We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 27 May 2012

Việt Nam : Hào khí Nhân Văn Giai Phẩm


Bìa hai số tạp chí Giai Phẩm có đăng bài viết của các cột trụ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
Chuyện chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam. Một đám công an ở Nha Trang đánh đá, tra tấn một phụ nữ làm công. Chỉ vì bà này bị người chủ nhân giàu có nghi ngờ và tố cáo bà lấy trộm tiền.
Nạn nhân là bà Trần Thị Lan bị “đánh đá bằng cả tay chân, bằng dùi cui và cả bằng roi điện suốt ba ngày, mang thương tích khắp người,” phải điều trị hàng tuần lễ trong bệnh viện.
Trong thế giới văn minh cảnh sát công an không phải là những người quyết định ai có tội hay không có tội. Vì phán xét này thuộc thẩm quyền của tòa án, là ngành tư pháp. Trong thế giới văn minh nếu có một người bị kết tội ăn cắp thì cũng chỉ bị phạt tù hay phạt tiền; không ai “trừng phạt” một người ăn trộm món tiền trị giá “hơn một ngàn đô la” bằng dùi cui, roi điện. Mà nếu có ai bị tòa kết án thì việc trừng phạt không phải là nhiệm vụ của công an. Chỉ dựa vào lời tố của chủ nhân mà đánh đấm dã man một người lao động làm công, đám công an này chứng tỏ họ sẵn sàng làm tay sai cho những người giàu sang, và khinh rẻ người lao động nghèo khó, coi như súc vật. Ðánh đấm người ta đến bầm tím là hành động của côn đồ, du đãng, người có tư cách không ai làm. Năm thằng đàn ông xúm lại đánh đấm một phụ nữ tay không là hành vi hèn hạ đáng xấu hổ. Ðám công an Nha Trang này vừa vi phạm luật pháp, vừa làm trái với đạo lý sơ đẳng của loài người, vừa làm cho chính họ nhục nhã.
Với tất cả các thành tích như thế, đại úy công an Trần Bá Tuấn vừa được tòa phúc thẩm tha bổng, xóa bỏ bản án 9 tháng tù treo.
Chuyện này chỉ có thể xảy ra dưới chế độ cộng sản. Bởi vì chế độ cộng sản từ bản chất vẫn công nhiên trà đạp trên các nguyên tắc sơ đẳng của pháp luật, vẫn quen thói bất chấp đạo lý làm người. Chắc Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an Nha Trang cũng không nghĩ là họ phạm pháp. Họ chỉ làm theo thói quen, như lối các lãnh tụ cộng sản vẫn làm kể từ khi cướp chính quyền ở nước ta. Thái độ và hành vi “bất chấp pháp luật” đã được Hồ Chí Minh, Trường Chinh đặt thành khuôn mẫu ngay từ thời họ phát động Cải cách Ruộng đất, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Vụ cướp ruộng, cướp nhà “long trời lở đất” này đã giết oan hàng trăm ngàn người dân Việt Nam, trong đó có những người đã đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau thời gian xảy ra vụ này, những nhà trí thức Việt Nam đã cảnh cáo tình trạng bất chấp pháp luật của chế độ cộng sản. Sớm nhất, là trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với các ông Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi Trường Chinh ra trước Mặt Trận Tổ Quốc thú nhận các lỗi lầm về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, Luật gia Nguyễn Mạnh Tường đã dõng dạc nêu lên các nguyên tắc của luật pháp để cho ông tổng bí thư đảng cộng sản nghe một bài học. Trong bài thuyết trình lâu 6 giờ đồng hồ, ông nói: “Khi thi hành chính sách này (Cải cách Ruộng đất) người ta đã vi phạm luật pháp.” Vì đảng cộng sản chủ trương “thà giết chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một địa chủ,” trong khi nguyên tắc của pháp lý là “thà bỏ sót 10 người có tội còn hơn là kết tội oan một người”. Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm phê phán các lãnh tụ đảng lúc đó: “Những người lãnh đạo có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất không thể chỉ đứng ra xin lỗi, nhận đảng đã sai lầm. Xin lỗi không phải là một hành động của luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được.” Với tư cách một luật gia (ông đã có hai bằng tiến sĩ, luật và văn chương ở Pháp từ năm 1932, lúc 22 tuổi) Nguyễn Mạnh Tường đề nghị phương pháp giải quyết: Quốc Hội phải lập một ủy ban điều tra vụ Cải cách Ruộng đất, rồi đưa ra tòa án; “(T)òa sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng, nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất trở xuống.”
Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, trong cuốn sách mới xuất bản về vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã tinh tế nhận xét rằng các lời lẽ “Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được” và “từ lãnh đạo cao nhất trở xuống” đã tấn công thẳng vào Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ lãnh đạo đảng cộng sản. Vì sau vụ Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh chỉ đứng ra xin lỗi. Hồ cất chức Trường Chinh để chính ông ta kiêm nhiệm chức tổng bí thư, còn Võ Nguyên Giáp thì đọc bản kiểm thảo các sai lầm. Không một lãnh tụ cộng sản nào chịu trách nhiệm pháp lý trong vụ Cải cách Ruộng đất cả! Họ đã tạo ra thói quen “ngồi lên trên pháp luật” làm gương cho các cán bộ, như đại úy công an Trần Bá Tuấn ở Nha Trang bây giờ!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Ðang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Ðiều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Ðặng Ðình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam. Thật không khác gì bà Trần Thị Lan ở Nha Trang ngày nay. Họ còn cơ cực hơn bà Lan, vì sau đó họ bị tù đày, bị cô lập, cắt hết cả việc làm, nghề nghiệp, không thể nào kiếm cơm gạo nuôi vợ con hàng mấy chục năm trời, nhiều người khốn khổ cho đến lúc chết.
Trên báo Giai Phẩm Mùa Thu, Nguyễn Hữu Ðang đã mở cuộc phỏng vấn để các nhà trí thức khác có dịp lên tiếng: Trần Ðức Thảo đòi phải có tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, tự do phê bình; Ðặng Văn Ngữ viết: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?” Ðào Duy Anh kêu gọi giới trí thức phải “đấu tranh” cho tự do, quyết chống lại bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân; Phan Khôi viết “bàn về lãnh đạo văn nghệ” để phê bình toàn thể việc lãnh đạo xã hội.
Cũng can đảm như Nguyễn Mạnh Tường, trong bài trên Phan Khôi dám phơi bày sự thật là triều đình cộng sản cực kỳ phong kiến. Ông nêu thí dụ đám cầm đầu văn nghệ lúc đó đả kích thơ Trần Dần viết hoa chữ “Người” là phạm tội, vì chữ “Người” viết hoa chỉ được dùng để nói đến Hồ Chí Minh thôi. Phan Khôi mỉa mai so sánh cảnh tượng đó không khác gì cảnh một ông quan trong triều đình phong kiến đứng ra tố cáo một ông quan khác đã viết chữ theo kiểu “đài;” lối này chỉ được dùng khi viết đến ông vua mà lại dùng để khi viết về một thường dân!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chứng tỏ giới trí thức Việt Nam không bao giờ lãng quên trách nhiệm với lịch sử. Ngay từ đầu thời Pháp thuộc các Nho sĩ như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Cao đã bảo vệ tiết tháo sáng ngời. Thế hệ sau có những Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh noi gương họ. Ðọc cuốn sách của Thụy Khuê viết về Nhân Văn Giai Phẩm chúng ta còn được nhắc nhở để không quên thế hệ tiếp nối với những Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Hoàng Ðạo, Phan Khôi. Tác phẩm vẽ ra hình ảnh sôi nổi của những Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Cung, các kẻ sĩ giữa thế kỷ 20.
Người trí thức Việt Nam không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là tranh đấu cho tự do và cho sự thật. Trong báo Nhân Văn, Trần Ðức Thảo viết “Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở.” Người trí thức phải đỏi hỏi các quyền tự do được phát triển (mở rộng) vì đó là “nhiệm vụ số một của mình cũng như của toàn dân”.
Các thế hệ thanh niên Việt Nam, nhất là các nhà văn, nhà báo bây giờ và trong hàng trăm năm nữa vẫn có thể cảm thông với bầu máu nóng của Trần Dần khi ông viết: “Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực... Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết... Nếu như sự thực ngược lại chính sách, chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thật vào (cho đúng) chính sách!” Trần Dần đã viết những hàng trên trong bản dự thảo để trình bày trước một hội nghị giới văn nghệ trong quân đội năm 1955. Tất nhiên bản dự thảo đó không bao giờ được công bố, nhưng nó cho thấy Trần Dần đúng là một chiến sĩ. Lê Ðạt đã dùng những câu thơ để lên án chế độ độc tài chuyên chế: “Ðem bục công an máy móc đặt giữa tim người - Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước!” Ngày nay không thấy người cầm bút nào trong quân đội bầy tỏ được sĩ khí rực rỡ như vậy.
Ngày nay không phải chỉ trong giới viết văn làm báo mà ngay cả giới thanh niên ở Việt Nam đa số vẫn cúi đầu khúm núm đi “theo lề đường” do đảng cộng sản chỉ định. Người ta đăng những bản tin công an đánh người, công an giết người vô tội vạ, mà không gây nên một nỗi phẫn uất nào trong công chúng đô thị! Một vụ Ðoàn Văn Vươn đã đưa tới những vụ Văn Giang, Vụ Bản, dấy lên ở khắp các vùng nông thôn đau khổ. Nhưng thanh niên thành phố còn mê man đi ôm hôn ghế ngồi của các ca sĩ thần tượng ngoại quốc! Người thành thị chạy theo lôi sống xa hoa và sa đọa của bọn nhiều quyền và nhiều tiền, đã quên mất đồng bào nông dân cũng là bà con ruột thịt của mình đang khốn khổ! Cuộc sống đô thị đưa tới cảnh đồi trụy tinh thần! Nếu ở một quốc gia dân chủ tự do thì sau khi Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an hành hung một chị làm công Trần Thị Lan tàn nhẫn như thế chỉ vì chị bị chủ nhân giàu có nghi ngờ, thì thanh niên, sinh viên, học sinh ở Nha Trang đã xuống đường phản đối nhiều lần rồi! Trí thức đâu cả rồi? Sĩ khí đâu mất rồi?
Thanh niên Việt Nam ngày nay cần đọc lại những vần thơ như Lê Ðạt viết. Ông diễn tả khát vọng của tuổi trẻ thời 1955, lời thơ nay đọc lại vẫn còn làm náo nức lòng người: “Phải quét sạch mây đen / cho khung trời rộng mở - Chặt hết gông xiềng / cho những cánh bay lên - Ngày và đêm / mộng bay đầy cuộc sống - Khát vọng theo khát vọng - Không gì ngăn cản được con người!” Khi đọc lại câu chuyện cuộc tranh đấu “trứng chọi đá” của giới trí thức Việt Nam trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam. Nhìn lại những tấm gương của họ, chúng ta thấy còn hy vọng. Bầu máu nóng của các nhà tranh đấu dân chủ ngày nay đang sôi lên để tiếp nối chí khí bất khuất của Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang. Họ cho phép chúng ta hy vọng hào khí dân tộc sẽ còn sáng mãi.

