We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 2 June 2012

Thi Đua Yêu Nước – Trên Lưng Cọp


                 
 Nhạc kịch tại Bắc Kinh tri ân Mao Trạch Đông. Getty Images
Thiên triều bất an trên Thiên cung hỗn loạn
Mao Trạch Đông là người có công! Ông giải phóng Trung Quốc khỏi nạn ngoại xâm và xăn tay áo tái thiết đất nước theo kiểu riêng. Kết quả, công đó thành công cốc.
Ba chục năm lãnh đạo của ông khiến Trung Quốc lụn bại trong chế độ bế môn toả cảng để tự cung tự cấp như nhiều Hoàng đế khác đã áp dụng trong lịch sử. Sự hoang tưởng của Mao chỉ kém thủ đoạn chính trị của ông, với vụ Cách mạng Văn hoá Vô sản Vĩ đại nhằm loại bỏ mọi chính kiến khác ở trên thượng tầng lãnh đạo.
Bị mê hoặc bởi chủ nghĩa cộng sản nhiều người không nhìn ra một thủ thuật cũ: lãnh đạo huy động quần chúng u mê đi làm cách mạng cho mình.
Từ Hy Thái hậu và các cận thận thủ cựu của bà cũng từng làm như vậy với "Nghĩa hoà đoàn" để tấn công các thế lực ngoại bang hầu củng cố quyền lực của mình trước đề nghị cải cách của các phần tử tiến bộ hơn. Kết cuộc vụ "Loạn quyền phỉ" này (Boxer Reebellion, kéo dài từ 1898 đến 1901) khiến triều Thanh càng khủng hoảng - và 10 năm sau thì sụp đổ.
Lần này, 10 năm hỗn loạn của cuộc "Đại văn cách" (1966-1976) - khi quần chúng ngoài đảng và đám con nít nhi nhô được Mao và tay chân thân tín huy động để tấn công đảng - khiến lý tưởng cộng sản trở thành vô nghĩa. Uy tín của Đảng Cộng sản Trung Hoa sa sút nặng.
Khi giành lại quyền bính năm 1978 và tiến hành cải cách năm sau, Đặng Tiểu Bình tìm ra một lẽ chính đáng khác cho quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng: đem lại áo cơm cho người dân.
Người ta coi là ông đã thành công và cả thế giới trầm trồ ngợi khen phép lạ kinh tế lẫn uy thế rất lớn của Trung Quốc. Thế vận hội Bắc Kinh 2008 và việc kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản vào năm 2010 để đứng hạng nhì thế giới là những điều khó phủ nhận. Và thường được đảng nhấn mạnh, được truyền thông quốc tế ca tụng.
Nhưng chính là chiến lược tập trung kiểm soát chính trị và áp dụng quy luật thị trường có chọn lọc đi cùng việc tản quyền cho các địa phương được linh động kiếm tiền lại gây vấn đề. Lợi thế của chiến lược xiết chặt chính trị và thả lỏng kinh tế đã đi hết sự vận hành dễ dãi lúc ban đầu.
Những người thấy ra điều ấy là thế hệ lãnh đạo thứ tư, Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo....
Sau ba thế hệ - Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân - thế hệ Hồ-Ôn này không thuộc vào xu thế "cách mạng" mà là loại kỹ sư có tinh thần thực tiễn và ít lý luận duy ý chí. Họ thấy ra ưu điểm của cải cách, nhưng cũng nhìn thấy nhược điểm của chiến lược mở cửa.
Nhờ mở cửa buôn bán với bên ngoài, kinh tế có tăng trưởng cao hơn trước. Nhưng đấy chỉ là một áp dụng trễ của chiến lược Đông Á nhằm phát triển xuất cảng. Nhật Bản, Nam Hàn hay Đài Loan đều tạo ra phép lạ như vậy và cũng từng bị khủng hoảng. Mấy quốc gia đó lại thuần chủng (Nhật) hoặc có lãnh thổ rất hẹp (trường hợp hai nước Đông Bắc Á kia) nên không gặp vấn đề như Trung Quốc đã gặp và lãnh đạo thời đó đã sớm thấy.
Vì khác biệt quá lớn về địa dư trên một lãnh thổ quá rộng, chiến lược hướng ngoại dẫn tới kết quả là các tỉnh và thành phố duyên hải bung ra rất mạnh, khắng khít hợp tác doanh nghiệp quốc tế để đem lại sự kỳ diệu đáng khâm phục ở bên ngoài. Bên trong, các địa phương bị khóa trong đất liền thì vẫn lụn bại. Dị biệt về lợi tức và nhận thức giữa các tỉnh trong/ngoài là vấn đề đã được Hồ Cẩm Đào hay Ôn Gia Bảo thấy rõ và nói lên.
Nhưng ngoài dị biệt về địa dư, chiến lược phát triển này còn đào sâu sự khác biệt đầy bất công giữa các thành phần dân chúng. Bị thiệt hại nhất là thành phần nông dân.
Sau 10 năm dễ thở hơn nhờ Đặng Tiểu Bình, mức sống của họ không tăng, mà đất đai lại bị cướp cho nhu cầu công nghiệp hóa và đô thị hóa. Trong khi ấy, cường hào ác bá và tham nhũng đã trở thành phổ biến. Lên lãnh đạo từ đầu năm 2003 (sau Đại hội 16 vào năm 2002), Hồ-Ôn cố phát triển các tỉnh ở trong rồi đưa ra sáng kiến xây dựng "Xã hội Hài hòa". Kế hoạch Năm năm thứ 11 (2006-2010) nhấn mạnh đến yêu cầu đó.
Cũng theo phép cũ, lãnh đạo còn cho phép quần chúng lên tiếng về những bất công và tệ nạn tham ô để thanh trừng các đảng viên biến chất về tội tham nhũng.
Kết quả là người dân biểu tình ngày một đông hơn, và số lần biểu tình được chính cơ quan nhà nước loan báo hoặc xác nhận. Nhưng bất công không giảm, dị biệt vẫn tăng và tham nhũng càng lan rộng, để lên tới thượng tầng đảng.
Năm năm sau, là ngày nay, Kế hoạch Năm năm thứ 12 (2011-2015) vẫn phải xử lý bài toán cũ, với những khó khăn còn trầm trọng hơn.
Sau 10 năm lãnh đạo với chủ trương tăng cường quyền hạn cho trung ương để tái phân lợi tức hay dịch vụ xã hội cho các địa phương và thành phần nghèo khó, thế hệ thứ tư chưa đạt được mục tiêu vì sự cưỡng chống của nhiều địa phương nay đã có thân tộc và thế lực lên tới thượng tầng, ở tại trung ương.
Đấy là bối cảnh kinh tế, xã hội và chính trị có thể giúp chúng ta hiểu thêm về vụ khủng hoảng vừa qua, với nhân vật Bạc Hy Lai vừa bị hạ bệ.
Lãnh đạo Trung Quốc rất giỏi về nghệ thuật hay thủ thuật huy động quần chúng.
Từ Mao Trạch Đông với cuộc Vạn lý Trường chinh để vét dân từ các tỉnh nghèo khó ở bên trong hầu chiếm đoạt quyền lực trong trận nội chiến và "Bước nhảy vọt vĩ đại" hay "Đại văn cách", quần chúng u mê đã tràn lên như thác lũ. Bây giờ, quần chúng đó có nhiều người bất mãn, ngày càng đông.
Bạc Hy Lai bèn dùng lại thuật cũ, với nội dung mới. Cũng theo tinh thần cách mạng bình đẳng của Mao, nhưng với nét tinh ma là khơi dậy lòng ái quốc.
Qua Bạc Hy Lai, khuynh hướng bảo thủ - tự coi là "Tân Tả" – và một số sĩ quan đã tìm thấy một biểu tượng cho mình: phát triển các địa phương bên trong theo tinh thần công bằng và ý chí yêu nước của Mao, để chống lại mọi thế lực thù nghịch cấu kết với các phần tử cải lương bị biến chất thành tay sai ngoại bang!
Trên thượng tầng, đảng cũng muốn huy động tự ái dân tộc để hoàn thành công trình vĩ đại là đưa Trung Quốc lên hàng đại cường. Khi thất vọng về kinh tế, người dân vẫn còn lối thoát tâm lý đó nên đảng sốt sắng chỉ ra để gây sức mạnh. Nhưng, với cùng một bài bản đó của đảng, Bạc Hy Lai lại chơi trò chính khách để tranh đoạt quyền lực cho bản thân và gia đình. Tội hình sự của bà vợ, hoặc cả cái tội có tham vọng và âm mưu vô lối thật ra lại không nặng bằng tội khơi dậy lòng ái quốc và tự ái dân tộc, vì giựt mất lá cờ đỏ của đảng.
Khi huy động quần chúng, lãnh đạo thực ra đã muốn cưỡi trên lưng cọp.
Bây giờ con cọp thấy đói ăn thì đảng phất cờ đỏ để chuyển hướng chú ý. Tự nhiên có những kẻ như Bạc Hy Lai lại đòi cướp cờ cho mình. Dù có thanh toán xong một chuyện kỳ cục như vậy, lãnh đạo Trung Quốc vẫn chưa thể yên tâm. Đại hội 18 sẽ đưa một thế hệ khác lên nhưng chưa biết làm sao xuống khỏi lưng cọp mà không bị vồ!
Hoàn cảnh lúng túng đó ở Thiên cung mới giải thích vì sao đã có chuyện Vương Lập Quân, Bạc Hy Lai rồi Chu Vĩnh Khang hay Trần Quang Thành cứ dồn dập bung khỏi tầm kiểm soát của Thiên triều.
Khi tin tức thời sự hàng ngày nói đến việc lãnh đạo kinh tế của Trung Quốc lại phải kích cầu lần nữa, sau biện pháp cực kỳ ngoạn mục vào cuối năm 2008, người ta nên thấy rằng đấy chỉ là tin nhỏ. Và đà tăng trưởng cao hay thấp từ nay đến cuối năm cũng chỉ là chuyện chu kỳ.
Khi thời sự chính trị nói đến việc 16 đảng viên hồi hưu của tỉnh Vân Nam công khai yêu cầu điều tra và trục xuất Ủy viên Bộ Chính trị Chu Vĩnh Khang, Trưởng ban Chính pháp Trung ương và là người cầm đầu hệ thống Công an và Tình báo Trung Quốc, thì đấy vẫn là tin nhỏ! Việc Chu Vĩnh Khang - bị liên lụy vì là người đỡ đầu cho cựu Bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai - phải xuất hiện và lên tiếng để đánh bạt những tin đồn cũng chỉ là biện pháp trấn an của lãnh đạo.
Sự thể có khi nghiêm trọng hơn vậy vì những chọn lựa nan giải của đảng.
Giảm đà tăng trưởng để điều chỉnh lượng thành phẩm như Kế hoạch Năm năm thứ 12 đã đề ra là một chọn lựa. Bảo vệ quyền thống trị của đảng trên quân đội mà vẫn yêu cầu quân đội phải yểm trợ việc nội an là một chọn lựa khác. Cải cách kinh tế mà cũng phải cải cách cả chính trị, như Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã chính thức đề cập, nhưng tới mức độ nào để đảng vẫn duy trì được quyền lực? Đấy là một chọn lựa khác. Phát huy tinh thần yêu nước để chứng tỏ lẽ chính danh của quyền lực đảng, nhưng tới mức nào để khỏi khơi dậy tư tưởng Mao Trạch Đông hay những thủ thuật kiểu Cách mạng Văn hoá là một bài toán cũng không dễ có giải đáp.
Giới quan sát bên ngoài thì e ngại một bước nhảy vọt vĩ đại vào quá khứ khi đảng phải lui về ưu tiên bảo vệ chế độ hơn là phát triển quốc gia. Nhiều người khác thì cho rằng các tướng lãnh có thể đưa quân ra khỏi trại để ổn định tình hình - và thực tế tiến hành một cuộc đảo chính. Những lý luận hay suy đoán này đang được công khai hoá và phổ biến khắp nơi và có thể tác động vào những cái đầu hoang mang và làm Thiên cung càng thêm hỗn loạn.
Bên dưới là bầy cọp đói đang chờ đợi....[NXN]
                                    
 
 Nguyễn Xuân-Nghĩa   

Thân Phận Người Con Gái :Nếu Đi Theo "Bác Hồ Chúng Nó Sẽ Hư Hết.”

Thân phận người con gái của Cần Thơ
 – Tôi chào đời trong khói lửa chiến tranh, anh chị em tôi lớn lên trong cái nôi của cách mạng. Những bàn tay kháng chiến đã ru ngủ, bao bọc chúng tôi cho đến lúc chúng tôi thành người.

Cha tôi là một nhà cách mạng, một người đàn ông lý tưởng, thơ mộng, yêu quê hương, yêu gia đình. Từ một thanh niên chống Pháp dành tự do độc lập cho nước nhà, ông trở thành một đảng viên cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam, và giữ chức Đại Sứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Liên Xô 7 năm ròng rã cho đến ngày miền Bắc thôn tính miền Nam.

Mẹ tôi là một người can đảm, chung thủy với gia đình và đất nước. Bà yêu chuộng tự do, tôn thờ đạo làm người, như hàng triệu đàn bà Việt Nam thuần túy khác. Má tôi vừa làm mẹ vừa làm cha, nuôi một đàn con thơ trong suốt khoảng thời gian chiến tranh, từ trong bưng biền cho đến những năm khó khăn chốn thị thành.

Năm 1954 ba tôi quyết định tập kết ra Bắc. Tình nước đã nồng mà tình nhà cũng đậm nên ba tôi muốn đem cả vợ và 7 con ra Bắc. Năm đó má tôi 37 tuổi đời, không có một tuổi đảng nào, không một chức tước gì trong chánh phủ cách mạng. Nhưng má tôi đã hiểu rộng, đã biết nhìn xa mà lo sợ và chán ngán cuộc sống trong chế độ mà ba tôi đang thờ phượng. Má tôi can đảm từ chối lời mời của đảng và của chồng. Bà nói nhỏ với ba tôi: “Con tôi còn nhỏ quá để tôi nuôi. Nếu để Bác Hồ của anh nuôi chúng nó sẽ hư hết.”

Ba tôi muốn chồng đâu vợ đó, muốn cho chúng tôi được đi học ở ngoài Bắc rồi có thể được du học bên Tàu bên Nga. Nghe nói vậy, má tôi còn sợ hơn nữa. Thế là ba tôi đành đi tập kết một mình và dắt người anh lớn của tôi theo và hứa sau hai năm sẽ trở về với gia đình sau cuộc tổng tuyển cử mà ông tin là cộng sản chắc chắn sẽ thắng.

Cuộc chia ly nào cũng đau buồn, cũng mất mát. Kể từ ngày ba tôi ra đi má tôi mất đi cái diễm phúc được làm vợ của một nhà cách mạng, của một người đàn ông đẹp trai, lãng mạn, yêu vợ thương con. Nhưng bù lại má tôi được tự do chọn lựa. Kết quả của sự lựa chọn đó là chúng tôi được sống ở miền Nam, được hít thở không khí tự do và hiểu được thế nào là dân chủ.

Ba tôi đi rồi má tôi rời khỏi bưng biền, trở về làng sống với cha mẹ.

Lúc đó tôi mới có 9 tuổi, hai người chị lớn 16, em trai kế tôi 6 tuổi, em gái 3 tuổi và đứa em út vừa được 6 tháng.

Má tôi gặp biết bao khó khăn trong đời sống cô đơn ở một hoàn cảnh nhiều thử thách. Nào là một đàn con nhớ cha cứ hỏi “Chừng nào ba về?”, nào là bị công an miền Nam theo dõi, điều tra về ông chồng tập kết của bà. Trong khi đó bọn Việt Cộng nằm vùng cũng thường gõ cửa sau kêu gọi đóng góp cho cách mạng.

Là một người đàn bà có bản tánh thẳng thắn, dứt khoát, má tôi một mực trả lời với công an quốc gia rằng: “Tôi lo may vá nuôi đám con nít phá gạo còn không nổi làm sao có thì giờ đi kiếm chồng tôi được.”

