa kể điều mà chủ nghĩa địa bảo là đất ‘vĩnh viễn’, thì thường là 49 năm hay 99 năm thôi. Sau đó thì thông cáo trên báo chí là sẽ dời xác. Con cháu có bao giờ đọc đến cái thông cáo nầy, mà có đọc, cũng không biết đó là mộ của thân nhân mình. Bên Âu Châu, có nhiều hầm nhà mồ, xương chất đẩy, xương của hàng trăm vạn ngôi mộ được đào lên, gom lại, xếp đặt hàng triệu miếng xương lẫn lộn , rất mỹ thuật. Luật lệ nhiều xứ, chỉ cho chôn 5 năm hay 10 năm, hoặc mấy chục năm thôi. Phải bốc mộ sau thời gian đó. Ít có nơi nào là vĩnh viễn hoặc lâu vài ba trăm năm. Ngày nay tại Mỹ, ngưòi ta càng ngày càng ưa thích việc thiêu xác. Các xứ khan hiếm đất đai như Nhật, và cả Tàu, Ấn Độ, đều thiêu xác. Ngoại trừ những vùng xa xôi, còn giữ lại việc chôn dưới đất.Theo thống kê năm 2009, thì mười tiểu bang sau đây, có tỷ lệ thiêu xác cao nhất ở Mỹ: Nevada 73.93%, Washington 69.62%, Oregon 69.24%, Hawaii 68.82%, Vermont 65.67%, Arizona 65.60%, Montana 64.81%, Maine 62.75%, Colorado 62.01%, Wyoming 61.76%”
Bà Hàn xen vào: “Người theo đạo Chúa, có thiêu xác được không?”
Bà Kim cười và tiếp lời: “Mãi cho đến khi Đức Giáo Hoàng Phao LồSáu tuyên bố việc hoả thiêu là không trái với Giáo Luật vào năm 1963 và banăm sau, các linh mục được phép làm lễ cho các đám tang hoả thiêu, thì việchỏa táng được phát triển rất mau. Ngày xưa giáo hữu Thiên Chuá tin rằng, phải còn xác, để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà sống lại trên thân xác đó. Chì còn đạo Do Thái là cấm hỏa thiêu thôi, vì họ cho rằng, tro cốt nằm trong hủ, không thể “đất bụi trở về lại với đất bụi được
Ông Hàn bưng bánh ra mời bà con, và nói : “Ông anh rễ tôi kể rằng, thời mới chạy qua Mỹ mấy năm sau 1975, anh em đồng khoá Võ Bị Đà Lạt đi thăm viếng một người bạn đang hấp hối vì bệnh ung thư trong khu chờ chết ở Viện Phục Hòi. Khi đó, đa số đều độc thân, hoặc vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, bơ vơ, không bà con thân thích. Anh em thấy ông bạn nằm thiêm thiếp, bàn nhau đóng tiền thiêu xác. Tưởng hắn mê man không nghe được, nhưng bỗng hắn mở mắt ra và nói rõ ràng : “Ông cóc muốn thiêu, sợ nóng lắm. Chôn mà thôi” Đám bạn bè giật mình nhìn nhau. Một ông bạn nóng tánh, gằn giọng: “Đưa tiền đây, tụi tao chôn cho. Thằng nào cũng rách mướp, tiền đâu mà chôn mầy.” Một ông bạn khác nháy mắt, rồi nói: “Mầy muốn chôn cũng được, yên tâm đi.” Khi đi ra ngoải, anh bạn nói: “ Cứ hứa đại, cho nó yên tâm chết. Sau khi chết rồi, thì cóc biết chó gì nữa, thiêu hay chôn thì cũng thế.” Thời đó, mới đến Mỹ, người nào cũng đi làm việc lao động với đồng lương tối thiểu, lo nuôi thân chưa đủ, lại lo gởi tiền giúp gia đình bên Viêt Nam, tiền đâu mà bỏ ra chôn cất bạn bè, đòi việc ngoài khả năng, làm sao mà thoả mãn được? Nầy chị Kim, chị biết tại sao ngày nay người ta chuộng việc thiêu xác hơn là chôn không?”
Bà Kim ăn bánh, uống nước, rồi thong thả nói: “Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người ta chuộng thiêu hơn chôn vì càng ngày người có học thức cao càng đông đảo hơn, việc thiêu xác được quần chúng chấp nhận xem như bình thường, đất chôn không còn dễ dàng và rẻ như xưa, tiết kiệm đất đai cho người còn sống, giáo luật không cấm thiêu, tiện lợi, giản dị và tiết kiệm được nhiều thì giờ, giảm thiểu chi phí không cần thiết.”