 Ngô Nhân Dụng

Tại Sau VGCS Đưa Người Thiếu Đạo Đức Qua Nước Anh Làm Gì ?

"Công ten nơ hàng 750kg đã bay hàng chục ngàn cây số từ Việt Nam sang Anh, chở theo trên 650 cụm san hô và 60 con sò với kích cỡ hơn 20cm."

Tham nhũng và ngu là hai bản chất cuả nhà nước CHXHCNVN,
là nguồn gốc cuả sự tàn phá đất nước và sự thui chột cuả con người.

Buôn lậu san hô từ Việt Nam vào Anh

Các nhà sưu tầm thích các loại san hô đến từ các vùng biển nhiệt đới và Thái Bình Dương ( Reuters / Ove Hoegh-Guldberg)
Các nhà sưu tầm thích các loại san hô đến từ các vùng biển nhiệt đới và Thái Bình Dương ( Reuters / Ove Hoegh-Guldberg)

Các nhân viên hải quan người Anh ở sân bay Manchester đã choáng khi phát hiện thấy lô hàng san hô bất hợp phá kỷ lục trong lịch sử nước Anh. Công ten nơ hàng 750kg đã bay hàng chục ngàn cây số từ Việt Nam sang Anh, chở theo trên 650 cụm san hô và 60 con sò với kích cỡ hơn 20cm.

Tất cả đều là hàng cấm theo công ước quốc tế về bảo vệ động vật quí hiếm và môi trường sống, viết tắt là CITES (the Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora). 
Hiện tại vụ việc mới chỉ được thông báo sơ bộ và có một người đàn ông 23 tuổi bị bắt rồi được đóng tiền tại ngoại hầu tra, cho nên chưa có nhiều thông tin chi tiết, nhưng tin tức về vụ bắt giữ đã tràn ngập các diễn đàn của người yêu biển và bảo tồn thiên nhiên trên thế giới. 
Ở Việt Nam, từ lâu thú chơi san hô đã trở thành phổ biến. Người ta không ngại dùng nhân công giá rẻ lặn xuống đáy biển miền trung bẻ những cành san hô còn sống lên phơi rồi đem về thành phố bán cho những người chơi hòn non bộ. Các đại gia còn chơi sang hơn, học đòi theo mốt phong thủy của người Hoa mà đặt những bể cá nuôi bằng nước biển tốn kém trong nhà, có những cành san hô còn sống lung linh ngũ sắc. 
Thế nhưng rất nhiều người thiếu kiến thức cơ bản rằng để có được một cành san hô to và dài thì thiên nhiên có thể mất đến hàng ngàn năm. San hô không chỉ tạo ra môi trường đáy biển cho các loài sinh vật sống như bóng cây cho con người trú nắng, mà còn tạo nguồn thức ăn cho mắt xích đầu tiên trong dây chuyền thức ăn trên thế giới: cá nhỏ ăn nhuyễn thể, rồi cá lớn ăn cá nhỏ, và đến các loài thú trên bờ lại có thức ăn, và con người thì ăn thịt nhiều loài thú. 
San hô cũng là nguồn tạo ra oxi cần thiết, giữ cân bằng cho bầu khí quyển và môi trường sống của con người. Nhiều nước như Úc còn tài trợ cho các dự án nuôi cấy và tạo môi trường cho san hô phát triển để bảo vệ môi trường. Trong khi đó ở Việt Nam thì thú chơi san hô tàn phá bề mặt đáy biển, yếu tố mạnh nhất khiến khu vực biển gần bờ ngày càng ít cá. 
Đó là nói về ý thức giữ gìn môi trường để phát triển bền vững, mà xưa nay nhiều ý kiến vẫn đánh giá thấp Việt Nam. Gần đây thú chơi bể cá biển bắt đầu phát triển ở các nước phương Tây, đặc biệt là sau bộ phim hoạt họa về chú cá nemo khiến nhiều trẻ em yêu thích, và bể cá biển thực sự có nhiều màu sắc hơn là một bể cá vàng hay cá la hán. 
Những chuyến hàng xuyên quốc gia khiến nạn tàn phá đáy biển ở các nước nghèo đang phát triển như Việt Nam ngày càng tăng. Và thế giới đã thông qua công ước quốc tế về bảo vệ các loài sinh vật hoang dã mà san hô là một trong số những loài được chú ý nhất. Lô hàng công ten nơ 750kg cho thấy qui mô và lượng hàng luân chuyển từ Việt Nam ra thế giới là rất lớn, tạo nguy cơ đáy biển ven bờ của Việt Nam bị phá hoại hoàn toàn và không còn cá là vô cùng cao. 
Câu hỏi mà nhiều thành viên trên các diễn đàn đặt ra là tại sao các quan chức cửa khẩu ở Việt Nam, vốn kiểm tra rất ngặt nghèo những vấn đề khác lại không nhìn thấy một lô hàng to như vậy và nguy cơ phá hoại đất nước lớn đến như vậy ? 
Lần này khi vụ việc xảy ra ở một nước có hệ thống luật pháp được quốc tế hóa như nước Anh này, hi vọng trong quá trình điều tra và xét xử sẽ có nhiều điều được tiết lộ cho báo chí để giải đáp câu hỏi này, và mối quan tâm của dư luận quốc tế có thể tạo đủ áp lực để khiến chính quyền Viêt Nam tự bảo vệ môi trường sống cho người dân tốt hơn.



