We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 6 June 2012

Làm Sao Rửa Tội Cho Thủ Tướng VC ?



Dưới bảng hiệu những “quả đấm thép” cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế mà “quốc doanh là chủ đạo”, bắt đầu từ năm 2006 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế và tổng công ty với nguồn vốn dựa vào ngân sách nhà nước và vay mượn nước ngoài. Kể từ đó đến nay đã có tất cả 91 tập đoàn và tổng công ty được thành lập, chiếm 70% nền kinh tế và tài chánh của cả nước, và bao trùm hầu hết mọi ngành nghề và lãnh vực công nghệ vẫn được xem là “béo bở”.

Còn cụ thể mục tiêu và trách nhiệm của 91 thực thể kinh tế đó là gì? Có lẽ các giải thích rườm rà, và nhiều khi mâu thuẫn, cho đến nay của nhà nước có thể tóm gọn trong 2 câu của blogger Trần Hoàng (1): “Tập đoàn làm ăn cuối năm có lời thì chia lại cho đảng và nhà nước, và họ lấy số tiền này làm gì, cụ thể ra sao, không một người dân nào được biết. Tập đoàn nào làm ăn thua lỗ, thì chính phủ cấp vốn thêm.”


Thế là cứ mỗi “quả đấm thép” ra đời, niềm hồ hởi trong hàng ngũ cán bộ kinh tế lại dâng lên vì ngành nào, cấp nào cũng có ăn - từ phong bì nhỏ cho từng nhà báo đến đưa tin tại các buổi cắt băng khánh thành đến những phong bì lớn đi thẳng vào trương mục của các quan chức lớn tại các ngân hàng nước ngoài. Thậm chí cả các “cán bộ tư tưởng” cũng tự hào lây vì sự thành công của “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được chứng minh qua các tên tuổi lớn như Vinashin (Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam), Vinalines (Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam), PetroVietnam (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam), EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Vinacomin (Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam), v.v…


Đặc biệt Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được báo đài ca tụng là người sáng lập các tập đoàn “tầm cỡ thế giới” này. Ông lập tức trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời kinh tế Việt Nam. Nhiều vòng quan chức lớn nhỏ rời bỏ các ô dù khác để chen nhau đầu quân dưới trướng ông Dũng... và các con của ông Dũng. Làn sóng tung hô này cũng có lúc đi quá đà, như việc thuê trang mạng của một công ty xử lý rác tận bên nước Đức để đăng bài khen ngợi ông Dũng là vị thủ tướng giỏi nhất Á Châu. Tuy nhiên, với số đàn em như cát bãi biển đó, quyền lực của ông Nguyễn Tấn Dũng thực sự lấn át vai trò của cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh lẫn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Có lẽ bằng chứng rõ ràng nhất là sự vững chắc của chiếc ghế thủ tướng mà ông Dũng nắm giữ đã 2 nhiệm kỳ, bất kể hàng loạt những tố cáo tham nhũng và bất tài, từ các đối thủ muốn hất ông xuống, ngay trước và trong đại hội đảng lần thứ 11. Các thư tố cáo, dù minh danh hay nặc danh, dù có chứng cớ hay không, đều rơi vào hư không hay bị đập dẹp như ruồi muỗi. Chiếc ghế thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn vững như bàn thạch.


Nhưng...


Từ năm 2010, vết nứt đầu tiên đã xuất hiện, lan dần thành sự sụp đổ toàn diện của quả đấm thép Vinashin. Và tập đoàn đóng tàu biển “đứng hàng thứ tư” trên thế giới này khởi động một chuỗi rơi rụng của các tập đoàn và tổng công ty khác như những chiếc lá mùa thu. Chỉ cần gom góp tin tức tiết lộ trên các báo lề phải, chứ chưa cần dùng đến dữ kiện trên báo chí ngoại quốc và làng dân báo, người ta đã đếm được 81 trong số 91 tập đoàn và tổng công ty đang bị thua lỗ nặng — Tập đoàn Dầu khí (PVN) bị chỉ ra “sai phạm tài chính” 18,000 tỷ đồng; Tập đoàn Sông Đà “sử dụng sai mục đích” 10, 676 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực năm 2011 lỗ 17,000 tỷ đồng…. Mười tập đoàn còn lại được giới quan sát tin là có ô dù quá lớn hoặc nợ nhà nước là chính (chứ nợ ngoại quốc không nhiều), nên các báo cáo thua lỗ chưa bị đưa ra ánh sáng công luận mà thôi. Một chiếc lá lớn rụng gần đây nhất là Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam (Vinalines). Khi tin hàng tỉ mỹ kim bị đổ xuống biển xuất hiện trên mặt báo thì ông Cục trưởng Cục Hàng Hải Dương Chí Dũng, trước đó là Tổng giám đốc Vinalines, đã biến mất!

Sự xiêu vẹo hàng loạt và theo nhau xụp đổ của các tập đoàn Vina cũng đến từ lý do các thực thể kinh tế này rất giống nhau về cấu trúc và mục tiêu. Điều này đã được chính ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm UB Pháp luật quốc hội, thừa nhận trong buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội hôm 24/5. Khi đề cập đến sự phát triển tràn lan vô tội vạ của các tổng công ty nhà nước, ông cho biết: “Ban đầu, chủ trương chỉ là thí điểm nhưng chưa tổng kết, đánh giá thì đồng loạt các tập đoàn kinh tế đã thành lập từ các tổng công ty 90, 91. Hệ quả của việc hoạt động tràn lan, không quản lý được là những sự việc sai phạm liên tục bị phát hiện, lặp đi lặp lại ở nhiều đơn vị như hiện nay” (2).


Có người dễ tính cho rằng đây là hệ quả của tình trạng kinh tế suy xụp trên toàn cầu, chứ không riêng gì Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến không đồng ý và cho rằng tình trạng kinh tế thế giới chỉ làm tiến trình phá sản nhanh lên hơn mà thôi. Vì nếu chịu khó đọc lại các tài liệu đã được công khai – và có lẽ phải đọc gấp vì loại bài này sẽ bị lấy xuống bất cứ lúc nào - người ta có thể thấy ngay từ ngày đầu thành lập, hầu hết các tập đoàn kinh tế và tổng công ty này không nhằm kinh doanh kiếm lời – và lại càng không kiếm lời cho đảng và nhà nước - mà chỉ nhắm vào 2 mục tiêu sau đây:


Mục tiêu lớn số 1: kiếm quà “lại quả”.


Chỉ cần nhìn vào 2 trường hợp lớn Vinashin và Vinalines người ta đã đủ thấy các bằng chứng. Cũng chẳng cần phải là nhà kinh tế mới thấy sự quái đản trong việc bỏ hàng tỷ đô la ra thu mua tàu phế thải của các nước cực nghèo đem về “sửa chữa để đi biển”. Trước hết, những con tàu mà cả các nước nghèo cũng không còn dùng nổi, phải bán đi, thì đủ biết xác tàu đã rệu rã tới mức nào. Thế mà ban giám đốc 2 tập đoàn này vẫn mua và mua với “giá thị trường” của loại tàu đang hoạt động, chưa tới tuổi phế thải. Kế đến, ai cũng biết nền công nghiệp đóng và sửa tàu biển của Việt Nam chỉ mới chập chững ở bước đầu tiên, nghĩa là còn đang xây dựng đội ngũ tay nghề, đang học hỏi kinh nghiệm, và đang học cả cách dùng những dụng cụ sửa chữa. Ban giám đốc cả 2 tập đoàn dư biết họ không có khả năng sửa chữa những chiếc tàu mà ngay cả các nước tân tiến trong ngành này cũng không đụng đến. Thí dụ như tàu Sông Gianh, sửa xong đi biển được một lần duy nhất rồi neo đậu suốt bốn năm trời trên sông Sài Gòn thuộc địa phận quận Nhà Bè; hay như việc mua ụ nổi do Nhật Bản chế tạo từ năm 1965. Ụ nổi này có tuổi thọ 25 năm, tức đến năm 1990 bị xem là dụng cụ phế thải. Nhưng 18 năm sau ngày hết hạn xử dụng đó, vào năm 2008, Vinalines mua khối sắt vụn này về với giá bằng 2/3 một ụ mới. Tổng cộng tiền mua, sửa, vận chuyển lên đến 24 triệu mỹ kim. Ụ nổi này liền bị bỏ xó, không ai đụng đến suốt từ đó đến nay đậu tại cảng Gò Dầu B, Đồng Nai. Và còn nhiều thí dụ khác nữa để cộng lại thành con số từ 4 đến 5 tỷ mỹ kim tại mỗi tập đoàn đã không cánh mà bay.

Không có câu giải thích thoả đáng nào cho hiện tượng toàn bộ các ban quản trị của các tập đoàn và tổng công ty lũ lượt kéo nhau đi mua đủ loại hàng phế thải nhưng trả gần bằng với giá của hàng tốt, ngoài lý do: để được hưởng các gói “lại quả” rất lớn mà phía bán hàng đồng ý đá ngược vào túi riêng của các quan chức đứng đầu.


Mục tiêu lớn số 2: vay tiền từ nước ngoài.


Các quyết định thu gom tất cả tập đoàn kinh tế và tổng công ty vào vòng kiểm soát trực tiếp từ văn phòng thủ tướng đồng nghĩ với sự bảo kê của nhà nước để các thực thể này đi vay các khoản tiền lớn - tới mức mỗi lần vài trăm triệu mỹ kim - từ các ngân hàng và định chế tài chính quốc tế. Các nguồn quốc tế xem đây là các tập đoàn của nhà nước (quốc doanh) hoặc chí ít là nhà nước có cổ phần và thẩm quyền kiểm soát lớn (hợp doanh), vì thế mức rủi ro chạy nợ rất nhỏ. Từ đó các nguồn này cho vay các món nợ lớn với lãi suất tương đối nhẹ và ít đính kèm các điều kiện khó khăn như đối với các công ty của tư nhân hoàn toàn.

Ban giám đốc các tập đoàn và tổng công ty biết rõ điều đó là lũ lượt kéo nhau đi mượn nợ trong cùng tinh thần như các đại biểu quốc hội Trần Bá Thiều, Trần Đình Long: "Người ta cho vay thì mình cứ vay, có nơi cho vay là tốt quá… Mai sau thế hệ con cháu tài giỏi hơn chúng ta sẽ trả". Nghĩa là các món nợ này luôn được xem là "nợ của nhà nước". Nhà nước có nhiệm vụ lấy tiền công quĩ mà trả. Các ban giám đốc đều xem đó là thông lệ áp dụng cho mọi công ty quốc doanh xưa nay. Và cũng từ tư duy đó, các tập đoàn này đẻ ra hàng trăm công ty con để mượn thêm tiền từ các ngân hàng nội địa của nhà nước.


Liền sau đó, các món nợ vừa vay mượn được 1) trở thành “khoản thu nhập” trong mắt các ban giám đốc để chia thành nhiều phong bì cho cấp trên, cấp giữa, cấp dưới … dài đến tận cấp “ký giả” như đã nêu bên trên; và 2) được dùng trả các khoản tiền lời từ các món nợ trước đã đến ngày đáo hạn để các chủ nợ không “đòi nợ” trước công luận. Nghĩa là cứ mượn thêm nợ mới để trả tiền lời của nợ cũ, và trả lương cho một số nhân viên ngồi chơi cho có vẻ công ty đang hoạt động, rồi chia nhau phần còn lại. Chuyện kinh doanh thực sự để kiếm lời đã trở thành viễn vông.


Tiến trình này kéo dài suốt 6 năm qua và tích lũy thành con số lỗ lã hiện nay. Các món nợ đáo hạn nhỏ nhoi cũng không còn có thể trả nổi vì không mượn thêm được nữa. Các chủ nợ quốc tế bắt đầu đòi tiền công khai, đòi đưa ra toà án ngoại quốc. Nhờ đó công luận mới biết được tầm vóc khủng khiếp của sự xụp đổ hàng loạt này. Xin nhắc lại, 91 thực thể kinh tế này chiếm 70% nền kinh tế và tài chánh của cả nước.


Tóm lại, các chứng cớ đang xuất hiện ngày một ào ạt cho thấy ngay từ ngày đầu thành lập các tập đoàn và tổng công ty được các quan chức điều hành với tinh thần: đây là 91 con bò để xẻo thịt ăn dần và trước sau gì rồi cũng chết!


Ai chịu trách nhiệm?


