We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 8 June 2012

Chủ Đề 19.6: Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh




Quân đội là một tập thể lớn nhất trong một quốc gia, được hình thành từ đủ mọi thành phần trong xã hội ở khắp mọi miền đất nước theo luật động viên hoặc tổng động viên ... Vì thế tập thể quân đội rất phức tạp nhưng sự phức tạp này đã được trui rèn trong những lò luyện thép để trở thành một tập thể kỷ luật nhất với trách nhiệm cao quý "Bảo Quốc-An Dân".



Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được Quốc Trưởng Bảo Đại thành lập năm 1949 cho đến khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa ra đời ngày 26/10/1955, Vị Tổng Thống dân cử đầu tiên của nước Việt Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm với tư cách là nguyên thủ quốc gia kiêm tổng tư lệnh tối cao đã cải danh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng thân thương này được trân quý giữ cho đến ngày hôm nay và mãi mãi.


Từ sau cuộc chính biến ngày 01/11/1963, cuộc chỉnh lý tháng 01/1964 cho đến năm 1965, tình hình chính trường Miền Nam Việt Nam thật sự rối ren, bất ổn bởi những cơn lốc chính trị ... tên đồ tể Hồ Chí Minh và bọn CSBV đã lợi dụng tình trạng này để gia tăng đánh phá trong mưu đồ thôn tính MNVN. Trước những cơn phong ba chính trị với cơn bão lửa chiến tranh lan dần và sau nhiều phiên họp của Thượng Hội Đồng Quốc gia ... Chính phủ dân sự do Thủ Tướng Phan Huy Quát lãnh đạo đã quyết định trao quyền lãnh đạo đất nước lại cho quân đội.


Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được thành lập và trình diện trước quốc dân ngày 19/06/1965. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu với tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, đã thay mặt đại gia đình quân đội nhận lãnh trọng trách lèo lái con thuyền Quốc Gia trong cơn nghiêng ngả của đất nước. Vì thế ngày 19/06 được gọi là ngày Quân Lực, chớ không phải là ngày Thành lập Quân Lực VNCH như một số người đã hiểu sai.


Kể từ giờ phút lịch sử này, QLVNCH vinh dự gánh vác thêm trọng trách nặng nề hơn đối với quốc gia, dân tộc ... Người Lính VNCH ngoài trách nhiệm "Bảo Quốc-An Dân", họ còn phải chèo chống con thuyền Quốc Gia trong cơn bão lửa chiến tranh trên dòng sông lịch sử.


Nói đến quân đội là phải nói đến Người Lính, những người đã đem cả cuộc đời, một phần thân thể và sinh mạng để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tang thương kéo dài 20 năm bởi cuồng vọng nhuộm đỏ cả quê hương do tên tội đồ Hồ Chí Minh và bọn CSBV gây nên.


Nhân dịp lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực lần thứ 46, người viết xin được trải lòng mình trong những dòng chữ hạn hẹp, kính cẩn Vinh Danh-Tri Ân Người Lính VNCH, những người đặt Tổ Quốc_Dân Tộc lên trên hết, những người trân quý Tổ Quốc-Dân Tộc hơn cả mạng sống của mình.


Trước khi gói trọn cuộc đời trong chiếc áo trận phủ dày bởi khói lửa sa trường, họ là những thanh niên sống dưới khung trời Tự Do của Miền Nam Việt Nam, ý thức được trách nhiệm của người trai trong thời loạn ... Họ từ giã học đường, xếp lại con đường công danh khoa bảng vào trang vở thơm mùi giấy học trò, giã biệt người yêu trong tiếng ve ngân ngày tháng Hạ, những cành phượng vỹ đỏ thắm nhẹ đong đưa trong gió như vẫy tay tiễn người đi khoác chinh y, bạn bè kẻ ở người đi nâng chén quan hà chúc tụng nhau những gì đẹp nhất ; Họ hy sinh tình cảm cá nhân, gia đình, người thân, người tình ... đặt bước chân vào cuộc sống quân ngũ bảo vệ, gìn giữ quê hương.


Sau những tháng ngày dài chạy đều bước 1, 2, 3, 4 ... hát vang "chân cứng đá mềm", mũi thở ra khói nơi "thao trường đổ mồ hôi", người thanh niên tuổi trẻ ngày nào đã gột rửa nét thư sinh bằng những giọt mồ hôi của mình ... Mái tóc ba phân, ánh mắt cương nghị, thân thể cường tráng khỏe mạnh được phủ bởi làn da sạm nắng cháy quân trường với lời thề "Vị Quốc Vong Thân" trong ngày lễ mãn khóa ... Người thư sinh ấy đã trở thành đứa con yêu của Tổ Quốc với tên gọi thân thương "Người Lính VNCH".


Người Lính VNCH đem tấm thân được trui rèn từ lò luyện thép, kiến thức quân sự được đào tạo từ mái trường Tổ Quốc mang hành trang "Bảo Quốc-An Dân" hiện diện trên mọi nẻo đường đất nước, gìn giữ quê hương bằng chính sinh mạng của mình.


Người Lính VNCH không đi chinh chiến xây đắp tương lai cho cá nhân mình ... Người Lính VNCH không đem sinh mạng vào vùng lửa đạn đánh đổi quyền cao chức trọng ... Người Lính VNCH không mang giòng máu thắm đổi lấy huy chương trên ngực áo ... Người Lính VNCH không đem một phần thân thể làm nấc thang binh nghiệp ... Người Lính chỉ biết đi chiến đấu cho đất nước yên vui.


Hai mươi năm chinh chiến ... Người Lính VNCH đi miệt mài không ngừng nghỉ, đôi giày trận mòn gót từ miền địa đầu giới tuyến nắng cháy da người ... vùng cao nguyên khô cằn sỏi đá, bụi đỏ mịt mờ ... miền Tây sình lầy nước đọng, rừng già âm u, núi đồi lộng gió cho đến cao vút không gian bao la vương dấu giày trên vùng mây trắng mênh mông ... xa ngút ngàn trùng khơi sóng vỗ lắc lư chiến hạm ... Người Lính đi trong lửa khói mịt mờ, đi trong mưa đạn pháo của quân thù, đi trên xác giặc xâm lăng, ẩn hiện như những bóng ma đi vào mật khu của giặc, âm thầm làm người chiến sĩ vô danh trong công tác đặc biệt "vượt tuyến" ... không nơi nào thiếu vắng bóng dáng Người Lính VNCH, những người đem sinh mạng che chắn cơn bão lửa chiến tranh để mang niềm vui cho đời.


Người Lính đi từ lúc mặt trời còn say ngủ, sương đêm buốt lạnh đôi vai cho đến khi quả cầu lửa khổng lồ chiếu ngay trên đỉnh đầu, bộ chinh y đẫm ướt mồ hôi, thân thể bốc khói ... Người Lính tạm dừng chân lấy nước từ sông hồ, kinh rạch, từ dây rừng đổ vào bọc gạo sấy, nuốt vội vã, hớp ngụm nước mát từ lòng đất mẹ, phì phà vài hơi thuốc lá rồi tiếp tục lên đường ... Hoàng hôn buông phủ, đơn vị tạm dừng quân ... sau khi lót lòng bằng phần lương khô, Người Lính dành chút thì giờ quý báu "từ KBC giá lạnh rừng sâu" trong cái lều vải cá nhân vội vàng viết lá thư tiền tuyến gởi về thăm gia đình ... Kẻ thì thăm hỏi, kính chúc sức khỏe mẹ già vạn an, khói lửa chiến tranh vẫn còn phủ kín quê hương nên con chưa thể về bên mẹ để làm tròn chữ "Hiếu", mong mẹ thứ lỗi cho con. Con vẫn khỏe mạnh, bình an ... Thương nhớ mẹ nhiều ; Người thì cặm cụi bên chiếc balô làm bàn nên nét chữ không ngay, trải nỗi lòng nhung nhớ vợ hiền, con thơ trên trang giấy nhỏ bé ... Thương nhớ em và con thật nhiều. Anh khỏe và an lành ; Người thì nắn nót từng nét chữ yêu thương gởi về người yêu nơi phố thị ... đã từ lâu chưa một lần về thăm ... hẹn ngày hoa giăng đầu ngõ ... Hôn Em ; Kẻ thì nguệch ngoạc đôi dòng thăm bạn bè đang ghìm súng ở một KBC nào đó. Xếp vội những lá thư còn thơm mùi mực, Người Lính vừa chợp mắt thì có lệnh lên đường ... Người Lính tiếp tục bước quân hành, âm thầm khuất vào màn đêm đen tăm tối dưới cơn mưa lạnh buốt để canh giữ quê hương cho người dân tròn giấc ngủ.


