We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 7 June 2012

Những dòng nước mắt trong những cảnh ngộ tang thương của các gia đình cựu tù “cải tạo”!


Lời người viết: Như mọi người đã biết về những cảnh ngộ của các cựu tù “cải tạo”, qua nhiều ngòi bút, hoặc nghe kể lại. Riêng người viết loạt bài này, vì đã từng là nạn nhân và cũng từng chứng kiến với những cảnh đời dâu bể, đã khiến cho người viết không thể nào quên được !
Chính vì thế, bắt đầu hôm nay, người viết sẽ dùng ngọn bút của mình để tuần tự qua nhiều kỳ, ghi lại tất cả những cảnh ngộ vô cùng bi thương ấy; và dẫu cho có muộn màng; nhưng với lòng chân thiết, người viết xin được cùng xẻ chia cùng các gia đình nạn nhân, là các cựu tù năm cũ. Và dĩ nhiên, người viết chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, mà không nêu tên họ thật.
Kính xin quý vị đã từng “chết đi sống lại” trong những hoàn cảnh này, hãy nhận nơi đây, những dòng nước mắt, khóc cho những cảnh đời tang thương - tân khổ, trong suốt những tháng năm dài sau ngày Quốc Hận: 30/4/1975.
Một tấm gương sáng ngời: Tiết hạnh khả phong:

Trước ngày 30/4/1975, Đại úy Thụy, là một vị sĩ quan liêm khiết, cho nên, dù đã phục vụ tại Đặc Khu Quân Trấn tại Thành phố Đà Nẵng; nơi dễ dàng có “tư lợi”, nhưng Đại úy Thụy không có nhà cửa riêng, mà ông và vợ con đã sống ở trong Cư Xá Sĩ Quan, sống đời đạm bạc. Chị Thụy, một phụ nữ hiếm có ở trên đời, chỉ biết sống cho chồng-con, không cần để ý đến những sự cuộc sống đầy đủ của những người vợ của các sĩ quan, là bạn của chồng mình.
Sau ngày 30/4/1975, Đại úy Thụy bị bắt, bị ở tù “cải tạo” tại: “Trại 1 - Trại chính, Trại cải tạo Tiên Lãnh”, tức “Trại T.154”; hậu thân của “trại cải tạo Đá Trắng” đã được thành lập vào cuối năm 1959, tại thôn 3 xã Phước Lãnh, quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sở dĩ người viết biết về trại “cải tạo” này một cách rất rõ ràng, bởi vì, chính Bác ruột của mình: Ông Trần Thắng, một lương dân vô tội, và các vị đồng hương đã cùng bị du kích của Việt cộng bắt, rồi bị đưa vào nơi này giam cầm, và tất cả các vị, trong đó có Bác ruột của người viết, đều đã bị chết vì đói và lạnh ở trong trại này vào năm 1964.
Trở lại với gia đình của Đại úy Thụy. Sau ngày 29/3/1975, khi chồng bị bắt đi tù. Lúc này, Thủ đô Sài Gòn chưa thất thủ, thì “Lực Lượng Hòa Hợp-Hòa Giải Thị Bộ Đà Nẵng”, trụ sở được đặt tại Chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, tức Chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Quảng Nam, Đà Nẵng; đã xông vào Cư Xá Sĩ Quan để đuổi chị Thụy và con cái ra khỏi nhà. Do vậy, không còn cách nào khác, nên chị Thụy đã phải ôm áo quần và dìu dắt các con ra đi, rồi phải ra nhà Ga Đà Nẵng để sống một cuộc đời gối đất, nằm sương !
Cuộc sống của chị Thụy và các con tại nhà Ga:
Ngày Đại úy Thụy đã phải đến “trình diện” tại “Thị bộ Hòa Hợp-Hòa Giải” tại Chùa Pháp Lâm, số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Nên biết lúc này thủ Đô Sài gòn chưa mất, tại Đà Nẵng chưa có “Ủy Ban Quân Quản”. Và, để rồi phải hơn mười năm sau Đại úy Thụy mới được trở về nhà… Ga để gặp lại vợ con !
Xin nhắc lại, Thành phố Đà Nẵng đã bị rơi vào tay của Cộng sản Hà Nội vào ngày 29/3/1975; trong thời gian này, Sài Gòn chưa mất, nên trước khi bị bắt vào tù, người viết đã chứng kiến cảnh sống vô cùng thê thảm của chị Thụy và các con tại nhà Ga Đà Nẵng. Ngày ấy, khi nghe hai bà chị họ của người viết đang buôn bán củi tại nhà Ga Đà Nẵng, số củi này được mua từ Lang Cô, chở bằng tàu lửa về Đà Nẵng để bán sỉ và lẻ, đã kể lại với người viết về hoàn cảnh của chị Thụy và các con tại nhà Ga, và còn cho biết chị Thụy và đứa con trai lớn cũng thường hay vác củi thuê cho hai chị. Và, người viết đã đến tận nhà Ga để gặp chị Thụy, để rồi phải chứng kiến trước mắt một cái “nhà” của chị Thụy:
Bên cạnh một gốc cây, ở một góc đường Nguyễn Hoàng - Hoàng Hoa Thám là một cái “nhà” được che bằng hai tấm tôn, chung quanh được đắp những tấm bạt nhà binh đã rách, và những tấm vải bố được tháo ra từ những chiếc bao cát, loại dùng để làm lô cốt chống đạn của quân đội VNCH. Trong “nhà” là một chiếc chõng tre rộng khoảng hơn một mét, có trải chiếc chiếu cũ, một chiếc chăn cũng cũ. Trên chiếc chõng tre, là hai đứa con nhỏ của chị, khoảng dưới năm tuổi ngồi trên đó, vì phía dưới, trong những ngày mưa, hoặc mùa Đông, thì những giòng nước đen ngòm, hôi hám đã từ phía nhà Ga chảy ra lênh láng ở phía dưới chiếc chõng, nên chị Thụy không cho hai con nhỏ bước xuống đất, mà cứ ngồi, nằm hoặc ngủ, để chờ Mẹ và Anh trai đem gạo về nấu cơm cũng ngay trong cái “nhà” này. Chị Thụy và con trai lớn đã phải vác hàng thuê không kể mưa, nắng, ngày, đêm, chỉ khi nào quá mệt, thì lại về, để rồi phải nằm gác lên nhau trên cái chiếc chõng tre độc nhất ấy. Đó là một “mái nhà” của chị Thụy và các con !
Về cuộc sống, chị Thụy và con trai lớn chắc khoảng trên mười tuổi đã phải ra sức để làm hết mọi việc, từ vác, xách hàng thuê cho những người đi buôn bán, hoặc khách vãng lai. Chị Thụy và cháu trai không ngại khó bất cứ một công việc nặng nhọc nào. Người viết đã chứng kiến cà hai Mẹ-Con chị Thụy còng lưng để vác những bao gạo, những bó củi từ những chuyến tầu lửa từ Huế chạy về Đà Nẵng, vác từ trong nhà Ga ra đến ngoài mặt đường Nguyễn Hoàng, là nơi những chiếc xe “ba gác” đang chờ sẵn để chở những bó củi đến những nơi buôn bán sỉ, hoặc chở những bao gạo đến những người bán gạo lẻ ở các chợ.
Nên biết, là vào thời gian ấy, chị Thụy còn trẻ tuổi, có nhan sắc, nếu muốn, chị cũng có một cuộc sống no ấm, chứ không phải dầm mữa dãi nắng. Nhưng không, chị Thụy đã quyết giữ một lòng chung thủy với chồng: Đại úy Thụy, và đã sống cho chồng con.
Người viết nghĩ rằng, vào lúc ấy, khi quyết định và chấp nhận một con đường chông gai đó, chị Thụy thừa biết về tương lai của ba con thơ của anh-chị sẽ mịt mờ, đen tối, vì chị không có “hộ khẩu”, nên các con không được đến trường để học hành; nhưng không thể để con cái phải chịu dốt không biết chữ, nên mỗi ngày chị đều tự dạy cho các con học, để biết đọc, biết viết. Ngoài những công việc như đã kể, chị Thụy đã chắt chiu từng đồng, để mua những gói quà, để rồi đã vượt hàng trăm cây số đường rừng, để đến “trại cải tạo” để “thăm nuôi” chồng đang trong cảnh đời lao lý.
Gói quà thăm nuôi vô giá!
Những gói quà thăm nuôi, mà chị Thụy đã từng lặn lội đem lên trại “cải tạo” để thăm chống, không như những gánh quà của các bà vợ Sĩ quan khác, mà chỉ vỏn vẹn là một gói nhỏ trên tay thôi !
Người viết vẫn nhớ đến một lần cùng được đi thăm nuôi một lần với Đại úy Thụy. Khi vào “nhà thăm nuôi” thì thân nhân của tù “cải tạo” đều có “giấy thăm nuôi” do phường, xã ở địa phương cấp cho, còn riêng chị Thụy thì không hề có một tờ giấy gì cả, mà chỉ có một gói quà trên tay thôi.
Hoàn cảnh của Đại úy Thụy là độc nhất vô nhị tại trại “cải tạo”, nên “Ban giám thị” của tại đã xét thấy nếu muốn cho Đại úy Thụy được “an tâm học tập cải tốt” thì phải cho anh được gặp mặt vợ; Do đó, những “cán bộ phụ trách thăm nuôi” đã “linh động” cho Đại úy Thụy được gặp mặt vợ mà không có “giấy thăm nuôi”.
Người viết vẫn nhớ như in, lần ấy, khi được phép gặp mặt Đại úy Thụy và sau khi “trật tự” xét quà thăm nuôi, khi gói quà được mở ra, thì chỉ có mấy “bánh” đường đen, một ít “thuốc rê” loại thuốc để người hút tự vấn thành điếu để hút, và một “thẩu” mắm ruốc, ớt mà thôi.
Khi viết lại những điều này, người viết biết rằng sẽ làm cho quý vị cựu tù sẽ xúc động, có thể rưng rưng khi nhớ lại một kỷ niệm, mà đa số vị đã biết; và tôi đã được quý vị tù trong lúc lao động ngoài đồng ruộng lúa, đã kể lại cho tôi biết: chính lần được thăm nuôi đó, khi về phòng tù, Đại úy Thụy chắc nhìn thấy sự tiều tụy của vợ mà đau buồn, nên vẫn để gói quà nằm yên, cho đến tối, thì Đại úy Thụy mới mở ra; và, khi cầm một “bánh” đường đen trên tay, thì, ôi ! nước mắt của Đại úy Thụy bỗng tuôn trào, anh muốn ngất đi, khi nhìn thấy những chiếc dấu răng của trẻ con đã cạp, đã cắn, sứt sứt, mẻ mẻ chung quanh chu vi của mấy “bánh” đường…
Đại úy Thụy đã hiểu mọi sự. Thì ra, các con nhỏ của anh vì thèm đường, nhưng Mẹ, tức vợ của anh không cho ăn, vì “để dành thăm nuôi Ba”, nhưng bởi còn quá nhỏ tuổi, nó thèm quá, nên nó đã lén mẹ để cạp, để cắn bớt chung quanh “bánh” đường cho đỡ thèm !
Và, Đại úy Thụy đã không thể ăn được mấy “bánh” đường đen ngày đó, mà cứ để yên, cho đến khi vì trời nắng nóng, nên nó đã chảy ra thành một đống nhão nhoẹt rồi, thì Đại úy Thụy mới dám ăn !
Gói quà thăm nuôi ấy, mà cho đến hôm nay, khi nhắc lại, thì chắc rằng, chẳng phải riêng người viết, mà chắc các quý vị cựu tù “cải tạo” cũng như quý độc giả cũng công nhận rằng: đó là một gói quà thăm nuôi vô giá.
Ngày trở về:
Trong suốt những năm tháng dài ở trong trại “cải tạo”, Đại úy Thụy không hề biết vợ con của mình đang làm thuê, vác mướn, sống ở nhà ga Đà Nẵng, vì chị Thụy không muốn cho anh biết, mà chỉ nói chị đang buôn bán ở đường Nguyễn Hoàng mà thôi, và các bà vợ Sĩ quan, cũng không ai biết về cuộc sống của chị Thụy, mà nếu có biết họ cũng không nói ra. Chỉ cho đến hơn mười năm sau, khi được ra tù, trở về, cứ như theo lời của vợ, Đại úy Thụy đã đi tìm vợ con dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, và khi ngược lên đến nhà Ga Đà Nẵng, thì bất ngờ, một bóng dáng của người phụ nữ đang còng lưng để vác một bó “củi chò” lớn trên vai. Bó củi này, là củi của chính chị của tôi, vì chị tôi rất quý chị Thụy, thường hay nói chuyện với chị Thụy, nên mỗi khi có củi từ Lang Cô chở vào Đà Nẵng là đều nhờ chị Thụy.
Cuộc tương phùng này, hay nói cho đúng nghĩa, là một cuộc Đoàn Viên giữa vợ chồng con cái của Đại úy Thụy, thì người viết không thể dùng bất cứ một từ ngữ nào để có thể diễn đạt một cách cho trọn vẹn; nhưng người viết được biết, sau đó, Đại úy Thụy gặp lại một người lính cũ, và đã được người lính đã một thời thuộc quyền của mình, đang làm nghề “sản xuất bia hơi”, người viết không biết uống bia, rượu, nên không biết đến loại “bia hơi” này nó ra làm sao; song được biết, người lính cũ tốt bụng này, đã giúp đỡ cho cả gia đình của Đại úy Thụy có một nơi ở, lại còn giúp cho Đại úy Thụy mượn một chiếc xe đạp cũ, để hàng ngày Đại úy Thụy chở những thùng bia hơi mà người lính này chỉ tính giá vốn, rồi đem đến giao cho những quán ăn, để lấy tiền lời, cho đến ngày Đại úy Thụy cùng vợ con lên đường sang Mỹ theo diện tù “cải tạo”.
Người ta thường nói, bất cứ cái gì, nó cũng có “cái giá” của nó. Cái giá, này thì tùy theo sự suy nghĩ của mỗi người. Tại Đà Nẵng, đã có nhiều người vợ của các Sĩ quan đã chọn cho mình bằng những cách sống, những con đường khác nhau, và tất nhiên, cho đến bây giờ, họ cũng đã biết được “cái giá” của nó như thế nào rồi. Lại cũng có người nói rằng, chị Thụy làm như thế, chỉ giữ được lòng chung thủy với chồng, nhưng các con của anh chị phải chịu thất học, chỉ biết đọc, biết viết do Mẹ dạy, chứ nếu làm khác hơn, thì chắc con cái sẽ không phải làm thuê, vác mướn, và bị thiệt thòi về vật chất…
Tuy nhiên, theo người viết, ở trên đời này, có một thứ không dễ gì ai cũng có thể tìm thấy được, đó là sự trọn vẹn và cao quý của tình yêu, vì chỉ có tình yêu đích thực mới khiến cho con người vượt lên trên được tất cả, mới đạp bằng hết được những chông gai của cuộc đời. Người viết nghĩ rằng, giờ đây, anh chị Đại úy Thụy đang hạnh phúc trọn vẹn trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Tưởng cũng nên nhắc lại: Sau ngày 30/4:1975; các vị Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa đã bị vào các nhà tù “cải tạo”. Chính nơi đây, chính những cảnh tù đày, là những cuộc thử nghiệm về chất người. Bởi vì, nếu trước đó, những bà vợ đã lấy chồng là những vị cựu tù “cải tạo” vì tình yêu chân thật, thì tình yêu ấy sẽ khiến cho họ càng thương yêu chồng trong cảnh lao tù, mà không lỗi đạo làm vợ; còn như nếu họ đã lấy chồng vì danh, vì lợi, thì tất nhiên, khi các ông chồng vào tù rồi, thì danh hết, lợi hết, thì tình cũng hết, nên họ đành đoạn bỏ người chồng đang đau khổ trong nhà tù, để ôm cầm sang thuyền khác, điều đó, không có gì là lạ cả.
Nhưng những chuyện đã nói, là chuyện của những người khác; còn riêng chuyện của Đại úy Thụy là một chuyện thật, có bi thương, song cũng có những ngọt ngào. Có những giọt nước mắt, nhưng cũng có những giọt lệ mừng và những nụ cười thật trọn vẹn như hôm nay, khi anh chị Đại úy Thụy và gia đình đã và đang được đoàn viên nơi hải ngoại. Và, riêng tôi, tôi quý, tôi phục chị Thụy: Chị là một tấm gương sáng ngời: Tiết hạnh khả phong.
Trời không phụ lòng người là vậy.
Pháp quốc, 6/5/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Những mảnh đời trên phố cơm trắng ở Sài Gòn

Sài Gòn, bề nổi là một thành phố lộng lẫy xa hoa sực mùi dầu thơm và những nhà hàng tiệm ăn sang trọng. Nhưng vẫn còn đó một Sài Gòn của những công nhân, những trí thức mà bữa cơm chiều chỉ là bát cơm không, mua ở cổng nhà ga.