Một người khác trong gia đình hỏi: “Tôi nghe nhiều người già mua trước toàn bộ chương trình tang lễ, từ đầu tới cuối. Khi nằm xuống thì khỏi bàn cãi lôi thôi gì, và tiền bạc cũng đã thanh toán xong. Gia đình khỏi phải bận tâm. Việc mua trước đó, có thất không, và có lợi hại gì không?”
Bà Kim gật gù: “Mua trước toàn bộ các mục cho đám tang cũng là điều hay. Nhưng phải liệt kê rõ ràng từng danh mục cho minh bạch, đừng thiếu khoản nào. Để sau nầy khỏi phải trả thêm, vì thiếu sót. Cũng có nhà quàn muốn kiếm chác thêm chút chút, khi làm đám tang, nói là hòm loại nầy chưa về hoặc mới hết, phải chờ mua . Nghe chờ mua hòm là đã hết hồn, và chấp nhận trả thêm tiền cho cái hòm đắt hơn.”
Ông Hàn hỏi: “Có khi nào mình mua trước, tiền thanh toán hết rồi, mà khi chết, họ chối từ làm tang ma hay không?”
Bà Kim cười khanh khách: “Chuyện gì cũng có thể xảy ra cả. Bình thường, thì không có chuyện rắc rối đó. Ngoại trừ khi nhà quàn bị đóng cửa, hoặc đã đổi chủ. Kẹt nhất là khi mình đổi nơi cư trú quá xa nhà quàn ký hợp đồng làm tang lễ, hoặc mình chết ở một chốn xa xôi nào đó, mang xác về tốn kém hơn là chôn hay thiêu ở nơi chết. Thường thường hợp đồng nầy không trả lui được, không chuyển nhượng cho người khác được. Mua trước cũng có cái lợi, là phí tổn khòi phài tăng theo thời giá.”
Cả nhà mời bà Kim ở lại ăn cơm, để tham dự cuộc họp gia đình và điện thoại khảo giá việc tang lễ. Cả gia đình bàn cãi sôi nổi, kẻ muốn chôn, người muốn thiêu, bà chị lớn còn muốn làm đám tang linh đình, đủ các nghi thức rườm rà. Cả nhà cãi nhau thành to tiếng, mãi chưa đi đến đâu, thì cô Út lấy trong xách tay ra một là thư, nhìn mọi người và nói với giọng run run đầy nước mắt:
“Thưa các anh chị, em muốn cho mẹ có được một đám tang bình thường như mọi người. Em để các anh chị quyết định, nhà chúng ta không thiếu tiền, không cần tiết kiệm. Nhưng các anh chị không đồng ý với nhau, có thể sinh ra bất hoà, nên em xin trình lá thư của mẹ gởi cho em từ lâu, để anh chị xem. Đây, em xin đọc lá thư : “...Sau nấy mẹ chết, thì mẹ ước mong các con làm đám tang đơn giản. Không khăn sô, không tụng niệm, không để bà con xem mặt, không phúng điếu, không vòng hoa, và mẹ muốn được thiêu xác. Tro cốt thì đem thả xuống Thái Bình Dương, để mẹ hoà tan vào biển cả, may ra thấm về thấu tận quê nhà bên kia đại dương. Đừng chôn tiền xuống đất. Tiền tiết kiệm được đem cúng cho hội từ thiện ..”
Cả nhà trách cô Út tại sao không đưa là thư ra từ đầu, để khỏi bàn cãi lôi thôi, cô khóc mà không trả lời.
Sau khi nhờ bà Kim phối hợp, cả nhà hoàn tất và ký khế ước hỏa thiêu. Chi phí tang lễ chôn cất do nhà quàn đề nghị tổng cọng 34,680 đô, chỉ còn tốn 1676 đô bao gồm toàn bộ thủ tục giấy tờ, chuyển xác, hoả thiêu và bình tro tạm.
Toàn anh chị em trong gia đình góp thêm tiền, đem tặng hội từ thiện 35 ngàn đô. Cả nhà đều vui mừng, nhẹ nhỏm. /.
Tràm Cà Mau
(Tháng 12/2010 những ngáy cuối năm mưa dầm)