Hai mươi năm chinh chiến, hầu như Người Lính không có dư thì giờ nhiều để tắm gội nhưng họ lại là những người tắm nhiều nhất ... họ tắm trên bước quân hành dưới những cơn mưa tầm tả ngày đêm, vừa đi vừa tắm bằng giòng suối mát ngọt ngào nơi núi cao dốc thẳm, sông hồ kinh rạch, họ tắm bằng những giọt nước từ chiếc biđông nhỏ giọt trên đầu dưới sức nóng gay gắt của mặt trời và họ tắm bằng những giòng biển mặn thoát ra từ cơ thể của họ.


Hơn bảy ngàn ngày đêm, Người Lính chưa bao giờ có một lần tròn giấc, Người Lính ngủ trong thức, thức trong từng giấc ngủ ... Người Lính có thể ngủ bất cứ giờ phút nào, bất cứ nơi đâu dù chỉ năm ba phút, ngủ trong lúc di hành, ngủ trong lúc ăn, ngủ trong lúc đang nói chuyện với đồng đội, ngủ dưới cơn mưa tầm tả nơi giao thông hào, ngủ trong lúc đang đánh răng, ngủ ngay cả lúc đang đại hay tiểu tiện ... Có người đã thiếp đi vài phút dưới cơn mưa pháo của quân thù vì họ quá mệt mỏi trong một trận chiến dài nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, trận chiến 510 ngày đêm trên ngọn đồi Tống Lê Chân. Người Lính rất thèm ngủ nhưng Người Lính tự ban "quân lệnh" cho mình không được ngủ khi quê hương còn thao thức vì tiếng súng đạn xâm lăng ... Hầu như Người Lính đi và thức gần trọn cuộc đời khoác chinh y.


Hai mươi năm chinh chiến ... có biết bao nhiêu Người Lính VNCH đã ngủ quên trên chiến địa, trên vùng trời Tổ Quốc Không Gian, dưới lòng Tổ Quốc Đại Dương mãi mãi không trở về với đồng đội ... Bao nhiêu Người Lính VNCH trở về bằng mỗi một tấm thẻ bài lạnh giá hoặc ngủ im lìm trong hòm gỗ cài hoa, không bao giờ biết mặt đứa con thơ vừa cất tiếng khóc chào đời, không được nhìn thấy những giòng lệ trào tuôn trên khuôn mặt người vợ hiền đầu vừa chít vội mảnh khăn tang ... không được vuốt mái tóc người tình hay vị hôn thê mới vừa đeo chiếc nhẫn đính hôn tháng rồi nay tan nát tâm hồn quấn chiếc khăn tang đang gục đầu trên quan tài gỗ được phủ lá quốc kỳ ... không được tự tay lau những giọt lệ từ giòng nước mắt khô cạn của người mẹ già yêu quý.


Hai mươi năm chinh chiến ... bao nhiêu Người Lính VNCH trở về không nguyên vẹn hình hài ... kẻ trở về với một hoặc hai ống tay áo dư thừa ... người thì vĩnh viễn không bao giờ mặc lại được cái quần dài vì đôi chân đã gởi lại chiến trường ... người thì mãi mãi sống trong bóng tối suốt quãng đời còn lại vì họ đã hiến dâng cặp mắt cho hai chữ Tự Do của Miền Nam Việt Nam. Trong thời chiến, họ đem tấm thân gầy chống đỡ giang san ... ngày tàn cuộc chiến, họ lê tấm thân phế tàn chống đỡ tang thương, bất hạnh phủ trùm lên thân phận người thua cuộc kéo dài hơn một phần ba thế kỷ.


Chinh chiến triền miên không biết bao giờ chấm dứt ... Anh miệt mài đi mãi ... đem sinh mạng đi canh giữ quê hương ... lấy máu hồng đi dập tắt ngọn lửa chiến tranh ... đi cho đến khi nào người dân không còn kinh hoàng, hốt hoảng dìu dắt, bồng bế nhau chạy loạn trong khói lửa ngút trời bởi thảm họa chiến tranh do lũ cộng sản gây nên ... đi cho đến khi không còn thảm cảnh đứa bé thơ đang ngậm bầu sữa khô, nút những giọt máu rỉ ra trên xác người mẹ vừa chết bên ven đường bởi đạn thù, pháo giặc ... đi cho đến khi đất nước thật sự thanh bình, người dân được sống an vui, hạnh phúc, tiếng cười đùa của trẻ thơ rộn rã khắp nơi nơi, tiếng ê a hồn nhiên tuổi thơ vang lên dưới mái trường làng rợp bóng mát thanh bình, tự do.


Đường quân hành dịu vợi mù xa ... đôi chân nhỏ bé của Người Lính đã vượt qua ngàn ngàn cây số, bao nhiêu sông hồ kinh rạch, núi thẳm rừng sâu, sình lầy nước đọng, muỗi đỉa bám đen cả thân mình ... gian nan trên mỗi bước đi, hiểm nguy trong từng hơi thở, tử thần lảng vảng bên cạnh, cái chết có thể đến bất chợt trong buổi ăn, giấc ngủ ... Nhưng Người Lính VNCH, những người nguyện hiến dâng cuộc sống cho đời nào có xá chi hiểm nguy, chết chóc khi quê hương còn vang rền tiếng súng xâm lăng. Người Lính VNCH ơi ... Anh thật là cao cả.


Hai mươi năm lao vào vùng lửa đạn do tên Hồ Chí Minh và bọn CSBV gây nên ... Hằng ngàn ngàn quân lệnh ban ra ... phải chiến thắng, phải dứt điểm mục tiêu, phải giải quyết chiến trường không để một tấc đất quê hương, một căn nhà người dân lọt vào tay quân giặc ... Lá Quốc Kỳ màu Vàng Ba Sọc Đỏ thân yêu phải tung bay phất phới trên xác giặc trong thời hạn bắt buộc. Người Lính VNCH nghiêm chỉnh chấp hành quân lệnh không một lời than van, hiên ngang bước vào vùng tử địa, đem máu đào và sinh mạng của mình giành lấy chiến thắng mang về dâng lên Tổ Quốc.


Trước khi đi vào chốn hiểm nguy, lao mình vào vùng lửa đạn, Người Lính VNCH không nghĩ đến gia đình mà chỉ nghĩ đến sự an nguy của quê hương dân tộc ; Trong vùng lửa đạn mịt mờ ... Người Lính VNCH vừa chiến đấu vừa bảo vệ người dân, dù Người Lính bị thương thân thể đẫm máu, họ vẫn cố gắng dìu dắt người dân, bồng bế trẻ thơ, cõng ông lão, bà cụ thoát khỏi vùng hiểm nguy ... Người Lính VNCH chẳng những bảo vệ người dân mà còn chăm sóc, chữa trị vết thương cho những tù binh cộng sản bị bắt trên chiến trường, Người Lính VNCH tự tay băng bó vết thương cho tù binh, đút cho họ ăn từng muỗng cơm, từng ngụm nước, gắn lên môi họ điếu thuốc sau đó tải thương giao họ lại cho các cơ quan thẩm quyền đưa về điều trị vết thương, khai thác và giáo huấn họ trở về con đường chính nghĩa của quê hương dân tộc. Đây là tánh nhân bản của Người Lính VNCH trên con đường lý tưởng "Bảo Quốc-An Dân".


Người Lính VNCH chèo chống con thuyền quốc gia trong cơn bão lửa chiến tranh, cắm ngọn cờ chiến thắng khắp mọi nơi từ giòng sông Bến Hải miền địa đầu giới tuyến dài xuống tận mũi Cà Mau phần đất cuối cùng của quê hương. Sau trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, quân đội CSBV đã kiệt quệ, chiến tranh lắng dịu, quê hương hồi sinh, nắng ấm thanh bình tạm trải dài muôn nơi sau trận chiến kinh hồn, máu và lửa đỏ cả quê hương suốt năm tháng rưỡi trong cuộc chiến tang thương dài triền miên.


"Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu ...". Trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa kết thúc, Người Lính VNCH đã dùng máu và sinh mạng tạo một chiến công lẫy lừng làm cả thế giới nghiêng mình kính phục ... Lá Quốc Kỳ tung bay khắp mọi miền đất nước dưới tia nắng ấm thanh bình vừa ló dạng nơi chân trời thì cũng là lúc Người Lính VNCH bắt đầu bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới, để rồi đưa đến cái chết tức tưởi của chính thể VNCH, Người Lính VNCH bị bức tử gãy súng ... Con thuyền quốc gia chuyên chở "Tự Do-Hạnh Phúc" cho người dân Miền Nam Việt Nam trong suốt hai mươi năm đã bị người bạn đồng minh nhẫn tâm nhận chìm vào giòng sông máu của cộng sản ngày 30/04/1975.