Khách quen của quán cơm trắng là các công nhân.
Phố cơm trắng
Khu vực quanh ga Sài Gòn có nhiều nhà trọ tồi tàn. Những người từ xa xuống sân ga thường thuê trọ để bán báo, đánh giày, bán vé số, làm công nhân. Họ còn bỡ ngỡ, chưa dám đi đâu xa, vả lại cuộc sống quanh nhà ga cũng không đắt đỏ như trong khu trung tâm.
Những ngóc ngách chật chội và có phần hôi hám, nhà cửa cáu bẩn, những chung cư cũ kỹ phơi đầy quần áo cũ, lúc nào cũng nườm nượp người lao động lấm lem. Giữa hàng vạn con người khuôn mặt nhầu nhĩ ấy, đã ra đời phố bán cơm không mà người Sài Gòn gọi là phố cơm trắng quanh nhà ga xe lửa.
Người bán cơm trắng nhiều khi không thuê mặt bằng, mấy bình ga đặt ở góc đường, che ô dù, đội nắng mưa nấu cơm mà bán cho nhân dân.
Mỗi người dăm bảy cái nồi, mỗi nồi nấu được gần yến gạo. Họ không bán thức ăn, chỉ vài hàng có bán thêm dưa hành, nước mắm nước tương. Cơm và dưa món để trong bao ni lông. Cơm tính theo cân, người ta cũng thường gọi là “cơm ký”.
Chị Hồng, một người bán cơm trắng 12 năm nay cho biết vợ chồng chị thay nhau nấu cơm bán. Mỗi cân cơm chỉ lãi được 500 – 1.000 đồng nên không đủ tiền thuê nhân công: “Chúng tôi chỉ lấy công làm lãi. Bán cơm giá cao chút lập tức người ta không mua nữa. Công nhân nghèo lấy tiền đâu mà mua”.
Mỗi ngày chị Hồng dậy từ 4 giờ sáng, nấu cơm bán đến gần 9 giờ đêm. Cứ mỗi cân gạo nấu thành hai cân cơm. Chị nói: “Gạo ngon mọi người thường ăn giá 18.000- 20.000 đồng/kg, gạo chúng em nấu bán ở đây chỉ 12.000 đồng/kg. Dân cần ăn no chứ chưa cần ăn ngon”.
Một cân cơm bán giá 8.000 đồng, đủ cho ba công nhân ăn. Tính ra mỗi bữa một người chỉ phải bỏ ra 2.700 đồng. “Một ly trà đá giờ đã 2.000 đồng” - chị Hồng nói. Một ngày chị Hồng bán khoảng 450 kg cơm trắng.
Chị Hương, một người bán cơm trắng thì nói: “ Người ta bán hàng cơm, chủ yếu lời vào thức ăn. Khi công nhân đến mua cơm trắng, các quán cơm chẳng bao giờ bán. Bởi vậy, người nghèo phải tìm tới ga tàu lửa này để mua cơm ăn qua ngày”.
Chị nói thêm: “Có người thấy chúng tôi bán ngày cả tạ gạo, tưởng bán cho các quán cơm, nhưng hoàn toàn không phải. Người ta kinh doanh, nấu cơm có lời, chỉ khi nào thiếu cơm họ mới chạy qua đây mua vài ba ký thôi. Cơm trắng chúng tôi nấu ra chủ yếu bán cho dân lao động và sinh viên”.
Heo hắt những bữa ăn
Ông Sáu chạy xích lô. Khi nào đói và rảnh khách lại tạt vào mua 3.000 đồng cơm trắng buộc vào xích lô. Ông có hai chai nước lớn lấy từ vòi, khát thì cúi xuống mà uống. Ông Long chạy xe ôm, chiều tối ghé mua vài lạng cơm, giữ nó như giữ bảo bối vậy. Cầm bịch cơm trắng nom ông cười thật hiền.
Phần lớn khách mua cơm trắng là người nghèo.
Chị Hương nói với tôi: “Khách mua đủ lứa tuổi. Trẻ em đánh giày, phụ nữ bán báo, người già bán vé số”. Chị nói: “Lắm người chỉ mua vài ngàn, nhưng vẫn phục vụ. Cơm cháy thường để cho mấy người neo đơn, nghèo khổ. Lắm khi thấy tội quá, không nỡ lấy tiền”.
Thùy, sinh viên một trường cao đẳng nói: “Chúng em ba đứa thuê một phòng, tháng mất tám trăm ngàn. Phòng trọ nhỏ, chủ không cho nấu cơm vì sợ cháy nhà. Ăn cơm hàng thì đắt đỏ lắm, mà không no, nên mỗi bữa lại ra đây mua một cân cơm trắng”.
Quanh ga tàu có tới cả chục quán cơm bụi. Nhưng giờ giá thuê mặt bằng tăng, giá điện nước, gạo, thịt rau đều tăng, giá cơm bụi tăng liên tục. “Cơm rẻ nhất cũng phải 20.000 đồng một suất. Nếu cả ba đứa đi ăn thì mất 60.000 đồng”.
Hỏi ăn cơm trắng hoài sao nuốt nổi và sức đâu học hành? Thùy nói: “Chúng em mua thêm trứng luộc”.
Chị Hằng bán hàng rong, là khách quen của phố. Chị nói là “đi bán suốt từ sáng sớm đến tối mịt, lấy đâu thời gian nấu cơm”.
Hàng bán bữa được bữa mất. Họ từ Quảng Nam vào, thuê nhà trọ gần bệnh viện da liễu. Đói thì mua cơm, ngồi gốc cây chia nhau mà ăn. Lắm khi trời nắng nuốt không nổi. Chị nói: “Muốn ăn cơm ngon thì chờ đến tết về quê”.
Tìm nguồn sống
Trời nắng, xe cộ, bụi bặm, tiếng còi tàu rắt réo. H., một học viên theo học nghề điện, ngồi đạp xe lăn đi tìm mua cơm trắng. H. nói: “Chi phí học hành đắt đỏ lắm, em phải tiết kiệm để đỡ cho gia đình”. H. không chỉ mua cơm cho mình mà còn mua cho nhiều bạn khác nữa.
Tìm mua cơm trắng.
Nhìn cảnh người ngồi xe lăn, len lỏi giữa phố xá đầy bụi bặm và xe cộ nơi ga tàu, mới biết người ta mong tìm quán cơm trắng đến như thế nào.
Anh Thời, công nhân một nhà máy cách phố cơm trắng hàng cây số nói: “Ngày nào cũng như ngày nào, tôi đều mua cơm ở đây ăn. Đồng tiền trượt giá, gạo thịt đều tăng, giá thuê nhà tăng. Phải sống như thế này, cầm cự, chứ còn biết làm sao bây giờ? Có cái bỏ vào miệng là tốt rồi, cầu gì ăn ngon”.
Anh mua hai ngàn đồng tiền cơm cộng thêm ba ngàn dưa món: “Muốn đổi khẩu vị thì mua mấy ngàn đậu phụ chấm với nước tương”.
Phố Nguyễn Thông nằm sát cổng ga Sài Gòn có lẽ là một bức tranh tương phản của cuộc đời hôm nay. Phố này nổi tiếng bán rượu Tây với hàng chục tiệm rượu.
Những chai rượu được thiết kế cầu kỳ, rượu ngâm với sâm Cao Ly, rượu lâu năm đến từ các nước… có giá vài chục triệu đồng, thậm chí có chai mấy chục triệu đồng. Một bữa nhậu của người có tiền, có chức, phải hết mấy chai!

Nhưng cũng ở phố Nguyễn Thông, nơi cuối con phố giáp với ga tàu, những ngõ nhỏ tối tăm và những hàng cơm trắng bày bán trên vỉa hè, nườm nượp các vị khách.
Chị Loan, người bán báo đi dép lê, cầm trên tay những tờ báo in đậm dòng tít nói về các tập đoàn nhà nước làm ăn thua lỗ ném hàng ngàn tỷ đồng vô nghĩa xuống sông xuống biển, những tòa nhà con em quan chức tỉnh nọ lên đến hàng trăm tỷ được xây dựng chỉ để cho họ hưởng lạc… Người đàn bà bán báo dạo ghé vào mua cơm trắng, ánh mắt chị buồn hiu hắt.
Chị Nga, chủ một quán cơm trắng đã quyết định bán hai loại cơm. Cơm thường nấu từ gạo xốp bán giá 8.000 đồng/kg. Cơm ngon nấu từ gạo dẻo, giá bán 10.000 đồng/kg.
Quan sát hơn 20 người mua cơm trắng tại quán này, tôi thấy tất cả họ đều chỉ có một nhu cầu: “Bán cho tôi cơm thường”. Người đàn bà bán báo mua 3.000 đồng cơm thường ấy. Chị cầm chặt nắm cơm trong tay, như sợ sẽ đánh rơi một vật quý giá.


