We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 21 May 2012

Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam đã từ trần

Vị nữ bác sĩ Việt đầu tiên tại Pháp 

           BSCHIEU 1
Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Hình: Tác giả cung cấp)
Fr: Bieu Nguyen*Trongtn

Nguyễn Quang PARIS - Về lại Paris sau bao nhiêu năm xa cách, Paris vẫn là Thủ Ðô Ánh Sáng, thủ đô tráng lệ, là cái nôi của văn hóa.
Không ai có thể phủ nhận, rằng Paris là thủ đô ánh sáng, nhưng ở đây chúng tôi muốn đưa ra những “ánh sáng” ít khi được nêu lên, có liên quan đến cộng đồng gốc Việt chúng ta. Ðó là những sinh viên Việt Nam xuất sắc, xuất thân từ các đại học ở Paris nói riêng và ở xứ Pháp nói chung, từ những thập niên 1920s, 1930s xa xôi. Thời gian ấy, người Việt Nam chúng ta vẫn còn rất “mù mờ” về nền văn minh Âu Tây!
Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ - “Vietnamese American Medical Research Foundation” - được thành lập trên 15 năm qua. Ngoài việc nghiên cứu trong ngành y khoa, hội thường khuyến khích và vinh danh người Việt Nam tài ba, xuất sắc, làm rạng danh cộng đồng người Việt hải ngoại bởi những đóng góp của họ trong các ngành nghề vào cộng đồng thế giới. Chuyến đi tháng 6, 2011 vừa qua không ngoài mục tiêu vừa nêu ra.
BSCHIEU 2
Di ảnh gia đình. Từ trái: Madeleine, Henriette, ông Bùi Quang Chiêu, Louis, Camille, Helene. Hình chụp tại Phú Nhuận, Sài Gòn, năm 1921. (Hình: Tác giả cung cấp)
Cách đây năm năm, Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ ngỏ ý mời một nhân vật đặc biệt trong giới Y khoa Pháp sang Mỹ, để mừng thượng thọ 100 tuổi, và cũng để cộng đồng Việt Nam tại California được chiêm ngưỡng và vinh danh. Ðó là bác sĩ Việt Nam đầu tiên, tốt nghiệp tại “Faculté de Médecine de Paris,” Ðại Học Y Khoa Paris, từ năm 1934. Ý định này không thành, vì vị nữ bác sĩ vừa bị tai nạn và từ đó Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ không còn liên lạc được với bà nữa.
Trong những câu chuyện hàng ngày, Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh, người sáng lập Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ, từng ngỏ ý tiếc đã “để mất liên lạc với vị bác sĩ đặc biệt này.” May mắn thay, Bác Sĩ Nguyễn Tấn Phát, người sáng lập “Hiệp Hội Trường Không Biên Giới” - “École Sans Frontiere,” người thường sinh hoạt trong các trại tỵ nạn và trong cộng đồng Việt Nam ở Pháp, đã tìm được địa chỉ của nữ bác sĩ này. Ông còn xin được cái hẹn cho phái đoàn Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ sang Pháp để gặp gỡ. Vị nữ bác sĩ tỏ ý “vui mừng đón tiếp phái đoàn đến từ Hoa Kỳ.”
       BSCHIEU 3
Bà Henriette Bùi, thời sinh viên y khoa tại Bordeaux. (Hình: Tác giả cung cấp)
Dùng chữ phái đoàn nghe to lớn, trên thực tế, vì chuyến đi đột ngột, “phái đoàn” chỉ có hai ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và phu nhân, bà Bác Sĩ Nguyễn T. Hoàng Lan và hai ông bà nhạc sĩ Nhật Ngân. Chỉ có ba ngày, chúng tôi phải khăn gói lên đường đến Paris cho đúng ngày hẹn với “người đặc biệt,” và phái đoàn chỉ có... 5 người.