Chủ Đề Tội Ác VGCS: THIÊN THẦN TRONG NGỤC TỐI

Chân Dung Tù Nhân Lương Tâm : Anh thư đất Việt có mấy người - Cho đời gương sáng tỏ nơi nơi: Mảnh mai thân liễu vò ngục tối - Cương trì trí thép vượt trùng khơi.
----
 THIÊN THẦN TRONG NGỤC TỐI :LONG BÔ
                                                                       

        Tôi vừa cầm ly nước mía lợn cợn đá mát lạnh đưa lên miệng thì giật mình tỉnh dậy. Cơn mơ bị gián đoạn. Có tiếng lao xao nói chuyện của cán bộ Tri an ninh và mấy tên trật tự. Và tiếng lọc cọc mở cửa xà lim số 1 và số 2. “Sao lại mở cửa xà lim giờ này?” Tôi tự hỏi. Cơm chiều đã phát, tôi đã cho vào bụng lâu rồi. Tính đến hôm nay tôi đã nằm chịu sự đày đọa của Thân Yên (1), Lê Đồng Vũ (2) và đám cán bộ an ninh, trực trại được 16 ngày. Bao phủ bởi cái khí lạnh mùa đông của đồi núi miền trung, lại chỉ có trên người phong phanh một bộ đồ tù mỏng dính, tôi ngồi co ro tê cóng trên bệ đá. Sự thiếu nước lưu cữu (mỗi ngày chỉ được phát nước 2 lần, mỗi lần 2 muỗng canh nhỏ cùng với lúc phát cơm) đã làm môi tôi khô rát, cổ đắng ngắt; chợp mắt một tý là lại mơ uống nước mía Viễn Đông (3) hoặc ăn thạch chè Hiển Khánh (4). Mỗi bữa chỉ có 2 muỗng cơm nên hậu môn của tôi đã ngừng hoạt động được 15 ngày (ngày đầu tiên phải làm việc để tống khứ những thức ăn cũ có sẵn trong bụng.)