Ngồi bên vệ đường cùng phố cơm trắng, tôi mới phát hiện ra phần lớn những khách hàng phố này đều độ tuổi thanh thiếu niên, sinh viên, người lao động trẻ.
Họ đều đang tuổi ăn, tuổi lớn, độ tuổi lao động quan trọng nhất của xã hội. Phần đa khách mua cơm trắng đều gầy gò, xanh lớt, có người tay run, giọng nói phều phào. Chị Hồng nói: “Không ít người là khách quen của chúng tôi đến cả chục năm ròng. Nghĩ mà thương”.

Chủ Đề Tội Ác VGCS : Những Bức Ảnh Lịch Sử

Lời Chứng Của Bà Phan Thị Kim Phúc

Bà Phan Thị Kim Phúc là em bé gái trong bức hình nổi tiếng thế giới do nhà nhíếp ảnh Nick Ut chụp được ngày 8-6-1972 ghi lại hình ảnh em bé gái một nạn nhân chiến tranh;chạy loạn đã bị phỏng nặng vì bomb napalm . 

Những bức ảnh lịch sử

Nếu cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968 của VC đã đem lại giải Pulitzer  cho Eddie Adams và đem lại nhiều đắng cay, oan nghiệt cho cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan; thì trận đánh Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 cũng đã đem đến vinh quang là giải Pulitzer cho nhiếp ảnh gia Nick Út với bức ảnh chụp cô bé trần truồng tên Phan Thị Kim Phúc bị phỏng bom Napal tại Trảng Bàng, Tây Ninh.

Bức ảnh này cũng có tác hại không kém bức ảnh Eddie Adams chụp cảnh Tướng Loan chỉa súng vào đầu tên Đai úy đặc công VC Nguyễn Văn Lớp, mà trước đó tên này đã hạ sát Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Tuấn và 6 người thân của gia đình ông này gồm cả người già và trẻ em.

Tấm hình của cô Phan Thị Kim Phúc không những chỉ là một vũ khí hiệu quả trong thời chiến mà ngày nay, trong thời bình, tấm ảnh này lại có nhiệm vụ mời Mỹ trở lại Việt Nam. Kim Phúc được VC cho qua Cuba du học, phản chiến Mỹ đã lợi dụng cô như một lá bài tuyên truyền đắc lực nhất cho vấn đề bang giao và quyên góp tiền bạc.

Vào ngày lễ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ năm 1996, Kim Phúc được phản chiến Mỹ đưa đến bức tường tưởng nhớ 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ tử thương trong cuộc chiến VN, để bày tỏ sự “tha thứ”, đồng thời họ cũng đưa một mục sư da đen đóng vai người lính bỏ bom làm cô ta bị thương. Cả hai ôm nhau diễn trò người nhận tội, kẻ tha thứ.

Thực tế, người mục sư đóng vai phi công bỏ bom ở Tây Ninh chỉ là chuyện bịa đặt láo khoét. Cựu Trung Tá hồi hưu Ronald N. Timberlake, nguyên phi công thuộc Sư đoàn1 Không Kỵ ở căn cứ BearCat Biên Hòa đã viết trên tạp chí Anh ngữ có tên “Vietnam” số ra tháng 4 năm 2000 như sau:

“Câu chuyện láo khoét này được dựng lên vì nó mô tả được sự gớm ghiếc của chiến tranh, Trảng Bàng là trận chiến giữa người Việt Nam với người Việt Nam. QLVNCH đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của miền Bắc Việt Nam. Liệu cô Kim Phúc có biết được người phi công giội bom làm cô bị thương chính là người cùng xứ sở với cô chứ không phải người Mỹ?”

Sự phổ biến câu chuyện láo khoét này được xem như một chiến lược đắc lực mà phản chiến Mỹ áp dụng để tuyên truyền. Kim Phú được bầu làm “Đaị sứ thiện chí” của UNESCO và đã sáng lập ra tổ chức trong nước Mỹ lấy tên “Kim Foundation” để quyên tiền dưới tên cô.

Nếu trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, hai nhiếp ảnh gia Eddie Adams và Nick Út với 2 bức ảnh chụp Tướng Nguyễn Ngọc Loan chỉa súng vào đầu tên đặc công VC Nguyễn Văn Lớp và bức ảnh cô bé Phan Thị Kim Phúc trần truồng chạy trong lửa đỏ đã đoạt giải Pulitzer của hãng thông tấn AP và được VC và bọn phản chiến Mỹ đem ra để tuyên truyền để phục vụ cho những ý đồ đen tối của chúng.



Thì sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi CSVN đặt chế độ độc tài toàn trị gom lập pháp, hành pháp, tư pháp và thông tin vào làm một dưới sự cai trị của Đảng và Nhà Nước, thì “các nhiếp ảnh gia nghiệp dư” của nước ta cũng đã chụp được 4 bức  lịch sử rất xứng đáng đoạt giải Pulitzer của hãng thống tấn AP của Mỹ.

Chuyện lạ là chưa thấy hãng thông tấn này công bố.

Hai bức ảnh đặc biệt đều có bối cảnh là toà án Kagaroo của Đảng và Nhà Nước ta.

-Bức ảnh thứ nhất,  rất nổi tiếng mấy năm trước đây là bức ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý, một nhà tu Thiên Chúa Giáo, người đã cấm tấm bảng “Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết” xuống cánh đồng ruộng lúa ở Nguyệt Biều.

Ngay lúc đó, Đảng và Nhà Nước ta cũng đã chụp được một bức ảnh rất là “hoành tráng” là “1 ông Thiếu Tướng Công An VC chỉ huy 600 công an vây bắt một ông thầy tu không có một tấc sắt trong tay”, nhưng không hiểu sao đã không được phổ biến.

(Nghe nói  bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Đảng và Nhà Nước ta lúc đó, đã  cực lực cãi chánh như  sau:“Báo chí nước ngoài vô cùng bịa đặt khi loan tin “ông Nguyễn Văn Lý không có một tấc sắt trong tay”; do đó, Đảng và Nhà Nước ta cực lực phản đối những lời bịa đặt của bọn báo chí phản động nước ngoài vì trong tay ông Nguyễn Văn Lý có 1 một máy computer và những bài viết có âm mưu lật đổ chính quyền!”).

 



Sau khi tòa án Kangaroo kết án linh mục Nguyễn Văn Lý nhiều lần nhưng không chụp được bức ảnh nào như ý, Đảng và Nhà Nước ta đã “dàn cảnh” và đã “chụp” được một bức ảnh rất độc đáo đó là bức ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị một đồng chí Công An của Đảng ta bịt miệng không cho nói trước toà

Lập tức, bức ảnh nổi tiếng khắp thế giới, dù không được hãng thông tấn AP chấm giải – như 2 cái giải rút là 2 bức ảnh “Hành quyết ở Sàigòn” và bức ảnh “Napalm girl”; nhưng “bọn Việt kiều không yêu nước Việt Nam xã nghĩa” ở khắp nơi trên thế giới phóng to ra làm những billboard dựng lên trên các xa lộ ở nước ngoài để mọi người “chiêm ngưỡng” việc làm mọi rợ của nền tư pháp VN xã nghĩa!

-Bức ảnh thứ hai, cũng nổi tiếng không kém, lại cũng được “Nhà nước VN xã nghĩa” chụp ở Toà án của nước này.

Đó là bức ảnh hai công an VC gương mặt láo liên như 2 thằng ăn trộm, kèm hai bên “bị cáo” Cù Huy Hà Vũ, hai tay bị còng, áo cồn, cà vạt chỉnh tề, gương mặt tự tin hô to:

“Tổ Quốc và Nhân Dân nhất định sẽ phá án cho tôi!”

khi bị ông Chánh án “của  Nhà nước VN xã nghĩa” tuyên án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế.