---

Xử người Việt trồng cần sa ở Ireland
Xem hình
Hình minh họa.
Thẩm phán một tòa án tại Ireland cho biết năm người, trong đó có ba người Việt, bị xét xử tội trồng cần sa trị giá hơn 900 ngàn euro, sẽ phải chịu án treo.
Thẩm phán Tony Hunt tuyên bố tại tòa Portlaoise Circuit rằng ba người Việt hiện đang bị giam giữ sẽ có thể nhận bản án tù treo vào tháng Mười, nếu họ rời khỏi Ireland, còn hai người Ireland hiện đang tại ngoại cũng sẽ bị án treo cùng với việc phải lao động công ích với số giờ tối đa.

Năm người này đã ra trước tòa về các cáo trạng tội trồng và sở hữu cần sa để bán từ hai căn nhà riêng biệt bị phát hiện tại Laois hồi năm ngoái, theo báo Irish Times.

Số lượng cần sa được trồng, trị giá khoảng 465.600 euro, đã bị phát hiện tại một nhà kho ở Kyletalesha, quận Portlaoise, và một lượng cần sa khác, gồm cả cây đang trồng và đã được thu hoạch, trị giá 435.600 euro, được tìm thấy ở một nhà thuê tại Killenard.

Năm người liên quan tới cáo trạng và phát hiện này gồm Cao Huy Cường (Cương? 54 tuổi), Nguyễn Thị Hoa (Hòa? - 41 tuổi) và Nguyễn Huy Trọng (37 tuổi), theo tờ Irish Times hôm 17/5.

Cùng họ còn có Philip Shanahan (35 tuổi) ở Kyletalesha, quận Portlaoise, và John Cummins (35 tuổi), ở Ard Evan Rise, quận Monasterevin cũng bị xử.

Vị thẩm phán nói trồng cần sa không phải là giải pháp thích hợp cho những người có khó khăn về tài chính và có ý nói rằng khi năm người này ra trước tòa vào tháng 10, ông sẽ quyết định án treo với những người Việt nếu họ ở vị thế có thể rời khỏi Ireland và họ sẽ không được phép trở lại đây trong vòng 10 năm.

Ông cũng sẽ tuyên án số giờ lao động công ích và án treo ở mức tối đa với hai người Ireland và nói rằng ông không tin là bỏ tù họ sẽ đem lại lợi ích gì cho cộng đồng.

Hiện tượng phổ biến


Tháng trước, cảnh sát ở thành phố Melbourne của Úc cho biết đã phát hiện hơn 5000 cây cần sa ở nhiều ngôi nhà với tổng trị giá lên tới 20 triệu đôla Úc, trong đó 11 người đã bị bắt ở 29 địa điểm và vụ này được cho là có liên quan đến người Việt.

Hồi năm 2010 cũng chứng kiến một vụ truy quét tương tự được cho là lớn nhất trong lịch sử tiểu bang Victoria, Úc, với 43 người bị bắt và gần 8000 cây cần sa được thu gom ở 68 địa điểm.

Tại châu Âu, người Việt dính vào nhiều vào các đường dây trồng cần sa trong nhà ở những nước như CH Czech, Ba Lan, Slovkia, Anh và cả ở Bắc Âu.

Tại Anh, báo chí đăng tải hồi tháng 11 năm ngoái, ba người Việt nhập cư lậu đã phải chịu án tù sau khi thừa nhận liên quan tới một xưởng trồng cần sa trị giá nửa triệu bảng Anh tại vùng đông bắc nước này.

Tại xưởng của ba người này, khoảng 1000 cây cần sa đã bị phát hiện hồi tháng Bảy 2011 trong một ngôi nhà ở ngoại vi thị trấn Hartlepool, Anh Quốc.
(Theo BBC Vietnamese)

Gánh hát Sơn Ðông : Chết bệnh Già Chứ Không Phải Chết Vì Thuốc!