Nhân vật đặc biệt
Người mà chúng tôi tìm kiếm cho chuyến thăm viếng này là bà Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu. Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu sinh tại Hà Nội ngày 8 tháng 9, 1906, là ái nữ của ông Bùi Quang Chiêu, người miền Nam, và bà Vương Thị Y.
Sau khi ông Bùi Quang Chiêu tốt nghiệp Kỹ Sư Canh Nông tại Pháp quốc, ông trở về Việt Nam làm việc trong ngành chuyên môn. Là người của khoa học, ông Chiêu lại nổi tiếng về lập trường chính trị. Ông sáng lập đảng Lập Hiến, sở hữu tờ báo “La Tribune Indochinoise.” Mặc dầu hoạt động trong khuôn khổ bất bạo động, theo lập hiến để đòi quyền tự trị, ông là người Tây du, đi cùng đường hướng với cụ Phan Châu Trinh, người Ðông du, dưới con mắt của người Pháp thuộc địa, ông là người có tinh thần quốc gia nguy hiểm, không khác nào người làm cách mạng.
Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì xem ông như một chướng ngại vật có tầm vóc nên Việt Minh không ngần ngại sát hại ông cùng rất nhiều nhà yêu nước khác, đồng thời buộc tội ông là người hợp tác với chính quyền Pháp thuộc địa.
      BSCHIEU 4
Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931. (Hình: Tác giả cung cấp)
Con gái ông Bùi Quang Chiêu, là bà Henriette Bùi Quang Chiêu, thừa hưởng tính chất năng nổ, hoạt bát từ người mẹ, đồng thời được sống trong môi trường thuận lợi: gia đình khá giả, có kiến thức của hai nền văn hóa Âu Á, được thêm sự giáo dục phóng khoáng. Vì nền tảng ấy, từ rất sớm, bà đã thể hiện cá tính độc lập với năng lực khác thường. Sống ở Saigon khi còn bé, vào tiểu học năm 1915 “l'École Primaire Superieure des jeunes filles,” sau đó bà vô Lycée Marie Curie. Cô học sinh Henriette là một người thông minh, lại có tính bướng bỉnh nhưng không kém phần hoạt kê, dí dỏm. Bà đỗ bằng tiểu học Certificat d'Études với thứ hạng cao, rồi sau đó nằng nặc đòi thân phụ cho đi học ngành Y khoa ở Paris như người anh Henri của bà.
Gởi con gái đi xa gia đình, vào thời bấy giờ là chuyện hy hữu. Bà Henriette cứ tiếp tục “quấy nhiễu” thân phụ mẫu, đòi được sang Pháp du học. Cuối cùng, ông bà phải chiều ý. Cô tiểu thư Henriette Bùi ra bến tàu Sài Gòn, xuất ngoại mùa Hè 1921, khi chưa tròn tuổi 15.
Henriette vào Lycée d'Agen và Bordeau năm 1922-25, thuộc miền Tây Nam nước Pháp. Cô học sinh gốc Á hấp thụ đời sống Âu Tây một cách tự nhiên, lấy bằng tú tài năm 1926 dưới sự giám hộ của giáo sư triết Madame Meyerson, nơi bà thường gặp nữ bác học Marie Curie. Bà bắt đầu vào trường Y Khoa năm 1926. Thời bấy giờ, đại học còn rất ít sinh viên nữ, và ngành Y khoa lại càng hiếm hoi hơn. Sau mười năm “tu luyện” nội trú trong các bệnh viện, bà chọn ngành chuyên môn là Sản Phụ Khoa, với luận án bác sĩ được tưởng thưởng huy chương. Bà trở thành bác sĩ gốc Việt đầu tiên xuất thân từ Ðại Học Y Khoa Paris. Lúc ấy, bà vừa tròn 28 tuổi. Sự kiện bà hồi hương năm 1935 là một biến cố quan trọng, làm chấn động dư luận xã hội và truyền thông thời bấy giờ.
Về Việt Nam, Bác Sĩ Henriette Bùi được bổ nhiệm làm trưởng khoa Hộ Sinh ở Chợ Lớn, và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có trách nhiệm chăm lo hệ thống bệnh viện thuộc địa thời ấy. Với cá tính độc lập, bướng bỉnh, bà thường gặp nhiều khó khăn với các “ông tây thuộc địa,” và sự tranh chấp, đố kỵ xảy ra gần như hàng ngày. Tương truyền, bà từ chối mặc y phục Âu Tây để người Pháp kính nể hơn. Giới bác sĩ Pháp thời ấy nói rằng, nếu bà mặc y phục Việt Nam, người ta sẽ lầm tưởng bà là một “bà mụ đỡ đẻ” hơn là một bác sĩ sản khoa. Bà cương quyết từ chối, vẫn cứ tiếp tục hãnh diện trong bộ y phục Việt Nam của mình!
Không những thế, bà không ngừng chống đối sự kỳ thị, về giới tính và chủng tộc. Trong nghề, bà để hết tâm huyết, công sức mở các lớp huấn luyện các bà mụ sản khoa. Một trong những chế độ kỳ thị trắng trợn thời ấy là, cho dầu cùng là bác sĩ, những đồng nghiệp cùng khoa bảng lãnh lương cao gấp 10 lần nữ bác sĩ bản xứ. Ðơn giản, vì các đồng nghiệp ấy là... người Pháp. Bà nhất định tranh đấu, đòi quyền bình đẳng, cho bà, cho nữ giới bản xứ, và cho cả bệnh nhân người bản xứ. Người Pháp rất bực mình về thái độ của bà; họ tố cáo bà “làm cách mạng.”
Trong cuộc sống xã hội, Bác Sĩ Henriette Bùi hành xử rất “Tây.” Bà làm những việc gần như không thể chấp nhận được cho nữ giới thời ấy: bơi lội trong các hồ bơi tập thể, lái xe hơi. Bà chỉ tiếc là đã bỏ cuộc trong việc học lái máy bay!
Cuối năm 1950, bà lại sang Nhật Bản học châm cứu, rồi trở về Pháp hành nghề trong ngành chuyên môn mới, rất thành công tại Paris.
Ðến năm 1966 bà gia nhập một tổ chức từ thiện, trước khi tổ chức “Medecins Sans Frontière” (Bác Sĩ Không Biên Giới) được thành lập. Khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ dữ dội, bà tận tụy chữa trị mọi người, không phân biệt bạn, thù.
Bà trở về Pháp năm 1971, làm việc đến năm 1976. Về hưu, bà vẫn tiếp tục công du khắp lục địa.
Về đường gia đình, nữ Bác Sĩ Henriette Bùi thành hôn với ông Vương Quang Nhượng, luật sư nổi tiếng của Tòa Án Sài Gòn, cũng là người bạn thân của thân phụ bà. Hai người ly dị hai năm sau. Sau đó, bà sống với người bạn đời mà bà từng quen biết khi ông còn đi học ở Paris. Ðó là ông Nguyễn Ngọc Bích, người từng tốt nghiệp Kỹ Sư Cầu Cống từ trường nổi tiếng bậc nhất xứ Pháp, “École Polytechnique,” vốn chỉ dành riêng cho sinh viên uu tú nhất của nước Pháp và thế giới thời ấy. Ông Nguyễn Ngọc Bích thuộc thành phần người quốc gia, yêu nước chân chính, đáp lời tiếng gọi quê hương, gia nhập phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được các anh em đồng đội tin tưởng và ngưỡng mộ, bầu làm Khu Bộ Phó Khu 9. Ảnh hưởng của ông càng ngày rộng lớn, và vì ông từ chối gia nhập Ðảng Cộng Sản, ông bị Việt Minh gài cho quân đội Pháp bắt trong vùng tỉnh Sóc Trăng. Dù bị tra tấn, ông nhất định không tiết lộ tên thật, và bị lên án tử hình.
Những năm đau khổ nhất trong cuộc đời của bà Henriette Bùi là khi cha và anh bà bị Việt Minh ám sát tháng 9, 1945. Rồi đến 1947, người bạn đời của bà, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, bị Việt Minh gài cho quân đội Pháp bắt, rồi bị lên án tử hình. Ðược tin không lành, bà Henriette Bùi ráo riết tìm các bạn học trường Polytechnique cùng chồng, là những người nay trở thành những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng trong chính quyền Pháp, nhờ can thiệp. Kết quả, ông Nguyễn Ngọc Bích được chuyển sang danh sách trao đổi tù binh, thay vì án tử hình. Ðổi lại, ông không được trở lại Việt Nam, mà phải sang Pháp lưu trú. Tại đây, ông trở lại trường Y khoa và thành tài trong mấy năm sau. Tuy nhiên, ông không hành nghề bác sĩ và lại trở thành giáo sư dạy môn Vật Lý tại trường Y Khoa. Chuyện liên hệ ngẫu nhiên: giảng sư Nguyễn Ngọc Bích lại là thầy của Bác Sĩ Vũ Ngọc Quỳnh, người gần gũi ông nhất (Bác Sĩ Quỳnh cũng có mặt trong buổi thăm viếng với phái đoàn) và cũng là thầy của Bác Sĩ Nguyễn Tấn Phát, người bắt được liên lạc với bà Bác Sĩ Henriette Bùi.
Người 105 tuổi
Phái đoàn đến thăm viếng bà Henriette Bùi tại nhà dưỡng lão sang trọng thuộc Quận 19, Paris. Bà tiếp phái đoàn 8 người trong một phòng khách rộng lớn, trên lầu cao có cả sân thượng. Trên đường đến thăm bà, tất cả những người trong phái đoàn ai cũng hân hoan nhưng lo ngại, không biết bà sẽ như thế nào. Ðến khi gặp mặt, mọi người đều vui mừng, thán phục thấy bà tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn khỏe mạnh, minh mẫn ở tuổi 105.
Bà vui mừng nắm tay từng người, hỏi han từ đâu đến và hành nghề gì. Bà vui mừng khi biết các bác sĩ từ Hoa Kỳ đến thăm. Bà rất thoải mái trong bầu không khí trẻ trung không gò bó, ai cũng gọi “bà Henriette,” thay vì gọi “bà cụ” hay “bác sĩ.” Khi bác sĩ Hoàng Lan xin chữ ký, bà để chức vụ “M.D. Henriette Bùi Quang Chiêu” chứ không dùng chữ Docteur vì biết Bác Sĩ Hoàng Lan đến từ Hoa Kỳ. Kể ra những chi tiết để thấy bà vẫn còn minh mẫn, và vẫn còn tính... nghịch ngợm, khôi hài.
Trong lúc trò chuyện, bà hay hỏi lại tên người này người kia vì bà hay quên những gì trong hiện tại, trái lại những gì trong quá thì bà nhớ rất rõ. Bà đọc lại bài vè thật dài, học được khi còn bé, cho mọi người hiện diện cùng nghe. Rồi bà quay qua hỏi người mà bà từng đỡ cho ông được sinh ra 75 năm trước: “Ông là ai?” Người này trả lời: “Dạ thưa, con là Nguyễn Duy Tân.” Bà thản nhiên phát ra một câu không chờ đợi: “A! ông ắt phải là một ông lớn.” Mọi người hiện diện trong phòng cười rộ lên. Bà tỏ ra phấn chấn, vì biết câu nói đùa của mình được mọi người tán thưởng.
BSCHIEU 5
Ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Nguyễn Thị Hoàng Lan trao “plaque” kỷ niệm chuyến viếng thăm bà Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu ngày 6 tháng 3, 2011. (Hình: Tác giả cung cấp)
Ðộng tác của bà cụ 105 tuổi nay đã chậm, nhưng tư duy vẫn rất nhạy bén. Nói về quá khứ, bà nhớ từng chi tiết một, và khi hỏi bà có hận thù cộng sản đã giết cha và anh của bà không? Bà trả lời: “Không oán hận, vì đó là lịch sử.” Bà nói, mọi chuyện hãy “để cho lịch sử phán xét.”

Trên hai tiếng đồng hồ rộn tiếng cười, đột nhiên bầu không khí trở nên nghiêm trang khi ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Hoàng Lan trao tặng bà tấm phù điêu thủy tinh, vinh danh bà và cũng để đánh dấu ngày 3 tháng 6, 2011, ngày kỷ niệm phái đoàn của Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt-Mỹ đến thăm viếng. Cảm động, bà ôm lấy tặng vật vào lòng, một hình ảnh xúc động, dễ thương!

Trời đã trưa, phái đoàn ngỏ ý mời bà dùng buổi cơm trưa ngoài phố, bà đồng ý ngay. Có người đỡ bà đứng dậy, rồi bà tự động cầm lấy cán xe (walker), thong dong đi một mình đến gọi thang máy để xuống lầu. Nhà hàng ăn ngoài phố không xa nơi bà cu trú. Khi đẩy xe bà đến, tất cả nhân viên của nhà hàng niềm nở đón tiếp như thượng khách; bà là khách thường xuyên ở đây!

Sau gần năm tiếng đồng hồ được trò chuyện, sinh hoạt cùng bà, mọi người đưa bà trở lại nơi cư ngụ. Bịn rịn, cảm động, bà bắt tay từng người, bảo: “Phải trở lại thăm bà nữa nhé.” Khi chúng tôi chúc bà sức khỏe và trường thọ, bà phán: “Bà sẽ sống đến 121 tuổi để lấy giải sống lâu hơn một bà người Pháp sống đến 120 tuổi.”