Khi phải giáp mặt với bọn Việt Cộng nằm vùng, má tôi thành thật nói:“Ba của sắp nhớ để lại sáu đứa con chỉ dặn mẹ con tôi chờ hai năm ổng về. Vì con còn nhỏ quá nên ổng không dặn tôi phải tham gia tổ chức nào, chỉ mong cho tôi mạnh giỏi nuôi con ăn học tới nơi tới chốn.”

Lúc 10 hay 11 tuổi, tôi khám phá ra là tôi yêu thương cái làng của ông bà tôi ở. Thương con sông nhỏ, thương mảnh vườn cam, vườn quít, thương hàng dừa, thương ruộng lúa từ mùa khô cho đến mùa nước lũ. Tôi cũng biết tình yêu đó sở dĩ mà có là nhờ được làm con của một người yêu nước và làm cháu của một gia đình nông dân chất phác. Bà ngoại tôi thương từ hột lúa giống, tới trái cam, cây quít trong vườn. Tôi nhớ lại những năm mà cách mạng lấy nhà, lấy đất của chủ điền cho những người đi theo cách mạng và gia đình họ trú ngụ, chủ điền bị đuổi ra khỏi nhà tạm thời. Tôi so sánh giữa đời sống trong vùng được gọi là giải phóng dưới chế độ của Hồ Chí Minh và đời sống của ông bà tôi ở một nơi mà cộng sản chưa tới được, tôi bỗng rùng mình vì không ngờ các cán bộ cách mạng lại hà hiếp người dân như vậy!

Tôi may mắn được lớn lên trong một đại gia đình mà vận nhà, vận nước gắn liền với đời sống của chúng tôi. Bà con họ hàng xa gần, phần đông là nông dân, thường đến nhà ông bà tôi để bàn luận về việc nước, chuyện thời sự, chuyện phân chia Bắc Nam. Người thì sợ lính của ông Hồ kẻ thì nghe ông ngoại tôi đọc nhựt trình rồi bàn chuyện nước non. Đặc biệt là dòng họ tôi không ai có ý nghĩ chánh phủ nào cũng vậy. Họ là những người thấu hiểu thời sự nhờ giao thiệp, gần gũi với ông ngoại tôi, với các cậu của tôi và với ba tôi.

Ai tin tưởng ở ông ngoại tôi thì chống cộng, ai ngưỡng mộ ba tôi và các cậu tôi thì một mực tin cộng sản dưới lốt Việt Minh là những người chống xăm lăng cứu nước.

Tôi nhớ năm 1955 hay 1956 gì đó, dân trong làng họp nhau ở nhà ông bà tôi chờ sao chổi mọc lên. Có người muốn cán chổi xoay về hướng Bắc để lính ông Hồ quét sạch miền Nam, Nhưng cũng có người lại mong cán chổi xoay về hướng Nam để đập tan Bắc Kỳ Hà Nội. Tôi không muốn ba tôi chết nếu người ta đập tan Bắc Kỳ Hà Nội, chỉ muốn ông bỏ đảng về với gia đình thôi.

Không có cha, tôi quấn quýt bên ông ngoại. Có lần tôi hỏi ông sao ba tôi đi ra Bắc mà bè bạn đồng chí của ba không còn ai giúp đỡ chúng tôi như trước nữa? Ông ngoại tôi nói họ cũng đã đi hết với ba tôi rồi. Có hơn 180,000 người tập kết ra Bắc. Mấy ngày sau tôi hỏi ông là má không theo ba tập kết ra Bắc thì má có sai không? Ông tôi khuyên:“Ráng siêng học lẹ lên để đọc nhựt trình mà biết thêm tin tức với người ta. Ngoài Bắc có 7, 8 trăm ngàn người di cư vô Nam. Họ sợ cộng sản quá họ mới phải bỏ làng bỏ xóm ra đi thì má con ngu dại gì mà đi nạp mình cho thằng già Hồ?”

Ông tôi rất trọng việc học nên đã kèm cho một đàn cháu 15 đứa đi học.

Ông khuyên chúng tôi phải chăm học và ngoan ngoãn để má tôi an tâm và sau này có thể giúp đỡ má. Ông tôi chỉ cấm chúng tôi có một điều là không được theo Việt Cộng. Chỉ có bọn tôi, con của má tôi, là không một ai theo Việt Cộng. Nhưng năm người chị, con của cậu tôi, đều nối gót cha chống Mỹ cứu nước.

Tôi sống trong một giai đoạn của lịch sử Việt Nam mà ngày hay đêm không phân biệt được, phải hay trái, trắng hay đen đều mịt mù, không rõ ràng đối với tôi. Nhưng điều dễ nhận thấy nhứt trước mắt tôi là những cán bộ Việt Cộng nằm vùng đã có những hành động bạo ngược. Dù còn nhỏ tôi cũng hiểu rằng cái gì bạo ngược là phi nghĩa, là trái long dân, là nghịch ý trời.

Từ năm 1954 cho đến 1975, má tôi một lòng chung thủy chờ chồng dù suốt thời gian đó má tôi không nhận được một lá thơ, một lời nhắn hay một bức hình nào của ba tôi. Nhưng bà vẫn tin là ông còn sống. Chúng tôi cũng muốn tin ba mình còn sống.

Tháng Tư năm 1975, chồng tôi về Việt Nam để tìm cách rước má tôi, mặc dầu lúc đó sĩ quan Mỹ không được vô Sài Gòn nếu không có sự vụ lịnh. Nhưng chồng tôi nói thà bị ra tòa án quân sự Mỹ còn hơn là để má và các em tôi ra tòa án nhân dân của cộng sản.

28 tháng Tư năm 1975 má tôi và hai đứa em rời Sài Gòn.

Trong một buổi sáng mặt trời chưa lên má tôi mất nước, mất dịp được gặp lại đứa con trai lớn theo cha đi tập kết. Bà không được đem theo hành lý, chỉ có 1 cái valise nhỏ, trong đó má tôi gói ghém hết những kỷ niệm của đứa con trai tử nạn vì máy bay trực thăng.

Má tôi bỏ đi là một hình thức của cái thau nước tạt vào mặt đồng chí của ba tôi. Nhưng ba tôi kiên nhẫn, thông cảm và ước mong má tôi quay trở về Việt Nam với ông. Ba tôi yêu cầu vợ chồng tôi đưa má tôi qua Pháp để ông rước má tôi về Việt Nam sống với ông và anh cả của tôi.

Lúc đó tôi không biết có một phép lạ nào đã giúp tôi lo được giấy tờ đưa má tôi qua Pháp gặp ba tôi. Thời thế tạo anh hùng chớ tôi không biết hóa phép.

Chị em tôi không muốn má về Việt Nam mà chỉ muốn ba má được sống bên nhau trong những năm còn lại của hai người. Nhưng chúng tôi cùng đồng ý rằng để má tự quyết định. 21 năm về trước má đã tự quyết định cho đời má và quyết định cho chị em chúng tôi. Lúc đó má tôi mới có 37 tuổi. Tất cả trong tay má, tất cả trong tim má và bài học lịch sử của đất nước má đã thuộc lòng.

Phút giây tái ngộ của hai vợ chồng được kiểm soát bằng cặp mắt của tình báo cộng sản. Tôi muốn họ đi chỗ khác để ba má tôi tự do nói chuyện nhưng họ nói họ có bổn phận phải giữ an ninh cho hai ông bà. Sau hơn một tuần gặp nhau, tiếng khóc xen tiếng cười của cha mẹ tôi làm cho tôi tưởng tôi đang sống trong mơ hay lạc vào một thế giới thần tiên nào đó. Từ thơ mộng đến ác mộng chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Khi má tôi đã sẵn sàng theo ba tôi về Việt Nam, bà bỗng nửa đùa nửa thật hỏi: “Tôi về Sài Gòn mấy thằng cán ngố sẽ làm gì tôi, anh biết không?”

Ba tôi chau mày nói: “Sao em dùng những danh từ chữ không đẹp đẽ gì hết vậy?”

Má tôi liền đáp:“Trong Nam của tôi chỉ có những chữ đó để kêu họ thôi, tôi đâu biết tiếng gì khác hơn.”

Suy nghĩ một lát ba tôi nhìn về phía thật xa rồi nói:“Em về thì mấyanh sẽ mời em lên nói chuyện…Chắc là em sẽ phải đi học tập ít ngày.”

Má tôi tỏ ý không bằng lòng nhìn thẳng vào mắt ba tôi, rồi hỏi:“Tôi khôn hơn mấy thằng cán ngố của anh, lại không làm gì ác độc như anh Ba Duẫn của anh, thương nước thương nòi hơn cậu Hồ của anh, thì ai mà dạy tôi học với tập được? Mà tôi đâu có tội gì với Đảng với Bác của anh?”

Ba tôi bụm miệng má tôi lại vì hai người đang ở trong villa của cộng sản, nơi mà Nguyễn thị Bình và Lê Đức Thọ đã từng ở trong thời gian hội nghị Ba Lê. Rồi ba tôi hạ giọng nói nhỏ:“Em bỏ nước ra đi khi toàn dân chào mừng cách mạng, em còn để cho con lấy chồng Mỹ.”

Má tôi cười ngạo:“Dạ thưa đồng chí, những người Mỹ nầy là cha của cháu ngoại đồng chí. Còn nói chào với đón…thì ai chào ai đón mấy ông rồi sẽ hối hận ê chề sau tuần trăng mật.”

Thế là cuộc xum họp tan vỡ. Má tôi trở về Mỹ như một con chim đại bàng bị thương. Ba tôi về Sài Gòn như một hiệp sĩ thua trận.

Nhưng tình nghĩa giữa cha mẹ tôi vẫn nồng vẫn đậm. Kể từ đó ba tôi làm thơ lén gởi cho má tôi bằng cách nhờ những người tin cẩn chuyện đến tay má tôi. Trong khi đó, má tôi vẫn cố gắng bảo vệ tánh mạng của ba tôi bằng cách ngăn cản, năn nỉ tôi đừng chống cộng công khai. Biết tôi viết quyển A Thousand Tears Falling bà rất hãnh diện về công trình này của tôi, nhưng lại năn nỉ tôi đừng xuất bản khi ba tôi bà sòn sống.

Ba tôi qua đời vào mùa hè năm 1986. Tôi xuất bản A Thousand Tears Falling vào mùa Thu năm 1995.

Tiền nhân đã để lại cho chúng ta một kho tàng và kinh nghiệm. Lịch sử là những bộ sách học làm người cho nhân loại. Quá khứ vẫn sống trong tôi theo với nhịp sống hằng ngày của tôi. Đó là kinh nghiệm của một người Việt Nam từng trải qua những giai đoạn thê thảm, tàn khốc nhất của đất nước. Nhưng những tàn khốc, bạo lực ấy đã không giết được tôi.

Trái lại nó đã tạo cho tôi một sức mạnh, một lý trí, một bài học có thể dùng làm kim chỉ nam để trở nên con người hữu dụng.

Tôi chỉ là một đàn em nhỏ bé của những người đi trước, lại có người kêu tôi là thục nữ. Tôi đã ý thức được trách nhiệm của tôi là cùng với các bậc đàn anh cương quyết giữ cho ngọn lửa thiêng sáng mãi để khỏi phụ lòng những người đã ngã xuống cho tự do, cho quyền sống của con người. Tôi cũng có trách nhiệm nhắc nhở tất cả những người đã thành công, đã được hưởng tự do nơi hải ngoại đừng chà đạp lên giấc mơ Dân Chủ của dân Việt Nam đang sống trên giải đất phì nhiêu nhưng lại nghèo khổ nhất trên thế giới. Tiền tài, danh vọng ta đã có hết, có luôn cả tự do nữa. Bắt tay với cộng sản dưới chiêu bài hòa giải hòa hợp để làm ăn hay kiếm một chỗ ngồi trong tương lai chúng ta sẽ có thể bị con cháu chất vấnlà “Cha mẹ hay ông bà đã làm gì khi nước mất nhà tan? Cha me hay ông bà đã làm gì khi dân Việt Nam bị cộng sản áp bức, đọa đày?

Gia tài để lại cho thế hệ sau không phải là những lời hay, lời đẹp khắc trên mộ bia của người quá cố mà là hành động của chúng ta lúc còn sống trong tự do.

Cá nhân tôi, vì tôi là người được hưởng tự do nên tôi không có những suy nghĩ của người phải sống trong gông cùm nô lệ. Tôi muốn tất cả mọi người phải được tự do như tôi.

Hãy yêu người như ta yêu ta, đó là lời dạy của một thiền sư.

Đặng Mỹ Dung- Yung Krall
---------


Pác Hồ  Đ.. đồng chí NÔNG  .
THỊ XUÂN rồi bỏ xe tông chết liền !
Pác Hồ thích ở nhà sàn
Ở trong sở thú , thả giàn trăng hoa.
Pác tuy tuổi cũng đã già
Vẫn ưa hôn hít, la cà thiếu nhi.
Thiếu nhi mà phải nữ nhi
Thì Pác  mới chịu “mi-mi” thật mùi !
Pác ngoạm cả hai bờ môi
Pác đút cả lưỡi hôi hôi vào mồm .
Trên đời dễ mấy ai hơn ?
( trich Saigonnais40- YouTube)

Chủ Đề 19.6: Trả lại Sự thật cho Lịch sử - Ai bắn què chân con hùm xám Nguyễn Ngọc Loan?

Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Nguyễn Du
Cho đến nay các sử gia đều tin rằng tấm hình nổi tiếng một thời của Eddie Adams đã kết liễu cuộc đời binh nghiệp của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Không sai, nhưng chỉ đúng một nửa. Chính nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer của AP này đã viết trong tuần báo TIME (1): “Ông tướng giết thằng Việt Cộng; tôi giết ông tướng bằng máy chụp hình của tôi”. Đó là tấm hình chụp tướng Loan thản nhiên hành quyết một tù binh cộng sản bị còng tay sau lưng, mặt mếu máo. Một hành vi sát nhân ghê tởm gây chấn động toàn thế giới. Mặc dù sau đó Adams đã thú nhận: “Người ta tin vào hình ảnh, nhưng hình ảnh cũng nói dối, cho dù không có sửa đổi gì.  Chúng chỉ là những nửa sự thật”. Dẫu vậy nhưng nó cũng đã đánh dấu khúc ngoặt quan trọng của cuộc chiến: Dư luận phản chiến nở rộ tại Hoa kỳ đã khiến Tổng thống Johnson mất niềm tin vào một chiến thắng quân sự tại miền Nam Việt Nam. Và cuộc thương thảo với Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam (MTGPMN) đã diễn ra sau đó dưới triều đại Nixon như giải pháp duy nhất đem lại hòa bình.
Đằng sau tất cả những sự kiện lịch sử ấy là chuyển động âm thầm nhưng có ảnh hưởng quyết định của tình báo chiến lược. Cơ quan CIA (Tình Báo Trung Ương) Hoa kỳ và đối tác VNCH ở cấp cao đã phải đối mặt với những tình huống gây ra mâu thuẫn trầm trọng giữa một bên là MACV (Bộ Tư Lệnh Quân Sự Mỹ), CIA, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và bên kia là Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia khi ấy do Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan nắm giữ. Bối cảnh chung là cuộc tấn công bất ngờ của Việt Cộng – khi ấy vẫn được báo chí Mỹ coi là MTGPMN, tách biệt với Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), một huyền tích chỉ được giải ảo sau 1975 – trong dịp hưu chiến Tết Mậu Thân (tháng 1, 1968).
Nguyễn Ngọc Loan: Ông là Ai?
Tướng Nguyễn Ngọc Loan, hỗn danh Sáu Lèo, sinh năm 1930 tại Huế. Chị cả của ông, bà Bích Hồng, là phu nhân Đại tá Bác sĩ Văn Văn Của, nguyên Đô trưởng thành phố Sài Gòn (1965-68) (2). Ông học trường Trung học Albert Sarraut và đậu Tú tài Toán toàn phần rồi bị động viên Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị (Nam Định). Thiếu úy Loan theo học Trường Sĩ quan Không quân Pháp Salon de Provence năm 1953 rồi thực tập hoa tiêu khu trục phản lực tại căn cứ Meknes, Maroc, trở thành phi công khu trục phản lực đầu tiên của Không lực VNCH. Về nước, ông được bổ nhiệm Phi đoàn trưởng Phi đoàn 2 Quan sát. Được thuộc cấp nể trọng nhưng ông không được các sĩ quan Cố vấn Hoa kỳ ưa thích vì ông hay đả kích lề lối làm việc máy móc của họ.
Năm 1964, ông Loan thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm “Tư lệnh Phó Không Quân VNCH” dưới quyền Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1965, vinh thăng Chuẩn tướng, ông tham dự chiến dịch không kích Bắc Việt trong khu vực Đồng hới – Vĩ tuyến 17 (Bến Hải).
Những năm kế tiếp, tướng Loan được đề cử đảm nhiệm 3 chức vụ an ninh, tình báo quan yếu của VNCH:
- Đặc ủy trưởng, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo

- Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, và

- Cục trưởng Cục An Ninh Quân Đội.
Lòng tận tụy với trách nhiệm nặng nề và tính “bất cần đời” của tướng Loan, coi cái chết “như pha” tạo cho ông một cá tính gồ ghề, bề ngoài tưởng như ngổ ngáo, hãnh tiến, nhưng thật ra ông là con người đầy cảm tính và “cận nhân tình”, được cấp dưới nể trọng và bạn hữu chí tình thương mến. Thỉnh thoảng gặp ông tại Phủ Thủ Tướng (Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương – UBHPTƯ), ông cười nói xuề xòa, moa moa, toa toa, miệng không ngớt chửi thề: đ.. cụ, đ.. cụ.
Tuy nhiên, Định Mệnh dường như đã an bài cho ông một số phận khắc nghiệt. Chỉ nội trong ngày 31 tháng 1 năm 1968, sự nghiệp của ông được kể như chấm dứt vì một quyết định làm cho người Mỹ coi ông là kẻ phản bội. Mặt khác, có thật là bức hình của Eddie Adams chụp cảnh ông xử bắn tên đặc công Lém ở đường Ấn Quang ngày 4 tháng 2, 1968 mới là nguyên nhân chính? Sự thực không phải như vậy.
Hoa kỳ đi đêm với MTGPMN
Kề từ tháng 2 năm 1967, Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Sài Gòn đã có những tiếp xúc sơ bộ với một số cán bộ cấp thấp thuộc MTGPMN. Sau đó,với sự trợ giúp của Tình báo Hải ngoại Pháp (SDECE, Service de Documentation et de Contre-Espionage), cộng đồng tình báo Mỹ ở Việt Nam đã bắt tay được với những nhân vật trọng yếu của Cục R (Trung Ương Cục miền Nam) và MTGPMN như: Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Dương Quỳnh Hoa, Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống, Trần Bửu Kiếm và Trần Bạch Đằng, Cục trưởng Cục R (3).
Sau việc hộ tống êm thắm vợ con Trần Bửu Kiếm và Trần Bạch Đằng ra vùng “giải phóng” an toàn, Sứ quán Hoa kỳ móc nối với Nguyễn Thị Bình (qua trung gian LS Đinh Trịnh Chính, Bộ trưởng Chiêu Hồi, Dân Vận VNCH) toan tính thành lập chính phủ “liên hiệp hòa giải dân tộc” với 2 thành phần: MTGPMN và chính quyền VNCH.
Tất cả những tiếp xúc “đi đêm” nói trên đều không lọt qua con mắt của tướng Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia. Tướng Loan ra lệnh cho S-6 (Cảnh Sát Đặc Biệt) tống giam một số nhân vật MTGPMN khi ấy đang được Sứ quán Hoa kỳ bảo vệ tại các “nhà an toàn” (safe house) ở ven đô Sài Gòn và Tây Ninh. Sứ quán Hoa kỳ gây áp lực với tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch UBHPTƯ, phải thả lập tức các sứ giả MTGPMN và yêu cầu các cơ quan an ninh VNCH không được phép xâm nhập các nhà an toàn  và những khu vực dành riêng cho nhân viên ngoại giao Hoa kỳ trên khắp lãnh thổ VNCH.
Mặt khác, Tổng thống Lyndon B. Johnson được Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker bảo đảm rằng Sài Gòn là thủ đô an toàn và Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Saigon là khu vực an ninh 100% không bao giờ bị tấn công vì đây sẽ là địa điểm mật đàm đã được thỏa thuận giữa Hoa kỳ và MTGPMN.
Tòa Đại sứ Hoa kỳ rơi vào tay Đặc Công CSVN
Trong trận mở màn Chiến dịch Tổng Tấn Công – Tổng Khởi Nghĩa của CSVN, một biến cố ít ai biết đến, kể cả báo chí Mỹ, là Tòa ĐS Hoa kỳ đường Thống Nhất đã rơi vào tay Đặc công CS ngay những phút đầu. Đó là hậu quả của việc tướng Loan đã cho rút 2 trung đội Cảnh Sát Dã Chiến bảo vệ bên ngoài TĐS Mỹ về tăng cường cho Dinh Độc Lập.
Diễn tiến:  Tổ C-10 gồm 18 tên đặc công CS thuộc Tiểu đoàn Đặc công 276 của Đặc Khu Ủy Sài gòn – Chợ Lớn đã xuất phát lúc 1 giờ đêm 31 tháng 1, 1968 từ tiệm Phở Bình đường Yên Đổ, góc Hai Bà Trưng, trên 1 xe van mầu trắng. Hai giờ sáng, xe dừng trước cửa sau Tòa ĐS đường Mạc Đĩnh Chi lúc đó chỉ có một tiểu đội Quân Cảnh Mỹ giữ an ninh phía trong. Bọn đặc công CS chia làm 6 mũi khai hỏa tấn công. Chúng dùng bộc pha, B-40 và AK-47 báng xếp triệt hạ vọng gác của Cảnh sát QG đặt giữa Lãnh sự và tòa nhà chính. Nhưng vọng gác này đã bỏ trống từ chiều hôm trước cùng lúc với hai trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, theo lệnh của tướng Loan.
Hai tên đặc công tấn công vào cửa chính Tòa ĐS, tức thì bị QC Mỹ hạ sát. Sau đó QC Mỹ rút vào trong và dùng radio cầu cứu. Hai tên đặc công khác dùng bộc pha phá thủng một lỗ lớn tường rào góc đường Thống Nhất – Mạc Đĩnh Chi, giúp cho toàn bọn C-10 tràn vào vườn hoa rồi tiến chiếm Lầu 1 và Lầu 2 trong khi QC Mỹ rút lên Lầu 3 cố thủ. Lầu 2 Đại Sứ quán Mỹ là Tổng Hành Dinh Tình Báo Chiến Lược của Hoa kỳ ở Đông Nam Á. Toàn bộ tài liệu mật mã “Tuyệt Mật” của CS Bắc Việt mà Mỹ thủ đắc được từ 1961, gồm hồ sơ chính sách, cương lĩnh, nghị quyết tấn công quân sự miền Nam, cùng các tài liệu khác liên quan đến cuộc chiến, đều được lưu trữ trong các tủ và két sắt Diebolt nặng trên 1 tấn (4). Bốn tên đặc công CS cố thủ Lầu 2 ra sức cậy phá, tháo gỡ 6 ổ khóa của 12 két sắt nhưng vô hiệu.
Mười hai giờ khuya (12 giờ trưa Washington, D.C.), tại trụ sở CIA, Giám Đốc Richard Helms đang khoản đãi ông William Colby, tân Giám đốc CORDS (5) Việt Nam. Giữa tiệc, một thiếu tá tùy viên hối hả xin gặp để trình một công điện Hỏa Tốc từ MACV: “Trụ sở CIA và Sứ quán Hoa kỳ Saigon đã lọt vào tay đặc công MTGPMN từ 1 giờ sáng 31 tháng 1, 1968”. Cùng lúc, Tòa Bạch Ốc cũng nhận được công điện hỏa tốc: “Saigon đang bị 5 tiểu đoàn địa phương MTGPMN tấn công ồ ạt. Tòa ĐS ở trung tâm thủ đô thất thủ. Bộ Tư Lệnh MACV và Bộ TTM/QLVNCH tràn ngập khói súng, chống trả yếu ớt vì bị bất ngờ”.
Giám đốc CIA Richard Helms đọc công điện 3 lần vẫn cả quyết với quan khách: “Đây là những ‘điều giả tưởng’ không thể nào có thể xẩy ra được với Hoa kỳ”.
Sáu giờ sáng, một đại đội xung kích thuộc Sư đoàn Không kỵ 101 được trực thăng vận đổ xuống từ nóc Tòa ĐS, đột nhập Lầu 3 rồi Lầu 2, cận chiến với 12 đặc công CS, tiêu diệt toàn bọn và giải tỏa Tòa ĐS — biểu tượng của sức mạnh Hoa kỳ tại Đông Nam Á.
Lãnh đạo VNCH, đệ I và II Cộng Hòa, biết gì?
Đầu tháng 2, 1975, tôi đến Washington D.C. nhận nhiệm vụ Tùy Viên Lục Quân tại Tòa Đại sứ VNCH, ưu tiên tìm hiểu và báo cáo về quân viện Mỹ cho VNCH lúc đó đang lửng lơ. Một chị bạn nhà tôi, tên Dung, Đệ Nhị Tham Vụ, mời tôi đi ăn lunch. Tò mò, tôi hỏi chị: “Tòa Đại Sứ mình vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ra sao?” Chị đáp: “Tôi vẫn bỏ tiền túi mời mấy ông dân biểu đi ăn lunch”. Vậy thôi?
Tôi nghĩ, từ Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu, các nhà lãnh đạo VNCH có thể ví như những người đi buôn không vốn, không hiểu rành rọt về tổ chức và vận hành của chính quyền Hoa Kỳ, cho nên không biết đến hiệu quả của “lobby” và không giám hay không biết “chi” cho nỗ lực này vì không vốn (?). Khoảng cuối thập niên 70 bỗng sì căng đan “Koreagate”, bùng nổ. Điệp viên KCIA (Tình Báo Trung Ương Đại Hàn) Tongsun Park đã tung hàng trăm ngàn đô mua chuộc ảnh hưởng của một số nhà lập pháp Hoa kỳ để chống lại nguy cơ Nixon đòi rút quân khỏi Nam Hàn như đã làm ở Nam Việt Nam khiến VNCH rơi vào tay CSBV. Ở đời ai dại, ai khôn? Thành thử, chúng ta luôn luôn cầm dao đằng lưỡi để cho đối phương tuốt dao máu chẩy thành vòi! Lý do: không nắm được những nguyên lý căn bản về Tình Báo Chiến Lược để sử dụng nó hữu hiệu trong chiến tranh.
Có ai ý thức được rằng Hoa kỳ ào ạt đổ quân vào Việt Nam, thật ra, không phải là để bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của VNCH?
Có ai ý thức được rằng, với Hoa kỳ, không có quốc gia nào là bạn lâu dài và cũng chẳng có nước nào là kẻ thù vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi của Hoa kỳ là vĩnh cửu?
Có ai biết rằng: Trong thời gian CSVN làm xiếc đi giây giữa Liên Xô và Trung Cộng, Trung Cộng coi VNCH là bạn và là đối trọng răn đe CS Bắc Việt? Với Trung Cộng, Liên Xô và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) là hai kẻ thù không đội trời chung? Mặc dầu Mao vẫn chi viện cho Hồ để đoạt hai chiến thắng vang dội: Chiến dịch Biên giới 1950 và Điện Biên Phủ, 1954. Nhưng cũng vì vậy mà Trung Cộng phải dè chừng. Cuộc chiến biên giới 1979 đã chứng minh cho điều này khi Đặng Tiểu Bình muốn “dậy” cho Việt Nam một bài học.
Tướng Nguyễn Ngọc Loan
CIA ra lệnh thủ tiêu Nguyễn Ngọc Loan
Tháng 4 , 1968, Cố vấn trưởng Cảnh sát Quốc gia VNCH, J. Accompura (nguyên đại tá Lục quân Hoa kỳ) được mời đến gặp vị tân Trưởng Trạm CIA (Station Chief) tại VNCH, ông George Weisz đến thay thế ông Jorgensen. Không úp mở, ông Weisz cho Accompura hay: “Chính phủ Hoa kỳ quyết định thủ tiêu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan”.
Mặc dầu làm cố vấn cho tướng Loan chưa được 2 năm, Accompura lại rất thân tình và cảm mến ông. Accompura dấu kín chuyện CIA sẽ thủ tiêu ông, nhưng yêu cầu tướng Loan không được rời khỏi Dinh Độc Lập và không được tham gia bất cứ trận đánh nào có mục đích tiễu trừ các lực lượng MTGPMN tại trung tâm và ven đô Sài Gòn. Tướng Loan hứa xuông với Accompura cho qua chuyện, nhưng ông không ngồi yên.
Ở đâu có tiếng súng AK-47 là ông nhào tới. Chỉ cần một tấm áo giáp, một khẩu M-16, với 12 băng đạn 5.56 ly vòng quanh bụng, đầu không nón sắt, chân dép cao su, không lon không lá, tướng Sáu Lèo lâm trận… không coi mũi tên hòn đạn của kẻ thù có kí lô nào. Một Don Quixote hay Triệu Tử Long? Có lẽ cả hai gom một. Nhiều người coi ông như “người hùng đơn độc”, một phán xét có phần cảm tính. Tôi quan niệm đơn giản: Ông là người chỉ huy biết lãnh đạo. Lãnh đạo bằng cách làm gương, nghĩa là sát cánh cùng quân sĩ, đồng lao cộng khổ, ngay nơi trận tiền. A true leader. Phải nói như thế. Như người Mỹ thường nói.
Đầu tháng 5, 1968, hay tin VC tràn về khu Tân Cảng, tướng Loan điều động 2 đại đội CS Dã Chiến truy kích Tiểu đoàn Thủ-Biên (6) MTGPMN đang đốt nhà dân để “chém vè” vì bị trực thăng võ trang UH-1B của Sư đoàn 25 BB Mỹ tấn kích từ phía bắc cầu Sài Gòn. Hay tin tướng Loan dẫn CSDC ra Tân Cảng, Accompura vội nhẩy xe Jeep Cảnh sát chặn đoàn xe của ông Sáu Lèo ở ngã tư Dakao – Phan Thanh Giản và yêu cầu ông cùng về Tổng Nha tham dự buổi họp Chương Trình Phượng Hoàng do W. Colby chủ tọa. Tướng Sáu Lèo từ chối.
Ai bắn nát chân tướng Loan?
Tin tức loan tải: 11 giờ 45 ngày 7 tháng 5, 1968, một tên VC núp dưới chân cầu Sài Gòn bắn sẻ viên đạn “dum dum” (7) phá vỡ nát bắp chân trái tướng Nguyễn Ngọc Loan.
Các bác sĩ giải phẫu tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, sau khi khám vết thương, nêu thắc mắc và khẳng định:
- Đầu đạn phá nát bắp chân trái tướng Loan không phải là “dum dum”. Nếu phải thì nó phải để lại những mảnh li ti và dấu vết thuốc nổ khi đầu đạn nổ lần thứ 2.
- Súng xung kích AK-47 của CS Bắc Việt sử dụng ở miển Nam không trang bị loại đạn “dum dum”.

- Súng bắn sẻ CKC của Tiệp Khắc cũng không trang bị đầu đạn “dum dum”.