Gánh hát Sơn Ðông

Nhân đọc Blog Bolsa Người Việt ngày 11 Tháng Năm, 2012:
“Khoảng 11 giờ sáng, giường bên cạnh người nhà tôi có bệnh nhân mới. Ông ngồi xe lăn, khoảng 60, mặt sưng, hai mắt quầng tím. Vì mới vào nên ông phải trả lời những câu hỏi của y tá.
Y tá: Tại sao ông vào đây?
Bệnh nhân: Tôi bị tiểu đường, sáng nay chóng mặt bị té.
Y tá: Ông có thường đo đường ở nhà không?
Bệnh nhân: Có, nó khoảng trên 200.
Y tá: Ðường của ông bây giờ là gần 600. Gần đây ông có uống thuốc gì không?
Bệnh nhân: Có, cả tuần nay tôi uống dược thảo của bác sĩ...
Y tá: Thuốc có toa bác sĩ không?
Bệnh nhân: Dạ không!
Y tá: Không có toa bác sĩ sao ông dám uống?
Bệnh nhân: Tui nghe quảng cáo hay quá mà cô, bệnh gì cũng hết. Cái ông bác sĩ còn nói, nếu không hết đem lại họ trả tiền cho. Mà còn có mấy người uống rồi gọi vào nói là bớt đến 90% mà cô.
Y tá: Rồi ông có thấy bớt không?
Bệnh nhân: Bớt thì tôi vô đây làm gì cô?”
Tôi xin có hai câu hỏi:
1.Công ty giày thể thao Skechers vừa đồng ý trả $40 triệu tiền phạt để bồi thường cho khách hàng đã quảng cáo vô căn cứ rằng kiểu giày Shape-ups của họ giúp người ta giảm được cân và mông đùi bụng được săn chắc hơn. Tuy nhiên chưa có ai chết vì mang giày Sketchers. Nếu tôi chết vì uống thuốc theo lời quảng cáo, có được bồi thường không?
2.Chúng ta chê người trong nước vô cảm, đạp lên nhau mà sống, nhưng ở hải ngoại, vì lợi nhuận, tán tận lương tâm, chúng ta lợi dụng sự khờ dại của đồng bào, nhất là giới cao niên để làm giàu, điều đó có đáng lên án không?
**
Hồi còn nhỏ, cũng như bạn bè đồng lứa tuổi, tôi rất thích khỉ và khoái xem làm trò khỉ. Nhà ai có nuôi khỉ là chúng tôi rủ nhau đi xem và tìm cách đến gần, thừa lúc chủ nhân không để ý, không thọc que thì cũng tìm cách trêu chúng, làm khỉ tức giận nhe răng hoặc nhảy chồm tới tấn công đám chọc phá. Nhưng khoái nhất vẫn là chuyện đi xem trò khỉ của những đám Mãi Võ Sơn Ðông. Nhà ở gần chợ, cứ mỗi chiều nghe tiếng trống, tiếng xập xỏa vang lên ở phía đầu chợ là tôi đã nhanh chân chạy ra nhập bọn với những khán giả đang ngồi dưới đất, vây quanh nhóm mãi võ đang thúc những hồi trống rộn rã để chiêu dụ khách hàng đến xem khỉ làm trò, xem ông võ sư múa đao, nghe quảng cáo thuốc và mua thuốc đem về.
Khi tôi đến nơi thì đám khán giả coi chừng đã đông, người lớn đứng vây quanh lố nhố, còn bọn trẻ con lem luốc chúng tôi thì ngồi bệt xuống đất. Ông “võ sĩ” to mập người Tàu, đeo dây lưng đỏ, mặc áo quần chẽn, trong khi miệng y hô lớn: “Xê da! Xê da!” thì trong tay y đang quay vòng tròn một sợi dây thừng lớn, mà đầu dây treo một miếng vải đỏ để mở rộng vòng đai khán giả. Lũ trẻ đang lết tới, chăm chú nhìn vào con khỉ mặc bộ đồ đỏ, đội nón đỏ đang ngồi nhai đậu phọng trên một chiếc lồng, sợ hãi dạt hẳn ra. Tiếng trống dồn dập hối thúc mời gọi nên chẳng mấy chốc đám đông khán giả tò mò đến đứng vây quanh đã khá đông. Buổi diễn bắt đầu bằng một trò khỉ khi con khỉ nhe răng đạp một chiếc xe đạp tí hon chạy vòng quanh trước mắt chúng tôi, dù không ai “xin một tràng pháo tay” chúng tôi cũng vỗ tay reo hò ầm ĩ. Tiếp theo, ông “võ sư” người Tàu múa một bài võ, nhào lộn hai vòng, xong đứng bật dậy, cung kính vòng tay cúi đầu chào bà con lúc bây giờ đã đứng nghẹt cả một khu chợ. Theo sự hướng dẫn của ông võ sư, con khỉ cầm cái thau nhôm móp méo đi một vòng xin tiền, nhưng phần lớn số tiền thu được chỉ là bạc cắc.
Nhưng đây mới là phần cốt lõi của chương trình:
-“Kính thưa quý bà con, cô bác, nam phụ lão ấu. Chúng tôi từ bên Sơn Ðông, nước Tàu mới sang xin trân trọng giới thiệu với bà con ba thứ thần dược gia truyền nổi tiếng bảy đời của chúng tôi, thứ nhất là “Bổ Huyết Khu Phong,” thứ hai là “Dầu Gió Thần Dược,” thứ ba là thuốc “Ðả Trật Kim Hoàn”. Dứt một câu ngắn, viên phụ tá của y, một ông già cao lêu khêu lại đánh một hồi trống và cậu bé trong đoàn sử dụng chập chõa inh ỏi cả một góc phố.
Ðể chứng minh cho thần dược “Bổ Huyết Khu Phong,” ông võ sư lấy ra một cái ống nghiệm đựng một dung dịch màu đen kịt đưa qua đưa lại trước mắt cho bà con xem:
-“Ðây là máu huyết của bà con, cô bác đang bị bệnh. Ðêm mất ngủ, ngày biếng ăn, tứ chi bải hoải, nhức đầu chóng mặt, da khô, mắt mờ, kinh nguyệt không đều, toàn thân nhức mỏi, ăn uống không tiêu, thần suy thận yếu, ho khan, tức ngực... Bệnh đã ăn sâu vào nội tạng, phải mau mau cứu chữa. Chúng tôi ở bên Tàu gia đình cha truyền con nối, trăm đời phúc đức nguyện làm phước cứu người, độ thế. (Lùng tùng xèng!)”
-“Ðây là chai thuốc Bổ Huyết Khu Phong, thần dược gia truyền của chúng tôi...” (Lùng tùng xèng!)
Y mở một chai thuốc có dán nhãn hiệu, lắc mấy cái và giải thích:
-“Ðây là chai thuốc Bổ Huyết Khu Phong, bổ máu mà trừ độc, uống vào tới đâu, máu huyết trở nên hồng hào, tật bệnh tiêu trừ tới đó.” (Lùng tùng xèng!)
Vừa nói, y vừa từ từ rót chai thuốc vào cái ống nghiệm mà y gọi đó là máu huyết của người bệnh. Nước thuốc trong chai “thần dược” chảy đến đâu, phần máu đang đen kịt hóa thành màu đỏ đến đó. Khán giả vỗ tay rần rần. Võ sư đắc chí gào lớn:
-“Công hiệu như thần! Công hiệu như thần! Mại dô! Mại dô! Ðây ông mua một chai 3 đồng, bà mua hai chai chỉ có 5 đồng! Mua mau, mua mau!”
Hồi nhỏ tôi không biết gì về chuyện cò mồi, nhưng thấy có hai thanh niên đứng gần đó móc túi mua ba chai thuốc. Ông võ sư cầm trong tay mấy chai thuốc vừa đi quanh vừa hô lớn, mời mọc, khi ôn tồn nhỏ nhẹ, khi la lớn như khủng bố tinh thần người mua, chẳng mấy chốc đã bán được hơn mười chai “Bổ Huyết Khu Phong”.
Ðến màn thứ hai để quảng cáo cho những chai dầu gió Thần Dược, là phần tôi rất khó quên, là những bài học ca dao “đầu đời” bình dân, đầy vần điệu do ông thầy võ múa máy, ngâm nga lớn tiếng:
-“Ðàn bà đau bụng chổng khu,
Xức vô một tí, xách cái dù đi chơi!”
-“Ðàn bà chồng bỏ chồng chê,
Xức vô một tí, chồng mê về liền!”
Lẽ cố nhiên là sau mỗi câu lục hay bát có tiếng trống, chập chõa phụ họa, làm cho những câu thơ trở nên sống động lạ kỳ. Ông võ sư cầm một ve “Dầu Gió Thần Dược” đi vòng quanh mời bà con xức thử mỗi người một tí, lẽ cố nhiên lũ nhóc chúng tôi rất thèm được thử xem mùi vị thế nào nhưng chẳng bao giờ được thỏa mãn. Lại có người móc túi mua dầu, đây cô Hai một chai, dì Tư hai chai!
Quảng cáo cho món thuốc “Ðả Trật Kim Hoàn” là một màn kịch câm. Ông Võ Sư đưa vai trái cho ông già phụ việc đánh một hèo gỗ thật mạnh, có lẽ đau lắm, vì tôi nghe ông này la lên một tiếng thật lớn. Cởi áo, chìa cái vai vừa bị đánh ra, khán giả thấy vai võ sư bầm tím. Y đi một vòng chìa cái vai bị đánh ra cho mọi người cùng trông thấy, mặt nhăn nhó như đang bị đau đớn lắm. Sau đó, y lấy một chai dầu nhỏ để trên chiếc bàn nhỏ, đổ dầu ra bàn tay, xát mạnh lên vai nhiều lần. Chỗ đau đang đỏ bầm chẳng mấy chốc trở lại màu da thường như cũ, y cười nhăn nhở trong khi chiêng trống lại khua inh ỏi. Bọn trẻ lại ồn ào vỗ tay tán thưởng. Bấy giờ ông võ sư mới bắt đầu mở miệng, trở lại rao hàng:
-“Ðả trật kim hoàn là môn thuốc thần trị trặc xương, bong gân, sưng khớp hiệu nghiệm như thần. Bị đánh đập, té bổ thương tích, đau đớn vô cùng, dùng Ðả Trật Kim Hoàn như thuốc tiên, cam đoan không lành chúng tôi xin trả lại tiền! (Lùng tùng xèng!)
Có lẽ để cho lũ khán giả con nít không tiền mua thuốc chúng tôi đỡ nhàm chán, đám Sơn Ðông Mãi Võ lại cống hiến trò khỉ đánh trống, đi xe đạp, xong lại tiếp tục rao hàng bán thuốc. Tôi thường mải mê xem đám xiệc này cho đến lúc tan buổi diễn, nếu không có bà chị đi tìm, xách tai kéo về vì đã đến giờ cơm.
Bà mẹ tôi đi chợ, thường thích dừng lại đám mãi võ nghe lời quảng cáo, bùi tai, mua các loại thuốc “Sơn Ðông” này mang về nhà, phần ông bố tôi không bao giờ tin, có lần giận vợ, ông đã quăng mấy chai thuốc mẹ tôi đã mang về, ra vườn. Ông cho chúng tôi biết đó là Tàu Chợ Lớn chuyên bán hàng giả, lừa bịp thiên hạ, chẳng phải thuốc gia truyền gì cả! Câu nói tôi vẫn còn nhớ mãi của ông là: “Không chết vì bệnh, mà chết vì thuốc!”
Cho đến lúc về già, hồi tưởng lại những gánh Sơn Ðông Mãi Võ qua tỉnh lỵ những ngày thơ ấu, tôi còn tưởng như nghe bên tai tiếng rao hàng dõng dạc của ông võ sư người Tàu, tiếng trống chiêng khua inh ỏi và hình ảnh chú khỉ mặc áo quần đỏ nhe răng, nhảy nhót làm trò năm xưa. Tôi tiếc cho con cháu thời đại hôm nay không được hưởng những giây phút hồi hộp vui tươi mỗi khi có gánh mãi võ đi ngang qua nơi mình ở. Thời đại tân tiến này, con cháu chúng tôi hay cả quý vị cao niên, xem hay nghe quảng cáo “cao đơn hoàn tán” trên TV hay đài phát thanh thì chán chết!
Có điều tôi xin hứa với con cháu và bạn đọc thân mến, nếu mai này có chết, tôi sẽ chết vì bệnh hay già, chứ không phải chết vì thuốc!

