We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 16 June 2012

Chủ Đề 19.6: Tấm thẻ bài


Mười hai năm rồi em không gặp anh và sẽ không bao giờ gặp được anh nữa vì anh đã bỏ mình trong trại cải tạo đã sáu năm qua.

Sáng nay nhận được thơ bạn anh từ Quê Hương gởi sang, nói đã làm xong nhiệm vụ em nhờ, đã đưa được hài cốt của anh từ Vĩnh Phú về Huế, nơi anh đã sinh ra, đã lớn lên, nơi chúng mình đã gặp nhau và thề nguyền sẽ yêu nhau mãi mãi, em buồn vui lẫn lộn.


Anh ơi, em vui vì biết anh đã về lại được Quê Hương nhưng em xót xa khi đọc đến đoạn bạn anh viết về những gian nan phải vượt qua khi đi tìm mộ anh, vì tất cả chỉ là núi rừng hoang dại, mổi người tù chết đi chỉ được vùi sơ với miếng đá nhỏ ghi tên họ và ngày lìa đời cắm trên nấm mộ thấp. Đau đớn nhất cho em là khi đọc đến đoạn bạn anh kể xác thân đã rã mục của anh vẫn còn được bao trong chiếc áo len em tặng anh ngày xưa, chiếc mền dù bao phủ thân anh vẩn còn nguyên nhưng nơi xương cổ anh có mang thêm sợi xích nhỏ với tầm thẻ bài bằng nhôm ghi rõ tên họ và lý do bị quản thúc là "phản quốc"!


Anh ơi, đã chết rồi mà thân thể còn mang nặng nhục nhằn. Có chế độ nào dã man hơn chế độ Việt Nam ngày nay ?


Vậy mà ngày xưa anh đã hãnh diện biết bao về Quê Hương,Tổ Quốc của mình. Thật ra thì Quê hương vẫn còn đó, hai tiếng Việt Nam vẩn sống trong tim cả triệu người Việt xa xứ, nhưng với người ở lại, người đang trả nợ máu, người đã chết vùi thây trong núi rừng thì hai tiếng Việt Nam đè nặng tâm hồn.


Hôm nay đọc thơ bạn anh, nhớ lại đoạn đường đã qua của mình, sao lòng em thật nhiều đau xót. Năm nay mùa Xuân đến chậm vì mùa Đông không muốn đi, đã tháng ba tháng tư mà khí hậu vẩn còn lạnh, nhưng cái lạnh ngoài trời có thấm chi với cái lạnh, cái buồn của người Việt ly hương, mổi năm khi tháng tư về ?


Sáng nay em nhớ anh,em nhớ anh thật nhiều. Tháng tư làm em mất anh, giờ tháng tư lại trở về, trên tay em cầm tấm thẻ bài có ghi tên họ và lý do hai đứa mình xa nhau. Đau đớn quá anh nhỉ, hai tiếng "Phản Quốc" như muôn ngàn lưởi dao đâm vào tim em.


Em nhớ ngày nào, mổi lần đi hành quân về, anh đến thăm em, mắt môi rạng rỡ. Mổi lần được huy chương là một ngày vui của hai đứa mình. Anh đến khoe với em và hai đứa lại ra Đập Đá nhìn trăng, nghe tiếng sáo diều lơ lửng trên không, anh mỉm cười hãnh diện vì sự thanh bình của Quê Hương, cái thanh bình mà anh đã đem mạng sống ra để bảo vệ. Các huy chương đó ngày nay lại là bản án tử hình của các anh.


Tháng tư là mùa Xuân phải không anh ? Mùa Xuân ở đây cũng như mùa Xuân của Huế xưa. Nhà nào cũng có một vài khóm hồng đang e ấp nở, nhà em lại có thêm cây anh đào đang rực đỏ với nằng Xuân. Quê Hương người đẹp quá, nhưng sao lòng em vẩn thấy mất mát ngậm ngùi.