        Tôi đã trải qua 2 ngày đêm căng thẳng tuyệt thực chống chính sách tàn ác, vô nhân đạo của đám cai tù. Và đã bị đàn áp dã man. Cuộc tuyệt thực do Nguyễn Tú Cường khởi xướng, Hoàng Ngọc Thủy và tôi ủng hộ và tham dự. Có anh em ở xà lim khác (cả những người không tuyệt thực) đã bị đánh (oan) bằng gậy sắt, có người ói máu. Tôi chỉ bị đầu một thanh sắt thúc vào ngực, đau âm ỉ đến cả chục ngày, nhưng so với những người khác thì còn may chán. Những anh em không tham dự cuộc tuyệt thực (vì lý do sức khỏe) như Vi Hoàng Viết, Nguyễn Văn Quỳnh, Đỗ Văn Phúc và 2 em tù hình sự (và vài ba người nữa mà tôi không nhớ tên) đã được tha khỏi xà lim về đội. Riêng Nguyễn Huỳnh Danh Vũ, người “chung vụ” với tôi tổ chức đánh trật tự Quý Đen, đã hoàn toàn im hơi lặng tiếng, không chơi trò tuyệt thực và cũng không lên tiếng đáp lại những lời hỏi thăm của anh em. Rồi đến lượt xà lim số 3 của tôi được mở và 2 vị khách mới vóc người cao lớn bị đẩy vào. Tôi nhận ra ngay bố Lê Sáng, chưởng môn VôViNam. Bố bị đẩy vào mép trong bệ đá phía bên kia, đối diện với bệ đá tôi đang nằm. Người thứ hai là Long Bô, mới đầu định nằm bên bệ bố Lê Sáng nhưng thấy hai người đều thuộc loại “to bản”, bệ đá lại hẹp, nằm chung sẽ rất chật nên đã ghé sang bệ bên tôi. Khác với tôi, cả 2 chân bị cùm duỗi thẳng trên bệ đá, bố Sáng và Long Bô bị cùm một chân nên chân còn lại có thể bỏ thõng xuống lối đi nhỏ ở giữa xà lim. Mọi người gọi Long là Long Bô vì cái miệng bô lô, ba loa của hắn. Hắn có giọng nói âm trầm ồm ồm, khá mạnh. Những lúc tụ tập vài ba người trò chuyện hắn thích nói góp. Và thường nói … sai. Trong số 6 thành viên khóa 25 Võ Bị Đà Lạt ở phân trại E lúc ấy có lẽ chỉ có hắn là thường bị bà con phàn nàn. Thỉnh thoảng được nghỉ ngày chủ nhật thấy hắn từ nhà 2 về, mặt buồn so, tôi hất hàm ra ý hỏi Bùi Đạt Trung thì được trả lời:

        “Chắc là bị Tư Rè dũa cho một trận nữa rồi.”

(Tư Rè là biệt danh của Nguyễn Ngọc Tiên, khóa 23 Võ Bị) Hắn đi xin ai đó một bi thuốc lào kéo ro ro một hơi rồi về chỗ mình, nằm ngửa, mắt mở thao láo nhìn lên trần nhà. Rủ đánh domino hắn cũng lắc đầu. Bên cạnh có tụm năm, túm ba đấu láo hắn cũng không thèm góp chuyện. Nhưng chỉ được vài ngày rồi đâu lại vào đấy. Để ý thái độ tôn trọng huynh trưởng, biết nghe lời của Long Bô, một sĩ quan cấp úy gốc Thủ Đức đã văng tục:

-        Mẹ kiếp!! Ở cái thời quân hồi vô phèng (5) này, cái thời mà lính quan, úy tá thằng nào lo giữ hồn thằng nấy mà cái tụi Võ Bị, chúng nó còn bảo được nhau, thằng lớn nói thằng bé biết nghe, quân đội bỏ tiền của, công lao, nuôi dạy chúng nó 4 năm ở Đà Lạt kể cũng đáng đồng tiền bát gạo đấy chứ!

Khi các cánh cửa xà lim được đóng lại, tiếng chân của cán bộ Tri và đám trật tự xa dần, những tiếng gọi nhau í ới vang lên. Có 8 người mới nhập “khu”. (Sau này mới biết họ bị nghi ngờ là “đầu sỏ”, được “đem cất” một cách vô cớ để ngăn ngừa “đêm Giáng Sinh kiểu Suối Máu.”) Những người khác tôi không nhớ tên nhưng tôi biết chắc có Vũ Hùng Cương ở xà lim số 6, Bùi Đạt Trung và Hứa Sang vào chung xà lim số 1 với Nguyễn Tú Cường. Vừa đặt lưng xuống sàn đá lạnh Long Bô giật bắn người lên và nói:

-        Sao lại lạnh thế nhỉ?

Hắn ngồi một lúc rồi lẩm bẩm nói:

-        Giá bây giờ có được manh chiếu rách chó nằm để lót vai một tí thì hạnh phúc biết mấy.