 Tạp ghi Huy Phương

Một nụ cười cho tôi sống một ngày

]
Kể từ một tháng nay tôi “ghiền” chạy bộ. Mưa gió hay cảm thấy mệt mỏi đến đâu, tôi cũng đều cố gắng chạy. Sáng không chạy thì chiều cũng chạy. Phần thưởng dành cho tôi thật lớn: lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức bình thường.
Cách đây ba năm, đọc kết quả thử máu của tôi, bác sĩ gia đình của tôi giữ tôi lại và bắt tôi nốc nguyên một ly nước đường. Hai tiếng đồng hồ sau tôi trở lại để thử máu. Sau khi coi kết quả, như một quan tòa, bác sĩ dõng dạc “tuyên án”: ông bị tiểu đường lọai 2. Tôi thấy rụng rời tay chân. Nghĩ đến những người có đôi bàn chân tím ngắt hoặc bị cưa chân, cụt ngón hoặc bị mù lòa, tôi thấy như trời sắp đổ xuống trên tôi.
Bác sĩ cho toa để tôi mua thuốc Diaformin và dụng cụ thử máu mỗi ngày. Thử máu thì tôi thử nhưng uống thuốc thì tôi gật đầu cho có lệ. Mua thuốc về, tôi cất kỹ trong tủ. Tôi đã có kế hoạch tự chữa bệnh của mình: kiêng cữ và tập thể dục. Đây là hai “liều thuốc” có sẵn trong tầm tay và chẳng tốn kém bao nhiêu mà lâu nay tôi xem thường. Thế là trong một tháng liền, tôi ăn uống theo đúng sách vở dành cho những người bị tiểu đường và tập thể dục mỗi ngày. Lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức của một người bị tiểu đường được coi là “kiểm soát” một cách “rất tốt” (very good diabetic control). Đúng một tháng sau, tôi đi gặp bác sĩ và khoe thành tích của mình. Bác sĩ khen lấy khen để. Nhưng thói thường, sự tự mãn dễ làm cho con người vấp ngã. Tưởng mình đã thoát khỏi nguy biến, tôi bắt đầu lơ là trong việc kiêng cữ và tập thể dục và cũng chẳng thèm thử máu thường xuyên làm gì cho “tốn” máu.
Cách đây một tháng, tôi xin thử máu tổng quát và trở lại gặp bác sĩ. Lần này, khi bác sĩ cho xem kết quả thử máu, tôi mới tá hỏa tam tinh. Lượng đường trong máu của tôi lên cao chưa từng thấy. Bà bác sĩ trẻ người Tàu lại cho toa mua thuốc và nắm tay tôi dặn dò rất kỹ: ông phải uống thuốc! Bà còn trấn an tôi: có người uống thuốc ba lần một ngày có sao đâu!
Lần này thì tôi “vâng lời” bác sĩ và uống đúng ba ngày. Lượng đường có xuống, nhưng bù lại tôi phải chịu một số hiệu ứng phụ như chóng mặt, muốn mửa. Cứ tưởng suốt những năm tháng cuối đời phải lệ thuộc vào thuốc và sống trong tình trạng này tôi thấy lo. Tôi tự trách mình: không chịu kiêng cữ trong việc ăn uống và ngồi quá nhiều trước màn ảnh vi tính. Hình ảnh của cha tôi lại hiện về. Suốt một đời, cha tôi không hề biết đến một phòng mạch của bác sĩ hay bất cứ một viên thuốc Tây nào. Hết ra ruộng, cha tôi lại làm vườn và đi bộ. Mỗi ngày, sau bữa ăn chiều, ông uống ba viên thuốc lô hội (Aloe vera) mua trong tiệm thuốc Bắc. Sau 75, thiếu thốn mọi bề, vậy mà cha tôi cũng trở thành người thọ nhứt trong làng và qua đời ở tuổi 95.
Không biết có nhờ cha tôi phù hộ không mà trong những ngày xuống tinh thần nhứt vì biết mình bị tiểu đường, trong khi tìm hiểu về căn bệnh này, tôi đọc được trong tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu, số ra tháng Tư vừa qua, một bài viết về “5 thực phẩm có thể cứu thế giới” (five foods that may save the world). Đứng hàng thứ hai trong 5 thực phẩm “cứu rỗi” này là trái khổ qua (người miền Bắc Việt nam gọi là mướp đắng. Trong Anh ngữ, trái này có tên là Bitter Melon). Trái khổ qua có chứa chất “charantin” có khả năng giúp tiếp nhận Insulin do tuyến tụy tiết ra và điều hòa lượng đường trong máu. Năm 2007, Bộ Y Tế của Phi luật tân đã công nhận dược tính trên đây của trái khổ qua và cho áp dụng vào việc chữa trị bệnh tiểu đường loại 2.
Như lênh đênh giữa biển khơi mà quơ được phao cứu hộ, tôi liền ngưng uống Diaformin và thử dùng trái khổ qua. Sẵn dịp một ông bạn tặng cho một mớ khổ qua loại cực kỳ đắng và trồng theo phương pháp tự nhiên, nghĩa là không dùng phân hóa học hay thúc cho mau lớn, tôi liền bắt tay vào việc tự chữa trị. Mỗi ngày tôi ăn sống nửa trái. Đắng cỡ nào tôi cũng rán nhai và nuốt. Ngoài ra tôi cũng tìm mua trà khổ qua để uống mỗi ngày thay nước.
Sau đúng 3 tuần lễ ăn và uống trà khổ qua, cộng với kiêng cữ và chạy bộ mỗi ngày, lượng đường của tôi đã xuống đến mức của một người không bị tiểu đường.
Tôi không biết yếu tố nào mang lại kết quả trên đây. Tôi tin ở phép lạ của trái khổ qua. Tôi cũng nhìn thấy hiệu quả của sự kiêng cữ. Nhưng phần thưởng lớn nhứt tôi lại gán cho một giờ chạy bộ mỗi ngày. Với tôi, chẳng có thuốc tiên nào có thể thay thế cho sự kiên trì vận động. Một giờ chạy bộ mỗi ngày cũng mang lại cho tôi một niềm vui đủ lớn để sống một ngày.
Người Úc trong vùng tôi ở rất thích thể dục. Bờ hồ gần nhà tôi có lẽ là nơi gặp gỡ nhộn nhịp nhứt vào buổi sáng và buổi chiều. Xung quanh bờ hồ sát gần mé nước với chu vi cũng đến cả hơn chục cây số có một con đường xi măng chỉ dành riêng cho người đi bộ và xe đạp. Một giờ chạy bộ với tốc độ vừa phải của một người đã “thấy đời xanh rêu” như tôi chỉ vừa đủ để chào hỏi chừng 2,3 chục người đi hoặc chạy bộ mỗi buổi sáng. Chỉ cần một cái gật đầu, một lời chào và nhứt là một nụ cười thôi cũng đủ cho tôi thấy muốn sống một ngày. Người Úc ở vùng tôi sống, ai cũng có thói quen chào hỏi người xa lạ. Hầu như ngày nào tôi cũng tính nhẩm: có đến 99 phần trăm những người tôi gặp khi chạy bộ đều dành cho tôi một câu chào hỏi, dĩ nhiên theo một công thức quen thuộc và hơn một nửa sẵn sàng nhoẻn miệng cười. Nhưng trong số những người tôi gặp mỗi ngày, cảm động nhứt vẫn là nụ cười của một cụ già ngày nào cũng ngồi chờ ở trạm xe buýt gần khu tôi ở. Tôi đoán có lẽ cụ là cư dân của khu “tự lo” (self care) trong viện dưỡng lão cũng gần nhà tôi. Ngày nào cũng vậy, hễ mỗi lần thấy tôi chạy qua trước mặt, cụ đều chào hỏi, kèm với một nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ và nhứt là đưa tay như ra hiệu khuyến khích tôi chạy cho khỏe. Tôi “ghiền” chạy bộ mỗi ngày có lẽ cũng vì nụ cười của cụ già này.
Tôi đọc được ở đâu đó một giai thoại về văn hào Pháp Antoine de Saint Exupéry. Ông từng là một phi công trong thời Đệ nhị thế chiến. Chính từ những năm tháng này mà ông đã viết ra truyện ngắn có tính tự thuật với tựa đề “Nụ cười” (Le sourire). Trong câu truyện, ông thuật lại việc ông bị quân Đức quốc xã bắt làm tù binh và bị đối xử một cách tàn bạo. Ông viết: “Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm quẹt. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một cai tù. Tôi gọi: “Xin lỗi, anh có lửa không?”...Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là một viên cai tù Phát xít nữa, mà chỉ còn là một con người. Anh ta hỏi tôi: “Anh có con chứ?” Tôi đáp: “Có” và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khóa và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười” (x. Hanoch McCarty, Short Stories to warm the heart).
Tôi vẫn luôn tâm niệm về những gì người ta thường viết về nụ cười. “Giá của một nụ cười rẻ hơn tiền điện, thế nhưng nụ cười tỏa sáng nhiều hơn hàng trăm bóng đèn. Không ai nghèo đến nỗi không thể nở nổi một nụ cười. Cũng chẳng ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác. Một nụ cười, vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.
Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí hoang mang.
Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi lẽ không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười” (khuyết danh).
Dĩ nhiên, cười cũng có 36 vạn cái cười khác nhau. Có cái cười phải trả bằng cái giá của cả một đế quốc như cái cười của nàng Bao Tự thời Đông Chu liệt quốc. Có cái cười của bạo chúa Nero khi cho nổi lửa đốt thành Lamã để có cái cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi...Gần đây, có cái cười chỉ có thể làm cho thế giới văn minh muốn nôn mửa đó là cái cười của những tên khủng bố người Nam Dương khi ra trước tòa để bị xét xử vì tội đặt bom sát hại những người vô tội.
Nhưng loại bỏ những cái cười ngạo nghễ, độc ác và điên cuồng ấy đi, người ta thấy nụ cười nào cũng đều là gạch nối tự nhiên giữa con người với nhau. Cười là muốn đi vào cái phần sâu thẳm nhứt của tâm hồn mà không gì có thể đạt tới được. Cười có sức tước đoạt mọi vũ khí tàn độc nhứt trong con người. Bên dưới cái vỏ ngụy tạo của mỗi người là một “cung thánh” bất khả xâm phạm. Đó là nơi duy nhứt để gặp gỡ nhau, liên kết với nhau bên kia ranh giới của hận thù, đố kỵ, sợ hãi hay chiến tranh. Chính nơi đây mà văn hào Saint Exupéry và người cai tù Phát xít đã gặp nhau và gặp nhau nhờ một nụ cười.
Tác giả Hanoch McCarty, khi bình về truyện ngắn “Nụ cười” của Saint Exupéry, đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao chúng ta cười khi gặp một bé thơ?” Và tác giả đã trả lời: “Có lẽ vì chúng ta thấy được một tâm hồn tinh sạch không vướng mắc trong bất cứ một lớp vỏ bọc nào. Chúng ta biết và cảm thấy nụ cười của trẻ thơ là một nụ cười chân thực, không lừa dối và tâm hồn trẻ thơ trong chính chúng ta mỉm cười đáp trả một cách say sưa”.
Nụ cười chân thực luôn có tính lây lan.Thấy ai đó cười một cách chân thực, chúng ta không thể không cười đáp trả. Tôi thường nghĩ đến nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Nhìn ngài, tôi mới hiểu được hình tượng của Phật Di Lặc. Tôi cho rằng với Phật Giáo, đời không chỉ là bể khổ. Đời cũng đáng để vui hưởng, để cười và để trao cho nhau nụ cười hơn là thù hận hay buồn phiền.
Nhìn nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tự dưng tôi cũng muốn làm một phật tử. Dĩ nhiên theo cách thế của tôi hay ít ra theo tinh thần của nhà lãnh đạo tinh thần này. Cuộc sống có quá nhiều phúc lành cần được vui vẻ đón nhận và chia sẻ với mọi người. Ngay cả bệnh tật, xét cho cùng, cũng là một phúc lành. Nhờ nó mà ta biết cảm thông với người khác hơn. Nhờ nó mà ta cũng biết cảm thông với bản thân hơn. Và dĩ nhiên, cũng nhờ nó mà ta được tôi luyện để biết mỉm cười với cuộc đời.
Chu Thập