- Đầu đạn AK-47 và CKC không phải là đạn xuyên phá. Loại đạn này chỉ tạo 1 lỗ nhỏ đường kính không quá 1 cm ở mặt trước vết thương, và mặt sau ít khi có lỗ rộng quá 5 cm.
Có lẽ chỉ có cố vấn Accompura biết rõ viên đạn làm tan nát cuộc đời binh nghiệp của tướng Loan là loại đạn gì. Và sát thủ là ai?
2005: Sau rốt, màn bí mật cũng được vén lên, bởi không ai khác là chính Accompura. Sát thủ thi hành bản án tử hình tướng Loan là một hạ sĩ quan TQLC Hoa kỳ có vợ Việt Nam, làm việc cho CIA Sài Gòn. Khẩu súng bắn lén tướng Loan là M-16 gắn viễn vọng kính. Viên đạn M-16 cỡ 5.56 mm thuộc loại Flechette (8). Chi tiết được biết thêm:
Sát thủ đứng trên sàn trực thăng võ trang UH-1B, qua viễn vọng kính đã lẩy cò khi chiếu môn thập tự [+] nhắm trúng đầu tướng Loan. May thay,“Thiên bất dung gian”, người không thể giết người, chỉ có Trời mới giết được người. Lúc sát thủ lẩy cò cũng vừa là lúc trực thăng gặp “air turbulence” hụt hẫng đưa viên đạn trúng bắp chân trái Sáu Lèo đang gác trên thành cầu thay vì trúng đầu ông. Viên đạn Flechette 5.56mm đã phá nát bấy toàn thể bắp chân trái tướng Loan, cắt đứt gân lòng thòng và động mạch tiếp tế máu cho bàn chân.
Bác sĩ Trưởng Khoa Giải Phẫu Tổng Y Viện Cộng Hòa đề nghị cắt bàn chân bởi vì động mạch đã bị phá nát, nếu không, một thời gian ngắn bàn chân sẽ bị hư thối.
Tướng Loan yêu cầu, bằng mọi cách, giữ lại bàn chân trái cho ông.
Ảnh hưởng tiêu cực của tấm hình hay do lệnh CIA?
Bác sĩ cố vấn trưởng Tổng Y Viện đề nghị đưa tướng Loan đến điều trị tại Bệnh viện Quân Y Mỹ tại Long Bình. Giám đốc Bệnh viện từ chối vì không có khả năng nối động mạch vi ti ở bắp chân.
Tướng Kỳ yêu cầu MACV can thiệp với Hạm Đội 7 có tầu bệnh viện đón nhận tướng Loan để chữa trị. Tầu Bệnh Viện Đệ Thất Hạm Đội từ chối.
Chính phủ VNCH yêu cầu Tòa Đại sứ Hoa kỳ giúp đỡ đưa tướng Loan đến Bệnh viện Jama trên đất Nhật. Tòa Đai sứ Hoa kỳ khước từ.
Không thể trông cậy vào Đồng minh Hoa Kỳ giúp đỡ, tướng Kỳ cuối cùng nhờ đến Tòa Đại sứ Úc chấp thuận cho tướng Loan được điều trị tại Canberra. Chính quyền Canberra khước từ lời yêu cầu của VNCH, viện cớ dư luận dân chúng Úc không đồng tình chứa chấp một kẻ giết tù binh chiến tranh không vũ khí trong tay (9).
Tướng Loan giải ngũ, trở lại đời sống dân sự.  Tướng Kỳ mất một người vừa là bạn thân, vừa là quân sư lỗi lạc trong cuộc đời tham chính của mình.
Hoa kỳ không giết chết được Loan nhưng vẫn căm tức “Sáu Lèo” một lúc phá hỏng hai giải pháp chính trị và quân sự của Mỹ tại Việt Nam. Họ quả quyết: “Nếu Loan không rút 2 trung đội Cảnh sát Dã chiến bảo vệ Sứ quán ở đường Thống Nhất thì không tài nào tổ đặc công C-10 của MTGPMN có thể xâm nhập thành lũy tối cao và kiên cố nhất của Mỹ, làm ô danh siêu cường số 1 thế giới”.
Rất có lý, nhưng Hoa kỳ vẫn khờ khạo khi tin rằng “nắm được Nguyễn Thị Bình, Trần Bạch Đằng và Trần Văn Trà là chế ngự được thế thượng phong quân sự của đối phương”. Sự thực phũ phàng là [như ngày nay ai cũng biết] Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Nổi Dậy Tết Mậu Thân 1968  của CSVN là thuộc quyền quyết định và được điều khiển bởi Lê Đức Thọ, Bí Thư Trung Ương Cục miền Nam và Võ Văn Kiệt, Bí thư Đặc ủy Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.
Lý do tướng Loan rút 2 trung đội CSDC bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trên đường Thống Nhất rất đơn giản và ngay thẳng. Đã là nơi sẽ diễn ra thương thảo giữa MTGPMN và Hoa Kỳ, thì VNCH cần gì phải canh gác? Đó là trách nhiệm của Mỹ.
Dự tính bắt cóc 6,000 người Mỹ làm con tin
Trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, TS Nguyễn Tiến Hưng có đề cập đến một tình huống mà ông gọi là “cực kỳ ê chề” (10) khi Tòa Đại sứ Mỹ phải đối diện, nếu và khi QLVNCH hay Cảnh sát “nổi khùng” mà cưỡng chế cuộc di tản 6 ngàn người Mỹ và một số người Việt thân quen hay làm việc cho Mỹ khi thấy những người này cứ kìn kìn ra đi, bỏ mặc họ cho số phận. Nên nhớ là khi ấy, trong nội vi Sài Gòn, lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến hầu như nguyên vẹn cũng như một số đơn vị Nhẩy Dù và TQLC. Nếu có ai xúi dục và thuyết phục được họ đó là biện pháp duy nhất có thể làm để Mỹ phải đem quân tham chiến trở lại thì họ có khả năng quay súng bắn lại người Mỹ. Do đó, Hoa kỳ cũng có kế hoạch phòng hờ (11) đối phó với tình huống này, và Đại sứ Graham Martin cứ phải hành xử “bình chân như vại” cho tới phút chót mới chịu ra đi sáng ngày 30 tháng 4.
Điều này lý giải tại sao Mỹ phải cho ưu tiên di tản những phi công khu trục sang Utapao, Thái Lan, bởi vì QLVNCH chỉ cần vài chiếc F-5 là có thể bắn hạ những trực thăng di tản rơi rụng như sung. Trong tình huống này, TS Hưng lập luận, VNCH sẽ tức khắc trở thành thù địch, và sẽ không thể có Eden Center, Little Saigon hay Cabramatta vì không có người Việt nào được di tản thì làm gì có cộng đồng Người Việt Hải Ngoại như ngày nay?
Ý tưởng “bắt con tin” này có thể đã nhen nhúm trong đầu óc tướng Loan và có thể ông đã bàn bạc với bạn bè hay người thân. Từ ý tưởng sang ý định và đem ra thực hiện thì một người có uy tín và thành tích như ông có thể dễ dàng thuyết phục bạn bè tướng lãnh và thuộc cấp trong Không Quân và Cảnh Sát Quốc Gia. Nhưng ông đã không làm mặc dù Mỹ đã thù hận ông vì làm như thế sẽ có hại cho cả hai bên Việt, Mỹ và CSVN sẽ là kẻ thủ lợi. Ý tưởng này đã được một chuẩn úy KQVN kể lại cho Tòa Đại sứ Mỹ.
Từ cuối 1972, tướng Loan đã được một người bạn chính trị gia làm việc ở Tòa Bạch Ốc gửi thư riêng thông báo đầy đủ về kế hoạch rút quân của Hoa kỳ theo đúng những điều khoản của Hiệp Định Paris ký kết giữa Lê Đức Thọ và H. Kissinger ngày 27 tháng 1, 1973. Cuối thư, người bạn khuyên ông liên lạc với TVQL Anh tại Sài Gòn để thu xếp việc di tản cho chính bản thân ông và gia đình một khi Sài Gòn lọt vào tay các toán tiền tiêu của 6 sư đoàn CSBV. Ông biết là Hoa Kỳ sẽ chẳng bao giờ đem quân trở lại tham chiến tại miền Nam. Trừ phi…
Rốt cuộc, trưa ngày 29 tháng 4, 75, tướng Loan và gia đình đã phải chật vật lắm mới leo lên được một vận tải cơ C-130 và tới Utapao lúc 16:00 giờ chiều.
Trời kia đã bắt làm người có thân – Nguyễn Du
Để kết thúc câu chuyện, tôi xin nhường lời cho Eddie Adams:
“Ông Loan chạy thoát Việt Nam trong thời gian Sài Gòn xụp đổ và đến Mỹ.  Sau cùng ông định cư ở vùng Burke, tiểu bang Virginia.  Ông gắng mở một tiệm ăn ở miền Bắc Virginia nhưng khi có người biết ông là chủ thì tiệm ăn đóng cửa.  Có những người phản đối đi vòng quanh khu đó hò hét để xả hơi nỗi bất bình của họ một cách thời thượng, an toàn.
“Ông ta rất đau yếu vì bị ung thư một thời gian. Và tôi nói chuyện với ông trên điện thoại tôi muốn làm một cái gì đó.  Tôi giải thích mọi điều và kể lại chuyện tấm hình đã hủy hoại đời ông như thế nào thì ông ta chỉ muốn quên chuyện đó.  Ông nói thôi bỏ đi.  Còn tôi thì không muốn ông bỏ đi như vậy.”
“Thiếu tướng Loan từ gĩa cõi đời cách đây một năm và một tháng (12).  Ông để lại vợ và năm đứa con.  Phần lớn những bản tóm lược tiểu sử người quá cố cũng giống như tấm ảnh đã hủy hoại đời ông, chỉ có một chiều và cố chấp”.
Adams gửi hoa phúng điếu với một tấm thiệp trên viết dòng chữ, “Cho tôi xin lỗi.  Lệ đang ứa trong mắt tôi.”
Chu Việt
Tháng 5, 2012
www.vietthuc.org


Tài liệu Ngành Tình Báo Điện Tử (SIGINT, Signal Intelligence) QLVNCH

Tuần báo TIME ngày 27 July, 1968

(1) Tuần báo TIME ra ngày July 27, 1968.
(2) Đại tá Của bị trọng thương do trực thăng Mỹ bắn lầm quân bạn tại đường Khổng Tử, Chợ Lớn trong cuộc Tổng Công Kích đợt II, tháng 5, 1968. Cũng bị sát hại nơi đây là Trung tá Phó Quốc Trụ, Quận trưởng 5 Cảnh sát và Thiếu tá Nguyễn Bảo Sĩ (em trai Trung tướng Nguyễn Bảo Trị) là bạn người viết bài này.
(3) Trong thời gian này, Trần Văn Trà là Tư lệnh CT-5 (CT = Công Trường hay Sư đoàn), Nguyễn Văn Sỹ, Tư lệnh CT-7, và Đồng Văn Cống, Tư lệnh CT-9. Trần Bửu Kiếm là Ủy viên Ngoại Giao của Trung Ương Cục Miền Nam (Cục R). Nguyễn Thị Bình là Bộ trưởng Ngoại Giao, Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Y tế và Nguyễn Hưũ Thọ, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời MTGPMN.
(4) Loại két sắt này chịu được nhiệt hỏa hoạn cao hàng ngàn độ C, phía trong  được trang bị chất phóng xạ radium chống chụp hình lén.
(5) CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support) là nỗ lực bình định nông thôn miền Nam của Hoa Kỳ qua chương trình “Phượng Hoàng”.
(6) Thủ Dầu Một – Biên Hòa
(7) Đầu đạn “dum dum” có sức công phá mạnh vì dãn nở hay nổ lần thứ hai khi xuyên vào mục tiêu. Do đó, công ước The Hague đã cấm chỉ sử dụng.
(8) Đạn Flechette BF3, tốc độ cực nhanh có thể xuyên qua thiết giáp.
(9) Đại úy đặc công Nguyễn văn Lém bị Cảnh Sát Dã Chiến bắt tại trại gia binh Thiết Giáp Phù Đổng Thiên Vương, Gò Vấp, sau khi hắn đã tàn sát dã man tòan thể gia đình Trung tá Tuấn, gồm cha mẹ và vợ con ông (trong đó có đứa 6 tuổi). Tuấn là bạn đồng khóa, rất thân với tướng Loan. Khi bị bắt, trong mình Lém vẫn còn dấu khẩu súng lục K-54 bị áo che khuất. Lém không được coi là tù binh chiến tranh theo Công Ước Geneva.
(10) Xem Chương 15: “Vào để giúp… Ra lại Bắn Nhau?”.
(11) Kế hoạch phòng hờ này được TS Hưng lược trình trong Chương 15, Sách đã dẫn. Đại sứ Martin gọi nó là “crazy” (điên rồ) và cực lực phản đối. Đại khái, nó bao gồm 3 phương sách thay thế nhau để di tản 6,000 người Mỹ và một số người Việt nhất định:
- Mỹ trải 2,000 TQLC dọc theo QL-15 (Sài Gòn – Vũng Tầu) giữ an ninh di tản.
- Mỹ thiết lập cầu không vận bằng C-130 và C-141 giữa Tân Sơn Nhất và Utapao.

- Mỹ thiết lập cầu không vận trực thăng giữa Sài Gòn và các quân vận hạm ngoài khơi Vũng Tầu.
(12) Ông mất ngày 14 tháng 7, 1998 ở tuổi 68.

Bài đọc suy gẫm: Lấy Mỡ Nó Rán Nó

LM Nguyên Van Khai

-- Tôi nghe các ông đe bắt tôi. Xin mời các ông cứ việc bắt tôi. Tôi rất hân hạnh nếu được bắt chung với giáo dân, và tôi nói cho các ông điều này nữa “Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ giết người lành, án phạt vào thân”. Kinh Thánh nói như vậy và tôi tin như vậy.

-- “Bản chất của chế độ Cộng sản vô thần nó là cơ chế tội ác đa quốc gia, xuyên quốc gia, nó là cơ chế tội ác toàn cầu, càng ngày nó càng ác, nó ác có hệ thống cho nên nó thấy ai làm điều thiện là nó lồng lộn lên nó chịu không nổi, nó chỉ muốn giết chết thôi!”
-- “Tôi nói thật với các ông nhá, báo, đài của các ông toàn xuyên tạc, chụp mũ, nói láo, mà nói láo một cách trắng trợn, trơ trẽn, không biết liêm sỉ là gì! Chụp cho tôi đủ thứ mũ. Tôi không xứng đáng để đội những cái mũ bẩn thỉu ấy của các ông.
-- Mà các ông đe bắt tôi à, tất cả chúng tôi đều làm việc tốt hết, tốt cho dân tộc, tốt cho đất nước, tốt cho con người. Mà vì cái tốt ấy mà chúng tôi phải chịu bắt bớ, tù đày, chết chóc, Không sao!

-- Các ông tưởng không có chúng tôi đây, nhà thờ Thái Hà chết? Không! Ngày xưa lúc các ông còn đang mạnh ở thập niên 1950-1980, các ông tìm cách bóp nát Thái Hà thế nào!
-- Mấy Thầy ở Thái Hà chết, mấy cha ở Thái Hà bị tù, bao nhiêu dân Thái Hà bị tù, chỉ sống sót một linh mục già yếu, mắt mù, thế mà các ông thấy, bây giờ giáo xứ Thái Hà chúng tôi vẫn sống, và sống khỏe nhất thành phố này, nếu không muốn nói là khỏe nhất nước này.

-- Rồi các ông xem, tôi nói cho các ông biết là tôn giáo phát triển theo qui luật rất mầu nhiệm. Càng bị đánh đập, càng bị bách hại lại càng phát triển. Càng chết lại càng sống, cho nên tôi có đi tù cũng không sao hết, tôi có chết cũng không sao.

-- Thế hệ trước cha anh chúng tôi đã chết cho chúng tôi được sống, thì bây giờ tôi phải chết cho tương lai con em chúng tôi được sống.

Linh Mục Phê Rô Nguyễn Văn Khải(nguyên là phát ngôn nhân Giáo Xứ Thái Hà)
MỖI NGƯỜI LÀ MỘT CHIẾN SĨ TRUYỀN TIN


(repost)

"Lấy mỡ nó rán nó”


Bài đọc suy gẫm:
Theo Lm. Cao Phương Kỷ -
Dùng từ “Hiện Tượng” để chỉ một sự kiện, một biến cố lạ thường, đột xuất, thu hút sự chú ý của dự luận, đặc biệt của Truyền Hình và các Mạng Lưới thông tin, trong và ngoài Nước. Thật thế, L.M. NGUYỄN VĂN KHẢI, DCCT, là một tu sĩ trung niên, 41 tuổi đã xuất hiện trên diễn đàn Truyền Thông quốc tế như một phát ngôn viên cho những cuộc biểu tình chống bất công xã hội của chế độ độc tài cộng sản tại Thái Hà, Hà Nội, Đồng Chiêm…

Cha đã rời Việt Nam sang Roma du học và trong mấy tháng Hè 2011 vừa qua, đã tham dự các buổi Hội thảo, Diễn thuyết về những cuộc đàn áp Tự do Tôn giáo, vi phạm Nhân quyền của chế độ bán dân hại Nước. Đây là một hiện tượng rất hùng hồn làm CHỨNG NHÂN cho SỰ THẬT chiếu sáng vào những uẩn khúc, u uất, rối ren, bưng bít tại Việt Nam, dưới chế độ chuyên chế.
L.M Nguyễn Văn Khải, đã nghiễm nhiên trở thành một người Việt Tỵ nạn cộng sản, tại miền đất nước Tự Do, nên chứng từ của Vị Linh Mục can trường còn tăng thêm động lực để thức tỉnh lương tâm của Công đồng Việt Nam hải ngoại, nếu lâu nay vẫn thờ ơ, “im hơi lặng tiếng”, thì nay đã được nghe tiếng chuông báo động về nguy cơ mất Nước, mất Đạo vào tay Trung Cộng .