Năm vị tướng lãnh cùng một số Quân Cán Chính VNCH các cấp đã quyên sinh theo con thuyền quốc gia nhưng họ không chìm vào giòng sông máu của cộng sản ... Họ miên viễn đi vào lòng đất mẹ, linh hồn quyện vào Lá cờ Hồn Thiêng Sông Núi ... Họ đã hiên ngang, can trường đi bước quân hành cuối cùng trong sự uất nghẹn "gãy súng" để bảo vệ danh dự cho đại gia đình QLVNCH, bảo toàn chính nghĩa Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, để lại ngàn đời sau nhắc nhớ và thương tiếc.


Ngay sau khi Miền Nam Việt Nam lọt vào tay CSBV ... Hằng ngàn Quân Cán Chính VNCH đã bị lũ quỷ đỏ mạo danh "chống Mỹ, cứu Nước" khoan hồng bằng những loạt đạn AK47 hận thù nơì pháp trường thù hận. Hằng trăm ngàn đã được "hòa hợp, hòa giải" bằng gông cùm xiềng xích, biệt giam ngục tối, bằng những cực hình tra tấn dã man, bị bỏ đói, cưỡng bức lao động trong thủ đoạn thâm độc giết dần mòn nơi các trại tù khổ sai, khắc nghiệt mang ba chữ hoa mỹ "Trại Cải Tạo" trên hai miền Nam Bắc.


Những người TPB.VNCH bị lũ quỷ đỏ chà đạp, lết lê hít thở khói xe, bụi đường bên lề cõi sống. Họ uống nước mắt uất nghẹn kéo lê kiếp sống vong quốc hơn nửa cuộc đời ngay chính trên mảnh đất quê cha mà họ đã hy sinh giòng máu, một phần thân thể để gìn giữ.


Lũ cộng sản vô thần không tim óc, độc ác, dã man cũng không buông tha những người đã chết. Chúng tàn phá nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, tàn nhẫn giẫm lên những nắm xương tàn vô tri, những thân xác mục rã không còn lòng thù hận.

Người Lính VNCH dù đặt bước chân trên con đường vong quốc trước hay sau đều trở thành những người lính già xa quê hương, đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ. Người thì buồn bã khép mắt ra đi vĩnh viễn trong nỗi uất nghẹn không nguôi ... Người thì đã về hưu sau những năm dài tạo lập cuộc sống mới nơi quê người, ngày ngày trông về cố quốc với ánh mắt xa xăm, hơi thở mỏi mòn, chiếc bóng đời đang ngã dần về Tây trên đất khách ... Người thì vẫn tiếp tục cày trả nợ áo cơm ...


Người Lính VNCH đã đi trên đoạn đường chiến binh dài bằng một phần ba đời người ... Sau ngày "gãy súng", họ vẫn cố gắng tiếp tục đi nốt quãng đường quân hành còn lại bằng con đường đấu tranh trong thời gian hạn hẹp của chiếc bóng hoàng hôn trên con đường vong quốc. Họ tranh đấu cho ai ... Họ đã có tự do, cơm no áo ấm, con cái lớn khôn thành đạt, cuộc sống ổn định thì chắc chắn một điều là họ không tranh đấu cho bản thân hay gia đình họ ... Trong thời chiến, họ không đem sinh mạng đi chiến đấu vì danh vọng, địa vị, quyền uy, chức tước thì ngày nay họ không đem tuổi già ra tranh đấu vì bất cứ một tham vọng gì ... Họ chỉ muốn đóng góp những chuỗi ngày còn lại vào công cuộc đấu tranh giải thể lũ bạo quyền CSVN, cho quê hương dân tộc không còn ngập chìm trong bể máu cộng sản ... Họ tranh đấu cho những thế hệ mai sau được hít thở không khí tự do, không còn bị nhồi sọ, cai trị bởi chủ nghĩa cộng sản bệnh hoạn, vô thần, khát máu. Hai mươi năm chinh chiến ...Ba mươi sáu năm vong quốc ... bây giờ họ là những người lính già lưu vong ... con đường chiến binh dang dở năm xưa vẫn chưa thấy đoạn cuối nhưng hơi thở của họ ... đã cạn ...


Hai mươi năm chinh chiến ... Người Lính VNCH không bao giờ đòi hỏi Tổ Quốc bất cứ một điều gì. Người Lính chỉ mong đem cuộc đời của mình đổi lấy hai chữ Tự Do cho quê hương dân tộc cho dù phải trả cái giá đắt nhất là mạng sống.


Hai mươi năm miệt mài đi canh giữ quê hương ... Người Lính VNCH không yêu cầu người dân bất cứ một điều gì cho lợi ích cá nhân. Người Lính chỉ mong muốn nhìn thấy người dân được sống những tháng ngày an vui, hạnh phúc, cơm no, áo ấm dưới nắng ấm thanh bình trên quê hương mến yêu mang tên Việt Nam.


Những năm dài bị lũ giặc thù tra tấn dã man, chết đi sống lại bao nhiêu lần trong các trại tù khổ sai, khắc nghiệt sau ngày "gãy súng" ... Người Lính VNCH không quỵ lụy, lòn cúi kẻ thù để được tồn tại. Người Lính VNCH trước sau vẫn thủy chung với con đường "Lý Tưởng" mà mình đã chọn, vẫn giữ được khí khái , "Danh Dự" của Người Lính VNCH khi bị bức tử trở thành kẻ thua cuộc.


37 năm vong quốc ... bao nhiêu năm đem phần đời còn lại miệt mài tranh đấu ... "Người Lính già xa Quê Hương" không có bất cứ một tham vọng chính trị nào ... Người Lính Già chỉ mong sao đất nước thoát khỏi gông cùm, xiềng xích của lũ cộng sản bạo tàn, độc ác để người dân Việt Nam có được nụ cười "Tự Do-Hạnh Phúc" mãi mãi nở trên môi.


Người Lính VNCH ... Tôi nợ Anh.
Hoàng Nhật Thơ

Sân cỏ, khung thành bóng đá Euro 2012

Từ ngày 08. Tháng Sáu đến ngày 01. tháng Bảy 2012 diễn ra những trận cầu tranh tài gây cấn của môn thể thao Bóng Đá Euro 2012 ở trên sân cỏ hai nước Balan và Ukraina, giữa 16 đội tuyển bóng đá của 16 nước Âu Châu. Và những trận tranh tài trên sân cỏ này thu hút hấp dẫn rất hàng chục, hàng trăm ngàn, hàng triệu nhiều người trên thế giới qua màn ảnh truyền hình.

Vẫn biết thể thao Bóng đá là một bộ môn thể thao luyện tập thân thể khoẻ mạnh cùng góp phần vào giải trí lành mạnh trong đời sống. Nhưng bộ môn thể thao này càng ngày càng có sức hấp dẫn thu hút con người về nhiều phương diện khác nữa, như thương mại buôn bán, quảng cáo, phát triển kỹ thuật xây cầu trường, trồng cỏ trên sân, mẫu mã quần áo cùng dày cho cầu thủ, kỹ thuật chế biến làm trái banh, trường huấn luyện đá banh, truyền hình, truyền thanh, báo chí chụp hình ảnh…cùng kéo theo nhiều khâu khác trong đời sống cùng nhập cuộc.

Còn đời sống đức tin có bị lôi cuốn nhập cuộc theo dòng nước thể thao Bóng đá không? Có sự tương đồng hay khác biệt giữa hai lãnh vực này không?

1. Hai cách thế sống

Chưa thấy nói thể thao bóng đá muốn lôi cuốn đức tin cùng nhập cuộc. Nhưng đời sống thực hành đức tin bị ảnh hưởng không ít, có khi còn bị cản trở, về thời giờ do thời biểu, nơi tập luyện cùng sức hấp dẫn thi đấu của bộ môn này. Vì thời giờ diễn ra song song với nhau lúc đọc kinh xem lễ cùng lúc tập dượt hay thi đấu.

1.1.Trong thể thao thành tích đạt được bằng con số và con người là trung tâm điểm.

Còn trong lễ nghi Phụng vụ tôn giáo không có con số và Thiên Chúa, Đấng vô hình, là đích điểm trung tâm của tâm hồn đức tin.

1. 2.Trong thể thao, dù thành tích thi đấu tập luyện cho khoẻ mạnh được đề cao khuyến khích, nhưng nguy cơ bị thương mại buôn bán hóa luôn là cám dỗ mạnh mẽ không chỉ nơi một cá nhân cầu thủ nào, mà còn toàn đội nữa.

Còn trong đời sống đạo giáo đức tin không có việc thi đua, không có sự việc buôn bán lợi nhuận trong đó. Cung cách tâm tình cách sống đạo đức chân thành với Thiên Chúa và tình thương yêu bác ái con người với nhau được khuyến khích đề cao.