Bác Sĩ Henriette Bùi, biểu tượng của cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như tại Paris nói riêng, một nhân vật đặc biệt, chứng nhân của cả một thế kỷ Việt Nam đầy biến động.
 --------
Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam đã từ trần Bà Henriette BÙI QUANG CHIÊU
(1906-2012)

từ trần ngày 27.4.2012 tại Paris

Thọ 105 tuổi

Tang lễ đã cử hành vào lúc 10g30 sáng thứ năm 10.5.2012 tại Phòng lớn Đài hỏa táng nghĩa trang Père-Lachaise (Paris 20).

Henriette Bùi Quang Chiêu



(trích Bách khoa toàn thư Wikipedia)

Henriette Bùi Quang Chiêu (1906-2012) là một nữ bác sĩ người Việt. Bà được biết đến là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam.[1]Thân thếBà sinh ngày 8 tháng 9 năm 1906, là con gái thứ trong một gia đình người Việt giàu có mang quốc tịch Pháp ở Nam Kỳ. Thân phụ của bà là Nghị viên Bùi Quang Chiêu, một chính khách có tiếng ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Thân mẫu bà là Vương Thị Y, thuộc một gia đình giàu có người gốc Hoa.[2] Tuy nguyên quán ở trong Nam, bà lại được sinh ra ở Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn. Thuở nhỏ, bà học Trường St Paul de Chartres, tức Trường Nhà Trắng tại Sài Gòn. Năm 1915, bà thi vượt cấp và đậu bằng Certificat sớm 2 năm. Sau đó, bà vào học trường Collège des Jeunes Filles, sau là Lycée Marie Curie. Bà sang Pháp du học năm 15 tuổi. Một năm sau đó, thân mẫu bà qua đời vì bệnh lao phổi. Có lẽ điều này càng cố thêm nguyện vọng theo ngành y của bà. Việc học của bà bị gián đoạn một năm vì bệnh đau mắt (trachoma), tuy nhiên đến năm 1926, bà cũng tốt nghiệp bậc trung học tại Lycée Fenelon ở Paris.

Y nghiệp

Biệt thự nguyên thủy nơi làm trường sở cho Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, nay nằm trong khuôn viên Bảo tàng Chứng tích chiến tranh
Năm 1927, bà theo học Đại học Y khoa Paris (tiếng Pháp: Faculté de Médecine de Paris) thuộc Đại học Paris. Là phụ nữ người Việt, sự hiện diện của bà trong trường chuyên môn ở Pháp là một bước đột phá trong hệ thống giáo dục chính quốc tại Pháp thời bấy giờ. Cũng trong thời gian học tại Đại học Paris, bà quen biết với nhiều người Việt đang học tại đây, đặc biệt là một sinh viên trẻ đang theo học ngành cầu đường là Nguyễn Ngọc Bích, con trai Đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Tương. Năm 1934, bà bảo vệ luận án tốt nghiệp xuất sắc, được hội đồng giám khảo khen ngợi và tưởng thưởng huy chương. Khi trở về Việt Nam năm 1935 bà nhậm chức trưởng khoa hộ sinh ở Chợ Lớn. Với khí khái độc lập, bà bị các y sĩ người Pháp gây khó dễ. Cách cư xử của bà biểu hiện quan niệm bình đẳng, bình quyền giữa nam và nữ, cũng như bình quyền chủng tộc giữa người Việt và người Pháp. Cũng trong năm 1935, bà lập gia đình với luật sư Vương Quang Nhường[3], Tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của người Việt, một đảng viên Đảng Lập hiến Đông Dương. Tuy nhiên chỉ không đầy 2 năm sau, hai người ly hôn vì khác biệt trong cách sống. Bấy giờ, việc một người đàn bà ra tòa xin ly dị chồng vào lúc đó được người Việt Nam xem như là một chuyện không thể nào tin được, nhất là một người trong gia đình danh giá như gia đình ông Bùi Quang Chiêu. Cuối năm 1945, một sự kiện bất hạnh ập đến gia đình bà. Thân phụ và 3 người anh em trai của bà bị những phần tử quá khích của Việt Minh kết tội phản quốc và thủ tiêu. Người bạn thân thiết của bà là Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, bấy giờ đang giữ chức Khu bộ phó Việt Minh bị chính quyền Pháp bắt được và bị kết án tử hình. Nhờ sự vận động của bà và các bạn bè cũ tại Pháp, Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích thoát án, nhưng phải rời khỏi Việt Nam và sang sống tại Pháp. Về sau, ông bà sống với nhau như vợ chồng cho đến khi ông qua đời. Một đóng góp đáng kể nữa của nữ bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu là việc hiến tặng biệt thự tư gia của bà số 28 đường Testard[4] làm cơ sở cho Trường Đại học Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn.[5] Năm 1971 bà sang lại Pháp hành nghề y cho đến khi về hưu năm 1976.



Cuối đờiNăm 2011, đã 105 tuổi, bà vẫn còn khoẻ và minh mẫn [6]. Bà mất ngày 27 tháng 4 năm 2012 tại Paris, thọ 105 tuổi.[7]

Tham khảo

Nguyên Hương Nguyễn Cúc. Sài-gòn 300 năm cũ. Dallas: Tiếng Sông Hương, 1999. tr 248 "Colonial Cholon" Gisele Bousquet và Pierre Brocheux. Viêt-Nam Exposé. Ann Arbor, MI: University of Michigan, 2002. tr 290-308 Sau năm 1955 đổi là đường Trần Quý Cáp Lịch sử Trường Đại học Y khoa Sài Gòn Thăm nữ bác sĩ Việt đầu tiên tại Pháp - Henriette Bùi Quang Chiêu Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam đã tạ thế

*Vị nữ bác sĩ Việt đầu tiên tại Pháp
 

http://caonienbachhac2011.blogspot.ca/search/label/24a.%20T%C3%A0i%20li%E1%BB%87u%20chi%E1%BA%BFn%20tranh%20vn