Chả có bà tiên nào cho điều ước của hắn thành sự thật nên hắn đành nghiêng người, nhăn mặt từ từ đặt vai và cánh tay hộ pháp xuống sàn đá, giảm thiểu tối đa diện tích tiếp xúc với cái lạnh. Bên kia bố Sáng thì vừa xoa chân, xoa tay cho nóng người vừa hít hà:

-        Úi chào! Mát quá! Mát quá!

Phải công nhận ông cụ còn khỏe thật. Chưởng môn một phái võ có khác. Năm ấy (Giáng Sinh 1979) đã trên dưới 6 bó rồi mà vẫn tráng kiện, khó khăn, nghịch cảnh vẫn coi như “pha”. Bố kể cho chúng tôi nghe vài truyện về các danh nhân lịch sử và các bài học có thể rút ra từ cuộc sống của họ. Sau đó bố bảo tôi có truyện gì kể nghe cho vui. Tôi trả lời:

-        Con hết nước bọt rồi bố ơi.

Đến giờ phát cơm trưa hôm sau khi thấy bình nước được đưa vào chỉ có độ cao một đốt ngón tay sóng sánh ở đáy bình, bố Sáng gọi tên Trực trật tự:

-        Này anh ơi! Nước thế này thì làm sao đủ uống. Chúng tôi những 3 người đấy.

Trực chưa kịp trả lời thì cán bộ Luật trực trại đã quát:

-        Có thế thôi! Chia nhau mà uống.

Khi cửa các xà lim đóng lại bố Sáng mặt đăm chiêu nói:

-        Nước phát mỗi bữa có chừng này thì gay đấy.

Tôi nhìn bố mà thương cảm. Thân thể bố phốp pháp thế kia, 2 muỗng nước làm sao đủ thấm xuống dạ dày? Bố dùng muỗng ăn cơm đong nước rồi đổ vào 3 cái ca nhỏ cho 3 người. Mỗi người được 2 muỗng và còn dư khoảng 1/3 muỗng. Sáu con mắt đều nhìn vào tí nước ở dưới đáy muỗng. Nhưng bố Sáng đã dùng bàn tay đầy uy lực của vị Chưởng Môn một phái võ để chia mỗi người thêm 2 giọt nước. Rất điệu nghệ. Và rất công bằng.

Khi tôi chịu đựng hết 2 lệnh phạt trong xà lim (mỗi lệnh 14 ngày) thì bố Sáng và Long Bô đã bước sang ngày thứ 12. Bố Sáng không còn “Mát quá! Mát quá!” nữa mà bắt đầu nằm co quắp như con tôm, tay chân run lẩy bẩy. Bố cũng ngừng kể truyện để giữ hơi và thỉnh thoảng lại đánh vật với 2 giọt nước. Chả là khi chia nước xong nếu để đứng bình nước xuống thì có 2 giọt đọng ở đáy bình. Bố tiếc 2 giọt nước nên giốc ngược bình lên và dùng “nội công thâm hậu” của mình hút mạnh. Nhưng 2 giọt nước cứng đầu nhất định không chịu ra. Và bố cứ xoay đầu này, trở đầu kia, hết vỗ vỗ đáy bình lại hít, lại hút nhưng cuối cùng vẫn phải chịu thua. Mỗi lần như vậy chúng tôi lại quay mặt chỗ khác để bố khỏi ngượng. Có tiếng mở cửa xà lim; có cả tiếng rút thanh sắt xuyên qua cái cùm ở chân. Một lúc sau Vũ Hùng Cương thông báo:

-        Phòng 6 có người đi làm việc (bị hỏi cung)

Rồi Hứa Sang lên tiếng:

-        Phòng 1 Tú Cường đi làm việc.

Trước đó đã có cuộc lời qua tiếng lại như sau:

Tú Cường:


-        Nếu phòng nào có người đi làm việc thì người đó sẽ uống nước thật nhiều để lúc về có thể đái cho anh em trong phòng uống. Có cơ may cầm cự thêm một vài ngày nữa.

Long Bô phang ngay:

-        Nước đái khai và mặn bỏ mẹ, uống thế đéo nào được.