1.3.Một đội banh thể thao trong thi đấu trên sân cỏ có thể thắng mà cũng có thể thua, về lâu dài đội banh có thể bị biến dạng và cũng có thể bị giải tán mất luôn.

Còn đức tin vào Thiên Chúa trong đạo giáo thì không như thế. Thiên Chúa hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một.

1.4. Môn thể thao bóng đá ngày nay thu hút hấp dẫn con người. Vì bộ môn này trở thành xem như một hình thức tôn giáo bị trần tục hóa, với hệ thống kinh doanh buôn bán lời lỗ, thành tích cá nhân được đề cao tuyên dương như những ngôi sao sáng chói.

Nhưng dẫu vậy, nó không thể nào thay thế hoặc trở thành tôn giáo được. Trận đấu thể thao, thắng thua, thành tìch cá nhân sẽ mau chóng qua đi rơi vào qúa khứ quên lãng, khi diễn biến thễ thao chấm dứt.

Trái lại đức tin tôn giáo cho tâm hồn con người luôn tồn tại có đó. Nó kéo dài suốt dọc đời sống con người. Cho dù Tôn giáo niềm tin không có sức thu hút mạnh mẽ như thể thao bóng đá.

1.5. Dẫu thế, kỷ luật luyện tập trong thể thao, không riêng gì ngành bóng đá, vẫn là điều đáng để ý học hỏi cho đời sống đức tin. Vì đời sống nhân bản hay đời sống đức tin vẫn luôn là một trường tập luyện cách sống đạo đức, cách sống nên người

Trong thể thao các cầu thủ hay học viên bắt buộc phải nghe tuân theo lời chỉ dẫn của huấn luyện viên mới có thể luyện tập nhuần nhuyễn thành thục cùng mong đạt được thành tích cao.

Trong đức tin đạo giáo, người tín hữu Chúa Kitô cũng cần phải lắng nghe giáo huấn của Chúa, của Giáo Hội. Trong việc gíao dục đào tạo ngay từ trong gia đình con cháu cũng phải lắng nghe lời cha mẹ chỉ bảo hướng dẫn.

1.6. Điều khác biệt là ngày nay trong đời sống đức tin và trong giáo dục đào tạo, càng có khuynh hướng không muốn nghe tuân theo người khác, chỉ muốn tự ý độc lập. Trái lại trong thể thao không có chuyện đó: lắng nghe tuân theo chỉ bảo tập luyện là tuyệt đối, là giới luật căn bản dẫn đến thành công.

Đức tin và đời sống luôn cần sự tương quan liên kết. Một mình, rất nhiều người không sao tìm đến con đường đức tin được. Họ cần đến Giáo Hội, đến người tín hữu cùng đồng hành hướng dẫn tới đức tin vào Chúa.

Thể thao là một nghệ thuật về cách sống cộng đồng xã hội nói lên điều này. Vì thể thao luyện tạo ra một liên đới tương quan thân xác và tinh thần cùng đồng nhất hòa nhịp với nhau.

2. Ước vọng sâu thẳm

2.1. Vượt qua cơm bánh

„ Trên nền tảng nào, môn chơi này có sức hấp dẫn, đến nỗi trở nên quan trọng bên cạnh cơm bánh như vậy?

Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời: tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.

Trong ý nghĩa này môn chơi cũng là một thể loại thử tìm trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.

Như thế, môn chơi đã vượt qua cuộc sống hằng ngày. Môn chơi trước hết, nhất là đem đến cho trẻ em, bạn trẻ một bộ mặt đức tính khác: Sự tập luyện bước vào đời sống. Nó vẽ nên dấu chỉ hình ảnh đời sống tự mình phát triển cung cách sống cởi mở tự do.

Với tôi, hấp lực của môn chơi Bóng đá nằm ở chỗ, nó liên kết cả hai khía cạnh này trong một hình thái có sức hấp dẫn thuyết phục.

Nó bó buộc con người, trước hết tự mình thuần thục hóa chính mình qua việc tập luyện để thắng chính mình, qua sự vượt trội có sẵn hay đạt được đưa đến tự do. Thể thao bóng đá cũng dậy cho biết sống chơi kỷ luật với nhau. Trong một đội banh bắt buộc phải khép mình từng cá nhân vào tập thể chung.

Môn thể thao bóng đá nối kết qua cùng chung đích điểm. Thành công hay không thành công của mỗi cá nhân nằm trong liên quan thành công hay không thành công của toàn đội banh.

Nó dậy cung cách chơi đấu thể thao cao thượng khi chống chọi nhau, qua việc tuân giữ luật lệ chơi chung. Có thế cả hai bên đội banh mới có tự do.

Trong khi theo dõi quan sát tranh tài trận bóng đá trên sân cỏ, khán gỉa tự đồng hóa mình với trận chơi và với các cầu thủ đang thi đấu; họ gần như tham dự hăng say tích cực với đội banh gà nhà và cả với đội đối thủ, với sự căng thẳng bó buộc và cả với tự do nữa.

Các cầu thủ chơi chạy trên sân cỏ trở thành hình ảnh biểu tượng của đời sống riêng họ, và tạo ảnh hưởng lại trên họ. Các cầu thủ biết rằng, những người đó tự vẽ nên hình ảnh mình qua các cầu thủ và tìm thấy được công nhận nơi họ.

Lẽ tất nhiên những điều này có thể trở nên bị tiêu hủy, bị làm cho ra xấu xa, khi yếu tố thương mại, tiền bạc chiếm ngự; khi môn chơi thể thao trở thành kỹ nghệ sản xuất, nó tạo ra một thế giới hào nhoáng hình ảnh không tốt đẹp.

Cho dù không tạo ra một thế giới hào nhoáng đầy hình ảnh, không có được lý do tích cực đi nữa trong môn chơi thể thao này: nó vẫn là phần tiền luyện tập thuộc về đời sống và sự bước qua của đời sống đi tìm phương hướng của một thiên đàng hạnh phúc đã bị mất.

Cả hai đều đi tìm kỷ luật của sự tự do, trong mối dây ràng buộc vào luật lệ với nhau, chống chọi lại nhau và của mỗi cá nhân.

Nên rất có thể, chúng ta trong suy nghĩ như thế, rút ra từ môn chơi thể thao bóng đá bài học mới cho đời sống. Nơi môn chơi thể thao này ta nhận ra một nền tảng căn bản: Con người sống không nguyên chỉ bằng cơm bánh thôi.

Vâng, thế giới cơm bánh thật ra chỉ là bước tiên khởi cho đời sống con người, cho một thế giớ tự do. Sự tự do sống còn phát triển qua luật lệ, qua thuần thục giáo dục. Nó dậy cách sống chơi chung và sống thế nào là một đối thủ đúng ngay chính trong cuộc chơi.

Cuộc chơi, đời sống, nếu chúng ta đi sâu vào, có thể hiện tượng của một thế giới hào hứng phấn khởi về bóng đá giúp ta nhận ra nhiều điều vượt xa hơn chỉ là một cuộc vui chơi giải trí.“ (Đức Hồng Y Joseph Ratzinger)

2.2. Đạt đến đời sống nhân bản

Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị, bây giờ là Vị Thánh trong Giáo Hội, đã có lần tâm tình cùng các cầu thủ đá banh:

„ Nghề nghiệp đá banh của các con đòi hỏi nhiều dấn thân hy sinh cùng sự luyện tập chuẩn bị. Những điều này thật đáng tuyên dương đánh gía cao. Cha khuyến khích cổ võ các con, cùng các bạn đồng nghiệp của các con, làm sao biến đổi chiến thắng vô địch quán quân trong thể thao thành chiến thắng vô địch quán quân (champion) trong đời sống; bằng cách tỏ cho con người thấy những gía trị tốt đẹp đó của môn thể thao giúp ích cho họ sống nhân bản xứng đáng con người hơn.“

****************

Trên cầu trường sân cỏ tinh thần dấn thân, sẵn sàng chơi đấu, cung cách đồng đội chơi chung của các cầu thủ, tinh thần thể thao thượng võ tình người giữa các cầu thủ (fairness), sự hào hứng phấn khởi của khán gỉa mộ điệu, là những gía trị tốt đẹp. Những gía trị cao đẹp này có thể từ sân cỏ gây suy nghĩ đi vào tận đời sống con người.

Thể thao bóng đá có thể trở thành một trường học tốt cho con người. Dẫu vậy, như mọi trường huấn luyện khác, trường học thể thao sẽ mất ý nghĩa mục đích của mình, nếu nó chỉ quy vào phục vụ cho riêng mình thôi.