“Việt Cộng Con”?


Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc.


Đương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi.
Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.
Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại:
“Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy.”
Tức là, tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên... “Việt Cộng Con”?
Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Đến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có "hộ khẩu", phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây... Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh dành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.
Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ, con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.
Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám dành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá, vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới... mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người Miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở Miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò... Đã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.
Đến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những “Món Ngon Miền Nam”. Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ "Miền Nam" đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.
Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn Miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở Miền Nam đem ra Bắc bán nữa.
Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sàigòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.
Vào tới Sàigòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được gọi là "lãnh đạo cơ quan" mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy đuợc nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: "Cái đồ Bắc Kỳ... thấy ghét"
Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.
Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao nhưng lại nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng thật là hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng ra, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Đa số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiền nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về Tài chánh ở trường Đại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.
Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đưởng nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông Giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì Giảng viên này gốc ngưởi Ấn Độ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.
Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.
Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.
Tôi mua vé máy bay về Sàigòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm dùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.
Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăn trối của vợ ông trước khi chết.
Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng bĩết tôi là ai?
Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Đang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sàigòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.
Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một Chuẩn Úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở Tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.
Về lại Sàigòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Đảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.
Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.
Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Đảo San Hô:
“Thật là... Hoành Tráng chưa từng thấy. Đi xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán Khuyến mãi, thích ghê..”
Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạnthân của Thanh đã hỏi thẳng tôi:
“Cô là... du học sinh hả? Lấy chồng già để... được ở lại Úc hả?”
Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh:
“Mày lấy... Việt Cộng Con đấy à?”
Tôi nghe Thanh trả lời:
“Đâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”
Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi:
“Ông Hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định... có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định... đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”
Tôi ngần ngừ nói với Thanh:
“Anh ơi... nếu thấy khó khăn quá, hay là... mình đừng có lấy nhau nữa... Sao họ lại... kỳ thị với em như vậy? Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?”
Thanh an ủi tôi:
“Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu, nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”
Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói:
“My... baby brother”
Những người bạn chúc mừng Thanh... “Đáo Mã Thành Công”.
Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi giây mà hỏi tôi:
“Cái gì vậy?”
“Dây chuyền hộ mạng của em đấy.”
“Đẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”
Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi giây chuyền cho tất cả cùng nghe:
Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Đó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.
Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Đến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không dược hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Đến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chỉa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.
Đến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là “Cổng Trời”.
Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là “Biệt Kích Miền Nam” được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.
Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực xâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói:
“Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.”
Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.
Năm 1979, khi Trung cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.
Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:
“Gia đình của chị bị đưa đi... vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à?Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu Tự Do, còn sống được cho đến ngày hôm nay.”
Tôi mỉm cười nói thêm vào:
“Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm Tự Do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được Tự Do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”
Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là “Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ”.
Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng Luật Sư của người Việt để xin làm Điện Thoại Viên. Ông Luật Sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi:
“Để chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác”
Tôi thông cảm với ông Luật sư, mọi người vẫn còn... ác cảm, còn... kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.
Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.
Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi:
“Người ta nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm nguời mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt cộng thường dùng, ngay cả những người Miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em.
Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng... Hoành Tráng, đừng... Bức Xúc nữa, có được không?”
Tôi suy nghĩ... Đúng! Chồng tôi nói đúng.
Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.
Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc kỳ chín nút tức là Bắc kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.
Bây giờ, tôi không còn... “Xử Lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.
Đôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con”
Nhưng họ nói chỉ để mà đùa dỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.
Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe:
“Con là con của “Lính Cộng Hòa” mà!”
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Trung quốc và Việt Nam đang đi đến những ngày phán xét cuối cùng.