-Bức ảnh thứ 3, là bức ảnh cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược ngày 5 tháng 6 năm 2011 tại thành phố Sàigòn trước Lãnh sự Quán của Trung Cộng. Bọn Công An và Cảnh Sát Cơ Động dùng rào cản ngăn không cho đoàn biểu tình đến gần. Em bé đứng sát hang rào, với ánh ắt buồn nhưng cương quyết nhìn th8ảng vào mặt bọn CA  muốn nói: “Tại sao các chú Công An lại ngăn cản người dân yêu nước? Tại sao các chú lại bảo vệ quân xâm lược?”

Đại uý Minh - công an  Hà Nội đạp vào mặt người biểu tình yêu nước Bức ảnh thứ 4 là bức ảnh chụp cảnh tên CA tên Minh dùng chân liên tục đạp lên mặt một thanh niên biểu tình yêu nước chống Trung Cộng tại Hà Nội bị 4 tên CA bắt khiêng lên xe.

Với 2 bức ảnh chụp trong 2 phiên toà của toà án Kangaroo của nước Việt Nam xã nghĩa xử linh mục Nguyễn Văn Lý và tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, và 2 bức ảnh chụp trong các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của những người dân yêu nước vào năm 2011 cho thấy sau hơn 60 cai trị của đảng CSVN:

“BÓNG ĐÊM ĐÃ PHỦ TRÙM ĐẤT NƯỚC!”

Nhưng, ai đó  cũng đã nói:

“BÓNG ĐÊM CÀNG DẦY, BÌNH MINH SẼ GẦN KẾ!”

Hơn lúc nào hết, chúng ta hy vọng điều đó sẽ xảy ra!

NGUYỄN THIẾU NHẪN


--

Xem bài:

Chủ Đề 19.6: Trả lại Sự thật cho Lịch sử - Ai bắn què chân con hùm xám Nguyễn Ngọc Loan?


ĐIỂM MẶT : “Các thế lực thù địch” chúng là ai? "

ĐIỂM MẶT "CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH"

  Không biết cụm từ “các thế lực thù địch” ra đời từ khi nào nữa? Nhưng trên các báo chính thống của đảng và Nhà nước cũng hay nhắc đến, các báo mạng cũng xuất hiện cụm từ này nhiều (Google search: Khoảng 7.930.000 kết quả (0,20 giây). Khái niệm hay định nghĩa về “các thế lực thù địch” là gì còn khá mơ hồ? Nhưng có lẽ mỗi chúng ta đều hiểu một cách nôm na rằng cụm từ này ám chỉ những người và/hoặc nhóm người trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại đảng và Nhà nước ta. Chúng luôn làm cho đảng lo sợ, mất uy tín, làm cho đảng và dân không còn “như cá với nước” nữa, làm người dân suy giảm hoặc không còn tin vào chế độ “dân chủ gấp vạn lần” bọn tư bản đang “giãy mãi chưa chết!!”, không tin vào chính quyền “của dân, do dân, vì dân!!!” nữa.

Rất nhiều bài báo, tài liệu đề cập đến “các thế lực thù địch”, nhưng lại chẳng chỉ ra cụ thế chúng là ai, chúng đang ở đâu, chúng đang làm những gì, tại sao chúng thù đảng, thù nhân dân ta đến thế!!!? v.v… Bởi vậy, có lẽ chúng ta nên điểm mặt chỉ tên các nhóm “thế lực thù địch” để giúp đảng và chính phủ “lo”!! 

“Các thế lực thù địch” chúng là ai? 

1. Đó là đám quan lại cấu kết với nhau, từ “cấp cao” đến cấp xã để cướp đất người người dân. Loại thế lực thù địch này thời gian gần đây nổi lên như ong, từ thành thị tới nông thôn, từ miền xuôi tới miền ngược, từ đồng bằng, miền biển tới miền núi, từ Nam ra Bắc, từ địa đầu Móng Cái tới Mũi Cà Mau. Bọn này làm mất hết niềm tin của người dân vào đảng, vào chính quyền nhanh nhất, gây bức xúc và bất ổn xã hội kéo dài nhất, gây cho người dân nỗi uất hận căm phẫn nhất bởi chúng không từ một thủ đoạn nào để cướp bằng được những tấc đất chúng muốn và chúng vô cảm trước những phản ứng, khiếu nại chính đáng của người dân. 

2. Đó là đám công chức làm ở các cơ quan công quyền, quen thói “hành dân” hơn là phục vụ dân. Nhóm thế lực thù địch này lấy tiêu chí “hành dân” là niềm hạnh phúc. Chúng nhan nhản ở các cơ quan công quyền: cấp phường, xã, quận huyện, sở, bộ ngành, v.v… Chúng gây cho người dân bức xúc, khổ sở, muốn được việc phải mất tiền (mà đáng ra không phải mất) nên làm suy giảm niềm tin của người dân vào đảng, vào chính quyền…!! 

3. Đó là “một bộ phận không nhỏ” đám quan lại “chui” sâu vào hệ thống đảng, chính quyền, các cơ quan đoàn thể các cấp. Nhóm này đa phần xuất thân từ “bần cố nông”, nhưng sau khi lên làm quan, chúng giàu lên một cách nhanh chóng và khủng khiếp. Tài sản ít thì hàng vài chục tỷ đồng, nhiều thì trăm triệu thậm chí tới tỷ đô la. Làm “quan phụ mẫu” là phải chăm lo cuộc sống cho dân, giúp người dân có cuộc sống ổn định, sung túc, nhưng chúng không bao giờ dám chia sẻ kinh nghiệm hay dạy dân làm giàu theo cái cách mà chúng giàu lên như thế!!! Nhóm này cũng thuộc loại có học, nhưng đa phần là học rởm, có bằng thật, một số có bằng “đểu”! Chúng dùng những đồng tiền kiếm được một cách bất chính để làm băng hoại các giá trị và đạo đức xã hội. Phá hoại một cách nhanh nhất, làm xói mòn niềm tin của người dân với đảng và chính quyền “sâu” và “bền vững nhất”!!. 

4. Đó là nhóm những kẻ cầm đầu các tập đoàn kinh tế. Bọn này chỉ chú trọng vào việc làm suy yếu kinh tế đất nước. Chúng làm cho đất nước nhanh chóng đi vào suy kiệt, cuộc sống của người dân ngày càng bị bần cùng hóa. Lý thuyết của bọn này là không quan tâm nhiều tới chính trị, nhưng khi chúng làm cho kinh tế suy kiệt thì lệ thuộc chính trị là lẽ tất yếu!!. Lúc đó còn đâu là thể diện và sức mạnh của đảng và chính quyền nữa!! 

5. Đó là nhóm những kẻ biên soạn ra các bộ Luật của đất nước. Bọn này học hành cao, thông hiểu luật pháp quốc tế và trong nước. Chúng làm hại đảng ta, chính phủ ta bằng cách soạn ra các bộ luật, các thông tư, nghị định, quyết định có những điều khoản rất mơ hồ, có hại cho dân. Những bộ luật, thông tư, nghị định, quyết định này là nguyên nhân sâu xa gây ra những đau khổ cho nhiều gia đình, nhiều người dân lương thiện, và gây ra những bất ổn trong xã hội mà khó có thể khắc phục được trong một thời gian ngắn. 

6. Đó là “một bộ phận không nhỏ” đám quan lại trong hệ thống từ cấp tỉnh đến cấp phường, bao gồm cả chính quyền, quân đội, bộ đội biên phòng, hải quân, công an phường/xã, an ninh - không biết vô tình hay cố ý - đã gây ra những nguy cơ tiềm ẩn về an ninh cho đất nước. Nhóm “thế lực thù địch này” đã để cho kẻ thù tiềm ẩn len lỏi, sống hàng chục năm vô tư không cần phép tắc ở những nơi hiểm yếu như Cam Ranh, Vũng Rô, Tây Nguyên, v.v… coi biển của ta như ao nhà, coi đất của ta như ruộng vườn của chúng. Chúng (vô tình hay cố ý?) tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù truyền kiếp có cơ hội thuận lợi tìm hiểu, nghiên cứu tâm tư, suy nghĩ, văn hóa, thói quen, địa hình địa lý của người Việt Nam ta, đến mức tại những nơi hiểm yếu đó kẻ thù thông thạo như làng, như thôn, như tổ dân phố nhà nó. Đó là chưa kể thế hệ F1 ra đời ngày càng nhiều ở nhiều tỉnh/thành phố trong cả nước. Thử hỏi khi có chiến tranh như năm 1979, quân đội của kẻ thù truyền kiếp tràn sang, những “chuyên gia” nông nghiệp, ngư nghiệp, khai khoáng này có thành người chỉ điểm, dẫn đường cho quân đội của chúng để đi giết dân ta không???. 