Win Or Lose: Thắng Hay Thua

Win Or Lose: Thắng Hay Thua


 
Logo American Idol.jpg
Chương trình tuyển lựa ca sĩ của Mỹ American Idol được tổ chức hằng năm. Cứ mỗi lần vào vòng chung kết thì công luận dồn dập bỏ phiếu cho những gịong ca mình ưa thích và bực tức khi những giọng ca ấy bị loại bỏ. Nhưng họ không có thể point finger (chỉ tay) vào bất cứ ai để phỉ báng vì Ban Tổ Chức lấy sự chọn lựa đó từ người dân People’s choice
Hôm qua thứ tư ngày 16 tháng 5 năm 2012 kết quả vào vòng chung kết của American Idol năm 2012 diễn ra quá sôi nỗi. Người điều khiễn chương trình Ryan Seacrest đôi lần cũng đã cúi mặt khi nghe kết quả những thí sinh phải bị loại bỏ dần dần sau khi The lights are dimmed.
Ban giám khảo có Randy Jackson, Steven Tyler, and Jennifer Lopez luôn luôn ca ngợi bất cứ bài ca trình diễn nào của 3 thí sinh còn lại : Jessica Sanchez, Joshua Ledet và Phillip Phillips Có lẽ vì cung cách của ảnh hưởng tính chính trị là không muốn làm mất lòng bất cứ những ai nên họ luôn luôn khen (Có thể đó là American's way: Tất cả mọi người là Best Friends nhưng khi cần cái quyền lợi cho bản thân thì con cái cha mẹ cũng bỏ huống gì Friends. Do đó đừng nghe Mỹ khen mà lầm).
Họa hoằng lắm họ mới nói ra một ít khuyết điễm nếu gặp phải một thí sinh quá tệ. Do đó mỗi một lần Jessica , Joshua hay Phillip ca thì cả ba không hết lời tán tụng. Cái ông judge mà tôi không thích là Steven Tyler Ông ta trông rất khác lạ với những cái nhìn bình thường. Hơn nữa với cái hình ảnh hợm hĩnh hippy của Steven không cho tôi có chút cảm tình nào. Mỗi lần nghe Joshua ca thì ông ta luôn luôn bảo là Joshua always over..over...over the Top. Có phải muốn chứng tỏ ông ta không kỳ thị??
Trong 3 thí sinh vào chung kết có 1 Mỹ Trắng, 1 Mỹ đen và 1 Spanish . Trên bàn giám khảo cũng có 3 Judges giống nhau: 1 Mỹ Trắng Steven Tyler, 1 Mỹ đen Randy Jackson và 1 Spanish Jennifer Lopez Nhưng cả 3 luôn luôn vỗ tay tán thưởng Joshua Ledet thậm chí cái ông giám khảo Mỹ trắng Steven Tyler còn dám bảo Joshua hát quá hay mà mấy chục năm qua chưa có ai hát hay như Joshua.
Đêm qua khi kết quả vào chung kết xướng tên Jessica Sanchez được vào finalist tôi nhìn thấy khuôn mặt Jenifer Lopez rạng rỡ qua nhanh để che dấu tình địa phương. Kế đến còn lại hai thí sinh Joshua Ledet và Phillip Phillips Sau đó người phải ra đi là thí sinh da đen Joshua Ledet mà cả 3 giám khảo đã không hết lời ca ngợi .
Cá nhân tôi không thích Joshua Ledet vì tôi không hiểu anh ta hát cái gì và cứ nghe la ré như cái kiểu ca sĩ VC. Ở đó tôi chả thấy Blue hay Jazz gì mà cứ nghe ư ư ư rồi la rồi hét cho đến khi hết bài.
Riêng về thí sinh Phillip Phillips ban đầu tôi cũng chả thích cái cách trình diễn xiêu xiêu vẹo vẹo thêm cái miệng múa qua múa lại thấy chóng cả mặt. Tuy nhiên trong đêm thứ tư ngày 16 tháng 5 năm 2012 Phillip trình bày bản nhạc We’ve Got Tonight’ của Bob Seger đã thật sự cho hội trường một không khí thưởng ngoạn vô cùng êm ái rồi từ cảm xúc sâu lắng đó, đã nhẹ nhàng đi vào tâm hồn của mỗi một khán giả .
Cá nhân tôi theo dõi bài ca này qua sự trình diễn của Phillip khi tiếng hát của Phillip đi vào phần cuối bài : We've got tonight Who needs tomorrow We've got tonight, babe Why don't you stay
Khi Phillip chấm dứt ở câu Why don't you stay cho người nghe một cảm nhận thiết tha ân cần như nửa van xin, nửa níu kéo trong một xúc cảm nhẹ nhàng như tiếng trầm buồn từ một điệu bass chùng xuống vào tâm nhỉ người nghe. Cả hội trường ào ào tiếng pháo tay trong một luồn sinh khí lâng lâng đang dâng lên trên tiếng hát hay nhất của Phillip trong suốt đoạn đường thì vừa qua .
Why don't you stay ( tại sao em không ở lại). Đó là lời nói của những ngừơi muốn có bạn bè có người gặp gở để xây dựng một sự liên hệ của tương quan giữa ngừơi và người. Người Việt Quốc Gia cũng mang chung một lý tưởng xây dựng trên những hoang tàn đổ nát chứ không hủy diệt như chủ nghĩa cộng sản. Ai có tư tưởng đi ngược lại Đảng là bỏ tù hay thủ tiêu hay khủng bố cho đến khi khiếp nhược không còn dám hó hé
Trước sự tiến hóa văn minh của thế giới VGCS cũng đã đổi màu qua kế hoạch cởi trói Đổi Mới Nhưng với bản chất của Tiểu Nhân Trị thử hỏi VGCS có thật tình muốn cởi trói cho dân muốn co Kinh tế thị trường that su để dân được tự do làm giàu? Chắc chắn là không. cái đuôi Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đã cho chúng ta thấy rõ dã tâm lừa bịp của VGCS . qua chiêu bài đầu tư và phát triễn
Các nhà quan sát quốc tế cho rằng khi VGCS cởi trói thì người dân sẽ "dễ thở hơn trước" và họ cũng nghĩ rằng khi lãnh vực kinh tế được cởi trói thì sự kềm kẹp chính trị cũng sẽ cởi mở theo như định luật Kinh tế.
Nhưng, xã hội chủ nghĩa của VGCS không có căn bản pháp quyền do đó Đảng VGCS lại dùng tiểu nhân để trị người. Chúng tâng bốc những bọn du thử, du thực. Phần lớn không có học vấn đưa chúng lên hàng chủ tịch nhân dân để Đảng đứng đằng sau điều khiển Những kẽ tiểu nhân này không có trí phân biệt để nhận thức đúng hay sai lại không có lòng trắc ẩn cho nên khi cầm cân nẫy mực thì Tiểu nhân trị này vô cùng tàn ác.
Trái lại, người Quân tử khi cai trị dân cái gốc gác để họ học hành trước nhất là tu than trên ý thức rèn luyện đức Nhân, Lễ, Nghĩa , Trí , Tín.
Tiểu nhân trị thì lấy oán thù căm phẫn làm chất liệu để đàn áp người dân. Nhưng nếu quân tử nhân trị thì lấy khoan dung giáo hóa làm mực thước cai trị trên cái tâm lượng của kẽ anh hùng.
Thời Tam Quốc Chí bên Tầu Tôn Sách đã được gọi là một người có tâm lượng của kẽ anh hùng Tôn Sách tự là Bá Phù, sinh năm 175 tại Ngô Quận Phú Xuân. Ông là con trai thứ của Thái Thú Tôn Kiên, một viên tướng trung thành với Hoàng Đế nhà Hán Năm 190 sau khi Hán Linh Đế chết, Đổng Trác tiếm quyền. Các lãnh chúa của các khu vực miền Đông Trung Hoa đã liên kết và lập ra Liên Minh chống Đổng Trác. Tôn Kiên cha của Tôn Sách đi theo Viên Thuật một trong các thủ lĩnh của Liên Minh .
Trong nỗ lực liên kết để thành tựu Liên Minh loại bỏ Đổng Trác đã không đạt được thành quả tốt đẹp, do đó Trung Hoa lúc bấy giờ đã bị chia cắt làm nhiều mãnh bằng những tranh chấp nội chiến.
Năm 191 Viên Thuật cử Tôn Kiên đem quân đánh Lưu Biểu nhưng giữa đường đã bị bộ hạ của Lưu Biểu là Hoàng Tố đem quân mai phục và bị giết chết
Tôn Sách đem thi hài của cha mình về chôn ở Giang Tô, sau đó thành lập một toán quân sĩ nhỏ và năm 194 lại về đầu phục Viên Thuật
Sau khi tấn công Cửu Giang và chiếm được Cửu Giang cũng như chiếm được Lư Giang Tôn Sách nghĩ Viên Thuật như đã hứa sẽ để Tôn sách làm Thái Thú nơi này. Nhưng Viên Thuật lại giao chức Thái Thú cho người khác đã làm Tôn sách thất vọng bỏ ra đi Sau đó Tôn Sách mang quân của mình đi đánh Lưu Do. Trên đường đi gặp Thái Sử Từ là tướng của Lưu Do. Thái Sử Từ liều chết đánh với Tôn sách và sau đó Thái Sử Từ tóm được áo mũ của Tôn sách nhưng lại thả Tôn sách ra đi
Trong một trận đánh khác tại Sơn Việt Thái Sử Từ bị quân của Tôn sách bắt được và đem về giao cho Tôn sách. Cảm mến tâm địa anh hùng hảo hớn của Thái Sử Từ Tôn Sách bảo quân lính cởi trói cho Thái Sử Từ và thân hành mời Thái Sử Từ ở lại . Thái Sử Từ cũng cảm nhận tâm lượng anh hùng của Tôn Sách nên hứa sẽ trở lại sau khi đi chăm sóc 1 vạn quân của Lưu Do đang bơ vơ tan hàng chạy tản mác .
Nhiều thủ hạ của Tôn Sách bàn qua tán lại là Thái Sử Từ sẽ ra đi và không trở lại nhưng Tôn Sách vẫn tin tưởng Thái Sử Từ sẽ trở lại. Đúng 60 ngày cũng chưa thấy tăm hơi của Thái Sử Từ . Thủ hạ của Tôn Sách lại nhao nhao phản đối Tôn Sách sao lại đi tin tưởng Thái Sử Từ. Nhưng Tôn sách vẫn một lòng tin tưởng Thái Sử Từ sẽ trở lại. Đúng vào lúc mặt trời lên cao giữa trời thì tiếng vó ngựa dập dồn từ xa báo hiệu Thái Sử Từ đã trở về cùng với quân sĩ của Lưu Do về qui hàng
Tôn Sách thể hiện tâm lượng của một tấm lòng quân tử nhân trị trong việc xử sự với Thái Sử Từ đã làm thủ hạ của Tôn sách vô cùng tâm phục Trên chiến trường cũng như những cuộc tranh đua nào cũng có người thắng kẽ thua. Thắng trận cũng khó mà thắng nhân tâm lại càng khó hơn nhất là trên những vụ kiện tụng phỉ báng bôi nhọ đời sống cá nhân của người khác .
Tôi cũng rất đồng ý nên đem những phần tử chuyên môn vu khống bôi đen đời tư của kẽ khác ra Tòa . Vì đó là một sự công bằng cho cả hai bên. Hơn nữa, chính đó cũng là một phương pháp để bảo vệ nhân phẫm của con người. Với tôi khi thụ lý pháp luật để kiện những kẽ vu khống phỉ báng mình là đúng lẽ công bằng vì tôi không phải Luật sư có nghĩa là tôi cũng tay không kiện kẽ tay không. Nhưng khi tôi là một Luật sư mà đòi kiện người tay không thì chẳng khac gì kẽ có súng đánh người tay không !!
Tuy nhiên đối với những thành phần đang đi vào con đường chính trị để lãnh đạo quần chúng thì phải biết xử dụng cái Quân Tử Nhân Trị của Khổng Tử. Vì người Quân Tử lấy khoan dung giáo hóa làm mực thước cai trị. Còn kẻ Tiểu Nhân trị thì không có lòng trắc ẩn và cũng chả biết khoan dung độ lượng là gì chỉ một cách duy nhất là dùng súng để khiếp nhược người dân như VGCS đang khiếp nhược hóa cả một dân tộc Việt..
Tôn Sách khi cởi trói cho Thái Sử Từ và nói là "Xin ông ở lại" ông đã không những thắng được cái nhược điễm của con người trong Tôn Sách mà còn thâu phục cả nhân tâm trong thiên hạ . Cũng như Phillip Phillips khi chấm dứt ở câu Why don't you stay thì đã thu phục được lòng ưu ái của khán giả khắp nơi để bước vào Finalist của American Idol 2012. Vì thế Thắng hay Thua trên các cuộc thi đua hay trong những vụ kiện không quan trọng bằng thắng được lòng người để thu phục nhân tâm về một khối .
Cho dù ai cũng biết :
Bạch nhẫn thành kim
Tỷ bất nhẫn ắt thành đại loạn
Tuy nhiên bên trái của trái tim mà có chữ "nhẫn" thì không phải ai ai cũng làm được.. Con đường lên pháp đình tuy gần mà xa nhưng con đường đến từng trái tim của mỗi người tuy xa mà rất gần ... Có đúng không?? Why don't you !!!
Tôn Nữ Hoàng Hoa