Qua bao gian truân, nguy hiểm, ngày nay L.M. Nguyễn Văn Khải đang sống giữa chúng ta, những người Việt tị nạn ở khắp năm châu. Đồng hương nên coi đó là một “hiện tượng” lạ lùng, do Bề Trên an bài, để làm chứng nhân tố cáo chế độ bán dân hại Nước, và thức tỉnh lương tâm nhân loại và đồng bào về hiểm họa mất Đạo, Mất Nước.

Trách nhiệm của mỗi người dân gốc Việt, là nên đáp ứng những lời kêu gọi để tích cực hành động hầu cứu vãn lại tình trạng quá bi thảm của Quê Hương….

Nhóm chủ trương Blog 16 xin hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc người Việt trong ngoài nước, không phân biệt tôn giáo, kể cả những người vô thần nguyên văn bài nói chuyện rất giá trị về những đấu tranh trong lãnh vực tôn giáo với tà quyền cộng sản của Lm. Phê Rô Nguyễn Văn Khải, do Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại
tổ chức tại Trung Tâm Công Giáo, miền Nam California.



Bài Nói Chuyện Của Linh mục Phê rô Nguyễn Văn Khải,
Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà tại Trung Tâm Công Giáo.
Thanh Phong/Viễn Đông

SANTA ANA. Hơn 600 đồng hương, không phân biệt tôn giáo đã đến Trung Tâm Công Giáo Việt Nam tại Santa Ana vào chiều Chủ Nhật 21.8.2011 để nghe Linh Mục Phêro Nguyễn Văn Khải, Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội nói chuyện về hiện tình tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt tại Thái Hà thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội. Buổi nói chuyện của LM. Khải do Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tổ chức.
Theo chương trình, buổi nói chuyện của Linh mục Nguyễn Văn Khải bắt đầu lúc 2 giờ, nhưng từ lúc 1 giờ, rất đông đồng hương đã đến, và những người đến muộn không tìm được chỗ đậu xe. Lúc gần giờ khai mạc, hội trường phải mở thêm một gian nữa để đủ chỗ cho mọi người tham dự.

Đức Cha Đa Minh Mai Thanh Lương, linh mục Quý, giáo sư Nguyễn Thành Long, nguyên Hội Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Trung Ương, ông Nguyễn Văn Liêm, Chủ tịch Cộng Đồng CGVN, GP. Orange, Tiến sĩ Phạm Kim Long, Ủy Viên Giáo Dục Quận Cam, Luật sư Đoàn Thanh Liêm, Ban Điều Hợp và các thành viên Phong Trào Giáo Dân, các cơ quan truyền thông Việt ngữ , Ban tù ca Xuân Điềm và đồng hương không phân biệt tôn giáo đã đồng loạt đứng lên chào đón linh mục Phêro Nguyễn Văn Khải khi ngài bước vào hội trường. Sau đó chăm chú nghe linh mục nói chuyện và biểu lộ sự thích thú bằng những tràng pháo tay liên tục.

Một trong những người tham dự , bà Nguyễn thị Hồng nói với chúng tôi: “ Tôi ở đây đã lâu, đi tham dự sinh hoạt cũng đã nhiều nhưng chưa bao giờ thấy có bài diễn văn, bài giảng, bài phát biểu nào hay hơn, lý thú hơn bài nói chuyện của ông cha này”.
Sau nghi thức chào quốc kỳ VNCH và Hoa Kỳ cũng như giây phút thinh lặng, mặc niệm các chiến sĩ Quân lực VNCH đã hy sinh vì tổ quốc, đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt thoát Cộng sản tìm tự do. Linh mục Nguyễn Văn Khải đã dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Sau đó, vị đại diện Phong Trào Giáo Dân lên giới thiệu linh mục Nguyễn Văn Khải với mọi người.
Trong bộ áo Dòng quen thuộc của các cha Dòng Chúa Cứu Thế, với vóc dáng nhỏ nhắn nhưng lanh lẹ, vầng trán rộng, cặp mắt sáng quắc và nụ cười thật tươi luôn nở trên môi, linh mục bước lên đứng trước mặt mọi người và nói bằng giọng khôi hài:

“Đúng như lời ông MC vừa nói, cho đến bây giờ con vẫn là nông dân, con làm nông nghiệp, con ở nông thôn. Phát âm sai như người Hà Nội thì con là “lông” dân, con làm “lông” nghiệp, con ở “lông” thôn”.

Con có ba cái “lông” đấy ạ, hay là ba cái “nông” ấy cho nên con vừa nông, vừa nhẹ. Cả nhà đây, thiên hạ nói con thế nào thì con không biết, nhưng con là nông dân nên con ăn nói như nông dân, thấy sao nói vậy. Và con cũng không phải là nhà tư tưởng hay nhà tranh đấu gì, không phải nhà tư tưởng sâu xa, cũng chẳng phải là nhà tranh đấu mạnh mẽ.

Con là bạn của người nghèo! Cũng như thể bao nhiêu anh em tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khác, chúng con là bạn của người nghèo, và chúng con theo chân người cha đi trước thì bây giờ chúng con là những người trẻ, cũng lại theo gót cha như vậy. Và như thể cha Vũ Ngọc Bích, là em bà nội con, là linh mục duy nhất của Dòng Chúa Cứu Thế sống sót ở miền Bắc sau năm 1954, ngài nhận con vào tu và ngài thường bảo đại khái rằng:

Tôi đã nhận chiếc cày từ tay cha tôi, tôi hân hoan đi vào mảnh vườn thế giới, nên dù sỏi đá cằn khô thì anh em ta cũng cứ phải vui vẻ nai lưng ra mà cày”.
Thế thì hôm nay con đến đây, con xin thưa với cả nhà là con nói trong tư cách là người con, người cháu, người em. Cả nhà đây toàn là những bậc đáng kính, con nhìn xuống thấy toàn các vị đáng tuổi ông, tuổi bố mẹ, cô dì, chú, bác hết cả. may lắm mới có một vài người cùng tuổi với thế hệ con, cho nên những điều con nói ở đây chỉ như những người con, người cháu trình bày trước các bậc tiền bối về suy nghĩ cũng như về công việc của đồng bào mình ở Việt Nam, cũng như những công việc của chúng con đây thôi, chứ không có gì là lớn lao, trọng đại.
Lúc nãy con đến cửa đây, con thấy hai bên có hai bảng kẻ vẽ các khẩu hiệu trông rất khí thế. Con thấy mấy xe Jeep cắm cờ, trông rất là “hoành tráng”, cứ như là đội quân “sắp hàng vào trận”. Và con thấy cái cảnh này bây giờ được đặt ở Hà Nội mới phải. Con thấy ở Hà Nội chống Tàu Cộng đấy nhưng lúc này không có khí thế, không có xe, có cờ, có khẩu hiệu hoành tráng như vậy. Bởi vì Hà Nội không có không khí tự do như ở đây và bởi nhiều lẽ khác không tiện nói.

Nhưng không phải vì như thế mà người dân Hà Nội, nhất là người nghèo, nhất là các tín hữu Công Giáo Hà Nội, lòng yêu nước lại kém đồng bào mình ở đây. Không! Con nói chuyện hôm kia ở báo Người Việt, con đến nơi thấy có bốn năm cụ già với 4 năm cây cờ Cộng Hòa rất đẹp, thấy các khẩu hiệu kẻ vẽ rằng: “Đả đảo những người xỉ nhục cờ Cộng Hòa” (cờ vàng). Rồi một khẩu hiệu khác là: “Linh mục Nguyễn Văn Khải nên ở Việt Nam. Ủng hộ LM. Nguyễn Văn Lý”.

Con thấy vui. Con nói với thính giả hôm ấy rằng, nếu con có thời gian, con sẽ ra nói chuyện với mấy người ấy, và nếu con có quyền, con sẽ ra mời mấy cụ ông, cụ bà vào trong này chúng ta cùng trò chuyện với nhau, vì con thấy rằng cái ý hướng tốt đẹp của các cụ ấy cũng “giống cháu”.
Giống cái thứ nhất là cháu cũng thấy lá cờ vàng này là đáng kính, đáng yêu. Chưa biết nó thế nào, nhưng cháu nghĩ là thời gian càng trôi đi thì lá cờ này càng biểu tượng cho lòng yêu nước của người Việt. Bởi vì cháu thấy chính phủ VNCH là một quốc gia, là thành viên của Liên Hiệp Quốc, được thế giới công nhận, đang khi ấy, lúc trước 1975, cháu là công dân của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là quốc gia không được Liên Hiệp Quốc công nhận.
Xét về mặt pháp lý quốc tế thì chính phủ hay VNCH là có chính nghĩa hơn. Lá cờ đỏ sao vàng mà cháu là công dân, cháu thấy nhục, nhục lắm! Vì nó là cờ bán nước, vì bán Trường Sa, bán Hoàng Sa, bán Thác Bản Dốc, bán Hữu Nghị Quan, bán những vùng mà cháu đã đi đến tận nơi, cháu đã thấy, đất thì bị lấn thế nào và người Việt mình lại nằm trong phần đất bị Trung quốc chiếm mất.

Cháu đến tận nơi, và cháu thấy rằng, bây giờ thời gian trôi đi, Trung quốc càng ngày càng thể hiện cái sự thống trị của mình trên đất nước Việt Nam một cách trắng trợn hơn. Đang khi ấy, cái lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng tốt đẹp tự nhiên của con người cũng không được phép bày tỏ. Hễ ai bày tỏ lòng yêu nước thì bị chụp mũ là chống nhà cầm quyền và bị bắt bớ, thủ tiêu, tù đày.

Cho nên, thấy vậy, cháu mới thấy lá cờ Vàng này mới là biểu tượng cho lòng yêu nước, cháu thấy sao cháu nói vậy. Cháu thấy mình nên tự hào về điều đấy. Bởi vậy cho nên cách đây gần hai tháng, lần đầu tiên ở nhà thờ Kỳ Đồng và Thái Hà, cầu nguyện cho các nạn nhân của họa ngoại xâm, cho các nạn nhân của công lý hòa bình, cho các ngư dân bị Trung quốc bắt, giết thì ở các màn ảnh rộng trong ngoài nhà thờ Kỳ Đồng chiếu cảnh Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đánh trả quân Trung quốc, chiếu cảnh cờ Vàng của Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới, và cháu tin rằng nhiều người trẻ bây giờ hay tới nhà thờ thì hiếm hoi được trông thấy cờ Cộng Hòa.

Và như cháu đã nói hôm trước, cháu trông vào đây (Cờ Vàng) một cái thấy là một dải non song gấm vóc màu vàng. Ba miền Bắc, Trung, Nam thống nhất trên một dải đất, rất ý nghĩa. Trông vào lá cờ đấy thấy cái gì đó sang trọng, màu vàng là màu sang trọng, biểu hiện cho vương quyền, là màu của nhà vua (không biết cháu có nhớ đúng không)?
Đại khái vậy. Nhưng cái đề tài chính hôm nay, TV có loan tin, báo có viết, đài có nói rồi nên cháu không thể nói khác được. Cháu nói chuyện đầu tiên hôm nay là vấn đề “Vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam”.
Rất buồn, ở trong nước cháu cũng nghe, ra ngoài nước cháu cũng nghe, có rất nhiều người nói: Việt Nam bây giờ có tự do tôn giáo rồi, người Việt Nam nói, người ngoại quốc nói. Bằng chứng là bây giờ đi nhà thờ tự do, bằng chứng là bây giờ xây dựng nhà thờ, thánh thất tự do, bằng chứng là người đến nhà thờ đầy tất cả, và bằng chứng là các linh mục, tu sĩ, các hòa thượng, thượng tọa đi ra vào nước tự nhiên như không vậy.
Họ lấy bằng cớ đó để khẳng định Việt Nam có tự do tôn giáo, nhưng theo cháu là người sống ở Việt Nam thì cháu thấy, đấy là dối trá. Việt Nam thực sự không có tự do tôn giáo, mà trên thực tế tự do tôn giáo đã và đang bị vi phạm nghiêm trọng.
Nói là tự do đi lễ, đi nhà thờ? Thưa, không! Trên giấy tờ thôi. Thực tế chỉ ở vùng Công giáo đông người và các thành thị, nhưng ngay cả ở thành thị như Thái Hà, thì giáo dân đến Thái Hà đi lễ, đi hành hương luôn luôn bị chặn. Cho đến bây giờ xe vẫn luôn bị chặn như thường. Không phải chỉ chặn xe giáo dân, xe linh mục cũng bị chặn, Giám mục cũng bị chặn.

Đức Cha Nguyễn Văn Sang về Thái Hà hành hương bị công an chặn ngay ở lối vào thành phố ngon lành vậy! Cho nên đâu có tự do. Còn năm ngoái, vụ Đồng Chiêm xẩy ra, bao nhiêu ngàn người vào hành hương đều bị nhà nước chặn tất, mà chặn một cách bẩn thỉu, làm khổ cả dân lành, tức là đem xe đất, đá đền đổ ngay giữa đường rồi chận đầu, chận đuôi khiến người trong làng, xe pháo không đi lại được, đổ cả hai đầu. Chưa kể chỗ đó có cây cầu, công an chận đấy. Không phải một chốt đó mà đứng đầy hai bên đường, hễ ai đi vào là tấn công. Đấy! đâu có tự do đâu!

Còn cháu đây, cháu đi tới các vùng ở Tây Nguyên cũng như ở Sơn La, Điện Biên, cháu biết, nhiều người đi lễ họ không cho ra khỏi làng. Nhiều người đi đến nhà dân tụ họp cầu nguyện là họ bắt phạt. Còn linh mục, mục sư đến đó là bắt ngay. Cho nên nhiều mục sư nói chuyện với cháu là toàn phải lợi dụng ngày lễ, Tết, cán bộ “mải mê ăn nhậu” thì mới vào được. Thứ hai là vào lúc đêm tối. Tối vào, sáng ra, mà vào không báo trước. Cháu có bằng chứng chứ không phải cháu nói không. Như thế có tự do không? Còn nữa, là bảo tự do xây nhà thờ? Không! Nhà thờ chỗ cháu cách đây 10 năm, xin phép sửa lại, nâng cao lên một tí không cho nâng.

Ở Tổng Giáo phận Hà Nội có nhà thờ giáo xứ Bảo Long do cha Phạm Minh Triệu trông coi. Ngài về đó hai năm nay, ngài bảo: “Cha Khải ơi, con về đây còn có cái nhà thờ này xin phép 15 năm rồi mà không cho xây. Bây giờ không cần phép nữa, ta cứ xây thôi, chết thì chết, thế là xây. Họ đâu có cho đâu. Còn bây giờ bảo xây dựng một tu viện mới thì càng khó, không có tự do đâu.
Một Thánh Lễ do cha Khải cử hành ở miền quê,
nơi mà giáo đường là nhà của giáo dân.


1.
Cái thứ nhất, cháu thấy nhà cầm quyền vi phạm tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng. Đó là nhà cầm quyền thò cái bàn tay lông lá của mình can thiệp vào những sinh hoạt thuần túy tôn giáo.

Cha bạn cháu là cha coi giáo xứ Cẩm Sơn ở Phủ Lý, Hà Nam, lễ Giáng Sinh vừa rồi, ngài gọi điện thoại cho cháu bảo: “Bác Khải ơi, công an Huyện, công an Tỉnh cứ liên tục vào đây kêu em đưa chương trình thánh lễ và chương trình dịp lễ Giáng Sinh để cho họ duyệt! Em bảo: “Mấy cái bố này vớ vẩn, các bố không có đạo, tại sao đòi duyệt chương trình lễ của tôi?