Em đang ngồi yên với tấm thẻ bài nhục nhã đau thương đã ôm ấp thân xác anh trong sáu năm qua dưới lòng huyệt lạnh, và em đang thả hồn về ngày hai đứa mình còn nhau. Tiếng đàn réo rắt ma quái, quyến rủ dị thường của người nhạc sĩ vô danh trong "Ru khúc mộng thường" đưa em về lại những ngày xưa cũ, những êm đềm của một mùa trăng xưa.


Ở đây không có tiếng sáo diều lơ lững trên không, cũng không có những nữ sinh áo trắng mổi sáng từ Vĩ Dạ đi ngang qua Đập Đá để đến trường nhưng tiếng đàn của người nghệ sĩ tài hoa kia đã đưa em về lại Quê Hương, có trăng sáng, có trời xanh, có mộng ước bình thường. Không hiểu sao sáng nay tiếng đàn ma quái đó ám ảnh em, phải chi tất cả mọi người trên trái đất này đều yêu thơ, yêu nhạc thì ngày nay mình đâu có mất nhau, anh chết sáu năm đâu phải mang thêm tấm thẻ bài nhục nhã.


Với tiếng Tây ban cầm độc tấu cô đơn nhưng đầy ắp tâm sự, em chắc người nhạc sĩ có cái tên cũng lạ như tiếng đàn phải có một nội tâm thật đẹp, một tâm sự thật buồn. Tên ông ta là "Vô Thường". Phải rồi anh nhỉ, tất cả chỉ là hư vô, tất cả chỉ là bình thường, chỉ có tình người, tình Quê Hương là vĩnh cửu.


Nếu tiếng đàn của người Tây ban Nha mang âm điệu hoang dại của một dân tộc nồng nàn ham sống, thì tiếng tây ban cầm của Vô Thường mang âm giai của một người lạc lõng, một kẻ du mục, một kẻ đang đi tìm miền đất hứa. Tiếng đàn khi thổn thức, khi vỗ về, khi chia xẻ thương đau, tiếng đàn mang dư âm của tiếc thương nhung nhớ, của tình yêu đã có và đã bay xa, của Quê Hương hiện hữu nhưng quá tầm tay với, của những mộng ước bình thường nhưng đã vời vợi xa bay.


Anh ơi, tiếng đàn ray rứt của người nhạc sĩ vô danh kia đã cho em ý thức được sự mất mát lớn lao của đời em, tấm thẻ bài nhục nhã trong tay em đã nói lên sự uất hận ngàn đời của người dân Việt phải xa lìa tổ quốc thân yêu.


Quê Hương vẫn còn đó nhưng đã nhuộm màu, thành phố Huế của chúng mình còn đó nhưng đã đổ nát quạnh hiu. Nếu biết không có ngày trở lại, thì ngày xưa em đã rủ anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đã yêu thương tâm sự với anh nhiều hơn. Quê Hương người tuy đẹp tuy giàu nhưng vẩn thiếu cái đậm đà giữa những người cùng huyết thống, thiếu khói lam chiều trên mái tranh xa, thiếu tiếng sáo diều lơ lửng đêm trăng, thiếu tiếng hò mái đẩy, thiếu tiếng rao hàng trên sông vắng mổi đêm khi khuya về sáng. Giờ chỉ còn lại đây tấm thẻ bài nhục nhằn của anh, của những người ngày xưa đã lấy "Tổ Quốc" làm lẽ sống và giờ đã chết vùi thây khắp các núi rừng gần trại tập trung với hai chữ "Phản Quốc" đè nặng linh hồn.


Quê Hương! Quê Hương! Em đang nhớ nhung hay đang thù hận đây ? Xưa em hãnh diện về Quê Hương gấm vóc bao nhiêu thì giờ nhìn tấm thẻ bài khốn khổ với hai chữ "Phản Quốc" em lại thù ghét Quê Hương bấy nhiêu.