36 NĂM VC XÂY DỰNG XHCN: VÌ SỰ NGHIỆP CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ:THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?


Nhận định tổng quát:
36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, VÌ SỰ NGHIỆP CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ:THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?


http://haylentieng.org/bua-liem-2-300x283.jpg         Trong bài viết mới đây, chúng tôi đã nhận định tổng quát “36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước: Thành quả và triển vọng”. Bài viết này chúng tôi sẽ đưa ra nhận định tổng quát “36 năm Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp của cộng sản quốc tế: Thành quả và triển vọng”.
        Mục đích loạt bài viết này của chúng tôi là muốn cho thấy hai con đường dẫn đến hai mục tiêu tối hậu của Việt quốcViệt cộng hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là trái chiều, đối nghịch nhau. Vì trái chiều đối nghịch nên mới đưa đến một cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng kéo dài nhiều thập niên qua tại Việt Nam vẫn chưa phân thắng bại. Bởi vì các mục tiêu tối hậu của cả hai bên đến nay vẫn chưa bên nào thành đạt. Vì sao và cuối cùng Việt quốc và Việt cộng ai sẽ thắng ai?
     Nội dung bài nhận định này, chúng tôi lần lượt trình bầy:
-       Bối cảnh du nhập và phát triển chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.
-       36 năm Việt cộng đã xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam như thế nào, hiệu quả ra sao?
-       Thành quả và triển vọng tương lai.
-       Kết luận.

I/- BỐI CẢNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.

II/- 36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO, HIỆU QUẢ RA SAO?

         Khoảng một năm sau ngày xâm chiếm được Miền Nam, một cuộc mít-tinh ăn mừng chiến thắng vào dịp Lễ Lao Động Quốc Tế 1-5-1976.Một lễ đài lộ thiên được dựng lên trước cổng Dinh Độc Lập Sài Gòn(sau đổi là Dinh Thống Nhất ), với đầy đủ các lãnh tụ hàng đầu của Cộng Đảng và nhà nước Việt Nam (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng…) và của cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) vốn là công cụ quân sự và chính trị của Cộng đảng Việt Nam (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Huỳnh Tấn Phát…). Trong bài phát biểu tại cuộc mít-tinh này, Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam lúc đó là Lê Duẩn đã mạnh miệng nói đại ý rằng: “đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất định sẽ xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam sau 15 đến 20 năm nữa”.
      Thế nhưng bây giờ đã hơn 36 năm qua kể từ ngày cưỡng chiếm được Miền Nam thống nhất đất nước, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ hàng đầu Cộng Đảng Việt Nam đã đi vào lòng đất, còn Việt cộng đã “xây dựng xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

1.- Từ lý luận Marxism về xã hội xã hội chủ nghĩa (socialism society).
            Karl Marx và F. Angel những triết gia người Đức đã hình thành nền triết học duy vật, trên đó Marx đã xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nên còn gọi là chủ nghĩa Marxist (Marxism).
         Theo lý luận Marxism (duy vật lịch sử): Từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này đã trải qua 4 hình thái xã hội có tính tổ chức từ thấp đến cao: Xã hội cộng sản nguyên thủy (Primitive communism society: không giai cấp, chưa có tư hữu, chưa có nhà nước), xã hội chiếm hữu nô lệ (The slave-owning Society) bắt đầu có giai cấp, có tư hữu,hình thành giai cấp thống trị), xã hội phong kiến (Feudalism Society)xã hội tư bản (Capitalism Society:có nhà nước tư sản ngày một hoàn chỉnh).
        Tính giai cấp, tính tư hữu và tính nhà nước đã phát triển ngày một cao độ trong hai hình thái xã hội sau cùng này, tạo ra mâu thuẫn đối kháng đã là tiền đề cho một cuộc cách mạng vô sản, thông qua đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp, để  hình thành hình thái xã hội sau cùng của loài người không còn giai cấp: “xã hội cộng sản hiện đại hay tiên tiến”(Modern or dvanced communism Society), phát triển qua hai giai đoạn: “Xã hội xã hội chủ nghĩa”(Socialism Society:còn giai cấp, còn nhà nước, nhưng được cải tạo từng bước, dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Cộng đảng, mệnh danh là đội tiên phong của giai cấp cống nhân hay vô sản, thông qua một nhà nước “chuyên chính vô sản”, quyền tư hữu hạn chế và tiêu vong dần, mọi người lao động theo năng lực, hưởng theo sức lao động bỏ ra…) tiến tới “Xã hội cộng sản chủ nghĩa”(Communism Society) viên mãn là “Thiên đường Cộng sản” trong một thế giới đại đồng(không biên giới quốc gia,không còn giai cấp, không còn bộ máy nhà nước, mọi quan hệ xã hội vận hành tự động, mọi người lao động tự giác, làm theo hết năng lực và được thỏa mãn mọi nhu cầu. Vì lúc đó tài hóa xã hội dư thừa có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của mọi người, của toàn xã hội, mọi người đều sống ấm no, hạnh phúc trong tình hữu ái như thiên đường nơi trần thế: Thiên đường cộng sản!?!)
      Thế nhưng thực tế ra sao, đến nay thì mọi người đã biết: Liên Xô, nước đầu tiên, sau hơn 70 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ (1917-1991), kéo theo sự sụp đổ toàn hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu để cùng chuyển thể qua xây dựng “xã hội tư bản chủ nghĩa”.(Capitalism society). Việt Nam là một trong bốn nước gọi là xã hội chủ nghĩa còn sót lại thì thực tế ra sao? Họ đã đang xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa như thế nào, hiệu quả ra sao?