Hiển nhiên, mọi cặp mắt từ thượng tầng lãnh đạo đảng đến hàng ngũ quan chức ra đến quảng đại nhân dân đều hướng vào ông Nguyễn Tấn Dũng để chờ nghe câu trả lời. Biết được điều đó nên từ rất sớm, khi vài chiếc lá lớn đầu tiên có chỉ dấu sắp rơi rụng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liền biện hộ trước quốc hội rằng:“Các tổng công ty phải làm nhiệm vụ chính trị và điều tiết kinh tế vĩ mô nên có khi phải chịu lỗ”. Nhưng ông không nói thêm các tổng công ty đó đã làm gì ích quốc lợi dân.

Đến khi số tiền lỗ lã tại mỗi tập đoàn lên đến mức hàng tỉ mỹ kim và tin tức về các vụ mua hàng phế thải bằng giá hàng mới ở mức hàng vài chục triệu mỹ kim mỗi vụ bắt đầu lan tràn, thủ tướng bắt đầu nhích xa ra thêm 1 bước: “Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”. Nhưng ông không nói gì thêm về cái quyết định gom tất cả các tập đoàn và tổng công ty vào vòng kiểm soát của văn phòng thủ tướng.


Dư luận lại phùng lên từ bên trong lẫn bên ngoài Đảng. Ông Nguyễn Tấn Dũng đành cho ông Nguyễn Sinh Hùng, lúc đó là phó thủ tướng và nay là chủ tịch quốc hội, đem lá bùa “Bộ Chính trị” ra bịt miệng tất cả trong phiên họp bế mạc quốc hội khoá XII hôm 21/3 năm ngoái rằng: “Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, thường trực và một số thành viên Chính phủ đã kiểm điểm trách nhiệm về công tác quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu với Vinashin. Tuy nhiên, trách nhiệm của các cá nhân và tập thể chưa đến mức phải kỷ luật”.


Và khi một số chủ nợ lấy thái độ quyết liệt, đưa việc quịt nợ ra trước tòa án Anh Quốc, thì thủ tướng tuyệt tình hẳn. Văn phòng thủ tướng tuyên bố: nợ của các công ty “tư” thì họ phải tự lo!


Nhưng nỗ lực của thủ tướng không ngừng ở việc “đóng nút” dư luận và tránh xa các tập đoàn đang ra tòa, ông và các cố vấn cũng ráo riết chặt nhỏ các tổng công ty thua lỗ nặng còn lại và giấu bên dưới các công ty quốc doanh khác. Khi một công ty không còn danh tính nữa, thì đương nhiên các khoản lỗ lã và chuyện “cố ý làm sai trái” của các quan chức cũng biến mất.

Một thí dụ điển hình của cách tẩu tản nợ nần và trách nhiệm này là trường hợp của công ty cổ phần Jetstar Pacific Airlines (JPA). Hãng hàng không giá rẻ lỗ quanh năm suốt tháng này đột nhiên vào ngày 16/1/12 được Vietnam Airlines mua lại theo lệnh của thủ tướng.


Kiểu tẩu tán này cũng đã được áp dụng cho Vinashin trong những hy vọng câu giờ sau cùng, với nhiều lớp sơn phết màu sắc: “Thủ tướng chiều qua (19/11/2010) đã ký quyết định phê duyệt Đề án tái cơ cấu Vinashin, với mục tiêu sớm ổn định sản xuất kinh doanh, giảm lỗ, từng bước củng cố uy tín, thương hiệu và tiến tới có lãi, trả được nợ, tích lũy và phát triển.” (3). Việc “tái cơ cấu” này cũng được chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng thận trọng tiến hành: “Vì thế, Chính phủ đã thảo luận thận trọng việc chuyển nguyên trạng một số đơn vị của Vinashin sang Vinalines, trên tinh thần cùng ngành nghề kinh doanh, với hai nguyên tắc: một là đảm bảo hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp, không làm ảnh hưởng đến các đơn vị giữa chuyển đi và chuyển về; hai là các doanh nghiệp được chuyển sang đều được hạch toán và xử lý riêng, không lẫn vào nhau.” Những dữ kiện hiện nay cho thấy ông Nguyễn Tấn Dũng dư biết Vinalines cũng đang sắp chìm, nhưng áp suất phải tẩu tán gấp các thua lỗ của Vinashin trước đại hội đảng thứ 11 quá lớn.


Một nỗ lực khác trong đối sách của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – tuy cũng là cách khá thông thường xưa nay - là lôi những con dê ra tế thần, từ việc đưa ra tòa toàn ban giám đốc Vinashin, ra lệnh truy nã cục trưởng Cục Hàng hải (nguyên là chủ tịch Vinalines), đến lôi cả đại gia kiêm đại biểu quốc hội Đặng Hoàng Yến ra khỏi Quốc hội, “cơ quan quyền lực cao nhất nước”,… vì các tội kinh tế. Nhưng tuyệt nhiên không ai được nhắc đến tên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


Chỉ các quan sát viên nước ngoài như Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại Học New South Wales (Australia) và Học Viện Quốc Phòng Úc mới dám chia sẻ với BBC những nhận xét về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Rõ ràng là phong cách lãnh đạo tùy hứng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vốn khiến cho quyền lực tập trung ngày càng nhiều vào tay thủ tướng, đã khiến Đảng và các cơ quan của Đảng bị giảm quyền lực để có thể giám sát và kiểm soát hiệu quả. Mạng lưới sâu rộng của Thủ tướng vừa là cầu thủ vừa là trọng tài trong nền kinh tế Việt Nam."(4)


Hiển nhiên, không phải là ông Nguyễn Tấn Dũng không có kẻ thù. Một số đối thủ của ông đã tỏ ra mạnh dạn hơn trong vài tháng qua. Khi Hội nghị Trung ương 5 bế mạc vào ngày 15/5, một quyết định nặng ký được công bố: kể từ nay Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương sẽ trực thuộc Bộ Chính trị. Ông Dũng bị gạt khỏi Ban chỉ đạo mà chính ông lập ra khi bước vào nhiệm kỳ thủ tướng thứ hai. Hơn thế nữa, một Ban Nội chính trung ương được tái lập sau nhiều năm đóng băng. Dư luận trong và ngoài đảng, với sự khuyến khích của phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, đang truyền tai nhau mục đích của Ban Nội Chính là để nhắm vào ông Nguyễn Tấn Dũng.


Nhưng liệu các đòn phép có hề hấn gì đối với gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng không khi mạng lưới ủng hộ và bảo vệ quanh ông vẫn đầy kín và chặt chẽ. Ngay cả việc kiếm cớ pháp luật để tấn công ông cũng không phải dễ. Có thể nói trong mặt làm ăn, ông Dũng có nhiều điểm “khôn hơn người”, đó là ngay cả trong giai đoạn vàng son nhất, cô “công chúa” Nguyễn Thanh Phượng của thủ tướng vẫn chỉ nắm các nguồn tiền, đặc biệt là tiền từ các định chế tài chính nước ngoài — Cô hiện đứng đầu Ngân Hàng Bản Việt và đứng đầu cả bốn công ty con của tổ hợp tài chính có vốn điều lệ 200 triệu đô la — chứ không ngồi vào chiếc ghế nào của các con “dê tế thần dự khuyết” như những người lớn hơn cô hàng chục tuổi vẫn tranh nhau.


[Khi có tin cô gái 24 tuổi lên làm Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vinaconex – PVC, người ta càng khen cha con ông Nguyễn Tấn Dũng-Nguyễn Thanh Phượng khôn hơn bố con ông Tô Huy Rứa-Tô Linh Hương rất xa!]


Chính vì vậy mà câu hỏi “làm sao rửa tội cho thủ tướng?” là dư thừa. Không những không ngán sợ các cáo buộc trách nhiệm trước sự suy xụp của 91 tập đoàn và tổng công ty hiện nay, ông còn đẩy tiếp các dự án lớn hơn nữa, từ việc xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân với món nợ hơn 10 tỷ mỹ kim đến dự tính xây hệ thống đường tàu cao tốc bằng món nợ 56 tỷ mỹ kim, bất kể biểu quyết đã có của quốc hội. Nghĩa là mỗi dự án mới sẽ còn lớn bằng mấy tập đoàn hay tổng công ty cũ cộng lại. Và với số tiền khổng lồ đó để vung vãi, chắc chắn số quan chức bao quanh ông Dũng chỉ tăng chứ không giảm, và quyền lực của ông sẽ còn tăng nhanh hơn cả hiện nay.

Còn ai còn dám coi thường “cựu y tá” nữa không?


Chỉ khốn khổ cho những con người đang sống ở nơi mà “70% nền kinh tế và tài chính của cả nước” đang suy xụp … một cách vô trách nhiệm.
 

Nhật Bình

 

Ghi chú:

1. Sự thất thoát và lỗ lả của các tổng công ty và tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra (http://hoangtran204.wordpress.com/2012/05/25/su-that-thoat-va-lo-la-cua-cac-tong-cong-ty-va-tap-doan-quoc-doanh/)

2. Vinashin, Vinalines chứng tỏ tham nhũng nghiêm trọng hơn thời PMU18 2, (
http://dantri.com.vn/c728/s728-599637/vinashin-vinalines-chung-to-tham-nhung-nghiem-trong-hon-thoi-pmu18.htm )

3. Duyệt đề án tái cơ cấu Vinashin (
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2010/11/3ba23264/)

4.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/05/120523_thayer_vn_politics.shtml

Nhật Bình

CÁM ƠN: “MỢ TÔI”