Đấy. Họ thò cái bàn tay lông lá rồi can thiệp vào sinh hoạt thuần túy tôn giáo ở cái mức tinh vi nhất làm cho các tôn giáo bị tha hóa, đó là can thiệp vào việc đào tạo, việc phong chức, phong phẩm trong các tôn giáo. Không có phép nhà nước không được vào chủng viện. Không có phép nhà nước không được truyền chức. Không có phép nhà nước không được thuyên chuyển từ xứ nọ qua xứ kia.

Không có phép nhà nước không được nhận chức Giám Mục. Tòa Thánh muốn bổ nhiệm ai làm Giám Mục, thì trước đó phải được chính phủ đồng ý đã. Vậy là, thực tế ông nhà nước nắm cả quyền bổ nhiệm, phong chức Giám Mục của mình rồi. Đấy, Công Giáo đang bị như vậy. Cho nên Đức Cha Nguyễn Thái Hợp nói: “Đã đến lúc phải xem lại tiến trình bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam”. Cháu kể sơ như thế, không có thời gian nói dài, cho thấy không có tự do tôn giáo tại Việt Nam.
2.
Điểm thứ hai cháu thấy không có tự do và bình đẳng về phương diện xã hội, đối với các tôn giáo và đối với tín đồ của các tôn giáo.

Không bình đẳng về xã hội. Ví dụ người Tin Lành, người Công giáo về mặt xã hội, là bị phân biệt đối xử rất rõ, bị coi là công dân hạng hai. Phật giáo Hòa Hảo cũng thế thôi! Bắt đầu vào năm học, bao giờ cũng có thủ tục khai báo là thuộc tôn giáo nào để nhà trường cũng như các cơ quan, đoàn thể có chính sách dò xét và kềm chế người Công giáo, Tin Lành. Dù có giỏi thế nào đi chăng nữa, dù có đạo đức thế nào chăng nữa vẫn bị đối xử phân biệt.

Mặt khác, ở mỗi giáo xứ, Dòng Tu, tòa Tổng Giám mục đều có con dấu, nhưng các cơ quan, đoàn thể nhà nước không công nhận. Ví dụ cháu ở Hà Nội, cháu không thể đọc sách ở bất cứ Thư viện nào, không nhận được tiền gửi qua Bưu điện, vì sao vậy? Thủ tục nhận tiền của Bưu điện là có Chứng Minh Nhân Dân, có hộ khẩu lại có ông Chủ tịch Phường chứng nhận vào cái giấy của Bưu Điện gửi kèm là đương sự đang ở địa chỉ này rõ ràng. Thế mà ở Saigon trang mạng của hội đồng giám mục Việt Nam gửi cho cháu mấy trăm ngàn tiền nhuận bút .

Cháu cầm giấy báo ra phường xin chứng nhận, họ nói ông là tu chui, ở chui, không có hộ khẩu, chúng tôi đâu có biết ông đâu mà chứng nhận? cho nên không lấy được. Rồi khi đọc sách ở Thư viện, vào Thư viện xin làm thẻ đọc sách, thì phải có giấy giới thiệu của cơ quan chủ quản, mà cơ quan chủ quản của cháu là Dòng Chúa Cứu Thế mang giấy của Bề Trên ký cho cháu ra, thấy cái dấu của nhà đạo, có thánh giá. Không nhận! Xin thi bằng lái xe cũng thế. Thế là khỏi đọc sách, khỏi thi bằng lái xe, khỏi làm gì hết!
Họ đòi giấy tờ của cơ quan chủ quản, đến khi đưa ra họ không nhận thì biết làm gì bây giờ? Có người hỏi: Tại sao cha Khải lại “làm” như thế? Cháu nói thẳng với chính quyền: “Tôi nói thật với các ông, tôi không sợ! Tôi chẳng có gì để mất hết cả!
Cháu nói nhiều lần với công an Hà Nội:“Tôi đây, đi tu hai mươi mấy năm nay, xin hộ khẩu các ông không cho nhập, tôi muốn vào tu viện, nhà nước cũng không cho. Tôi muốn ra khỏi Dòng Tu cũng không được, vì bây giờ tôi đã khấn trọn đời bền đỗ trong Dòng rồi. Vào không được mà ra cũng không xong! Lên cũng không được, không lên làm Giám Mục được! Vì tôi tu chui, chịu chức chui mà lại là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Tôi xuống cũng không được, vì tôi đã là giáo sĩ rồi và mãi mãi là giáo sĩ! Không xuống làm dân thường được nữa!

Đấy, lên không lên được, xuống không xuống được, ra không ra được, vào không vào được, cứ lơ lửng giữa Giời thì còn gì để mất? Cho nên bây giờ cứ việc đúng tôi làm thôi. Vì tôi là nạn nhân, tôi thấy bao nhiêu người khác là nạn nhân, cho nên “đồng thân, đồng phận”, chúng tôi giúp nhau, thế thôi! Chết cũng chơi!

Còn nhà cầm quyền cứ nhắn tin, nhắn vào điện thoại di động cháu là đe bắt, rồi nhắn tin qua các luật sư và cán bộ để nói lại cho cháu là sắp bắt ông đến nơi rồi. Cháu nói thẳng với công an thành phố Hà Nội, chính quyền Hà Nội:

“Tôi nói thật với các ông nhá, báo, đài của các ông toàn xuyên tạc, chụp mũ, nói láo, mà nói láo một cách trắng trợn, trơ trẽn, không biết liêm sỉ là gì! Chụp cho tôi đủ thứ mũ. Tôi không xứng đáng để đội những cái mũ bẩn thỉu ấy của các ông. Mà các ông đe bắt tôi à, Cháu nói, tất cả chúng tôi đều làm việc tốt hết, tốt cho dân tộc, tốt cho đất nước, tốt cho con người. Mà vì cái tốt ấy mà chúng tôi phải chịu bắt bớ, tù đày, chết chóc, Không sao!

Các ông tưởng không có chúng tôi đây, nhà thờ Thái Hà chết? Không! Ngày xưa lúc các ông còn đang mạnh ở thập niên 1950-1980, các ông tìm cách bóp nát Thái Hà thế nào! Mấy Thầy ở Thái Hà chết, mấy cha ở Thái Hà bị tù, bao nhiêu dân Thái Hà bị tù, chỉ sống sót một linh mục già yếu, mắt mù, thế mà các ông thấy, bây giờ giáo xứ Thái Hà chúng tôi vẫn sống, và sống khỏe nhất thành phố này, nếu không muốn nói là khỏe nhất nước này.

Rồi các ông xem, tôi nói cho các ông biết là tôn giáo phát triển theo qui luật rất mầu nhiệm. Càng bị đánh đập, càng bị bách hại lại càng phát triển. Càng chết lại càng sống, cho nên tôi có đi tù cũng không sao hết, tôi có chết cũng không sao. Thế hệ trước cha anh chúng tôi đã chết cho chúng tôi được sống, thì bây giờ tôi phải chết cho tương lai con em chúng tôi được sống.

Cháu nói thẳng với họ thế này, tôi nghe các ông đe bắt tôi. Xin mời các ông cứ việc bắt tôi. Tôi rất hân hạnh nếu được bắt chung với giáo dân, và tôi nói cho các ông điều này nữa “Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ giết người lành, án phạt vào thân”. Kinh Thánh nói như vậy và tôi tin như vậy. (hình như là ngày 14.9.2008, cháu nói một lần nữa như thế rồi là các Thầy đi cùng có ghi âm và có đưa lên mạng cái phần này).
Tay trưởng công an quận Đống Đa (đứng chống nạnh) đưa loa
nhờ cha Khải ổn định trật tự lại giúp nhưng sau đó trên các báo đài truyền hình nhà nước, họ chụp lại hình ảnh này và loan tin cha Khải cầm loa kích động giáo dân…. Tay bồi bút Trọng Nghĩa của báo An Ninh Thủ Đô liền bị ngay những người công chính vạch mặt
(link).


Hình dưới: Cha Khải trong một buổi
đi cứu bà con bị lụt tại Hà Nội.


Các cha nhà cháu không sợ chết đâu! Các cha trẻ hơn cháu nhiều, mới chịu chức linh mục, có người trẻ hơn cháu cả chục tuổi ở Thái Hà, thiên hạ đe bắt các cha Thái Hà và trừng trị trong đó có cháu, thế là các anh em trẻ bảo: “Anh Khải ơi, xin anh đừng có xuống sân gặp giáo dân, xin anh đừng ra nhà thờ làm lễ, xin anh ở trên phòng làm lễ nơi nhà nguyện để dân không thấy họ mới thương, họ mới bức xúc, còn chuyện còn lại để chúng em!

Thế là mấy cha trẻ đó ra ghi một tờ giấy để trên bàn thờ, cha nào ra làm lễ cũng đọc: “Thưa cộng đoàn, mấy hôm nay đài, báo , TV nhà nước lại bắt đầu tấn công Thái Hà, đài, báo, TV đang dọn đường để bắt các cha, và họ đang nhắm vào cha Khải. Thế thì thưa cộng đoàn, chúng ta cầu nguyện để làm sao cho nhà nước sớm đến bắt cha Khải để chúng ta xuống đường ra tòa án cùng cha Khải;
Chúng ta cầu nguyện để cha Khải sớm vào tù, để chúng ta có dịp hành hương vào nhà tù thăm cha Khải. Xin cộng đoàn cầu nguyện cho cha Khải bị chết trong tù để thành tử đạo, để Đền Thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà trở thành Đền Thánh Tử Đạo nữa cho thêm đông vui”.


Cha nào ra cũng kêu gọi đại khái như thế, thế là giáo dân bừng bừng khí thế, bức xúc như cháy nhà đến nơi. Thế là thôi, đài, báo, TV tự nhiên mấy hôm sau là tắt cả! Cái phép ấy người miền Bắc chúng cháu gọi là “Gậy ông đập lưng ông” hay còn gọi là “Lấy mỡ nó rán nó”.
3.
Đấy, cháu nói người Công giáo bị phân biệt đối xử
về mặt xã hội. ( Thứ ba) Người Công giáo còn bị
phân biệt đối xử về lãnh vực chính trị.


Con người có quyền chính trị, có quyền tham gia các hội đoàn, nắm các chức vụ trong guồng máy hành chính của chính quyền, trong guồng máy hành pháp, tư pháp và lập pháp. Nhưng không bao giờ người Công giáo được tham gia vào guồng máy hành pháp hay tư pháp của chính quyền cả. Còn lập pháp ở Quốc hội thì có mấy linh mục, nhưng đấy chỉ là “bù nhìn”, chỉ “làm cảnh” cho nó đẹp thôi.

Người Công giáo, người Tin Lành bây giờ tổng cộng hơn chục triệu ở VN, vậy mà cháu theo dõi, không thấy một người Công giáo, Tin Lành nào được làm Thứ Trưởng, Tổng Cục Trưởng, được làm Tướng, làm Tá. Không một người Công giáo nào được làm đến chức Quận Trưởng, Huyện Trưởng, Không! Chức cao nhất mà người Công giáo, người Tin Lành có thể nắm đấy là chức Chủ Tịch Xã, hay gọi nôm na là Trưởng Làng.
Cháu giảng ở nhà thờ Thái Hà, cháu bảo: Đấy, xem nhà nước kia kìa, loa chõ vào nhà thờ suốt ngày nói tự do tôn giáo nhưng chúng ta xem, ở cái đất nước này, dân tộc thiểu số vùng cao học được bao nhiêu, như Nông Đức Mạnh kia mà còn làm Tổng Bí Thư. Dân tộc thiểu số mà làm Tổng Bí Thư, đang khi ấy người Công giáo hàng triệu người bao nhiêu đời có văn hóa thế mà không bao giờ được nắm một chức vụ quan trọng nào, làm sao mà bảo có tự do tôn giáo được?

4. Điều thứ tư là nhà cầm quyền đã vi phạm tự do tôn giáo ở chỗ là tín đồ các tôn giáo bị phân biệt đối xử trong lãnh vực kinh tế.

Cụ thể là người Mỹ vào VN mua đất làm nhà máy, xí nghiệp, lập công ty được nhưng các giáo hội, nhà thờ, nhà chùa thì không được nhân danh tập thể mà mua đất lập công ty. Thấy chưa, bị phân biệt về kinh tế mà còn tìm cách nắm kinh tế của các tôn giáo. Pháp lệnh tôn giáo 2004, Nghị Định tôn giáo 2005 qui định: Mọi giao dịch kinh tế của các tôn giáo liên quan đến tiền bạc đều phải qua nhà nước kiểm soát hết. Nhưng trên thực tế, lãnh tụ của các tôn giáo khôn, sức mấy để cho nhà nước kiểm soát được túi tiền của mình.

Lại còn thế này nữa, các nhà thờ tổ chức quyên góp phải có phép nhà nước, cái gì họ cũng tìm cách thò bàn tay lông lá vào, mà sức yếu không thò được mà cứ cố thò vào. Cháu thấy nhà cầm quyền sao họ mê muội như vậy. Đấy là về phương diện kinh tế. Thậm chí lập một tài khoản họ cũng không cho lập, thí dụ lập tài khoản cho giáo xứ Thái Hà, Tổng Giáo Phận Hà Nội, Việt Nam hay là chùa Thiên Mụ. Không! Đố cơ sở tôn giáo nào, giáo hội nào ở VN mà được đứng tên một tài khoản ở ngân hàng cho nên mới xẩy ra chuyện cách đây mấy bữa là có một nhà sư ở Saigon mất, để lại mấy trăm nghìn đô la.

Thế là người nhà đòi cái phần ấy của mình, ở VN cái phần ấy là của mình thật nhưng luật giáo hội, người đó đi tu, tài sản ấy là của giáo hội, thế nhưng vì không cho đứng tên nhà chùa, mà chỉ cho đứng tên nhà sư đó thôi. Như thế tài sản của tôn giáo rất là nguy hiểm, rất là cheo leo. Ngay cả những người có lòng thiện, không có lòng tham đi chăng nữa thì tài sản cũng rất cheo leo, vì nó liên quan đến vấn đề luật pháp. Không khéo cả giáo hội mất nghiệp, bán nhà thờ, tòa Giám mục để mà đền.

Thật sự là như thế, chưa kể là có giao dịch ở bên này phải gửi vào tài khoản chung chính quyền ở đây mới cho gửi và mới được miễn thuế nhưng bên kia, nhà cầm quyền lại không cho lập tài khoản mang danh tập thể, thế là giao dịch bế tắc! Khổ chưa?
Đấy, về kinh tế, cháu nói cái này mới đểu cáng và thâm độc mà nhiều người không thấy. Ngay cả những người ở VN nhiều khi cũng không thấy. Đó họ tìm cách đập tan các khu vực kinh tế quan trọng của các tôn giáo. Ví dụ ở Saigon, ai cũng thấy mảnh đất đối diện Bến Bạch Đằng là Thủ Thiêm, là một làng Công giáo mấy trăm năm thế bây giờ họ giải tỏa trắng dân, còn nhà thờ với nhà Dòng trật ra đấy.

Giải tỏa trắng dân đi chỗ khác để cướp chỗ đất ấy làm Trung Tâm Thương Mại Đa Chức Năng. Cộng đoàn có thể lên mạng thấy ngay bản đồ vẽ Khu Thương Mại Đa Chức Năng, cả khu vực nhà Dòng Mến Thánh Giá cũng bị như vậy, trên bản đồ thành như thế rồi. Thế là họ phá cơ sở quan trọng kinh tế của Công giáo chứ gì, vì dân có giầu, nước mới mạnh, giáo dân có mạnh thì giáo hội mới tồn tại được.
Rồi ai cũng biết miền Đông Nam bộ, cái Trung Tâm Thương Mại Chợ Sặt của người Kẻ Sặt từ Hải Dương vào lập nên từ năm 1954 là khu thương mại quan trọng từ xưa đến nay ở miền Đông nam bộ, thế bây giờ các bố muốn đập tan cái Trung tâm kinh tế của Công giáo và cũng là của cả nước, thế là các bố xây một cái Trung tâm thương mại ở gần và các bố tìm mọi cách ăn cướp cái Trung tâm kinh tế Chợ Sặt của người Công giáo để buộc tất cả các mối hàng, thay vì mua ở chợ Sặt phải mua ở Trung tâm thương mại kia, mà cái đất đó các bố bày đặt ra là để sẽ biến thành nhà trường thế này thế nọ, mà giáo dân Sặt có sự giúp đỡ của truyền thông công lý nhưng suốt mấy năm nay đấu tranh , bây giờ vẫn đang giằng co.