Hãy trả lại cho em Quê Hương ngày cũ, ngày nào còn lũ giặc đỏ, còn hai chữ "Phản Quốc" trên cổ các người ngã ngựa thì ngày đó em còn xa lìa Quê Hương.


Lạy trời cho con giấc mộng bình thường, cho còn tìm lại được quê xưa, ngày còn lá me bay, còn sân cỏ mướt chứ không phải như bây giờ, sân cỏ làm nông trường, sức người thay máy móc, nhiên liệu, trâu bò.



Em sẽ thay anh mang tấm thẻ bài vào cổ, em sẽ mang nó với niềm hãnh diện vô biên của một người đã có người yêu suốt đời hy sinh cho lý tưởng, em cũng mang nó để nhắc nhở những người xa xứ hãy hướng về Quê Hương ngục tù khốn khổ mà làm một cái gì để thắp sáng ngày về.

Thật ra thì đã mười hai năm qua, lòng người đã có phần nào thay đổi. Tháng Tư vẫn mang đến ngậm ngùi, thương tiếc nhưng rồi cuộc sống chạy theo đồng hồ, những nhu cầu cấp bách hàng ngày đã làm tâm hồn nhụt dần chí khí. Phải chi những tấm thẻ bài có ghi hai chữ "Phản Quốc" của các anh hùng đã hy sinh cho đất nước được gởi qua cho mổi người xa xứ thì ngày về của kẻ ly hương chắc sẽ gần hơn.


Trong tận cùng linh hồn, em chắc người dân nào khi xa quê cũng hoài vọng một ngày về, và dù có mất gốc đến đâu thì cũng có một giờ phút trong đời mơ ước về lại quê xưa, thăm lại ngôi nhà cũ.


Anh ơi, giờ em mới hiểu nỗi xúc động tận cùng của bà giáo sư người Pháp dạy em năm em học lớp sáu. Bà đã khóc khi hát cho chúng em nghe một bài nói về thành phố nơi bà đã sinh ra, bài hát lời lẽ thật đơn sơ mộc mạc nhưng sao người nghe thấy ngậm ngùi thổn thức. Bài hát chỉ có thế này:


Quand tout renaît à l’espérance
Et que l’hiver fut loin de nous
Quand la nature est reverdie
Quand l’hirondelle est de retour
J’aime à revoir ma Normandie
C’est le pays qui m’a donné le jour
Em tạm dịch là :

Khi nào hy vọng trở về
Và khi mùa Đông đã đi xa
Khi thiên nhiên trở lại xanh thẳm
Khi chim én trở về cùng ta
Tôi mơ ước nhìn lại Normandie
Là nơi tôi đã chào đời.


Anh ơi, tình hoài hương bàng bạc trong lòng mọi dân tộc. Em cũng đã khóc khi hát lại bài này. Em không mơ ước nhìn lại Normandie của bà giáo sư người Pháp nhưng em mơ ước nhìn lại xứ Huế nghèo nàn, thơ mộng của em ngày xưa. Em mơ ước nhìn lại một Việt Nam tự do đầy tình người, một Việt Nam mà em sẽ hãnh diện mang tấm thẻ bài có ghi hai chử "Phản Quốc" của anh để trở về đi trong lá me bay, trong giòng người cùng huyết thống, cùng lý tưởng, vì anh ơi, dù muôn vàn thay đổi, em muôn đởi vẫn là con bé Việt Nam thích lang thang khắp phố phường cho tóc bay, cho hồn mơ mộng và cho lá rơi đầy trên vai trên áo. Còn ở đây, cuộc sống sao quá vội vàng, bon chen, lừa lọc. Người ta yêu nhau cũng vội, ghét nhau còn vội vàng hơn.

Mùa Xuân quê người, nhưng cũng là mùa Đông của người xa xứ đang mất mát như em. Tiếng đàn tức tưởi cô đơn của người nhạc sĩ vô danh cũng là tiếng khóc nghẹn ngào của người đã mất hết niềm tin, chỉ còn lại Tấm Thẻ bài ghi lại một thời Hạnh Phúc Xưa và đánh dấu một sự nhục nhằn khốn khổ của người ở lại ngày nay.