MỢ TÔI

Mẹ là một danh từ chung, mà một số người Việt đã dùng để chỉ người đàn bà đã sinh ra mình. Ngoài tiếng kêu Mẹ, chúng ta còn nhiều danh từ khác để gọi mẹ: Má, Mợ, Mệ... Tựu chung, tiếng gọi mẹ của người Việt chúng ta hầu như đều bắt đầu bằng vần M.
Không riêng gì người Việt Nam, đa số dân chúng trên thế giới đều gọi mẹ bắt đầu bằng vần M. Tại sao lại có sự trùng hợp như vậy?
Theo sự suy đoán của tôi, đứa trẻ khi vừa mới sinh ra, chỉ biết há miệng bú sữa và ngậm miệng đi ngủ. Âm thanh phát ra từ vành môi khi đứa trẻ mở miệng, chúng ta nghe dường như là MMMMM... dịch ra tiếng Việt Nam, nghe như MẦMMẦM... Như vậy có nghĩa là, âm M là âm tự nhiên mà bất cứ đứa trẻ nào của bất cứ sắc dân nào, khi mới sinh ra cũng có thể phát âm được. Người Mẹ là người gần gũi đứa trẻ nhất khi nó vừa sinh ra đời, do đó, để có thể gọi người mẹ, chắc chắn đứa trẻ đều phát âm bắt đầu bằng âm M. Chính vì thế, mà:
Người Anh gọi mẹ là MUM - Người Pháp gọi mẹ là Maman - Người Mỹ gọi mẹ là Mom - Người Tây Ban Nha gọi mẹ là Mamá - Người Đức gọi mẹ là Mama - Người Na Uy gọi mẹ là Mamma...
Tôi là dân sinh đẻ ở miền Bắc, theo cung cách xa xưa, tôi được dạy gọi mẹ tôi là MỢ.
Mợ tôi cũng chỉ là một trong số hàng triệu người mẹ Việt Nam bình thường mà bất cứ gia đình Việt Nam nào cũng có: Rất mực thương con và có thể hy sinh tất cả những gì mình đang có cho những đứa con của mình.
Chuyện xưa kể rằng:
Có hai người đàn bà tranh giành một đứa trẻ sơ sinh. Người nào cũng nhận mình là mẹ của đứa trẻ. Không còn cách nào khác, hai bà phải đem nhau ra tòa để nhờ đèn trời soi sáng.
Ông Chánh án cho điều tra đủ mọi thứ, từ thói quen của đứa trẻ cho đến áo quần và cách thức ăn uống, cả hai bà đều nói đúng hết. Chánh án hết cách xử, ngồi trầm ngâm trên án suy nghĩ giờ lâu. Cuối cùng, ông gọi hai người đàn bà lại, nghe phán quyết:
“Cả hai bà đều dành quyền nuôi đứa trẻ. Thôi thì để cho công bằng, ta sẽ... cho mỗi bà một nửa thân hình của đứa trẻ. Lính hầu đâu, đem xẻ đứa nhỏ này ra làm hai phần, đưa cho mỗi bà mẹ một nửa. Ai cũng có phần, không cần phải cãi cọ chi nữa”.
Người đàn bà thứ nhất đứng lên tuyên bố chấp nhận phán quyết của tòa, và chỉ mặt người đàn bà kia mà nói:
“Đó, cho bà dành đó. Tôi mà không được nuôi đứa bé thì thà cho nó chết đi còn hơn là để cho bà nuôi nó”.
Người đàn bà thứ hai ngồi im, gương mặt âu sầu buồn thảm, cặp mắt xót thương nhìn đứa trẻ đang nằm trên bàn chánh án. Một lúc sau, bà mới vừa khóc vừa thưa với quan tòa:
"Thưa quan tòa, tôi không nỡ nhìn con tôi bị phanh thây. Thôi thì tôi nhường cho bà kia được quyền nuôi đứa con của tôi đó. Ít nhất, nó còn đuợc sống."
Nói xong, bà òa lên khóc chạy ra ngoài tòa.
Quan Chánh án đập bàn sai lính chặn bà lại, đem trở lại phòng xử, nạt lớn:
"Ta chưa xử xong, sao ngươi dám mạo phạm mà rởi khỏi phòng xử?
Hãy nghe ta phán đây:
"Phàm là bậc cha mẹ, từ cổ chí kim, từ con người cho đến loài cầm thú, ai cũng có lòng thương con, lo lắng, đùm bọc cho con cái của mình.
Ta nói đem đứa trẻ ra xẻ làm hai là cũng căn cứ vào lẽ thường tình của người mẹ thương con để phân xử mà thôi. Ngươi đã cho ta thấy lòng mẹ thương con, thà để cho người khác nuôi con mình còn hơn là để cho nó bị chết. Ngươi mới chính là người mẹ của đứa trẻ, ta xử giao lại đứa trẻ cho ngươi nuôi dưỡng, tặng thêm một ít dồ tiện dụng hàng ngày cho hai mẹ con sinh sống.
Còn tên đàn bà kia, nhà ngươi đã không có lòng thương, mà chỉ có lòng hận thù mà thôi. Ngươi thà để cho ta chặt đứa nhỏ ra làm hai, còn hơn là để nó được sống với người khác. Ngươi không có lòng thương yêu đứa trẻ thì làm sao có thể là mẹ đẻ ra nó được? Ngươi chỉ là phường lường gạt vô lương tâm mà thôi. Ta phạt ngươi ba mươi hèo, giam giữ ba năm cho ngươi biết luật trời công minh."
Mợ tôi thì không phải ra trước quan nha để nghe xử, vì hàng xóm chung quanh nhà tôi ai cũng có cả đống con, cho bớt đi cũng còn được, nói chi đến chuyện tranh giành nuôi con người khác. Hơn nữa, anh em chúng tôi trên dưới tám đứa, phá phách dữ lắm, có cho đi cũng chẳng ai dám nhận nuôi.
Tôi sinh ra ở Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Cậu tôi (ba tôi) làm thầy giáo làng, đi dạy học ở mãi Lạng Sơn, lâu lâu mới về thăm nhà, mẹ tôi một mình ôm năm đứa con nhỏ vừa phải buôn bán kiếm thêm, chứ trông vào tiền lương của cậu tôi thì làm sao mà đủ sống.
Mợ tôi kể lại, khi tôi được một tuổi, mợ tôi phải lo đi buôn gạo để sinh sống. Mỗi buổi sáng, mợ đong gạo đầy một bên thúng, bên kia quấn chăn để tôi nằm lọt thỏm trong đó mà gánh đi từ sáng tinh mơ để kịp giờ họp chợ xa. Hôm nào bán được gạo thì mợ tôi mua thêm ít vải vóc đem về bán chợ gần, và chỉ ngày hôm đó anh em chúng tôi mới có ít cơm ăn, không phải ăn cháo.
Đến khi tôi được ba tuổi, tôi nặng quá rồi, không thể ngồi trong thúng được nữa, mợ tôi phải để tôi ở nhà cho anh Hiệp trông nom tôi. Hơn nữa, bọn Việt minh (sau này mới đổi tên là Việt cộng) thường hay mang súng đến chợ bắc loa kêu gọi mọi người không được nhóm chợ nữa, mà phải theo chính sách "Vườn Không Nhà Trống" hoặc là "Tiêu Thổ Kháng Chiến". Nếu ai không nghe lệnh là chúng bắn bỏ ngay, vừa để đe dọa người dân, vừa tịch thu hàng hóa của họ. Điều kinh khủng cho người dân hơn nữa là, mỗi khi bọn Việt minh xuất hiện, là thế nào bọn mật thám của Pháp cũng biết tin mà báo cho bọn lính thuộc địa đem quân Lê Dương đi càn (đi hành quân). Hai bên đụng nhau súng bắn khắp nơi, ai chạy chậm ráng mà chịu chết, vì thế, mợ mới phải để tôi ở nhà.
Một hôm, tôi ở nhà với anh Hiệp, anh lại bị cảm lạnh, đắp chiếu nằm ngủ li bì. Trời sắp tối rồi mà các chị tôi đi mò cua bắt ốc đâu đó chưa về, mợ tôi chắc cũng còn đang gồng gánh đâu đó trên con đường đê chưa tới nhà. Trời bắt đầu đổ cơn mưa, lại gió lên nữa, mái nhà tranh cũ kỹ rách nát đâu còn đủ sức mà chịu đựng những cơn gió mạnh. Mỗi lần gió nổi lên ào ạt là mỗi lần mái tranh nhà tôi bay đi một ít, lần này cơn gió ác hại đã làm bay đi mảng tranh ngay trên đầu chỗ anh tôi đang nằm, nước mưa nhỏ xuống trúng nguời, làm anh lạnh quá, rên lên hừ hừ nghe thật là sợ. Tôi cũng cảm thấy lạnh, ngồi co ro ở cuối giường, mỗi lần cơn gió mạnh ào đến, lạnh thấu xương, tôi chỉ còn cách chắp tay lạy trời lạy đất:
"Lạy Trời đừng... Hừ... Hừ... đừng gió nữa... chỉ... Hừ... Hừ . . . mưa thôi."
Tới lúc trời tối đen như mực, mợ tôi mới gồng gánh về tới nhà, hàng của mợ coi như bị mất sạch vì Việt minh tịch thu không cho nhóm chợ. Mẹ ôm tôi vào lòng, hai mẹ con khóc như mưa. May mà lúc đó các chị tôi cũng về, đem theo được ít khoai mót ở ngoài ruộng. Mợ vội vàng nhúm lửa luộc khoai bóc cho anh tôi ăn rồi chia đều cho tất cả chúng tôi.
Mãi tới khi cậu tôi bỏ dạy học trốn về nhà (chính phủ bắt phải dạy học, Việt minh thì rình mò bắt tù, vì chúng nghi cậu tôi theo Việt Nam Quốc Dân Đảng), gia đình chúng tôi mới liên lạc được với bác Quế, Cô Tích ở Hà Nội để từ đó tìm đường... "Về Tề" tức là về vùng Quốc Gia kiểm soát.
Tối hôm đó, cậu tôi được đám học trò lội ruộng đưa xuống thuyền trốn đám ám sát của Việt minh, mợ tôi dắt các chị gái của tôi, còn anh Hiệp cõng tôi chạy thục mạng ra bờ sông. Phần thì trời tối đen như mực, phần vì sợ hãi, ai cũng cắm đầu chạy thục mạng, anh Hiệp cõng tôi một lúc thì thở không ra hơi, anh bỏ tôi xuống dắt tôi chạy. Tôi chạy bước thấp bước cao ngã lia lịa. Anh Hiệp đỡ tôi đứng dậy, nhìn lên chẳng còn thấy ai nữa, anh hoảng hồn kêu lên:
"Mợ ơi... chờ con với... "
Một người học trò của cậu tôi nghe được tiếng kêu cứu của anh Hiệp, chạy trở lại cõng tôi và dắt anh chạy nước rút. Khi tới bờ sông, cả nhà lên thuyền thì bọn du kích đã biết tin, chúng chạy tới lùng kiếm dọc bờ sông, tay chém dao xuống nước, chân thọc vào từng bụi cỏ, làm những người học trò không dám chèo thuyền nữa, mà phải nhẩy xuống nước kéo thuyền đi, còn anh em chúng tôi sợ tới không còn hồn vía nào nữa. Qua đến giữa sông, các anh học trò mới dám nhẩy lên thuyền, ra sức chèo thật nhanh cho tới bờ bên kia, tức là vùng an toàn của Quốc Gia.
Về đến Hà Nội, gia đình tôi tá túc tại nhà của bác Quế, ở Phố Huế, ngay trước cửa Chợ Hôm. Cậu tôi lo đi trình diện Nha Học Chính để xin tái bổ dụng, còn mợ tôi được bác Quế cho mượn cái tủ thuốc ngồi bán thuốc lá lẻ ngay trước cửa hàng bán cam táo của bác.
Hàng ngày, các anh chị tôi đi học, một mình tôi đứng sớ rớ bên cạnh mợ mở to cặp mắt ra mà nhìn người đi qua đi lại. Trời đã vào cuối thu, lạnh lắm, tôi được con của bác Quế cho cái áo ba đờ suy (coat) cũ, thỉnh thoảng lại cúi xuống tự ngắm mình, vì từ thủa mới sinh ra, tôi đâu có bao giờ được mặc cái áo đẹp như thế này đâu! Ngắm người đi bộ chán rồi, tôi quay ra ngắm xe điện (xe tram) chạy lên chạy xuống, rồi cũng bắt chước mọi người đi ra xem chợ bán hoa (cũng ngay trước cửa nhà). Mưa phùn lất phất, tôi thọc tay vào túi đi xem hoa cứ y như là người lớn. Tôi lang thang tới mãi tận rạp cinê Thăng Long (rạp chiếu bóng, bên đây gọi là movie) thì mợ tôi hoảng hốt đi tìm tôi dắt về.
Gia đình tôi di cư vào Nam năm 1954, những ngày đầu tiên, chúng tôi sống trong trại tỵ nạn ở Trường Nữ Trung Học Gia Long. Sau khi đã an vị tại gầm cầu thang của truờng, sáng sớm ngày hôm sau, mợ tôi dắt anh chị em chúng tôi đi vòng vòng khu trường học để... xem cho biết. Trường Gia Long thật là to lớn và đẹp đẽ với những hàng cây dọc lối đi và những căn nhà hai tầng dùng làm lớp học. Hồi ở Hà Nội và Sơn Tây, tôi đã có tới trường đi học rồi, nhưng những ngôi trường đó chỉ là truờng Tiểu học mà thôi, đôi khi nằm trong chùa, hoặc ở một khu vực hẻo lánh nào đó, chứ chưa bao giờ tôi được học hoặc là vào thăm một ngôi trường nào lớn như trường Gia Long này. Kỷ niệm mà tôi nhớ mãi cho đến ngày hôm nay là, khi chúng tôi đứng ở giữa sân, nhìn lên bầu trời trong xanh với những tia nắng vàng rực rỡ, mợ tôi đã buột miệng nói:
“Nắng Miền Nam... đẹp quá!”
Cũng nhờ những tia nắng đẹp của Miền Nam này mà gia đình chúng tôi và tất cả dân chúng ở Miền Nam đã đuợc sống những chuỗi ngày hạnh phúc thanh bình. Sau khi trung tâm Tỵ Nạn tại trường Thạnh Mỹ Tây đóng cửa, chính phủ mở ra các trường học di chuyển và cậu tôi lại được tuyển dụng dạy học ngay tại Trường Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây Thị Nghè. Mợ tôi chạy đôn chạy đáo mướn được căn nhà lá ở khu Sở Bông, gần Thảo Cầm Viên Sàigòn. Lạ nước lạ cái, lạ phong thổ và lạ cả tiếng nói, mợ tôi chưa thể buôn bán gì thêm được, cả gia đình sống nhờ vào đồng lương giáo viên của cậu tôi. Cũng như đa số những người đàn ông khác, cậu tôi chỉ biết đi làm kiếm tiền thôi, chứ làm sao có thể chăm lo cái ăn cái uống cho anh chị em chúng tôi. Kỳ lãnh lương đầu tiên, cũng là kỳ lãnh lương mà cậu tôi được sống ở nhà chung với cả gia đình (từ xưa tới giờ, cậu tôi luôn luôn phải đi dạy học xa nhà), khi cả nhà quây quần sau bữa ăn tối, cậu tôi móc túi đưa một xấp tiền (đối với đứa con nít 8 tuổi như tôi là nhiều lắm rồi) ra và hỏi mợ tôi:
“Bà... cần bao nhiêu?”
Mợ tôi đã nói một câu thật là chắc nịch:
“Ông cứ... đưa hết cho tôi là... được rồi.”
(câu nói lịch sử này, những bạn bè của tôi đã lấy vợ, đã có gia đình, chắc chắn ít ra cũng đã hơn một lần được nghe vợ mình nói một câu như vậy, phải không bạn?)
Nhờ tài xoay sở chắt bót của mợ tôi mà cả gia đình tôi gồm cha mẹ và bảy anh chị em (sau này em út tôi được sinh ra mới đủ con số 8) đã có một cuộc sống tạm gọi là no đủ. Mỗi đứa trong chúng tôi được mợ tôi đo cắt và khâu tay cho hai bộ quần áo mặc lúc đi học cũng như ở nhà, loại vải thật dầy, để khi đứa lớn mặc chật thì truyền lại cho đứa sau. Suốt cả thời kỳ tôi học tiểu học, chỉ có một lần duy nhất gia đình chúng tôi được đi chơi chung với nhau là kỳ nghỉ “Lễ Quốc Khánh 26 tháng 10”, cậu tôi đã dắt cả nhà đi thăm Thảo Cầm Viên Sàigòn (gọi tắt là Sở Thú). Sở Thú này, thật sự chỉ có cách nhà tôi khoảng mười phút đi bộ qua cầu (cũng được gọi là cầu sở thú, bắc ngang sông Thị Nghè) là tới nơi. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời thơ ấu, tôi được nhìn thấy tận mắt những con khỉ, voi, cọp... mỗi đứa chúng tôi được mợ mua cho một cây kem, tiếng Miền Nam gọi là Cà Rem Cây.
Ngoài cây cà rem đó ra, chúng tôi chưa bao giờ bước chân đến bất cứ tiệm ăn nào, dù chỉ là một cái quán ăn bình dân, nơi tôi và đám thằng Tự, thằng Nam... đã tới đó để nhặt nút chai, lon sữa bò làm đồ chơi. (Bạn bè thủa xưa của tôi vào những năm 1956 còn nhiều lắm, nào là thằng Tự (niểng) (vì xương cổ của nó bị cong, làm cái đầu nghiêng sang một bên. Tự sau này giữ chức Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, tử trận vào lúc 4 giờ chiều ngày 30 04 1975), thằng Giao (dao cùn), thằng Giáo (dao sắc), thằng Nam (Lùn, vì nó không được cao cho lắm), thằng Tâm (cháu của Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), thằng Hà (họa sĩ). Bên con gái có chị Hạnh, chị Trần Mộng Tú (làm thơ), chị Én... đến bây giờ chúng tôi vẫn còn liên lạc emails với nhau, vui lắm).
Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu làm sao mà chỉ với số lương giáo viên ít ỏi của cậu tôi mà mợ tôi có thể nuôi nổi cả gia đình với một bầy con tám đứa ăn như quỷ phá như giặc như chúng tôi?
Chắc là tại vì cậu tôi chịu nghe lời... “Ông cứ đưa hết cho tôi là được rồi.” và chắc cũng vì cái... Nắng Đẹp Miền Nam mà đời sống dân chúng không quá khó khăn đến nỗi phải bon chen chụp giựt vào thời gian đó. Cũng theo cái lý thuyết “Đưa hết cho tôi” mà khi chị Oanh, anh Hiệp đi làm, cũng đều đưa tiền cho mợ tôi lo phần chi thu trong gia đình, chỉ có mỗi mình tôi đi lính xa nhà, nên tôi giữ luơng lại mà sinh sống. Hơn nữa, tôi đóng quân ở mãi Pleiku, đâu có đuợc về nhà đâu mà đưa tiền cho mợ tôi giữ.
Đến khi tôi lấy vợ, câu đầu tiên mà mợ tôi dậy dỗ cô con dâu là:
“Con phải bảo thằng An nó... đưa hết tiền cho con giữ mới được đấy.” Nhưng mà khó cho vợ tôi là vào thời gian năm 1977, vợ chồng tôi lo bán đồ trong nhà đi mà tiêu xài, chứ tôi đâu có đi làm ở đâu đâu để mà đưa hết tiền cho vợ. Khi tìm được đường để lo vượt biên, chủ tầu chỉ cần tôi góp vốn một “Cây” thôi, vợ chồng tôi cũng không có cách nào mà kiếm ra. Vậy mà mợ tôi có đấy! Mợ nói với tôi:
“Để mợ... cho con mượn”
Thế là ngày hôm sau, khi tôi đến nhà mợ (lúc đó chúng tôi ở riêng), mợ đã đưa cho tôi một gói giấy, trong đó có đúng một lát vàng hình ba trái núi. Mợ tôi tài thật.
May mắn cho tôi, chuyến vượt biên được trót lọt (những lần vượt biên trước, vợ chồng con cái chúng tôi đi đều bị đình hoãn hoặc bị bể). Lênh đênh trên biển đúng bốn ngày bốn đêm, tầu vượt biên của chúng tôi đã cặp bến đảo Pulau Tanga của Mã Lai, đúng một tháng sau là tôi đã có mặt ở Melbourne, mượn tiền của Hostel đánh điện tín về nhà báo tin đã tới nơi an toàn. Số tiền trợ cấp một tuần lễ đầu tiên (và là số tiền trợ cấp duy nhất tôi lãnh ở Úc cho đến ngày hôm nay) tôi được lãnh tại xứ Úc, tôi đã mua vải vóc thuốc tây gởi hết về cho mợ. Nhận được quà, mợ gọi vợ con tôi đến, giao cho vợ tôi việc đi bán lấy tiền. Ba tháng sau, đơn bảo lãnh vợ tôi vừa mới gởi đi thì đã được tin vợ con tôi đã vượt biên an toàn đến đảo Pulau Bidong.
Tôi có được đến ngày hôm nay cũng là nhờ cây vàng mà mợ tôi đã cho (đứa con gái út của tôi cũng đã được tôi kể cho nghe câu chuyện này hơn một ngàn lần. Khi gặp bà nội ở Canada, nó cũng bá cổ bà nội mà đòi... mượn một lạng).
Câu đầu tiên mợ tôi nói với vợ tôi khi hai vợ chồng tôi sang thăm mợ lần đầu tiên ở Montreal là:
“Thằng An nó có... đưa hết tiền cho con giữ hay không đấy?”
Vợ tôi trả lời mợ, chắc như bắp:
“Mợ yên trí, con nhớ lời mợ dặn mà. Tiền khách hàng trả là con thâu chứ ảnh đâu có được rớ tới đâu, con thâu tiền hổng thiếu một cắc, mợ... đừng có lo”
Bây giờ thì tôi mới hiểu tại sao tôi chỉ có mỗi... hai chục đồng ở trong bóp (mỗi tuần, vợ tôi đưa cho tôi hai chục đồng để tiêu vặt. Đến cuối tháng, bả coi lại, nếu tôi chưa xài gì nhiều, số tiền còn dư, bả... lấy lại, chỉ để đúng hai chục đồng trong bóp tôi mà thôi. Cũng may là ở xứ Úc này không có bán bánh tráng nướng, chứ không thì lỡ tôi đi đường, đụng bể mấy cái bánh tráng, chắc không có đủ tiền đền).
Anh Hiệp tôi bảo lãnh cậu mợ và các chị em tôi qua Canada (tám anh chị em tôi sống tản mát khắp mọi nơi: Cậu mợ và một chị gái, một em trai tôi sống ở Canada với gia đình anh Hiệp (anh lớn), chỉ Oanh là chị cả của tôi và hai đứa em trai sống ở Mỹ, gia đình tôi ở Úc, và gia đình chị Bảo tôi còn ở lại ở Việt Nam). Mặc dù không phải chi tiêu gì cho gia đình nữa, nhưng mợ tôi vẫn cứ xách lược cũ mà áp dụng: “Ông cứ đưa hết tiền đây cho tôi”, làm cho cậu tôi đôi khi bị xính vính mỗi lần muốn đi chơi ngoài phố, tôi biết vậy, nên đã lén mợ tặng riêng cho cậu tôi một số tiền để ông tiêu vặt.
Khi trở về Úc, khoảng vài tháng sau, tôi nhận được thư của cậu gởi cho tôi (lâu lắm rồi, khoảng năm 1991 gì đó. Cậu tôi qua đời năm 1998, thọ 86 tuổi). Cậu khoe tôi:
“Có tiền của con đưa, cậu đi chơi vòng khắp thành phố Montreal, thấy người ta bán bánh Pizza, cậu mua ăn thử... ngon lắm con ạ. Chiều về nhà, mợ dọn cơm ra, cậu nói dối mợ là... bị đau bụng nên không ăn cơm (cậu tôi nói tiếng Pháp rành lắm, dân Montreal nghe ông nói đúng giọng, không vấp váp, cứ tưởng là cậu tôi sinh đẻ ở Pháp). Thật ra là cậu ăn bánh còn no lắm, và cũng có đi cầu thật, vì bánh có nhiều bơ quá. Nhưng chỉ một tuần sau, mợ lục túi cậu, thấy có tiền, mợ lại... lấy hết rồi. Mợ nói:
“Khi nào ông cần thì tôi sẽ đưa. Ông ăn cơm ở nhà, đi đâu có thằng Hiệp lái xe đưa đi, cần gì đến tiền mà phải giữ.”
Thế là cậu lại không có tiền dằn túi. Nếu con có gửi tiền cho cậu, con cứ gởi qua nhà bác Phan (Bác Phan là bạn của cậu tôi từ thời hai người còn học tiểu học chung với nhau. Bác cũng được con trai bảo lãnh qua Montreal và ở gần nhà cậu mợ tôi), khi nào cậu đi chơi, cậu sẽ ghé bác lấy xài dần.”
Mợ tôi bây giờ đã 95 tuổi rồi, bà sống trong Viện Dưỡng Lão ở Montreal. Viện này dành cho tất cả dân chúng trong vùng. Mợ tôi sống vui vẻ lắm, vì bà nói được tiếng Pháp và lại ăn được đồ ăn nấu theo kiểu Pháp nữa. Ngày ba buổi có người bưng đồ ăn nóng lại cho bà, bà ăn ngon miệng lắm. Năm 2010 vừa qua, vợ chồng con cái chúng tôi lại dắt díu nhau qua Montreal thăm bà nội. Hai đứa con của tôi học mãi cũng chỉ nói được với bà nội một câu:
“Bà Nọi... Bà Nọi khòe hong?”
Bà nội cũng chỉ nhìn cháu mà cười:
“Cháu... cháu ngoan quá”
Rồi mấy bà cháu nhìn nhau cười, vui lắm.
Vì mợ tôi sống trong nhà dưỡng lão, không còn phải lo chi thu hàng ngày nữa, và cũng vì cậu tôi qua đời rồi, nên cái lý thuyết “Ông đưa hết đây cho tôi” không còn được áp dụng nữa. Tuy nhiên, mợ đã truyền cái lý thuyết này lại cho mấy cô con dâu rồi, và cô nào cũng áp dụng chặt chẽ lắm, nên mợ rất là vui vẻ với đám con dâu biết nghe lời.
Vợ tôi có thể là một trong những học viên giỏi nhất của mợ. Mỗi lần tôi đòi... tăng lương, vợ tôi đã thẳng thừng từ chối:
“Cứ ăn xài kiểu như anh, em mà không lo cắt bớt, anh giờ này chắc... hổng có cái “quần xả lỏng” mà bận đâu, nói chi đến chuỵên mua nhà, mua xe...”..
Trước đây, cứ mỗi năm năm là chúng tôi lại qua thăm mợ một lần, nhưng vì công việc, chúng tôi chỉ có thể đi vào kỳ nghỉ hè, tức là vào tháng Một. Mà tháng này ở bên Canada lạnh thấu xương, có khi lạnh xuống tới trừ ba mươi độ, nên cả gia đình chỉ ngồi trong nhà nói chuyện, ăn uống với mọ mà thôi, chứ không dám dẫn mợ đi chơi, vì sợ tuyết trơn, sẽ bị ngã. Kỳ đi thăm mợ vừa qua, chúng tôi đổi qua tháng Năm, tôi chưa có bận bịu công việc làm cho lắm, và thời tiết bên Montreal đang là mùa Hè, nên chúng tôi có thể ra ngoài chơi, nhưng tiếc rằng, bà nội phải thở bằng ống dưỡng khí, nên không đi xa được. Vì mợ tôi đã lớn tuổi rồi, nên chúng tôi lại phải thay đổi thời gian đi thăm mợ mỗi ba năm, nên đến năm tới, chúng tôi lại đi thăm mợ lần nữa. Mai mốt đây, chắc là mỗi năm chúng tôi sẽ đi thăm mợ một lần...
Mợ tôi nghe không rõ cho lắm, nhưng mắt bà vẫn còn tinh, vẫn còn khâu vá đan áo len và đọc báo được. Lần trước, mợ đưa ra tờ báo “Văn Nghệ Montreal” khoe với tôi:
“Đây này, báo ở Montreal đăng bài của con đây này, con viết vui lắm, mợ đọc thích lắm. Lúc trước, mẹ đọc thấy tên ai là Nguyễn Khắp Nơi mà lại viết chuyện giống như chuyện nhà mình? Mãi sau con Bình nó mới nói cho mợ biết Nguyễn Khắp Nơi chính là thằng An con của mợ. Con mợ giỏi quá” (Mợ khen con, không đúng đâu đó).
Nhân dịp lễ “Ngày của Mẹ” năm nay, tôi viết bài này tặng cho MỢ TÔI, chắc thế nào báo Văn Nghệ cũng lấy đăng vào báo của họ và gởi cho mợ tôi đọc (mợ tôi mua báo năm). Tôi không cần mợ khen “Con mợ giỏi quá” mà tôi chỉ cần mợ tôi biết rằng:
“Con cám ơn MỢ. Nhờ có mợ mà con có đến ngày hôm nay. Nhờ có một cây vàng của mợ mà con vượt biên đến được bến bờ tự do. Nhờ có lý thuyết “Ông cứ đưa hết đây cho tôi” của mợ mà vợ con đã áp dụng theo, để con có cái “Quần Xà Lỏn” mà bận cho đến ngày hôm nay”.
CON CÁM ƠN MỢ
NHỮNG NGƯỜI CON VIỆT NAM CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ĐÃ NUÔI DẠY CON CÁI NÊN NGƯỜI HỮU DỤNG CHO XÃ HỘI.
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Chủ Đề 19.6: BIỂN MẶN