2.- Đến thực tế Việt cộng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam 36 năm qua như thế nào?
     Như mọi người đã biết, chỉ một năm sau ngày chiếm đoạt được Miền Nam (30-4-1975) bằng vũ lực, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, Việt cộng đã giải tán các công cụ quân sự và chính trị một thời là MTDTGPMN và CPCMLTCHMNVN, thống nhất đất nước và đưa cả nước “Đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa”. (The socialism society)
     Trên thực tế, theo nhận định của chúng tôi, Việt cộng đã tiến hành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tiến trình và cách thức thưc hiện giống y như Liên Xô kể từ khi Cộng đảng Liên Xô giành được chính quyền vào năm 1917.
     Theo đó, một cách tổng quát, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội IV (1976) cũng đưa ra một “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” với chủ trương “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, thực hiện  bằng chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội ”. Chính sách này thực hiện qua hai kế hoạch ngũ niên (1975-1985) bị thất bại, Cộng Đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VI (1986) đưa ra chủ trương “Đổi Mới” tương tự như Liên Xô đưa ra chủ trương và thực hiện chính sách “Kinh tế mới” sau khi bị thất bại. Qua hai kế hoạch ngũ niên (1985-1995) thực hiện chủ trương “đổi mới” bằng chính sách sửa đổi vá víu không hiệu quả, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VIII (1996) đưa ra chủ trương “đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực hiện bằng chính sách “Mở cửa” với bên ngoài.Chủ trương chính sách này được thực hiện qua ba kế hoạch ngũ niên (1996-2010) và sau Đại Hội XI (2011) Cộng đảng Việt Nam vẫn đưa ra nghị quyết tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách này.
     Sau đây chúng tội sẽ trình bầy chi tiết về nhận định tổng quát trên đây qua tiến trình và cách thức  Việt cộng thực hiện những chủ trương, chính sách trong “thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Thời kỳ quá độ “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):
        
         Liên Xô sau khi đảng Cộng sản Bolsevick Nga, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenine làm Cách Mạng Tháng 10 năm 1917 thành công, lật đổ được chế độ Nga Hoàng,  đã thiết lập “Nền chuyên chính vô sản” cưỡng ép những tiểu quốc lân bang trong vùng thành Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô. Ngay sau đó, Lenine và Cộng đảng Bolsevick Nga đã dùng “Chuyên chính vô sản” quyết tâm đưa Liên Xô “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
 (Đây là chủ trương của V. Lenine và Cộng đảng Liên Xô, khác với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Marxism:rằng vào thời điểm chủ nghĩa tư bản phát triển đến tột cùng trên phạm vi toàn cầu, mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản (tức công nhân) không còn điều hòa được nữa, trở thành “mâu thuẫn đối kháng” (một mất một còn)với toàn xã hội(với mọi giai cấp). Đây là “Tình thế cách mạng chín mùi”, cách mạng vô sản nổ ra nhất định thành công để sau đó “Đội tiên phong của giai cấp vô sản” tức các đảng Cộng sản ở mỗi nước sẽ lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công “Xã hội xã hội chủ nghĩa”. Nghĩa là tiền đề cho sự xây dựng thành công “xã hội xã hội chủ nghĩa”là phải thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩ theo K. Mar, nên sau này mới có thuật ngữ chính trị Chủ nghĩa Marx-Lenine với ý nghĩa như là sự kết hợp luận lý về phương cách đi lên chủ nghĩa cộng sản tuy có khác, nhưng vẫn thống nhất về mục tiêu hiện thực lý  tưởng cộng sản chủ nghĩa).
       Sau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, triệt tiêu chế độ Việt Nam Cộng Hòa (30-4-1975), Cộng đảng Việt Nam đã cho bầu quốc hội chung cho cả nước (25-4-1976), đổi danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Đại Hội IV Cộng đảng Việt Nam (Tháng 12-1976) cho đổi tên “Đảng Lao Động Việt Nam” thành “Đảng Cộng sản Việt Nam” và ra nghị quyết đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” bắt chước giống như Liên Xô.( Dù tiền đề hai nước có khác: Liên Xô chủ nghĩa tư bản bước đầu phát triển đã hình thành được đội ngũ giai cấp công nhân – Việt Nam chủ nghĩa tư bản mới manh nha ở Miền Nam, cả nước công nghiệp còn ở thời kỳ lạc hậu,giai cấp công nhân chưa hình thành được đội ngũ và năng lực để đóng vai trò “Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng”, nên cái gọi là “Đội tiên phong của giai cấp vô sản Việt Nam” Cộng đảng Việt Nam mới bao gồm phần đông nòng cốt là những trí thức tiểu tư sản như Trường Chinh Đặng Xuân Khu(gốc con địa chủ), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…Và cơ quan lý luận của Đảng mới đẻ ra luận điểm về “Giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo”là nòng cốt của cách mạng Việt Nam…)
   Vậy trên thực tế Việt cộng đã thực hiện thế nào?
   
* Thực hiện chính sách“Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật  của chủ nghĩa xã hội ” (1975-1985)
         Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenine, để tiến hành công cuộc  “Đi lên chủ nghĩa xã hội ” tại Việt Nam, nghị quyết Đại Hội IV của Cộng đảng Việt Nam đã đưa “Đường lối chung của Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước”(1) như một định thức chỉ đạo: “Nắm vững chuyên chính vô sản,phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tương và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật  là then chốt…”(2).
    Việt cộng đã thực hiện định thức này ra sao? hiệu quả thế sao?
              
* Thực hiện “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.
    -Lý luận.
      *Theo gương Liên Xô, Việt cộng lý luận rằng, muốn xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, điều tiên quyết là phải “nắm vững chuyên chính vô sản”(hay độc tài vô sản), để củng cố vai trò thống trị độc tôn, độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một chính quyền mệnh danh “Chính quyền chuyên chính hay độc tài vô sản”(Proletarian dictatorship). Nghĩa là một “Chính quyền độc tài của giai cấp vô sản hay giai cấp công nhân”(the dictatorship goverment of the proletariat) mà theo lý luận của chủ nghĩa Marx-Lênin là giai cấp nòng cốt thực hiện cuộc “Cách mạng xã hội chủ nghĩa” để xây dựng “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, vì lợi ích của giai cấp công nhân (vô sản), dưới sự lãnh đạo của “đảng Cộng sản”, được coi là “Đội tiên phong của giai cấp công nhân”, qui tụ một thành phần ưu tú của giai cấp công nhân (vô sản) có đạo đức xã hội chủ nghĩa (?),tính vị tha, phục vụ nhân dân và xã hội quên mình, có năng lực lãnh đạo, ý thức giác ngộ giai cấp cao và tinh thần đấu tranh cách mạng vô sản triệt để…..(thực tế phần đông là ngụy giai cấp vô sản, hầu hết lãnh tụ hàng đầu Cộng đảng không xuất thân từ giai cấp công nhân, nhưng đã ngụy biện là đã “giác ngộ tính vô sản và đã đầu hàng về mặt giai cấp”để có tư cách lãnh đạo đảng của giai cấp công nhân, tức Cộng đảng!).
         Nhân danh và vì quyền lợi giai cấp vô sản,Việt cộng xử dụng “Chính quyền chuyên chính vô sản”làm công cụ trấn áp mọi sức phản kháng, chống đối của mọi tầng lợp nhân dân, bảo vệ vị thế độc tôn, độc quyền, đặc lợi của một tập đoàn thống trị là các cán bộ, đảng viên Cộng đảng Việt Nam.Ngụy biện rằng, trong “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” chỉ dân chủ với nhân dân (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo), cần “chuyên chính” với mọi kẻ thù của giai cấp vô sản (tư sản, trí, phú, địa, hào…và những người dân nào không tuân phục,chống lại đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa). Vì vậy, trong định thức mới ghi sau “Nắm vững chuyên chính vô sản” là phải “Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. (Lưu ý về ý nghĩa từ ngữ: “Quyền làm chủ tập thể”của Việt cộng khác với “quyền sở hữu cá nhân” cũng như “dân chủ tập trung” của Việt cộng khác với “dân chủ tự do”của Việt quốc)
      Do đó, Cộng đảng Việt Nam cần “Nắm vững chuyên chính vô sản” như thế mới trấn áp được mọi phản kháng từ phía nhân dân. Đồng thời “Đảng và nhà nước ta” mới lãnh đạo, thúc ép, khuyến dụ, tuyên truyền,lừa mị được nhân dân thực hiện cùng lúc ba cuộc cách mạng để hoàn thành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