Cháu nói ở bên Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo cũng thế thôi! Rồi Cồn Dầu, cả một vùng đất kinh tế, vùng đất đô thị đầy tiềm năng đang phát triển, bây giờ tìm cách giải tỏa trắng để mà cướp đất, những chỗ khác cũng đại khái như vậy.

5.
Cái thứ năm là cái vi phạm tôn giáo về phương diện kêu
là “Thông tin văn hóa, giáo dục, y tế từ thiện”.

Tôn giáo và tín đồ các tôn giáo bị phân biệt đối xử, không có tự do trong lãnh vực thông tin, văn hóa, giáo dục, y tế , từ thiện. Về thông tin: Không một đạo nào có được một đài phát thanh, một tờ báo, một tạp chí, một nhà xuất bản. Không! Nếu có báo nào gọi là giác ngộ hoặc như Công giáo Dân Tộc thì đấy toàn là “Báo Đảng”. Báo Đảng viết về đạo.Thế thôi!

Bên Công giáo có một tờ gọi là Hiệp Thông, là thông tin chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Bộ Văn Hóa Thông Tin cấp một giấy phép xuất bản cho cái tờ này nội dung ấn định rõ ràng: Mỗi tháng không qúa 100 bản, mỗi bản không qúa 100 trang, mỗi trang khổ A5.

Thế cháu ngồi cháu nhân, cháu tính, cháu chia cho số 8 triệu người Công giáo thì mỗi năm về mặt thông tin chính thức, mỗi giáo dân Việt Nam được khoảng 2 chữ! Về Văn hóa: Tín đồ các tôn giáo Công giáo, Tin Lành hay Hòa Hảo, đố mà thấy các tín đồ các tôn giáo đấy được học về đại học Ngoại giao, đại học Quốc Phòng, đại học An Ninh, đại học Quân Sự. Không! Mỗi khi thấy một đơn xin thấy hai chữ Công giáo là gạch chéo, “out” ngay! Không cho người của các tín đồ được bình đẳng trong việc học hành.

Rồi nữa, sang lãnh vực giáo dục, nhà nước cho các công ty ma, cho các trường đại học ma vào Việt Nam lập nên các Trung tâm dạy ngoại ngữ ma, các Trung tâm giáo dục ma rồi cuối cùng vô tư cấp bằng giả cho các cán bộ vô tư! Không sao. Thậm chí có các Cán Bộ Trung Ương học lấy bằng Tiến sĩ chỉ trong 6 tháng mà không cần biết tiếng Anh. Kinh!

Nhà nước cho phép mở các Trung tâm ma, đại học ma vân vân và v..v… nhưng các tôn giáo không được lập Trung học, Đại học, Tiểu học. Các tôn giáo chỉ được phép mở Trường Mầm Non! Đang khi ngay tại Hà Nội, hôm nay báo nói thế này, trường Mầm Non ngay tại Hà Nội không có nhà vệ sinh, mỗi khi đi vệ sinh phải đi vào túi ny lông bỏ đấy, rồi các cô giáo chở đi hàng cây số để đổ!

Thế nhưng Dòng Tu nào, giáo xứ nào làm đơn xin mở trường Mầm Non là cán bộ xã, cán bộ Huyện, Phòng Giáo Dục Huyện,rồi trường tiểu học ở xã, rồi công an, Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Phụ Nữ rồi bên Y Tế , Tổ Dân Phố họ hạch sách đủ mọi thứ luật lệ, đủ mọi thứ lệ làng được bày ra để họ tìm cách họ không cho các giáo xứ, các nữ tu lập trường Mầm Non. Chỗ nào lập được rồi thì họ cứ nay kiểm tra, mai kiểm tra, sách nhiễu khốn khổ.
Cho nên muốn làm việc từ thiện ở VN không dễ đâu, vì bản chất cái chế độ Cộng sản vô thần, cháu không biết những người khác nhận xét thế nào, nhưng theo cháu nhận thức Bản chất của chế độ Cộng sản vô thần nó là cơ chế tội ác đa quốc gia, xuyên quốc gia, nó là cơ chế tội ác toàn cầu, càng ngày nó càng ác, nó ác có hệ thống cho nên nó thấy ai làm điều thiện là nó lồng lộn lên nó chịu không nổi, nó chỉ muốn giết chết thôi!”

Cho nên cháu thấy bao nhiêu người có thiện chí mà nếu không kiên trì nhờ ơn Chúa thì không làm việc thiện được trước sự sách nhiễu của nhà cầm quyền khốn nạn! Đồng bào ở đây không thấy trước mắt nên có thể không bức xúc, chứ con thấy trước mắt bao nhiêu năm rồi, chịu không nổi! Đấy là về mặt giáo dục.

Trung tâm từ thiện cũng vậy, không được mở. Trại mồ côi khuyết tật, trại HIV-AIDS thì nhà nước nắm tất, còn các cha, các thầy, các sơ, những ai muốn làm trong ấy thì phải làm dưới bóng của họ quản lý. Ví dụ như ở Saigon, chính quyền lập một cái trại HIV-AIDS cho những người gần chết, người công giáo gọi là Trọng Điểm, ở giữa khu vực Biên giới Bù Gia Mập và Thủy điện thác Mơ của tỉnh Tây Ninh. Thế mà các tu sĩ lên đó làm việc chỉ như nhân viên của nhà nước với lương tháng chỉ một, hai triệu gì đấy.

Nhưng nhờ có các sơ làm việc trên đó mà bao nhiêu cơ quan từ thiện Công giáo mới giúp đỡ các nạn nhân. Còn đám cán bộ nhà nước họ vẫn nắm quyền lãnh đạo, vẫn ăn tiền từ trên rót xuống và tiền từ nước ngoài đổ vào, còn nạn nhân chết thì thôi, họ không cần! Đấy, cháu nói về lãnh vực từ thiện nó là như vậy.

Và mấy năm trước còn có một cái lệnh ác thế này là mọi công tác từ thiện ở Việt Nam từ nay chỉ có Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương mới có quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức của nhà nước nhưng không phải Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương cũng không có quyền. Con xin nói tiếp thế là về vấn đề thông tin văn hóa, giáo dục, y tế, từ thiện đại khái nó là như thế chứ còn nhiều chuyện đau lòng, cháu không muốn đi nhiều vào cụ thể.
6.
Còn chuyện thứ sáu về vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam, đó là nhà nước xiết chặt và kiềm chế, vi phạm đến quyền tự do cư trú,tự do di chuyển của các tu sĩ cũng như của các tín đồ tại những khu vực mà nhà nước gọi là “nhạy cảm”.

Ví dụ năm ngoái, cháu hẹn với giáo dân một bản ở Mộc Châu giáp Lào và Thanh Hóa, kêu họ ra thị trấn Mộc Châu cho chúng cháu gặp. Họ đi ra khỏi làng, cán bộ không cho. Khi họ trốn được khỏi làng ra bến xe, thì những người chủ xe được lệnh không cho những người đó lên xe. Thế là họ là họ đi bộ từ chiều hôm trước.

Hôm sau chúng cháu lên Mộc Châu không thấy đâu, gọi điện về bản thì bảo đi rổi, thế cháu mới nói tắc xi chạy ngược lại thì giữa đường đang thấy hai phụ nữ dắt ba đứa con giữa trời nắng cứ vui vẻ vô tư đi bộ, mặt mày rất phấn khởi. Đối với họ không có ý niệm thời gian, và nếu mình không vào đón, họ cứ đi như vậy đến tối, đến mai tới cũng được, và lúc đó họ đi được hơn 30 cây rồi. Cháu có hình ảnh chụp họ đang đi giữa đường đàng hoàng nhưng cháu không mang theo đây.
Còn các tu sĩ chúng cháu muốn đi từ xứ này đến xứ kia làm việc phải được chính quyền nơi đến chấp nhận, còn chính quyền nơi đến không chấp nhận thì mình không được đến. Cha Trịnh Duy Công ở giáo xứ Sở Kiện, Hà Nam ngài giảng dậy ngài hay mạnh dạn tố cáo chính quyền phản động bán nước, thế là công an tỉnh đánh tiếng đe dọa sẽ trục xuất ngài khỏi địa phương. Thế là ngài giảng:

Các ông công an theo dõi tôi ngồi ở bên dưới, các ông cứ vào trực tiếp gặp tôi đây này để nói gì thì nói. Đừng đi bỏ nhỏ với giáo dân. Cái đó không quân tử.

Nhưng mà tôi nói các ông nghe, hoặc là tôi nói các ông các bà về nói lại với công an. Rằng công an tỉnh Hà Nam này muốn tôi đi khỏi Sở Kiện đến nơi khác thì công an cứ phải ghi vào giấy lý lịch của tôi thật là tốt đẹp, thì tôi đi địa phương khác họ mới nhận. Còn nếu cứ nói xấu tôi, địa phương khác họ thấy họ không dám nhận thì tôi cứ ở đây mãi đừng có trách!

Đấy vui vậy! Cho nên là vi phạm đến quyền tự do cư trú và tự do di chuyển là những quyền tự do căn bản của con người, con người còn sống thì còn phải chuyển động, sống mà bắt người ta đứng yên như chết. Như cha Nguyễn Văn Phượng nhà cháu, chẳng có tội tình gì cả, chỉ là linh mục ở Thái Hà thôi, ra đến sân bay đi hành hương cùng một đoàn linh mục, các linh mục khác cho qua, đến linh mục Nguyễn Văn Phượng thì chặn lại, hỏi tại sao, họ trả lời lên hỏi trên, trên, trên, không biết trên nào!

Chính quyền mà hành xử tiểu nhân như vậy! Rồi đến cha Phạm Trung Thành, Bề Trên Giám Tỉnh của nhà cháu ở Saigon cũng vậy. Hôm tháng 12 vừa rồi, ra ngoài sân bay Tân Sơn Nhất xuất cảnh, không cho đi, tính đi sang Mỹ này chặn lại không lý do.

Rồi đến tháng Bảy vừa rồi đi Singapore, ra đến sân bay cũng lại chặn, không lý do. Mấy hôm sau cha chánh văn phòng nhà Dòng chúng cháu đi đường bộ qua cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh cũng bị chận lại. Hỏi lý do công an bảo: “Trên bảo không cho phép xuất cảnh cho đến năm 2015. Chấm hết. Còn đúng sai thế nào lên trên mà hỏi, chúng tôi không biết”.

Làm mà không dám nhận, không dám nói lý do. Còn như cháu đây này, 12 năm trước, năm 1999 cháu vừa học xong Thần học, chẳng có tội tình gì cả, mình đang ở Kỳ Đồng về tỉnh Ninh Bình là quê cháu, cháu đi xin hộ chiếu, công an xã không cho, cháu ghi vào đơn xin hộ chiếu là nông dân, công an bảo: “Ông đi tu từ lâu rồi sao ghi là nông dân, đến lúc mình ghi là tu sĩ, nó bảo, ai công nhận ông là tu sĩ mà ông ghi tu sĩ? Khốn nạn!
Đến lúc cháu vào tạm trú dài hạn Saigon ở phường 14 quận 3, cháu xin hộ chiếu tại Saigon thì theo luật ai tạm trú dài hạn ở đâu thì làm hộ chiếu ở đấy được. Thế cháu làm xong, họ phát cho cháu rồi họ báo về Ninh Bình. Công an Ninh Bình làm một cái báo cáo rõ xấu gửi vào Saigon, bảo rằng Nguyễn Văn Khải sinh ra trong vùng đất Phúc Nhạc phản động, Nguyễn Văn Khải là con đỡ đầu của một ông cha phản động là linh mục Vũ Quang Điện đi tù 2 lần 17 năm, Nguyễn Văn Khải là tu sĩ chui, linh mục chui, tắt một lời là “phản động”. Cấm xuất cảnh!
Thế là hộ chiếu của mình công an Saigon thừa lệnh công an Ninh Bình tịch thu nốt. Nhưng mà cháu nói rồi. Cháu tin Chúa, Chúa là mạnh nhất, Chúa muốn không ai có thể cản được. Sự gì tốt đẹp Chúa đã muốn thì trước sau cũng thành. Cháu nói với nhà cầm quyền Hà Nội, bảo họ:

“Đó, các ông còn sống, tôi còn sống đây. Các ông cấm tôi tu mà Chúa muốn, tôi vẫn tu được, tu chui. Các ông cấm tôi học, nhưng Chúa muốn tôi học, tôi vẫn học được, học chui. Các ông cấm tôi chịu chức nhưng mà Chúa muốn, tôi vẫn được thụ phong linh mục, thụ phong chui"

Mà bây giờ cháu có gặp họ, cháu sẽ nói “Các ông cấm tôi xuất cảnh, nhưng mà Chúa muốn, tôi vẫn xuất cảnh được, xuất cảnh chui”. Chui hợp pháp đàng hoàng! Nói về cái quan niệm về cách quản lý hành chính của người Mỹ, công dân Mỹ như các ông các bà đây khó hiểu nhưng mà Việt Nam thì không khó hiểu.
Linh mục Nguyễn Văn Khải (thuyết trình)
tại Hamburg- Germany
(trên)

Hình dưới: Trung Tâm Công Giáo
miền Nam California và tại Paris.


Thế thì đấy, nhà cầm quyền vi phạm tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng như vậy, chẳng có lý do gì, cứ cấm cửa các tu sĩ với các linh mục thôi.

Cho nên tắt một lời, cháu nói Việt Nam không có tự do tôn giáo mà ai bảo Việt Nam có tự do tôn giáo thì người đó thứ nhất là người nói dối. Nếu không phải là người nói dối thì là người quá sợ hãi, sợ đến nỗi tê liệt con người không dám nói thật. Nếu không phải là người qúa sợ sệt thì là người cái đầu có vấn đề tức nhận thức có vấn đề!
Nếu không phải là cái đầu có vấn đề thì cuộc sống có vấn đề, nghĩa là cuộc sống có vấn đề gì đó mà công an nó nắm được nó khống chế. Nếu cuộc sống không có vấn đề, thì người ấy là công an!

Đấy là cháu xin thưa với cả nhà vắn tắt về cái chuyện vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, từ cái chuyện vi phạm tự do tôn giáo như vậy nó mới nẩy ra những vụ như là Thái Hà, Tòa Khâm Sứ.
Thì con xin thưa về chuyện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ vắn tắt thế này, là thứ nhất con đi đây đó, nghe nhiều người trong, ngoài giáo hội lớn, bé nhỏ, to, nam phụ lão ấu, nói thế này: “Thái Hà của Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa Khâm Sứ của Tổng Giáo phận Hà Nội làm như thế (tức là vùng lên đòi công lý, cụ thể là đòi đất) làm như thế là dại!

Thấy sức mình không đủ lực để đối đầu với đối phương thì phải cho sứ giả đi cầu hòa trước. Việc gì phải làm như vậy? Mình đây Công giáo một dúm, sức lực thì có đâu mà đòi vùng lên như thế, vùng lên như thế chỉ có thiệt thôi. Thứ nhất là vì đất vẫn bị mất; thứ hai là vì dân bị đánh; thứ ba vì dân bị bắt, vì thứ tư là vì dân bị kết án và bỏ tù.

Thứ năm là theo những người đó, nó gây sự chia rẽ giữa giáo hội và xã hội, giữa Phật giáo và Công giáo, chưa kể nguy cơ xung đột tôn giáo. Tắt một lời, làm như Thái Hà của Dòng Chúa Cứu Thế hay Tòa Khâm Sứ của TGP. Hà Nội là dại, là không khôn ngoan, cho nên cần phải dẹp bỏ. Ngay cả một số người có đạo lớn bé cũng quan niệm như vậy.
Nhưng mà cháu nói, cái nhìn như vậy là cái nhìn sai lầm! Nếu không muốn nói một cái nhìn như vậy là một cái nhìn hẹp hòi ích kỷ, là một cái nhìn vị lợi. Tại sao cháu nói thế? Nó như thế này: Thái Hà chúng cháu, cái mảnh đất ấy nhà cầm quyền cộng sản chiếm dụng bất hợp pháp từ nửa thế kỷ rồi chứ đâu phải bây giờ mới lấy đâu. Đất của Tòa TGP. Hà Nội nơi có Tòa Khâm Sứ họ lấy từ gần nửa thế kỷ, từ năm 1961 chứ đâu phải bây giờ mới lấy đâu!