BIỂN MẶN


VÀO ĐỀ – Kính thưa quý Thầy cô, quý anh chị, cùng các bạn trẻ, cứ mỗi 2 năm một lần, Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới (ĐHTN/TG) được tổ chức ở một quốc gia nào đó, như năm 2012 tổ chức tại Paris Pháp quốc, tôi muốn đi tham dự để sống lại những kỷ niệm thời Sinh viên, mặc dù mới có năm đầu, nhưng rất hãnh diện được nhận là SV/Dalat. Viện Đại Học Dalat tuy không nổi tiếng như các Đại Học chuyên khoa trên Thế giới: Howard, Cambridge … Nhưng chuyên khoa Trồng Người (Thụ Nhân) cuả Cố Đức Ông Nguyễn Văn Lập rất thành công, hàng trăm, hàng ngàn Cựu SV/Dalat có mặt khắp nơi trên Thế giới, mang tình thương đến những người kém may mắn, và tiếp tục công tác trồng người của Đức Ông cho các thế hệ con cháu mai sau. Rất tiếc không đi tham dự ĐHTN/TG năm 2012, để có dịp gặp gỡ tâm sự với các anh chị, nên cố gắng viết một bài, gởi Đặc San ĐHTN/TG xem như có mặt trong Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới, cùng chung vui với các anh chị
Kính chúc ĐHTN/TG 2012 thành công tốt đẹp
SỰ THẬT
Muốn viết một bài cho thích hợp với cảnh sum họp, vui vẻ của ĐHTN/TG nhưng không dễ, vì đã rời Viện Đại Học Dalat quá sớm, nên không biết gì hơn ngoài chuyện lính. Lần trước đã có dịp nói đến đấm đá trên chiến trường, nhưng người lính không phải chỉ biết có đấm đá nhau thôi, lần nầy xin phép được chia xẻ tình cảm riêng tư, để thấy con tim người lính vẫn biết yêu thương, biết hẹn hò, như bao nhiêu người khác, nhưng vì nhiệm vụ phải tạm gát qua một bên.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 đến 2011 đã 36 năm qua, những người lính VNCH còn sống sót, cũng đã già nua theo năm tháng, trên chính quê hương, hay tha phương nơi xứ người, ai ai cũng có những câu chuyện vui buồn đời lính, nói hoài không hết, mỗi ngày đi qua là một câu chuyện vui, hay buồn không thể quên, mặc dù các câu chuyện đó không đáng giá gì, đối với những người khác.
Trong bài nầy, người viết muốn chia xẻ vài câu chuyện vui buồn có thật trong đời lính, với các anh chị Thụ Nhân (A,B,C) Dalat, và bạn bè từng vào sinh ra tử trên chiến trường, khắp 4 vùng chiến thuật, để bảo vệ Quê hương thanh bình, cùng là “Huynh Đệ Chi Binh” mình chung đời lính.
Sau Tết Mậu thân chiến trường khốc liệt, càng khốc liệt hơn, cs bắc việt dốc hết toàn lực đưa vào miền nam, nào bộ đội, súng đạn, xe tăng, trọng pháo… đêm từng đêm, ngày lại ngày, người anh em bên kia chuyến tuyến tấn công, pháo kích, phục kích, rình mò, tìm đủ mọi phương cách, lấy đi mạng sống của người lính VNCH, đang ra sức bảo vệ Miền nam tự do. Bao nhiêu bạn bè đã vĩnh viễn chia tay, mới buổi sáng cười nói bô bô, trưa lại gói trong chiếc poncho vì đạp phải mìn vc, giăng bẩy khắp nơi, trực thăng tải thương đưa về Quân Y Viện, lo việc tẫm liệm, trước sự ngơ ngác, tiếc thương của đồng đội, những giọt nước mắt chưa kịp trào ra khỏi vành mi, đã có lệnh súng đạn, ba lô lên đường hành quân, chưa biết ngày nào đến phiên mình, đó là sự thật
NGƯỜI VỢ SẮP CƯỚI
Buổi sáng thức dậy trể, mặt trời đã lên cao, ngồi một mình trong lô-cốt nhìn ra cánh đồng lúa xanh tươi, như sắp trổ bông, đầy sức sống, tự nhiên Binh ngố thấy mình cũng lâng lâng yêu đời, yêu người, muốn có cuộc sống an vui, hạnh phúc bên gia đình, cha mẹ, người thân, nghỉ đến một giấc ngủ thật bình yên, không nghe tiếng súng nổ bên tai, không cần ai canh gác. Một giấc mơ thật bình thường, đơn sơ như vậy, nhưng đối với người lính không phải “Muốn là đươc”
Binh ngố có người vợ sắp cưới, cô nữ sinh khá duyên dáng, em như một bông hoa miền sông nước mênh mông
“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá …”
Tế Hanh
Cổng trường giờ tan học, không thiếu những chàng trai, công tử thời đại. lắm tiền bạc, xe cộ bóng loáng theo đuổi, đưa đón, song Binh ngố có phần thắng thế hơn các công tử, được cô em gật đầu, hai bên cha mẹ đã đồng ý, không những đồng ý mà còn hối thúc nhanh nhanh, bên nhà trai muốn sớm có cháu nội bồng bế, nối giỏi tông đường. Bên nhà gái trông có người rinh quả bom nổ chậm là thấy vui rồi, em đừng giận, vì các cụ xưa thường bảo: “con gái lớn trong nhà, như quả bom nổ chậm”, hai bên đã kết sui gia, em không đòi hỏi cao sang, chỉ chờ Binh ngố quyết định, xin mấy ngày phép, rồi chọn ngày lành tháng tốt, đưa nàng về dinh, mọi việc đều suông sẻ, không có gì xảy ra.
Lúc còn là Sinh viên tương lai rực rỡ, tha hồ dệt mộng, sẽ đưa em về chân trời “tím ngắt, xanh dzờn, hay vàng rực rỡ …” nào đó, hoặc “một túp liều tranh 2 quả tim vàng” vẫn thấy hạnh phúc yêu đời. Bây giờ là lính, cuộc đời quá ngắn ngủi, sống nay chết mai, không muốn người vợ cuả mình, phải chít vành khăn sô, trở thành góa phụ, khi tuổi còn thanh xuân, qua nhiều đêm dài suy nghĩ, mình phải hy sinh, không vì ích kỷ cá nhân, làm khổ người khác, cô em không biết chuyện gì đã xảy ra, hay là giận hờn, ghen tương, hiểu lầm, … nên tìm cách gặp Binh ngố hỏi cho ra việc, nhưng cô em không dễ gì gặp.
Các anh chị cũng thừa biết cuộc tình nào không có nước mắt, và nhất là cuộc tình tan vỡ không do giận hờn, không bị một ngăn cách nào, không phải tại anh, cũng không phải tại em, … Người ta thường bảo khi chia tay, thiệt thòi lớn cho người con gái, nhưng không, ở đây sự thiệt thòi lớn nhất lại là người trai thời chinh chiến, vừa bị áp lực trên chiến trường, vừa quyết định hy sinh tình cảm riêng tư, buồn quá đi thôi!
Có lần Binh ngố chịu không nổi, tính về đầu thú với em, chọn một ngày cuối tuần đẹp trời, Binh ngố quyết định trở lại thăm ba má em, đồng thời gặp lại em xin dơ hai tay đầu hàng vô điều kiện. Cô em đi học xa nhà phải ở trọ, cuối tuần mới về, thường thì tuần nào cô cũng về, nhưng tuần nầy cô không về, có lẽ là sự sắp xếp của “ông tơ bà nguyệt”, Binh ngố đành chấp nhận chia tay thật sự, xem như có duyên mà không nợ, cũng là lời tâm sự với người vợ không cưới ngày xưa, mong được sự thông cảm, đồng thời xin tạ lỗi cùng ba má em.
Nay được biết gia đình em đã định cư tại Hoa kỳ, nếu chồng em đọc bài nầy chắc là giận anh dữ lắm, giận anh sao không chịu rước em về dinh, để chồng em phải rước, cho anh gởi lời thăm chồng em, chỗ quen biết. Vợ anh cũng nhắc đến em, vì là bạn bè học chung lớp có khuôn mặt hau hau giống nhau, nhiều người lầm tưởng là 2 chị em ruột. Vợ anh còn tâm sự: nghe em nói chồng sắp cưới của em là Sinh viên, học ở Dalat, … tường ông nào, té ra là ông! Nếu như vợ anh đọc được bài nầy, sẽ trách em lắm, sao không rước của nợ giùm bà! Thôi nhé em, xem như không có gì xảy ra
LY CÀ PHÊ
Đang miên man về cuộc đời, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè, thèm một ly cà phê, Binh ngố lấy cây súng M16, lau sơ qua, rồi lang thang xuống phố, phố ở đây là xóm nhỏ dưới chân đồn, khu vực phía bắc đồi hoàn toàn mất an ninh, khu vực phía nam tương đối có an ninh, tuy vậy mình phải mang cây súng cho chắc ăn, dọc theo lối đi có năm ba quán hàng, quán cà phê mọc lên, các em trong quán cà phê trông cũng đẹp gái, hấp dẫn, thuộc hạng nghiêng thùng đổ nước, quán nào cũng đầy lính tráng, Sĩ quan, Hạ sĩ quan. Binh ngố cũng muốn bước vào để tìm ly cà phê đỡ buồn, nhưng lại nhớ bài học từ quân trường, đây là nơi việt cộng không bỏ qua cơ hội tốt, cài người vào các quán cà phê “mỹ nhân kế”, để lấy tin tức, thói quen các Sĩ quan, sơ đồ bố trí súng nặng, v.v. … chờ dịp tấn công diệt gọn phe ta.
Tuy ngố, nhưng Binh ngố rất tĩnh táo vụ nầy, các em thấy tân binh mới ra trường lè phè, có lẽ không thèm để mắt tới, còn mình cứ vờ như chỗ không người, không thấy gì, cứ tiếp tục đi, đi trên con đường gần đến cuối xóm, qua khỏi quán cà phê chừng vài, ba trăm met, thấy có bà già ngồi trên võng nhai trầu, nhìn ra đường trông giống mẹ mình quá, mẹ mình ngày nào cũng nhìn ra ngõ để trông thằng con trai độc nhất, là nguồn hy vọng, an ủi, cuối cùng của đời bà.
Binh ngố tấp vô chào hỏi, chuyện trò cho đỡ nhớ mẹ, một hồi lâu bà cụ rủ ở lại ăn cơm với bác cho vui, mình cố từ chối cho ra vẻ, chứ về trại làm gì, ngày nào không có công tác thì cứ nghỉ chơi thỏai mái, bà nhường võng cho nằm nghỉ chờ cơm nước.
Binh ngố xin phép ra sau nhà đi vệ sinh, cốt là để quan sát sơ qua nhà cửa, vườn tược, nhân sự trong nhà, không khéo lọt vào ổ phục kích cuả việt cọng thì toi mạng. Đi một vòng thấy nhà tôn dựng đơn sơ trên nền nhà gạch, bị sụp đổ vì bom đạn chiến tranh, không thấy heo, bò, rơm rạ, như vậy nhà nầy không làm ruộng, nhìn cảnh nhà điêu tàn, nhưng có lẽ trước đây thuộc loại khá giả, nhìn trong nhà thấy có mình bà nên không lo lắng.
Nằm trên võng ngó ra giàn khổ qua phía trước sân, bà cụ hái ít rau và khổ qua, nấu cơm, làm rau xong bà cụ dọn lên bàn, mình vội đứng dậy, xen xái giúp bà một tay, để ăn cho ngon miệng, thấy bà dọn lên ba cái chén, ba đôi đủa, Binh ngố giật mình, cả buổi chỉ thấy có 2 bác cháu, bay giờ sao lại có ba cái chén, ba đôi đủa, là nghĩa gì ?
Không lẻ có việt cọng ở dưới hầm chui lên ăn cơm với mình sao, mình phải đối xử thế nào đây? Hay “dĩ đào vi thượng sách” thấy mình lo lắng không được tự nhiên. Bà cụ cười nói, chờ em nó về cùng ăn cho vui. Lúc nầy mình mới hết lo, hỏi lại bà cụ
- Em đi làm ruộng về phải không bác ?
- Không, nó ở ngoài quán cà phê
Bà trả lời vừa xong, thì thấy cô em xuất hiện ở đầu sân, nở nụ cười thay lời chào. Lúc nầy Binh ngố lại lúng túng hơn là thấy việt cọng dưới hầm chun lên. Nếu có ai nói Binh ngố sợ vc ít, mà sợ gái thì nhiều cũng không sai! Binh ngố hỏi bà cụ: – Con gái bác?
Phải, bác có mấy đứa con từ Sàigon, và thị xã về mở quán cà phê ở phía dưới đó, con có ghé quán cà phê của em uống chưa?
- Dạ thưa chưa
Qua bữa cơm rau mắm đơn sơ, bà cụ đứng lên trước, cô em không vội rời nâm cơm, ra quán cà phê, mà vẫn ngồi cà kê dê ngỗng, cô em hỏi
- Anh đã uống ca phê đâu chưa ?
- Chưa
- Anh không thích cà phê à
- Thích chứ
- Vậy em chế anh ly cà phê uống thử nhé
Bà cụ đun nước xong, cô em chế cho ly cà phê. Thật tình Binh ngố không phải dân sành uống cà phê, không hút thuốc lá, nên không biết cà phê ngon hay dở như thế nào, thậm chí cà phê Tùng ở Đàlat, nghe nói ngon lắm mà mình cũng không phân biệt được ngon dở.
Nếu uống cà phê có bạn bè, hoăc có người ngồi bên cạnh tâm sự, xem như cà phê có hương vị đậm đà, thơm ngon thế thôi, chẳng hạn như hôm nay. Trở về đồn mang theo hương vị cà phê vừa uống, suy nghĩ mông lung, nếu cô em là binh vận cuả vc, đưa về đây hoạt động, thì các Tiểu đoàn ở đây có nhiêu sĩ quan lớn nhỏ, đẹp trai phong độ, còn Binh ngố mới ra trường không mang lon lá gì, thì làm sao cô em biết mình là sĩ quan. Suy nghĩ miên man một hồi, thôi chuyện bên lề cuộc đời xếp qua một bên, mình không lui tới quán cà phê là xong chuyện, nghĩ ngợi chi cho mệt trí. Thế là Binh ngố không xuống xóm uống cà phê, như các bạn trong Tiểu đoàn, thường ngày nghỉ là ở các quán cà phê, mọi việc đều trôi qua, nhưng con tim lại không chịu buông tha, những hình ảnh “các cô em đi qua đời anh”, từ xa xưa lại hiện về, nào là tình học trò, cùng ở chung nhà trọ, nào tình đồng hương trên xứ lạ, Thành đô, nào là cô bạn rủ mình bỏ học đi chơi v.v. và v.v. Nhưng giờ nầy có ai biết mình đang làm gì, ở đâu, sống chết ra sao không ?
Thế là gần một tuần, sáng đi hành quân chiều về nghỉ, ngày nào không hành quân thì đi ra, đi vào lô cốt, chứ không có sách báo đọc, không có radio nghe ca nhạc buồn thật.
Thấy anh lính dưới xóm đi lên, tòng teng cái xách nhỏ, vừa cười vừa bảo:
- Ông thầy có quà.
- Của ai vậy ?
- Ông thầy gở ra xem thì biết.
Không nói thì cũng biết là của cô em cà phê, chứ còn ai vô đây!
Một lần quà, hai lần quà, rồi cứ thế… thấy sự nhiệt tình cuả cô em, Binh ngố không thể dối mãi con tim rằng cô ấy là việt cộng, nên hỏi thăm hàng xóm, biết gia đình em là nạn nhân cuả cs, chị em kẻ vào sàigòn, người lên tỉnh đi làm, đi học. Thế là Binh ngố bắt đầu đi uống cà phê khòi trả tiền, mà còn được trả công “lên xuống đồi”, bội hậu, tuy được hưởng mọi ưu tiên, kể cả tình yêu cũng cho không, biếu không, nhưng Binh ngố không lợi dụng, lâu lâu mới đi một lần, lạ thật càng lâu gặp mặt, càng giận hờn, thì tình yêu càng nóng bỏng, vậy thì tội gì lên xuống hoài cho cô em xem thường, đặc biệt không lợi dụng bậy bạ, do vậy vẫn giữ được tình thương yêu, kính trọng nhau. Trong những món quà cô em gởi cho có bản nhạc “BIỂN MẶN” cuả Trần Thiện Thanh, phần điệp khúc cũng nói lên được tình cảm cuả cô em cà phê mới quen.