7. Đó là những kẻ bồi bút nhan nhản khắp nơi. Những thế lực thù địch này tuy có học cao, hiểu rộng, có kẻ là TS, GS, PGS, đi khắp mọi nơi, sự kiện nào cũng có mặt nhưng lương tâm của chúng thì vắng mặt định kỳ. Chúng chuyên đưa tin bịa đặt hoặc sai sự thật, không phản ánh đúng thực trạng cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân. Chúng ru ngủ, làm cho đảng ta, chính phủ, nhà nước ta luôn nghĩ rằng cuộc sống của người dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng, sự “tận tâm vì dân” của nhà nước mà cuộc sống của người dân được sung sướng, thuộc nhóm người “hạnh phúc” cao trên thế giới. Hệ quả là cuộc sống của người dân khổ cực, lam lũ nhưng nào ai biết đến!! 

8. Đó là nhóm những kẻ đại diện cho nhà nước, cho chính phủ ở nước ngoài. Đáng lý chúng phải tận tâm lo việc nước việc dân nhưng thay vào đó chúng đi buôn lậu sừng tê giác, kim cương, vàng, đô la, v.v… Nhóm thế lực thù địch này có thành tích bôi tro trát trấu vào mặt đảng, nhà nước, chính phủ nhanh nhất và rộng rãi nhất, khắp năm châu bốn biển. 

9. Đó là “một bộ phận không nhỏ” các “CAC” (công an chìm) và nổi, những kẻ sẵn sàng vùi dập lòng yêu nước chính đáng của người dân. Chúng thản nhiên đạp vào mặt người dân giữa ban ngày, giữa hàng chục, hàng trăm ống kính camera của các phóng viên trong và ngoài nước khi họ biểu tỏ lòng yêu nước. Chúng không cần biết đến Hiến pháp là gì. Một công dân nào đó chỉ cần “ho he” đòi quyền Hiến định là chúng xuất hiện, không từ một thủ đoạn bỉ ổi, bẩn thỉu nào (kể cả ném phân vào nhà họ) để đe dọa buộc mọi người phải từ bỏ quyền chính đáng mình. Bằng việc đưa ra lý thuyết: “mọi việc lớn bé đã có đảng và Nhà nước lo, không việc gì đến chúng bây”, nhóm thế lực thù địch này trực tiếp triệt tiêu ý chí của người dân, làm gia tăng nỗi sợ hãi thường trực trong mỗi con người (bị tù đày hoặc bị đánh đập, hoặc mất hết phương kế kiếm ăn nuôi vợ/chồng con…), từ đó chúng làm cho người người, nhà nhà trở nên “vô cảm”. Bởi vậy, khi ra đường, nhìn thấy đánh nhau thì “đã có đảng, nhà nước lo không phải việc của mình”; nhìn thấy tai nạn giao thông cũng đã “có đảng, nhà nước lo”… Rồi mai kia khi bọn bành trướng TQ sang như năm 1979, lúc đó ai cũng “đã có đảng và nhà nước lo” thì còn gì là ruộng vườn, xã tắc nữa! 

10. Đó là đám quan lại ngồi trên các pháp đình xử án. Bọn thế lực thù địch này có “chiêu” đổi trắng thay đen, ăn tiền hối lộ trắng trợn của nạn nhân hoặc những người thưa kiện. Chúng hại đảng và chính quyền ta bằng cách làm suy giảm niềm tin của người dân vào công lý, vào pháp luật. Từng ngày, từng giờ chúng tạo cho người dân thấy rằng ở đất nước “Chính quyền của dân, do dân, vì dân” dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng không có sự hiện diện của pháp luật, của công lý, mọi người dân không được bình đẳng như nhau trước pháp luật. Bọn này cũng gián tiếp làm gia tăng nhiễu loạn và bạo lực xã hội, gây ra tình trạng ngày càng nhiều kẻ giết người, côn đồ đánh người vô cớ, trộm cướp, hãm hiếp… bởi từng ngày từng giờ chúng tạo cho một bộ phận người dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên có suy nghĩ đơn giản rằng: cứ đánh người, cứ giết người, cứ trộm cướp, nếu bị bắt thì chạy tiền là án phạt sẽ được giảm nhẹ, sẽ được “ân xá” ra tù sớm. 

11. Đó là những “chú công an nhân dân” xử lý công việc bằng cơ bắp nhiều hơn là bằng trí tuệ! Nhóm thế lực thù địch này có những “tuyệt chiêu” mà người dân ai cũng sợ, đến nỗi khi làm việc với chúng bây giờ ai cũng phải cảnh giác, không đi một mình!. Bọn này có thể “biến một người sống thành một xác chết” chỉ sau vài phút “lập biên bản”, hoặc tự va đầu vào gậy, tự đập đầu vào tường chấn thương sọ não mà chết!!” hoặc nhẹ hơn thì đi bệnh viện cấp cứu. Chúng là những kẻ côn đồ núp dưới bóng “công an nhân dân”, “dân phòng”. Đám này học hành thấp kém, nhưng được cái vai u, cơ bắp nở nang! Chúng hạ uy tín của đảng bằng cách núp dưới bóng đảng (để làm nhiều việc ác với nhân dân) bởi khi nhìn kỹ trên trán chúng thì hầu hết (khoảng 90-95%???) đều thấy hiện lên hai chữ “đảng viên”! Chúng coi dân như kẻ thù không đội trời chung. Chúng đánh người dân (kể cả nhân viên/nhà báo của chính phủ đi thi hành công vụ) giữa thanh thiên bạch nhật, không sợ các ống kính ghi hình. Chúng làm những việc mà ngay cả đến mấy con chó nghiệp vụ do chúng huấn luyện cẩn thận còn không dám làm, quay lưng bỏ đi. Chúng thể hiện một thứ văn hóa của “bầy sói”. Khi thấy người dân chúng nhảy vào xâu xé thể hiện cơn cuồng khát máu, cơn thèm khát được đánh người như những chiếc lò xo bị nén, nay gặp dân nó bật lên. Chúng đánh cả phụ nữ, đá thẳng vào bụng người phụ nữ ngay cả khi chị đã bị đồng bọn của chúng khóa tay. Loại thế lực thù địch này gây căm phẫn cao độ trong dư luận quần chúng nhân dân. Chúng hại đảng, hại chính quyền bằng cách chứng minh cho nhân dân, cho thế giới thấy rõ bản chất của chế độ do đảng ta lãnh đạo đã thay đổi hoàn toàn, nhà nước ta không còn là của dân, do dân, vì dân nữa!!. 

12. Đó là bọn “mãi lộ” trên khắp các nẻo đường của Tổ Quốc. Chúng ngang nhiên chặn xe ô tô đang lưu thông trên đường để vòi tiền mãi lộ, đến mức mà báo chí của chính phủ phải gọi chúng là bọn “cướp cạn”. Loại thế lực thù địch cũng thuộc nhóm ít học. Bọn này ngoài việc gây bức xúc cho xã hội, góp phần làm suy giảm niềm tin ở người dân nhanh nhất thì chúng còn góp phần làm gia tăng nghèo đói cho người dân do chúng gián tiếp gây tăng giá vận chuyển hàng hóa, giá cước vận chuyển hành khách…. Bên cạnh đó, Chúng cũng “đánh” vào “hầu bao” của Nhà nước thông qua việc gián tiếp làm cho HTCS giao thông nhanh bị xuống cấp bởi tình trạng xe ô tô quá tải lưu thông dày đặc trên đường hàng ngày mà chúng bỏ qua do đã ăn mãi lộ. Đôi khi chúng cũng là nhân tố gây bức xúc cho người dân, là ngòi nổ cho những cuộc “tụ tập đông người!” để phản đối về thứ văn hóa cư xử của chúng dành cho người dân. 

13. Đó là những kẻ lưu manh, côn đồ. Nhóm này có một bộ phận là nạn nhân của nhiều nhóm thế lực thù địch khác. Chúng học vấn thấp, không công ăn việc làm, sống chuyên nghề trộm, cướp, đòi nợ thuê. Đặc điểm dễ nhận biết nhất là chúng thường cắt trọc đầu, xăm trổ đầy tay, đầy mình nhìn rất gớm ghiếc. Chúng lấy việc đánh người làm thích thú, giết người không ghê tay. Nhóm thế lực thù địch này gây nhiễu loạn xã hội, gây hoang mang cho người dân, đem lại cho mỗi người dân đang sống trong “Thiên đường xã hội chủ nghĩa” mà cứ nơm nớp lo sợ, không biết hôm nay ra đường có bị chúng đánh không nếu nhỡ có bị va quệt xe??? …. 