- Tiến hành ra sao?
          Đ  “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”, sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất đất nước, Việt cộng đã thực hiện chính sách hai mặt: củng cố và phát triển bộ máy Đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh,song song với tiến hành truy quét,trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước” của mọi tầng lớp nhân dân.(Việt cộng gọi là truy quét phản động)
         Để củng cố và phát triển bộ máy đảng và nhà nước, như những công cụ và phương tiện thống trị, kềm kẹp, đàn áp nhân dân,Việt cộng đã học tập kinh nghiệm thống trị bằng bạo lực kềm kẹp, trấn áp nhân dân của Tầu cộng, lấy mô hình tổ chức đảng, chính quyền và kinh nghiệm cai trị 21 năm ở Miền Bắc (1954-1975) vận dụng vào Miền Nam mới “Giải phóng”(!) . Bộ máy đảng luôn tồn tại song hành với bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, trong mọi cơ quan, ban ngành, đoàn thể; thực hiện triệt để định thức cai trị kềm kẹp “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
   Để truy quét, trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước”, Việt cộng đã dùng nhà tù, súng đạn, hệ thống tòa án công lý một chiều, pháp trường, khủng bố , kết hợp với các thủ đoạn tuyên truyền lừa mị đối với mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện khẩu hiệu “nghe thì sống, chống thì chết”.
         Thực tế là sau ngày 30-4-1975 :
-        Việt cộng đã bắt giữ tù đầy trong các trại tù khổ sai trá hình gọi là “Trại cải tạo”, hầu hết các sĩ quan quân lực và các viên chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các ngành chính quyền, hành chánh Việt Nam Cộng Hòa  và các chính đảng quốc gia. Việt cộng làm việc này để cô lập, tiêu diệt một thành phần đông đảo những người ưu tú của Việt quốc mà họ cho là mầm mống có khả năng gây nguy hiểm cho chế độ.
-        Việt cộng đã  dùng hệ thống nhà tù được thiết lập thêm rất nhiều trên khắp nước để giam giữ những người đã có thái độ, lời nói hay hành động chống chế độ tự phát cá nhân hay tham gia những tổ chức chống cộng thật cũng như giả do công an Việt cộng dựng lên để gài bẫy. Và cả những tù nhân bị Việt cộng ghép vào “diện cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” hay thuộc diện “Cải tạo nông nghiệp” phải vào tù chỉ vì có của cải giầu có (Tư sản mại bản, tư sản dân tộc, địa chủ, phú nông…..). Một số chức sắc hàng giáo phẩm thuộc các giáo hội  do hoạt động tôn giáo hay do vị thế cai quản các cơ sở tài sản lớn của giáo hội cũng đã phải vào tù, vì ý đồ Việt cộng muốn chiếm dụng, đã gài thế, gán ghép “tội phản động” để tịch thu như những tang vật.
-        Nhiều người chống chế độ bị coi là mất tích, không ai biết vì sao, kể cả thân nhân(tương tự như chế độ mật chỉ thời tiền cách mạng nhân quyền 1789 ở Pháp)  vì đã bị Việt cộng âm thầm bắt, giam giữ, rồi thủ tiêu bằng mọi cách không cần xét xử. Nhiều người khác bị xử bắn công khai nơi pháp trường, trong những vụ án “phản động” mà Việt cộng  muốn răn đe, khủng bố, nên đưa ra trước “Tòa án nhân dân” vốn là công cụ pháp lý trấn áp nhân dân, để có một bản án điển hình làm gương.
-        Để đề phòng bạo loạn từ phía quần chúng nhân dân, Việt cộng đã triệt để thực hiện chế độ hộ khẩu và công an trị để nắm từng người dân, dập tắt nội loạn từ trong trứng nước. Với chế độ hộ khẩu, Việt cộng kiểm soát được nơi ăn chốn ở, với thủ tục “Đăng ký tạm trú, tạm vắng” Việt cộng kiểm soát được mọi sự di chuyển, đi lại và hoạt động của người dân. Với hệ thống “Công an khu vực”, Việt cộng giữ vững được an ninh chính trị đến từng người dân ở từng địa phương, khu vực.
    - Hiệu quả thế nào?
          Nhìn chung, với việc thực hiện triệt để chính sách hai mặt trên, Việt cộng đã “Nắm vững chuyên chính vô sản” theo nghĩa là đã dùng bạo  lực qua các công cụ của nền chuyên chính vô sản là công an, quân đội và các lực lượng vũ trang đã trấn áp (chứ không tiêu diệt) được sức phản kháng của mọi tầng lớp nhân dân khá thành công.
      Thật vậy, trong 5 năm đầu sau khi chiếm được Miền Nam (1975-1980), Việt cộng đã thực hiện triệt để những chủ trương, chính sách và các biện pháp căn bản trên đây và đã có hiệu quả là ổn định được tình hình an ninh chính trị.Sau 5 năm kế tiếp (1980-1985), đã củng cố và phát triển bộ máy đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh. Vì thực tế các hoạt động chống cộng của các cá nhân hay tổ chức ngày một lắng xuống .
       Trong thời khoảng này, các tổ chức và cá nhân chống cộng trong nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật, không còn có những hoạt động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 5 năm đầu. Ngay cả những chính đảng quốc gia có truyền thống cách mạng đấu tranh chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
            Tựu chung  trong khoảng 20 năm của thời kỳ quá độ “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):  Việt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định và giữ vững được tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền các cấp, các ngành, làm công cụ tiến hành mạnh bạo các chủ trương, chính sách và biện pháp “Đi lên Xã hội xã hội chủ nghĩa” trên cả nước, dưới bảng hiệu chế độ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam”.
 (Xin xem tiếp: Việt cộng Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng như thế nào, hiệu quả ra sao?”

Thiện Ý

Tham nhũng nằm trong Bộ chính trị đảng CSVN!