Cầm tấm thẻ bài bằng nhôm bóng loáng trên tay, em liên tưởng đến trăm ngàn cái khác đang bị vùi sâu dưới lòng đất mẹ cùng những người con yêu của Tổ Quốc. Em chợt nhớ đến hai câu hát mở đầu trong bài Rêveries của Shumann:

"Ce soir dans le jardin du ciel
Les étoiles ont fleuri comme un bouquet d’argent"...

Em hình dung ra một ngày gần đây, trăm ngàn tấm thẻ bài bằng nhôm đó sẽ trở thành những bó hoa bằng bạc nở trên bầu trời để soi sáng và chỉ đường cho những người con xa xứ trở về giải phóng Quê Hương.

Thanh Vân
-------
UK-Đấu Tranh :Kính Tặng Các Chiến Sĩ QLVNCH
 
 

Từ Tiểu Thuyết Ma Cà Rồng Đến Nhà Ngoại Cảm Phan Thị Bích Hằng

 

1* Mở bài
Từ tiểu thuyết ma cà rồng Dracula đến nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng có một điểm chung là thế giới vô hình hay còn gọi là cõi âm, trong đó có những linh hồn hiền lành và hung ác, có tác động đến đời con người ở dương thế. Hai thế giới, âm dương được cho là có quan hệ mật thiết với nhau.

Không biết có linh hồn ở cõi âm hay không? Có ma quỷ hay không? Những câu hỏi chưa được trả lời dứt khoát, nhưng sự thật là vẫn có nhiều người sợ ma và tin tưởng rằng có thế giới ma quỷ.

Không chỉ ở Việt Nam, mà hầu như trên cả thế giới đều có những câu chuyện về ma, những tác phẩm văn học và hội họa, cùng với phim ảnh nói về thế giới ma quỷ. Câu chuyện về quỷ nhập tràng, ma cà rồng, ma trơi, ma lai rút ruột đã được lan truyền trong dân gian người VN.

Hollywood đã hốt bạc về những bộ phim kinh dị, quái đản qua gần 50 bộ phim ma quỷ, từ năm 1922 đến ngày nay.

Năm 2004, đạo diễn Victor Vũ thực hiện bộ phim ma tựa đề Oan hồn (Spirits) theo kiểu Liêu Trai Chí Dị, được nghe kể trong dân gian. Phim Oan hồn nói về 3 chuyện ma khác nhau trong một bối cảnh. Bộ phim có giá trị, được tham dự các Đại Hội Điện Ảnh Quốc Tế, trong đó có Đại Hội Điện Ảnh QT Bangkok, Hawaii, Singapore và Fantasia tại Montréal, Canada.

Bức ảnh nổi tiếng thế giới, chụp bóng ma Brown Lady ngày 19-9-1936 tại lâu đài Raynham Hall, Anh Quốc, đã trở thành đề tài cãi về việc tồn tại hay không tồn tại của thế giới ma quỷ.

Liên quan đến ma quỷ, ở VN có những tà thuyết chỉ cách luyện bùa ngải như luyện “thiên linh cái” điều khiển ma quỷ, đưa đến việc gây tội ác vì giết người.

2* Tiểu thuyết kinh dị: Quỷ hút máu Dracula
Một bức tranh về ma cà rồng. Ảnh:

Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc, và những vấn đề có liên quan đến đời sống con người mà thể hiện những chủ đề xác định.

Tiểu thuyết có nhiều loại như: tiểu thuyết trinh thám, tâm lý, luận đề, du đảng, và tiểu thuyết kinh dị.

Tiểu thuyết kinh dị mô tả những đề tài rùng rợn, khủng khiếp, kinh hoàng như hồn ma, quỷ ám, quỷ nhập tràng, quỷ hút máu…

2.1. Ma cà rồng
Ma cà rồng (vampire) là một huyền thoại trong dân gian về những hồn ma nhập vào xác người, tồn tại được nhờ hút máu những sinh vật.