14. Đó là một bộ phận nhỏ ở “thượng tầng kiến trúc” vẫn kiên định theo một thứ chủ nghĩa đã chết và “thối rữa” hơn 20 năm nay ngay tại nơi nó được sinh ra làm nền tảng phát triển đất nước, đặt sự phát triển của đất nước như xây một căn nhà cao tầng trên một đầm lầy. Đất nước càng ngày càng lún sâu vào các loại nhiễu loạn xã hội và các loại khủng hoảng: khủng hoảng về đường lối phát triển đất nước, khủng hoảng lãnh đạo, lãnh tụ, khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng việc làm, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng thừa các loại phí, thuế đánh vào túi tiền của người dân đa số là nghèo.... Hệ quả là sức mạnh tổng hợp của cả một dân tộc bị suy giảm nghiêm trọng, đến mức mà có thể dẫn đến (hoặc đã hiện hữu) nguy cơ một đất nước có gần 90 triệu dân nhưng không thể “hiên ngang” trước kẻ thù truyền kiếp (Trung Quốc) như một đảo quốc hơn 3 triệu dân sống sát cạnh nó, vốn dĩ được coi là đất của nó (Đài Loan). 

Hỏi bạn: Cộng hết tất cả 14 "thế lực thù địch" này sẽ là CÁI GÌ?


HCM :NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG THỂ CHỐI BỎ

Đặng Chí Hùng


Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Dân Làm Báo và bạn đọc. Trên tinh thần dân chủ chúng ta đang hướng tới, tôn trọng tất cả các ý kiến trái chiều, dân chủ có nhiều con đương, mỗi người chúng ta có quyền đưa ra con đường đó để bạn đọc và nhân dân lựa chọn. Sự lựa chọn của nhân dân là ý kiến cuối cùng về con đường của dân tộc. Với tinh thần đó, tôi mong mọi người đọc hãy tiếp thu bài viết như một ý kiến cá nhân của tôi. Và như đã nói ở những bài trước, con đường dân chủ tôi chọn là con đường không có cộng sản, không còn cộng sản dựa trên nguyên tắc khơi lại sự thật, chấn hưng dân trí. Có người biện luận ông Hồ không phải là Thánh thì có cái sai, nhưng cái sai của ông không phải chỉ một lần, một lỗi, nó thành hệ thống. Vậy chúng ta không thể bỏ qua nhằm trả lại sự thật cho lịch sử.

Sau đây là bài đầu tiên của tôi về vấn đề này với nội dung nói về một tấm bình phong bấy lâu của đảng cộng sản Việt Nam và những kẻ dân chủ cơ hội.

Thực ra những vấn đề tôi nêu lên và loạt bài này không phải là mới mẻ, nhiều người đã đề cập. Nhưng tôi xin phân tích, đánh giá trên cách nhìn mới và phân tích ý kiến của cá hai bên: Phản đối và ủng hộ nhân vật HCM. Qua đó chúng ta có thể thấy rõ sự thật của vấn đề nhằm trả nó về với chân giá trị vốn có đã bị đánh cắp lâu nay.

Sự thật thứ nhất: Bác đi tìm đường cứu nước hay cứu bác?

Trong chuỗi sự kiện về ông Hồ, xin bắt đầu từ việc đầu tiên đó là việc ông ta đi “tìm đường cứu nước”. Sự việc này sẽ xoay quanh lá thư của ông xin học trường thuộc địa của Pháp. Tôi xin xoay quanh hai vấn đề là: Có hay không là thư đó và ông viết thư với mục đích gì?

Ngày 31-5-2011, tại Sài Gòn đã diễn ra cuộc Hội thảo với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước”. Cuộc hội thảo do các cơ quan sau đây đứng ra tổ chức: Thành ủy đảng CSVN TpHCM, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Những cơ quan trong ban tổ chức cuộc hội thảo đều tầm cỡ khá cao trong nước, nên cuộc hội thảo quy tụ nhiều nhân vật quan trọng của CSVN, kể cả cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Trước hết là nguyên văn lời trong sách Lịch sử Việt Nam của các tác giả là người của đảng cộng sản đã viết về sự kiện thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ngày 5-6-1911 để ra đi như sau:

“Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người (Hồ Chí Minh) từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi thúc Người hướng về các nước Tây Âu, mong muốn được đến “tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Sau khi rời Huế vào Phan Thiết … Được ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche Tréville), thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào…” (Nguyễn Khánh Toàn và một nhóm tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập 2, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1985, tr. 145).

Ngoài ra trong sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng có nội dung gần giống như sau: 

“… Ít lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Ý định ấy của Người (HCM) đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.” (Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư (có xem lại và bổ sung), Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 15).

Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn của tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lý do ra đi như sau: “…Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta…” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 13).

Ở đây có điều oái oăm: Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông Hồ dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình. Sở dĩ nói oái oăm là ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có nhiều người viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình, hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đều đề tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Chỉ có ông Hồ Chí Minh là dùng một tên khác tự ca tụng mình.

Như vậy có thể kết luận, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước. Nhưng sự thực có phải vậy hay không?

Bức thư xin học trường thuộc địa Pháp

Đây là vấn đề thứ nhất. Tại sao Bác Hồ yêu nước, có tinh thần chống Pháp từ bé lại xin gia nhập trường thuộc địa này? Trong khi đó ngôi trường lại là nơi đào tạo quan lại nhằm thực hiện chính sách thực dân của Pháp ở Việt Nam.

Đây là hình ảnh về hai bức thư đó: 





Đó là hình ảnh về hai bức thư mà trên internet bấy lâu nay không thiếu. Nó có thật hay không? Tôi xin trả lời là có thật vì đó là điều công nhận của cả hai bên. 

Đầu tiên là phía “lề trái”: vào tháng 02/1983, hai sử gia VN, tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, đã công bố khắp thế giới, một tài liệu vô cùng quan trọng, tại văn khố Pháp duy nhất liên quan tới giai đoạn 1911 của Nguyễn Tất Thành. Đó là 2 lá thư xin nhập học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) viết ngày 15/09/1911 và một lá viết tại New York ngày 15/12/1912. Điều này chứng tỏ rằng Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan (làm Việt Gian tay sai cho Pháp) để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân như Trần Dân Tiên và báo của đảng cộng sản từng viết sách ca tụng.

Nhưng để chứng minh cho đây là 2 lá thư có thật, tôi xin dẫn chứng về sự công nhận của bên “lề phải”:

Trên trang chủ của Sachhiem.net có bài Phản hồi của một vị xưng là giáo sư Trần Chung Ngọc, ông này là người của đảng cộng sản. Bài phản hồi của ông ta về những điểm trong DVD “Sự thật về HCM”. Sau đây là nguyên văn đoạn ông ta viết về lá thư: “DVD đưa ra một tài liệu, bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở trường thuộc địa, và đã bị giám đốc trường nầy từ chối không cho học, để chứng minh rằng mục đích của ông Hồ không phải là xuất ngoại để cứu nước mà để tìm đường làm ăn. Bức thư được ông Nguyễn Gia Phụng dịch ra tiếng Việt và đọc trong DVD. Nhưng đưa ra tài liệu này, những người làm DVD không nghĩ đến phản tác dụng của nó. Thứ nhất, họ không tìm hiểu tại sao giám đốc trường thuộc địa lại từ chối đơn xin học của ông Hồ với lý do rất đáng buồn cười: “Mục đích của ông tới đây là để kiếm sống chứ không phải là để đi học”. Như vậy ông này công nhận sự có thật của lá thư với nội dung xin học của ông Hồ. Phần nội dung tôi xin trình bày sau. 