Tấu khúc tham nhũng của quỷ Ba Đình
Như các báo chí của “nhà nước” CS đã đưa tin:
“Ban chỉ đạo Trung ương chống tham nhũng sẽ thuộc Bộ Chính trị”.
Và, như mọi người đã biết, “Bộ Chính trị” của đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền định đoạt mọi thứ, kể cả đến sinh mạng của con người từ hàng “cao cấp” cho đến bần dân lê thứ. Như thế, thì nay “nhà nước” đã công khai lên tiếng: “Ban chỉ đạo Trung ương chống tham nhũng sẽ thuộc Bộ Chính trị”. Nghĩa là, cái “ban chỉ đạo” này, dù chống hay không chống tham nhũng cũng phải trực thuộc “bộ chính trị”; cơ quan quyền lực tối cao của đảng Cộng sản Hà Nội, mà đã “trực thuộc” rồi, thì “Bộ chính trị” của “đảng” sẽ điều hành hay chỉ đạo, chứ cái “Ban chỉ đạo chống tham nhũng” này không hề có cái quyền quyết định lấy những biện pháp để chống tham nhũng.
“… Thuộc bộ chính trị” rồi, thì cũng như những con cá nằm trên thớt, mọi việc đều phải “đệ trình” lên “bộ chính trị”, để được chống hay không chống những ai, và những ai thì không được chống, mà còn cần phải bảo vệ nữa. Mà nghĩ cho cùng cái “biện pháp” này thật vô cùng hữu hiệu, vì những “ông” đã và đang ngồi trong cái “Bộ chính trị” toàn là những “Công tử Bạc Liêu” tiêu tiền như nước, có nhà nghỉ mát sang trọng, đi xe hạng “siêu sang”. Ngoài ra, còn nào là những “đại gia” đã và đang có những ngôi biệt thự dát vàng, dùng điện thoại cầm tay có những chiếc vỏ nạm toàn kim cương, đá quý, tất cả đều là con cháu của “bộ chính trị” cả. Và, những vật dụng xa hoa đó, nó từ đâu mà có, nếu không phải do mồ hôi nước mắt, sinh mạng của mọi người dân, và hơn thế nữa, là từ tài nguyên của quốc gia qua các “dịch vụ” bán đất, nhượng biển, hải đảo - dầu hỏa và những khu mỏ vàng, hồng ngọc… để rồi chia nhau bỏ túi; bởi vì lương của một “cán bộ - đảng viên” thì làm sao mà có được những gia sản khổng lồ với hàng tỷ Mỹ kim, Âu kim đã gửi ở các ngân hàng ngoại quốc.
Chính vì những lẽ ấy, cho nên đảng Cộng sản Hà Nội, đã phải bảo vệ cho nhau bằng cách lôi cổ cái “Ban chỉ đạo chống tham nhũng” vào nằm ngay trong cái gọi là “Bộ chính trị” cho nó yên bề… gia thất, mà chưa biết khi “được đồng sàng” với “bộ chính trị” như vợ với chồng rồi, thì không biết những kẻ ở trong cái “ban chỉ đạo chống tham nhũng” này có còn muốn chống nữa hay sẽ không cần phải chống, mà lại trở nên “êm ấm” cho trọn ái ân - tình chồng nghĩa vợ - đồng cam cộng khổ với nhau, và chỉ khi nào “lịch sử sang trang”, thì sẽ phải đồng ưu cộng hoạn- đồng tẩu - đồng mồ.
Nói tóm lại, một khi đã “thuộc bộ chính trị” rồi, thì không bao giờ được “chống tham nhũng” mà phải nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, mà khi thấy “giang” nó mát quá, thì sẽ cùng nhau “tắm”; còn thấy cái “gia” nó giàu sang quá, thì sẽ cùng nhập mâm để cùng “ăn cỗ”. Đảng Cộng sản VN vì biết tâm lý của những người “chống tham nhũng” cho nên “đảng” đã nghĩ ra một cách toàn vẹn và hữu hiệu nhất, là cho vào nằm chung, thế là xong, chấm hết. Vậy, từ nay, nếu có nghe nói đến những chuyện “chống tham nhũng” thì đó là do “Bộ chính trị” nói, chứ không phải những tiếng nói của những kẻ thiệt tâm chống tham nhũng, lại càng không phải là tiếng nói của người dân bao giờ.
“Bộ chính trị”! Chỉ cần nghe nói đến cái tên thôi, là mọi người đã nhớ đến không biết bao nhiêu lần những cuộc tang thương, dâu bể cũng đã bắt đầu từ đó mà ra, vì không bao giờ có một sự gì mà không không qua cái lò của “bộ chính trị”. Đây là một cái lò đã từng tôi luyện cho những kẻ nắm quyền sinh sát trong tay. Tất cả những kẻ đã qua cái lò này, đều đã qua cả hàng nghìn “độ nóng” của chủ nghĩa Cộng sản, để rồi phải biết cách để đẩy những con người lương thiện đi vào những cái lò thiêu thật sự, để cho thân xác của những nạn nhân bất hạnh này chỉ còn lại là tro bụi mà thôi !
Vế cái “Ban chỉ đạo chống tham nhũng” thì cũng không ai biết trong cái “ban chỉ đạo” này, gồm có những ai, họ cũng không có lên tiếng về việc họ “trực thuộc bộ chính trị”, mà theo như cái cách nói: “đổi mới - kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; thì người ta có thể nghĩ ra được như thế này:
Ban chỉ đạo chống tham nhũng… theo định hướng của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Nghĩa là không có chống tham nhũng gì hết, vì cả “bộ chính trị” toàn là những kẻ tham nhũng gộc, là những tên triệu phú, tỷ phú Cộng sản, với những tài sản kếch xù mà kể cả những người Việt tỵ nạn đã và đang thành công tại hải ngoại dù có nằm mơ, thì cũng không bao giờ có thể thấy được, thì làm sao mà chống, mà biết đâu… khỏi chống, vì để còn hưởng ơn mưa móc…
Khi nói ra những điều này, thì chắc ai cũng thấy cảm thương cho tất cả những đồng bào ruột thịt thân yêu của mình, là những nạn nhân của những vụ “cưỡng chế”, họ bị mất đất, mất nhà, mất hết, kể cả sinh mạng của người thân; nhưng giờ đây, khi tất cả đã “được” nhốt chung, nằm chung với “Bộ chính trị” rồi, thì người dân oan, không biết phải khiếu nại ở đâu được nữa, vì những người dân thấp cổ bé họng sẽ không bao giờ dám đụng đến một cơ quan quyền lực nhất nước là “Bộ chính trị” !
Tuy nhiên, nói để cùng nhau chia xẻ với đồng bào, chứ không có nghĩa là chúng ta đều phải tuyệt vọng; bởi vì theo như cái nguyên lý - định luật của ông Trời, thì tất cả mọi con người ở trên thế gian này, vào một lúc nào đó, có thể rơi vào đường cùng, nhưng không bí lối; mà đôi khi càng bị rơi vào những nơi vực sâu, bí đạo, thì rồi sẽ tìm ra những lối thoát vô cùng mầu nhiệm… như những con chim đang cất tiếng bi thương trong những chiếc lồng sắt trước khi bị làm những miếng mồi ngon cho những buổi tiệc; nhưng biết đâu, rồi chính những tiếng kêu của những con chim đáng thương ấy, sẽ thấu đến tận Trời cao, và rồi có một ngày cả bầy chim sẽ được “phóng sinh”, sẽ xoải cánh tung bay giữa bầu trời xanh bao la ngan ngát và lồng lộng nắng gió Tự Do...
Đó là, ngày không còn cái “Bộ chính trị” nữa !
Pháp quốc, 18/5/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
-----------------------------------------------------------
Ban chỉ đạo TƯ chống tham nhũng sẽ thuộc Bộ Chính trị
- Tại hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa XI bế mạc hôm nay (15/5), BCH Trung ương thống nhất về chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị.
Theo đó, Ban chỉ đạo sẽ trực thuộc Bộ Chính trị; đồng thời sẽ lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
Phương án trên nhằm kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo sau khi hội nghị tiến hành đánh giá sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về phòng, chống tham nhũng.
Như vậy, với mô hình ban chỉ đạo được kiện toàn nêu trên, công tác phòng, chống tham nhũng sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Cơ chế này được đánh giá sẽ bảo đảm sự độc lập với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; phù hợp với thể chế Đảng lãnh đạo toàn diện...
Phát biểu khai mạc hội nghị Trung ương 5, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tham nhũng là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong nhân dân và gắn trực tiếp với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng.
Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đã sớm ban hành Nghị quyết của Trung ương, Pháp lệnh và tiếp đó là Luật Phòng, chống tham nhũng, Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng và nhiều quyết sách khác; đã thành lập Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương; đã tiến hành nhiều biện pháp liên tục, nhưng đến nay công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Tổng bí thư nói, Đại hội XI của Đảng nhận định: "Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội". Vì sao như vậy?
Ông nhấn mạnh, để trả lời cho câu hỏi này, cần nhìn thẳng vào sự thật, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc tình hình tham nhũng, lãng phí và kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nhận dạng cho đúng những biểu hiện nổi bật của tham nhũng, lãng phí trong một số lĩnh vực chủ yếu như: đất đai, tài nguyên, đầu tư xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, mua sắm tài sản công; quản lý, sử dụng vốn và tài sản Nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp nhà nước; hoạt động tín dụng, ngân hàng; công tác tổ chức, cán bộ...
Bên cạnh đó phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, quy mô, phạm vi, tính chất, mức độ so với trước đây và so với các nước. Khẳng định những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém. Từ đó, tìm ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là những nguyên nhân gốc rễ, nguyên nhân chủ quan gây ra tệ tham nhũng, lãng phí và dẫn đến những hạn chế, yếu kém đó.
"Phải chăng là do các cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu chưa phát huy đầy đủ ý thức và bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện? Do sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở đảng quá yếu? Do sự kém tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức? Do chưa phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân, của công luận? Do những bất cập trong việc ban hành, thực thi các văn bản quy phạm pháp luật? Do mô hình tổ chức, hoạt động của ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng chưa phù hợp? Do sự yếu kém, tiêu cực trong công tác phát hiện và xử lý các vụ việc tham nhũng, lãng phí?...
Trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương, giải pháp quyết liệt, có tính đột phá, khả thi cao, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới".

L.Thư

---------------------------------------------
Lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng thuộc Bộ Chính trị
Hội nghị trung ương Đảng lần thứ năm, bế mạc sáng 15/5, đã thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương Đảng.
Ảnh: TTXVN.
Việt gian Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: TTXVN
Sáng 15/5, hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 đã hoàn thành nội dung chương trình đề ra sau 9 ngày làm việc. Phát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà hội nghị đã đạt được.
Về đấu tranh phòng chống tham nhũng, hội nghị nhất trí cho rằng, từ khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa 10) được ban hành, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí đã có chuyển biến tích cực, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công. Trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí từng bước được kiềm chế. Tuy nhiên, công tác này chưa đạt được yêu cầu "ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng".
Trung ương nhấn mạnh, phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 11 của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa 11), chú trọng cả phòng và chống tham nhũng, lãng phí; tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sớm khắc phục các nguyên nhân vừa nêu trên.
Ban chấp hành Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban Đảng, vừa là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.

Về pháp luật đất đai, hội nghị nhất trí cho rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.

Trung ương Đảng cho rằng cần khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai và hoàn thiện pháp luật về đất đai để sớm khắc phục những hạn chế, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phân bổ hợp lý, sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái. Đất canh tác nông nghiệp cần được bảo vệ nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững.

Trung ương Đảng khẳng định tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân có thời hạn, nhưng có thể kéo dài hơn để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng và yên tâm đầu tư sản xuất; đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng để tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp.
Về tổng kết, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là yêu cầu khách quan, cần thiết. Các đề xuất sửa đổi phải dựa trên kết quả tổng kết thực tế thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết đại hội 11 của Đảng; tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp trước đây còn phù hợp.
Về quy trình sửa đổi Hiến pháp, hội nghị thống nhất cần thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa 11), tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân về nội dung sửa đổi, để Quốc hội có đầy đủ cơ sở xem xét, quyết định.
Về vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, Trung ương yêu cầu, trong năm 2012-2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay; ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý và người lao động.
Trung ương Đảng yêu cầu khẩn trương nghiên cứu xây dựng đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013-2020 cùng với các đề án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương, thu được kết quả; tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công và các lĩnh vực có liên quan khác.
TTXVN

Bài Xem Nhiều