Một phút mặc niệm cho người nữ anh hùng
Ls Lê Đức Minh
 
Ngày 10/5/2012 sẽ mãi mãi đi vào lịch sử hiện đại của Trung quốc như một trong những ngày đen tối nhất đối với nhà cầm quyền cộng sản. Lần đầu tiên trong lịch sử một phụ nữ nông dân Trung quốc đã thực hiện một cuộc đánh bom tự sát để nói lên sự uất hận của tầng lớp nông dân Trung quốc trước lòng tham vô đáy của đám quan lại mới mang danh cộng sản. Tiếng bom của chị hy vọng cũng sẽ làm thức tĩnh những ai còn mơ màng đến một thiên đàng xã hội chủ nghĩa.
Người phụ nữ đó không phải đến từ bộ lạc Uyghur từ lâu đã là kẻ thù của Bắc Kinh do những hoạt động đòi ly khai. Người phụ nữ đó cũng không phải đến từ Tây tạng, vùng đất thiêng liêng đang rên siết dưới ách cai trị của Bắc Kinh. Người phụ nữ đó chỉ là một phụ nữ nông dân bình thường như hàng triệu những người nông dân khác đang căm hận vì bị chế độ cộng sản dùng vũ lực tước đoạt hết đất đai
Sự việc xảy ra tại một vùng quê xa xôi hẻo lánh vùng Tây Nam tỉnh Yunnan.
Tiếng bom của chị đã làm bùng lên những tranh luận sôi nổi truyền qua mạng internet như một trận cuồng phong. Mọi người đều thể hiện sự ủng hộ với hành động của chị và bày tỏ sự căm hờn trước chính sách cướp đất vô nhân đạo của chính quyền cộng sản. Không may vụ nổ bom đã làm bốn người khác thiệt mạng và 16 người khác bị thương, trong đó có 4 người bị thương nặng. Trong khi chúng ta đau lòng trước cái chết của những người vô tội khác, chúng ta cũng hiểu rằng người phụ nữ đó đã bị dồn đến chân tường. Chị đã không còn con đường nào khác để nói lên tiếng nói uất hận của mình.
Đứng trên phương diện luật pháp, rõ ràng không có ai chấp nhận những hành vi bạo động như thế. Nhưng trong những xã hội mà luật pháp không tồn tại, hay luật pháp chỉ tồn tại trên văn bản, nơi vắng bóng công lý, thì những hành động như thế là phương cách duy nhất để gióng lên tiếng nói của những người thấp bé nhất trong xã hội.
Trước khi vụ nổ bom tự sát này xảy ra, tại Trung quốc, người ta chưa từng nghe nói đến phụ nữ mang bom tự sát. Hình ảnh người phụ nữ mang bom cho nổ tan tành thân xác mình đã khiến tất cả mọi người đặt một câu hỏi: Lý do nào đã khiến chị đi đến quyết định tuyệt vọng đó. Thật ra cũng không khó lắm để tìm một câu trả lời. Đó chính là sự tuyệt vọng nhưng cũng đồng thời là ý chí bất khuất không chấp nhận bạo quyền. Vụ nổ bom tự sát của người phụ nữ Trung Quốc này cũng như tiếng bom của anh Đoàn Văn Vươn là sẽ là chỉ dấu cho thấy chế độ cộng sản tại Trung quốc và Việt Nam đang đi đến những ngày phán xét cuối cùng.
Có những người đã từng hiến dâng hết cả cuộc đời mình cho sự lên ngôi của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam và Trung quốc. Những người đó vẫn đang sống những ngày cuối cùng của cuộc đời mình để hy vọng rằng chế độ cộng sản sẽ thay đổi, sẽ tốt đẹp hơn, để nhìn thấy công bằng cho tất cả mọi người trong xã hội và sự ngự trị của công lý. Tuy nhiên yếu điểm lớn nhất của những người cộng sản đó là sự hoang tưởng. Như một người điên, người cộng sản không bao giờ chấp nhận là mình điên.
Một ngày sau khi vụ nổ bom tự sát xảy ra, chính quyền cộng sản đã sáng tác ra một câu chuyện hoàn toàn khác về người phụ nữ này. Nay thì người phụ nữ đó bỗng nhiên biến thành một thanh niên tên là Zhao Dengyoung. Theo bản tin của chính quyền thì anh thanh niên này đã đến làng Baihetan và thực hiện vụ nổ bom.Tuy nhiên cũng theo tin của chính quyền thì vụ nổ bom này chẳng liên quan gì đến vấn đề tranh chấp đất đai.
Công an địa phương đồ đoán rằng anh thanh niên này đã tiến hành vụ nổ bom để “trả thù xã hội” và trả thù bí thư chi bộ đảng cộng sản địa phương. Công an cũng mô tả Zheo Dengyoung như một tên khùng điên nguy hiểm với một hồ sơ tội phạm dày cộp. Mặc dầu thế không ai nghe nói anh “thanh niên” tên Zheo Dengyoung đã phạm phải những tội gì trong quá khứ. Những người dân địa phương và khu vực lân cận đã không thể nào tin rằng qua một đêm một người phụ nữ nông dân chất phát bỗng biến thành một tên tội phạm ma cà bông đến từ một nơi xa lạ để nổ bom tự sát trong ngôi làng thân quen của họ.
Điều này xem ra nghe rất quen khi chúng ta theo dõi vụ cưỡng chế đất đai ở Văn Giang, Việt Nam khi mà cán bộ chính quyền địa phương đã tuyên bố rằng những thế lực thù trong giặc ngoài đã theo dõi sát vụ cưỡng chế “hòa bình” tại Văn Giang và giàn dựng những video “giả” để bôi nhọ chế độ. Không biết trong thế lực thù trong giặc ngoài này có tên của hai nhà báo mang thẻ đảng đã bị công an đánh cho đến sưng vều cả mặt hay không?
Cũng giống như ở Việt Nam, theo bản tin chính thức của Tân Hoa Xã thì người đánh bom tự sát là Zhao Dengyoung, một người lao động nhập cư và hành nghề đi xe thồ. Trong khi một tờ báo địa phương, tờ Chuncheng Evening News, đăng nguyên một trang tin tức về vụ đánh bom tự sát này trong đó có cả hình của người phụ nữ. Tờ báo này nói chính xác người phụ nữ này sống tại làng Pingzi thuộc huyện Baihetan. Bản tin cũng nói thêm rằng lúc tiến hành vụ đánh bom tự sát người phụ nữ này bồng theo đứa con mới 15 tháng tuổi. Thật kinh khủng! Sự mâu thuẩn giữa những bản tin của chính quyền Trung cộng thật kinh khủng. Tuy nhiên điều này cũng cho thấy rằng không phải ai ở Trung cộng cũng muốn nói và nghe những điều không thật.
Tờ báo địa phương cho biết người phụ nữ dấu trái bom trong mớ khăn tả của đứa bé.
A woman blew herself up in front of an office for a demolition in Baihetan (Qiaojia County, Yunnan).
Cả hai nguồn tin giống nhau ở một điểm là trái bom nổ tung trong trụ sở giải tỏa đặt trong huyện Baihetan, trong khi người dân đang đứng sắp hàng để nhận tiền bồi thường cho đất canh tác của họ bị nhà nước tịch thu do dự án xây dựng một đập thủy điện. Bản tin không nói rõ có bao nhiêu người ở hiện trường.
Thứ năm tuần trước Tân Hoa Xã trích dẫn nguồn tin của một tờ báo ở Kunming, thủ phủ của Yunnan, cho biết người phụ nữ cho nổ trái bom vào lúc 9 giờ sáng sau khi được yêu cầu ký vào đơn tự nguyện di chuyển khỏi mãnh đất của gia đình chị và cho phép chính quyền tháo dỡ ngôi nhà của gia đình trên mãnh đất đó.
Tuy nhiên đến buổi chiều cũng Tân Hoa Xã loan tin rằng cơ quan công an ở vùng Qiaojia đã cho những phóng viên của họ xem cuốn băng video vụ nổ bom trong đó cho thấy chính anh “thanh niên” tên Zhao là thủ phạm vụ nổ bom. Tân Hoa Xã nói rằng cuốn băng video cho thấy anh thnh niên mặc nhiều lớp áo quần mang theo một túi xách trên lưng. Anh ta bước vào văn phòng giải tỏa đất và kích nổ trái bom vào lúc 9 giờ 4 phút.
Chính quyền địa phương nói rằng anh “thanh niên” tên Zhao đã để lại nhiều vết tích DNA và nhà cầm quyền đã thu thập được những bằng chứng này. Tuy nhiên cho đến hiện nay chẳng có nhân chứng độc lập nào cho biết họ thấy anh Zhao xuất hiện ở văn phòng giải tỏa đất sớm ngày hôm đó.
Một phóng viên của báo Hoa Nam Buổi Sáng ở Hồng Kong thì nói họ đã tiếp xúc được với chủ nhà nơi anh thanh niên ở trọ. Người này nói rằng anh Zhao là một thanh niên hiền lành, thật thà, không rượu chè, cờ bạc. Một người hàng xóm cho biết họ rất bất bình thấy nhà nước bịa đặt chuyện anh Zhao nổ bom tự sát ở Baheitan.
Một người dân địa phương là Wang Youngqiang cho biết nếu chính quyền ở Qiaojia không đính chính nguồn tin này ngay lập tức thì những thảm họa khác sẽ tiếp tục xảy ra. Nhưng trưởng công an Qiaojia thì cương quyết bảo rằng chính Zhao là kẻ đánh bom tự sát. Anh ta nói rằng nhân danh đồn công an khu vực, anh ta thề rằng chính Zhao là kẻ đánh bom? Còn có ai khác tham dự vụ đánh bom thì công an vẫn đang điều tra.
Từ tám năm nay khi việc giải tỏa đất ở Qiaojia bắt đầu xảy ra, dân địa phương kêu than rằng tiền bồi thường từ chính quyền địa phương không bằng một phần trăm tiền bán đất sau đó được chính quyền địa phương thu lại. Tuy nhiên cũng như tại nhiều nơi khác ở Trung quốc, những lời than phiền của dân chúng đối với chính quyền như nước đổ lá môn.
Cách đây 3 tuần 1 cư dân vùng Laodian, một làng khác trong khu vực Qiaojia ngã lăn ra chết sau khi bị công an đánh đập do liên quan đến việc biểu tình chống thu hồi đất bất hợp pháp. Cái chết này xảy ra trong trụ sở ủy ban nhân dân huyện.
Trong năm vừa qua vô số những vụ biểu tình chống cưỡng chế đất bất hợp pháp đã xảy ra khắp mọi nơi ở Trung Quốc. Cách đây hai tuần một phụ nữ ở vùng phía Nam của tỉnh Quangdong, thành phố Quãng Châu đã nhảy lầu tự tử để chống lại việc chính quyền địa phương định đập nhà của chị ta.
Cách đây một năm, ở thành phố Fuzhou, phía đông tỉnh Jiangxi xảy ra ba vụ nổ bên ngoài trụ sở ủy ban nhân dân khiến hai người chết và sáu người bị thương. Trước khi đánh bom, người đàn ông tên Qian Mingqi 51 tuổi đã tiến hành một cuộc vận động kéo dài 10 năm nhằm kêu gọi chính quyền đừng đập nhà và tịch thu đất của ông ta để xây đường cao tốc. Ông Qian đã chết tan xác trong vụ nổ bom này.
Tháng 12 năm ngoái, người ta còn nhớ một câu chuyện xảy ra ở làng Wukan tỉnh Quảng đông từng làm mọi người hy vọng về một cuộc cải cách chính trị ở Trung quốc. Nhân dân địa phương đã đứng lên giải tán chính quyền địa phương vì họ cho rằng chính quyền này nhiều năm qua chỉ tập hợp toàn những tay cán bộ tham ô. Người dân cũng tố cáo chính quyền này kết hợp với đám tội phạm và dùng những tay tội phạm này để đánh đập, dằn mặt và cảnh cáo những người chống lại chính quyền.