Tú Cường trả lời:

-        Nước đái tụi mình thì đúng là mặn và khai thật. Nhưng nếu uống nhiều nước và đi đái vài lần thì những lần sau nước đái sẽ đỡ mặn đi.

Muốn Long Bô khỏi cãi chầy, cãi cối Bùi Đạt Trung chen vào:

-        Ý kiến Tú Cường hay đấy.


Khoảng 4 giờ chiều người bên xà lim số 6 đi chấp cung về. Một lát sau tôi nghe tiếng Vũ Hùng Cương hét lên:

-        Nhì ơi! Ngon hơn bia.

Tôi biết ông bạn luật sư vui tính của tôi đã thưởng thức món nước giải khát đặc biệt quý giá ở “khu kỷ luật” A20 và đã đem lòng yêu mến nó. Bùi Đạt Trung và Hứa Sang ở xà lim số 1 không biết có nhấm nháp được tý nào của Tú Cường không mà không thấy lên tiếng. Xà lim số 3 của tôi không có ai đi chấp cung nên niềm mong ước được thưởng thức món nước giải khát đặc biệt ấy vẫn chỉ là … niềm mong ước. Với 3 bố con tôi thời gian trôi qua thật chậm. Và những ngày sau đó mọi người lại quan tâm đến “cứt”.

Có ai đó lên tiếng:

-        Trời đất ơi! 15 ngày rồi mà chẳng ỉa được cục cứt nào. Mà nó lại không mót ỉa mới lạ chứ.

Long bô đáp lại:

-        Thì có cái mẹ gì vào bụng đâu để lấy cứt mà ỉa. Tôi cũng 22, 23 ngày rồi chứ ít gì

Vũ Hùng Cương trả lời:

-         Tớ đã 25 ngày rồi đây. Ối giời ôi! Nó cứ tức tức ở hậu môn, khó chịu lắm.

Tôi chửi thề lầm bầm trong miệng:

-        Tổ cha nó! Bố mày 40 ngày rồi mà chưa nói đây.

Có lẽ ông trời chúa ghét những thằng đã nói tục lại còn bố láo, bố toét nên đêm hôm ấy tôi lên cơn đau bụng dữ dội và lại rất khó thở. Cứ như là có ai bịt mũi mình lại chỉ để thở bằng mồm. Hậu môn thì như có ai dùng cái nêm đóng chặt. Thỉnh thoảng bí quá phùng mang trợn mắt rặn như đàn bà rặn đẻ thì hơi gặp phải bức tường hậu môn dội ngược lại lên miệng, lên mũi tạo nên cảm giác nghèn nghẹt rất khó chịu. Thấy tôi ngọ ngoạy lại thở gấp, Long Bô lên tiếng khẽ hỏi:

-        Nhì! Sao thế?

Tôi vừa lấy hơi vừa trả lời:

-        Thấy tức hậu môn và khó thở quá.

Kệ bên kia bố Sáng vẫn ngáy o o. Long Bô bỗng trở thành bác sĩ gia đình của tôi và chẩn bệnh rất chính xác:

-        Chắc ông lâu quá không ỉa được, lại thiếu nước nên phân đóng cứng bít chặt hậu môn chứ gì.

Rồi hắn cho tôi toa thuốc trị liệu như sau:

-        Bây giờ ông phải dạng hai chân ra (tôi vẫn bị cùm hai chân) và lấy hơi rặn mạnh. Tôi sẽ phụ banh hai bên hậu môn ra. Phải cố mà rặn, chứ để nó bí mãi có thể sẽ nghẹt thở rồi tiêu đời đấy.

Tôi tuột quần xuống tận gót chân rồi nằm ở tư thế sản phụ trên bàn sanh. Da thịt trần chạm vào mặt bệ đá lạnh buốt, nhưng nỗi sợ chết đã giúp tôi vượt qua cái lạnh một cách dễ dàng. Hai bàn tay của bác sĩ Long Bô kéo mạnh hai mép đít của tôi ra rồi ra lệnh:

-        Rặn đi. Lấy hết sức rặn mạnh vào.