Mùa Bóng đá Euro 2012

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ


 
Kính thưa Quý Vị,

Gần đây nhiều nhà trí thức cũng như một vài tổ chức văn học nghệ thuật đã lên tiếng kêu gọi rằng hoạt động văn hóa phải hoàn toàn tách khỏi môi trường chính trị. Vừa nghe qua thì đúng, là văn hóa phải vượt ra ngoài tất cả xung đột ý thức hệ. Nhưng để ý suy nghĩ, nếu chủ trương nầy xuất phát từ nhà nước Việt Nam thì đây chính là một âm mưu chính trị được đưa ra để ru ngủ cộng đồng người Việt hải ngoại không ngoài mục đích phục vụ chế độ mà nhiều diễn đàn, hội văn hóa thường lên tiếng cổ võ. Cộng sản Việt Nam ra lệnh cho các cơ sở thuộc các tổ chức văn hóa của Hà nội ở nước ngoài nhằm thi hành nghị quyết 36. Tuy nhiên trong đó có nhiều nhà trí thức, các hội đoàn văn hóa đã cố ý hoặc vô tình lên tiếng ủng hộ cổ võ và cho âm mưu ru ngủ người Việt tự do ở hải ngoại.

Tôi đồng ý rằng, nền văn hóa của một dân tộc phải vượt lên tất cả những vướng mắc nhất thời, nếu loay hoay vào những biến chuyển chính trị để tìm một hướng đi cho văn hóa thì có thể chúng ta đã bước ra ngoài mục tiêu tốt đẹp nhằm phục vụ con người. Nhưng đó chỉ là lý thuyết, dù trong thời bình và dưới ảnh hưởng tự do dân chủ của một quốc gia đã có sẵn nền tảng văn minh vững chắc, tôi nghĩ rằng đôi lúc cũng không thể tách chính trị và văn hóa ra làm hai lãnh vực riêng biệt. Huống gì so với hiện tình đặc biệt của chúng ta, một đất nước bị cai trị bởi Cộng sản và dân tộc bị phân hóa làm hai với hai nền văn hóa chống đối nhau thì vấn đề tách rời chính trị ra khỏi văn hóa không thể xảy ra.

Thật vậy, lãnh vực văn hóa và chính trị của một dân tộc bị phân hóa làm hai bởi một cuộc chiến tranh ý thức hệ không ranh giới - như trường hợp Việt Nam của chúng ta - thì hai lãnh vực nầy cần phải được kết hợp, dung hòa đồng thời bổ túc lẫn nhau để bảo vệ và phát triển nền văn hóa nhân bản hầu đưa đời sống con người đến Chân Thiện Mỹ.

Một câu hỏi: Vậy cần dựa vào chế độ chính trị để làm nền tảng phát triển văn hóa, hay, cần phải dùng văn hóa để cải tạo chế độ và xây dựng xã hội?
Câu hỏi có hai phần:

- Thứ nhất: Cộng sản Việt Nam đã dựa vào chính trị để phát triển nền văn hóa đỏ, nghĩa là cộng sản Việt Nam đã dùng bao tử, kẽm gai, súng đạn và nhà tù để áp đặt lên đầu lên cổ người dân Việt Nam một nền văn hóa phi dân tộc, phi gia đình, phi đạo lý nhằm nhồi sọ và biến con người thành những thiêu thân dốt nát và sa đọa…thì chỉ còn con đường ngoan ngoãn phục vụ chế độ để được no bao tử.
- Thứ hai: Cả dân tộc đã trên 60 năm bị cai trị bởi một chế độ tàn bạo, xã hội đảo lộn, đạo lý không còn, tình người thui chột và dân trí càng ngày càng mất thì cần phải tận dụng văn hóa để cải tạo chế độ và xây dựng xã hội hay không?
Tôi xin trả lời ngay : Đối với tình trạng đất nước chúng ta hiện nay, ngụy quyền Hà Nội đã dùng thủ đoạn chính trị để phát triển văn hóa đỏ hầu cai trị dân tộc Việt Nam, đây là một âm mưu thâm độc của cộng sản mà tất cả chúng ta đều thấy. Vấn đề thứ hai là chúng ta cần phải xử dụng văn hóa nhân bản để đánh đổ chế độ cộng sản và xây dựng lại xã hội là điều bắt buộc.

Như vậy, dù nói cách nào thì văn hóa và chính trị là hai hành động lúc nào cũng phải liên quan mật thiết với nhau. Đất lành sinh trái ngọt hoặc nói ngược lại, cây tốt khó mọc từ bùn dơ. Một chế độ chính trị tốt tự nhiên sẽ nẩy sinh một nền văn hóa tự do nhân bản và ngược lại một nền văn hóa nô bộc chắc chắn sẽ đưa chế độ càng ngày càng thêm độc tài thối nát. Do đó không thể kết luận rằng văn hóa phải tách khỏi ảnh hưởng chính trị.

Trước khi đề cập đến hai nền văn hóa riêng biệt cũng như hai khuynh hướng chính trị đối lập của cộng sản Việt Nam tại quốc nội cũng như người Việt Quốc Gia hải ngoại, xin quý vị đừng đơn giản hóa và đóng khung hai danh từ ‘văn hóa’ cũng như ‘chính trị’ trong một nghĩa hạn hẹp mà đề nghị có một quan niệm bao quát rộng lớn hơn.

Như vậy không thể hạn chế hoạt động văn hóa của một dân tộc hoàn toàn nằm trong phạm vi văn chương, ngôn ngữ và nghệ thuật mà cần phải đề cập đến những vấn đề khác như…từ tình yêu quê hương, lịch sử lập nước và giữ nước, truyền thống anh hùng, phong tục tập quán đến tôn giáo, y phục, ẩm thực. Cũng vậy, đối với hành động chính trị, không nên gò bó bằng những hình thức bên ngoài như hội họp, xuống đường, biểu tình, hội thảo hay đóng góp tiền bạc giúp quê nhà mà phải nghĩ đến mục đích tối hậu của những hành động trên là phải tạo một tinh thần yêu nước, thương đồng bào, hướng về tổ quốc và lo cho quê hương trong tương lai. Vậy để được khách quan cần nghiên cứu những chi tiết và nhiều lãnh vực khác nhau trong đường hướng phục vụ đời sống tinh thần lẫn vật chất của con người để những người làm chính trị có một lối nhìn bao quát hơn. Đối với hành động văn hóa, nhất là hoàn cảnh chúng ta hiện giờ, cũng cần phải nới rộng phạm vi hoạt động ra, song song với các chương trình tranh đấu, xây dựng, bảo vệ lý tưởng, sự toàn vẹn quê hương và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam để những suy nghĩ của người làm văn hóa khỏi bị lệch lạc.

Đề cập đến vấn đề văn hóa và chính trị của Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại, trước cũng như sau 1975 thì thật không đơn giản. Từ việc thay đổi chế độ và nền văn hóa đỏ được cộng sản áp đặt trong nước đến môi trường tự do Âu-Mỹ đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ văn hóa cổ truyền tại hải ngoại. Đây là những ưu tư của những người hằng quan tâm đến vận nước và gia tài văn hóa dân tộc.

Chúng ta không thể khách quan xem việc bảo tồn văn hóa Việt Nam một cách đơn giải như trong thời bình và dưới một chế độ tự do dân chủ, vì nền văn hóa của tổ tiên để lại đã bị đổi chiều trong quốc nội và đang bị phá sản tại hải ngoại. Do đó việc bảo tồn văn hóa của chúng ta không thuận buồm xuôi gió mà phải đương đầu trực diện với trước một cuộc chiến khốc liệt, không ranh giới, không quy ước. Đó là cuộc chiến ý thức hệ giữa Tự Do và Cộng Sản mà văn hóa của hai chế độ chính là vũ khí để đối đầu với nhau.