ĐK:
Người yêu tôi, tôi mới quen mà thôi
Lúc dừng quân trên vùng vừa tiếp thu
Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài
Gió lên từng chiều vàng nàng xõa tóc trên biển xanh
Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây
Bảo yêu anh em muốn chuyện đôi mình
Như màu xanh biển tình trong ngày trời xinh rất xinh
.
Tôi đến lại đi,
Xa vắng đời tôi chiến chinh lâu dài
….
Cũng do chiến tranh nay đây mai đó, cô em có tìm đến thăm một vài lần, rồi mất liên lạc. Ngày nay nếu có dịp gặp, ôn lại chuyện xưa chắc là vui lắm, kể cả người vợ chưa bao giờ cưới
TUỔI GIÀ
Nói về chuyện tình yêu cuả lính, dài dài chưa hết, vì còn hơi thở là còn biết yêu,
Lúc tuổi trẻ tình yêu nặng về đôi lứa
Lúc tuổi về già tình yêu nặng Quê hương, Dân tộc
43 năm kể từ ngày vào lính theo lệnh tổng động viên 1968 sau Tết Mậu Thân, nay không còn ngố, mà trở thành người lính già, gọi là người lính già cũng đúng vì đến giờ nầy chưa cầm trong tay tờ giấy giải ngũ, nên vẫn còn trăn trở với Quê hương, Dân tộc, chứ không phải ham hố nuối tiếc gì thời quá khứ.
Có bài thơ thay cho mối tình già, xin gởi quý anh chị đọc cho vui:
THƯƠNG VỪA … CHƯA ĐỦ
Thương sao cho đủ thì thương
Kẻo oan cho kẻ còn vương nợ đầy
Phong sương, tóc bạc vai gầy
Tha phương mong mỏi có ngày đoàn viên
Hỏi ra mới biết láng giềng
Đêm đêm thao thức nổi riêng một mình
Thu về lá úa lặng thinh
Đi đâu em nhớ cho mình đi theo
Vượt sông, vượt suối trèo đèo
Hướng về Cố quốc buồn teo
Bạo quyền đàn áp đói nghèo
Ngư dân mất biển neo tàu chờ ai??
Làm trai cho xứng nên trai
“Cứ quanh xó bếp ai thời thương dân”
Lỡ mai anh quyết dấn thân
Hậu phương em có tảo tần đi thăm …!
nlg
TẠ ƠN THAY LỜI KẾT
Đời lính không có tương lai, nghèo rớt mồng tơi, gia tài chỉ vỏn vẹn chiếc ba lô, ngoài cái poncho vừa làm nhà ở, che mưa gió, lúc chia tay cuộc đời, cuộn tròn thân xác, làm hành trang đi vào lòng đất mẹ. Tuy nghèo khó, nhưng không bị đời bỏ rơi, cảm ơn các anh chị văn nghệ sĩ, cảm ơn các em gái hậu phương, và nhất là cảm ơn người vợ lính, đã biết lính là nghèo khổ, yêu lính là chấp nhận thương đau, chấp nhận làm góa phụ nuôi con, gánh vác công việc gia đình bên chồng, ấy vậy mà các chị không bỏ mặc chúng tôi lăn lóc với đời, vẫn đến với chúng tôi chia xẻ nỗi cô đơn, buồn vui đời lính, biết nói gì đây ngoài lời tạ ơn sâu xa các chị.
Tạ ơn Trời đất, tạ ơn người
Lính chiến vào đời tuổi đôi mươi
Bỏ lại sau lưng bao kỷ niệm
Yêu thương rộn rã tiếng nói cười …
Chiến trường lửa đạn, vang rền nổ
Tuổi trẻ lên đường, chẳng ưu tư
Lớp lớp người đi, vào sương gió
Bảo vệ Quê hương, ấm tình người
Võ Văn Rân

Chủ Đề 19.6: "Chiều Tang" Mộ Lính

Chiều Tang

BP-ChieuTang

trời chiều mây bàng bạc
nàng mặc áo dài đen
đi giữa hàng mộ trắng
nhìn bia mộ tìm tên
lần cuối chia tay nhau
đâu ngờ là vĩnh biệt
người yêu nàng hy sinh

trên chiến trường khốc liệt
gió thổi se sắt lạnh
lòng nàng buồn hắt hiu
là người yêu của lính
mấy ai yêu trọn yêu
người chết có mang theo
chút hương nồng thiếu nữ
ngày về phép tìm nhau
trong vòng tay tâm sự
giữa hàng hàng bia mộ
nàng đi mặt thẫn thờ
bao người lính tử trận
bao người tình bơ vơ
lệ thầm nàng xót xa
chưa một ngày làm vợ
vẫn thấy mình đớn đau
như mang thân góa phụ
mất nhau trong khói lửa
tình không là thiên thu
người chết vì tổ quốc
người bất hạnh duyên mơ

. . .

mộ lính sau chiến tranh
bị bỏ phế hoang tàn
trong đoạn phim ký ức

nàng vẫn áo màu tang

 Bắc Phong

Báo Giấy Và Báo Điện



Mới đây tờ báo lâu đời 175 năm tuổi (thành lập vào năm 1837), nhựt báo Times-Picayune ở New Orleans, từng được giải thưởng Pulitzer và nhiều giải khác, phải giảm chỉ còn ra ba số báo một tuần, khiến thành phố lớn nhất tiểu bang Louisiana,đột nhiên trở thành một nơi khơng có nhật báo hàng ngày nữa. Không phải chỉ có nhật báo giấy Times-Picayune ở New Orleans đầu hàng Internet làm việc này, mà ba tờ nhựt báo giấy của công ty Advance Publications là The Huntsville Times, Mobile Press-Register và Birmingham News Times ở tiểu bang Alabama, cũng giảm số báo ngày, chỉ ra báo giấy một tuần ba ngày thôi. Công ty này cho biết lý do chánh của việc cắt giảm số lần phát hành báo in xuống còn 3 ngày, là bốn nhựt báo của công ty đã phải hứng chịu hòan cảnh thiệt hại do càng ngày các độc giả càng lên Internet đọc tin tức càng nhiều và các báo phải giảm ngày ra báo tập trung làm báo điện tử.