Tháng Hai vừa qua, cư dân Wukan đã tổ chức bầu cử tự do lần đầu tiên và bầu ra những đại diện mới thay thế chính quyền tham nhũng trước đây. Người ta hy vọng rằng đây có thể là một dấu hiệu tốt cho một làn sóng cải cách chính trị sắp xảy ra tại Trung quốc.
Viện Khoa học Xã hội Trung quốc ước tính rằng có khoảng 6.7 triệu héc ta đất đã bị chính quyền địa phương cưỡng chế trong vòng 20 năm qua. Tuy nhiên cũng theo viện này thì tổng số tiền bồi thường chỉ vào khoảng chưa tới 158.5 tỷ đô la, tức là quá thấp so với giá thị trường của số đất đai này.
Viện này cũng ước tính rằng từ khi kinh tế Trung quốc bắt đầu phát triển vào thập niên 80, có ít nhất 50 triệu nông dân bị mất đất canh tác và những tranh chấp đất đai chiếm đến 65% những cuộc biểu tình khổng lồ tại Trung quốc. Chính thái độ kiêu ngạo của chính quyền và tính chất vô nhân đạo trong chính sách bồi thường sau khi cưỡng chế đã khiến nhiều người Trung quốc không còn con đường nào hơn là nổ bom tự sát.
Cuối cùng vấn đề người nổ bom tự sát ở Yunnan đàn ông hay đàn bà không phải là chuyện quan trọng. Cũng không thành vấn đề việc nổ bom tự sát đó có liên quan đến việc cưỡng chế đất hay không. Bỏ qua những nguồn tin bất cập liên quan đến vụ nổ bom giữa địa phương và trung ương, người ta thấy tồn tại một vấn đề duy nhất đúng đó là tình trạng tham nhũng vô độ và cưỡng chế đất đai trái luật đang hoành hoành trên đất nước Trung quốc.
Cũng như ở Việt Nam, quý vị có tin vào những bản tin chính thức của nhà nước hay không?
_____________________________________________________________
Tài liệu tham khảo
Asia Times, 17/5/2012
VNExpress, 15/5/2012

Bài Xem Nhiều