Đau quá! Mỗi lần Long Bô buông tay, mép đít khép vào, cục phân cứng cạ vào thành trong của hậu môn đau xé ruột.

Tôi cố sức rặn mạnh mấy lượt nhưng chẳng ăn thua gì. Bên kia bố Sáng nghe động đậy lên tiếng hỏi:

-        Gì thế các cậu?

Long Bô nói nhỏ:

-        Không có gì đâu bố. Con giúp thằng Nhì ỉa thôi mà.

Chỉ nửa phút sau tiếng ngáy o o lại vang lên. Tôi thử rặn mấy lần nữa cũng không kết quả. Tôi nhớ hồi còn nhỏ có lần xém chết đuối ở con sông Cầu 14, Ban Mê Thuột. Lúc không còn nín thở được nữa, mở miệng hớp ngụm nước đầu tiên thì được ai đó kéo lên. Bây giờ tình trạng khó thở của tôi cũng gần giống như vậy. Tôi nghĩ nếu kéo dài khoảng 20 phút nữa chắc tôi chịu không nổi. Trong xà lim tối đen như mực, không nhìn thấy mặt Long Bô nên không biết hắn đang nghĩ gì. Cuối cùng một giọng nói dứt khoát vang lên:

-        Banh không xong thì phải móc thôi.

Tôi nghe tiếng nhổ bọt rồi cảm thấy một ngón tay ươn ướt thọc vào lỗ đít mình. 40 ngày không ỉa nên lỗ đít khít rịt. Tôi thót người lên vì đau. Nước mắt chảy ra lăn dài trên má. Tôi nhủ lòng:

-        Phải chịu thôi chứ biết làm sao được. Chẳng lẽ sợ đau rồi chịu chết à?

Bác sĩ Long Bô vẫn tiếp tục mò mẫm trong đêm tối. Vì đau quá nên phản xạ của tôi là cứ di chuyển mông để tránh ngón tay của hắn. Hắn bực quá gắt lên:

-        Ông cứ nhúc nhích kiểu ấy thì móc thế đéo nào được.

Tôi biết lỗi của mình cố chịu đau, nằm im. Long Bô nhổ một tí nước bọt nữa (chắc vào tay) rồi tiếp tục thám hiểm lỗ đít của tôi. Đến khi cả 2 ngón đã vào trong hắn banh mạnh 2 mép hậu môn của tôi và hét to:

-        Rặn mạnh đi.

Theo lệnh hắn tôi rặn thật mạnh.Nhờ hai ngón tay vàng ngọc khuấy động làm vỡ một mảnh của cục phân, nhờ hai mép hậu môn được banh rộng ra, cộng với cú rặn hết sức bình sinh của tôi, cục phân được văng ra rơi đánh cạch xuống nền đá. Máu tuôn theo ướt cả hai bên đùi, chảy qua cả chỗ nằm của Long Bô. Nhưng lúc ấy mất máu với tôi nào có nghĩa lý gì. Bất kể nửa người dưới đang lạnh buốt, tôi không buồn kéo quần lên, cứ nằm bẹp xuống bệ đá lênh láng máu, khoan khoái hưởng cái sung sướng được thở bình thường như những ngày chưa có cục cứt cứng như đá che lấp hậu môn.



        Một buổi chiều đầu năm 1984 (tôi chưa bị bắt lại) sau một ngày chuyển hàng cho bà chị họ bán vải ở chợ An Đông, tôi lóc cóc đạp xe về nhà ở Ngã Tư Trung Chánh (Hốc Môn). Đến ngã tư Trần Quốc Toản và Nguyễn Văn Thoại tôi nghe có tiếng gọi giật giọng: “Ê Nhì! Nhì ơi!” Tôi tấp xe vô lề, quay lại thì một chiếc xích lô trờ tới. Trên xe là một đại hán đội nón rộng vành, thân hình vạm vỡ, mặt mũi thì bụi bậm bám đầy cả hàm râu và bộ ria rậm rạp. Đại hán thắng xe, nhảy xuống ôm vai tôi và hỏi tới tấp:

                “Ông không nhớ tôi hả Nhì? Long đây. Long khóa 25 Võ Bị đây. Long A20 đây.”