Nếu xét về lượng, trận chiến hiện nay giữa ta và địch không cân xứng cả chính trị lẫn văn hóa. Cộng sản đã dốc toàn lực của một kẻ liều mạng để ăn thua đủ trong giai đoạn quyết liệt một mất một còn với chúng ta. Hà Nội đã tung hết khả năng, từ vật lực đến nhân lực, đánh một lượt hai mặt chính trị lẫn văn hóa vào cộng đồng người Việt Quốc Gia. Cộng sản đã sử dụng môi trường văn hóa làm bàn đạp cho thế chính trị, hai mặt trận phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ với nhau. Nhưng nói về phẩm thì chúng ta vượt hẳn cộng sản, vì văn hóa chúng ta dựa trên nền tảng chính nghĩa, bắt nguồn từ tính nhân bản của con người và chúng ta xử dụng văn hóa để phục vụ con người từ tinh thần đến vật chất. Nhưng đáng tiếc là cộng đồng chúng ta ở trong thế bị động và chỉ biết chống đỡ, chắp vá đồng thời chỉ ra quân mỗi khi bị đánh thì dù phẩm tốt nhưng không tận dụng sẽ bị mai một. Lượng đã yếu mà còn bị một số ít nhà trí thức, nhiều tổ chức hải ngoại kêu gọi loại bỏ yếu tố chính trị ra ngoài việc phát triển và bảo tồn văn hóa, như vậy là chúng ta đang bị những thành phần đón gió cò mồi lừa vào con đường hỏa mù mà cộng sản đã giương ra. Nếu chúng ta thiếu lý tưởng, không có tinh thần để chống đỡ, để bảo tồn và phát triển văn hóa cổ truyền dân tộc Việt Nam trước mà đợi chuyện xảy ra rồi mới tìm cách chống đỡ thì xem như chưa đánh đã thua!
Trước một đối thủ dư thừa nhân-vật-lực cộng thêm những thủ đoạn tráo trở gian manh, nếu chúng ta ít phương tiện, thiếu sáng suốt lại không đề phòng thì chắc chắn chúng ta sẽ đi vào con đường hỏa mù và là kẻ chiến bại trên mặt trận văn hóa.

Hoạt động văn hóa không thể thuần túy và đơn giản như kêu gọi giới trẻ theo lớp học tiếng Việt, nghe một buổi thuyềt trình hay đọc vài cuốn sách là xong việc bảo tồn và phát triển văn hóa như chương trình của một vài tổ chức đề ra. Nếu chỉ có thế thì không khác gì chúng ta mời giới trẻ đến xem một cuộc triển lãm, nghe một chương trình ca nhạc xong rồi ai về nhà nấy, và, như vậy làm văn hóa trong tình hình chính trị hiện nay sẽ không đi đến đâu. Điều quan trọng là phải biết tạo cho mọi người, nhất là thành phần trẻ có một tinh thần yêu nước, biết đâu là nguồn gốc dân tộc, đâu là lịch sử oai hùng, đâu là di sản của tổ tiên. Phải làm thế nào cho thế hệ trẻ hiểu được nỗi khổ tâm kẻ ra đi cũng như cảm thông thân phận của người ở lại, phải biết đâu là gian tà, đâu và chính nghĩa và đâu là con đường phải chọn để giữ được bản chất của một người Việt Nam lưu vong hầu mai kia còn quay về phục vụ dân tộc và đất nước.

Vậy, trước các chương trình đầu độc ru ngủ qua văn hóa của Cộng sản, chúng ta cũng phải mượn con đường chính trị để phát huy tính chất nhân bản chống lại văn hóa vô sản, dùng tôn giáo đối đầu văn hóa vô thần và lấy tình người để cải tạo văn hóa loài thú!

Trong lúc địch ru ngủ chúng ta bằng văn hóa đỏ mà những người trong cộng đồng làm văn hóa bằng hình thức thụ động, chống đỡ hoặc chạy theo chiêu bài ‘loại chính trị ra khỏi văn hóa’, thì chúng ta đã thấy trước mắt: Cộng sản đã nắm thế thượng phong và chúng ta chỉ là những người chạy theo phản đối và hành động chắp vá cho thấy những hậu quả không tốt đã xảy ra. Một điều thiết yếu là trong hoàn cảnh hiện tại chúng ta không thể tách rời ‘chiến tranh văn hóa’ ra khỏi ‘chiến tranh chính trị’. Hai mặt trận phải song song hổ trợ lẫn nhau để đối đầu với âm mưu của Cộng sản. Xin nhớ rằng, chúng ta đang ở trong cuộc chiến của hai nền văn hóa nhân bản và văn hóa vô sản mà kẻ thù với khả năng dư thừa có sẵn đang lấn áp chúng ta trên mọi lãnh vực. Nếu những nhà làm văn hóa không tiếp tay với Cộng đồng Người Việt Quốc Gia thì đừng lên tiếng đòi hỏi loại bỏ yếu tố chính trị ra ngoài vòng chiến, vì thái độ và hành động nầy không khác gì việc nối giáo cho giặc, phá hoại công cuộc tranh đấu chung của toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay.

Xin Ơn Trên và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ cho Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam.
Đinh Lâm Thanh

Nguyên Nhân Tục Đốt Vàng Mã.

Ảnh: IE. 
Việc đốt vàng mã trong nhà Phật là không có, 
nhưng trong tín ngưỡng dân gian thì có.Ảnh: IE.
đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, tục đốt vàng mã cũng vậy.
Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng: tục chôn người chết của người Trung Hoa về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh phần mộ gì cả. Đến đời vua Hoàng đế (267 tr. TL) cho rằng: con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng đế, đến đời Đường Ngu, tục lệ chôn cất người chết chỉ có thế.
Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 tr. TL), người Trung Hoa mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v... để chôn theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy. Đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất nhiên phải có kẻ hầu hạ người chết, thế là người ta lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết. Đến đời nhà Ân (1765 tr.TL), lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa, họ dùng toàn đồ thật chôn theo.
 
Đến đời nhà Chu (1122 tr.TL), người Trung Hoa đã bắt đầu văn minh hơn; cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, người chết đối với người chết, đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc thực hiện lễ nghi chôn cất. Từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để chôn theo các vua chúa đã chết; còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc nhất một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng lễ nghi ngang với người sang, tức khắc phải tội "tiếm lễ".
 
Không những thế, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những "tuẫn táng"; nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý của người chết khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết. Sách Tả Truyện chép: "Đời vua Văn Công thứ sáu, vua Trần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai. Trong thơ đại ý nói: Ba anh em họ Tứ xa đều là những người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay".
 
Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ Sô Linh, sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ "Mộc ngẫu" như trước. Sách Trang Tử chép: "Vua Mục vương nhà Chu (1001 tr. TL) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền than rằng: Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân. Thầy Mạnh Tử cũng đau buồn với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu rằng: Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự".Đến thời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động với lời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng, Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ "tuẫn táng", không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để ấp mộ. Còn các thức đồ ăn mặc... của người chết kia, khi còn sống dùng những thứ gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quang phần mộ.
 
Từ đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy cỏ cây dó và vải rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo v.v... đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám cương mục chép: "Vì vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hàng thủy tổ nghề vàng mã được".
Trong Phật giáo, đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Thế thì tại sao ngày rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo, mà một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên?
 
Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy là thế này: Vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.
 
Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới Tăng sĩ Phật giáo công kích bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày 15/7 không còn có chính nghĩa nữa. Phần lớn dân chúng Trung Hoa hồi đó đã tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.
 
Thất nghiệp, Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với gia nhân và họ hàng của ông, đem cả hàng ngàn thứ đồ mã trong đó có cả hình nhân thế mệnh ra cúng người chết. Họ bày đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. "Chà! Chà! Phép quỷ thần mầu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ!" - khi mọi người đương suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên.
Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài. Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ lù dù, trông trước, trông sau, mới bước từ quan tài ra, với một điệu bộ như người chết đi sống lại, rồi thuật lại chuyện với công chúng rằng: "Các thần thánh trong tam, tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mệnh cho tôi, với tiền bạc và đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế". Công chúng lúc đó ai cũng tưởng thật, cho rằng hình nhân có thể thế mệnh được và thành thần trong tam, tứ phủ cùng ăn lễ đồ mã, tăng phúc, giảm tội và cho tăng thêm tuổi thọ. Từ đấy các nghề hàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng vì không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã, mà đến cả thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ cũng tiêu dùng đồ, thì nhiên là vàng mã phải đắt hàng. Chuyện này còn chép rõ ràng ở sách Trực Ngôn Cảnh Giáo.
 
Như thế, chúng ta nên thẳng thắng nhìn nhận rằng: "Bịa đặt ra tục mê tín, dị đoan, làm hình nhân thế mạng vào lễ tam, tứ phủ để đầu độc mê tín đến ngày nay là bắt đầu từ người Vương Luân. Người Trung Hoa đã bị cái bả mê tín vàng mã do Vương Luân đầu độc đến nay đã được 1847 năm (1052-1952). Dân tộc Việt Nam chúng ta mê tín cũng chẳng kém thế, nhưng vì trước đây, chúng ta bị họ đô hộ hơn 1.000 năm. Phong tục của người họ như thế nào, người mình cũng dập theo đúng khuôn khổ như vậy, bất luận hay, dở, phải, trái, tà, chính. Đó là do cái tính cẩu thả, phụ họa của người mình.
 