Thứ hai đó là trên tranh chủ có cái tên rất “Fan club” của HCM: http://thehehochiminh. wordpress. com/2010/01/03/1911_lathu_truong_thuocdia/

Có đoạn nói về tác giả nước ngoài, cả bài viết trên trang đó và ký giả nước ngoài đều công nhận bức thư đó là có thật:

William J. Duiker viết về Lá thư Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thuộc địa (1911)

Theo W. J. Duiker, đây là một lá thư do Nguyễn Tất Thành viết. Tuy nhiên, trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, không thấy có lá thư này. Để tạo điều kiện bạn đọc tiếp cận và nghiên cứu, chúng tôi trích đăng ý kiến của W. J. Duiker. Hoan nghênh bạn đọc phản hồi về lá thư theo địa chỉ email: info@thehehochiminh. net 

Anh Thành đã trở lại tàu trước khi tàu nhổ neo; tàu đã đến Cảng Le Havre ngày 15.7, và vài ngày sau đã đến Cảng Dunkerque và cuối cùng trở lại Marseilles, và ở đó cho đến giữa tháng 9. Tại đây, anh đã viết một bức thư gửi cho Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Vì đây là một sự kiện đáng chú ý, tôi xin chép toàn văn thư này…

Tôi xin nêu ra dẫn chứng của cả hai phía phê phán và ủng hộ ông HCM để thấy rằng 2 bức thư đó là có thật chứ không phải bịa đặt.

Bác viết gì trong thư?

Nội dung của 2 bức thư là khá giống nhau, tôi cũng xin ghi ra đây phần dịch của cả hai phía ủng hộ và không ủng hộ để bạn đọc thấy .

Trước tiên là lời trên trang:

Có nội dung như sau về bức thư thông qua lời dịch của WILLIAM J. DUIKER

Marseilles 

Ngày 15 tháng Chín năm 1911

Thưa Ngài Tổng thống!

Tôi xin hân hạnh yêu cầu Ngài giúp đỡ cho tôi được vào học nội trú tại Trường Thuộc địa. 

Hiện nay, để nuôi thân, tôi đang làm việc cho công ty Chargeurs Réunis (Tàu Amiral Latouche – Tréville). Tôi hoàn toàn không còn nguồn lực nào và rất thiết tha muốn có học vấn. Tôi muốn trở nên có ích cho nước Pháp trong quan hệ với đồng bào tôi và đồng thời mong muốn đồng bào tôi thu lợi được từ học hành.

Quê tôi ở tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Với hy vọng rằng Ngài sẽ phúc đáp theo hướng thuận lợi đề nghị của tôi, tôi xin Ngài Tổng thống nhận sự biết ơn sâu sắc của tôi.

Nguyễn Tất Thành

Sinh tại Vinh, 1892 

Con trai của Ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương)

Học sinh tiếng Pháp và chữ nho 

Còn sau đây là nội dung của nó dưới bút dịch của những người “lề trái”. Trong bài “Từ mộng làm quan đến đường cách mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa”, hai tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đã dịch như sau:

“Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Địa.

Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).

Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khao khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi của nền học vấn…” (Đặc san Đường Mới, số 1, Paris, tt. 8-25)

Như vậy rõ ràng về nội dung của cả lề phải và lề trái đều giống nhau. Đó là sự thật mà đảng cộng sản hoặc những người dân chủ cơ hội phải chấp nhận. 

Trên thực tế 2 lá thư trên đều bị bác bỏ, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày 15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban cho cha Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh sống trong hoàn cảnh cha của Nguyễn Tất Thành nghèo túng sau khi bị cách chức quan (do đánh chết người): “… cầu mong Ngài (chỉ khâm sứ Pháp) vui lòng cho cha tôi (cha của Thành tức Nguyễn Sinh Sắc) được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài…” (Thành Tín (tức Bùi Tín), Mặt thật, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tt. 95-96).

Vậy bản chất của việc Bác đi không phải là tìm đường cứu nước mà bác đi là vì mưu sinh. Chuyện mưu sinh là chuyện thường của con người. Nhưng ông Hồ và đảng cộng sản đã bịa đặt và thần thánh hóa nó thành cứu nước.

Tuy nhiên về phía ủng hộ ông Hồ lại có những lập luận như sau; như lời của ông Trần Chung Ngọc có viết: “Sở dĩ trường thuộc địa bác đơn xin học của ông Hồ vì trong đơn ông Hồ “đã dại dột” viết rõ là mục đích của ông là có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của ông, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà ông thu thập được [“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”]. Đó chỉ là một câu để có thể xin vào học trường thuộc địa. Trường thuộc địa là để đào tạo những tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc địa. Giám đốc trường thuộc địa không phải là không biết điều này, nên đã từ chối với một lý do vốn không phải là lý do, vì nó rất vô lý. 

Hay trên trang: http://thehehochiminh. wordpress. com/2010/01/03/1911_lathu_truong_thuocdia/ có viết: Tuy nhiên, qua việc anh Thành đã học tại Trường Quốc học ở Huế, ta thấy hành vi của anh không có gì đáng ngạc nhiên. Sự thù địch của anh đối với ách thống trị thực dân của Pháp ở Đông Dương dường như đã được xác định, song điều rõ ràng là anh vẫn chưa quyết định nên đi theo con đường nào để giải phóng đất nước và, theo lời kể của bản thân anh, anh vẫn thiết tha được học hành để nâng cao hiểu biết tình hình. 

Tôi xin chứng minh đó là những luận điệu biện hộ sai trái cho sự thật của ông Hồ. 

Xin nói sơ qua về ngôi trường này. Đây là ngôi trường được thành lập năm 1885 để đào tạo các quan chức phục vụ cho chính quyền ở các nước thuộc địa Pháp, trường Thuộc địa có bao gồm một “bộ phận bản xứ” dành cho thần dân thuộc địa với khoảng 20 suất học bổng cho học sinh Đông Dương thuộc Pháp. 

Việc ông Hồ lúc đó đã là thanh niên, có nhận thức rõ ràng về ngôi trường đó là dĩ nhiên. Ông ta biết nó được sinh ra để đào tạo những kẻ đàn áp nhân dân. Sao ông ta lại xin học? Ở Việt Nam, nhất là khi ông ra nước ngoài có thiếu gì ngôi trường học văn hóa, nâng cao hiểu biết như lời các tác giả lề phải biện hộ? Sao ông Hồ nhất định phải không chỉ một lần mà những hai lần cố xin cho được vào ngôi trường xấu xa đó, không xin vào trường khác? Vậy mục đích ơ đây không phải vào để “Tìm hiểu” mà là muốn làm quan kiếm miếng cơm. Mà quan đó là quan “Ăn hiếp” nhân dân.

Ông Trần Chung Ngọc và các tác giả biện hộ về nội dung rằng vị quan Pháp không cho học vì sợ ông Hồ học để nâng cao dân trí cho nhân dân. Xin thưa các tác giả biện hộ cho ông Hồ. Đó là ông hiệu trưởng lúc đó có biết ông Hồ là ai? Anh hùng nào mà sợ ông ta truyền đạt cho nhân dân chống Pháp? Ngôi trường đó mở cho người Việt thì ông Hồ có học hay không cũng là chuyện bình thường. Ông Hồ lúc đó chẳng là cái gì mà ông hiệu trưởng Pháp phải “sợ” cả. Hơn thế nữa, bất cứ một lá đơn xin học nào, nhất là trường quan trọng như trường thuộc địa lúc đó đều phải làm đơn với những quy định nhất định. Cái đơn của ông Hồ cũng không là ngoại lệ, vậy thì việc nó viết “Tôi muốn trở nên có ích cho nước Pháp trong quan hệ với đồng bào tôi và đồng thời mong muốn đồng bào tôi thu lợi được từ học hành” cũng là điều bình thường chứ không phải sự “dại dột” như ông Ngọc viết. Và bạn đọc có thể thấy môi quan hệ giữa Pháp và nhân dân ta lúc đó là quan hệ của thực dân và nô lệ, vậy việc ông Hồ muốn giúp “lợi ích” cho nước Pháp trong quan hệ chính là việc dùng chức quan (nếu có) để thay người Pháp cai trị nhân dân.

Trên đây là sự thật đầu tiên về ông Hồ. Tôi dùng cả những tài liệu, phân tích của hai phái ủng hộ và chống đối để chứng minh rằng: Ông Hồ có viết thư xin học trường thuộc địa. Việc ông xin học ở đây nhằm làm quan, có miếng cơm chứ ông chẳng có tư tưởng căm thù Pháp, không có ý định “tìm đường cứu nước” như chính ông và đảng cộng sản đã bịa đặt.

Tại sao ông Hồ và đảng cộng sản lừa dối không công khai bức thư? Tại sao ông đi kiếm ăn lại nói dối “Tìm đường cứu nước”? Đó chính là sự lừa dối không thể chấp nhận được.

06/06/2012


 

Bài Xem Nhiều