Tôi nhìn kỹ thì đúng là … Long Bô, người mà đêm nào trong xà lim Trại Trừng Giới A20 đã … móc đít cứu mạng cho tôi. Thế là tôi ôm chầm lấy hắn, bất kể mùi chua của mồ hôi và mùi khét của bụi đường. Khuôn mặt và vóc dáng hắn quả có vài nét thay đổi nhưng giọng nói vẫn ồm ồm, và cái miệng vẫn … bô lô ba loa như ngày xưa. Tôi nắn túi nhẩm tính rồi cắt ngang câu chuyện dài đằng đẵng của hắn:

                “Tụi mình kiếm chỗ nào vừa ăn uống chút đỉnh vừa nói chuyện chứ.”

Tôi kéo hắn vào một quán phở nhỏ trên đường Nguyễn Văn Thoại, kêu mỗi thằng một tô phở và một ly trà đá. Hắn vừa nhồm nhoàm ăn vừa … bô lô ba loa đủ chuyện trên trời, dưới đất. Tôi thấy hắn cũng chưa … đủ đô nhưng cái túi không cho phép nên đành kêu 2 điếu Capstan đưa cho hắn. Hắn dắt một điếu lên vành tai còn điếu kia mồi hút ngon lành và tiếp tục .. kể chuyện. Ôi! Giá lúc ấy khấm khá một chút tôi sẽ kêu một tô phở nữa cho hắn ăn thêm, một gói Capstan cho hắn bỏ túi, và lúc giã từ giúi vào tay hắn tí tiền để mua quà cho con. Nhưng hoàn cảnh đã không cho phép tôi làm việc đó. Không biết với cái tánh “ruột để ngoài da” hắn có còn nhớ đến cái đêm “định mệnh” với tôi trong xà lim không, chứ tôi thì làm sao quên được. Sau khi bắt tay nhau thật chặt, tôi đứng nhìn cái thân hình to bản của hắn trên xe xích lô càng lúc càng xa mà cảm xúc trong lòng dâng lên đến trào nước mắt.

        Một lần gặp lại các bạn tù trên đất Mỹ tôi vui miệng kể lại kỷ niệm bí ỉa, xém chết ở xà lim Trại Trừng Giới A20. Một ông bạn cười phát biểu: “Chắc mày cũng có làm được một vài việc tốt trong cuộc đời nên lúc nguy nan Chúa đã sai thiên thần đến cứu mạng mày.” Nếu quả đúng như vậy thì thiên thần của tôi không có tướng mạo thanh tú như những tranh vẽ trong nhà thờ mà là một gã vai u thịt bắp, râu ria rậm rạp, không có cả đôi cánh để ra dáng thiên thần. Nhưng có cánh hay không cũng không quan trọng, tướng mạo có thanh tú hay không cũng không sao. Cái cốt yếu là ngài đã có tấm lòng nhân ái, không sợ cứt đái bẩn thỉu, đã ra tay banh đít, rồi móc đít cứu mạng tôi. Và vì lẽ ấy tôi biết ơn ngài vô kể.


Chú thích

(1)                      Giám thị trại A20

(2)                      Phân trại trưởng phân trại E

(3)                      & (4) Địa điểm bán nước mía và thạch chè nổi tiếng ở Sài Gòn

(5)          Rút quân không kèn trống, ý nói hỗn quân hỗn quan


 San Leon, Texas những ngày cuối tháng 11 năm 2002


                                               A.20 Phạm Đức Nhì
http://langa20xuanphuoc.blogspot.co.uk/2012/04/thien-than-trong-nguc-toi.html

Bài Xem Nhiều