Chủ nhiệm báo Times-Picayune là ông Ashton Phelps trong thông tri nội bộ cho biết thay đổi này sẽ phải cho nghỉ việc một số người trong ban quản trị, biên tập, và phát hành của tờ báo. Ba tờ nhựt báo lâu đời, qui củ của Mỹ như vậy mà phải thay đổi vì và do thời đại mới, thời đại của khoa học kỹ thuật cao tin học, dùng kỹ thuật số để làm báo như vậy. Huống hồ gì báo chí giấy bằng tiếng Việt ở Mỹ mới có mặt trên ba mươi mấy năm trên mảnh đất quê hương của Internet, cái nôi của computers là nước Mỹ này. Thời đại mới, kỹ thuật mới, con người mới, thì nghề báo cũng mới, người làm báo cũng phải mới, và độc giả cũng phải đổi mới. Định luật của sự sống, không biến đổi là bị đào thải thôi.

Muốn hay không muốn truyền thông đại chúng bây giờ cũng đóng vai trò lớn không chối cãi được trong cuộc sống của thời đại này. Để một bên quảng cáo tràn ngập trên các loại hình truyền thông đập vào mắt vào tai mỗi người một ngày không biết bao nhiêu lần, còn có thông tin, nghị luận, và giải trí - có thể nói quá phong phú đến thừa mứa nữa. Tạm lấy người Mỹ như một điển hình tiên tiến trong thời đại truyền thông đại chúng vì muốn hay không muốn người Mỹ là người sử dụng và hưởng dụng truyền thông đại chúng nhiều nhứt. Để từ đó thử phân tích tin tức là một thứ giải trí hay là một nhu cầu công ích.

Một, khảo nghiệm của đại học cho biết người Mỹ là người dùng truyền thông nhiều nhứt. Dùng hai phần ba thời gian thức để vô Internet, xem TV, nghe nhạc, hay nói điện thoại. Vừa vào Internet vừa làm việc khác như xem truyền hình, nghe nhạc, xem thư. Đó là kết quả do Trung tâm nghiên cứu của Đại học Indiana làm một cuộc khảo sát khoa học và công phu. Kết quả cho biết trung bình một người Mỹ sử dụng 30% thời gian thức để tiếp cận với truyền thông và 20% để làm việc. Theo nhận xét của Giám đốc Trung Tâm là Ô Michael Bloxham, tham khảo truyền thông có nghĩa thí dụ như xem TV, nghe radio, đọc báo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nó xác nhận khuynh hướng chung rất phù hợp với những khảo nghiệm những năm trước đây; nó cũng xác nhận vai trò rộng lớn của truyền thông trong đời sống của người Mỹ.

Khảo nghiệm cũng cho biết trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng, có hai loại người. Loại thứ nhứt xem truyền hình trung bình 240 phút (4 giờ đồng hồ) một ngày. Loại thứ hai xem computers 135 phút (2 giờ 15 phút) một ngày. Loại hai xem những gì trình bày, loan tải trên mạng qua Internet, như điện thư, điện tín khẩn, báo chí, nhạc. Và có một điều ngạc nhiên đầy thích thú là thời gian xem computers theo khảo nghiệm bằng với thời gian nghe nhạc mỗi ngày, nghe từ nhiều thứ máy, như radio, nhạc phát từ nhiều chương trình trên mạng.

Hai, tiếp cận với truyền thông chánh yếu để giải trí và biết tin tức. Vậy tin tức là một trò giải trí hay một nhu cầu vì công ích. Theo Jim Lehrer, một người dẫn chương trình đáng kính của truyền hình PBS, được mời chất vấn ứng cử viên tổng thống nhiều lần, khẳng định tin tức không phải là một thứ giải trí, mà là một nhu cầu công ích. Cơ quan truyền thông vì thế không phải là nơi làm kỹ nghệ giải trí.

Nhưng Victoria Corderi, người dẫn chương trình Dateline của Truyền hình hình NBC nói ngược lại, tin tức là một thứ giải trí.

Bất đồng ý kiến này có lý do. Truyền thông đại chúng bây giờ so với 20 năm trước phát triển thành nhiều loại, báo chí, phát thanh, truyền hình, websites, blogs, v.v... Khán thính giả rộng đường thông tin nghị luận, nhưng cũng có thể tạo cho mình một ốc đảo về quan điểm lập trường, cái gì thích thì nghe nhìn, cái gì không thích thì bỏ qua. Vậy tin tức đúng là một nhu cầu công ích để người nghe nhìn các dữ kiện để so sánh, nhận định, tự chọn cho mình một quyết định. Chính vì vậy hơn bao giờ hết, trong thời đại này, tin tức vô tư, trung thực, chính xác, kịp thời là một nhu cầu công ích để tạo niềm tin — là cần thiết hơn bao giờ hết.

Nhưng càng ngày truyền thông càng tỏ ra không thành công với thiên chức đó. Nhiều xì căn đan xảy ra, do chính nhà báo gây ra, trong những tờ báo lớn như USA Today, New York Times, và hệ thống truyền hình lớn. Nếu đà này tiếp diễn chắc chắn niềm tin của quần chúng sẽ bị xói mòn.

Truyền thông đại chúng cũng gặp vô vàn khó khăn do thời đại gây ra. Nhiều bàn tay đang trói chặc truyền thông. Độc giả báo ngày càng bớt. Quảng cáo là nguồn lợi lớn nhứt cho đời sống vật chất của truyền thông. Thêm vào đó một người chỉ cần có một máy quay phim, đóng một số tiền rất nhỏ mua vùng trên Internet là có thề làm ra vô vàn tin tức.

Chính trong cảnh vàng thau lẫn lộn đó, tin tức đúng hơn lúc nào tỏ ra vô cùng thiết yếu, như nhu cầu công ích vậy. Đúng theo nghĩa truyền thống là vô tư, độc lập, trung thực, chính xác và kịp thời. Quần chúng cần những thứ đó để biết sự thật. Do vậy tin tức không thể là một trò giải trí. Tin tức là tin tức. Nó có thể tốt, làm vui với người, phe đảng này, nhưng xấu, làm bực người, phe đảng khác. Nhưng cái giá trị cốt yếu của nó là sự thật. Bóp méo sự thật dù một chút thôi để làm vừa lòng phe đảng nào đó, như một thứ giải trí là không còn là tin tức nữa.

Ba và sau cùng, Internet không giết chết báo chí được, trái lại nó kiện tòan cho báo chí. Phần chánh của báo chí nói chung là thông tin, nghị luận. Không web, blog cá nhân nào thay thế được. Báo chí có phóng viên, ký giả, ban biên tập, chủ bút, chủ nhiệm, có kỹ thuật và chuyên môn phối kiểm tin tức, và chính danh chịu trách nhiệm với quần chúng nên đáng tin cậy hơn blog cá nhân và web cá thể.

Báo chí cũng đang thích nghi để sinh tồn, sử dụng Internet để phát triễn thay vì để cho Internet đào thải. Có báo giấy bớt số phát hành, bớt ngày ra báo, tinh giảm nhân sự để nhẹ gánh tài chánh điều hành. Nhưng hầu hết các báo giấy ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu đều có điện tử hóa tờ báo giấy của mình. Hầu hết việc làm báo, làm tin, viết nghị luận, gởi bài vở, hình ảnh, lên khuông, gởi nhà in bây giờ làm bằng kỹ thuật số, qua Internet. Rất đỡ tốn hơn xưa. Từ một tờ báo gởi in ra giấy đến việc chuyển lên Internet làm thành tờ báo điện tử hầu như chẳng tốn kém gì. Hẩu hết báo giấy bây giờ đều có hình thức điện tử trên Internet. Báo có mở blog mở web trên cho báo giấy của mình, để mở rộng độc giả, thu thêm quảng cáo, và tiền mua bài có tính tòan cầu. Có nhiều thông tin, nghị luận độc giả báo điện tử phải ghi danh, trả lệ phí như mua bài mới mở đọc được. Báo điện tử có một kỹ thuật quảng cáo rất thành công, thu hút rất nhiều chủ hàng quảng cáo và bắt người đọc phải xem quảng cáo rồi mới vào đọc thông tin, nghị luận được. Thương mại bây giờ có tính tòan cầu với WTO. Buôn bán trên mạng bây giờ rất phổ thông, tiện lợi, xem, chọn hàng, trả giá mua trên mạng, trả tiền trên mạng, hàng gới tới tận nhà, quá tiện và nhanh, khỏi đến tiệm buôn bán, mất thì giờ./.

Vi Anh

Kỷ niệm 05/06: Mại dâm và yêu nước, bên nào nặng hơn?