Nếu chúng ta đã thừa nhận tinh thần của dân tộc Việt Nam đều nhờ Phật giáo và Nho giáo đào tạo nên, vậy thì xin hỏi giới trí thức Việt Nam: hiện tại có ai tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào? Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, một lần tôi xin thiết tha yêu cầu người Việt Nam ta bỏ tục vàng mã đi, và khuyên mọi người cùng bỏ tục ấy. Chúng ta cùng nhau triệt để bài trừ mê tín đốt vàng mã, quyết nhiên giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến quốc vậy.

 Cố HT. Thích Tố Liên
 

Người Bán Dâm và Còn Kẻ Mua Dâm :Tội Nào Nặng Nhất?

Cái dâm ai bán mà mua

Bằng hành vi mua dâm cao cấp, những kẻ dâm ô đã tước đoạt, huỷ hoại niềm vui của công chúng lành mạnh về cái đẹp và người đẹp.
Hoạt động mại dâm là hoạt động bị toàn xã hội lên án, và không chỉ ở trên lãnh thổ một quốc gia mà còn trên hầu hết các nước trên thế giới. Người ta bảo mua bán dâm là vi phạm thuần phong mỹ tục, là vi phạm đạo đức, phẩm chất con người nên nó đáng bị lên án. Liệu đó có phải bản chất của sự việc này hay không?
 (Nguồn ảnh: Internet)
Thuần phong mỹ tục và cả quan niệm về đạo đức, phẩm chất là một phạm trù mang tính lịch sử riêng biệt của mỗi vùng. Rõ ràng, cùng một hành động ở Việt Nam ngày xưa có thể sẽ bị đánh giá như thế này, nhưng tại thời điểm hiện tại sẽ có cách nhìn khác, và dưới con mắt của những người nước ngoài lại càng không đồng nhất. Ví dụ như ở Thái Lan, hoạt động mại dâm được coi như một nghề nghiệp. Một nghề nghiệp thì không phân biệt giữa kinh doanh xác thịt và buôn bán tôm cá. Người ta ưa thích kinh doanh xác thịt hơn tôm cá, vì tôm cá thì phải bỏ tiền để mua nguyên liệu, còn con người thì chỉ dùng sức lao động thôi. Điều này theo như Kinh tế học thì sẽ tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối cho nhà tư bản – người bán dâm. Đấy là khi đặt vấn đề dưới ánh mắt khô khan thuần kinh tế. Ngoài ra, hiện nay vẫn còn có một số phong tục khác ở vài quốc gia, bộ tộc trên thế giới cũng thể hiện rằng chúng ta không thể đưa ra một chuẩn mực chung về thuần phong mỹ tục, về đạo đức, phẩm chất được. Ví dụ như một số bộ tộc của các quốc gia Nam Mỹ như Venezuela, Brazil, Bolivia... cho phép một cặp vợ chồng có quyền quan hệ tình dục với anh chị em ruột thịt của bạn đời. Điều này đồng nghĩa với việc là người chồng có thể công khai quan hệ tình dục với chị, em gái của vợ,… Trong khi đó, người vợ lại có thể quan hệ với anh, em trai của người chồng. Hoặc đối với đàn ông Uruguay thì phải tuyệt đối kiêng kị chuyện chung đụng trong những ngày kinh nguyệt của vợ. Nếu phạm phải luật cấm này (tất nhiên là chính quyền chỉ có thể biết khi người vợ báo cáo), người chồng sẽ phải ngồi tù. Tuy nhiên, bù lại, người đàn ông lại có quyền giải quyết nhu cầu sinh lý bằng cách tìm tới các cô gái ở các nhà chứa nhưng không được quá 20 lần trong một tuần…
(Nguồn ảnh: Internet)
Và tất nhiên, không ai đứng ra xét đoán quan niệm ở nơi nào là đúng, ở nơi nào là sai. Vì không ai có quyền như vậy. Nhưng hầu hết người dân tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới đều có ánh nhìn không mấy thiện cảm đối với hoạt động mại dâm. Và thậm chí còn họ đưa ra những bộ luật nghiêm khắc để ngăn cấm nó. Phải chăng bởi hệ thống giáo dục chung của con người từ xưa đến nay đã tạo ra nếp hằn đó trong suy nghĩ.
Dâm là bản tính tự nhiên của con người. Tạo hóa – tự nhiên đã tạo ra điều đó để đảm bảo việc duy trì nòi giống, cũng giống như việc duy trì nòi giống của con dê. Bản chất của dâm tính tự nhiên là như vậy. Nhưng con người, từ thủa khai sinh, từ thủa biết đi trên hai chân, biết suy nghĩ đã tạo ra được một kỳ tích vượt trội mà không một chủng loài nào có được. Đó là cảm xúc. Một hệ thống cảm xúc với muôn vàn cung bậc phức tạp, đan xen vào nhau. Biết yêu, biết ngượng ngùng, biết tôn sùng, biết đắm say, biết đau khổ… Trong quá trình phát triển cảm xúc này, con người đã xây dựng được phần “người” tách bạch hẳn với phần “con” và tạo lập cho mình một vị thế đứng trên tất cả các loài vật còn lại trên trái đất, chế ngự cả tự nhiên. Tình dục từ nghĩa quan hệ duy trì nòi giống đơn thuần được nâng lên thành nghệ thuật giữa những cảm xúc đồng điệu. Khi con người không còn nhận thức được điều này nữa, thì tức là con người đang suy thoái. Các nhà giáo dục học từ xưa hiểu được điều này, nên cố gắng ngăn cấm bằng vô số lớp quần áo hoặc những luật lệ hà khắc. Dần dần tạo thành nếp suy nghĩ rằng “không được như thế”, “điều đó là không hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục”. Kỳ thực đạo đức, thuần phong mỹ tục chỉ là cái mà con người tự đặt ra để ngăn cản sự suy thoái trong đầu óc vượt trội của mình. Nhưng như triết học  đã chỉ rõ, cái gì phát triển đến đỉnh cao rồi cũng sẽ suy tàn. Dấu ấn suy tàn đầu tiên của con người không thể hiện ở sự yếu ớt về thể chất mà thể hiện trong sự suy đồi về đầu óc. Những cố gắng của nền giáo dục chỉ để lại nếp hằn trong suy nghĩ chứ không để lại sự hiểu biết thấu đáo, nếp hằn đó đóng vai trò là bờ đê ngăn cản giữ phần “người” với phần “con” man dại. Và một khi lớp hằn đó bị mờ đi thì con người sẽ trượt dốc không phanh trở lại với cái bản ngã tự nhiên của loài vật.
Đó là nguồn gốc sâu xa nhất về sự lên án của nhân loại đối với hoạt động mua bán dâm, chính bởi sự lo sợ về một tương lai diệt vong không xa của loài người.
(Nguồn ảnh: Internet)
Dâm là tại tâm tính con người ham mê sắc dục.
Nói là mua dâm, nhưng thật ngược đời, khi có dâm thì mới đi mua dâm, đúng ra là mua cái để thỏa mãn dâm tính. Nói là bán dâm nhưng kỳ thực chỉ là bán cái để thỏa mãn dâm tính mà thôi.
Vậy mua và bán dâm xét đơn thuần chỉ là nơi cầu và cung gặp nhau. Và theo quy luật của thị trường, có cầu ắt có cung. Không một loại hàng hóa hay dịch vụ nào có thể tồn tại được nếu như người ta không cần. Quan điểm Marketing hiện đại cũng chỉ rõ rằng: “bán cái mà người ta cần, chứ không bán cái mà mình có”.
Vậy khởi nguồn của hoạt động mại dâm chính là từ người mua. Tuy nhiên, trong thực tế, người bán dâm vẫn là những người chịu hình phạt chính trước pháp luật, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, chưa kể đến những kỳ thị, ghẻ lạnh của xã hội gây tổn hại rất lớn về tinh thần. Trong khi đó người mua dâm chỉ bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền. Điều nực cười là hoạt động này chỉ diễn ra khi có lòng dâm của người mua, nhưng chính người mua lại là những kẻ khinh thường người bán nhất.
Người bán dâm có năm bảy đường. Có người cũng vì bất đắc dĩ, bán mình chuộc cha như nàng Kiều trong truyện Nguyễn Du. Cũng có người vì ham muốn vật chất, chỉ đơn thuần để mua một đôi giày, một bộ đồ hàng hiệu như các “nàng kiều” thời nay. Còn người mua dâm, thì chỉ có một dạng.
Người bán dâm thì bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm, còn kẻ mua dâm thì ai sẽ chữa cho hết lòng tà?