Bây giờ họ làm hồ bơi, bây giờ họ làm nhà máy, họ tư nhân hóa để làm biệt thự cho các quan chức lớn bé. Thế, nhân cái cơ hội đó mình mới đứng lên mình đòi. Trước đây các vị chiếm bất hợp pháp để làm việc chung, bây giờ các vị tư nhân hóa, tôi phản đối và tôi đòi lại cái phần đất đó để phục vụ vào mục đích tôn giáo, phục vụ cộng đồng. Chúng cháu tính rồi, được ăn cả, ngã vẫn không về không.

Được ăn cả là thế nào? Nếu được thì được mảnh đất Thái Hà 14,000m2, chúng cháu tính giá có ít cũng 200 triệu đô la. Nếu được mảnh đất Tòa Khâm Sứ ở trung tâm Quận Hoàn Kiếm có rẻ cũng 400 triệu đô la. Các ông bà tính xem, đất ở đấy ( quận Hoàn Kiếm) 50 cây vàng một mét vuông xem là giá bao nhiêu. Thế nếu được là được hai mảnh đất ấy. Khi được hai mảnh đất ấy sẽ tạo thành tiền lệ để đòi được hàng trăm cơ sở khác, mảnh đất khác trong, ngoài thành phố Hà Nội của Công giáo.

Nếu được của Công giáo Hà Nội thì từ thủ đô mà đi, Giáo hội Công giáo sẽ đòi hầu hết các nhà đất của mình trên toàn cõi Việt Nam. Nếu Công giáo làm được thì toàn thể các tôn giáo khác cũng lấy lại được nhà đất của mình. Nếu các tôn giáo lấy lại nhà đất của mình thì toàn thể các tư nhân từ xưa đến nay có nhà, đất bị cộng sản chiếm dụng bất hợp pháp cũng phải theo tiền lệ ấy mà trả lại cho người ta đúng lẽ công bằng. Đấy! Ăn cả là ăn như vậy.

Còn nếu nhà nước cố tình dùng bạo lực để tiếp tục cưỡng chiếm thì cái việc Thái Hà, Tòa Khâm Sứ làm cũng đặt nhà nước, dồn nhà nước vào chân tường, bắt nhà nước phải nhìn thấy sự thật bất công trong đất nước xã hội, để nhà nước phải sửa lại luật đất đai. Thấy chưa? Buộc nhà nước phải xem lại luật đất đai, buộc nhà nước phải xem lại luật tư hữu, luật về tự do tôn giáo.Từ chuyện hai mảnh đất đó nhưng mà để tính chuyện lớn kia.
Chuyện lớn là chuyện cho các tôn giáo, cho cả giáo hội và xã hội chứ mình không tính cho riêng mình. Nếu Dòng Chúa Cứu Thế chúng cháu tính cho riêng mình thì đang lúc đấu tranh họ đề nghị một mảnh đất ở Mỹ Đình, nếu chúng cháu nhận là xong. Nếu Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội mà tính lợi cho riêng GP. Hà Nội thì lúc đang cầu nguyện, họ đề nghị các cha ra ký giấy nhận một trong 2 mảnh đất khác nhau với hai tòa nhà khác nhau trong thành phố hay một mảnh đất khác ở ngoại thành.

Nếu TGP Hà Nội tính lợi cho riêng mình thì Hà Nội cũng được rồi. Những nơi khác được nhà nước cho mảnh đất này, mảnh đất kia và bao nhiêu thứ khác thì bảo nhà nước dễ chịu và vì mình “khôn ngoan” ứng xử nên được như vậy. Cái đó theo chúng cháu, nếu có lợi chỉ lợi cho riêng mình. Tất cả chúng cháu nhận thức, nếu có “được” như vậy để được yên thì cái đó chỉ là thỏa hiệp, chỉ là cái khôn vặt thôi cho riêng mình! Mà không thấy được việc giáo dân miền Bắc làm vì lợi ích chung của các tôn giáo, của cả giáo hội, cả dân tộc. Đấy là điều thứ nhất.
Điều thứ hai cháu xin thưa liên quan đến vụ Thái Hà- Tòa Khâm Sứ, đấy là cháu nói “được ăn cả, ngã không về không” là thế này: Bây giờ nhà nước trả hay không trả nhưng nhà nước về phương diện vật chất phải làm công viên, không tư nhân hóa được! Không làm nhà ở cho người dân ở cái khu vực đất Đức Bà ở cạnh nhà thờ Thái Hà được.

Thế là chúng cháu ở nhà thờ Thái Hà cũng có lợi rồi. Vì sao? Vì nếu khối dân cư ngoại đạo họ ở đấy trên một khu rộng như vậy, họ áp lực lên nhà thờ thì chúng cháu chết. Không gian sống của mình bị thu hẹp. Chết. Vì sao nữa? Bên Tòa Khâm Sứ, Đức cha Đôminicô Mai Thanh Lương đây về thì biết, bên Tòa Khâm Sứ, ngay trước mặt Tòa Giám Mục với Chủng viện là cái hồ bơi, đằng trước nó là cái tiệm nhảy. Tiệm nhảy nó phá rồi nó còn trật cái hồ bơi lại.

Thế bây giờ nó chẳng những nó không làm cái Trung tâm thương mại mà nó còn phá luôn hồ bơi đi, thế là đỡ cho mình rồi! Mình là chủng sinh, là linh mục, là giám mục mình không phải suốt ngày ngứa con mắt bên phải, đỏ con mắt bên trái vì hồ bơi nữa! Cũng không bị ồn ào náo loạn nữa! Nó phá hồ bơi đi và nó làm thành vườn hoa rất đẹp, thế là cảnh quan Tòa Giám Mục thông thoáng hơn, nó đẹp hơn, nó lành mạnh hơn, thế là lợi chứ!
Khoảng không đấy thực tế là vườn hoa chung quanh nhà, thế là ngày lễ Cả, giáo dân khắp nơi về nhà thờ chính tòa đi lễ, có thể vào đi dạo trong đó hay ngồi trong đó sửa soạn cho người nó tươm tất, tốt đẹp hơn vào dự lễ cho nó sốt sắng. Chưa kể rằng Tòa Khâm Sứ ở đây vẫn còn với vườn hoa rất đẹp chung quanh. Ai bảo rằng mình nắm tay đến tối, gối đầu đến sáng đâu! Ai bảo rằng chế độ này còn mãi! Cái gì nó có khởi đầu tất nó phải có kết thúc. Chẳng có cái gì là mãi mãi cả!

Cho nên đến lúc chế độ này sập xuống thì tòa nhà Khâm Sứ của mình vẫn còn đấy với vườn hoa chung quanh rất đẹp, chỉ làm tấm biển của mình để lên là xong. Cho nên ngay cả về mặt vật chất cũng có lợi đấy chứ. Ai bảo là không được gì? Được nhiều!

Được rất nhiều về mặt vật chất. Như nhà thờ Thái Hà chúng cháu có cái công viên rộng đó, bây giờ ngày lễ Cả, chúng cháu đậu 300 xe hơi lớn bé được, còn con phố Đức Bà phía sau lưng đó, bây giờ không làm nhà, mình để hàng chục nghìn xe máy được. Thế là trong nhà thờ, mình có chỗ yên tâm ngồi đế ngắm nguyện, để lễ lạy cho nó sốt sắng, trọng thể. Được nhiều! Đấy, nhưng mà cháu nói cái đó chỉ là cái lợi bé. Chỉ là cái lợi vật chất trước mắt mình thấy được.
(1) Cái lợi lớn nhất mà người ngoài Công giáo cũng như trong Công giáo thấy được đó là nhờ phong trào đòi công lý- sự thật ở Thái Hà- Tòa Khâm Sứ mà người dân Công giáo ở miền Bắc, hết cả miền Bắc chứ không riêng gì Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội- Người Công giáo ở hầu khắp các giáo xứ miền Bắc “bước qua nỗi sợ hãi để can đảm, hiên ngang đòi công lý và sự thật”. Cái lợi ích tinh thần to nhất là như thế, là vượt qua nỗi sợ!.

Sau năm 1954, Cộng sản ở miền Bắc bạo lực thế nào khiến có nhà thơ phải nói: “Tôi đi trên phố mà không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Còn đây này, làng quê cháu sống đúng là một trại tập trung. Câu thơ Tố Hữu làm bắt chúng cháu học từ bé, đúng là một trại tập trung: Dập dìu cờ đỏ ven đê, Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”. Người ta nói là xã hội văn minh, làm việc giờ giấc nhưng thực tế nó là trại tập trung! Đầu làng điếm canh, cuối làng điếm canh. Đúng giờ kẻng đánh, cả làng ra đồng làm việc. Đúng giờ, kẻng đánh, mọi người vào. Đúng là một trại tập trung.

Đang khi đó, không khí Cộng sản bạo lực là suốt ngày trống kèn để lo đấu tố. “Dập dìu cờ đỏ ven đê, sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”. Ai mà ra làm việc muộn ở ngoài đồng một cái là qui ngay cho tội “Cố tình chống lại đường hướng tập thể hóa, chống lại lối làm ăn lớn của xã hội chủ nghĩa”. Bắt, bắt! Ai kẻng một cái mà ở ngoài đồng không chạy nhanh về làng, còn dây dưa ở lại, thì có thể bị qui ngay cho tội “Cố tình ở ngoài đồng để dấu giếm hoa màu và vật tư nguyên liệu sản xuất”. Bắt, tù. Đúng là trại tập trung!
Cháu biết. Thế mà tự hào là công nghiệp. Đấy, vậy trong một xã hội bị khống chế và bạo lực như vậy mà lần đầu tiên năm 2008, giáo dân Hà Nội và những làng ngoại giáo mà cũng là dân oan, dám hiên ngang xuống đường đòi công lý.

Nhân đây cháu xin nói thế này, xin miễn thứ cho cháu là có nhiều người cứ bảo “Sao các cha Thái Hà miền Bắc không đòi tự do, không đòi dân chủ?” Cháu xin thưa, khái niệm tự do, dân chủ với đa số người dân miền Bắc và nông dân ít học họ chưa hiểu mấy, nhưng quyền lợi trước mắt thì họ biết. Những sự bất công trước mắt thì họ biết, họ thấy ngay, và khi họ là nạn nhân của bất công, nói hai tiếng công lý ai cũng hưởng ứng. Có thế thôi!
Mà cứ đòi công lý thì sự thực cũng đang đòi tự do, dân chủ chứ còn gì nữa, nên cháu nói vậy, xin các bác đừng thắc mắc nhá. Cái lợi thứ nhất cháu thấy là bước qua nỗi sợ.
(2) Cái lợi thứ hai là cháu thấy người giáo dân ở miền Bắc bày tỏ được cái niềm tin của mình. Con thưa Đức Cha ở đây biết, từ hồi có biến cố Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, giáo dân ở miền Bắc hầu hết các giáo xứ, không riêng gì giáo dân Hà Nội, giáo dân đạo đức hơn rất nhiều, giáo dân có bản lãnh hơn rất nhiều và giáo dân cầu nguyện, xưng tội đông hơn trước rất nhiều.
Giáo dân ở Hà Nội thấy đức tin mạnh hơn khiến một giáo dân làm nghề xe ôm ở Hàm Long chở con và nói: “Từ hồi cha Lý về đây làm chính xứ Hàm Long, ở Hà Nội chúng con mới thấy rằng đi đạo không đơn thuần chỉ là chuyện đi lễ, đi nhà thờ , đọc kinh và sống cho riêng mình. Đi đạo còn là cái gì thiêng liêng cao trọng và lớn mạnh, tuyệt vời hơn rất nhiều mà chúng con không biết nói làm sao!”.

Và cái đấy thì những người làm nghề chân tay quê Bùi Chu hiểu hết, những người làm nghề tắc xi với nhau quê ở Bùi Chu họ hiểu nhất, vì họ là những người nghèo và ra Hà Nội đông nhất. Cho nên lòng tin của họ vào Chúa mạnh hơn.
(3) Cái thứ ba là cái lòng mến của họ đối với anh em họan nạn nhiều hơn. Con chứng kiến cái cảnh người ta giúp nhau sau những sự kiện Thái Hà, Tòa Khâm Sứ và Đồng Chiêm và các sự kiện khác con thấy “tuyệt vời”, và con xúc động vô cùng vì cái lòng mến của họ chăm lo cho nhau, nhà này chăm lo cho nhà kia, cộng đoàn này chăm lo cho cộng đòan kia, và chăm sóc người thân của nhau thực sự coi nhau như anh em và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nhau chứ không phải chỉ là hy sinh một phần vật chất nhỏ nhoi.

Cháu nói cái vật chất đối với người nghèo thì vô kể, cháu không thể kể được nhưng cháu nói họ sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nhau. Ở đâu mà thấy nguy hiểm bỏ chạy chứ riêng với giáo dân Hà Nội từ đấy đến giờ chỗ nào thấy nguy hiểm là họ chạy lại. Chỗ nào nóng bỏng là họ lao đến ngay. Riêng giáo dân Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, cứ thấy chỗ nào có nguy hiểm là chạy lại, là vì họ hy sinh cho nhau.

Chúng cháu đây ở trong tu viện bị công an mặc thường phục, mặc quân phục bao quanh chúng cháu, đòi giết, giết, thế nhưng mà chỉ nửa tiếng sau cả mấy ngàn dân cùng với các tu sĩ, linh mục làm thành một vòng vây khác bên ngoài. Mà trong đêm tối, 1, 2 giờ đêm mà những cha bên ngoài là những cha ở Hà Nội có mặt tất: cha Nguyễn Văn Lý, cha Ruẫn, cha Bình, cha Dũng, cha Hinh, các cha chạy đến mà không cần chúng cháu phải báo. Điều ấy cho thấy họ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì nhau.



Mà cái này chúng cháu rất phục Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt ở chỗ đấy, không phải là cháu nghe ai nói, mà mắt cháu thấy Ngài làm.

Chỗ này, trên đoạn phố này vừa bị công an đến sách nhiễu phải không? Ngài đến tận nơi xem xem nó sách nhiễu thế nào. Chỗ kia giáo dân vừa mới bị xịt hơi cay, Ngài đến tận nơi xem giáo dân bị xịt hơi cay thế nào. Nhà kia có người bị bắt phải không? Ngài đến tận nơi có người bị bắt để thăm viếng, úy lạo và nâng đỡ tinh thần, ban phép lành cho họ.

Ngài không nghĩ đến tính mạng , đến chức vụ của Ngài, Ngài hy sinh vì đoàn chiên. Người dân Hà Nội thấy Ngài đúng là vị mục tử hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên. Là mục tử thì cần nhất là cái sự sẵn sàng hy sinh vì đoàn chiên. Con thấy người dân Hà Nội chẳng biết Đức Cha Kiệt tài cán đến đâu, nhưng họ thấy cử chỉ yêu thương ấy và họ tin rằng “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta”.
Rồi cái ngày xử án giáo dân Thái Hà- Tòa Khâm Sứ, con là người đại diện giáo hội vào trong đó ngồi tham dự phiên tòa, để chứng kiến xem họ xử con dân của mình như thế nào, để biết lối trình bày cho mọi người biết, phản đối hay đồng thuận. Thế thì đang lúc họ tuyên án là không có giam giữ ai hết cả, chỉ có án treo thôi, tù treo thôi, trả tự do hết. Con nhắn tin cho Đức Cha Kiệt đang đi làm phép Thêm Sức, có cha Dũng bên cạnh Ngài.

Con báo cho cha Dũng để cha trình lại cho Đức Tổng Kiệt, cha Phạm Văn Dũng báo lại cho con là họ không dám giam giữ ai là họ khôn đấy! Họ mà giam giữ ai thì đơn Đức TGM. Ngô Quang Kiệt đã viết sẵn đây rồi, Ngài sẽ ký ngay là Ngài sẽ đi tù thay cho những người ấy!
Vậy cái được thứ ba cháu muốn nói, là sau khi
vụ Thái Hà nổ ra, cái lòng mến của người ta mạnh hơn.