Đã tròn 1 năm, ngày khởi đầu những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ở cả hai đầu đất nước 05/06/2011- 05/06/2012. Ngoài ý nghĩa lớn lao là chống bá quyền Bắc Kinh xâm lược, vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc, các cuộc biểu tình còn đặt ra một vấn đề khác đó là món nợ quyền được biểu tình của người dân đã bị nhà nước tước đoạt mấy chục năm qua đã đến lúc cần phải trả. Nhưng những cuộc biểu tình đã bị đàn áp thô bạo, người yêu nước đi biểu tình đã bị đưa đi “học tập, cải tạo” chung với những kẻ cờ bạc, mại dâm, ma túy. Phải chăng lòng yêu nước ngày nay được đánh giá ngang với mại dâm, ma túy, cờ bạc?
Xin thưa là không phải vậy. Với ma túy, mại dâm, cờ bạc nhà nước ta còn nhẹ tay và ưu ái hơn nhiều. Bằng chứng là hàng chục năm nay, mại dâm, cờ bạc cũng được nhà nước đưa vào chương trình xóa bỏ và tiêu diệt. Thế nhưng, càng chống càng to, càng diệt càng nhiều, cứ nở rộ như nạn tham nhũng vậy. Còn biểu tình yêu nước ư? Nhìn thực tế thì biết.
Trên mặt trận tuyên truyền, những cuộc biểu tình yêu nước và người biểu tình yêu nước đã được đối xử như những hành động thù nghịch, không một tờ báo nào dám cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân qua các cuộc biểu tình đó, thậm chí còn ngược lại. Một năm đã qua, việc biểu tình yêu nước nhiều khi đã trở thành đề tài “nhạy cảm” và người ta tránh né khi nói đến. Nhưng, mại dâm và ma túy, cướp giật và cưỡng hiếp, giết người và cướp của… báo chí ta tha hồ tuyên truyền, tha hồ săm soi mà không hề bị đình bản, bị khiển trách, nộp phạt, xứng đáng chứng minh sự tự do của báo chí Việt Nam.
Do vậy, hôm nay, kỷ niệm một năm ngày 5/6/2012, thử bàn về đề tài được ưa chuộng: Mại dâm
Ý nghĩa của việc triệt phá các đường dây mại dâm
Thỉnh thoảng, những khi tình hình Việt Nam có những vấn đề khó khăn về kinh tế như hàng ngàn công ty sập tiệm, giá cả tăng chóng mặt, đời sống càng ngày càng đi xuống hoặc khi bọn bá quyền Trung Quốc nhăm nhe bờ cõi, không chỉ lấn chiếm mà còn đe dọa đất nước chúng ta, thì lực lượng công an nhân dân lại lập chiến công rực rỡ đánh phá thành công một ổ mại dâm lớn. Nhiều đường dây mại dâm từ cấp thấp đến cấp cao đã bị phá trong nhiều năm qua trong đó có sinh viên, diễn viên và càng ngày càng có nhiều tầng lớp xã hội khác nhau từ những cô gái không có tiền mua thuốc cho con, đến những cô gái còn thiếu vài ba căn biệt thự hoặc vài chiếc ô tô xịn. Có thể nói, hoạt động kinh doanh mại dâm ngày càng phát triển và động viên ngày càng nhiều lực lượng, nhiều lứa tuổi tham gia. Mới đây, một ổ mại dâm hoa khôi, hoa hậu cũng đã bị phát hiện.
Những vụ án này được báo chí khai thác triệt để và được mô tả là đánh sập, phá án, triệt phá v.v… dùng toàn những từ ngữ như khi báo tin thắng trận hồi chiến tranh, người dân nghe cứ náo nức trong lòng muốn đến nhìn tận mặt sờ tận tay những vụ việc như vậy. Các video clip bắt mại dâm cởi truồng, lập biên bản trong tiếng chửi bới và thản nhiên quay video được cộng đồng dân Việt Nam đua nhau truy cập, lượng người xem tăng nhanh đến nghẹt thở. Việc tuyên truyền các sự kiện này được báo chí tận tâm, tận lực đưa đến cho người đọc những pha gay cấn, những trị giá của việt mại dâm. Vì sao vậy?
Hình ảnh biểu tượng được cho là của cô Phương Trinh 1.000 đôla/phút
Việc bắt được đường dây mại dâm cao cấp này có ý nghĩa lớn lao trong đời sống xã hội Việt Nam, nó bác bỏ luận điệu của “các thế lực thù địch” đang tuyên truyền vô lý trước cộng đồng thế giới rằng kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn hoặc đời sống nhân dân Việt Nam nghèo khổ v.v… qua những vụ sụp đổ cỏn con như Vinashin hoặc Vinalines. Đây cũng là cơ hội để nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn tình hình kinh tế Việt Nam không đến nỗi khó khăn như người ta thấy. Bằng chứng là những cô người mẫu, chân dài, diễn viên bán dâm tới hơn 50 triệu đồng/lượt (nghĩa là mỗi lần mua dâm là cả 10 tấn thóc ) vẫn cứ tấp nập người mua. Điều này chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ và có mạnh mẽ như vậy, thì mới có lượng người mua dâm với giá ngất trời như thế.
Ngoài chứng tỏ khả năng kinh tế của mình như đại gia tổ chức đại đám cưới khủng, đại gia xây biệt thự khổng lồ, đại gia mua xe tiền tỉ sang trọng thì việc bóc gỡ đường dây mại dâm này còn có ý nghĩa to lớn rằng ở Việt Nam, lượng đại gia là không thiếu. Mà đại gia nhiều, thì có nghĩa là tiềm lực kinh tế lớn là đương nhiên, khỏi phải bàn cãi.
Đây cũng là cơ hội để nhiều cô gái thông qua báo chí nhà nước mà được nhiều người biết đến giá cả của mình cụ thể (tương tự quảng cáo nhưng không mất tiền) và hoàn toàn hợp pháp. Người mẫu Phương Trinh cho biết cái giá của cô là 20.000 đôla cho chỉ có 20 phút, nghĩa là mỗi phút với cô gái này là 1.000 đôla mà cô gái này còn chưa chịu (chắc các đại tư bản ở trong vũ trụ này cũng phải chào thua các đại gia Việt Nam).
Thử làm một phép tính đơn giản như sau: Số tiền nợ của Vinashin theo báo chí là 86.000 tỷ đồng, tức là khoảng hơn 4 tỷ đôla. Với một cô gái như Phương Trinh, cứ tính giá rẻ mỗi phút được đại gia trả 1.000 đôla, vậy cần số thời gian là 4 triệu phút, tức là khoảng 67.000 giờ, cũng tức là 2.800 ngày và là khoảng 93 tháng. Nếu có 10 cô Phương Trinh, chỉ cần hơn 9 tháng có thể làm ra số tiền hơn 4 tỉ đôla.
Trong khi đó cứ theo đà tăng trưởng số lượng cuộc thi hoa hậu, hoa khôi, người mẫu những năm qua, thì con số 100 hoa hậu hoa khôi là chuyện nhỏ, vậy chỉ cần con số đó hoạt động mỗi người một tháng, số tiền nợ của Vinashin chỉ là con muỗi mà thôi.
Điều có ý nghĩa lớn hơn, là chứng tỏ khả năng kinh tế của đất nước chúng ta vẫn tiềm tàng nhiều mặt. Bởi đất nước Việt Nam thời gian qua vốn nổi tiếng nhiều hoa hậu, hoa khôi, người mẫu, chân dài… qua các cuộc thi hoa hậu, hoa khôi mọc lên như nấm sau mưa từ cấp phường xã đến cấp trung ương. Mà đã có thi, là sẽ có hoa hậu, có hoa khôi nên lực lượng này sẽ không bao giờ lo thiếu.
Mấy năm trước, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã chẳng từng làm công tác quảng cáo với bọn tư bản đại khái rằng mời các bạn đến Việt Nam, ở đó có nhiều cô gái đẹp, hẳn là có lý do của nó?
Chính vì vậy, nếu biết phát huy khả năng của đội ngũ này, thì việc đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi những khó khăn do việc lỗ nặng hoặc phá sản của các tập đoàn nhà nước cũng chỉ là chuyện đơn giản mà thôi. Chẳng có gì phải nhặng xị ngậu lên như báo chí đã làm ồn ào.
Tại sao mại dâm không thể được coi là một nghề được tại Việt Nam?
Con cáo và chùm nho
Việc ở Việt Nam có công nhận mại dâm là một nghề hay không? đúng hay sai, tốt hay xấu tôi xin miễn bàn ở đây, đó là việc của các nhà quản lý nhà nước và các nhà nghiên cứu xã hội. Ở đây chỉ bàn mỗi vấn đề vì sao mại dâm không thể là một nghề ở Việt Nam.
Nghề mại dâm có từ thời hồng hoang của lịch sử, một số nước được nhà nước và xã hội chấp nhận như một nghề. Ở Việt Nam, sau năm 1975 chúng tôi được tuyên truyền rằng nạn mại dâm là tàn dư của chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam để lại. Chính vì thế nhà nước sinh ra các “Trường phục hồi nhân phẩm phụ nữ” để tiêu diệt nạn mại dâm.
Thế rồi không rõ kết quả của cuộc cách mạng tiêu diệt nạn mại dâm thắng lợi rực rỡ như thế nào (mà chắc chắn là thắng lợi, vì chưa có bất cứ ai bị kỷ luật vì đã không hoàn thành nhiệm vụ diệt nạn mại dâm) và những “Trường phục hồi nhân phẩm phụ nữ” đạt thành tích ra sao nhưng qua quá trình tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội thì số lượng người tham gia mại dâm ngày càng nhiều và càng phát triển “cả về lượng lẫn về chất”. Từ những cô gái đứng đường, nay mại dâm đã bao gồm các hoa hậu và hoa khôi, bao gồm ca sĩ, nghệ sĩ và học sinh, sinh viên từ thời kỳ gái mại dâm ở độ tuổi trưởng thành đã được trẻ hóa đến trẻ vị thành niên… Không chỉ số này được sử dụng trong nước, mà còn được đưa đi phục vụ các nước anh em.
Trước sự bùng phát mạnh mẽ của mại dâm, nhà nước đã bàn bạc nhiều cách, thậm chí đã có lần báo chí đưa tin một Phó Thủ tướng sang tận Hà Lan để học cách quản lý gái mại dâm (bài báo này được rút xuống sau khi đưa lên mạng không lâu – chuyện thường của báo VN). Rồi biết bao công trình nghiên cứu, hội thảo, bàn luận lên tận Quốc hội, nhưng vẫn chưa tìm ra được lối thoát rằng có nên công nhận mại dâm là một nghề hay không?
Nhiều người cho rằng có lẽ vì khía cạnh đạo đức, truyền thống Việt Nam không thể công nhận mại dâm là một nghề và vì không quản được thì… cấm mà thôi.
Người khác lại cho rằng đừng nói chuyện đạo đức vào thời buổi xã hội xuống cấp không phanh này, khi mà nạo thai đang phát triển không ngừng, giáo dục thì đã đưa học sinh vào thời kỳ bình đẳng với thầy cô giáo như bạn bè. Thậm chí còn hơn cả bạn bè ở chỗ đánh nhau với bạn chán, học sinh có thể nhảy lên đánh thầy cô như chơi. Còn thầy giáo giở trò dâm ô với học sinh, mua dâm các cháu học sinh vị thành niên… là chuyện lặt vặt. Cho nên không thể nói không coi mại dâm là một nghề vì khía cạnh đạo đức.
Vậy thì lý do gì để không thể coi là một nghề?
Suy đi, nghĩ lại nhiều thì cuối cùng cách giải thích có lý nhất chắc là vì cái “cơ chế” mà ra.
Thử tưởng tượng trường hợp mại dâm được coi là một nghề, điều gì sẽ xảy ra?
Có lẽ chỉ vì ở nước ta, cơ chế là cả xã hội đặt dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối của đảng. Vậy nên tất cả mọi mặt đều được đảng lãnh đạo tuyệt đối. Vậy nếu mại dâm được coi là một nghề, thì hẳn nhiên phải được thành lập thành hội đoàn hẳn hoi, chẳng hạn bên cạnh Hội nông dân tập thể, hội nghề cá, hội xuất nhập khẩu, hội may mặc v.v… thì sẽ có Hội Mại dâm Việt Nam. Và đương nhiên, Hội mại dâm Việt Nam sẽ được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của đảng, trong đó có đảng ủy ngành mại dâm cho đến chi bộ ngành mại dâm và đương nhiên muốn có đảng ủy, đảng bộ, chi bộ ngành mại dâm thì phải có đảng viên mại dâm.
Đã là hội nghề nghiệp, thì hẳn nhiên phải có đại hội, tổng kết và phương hướng phát triển. Thử lấy một đoạn trong báo cáo tổng kết của Hội nông dân Việt Nam làm mẫu và chỉ thay chữ “nông dân” bằng “mại dâm”, ta sẽ có kết quả như sau: “Trong Quý I năm 2012, với khí thế thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2012), mừng xuân mới Nhâm Thìn; các cấp Hội, cán bộ, hội viên mại dâm cả nước tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào mại dâm, đạt được kết quả chủ yếu sau…”
Kế theo đó sẽ là lời phát biểu của đồng chí ủy viên trung ương (hoặc UVBCT) đến tham dự và chỉ đạo về phương hướng phát triển và nhiệm vụ của ngành Mại dâm Việt Nam: Cần nêu cao tinh thần tiến công cách mạng, đưa phong trào mại dâm ngày càng rộng khắp và bước lên tầm cao mới xứng đáng với nhiệm vụ vẻ vang được giao phó. Rồi thì cần chú ý công tác phát triển đảng trong ngành mại dâm, đi đúng định hướng mại dâm Xã hội chủ nghĩa v.v…
Rồi thì ra nghị quyết“quyết tâm thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ ngành mại dâm được đảng và nhà nước giao phó, tiến tới vượt chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước, tăng vượt bậc so với cùng kỳ năm ngoái…”
Và biết đâu, ngành mại dâm sẽ học tập các ngành khác cũng lấy slogan và biểu tượng hoành tráng kiểu như “Trẻ hơn, rẻ hơn, nhanh hơn, đẹp hơn, rộng khắp hơn và an toàn hơn” chẳng hạn.
Việc công nhận mại dâm là một nghề hay không chắc còn phải bàn, nhưng chỉ với những chi tiết giả định được nêu ra ở trên, thì công tác đảng, đoàn thể lãnh đạo ngành mại dâm sẽ là như vậy.
Thế nhưng, “đảng ta” đã trót “là đạo đức, là văn minh, là trí tuệ nhân loại, là lương tâm thời đại” mất rồi. Chẳng lẽ với đạo đức sáng ngời như “đảng ta” mà lại chỉ đạo ngành Mại dâm Xã hội chủ nghĩa “Trẻ hơn, rẻ hơn, nhanh hơn, đẹp hơn, rộng khắp hơn và an toàn hơn” thì coi sao được!
Và vì thế, mại dâm sẽ chẳng bao giờ được coi là một nghề ở Việt Nam, dẫu các nhà kinh tế có tính toán đến lợi ích của nó rằng những vụ Vinashin, Vinalines hay bất cứ vụ nào, cũng chỉ là con muỗi so với kết quả của ngành mại dâm theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Dẫu các nhà xã hội học có kêu gào không quản lý được mại dâm sẽ sinh hỗn loạn xã hội hoặc ngành y tế kêu gào mại dâm sẽ kéo theo bệnh tật và suy đồi nòi giống…
Thực ra, trong cuộc sống có nhiều khi muốn nhưng khó làm, thấy dễ ăn mà không dám nuốt, chỉ bởi những lý do, nguyên tắc hoặc nói một cách hiện đại là do cơ chế là vì thế.
Một năm trôi qua kể từ cuộc biểu tình yêu nước lần thứ nhất ngày 5/6/2011 nổ ra ở hai đầu đất nước, điều chúng ta thấy được rất rõ rằng: Nhà nước không thành công trong cuộc chiến chống mại dâm, ma túy và tệ nạn xã hội nhưng đã rất thành công trong việc dẹp tan những buổi thể hiện lòng yêu nước của nhân dân.
Và cứ thế chúng ta có quyền tin tưởng rằng mại dâm sẽ phát triển, lòng yêu nước chắc chắn sẽ bị tiêu diệt.
Hà Nội, ngày 5/6/2012

Bài Xem Nhiều