Nguyễn Tấn Dũng: THAM NHŨNG LÀ BẨM SINH

THAM NHŨNG LÀ BẨM SINH    

 
Trong Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa XI được tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 5 vừa qua, Nguyễn Phú Trọng nói chính yếu về vấn đề tham nhũng. Đó cũng chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Ban chấp hành Trung ương đảng thảo luận trong suốt cuộc hội nghị kéo dài đến chín ngày. Trước đây, nhiệm vụ Phòng chống Tham nhũng được giao cho Nguyễn Tấn Dũng (Nhà Nước), nay việc đó được chuyển về chính Bộ Chính trị (Đảng). Khi nói đến việc chống Tham nhũng thì cả người trách nhiệm Đảng cũng như Nhà Nước đều lấy “Tinh thần Cách Mạng “ làm phương tiện để diệt Tham nhũng. Nhìn như vậy thì việc chống Tham nhũng không đi vào thực tế của vấn đề. Thực vậy, “Tinh thần Cách Mạng“ đã chết nghoẻo từ lâu rồi. Đảng (Bộ Chính trị) và Nhà nước (Nguyễn Tấn Dũng), từ thằng trên xuống thằng dưới đều THAM NHŨNG, thì làm thế nào đứng giữ trách nhiệm Phòng Chống Tham nhũng được. Đừng nói đùa để bịp bợm. Hãy vào sự thực căn gnuyên của THAM NHŨNG.  

  Nhân chi sơ, Tính tham lam   

 Năm 1964, cách đây gần nửa Thế kỷ, tôi bắt đầu hội nhập đời sống Chính trị Sinh viên tại Sài gòn, chống lại HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC của Bác sĩ Lê Khắc Quyến khởi xướng từ Huế tràn vào Miền Nam. Một Vị lão luyện trong Chính trường đã khuyên tôi: “Khi cậu hoạt động Chính trị, thì phải tránh hai điều: (i) đừng động chạm đến những vấn đề lăng nhăng đàn bà con gái; (ii) đừng liên hệ đến những điều không sáng tỏ về tiền bạc. Khi tránh được hai vấn đề ấy thì quần chúng sẽ tha thứ, cho dù cậu có dốt về Chính trị “. Ngày nay, suy nghĩ về hai vấn đề này, tôi thấy đây là hai vấn đề thuộc về thể xác từ khi chào đời, nghĩa là thuộc bẩm sinh. Có thể nói là “Nhân chi sơ, tính Dâm dục và Tham lam !”. Cuộc sống thân xác của một con người mang hai tính đó. Freud đã khẳng định rằng mọi hành động của một con người có thể cắt nghĩa từ tính Dâm dục. Tính Dâm dục là sự thỏa mãn thân xác cho xung động ham thích. Còn tính Tham lam của cải vật chất là để trước hết bảo toàn sự sống còn thân xác. Hai tính đó có ngay từ lúc con người mới sinh ra va mang cái xác con người. Khi lớn lên với Giáo dục, từ Văn Hóa đến Tôn Giáo, người ta dậy cho những GIÁ TRỊ thuộc phạm vi Tinh thần nhằm kềm chế hai cái Tính bẩm sinh thuộc Thân xác là Dâm dục và Tham lam vật chất. Vì vậy khi một đảng viên Cộng sản không còn Tinh thần Tôn Giáo, Văn hóa hay Cách Mạng, thì không còn phương tiện kềm chế hai tính bẩm sinh Dâm dục và Tham lam vật chất. Phòng chống Tham nhũng được trách nhiệm bởi Nhà Nước (Nguyễn Tấn Dũng) hay bởi Đảng (Nguyễn Phú Trọng), rồi cả hai lấy “Tinh thần Cách Mạng “ ra để chống, thì đều là chuyện mây gió bịp bợm.   

 Phải diệt cái Hoàn Cảnh làm Phát sinh và Lan tràn Tính Dân dục và tính Tham lam   

  Hai cái Tính Dâm dục và Tham lam vật chất thuộc bẩm sinh con người, thì ở Xã hội nào cũng có giống nhau. Điều hệ trọng là Tổ chức Xã hội khả dĩ ngăn chặn sự phát sinh và triển nở hai cái Tính bẩm sinh ấy. Chúng tôi xin kể ra đây một vài tỉ dụ cho thấy rằng phải diệt cái HOÀN CẢNH làm nẩy sinh và phát triển tính Dân dục và tính Tham lam, chứ không phải diệt hai Tính bẩm sinh ấy. Tỉ dụ thứ nhất về Tính dâm dục. Chúng tôi còn nhớ lại rằng khi sống tu trì trong Chủng viện, mỗi lần gặp khách đến thăm, nhất là phái nữ, thì phải gặp ở Phòng Khách mở cửa sổ quang đãng, mọi người có thể nhìn thấy. Thực vậy, cho dù một Thánh nhân, đã trải qua nhiều năm “diệt dục“, nhưng khi Thánh nhân bị nhốt trong phòng tối cùng với một mỹ nhân, không ai nhìn thấy, thì có ngày lòng Dục bẩm sinh nổi lên và Thánh nhân có thể hú hí với mỹ nhân. Tỉ dụ thứ hai về Tính Tham lam vật chất. Một người được giáo dục và thực hành Công lý nhiều năm. Nếu lúc này cho người đó Quyền hành độc đoán sinh sát người khác và đặt bên cạnh người ấy một đống vàng, thì có lúc người đó cũng lượm mấy thỏi vàng vào túi làm của riêng bảo đảm cho cuộc sống thân xác của mình. Nếu ai nghi ngờ, thì người có quyền và đã biển thủ vàng sẽ dùng quyền độc tài mà bịt miệng kẻ khác. Điều quan trọng là đã tạo cho con người biển thủ trên đây cái HOÀN CẢNH vừa có quyền độc tài, vừa ngồi bên cạnh đống vàng. Xin nhắc lại rằng ở thời Mao Trạch Đông, quyền độc tài còn mạnh hơn thời nay, nhưng THAM NHŨNG ít hơn vì thời Mao Trạch Đông, không có đống vàng ở bên cạnh mà biển thủ, chứ không phải thời Mao Trạnh Đông được giáo dục về Công lý kỹ càng hơn.   

Dứt bỏ Cơ chế CSVN là diệt HOÀN CẢNH làm nẩy sinh và phát triển THAM NHŨNG    

Cơ chế CSVN chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Đó là HOÀN CẢNH làm nẩy sinh tham nhũng, lãng phí. Không cần phải đưa Phòng chống tham nhũng từ Nguyễn Tấn Dũng về cho Nguyễn Phú Trọng. Cả hai đều không chống nổi tính Tham lam bẩm sinh tự con người, mà PHẢI TÁCH RỜI ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ RA KHỎI ĐỘC QUYỀN KINH TẾ thì mới có thể kềm chế được THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ. Nó giống như việc đừng nhốt chung trong Phòng tối một Thánh nhân và một Mỹ nhân, cũng như đừng cho một nhà Độc tài quyền hành Chính trị có toàn quyền về đống Vàng ở bên cạnh. Chống THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ không phải là diệt tính bẩm sinh THAM LAM VẬT CHẤT của cá nhân, mà là diệt cái HOÀN CẢNH làm phát sinh và tràn lan tinh THAM LAM. Bãi phân là HOÀN CẢNH để nẩy sinh và lan tràn giòi bọ. Giao bãi phân cho Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Tấn Dũng săn sóc, thì bãi phân vẫn là bãi phân, nghĩa là vẫn một HOÀN CẢNH, mà giòi bọ vẫn nhung nhúc. Phải HỐT ĐI BÃI PHÂN, thì giòi bọ mới hết chỗ (HOÀN CẢNH) nẩy sinh và lan tràn vậy.  

  Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN,
 Kinh tế Geneva, 07.06.2012 

http://VietTUDAN.net

--------
 
DÂN OAN CHỬI
BỐ CON NGUYỄN TẤN DŨNG
 
Dân Oan Hưng Yên
 
« Bố thằng chết đâm, cha con chết xỉa kia! Mày day tay mặt, mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây nhà đất. Này bà bảo cho mày biết: Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn. »
 
« Nhà đất nó ở với bà là nhà đất hiền lành. Nó bị cưỡng chế cướp giật về nhà mày thì sẽ sinh ra những con cú, con cáo, con nanh mỏ đỏ, chúng sẽ mổ mắt, xé xác ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái nhà mày đấy, ngay cả gia đình thông gia bên Mỹ! »
 
« Cha tiên nhân ông nội, ông ngoại, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhá! Mày gian tham đã ăn cướp nhà đất của bà. Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau, chết sớm, chết trẻ, đẻ ngang nhá. «
 
« Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng làng chôn đấy. »
 
« Mày có khôn hồn, mang trả ngay nhà đất đó cho bà, kẻo không bà đào mồ, quật mả cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỉ, thúc, bá, đệ, huynh, cô, dì, tỷ, muội nhà mày !!!". »
 
Dân Oan Hưng Yên
Theo Báo QĐND - 

Bài Xem Nhiều