2.1.1. Tranh cãi về ma cà rồng thế kỷ thứ 19
Vào thế kỷ XVIII, cơn sốt về ma cà rồng lan khắp Tây Âu. Người ta bảo họ nhìn thấy người chết sống lại đi khắp nơi, tấn công người sống để hút máu. Nhiều chính quyền cho khai quật các phần mộ để thiêu hủy hài cốt, từ đó thế giới ma cà rồng gây kinh hãi khắp nơi, và đi vào thi thơ, hội họa. Sau đó, những tác phẩm nầy gây cảm hứng cho nhà văn Ái Nhỉ Lan Bram Stoker viết thành tiều thuyết nổi tiếng mang tên Dracula. (1897)

Điểm nổi bật của ma cà rồng là hút máu người sống. Vào những đêm trăng mờ, thường xuất hiện dưới hình dạng một con dơi, con chó sói hay một đám mây màu đen, bay đến cửa sổ những nhà có phụ nữ đẹp để hút máu.

Ma cà rồng có năng lực siêu nhân như thôi miên, điều khiển nạn nhân theo ý muốn, ngoan ngoản để cho hắn ôm vào lòng rồi nhe răng nanh ra cắn vào cổ, ngay động mạch để hút máu. Nạn nhân bị bị hút máu, sau đó biến thành ma cà rồng, hút máu người khác để sống như một hồn ma trong xác người. Nạn nhân cứ thế mà lan rộng gây ngờ vực và kinh hoàng trong dân gian.

Ma cà rồng có năng lực siêu nhân, được xem như bất tử, có thể biến thành một người bình thường khoẻ mạnh, nên rất khó phát hiện chúng là ma. Ngoài ra, ma cà rồng cũng có khả năng biến thành một con dơi hay chó sói, nhằm lặng lẻ tiếp cận nạn nhân để hút máu.

Tuy nhiên, ma cà rồng cũng có điểm yếu là chúng sợ ánh sáng mặt trời, sợ lửa, sợ cây thánh giá, nước thánh và củ tỏi. Chúng bị tiêu diệt bởi cây cọc nhọn đâm xuyên qua tim, lửa đốt hay chặt đầu.

2.1.2. Quan niệm hiện đại về ma cà rồng

Khoa học không có bằng chứng nào xác nhận sự tồn tại của ma cà rồng, nhưng y học cho thấy một trong những bịnh lý có liên quan đến ma cà rồng là chứng “rối loạn chuyển hoá porphyrine (Porphyria). Chứng bịnh cực kỳ hiếm có nầy sinh ra bởi sự mất cân bằng trong việc cơ thể sản xuất ra chất heme là chất sắt (iron) trong hồng huyết cầu (Hemoglobin) tức là bịnh thiếu máu hay mất máu.

Người mắc chứng nầy sợ ánh sáng mặt trời, đau bụng nhiều và mê sảng. Ngày xưa, người ta chữa bịnh nầy bằng cách cho uống máu tươi. Một số bịnh nhân nầy có miệng và răng màu đỏ do hoạt động tạo Heme không ổn định. Porphyria có tính di truyền nên người bịnh thường bị tập trung lại trong một khu vực riêng biệt.

Ngày nay, nhiều người thích thưởng thức món tiết canh vịt, tiết canh heo, máu dơi pha với rượu.

Nguyên nhân thứ hai tạo ra sự “khát máu” là chứng “giữ nguyên thể” catalepsy. Catalepsy là cơ bắp thình lình bị cứng lại, tạm thời bất tĩnh, hôn mê, mất cảm giác do thần kinh trung ương bị tác động mạnh.

Khi người bịnh lên cơn thì thân thể cứng đơ, nhịp tim và hơi thở suy yếu, khiến cho người ngoài tưởng lầm rằng bịnh nhân là một xác chết. Ngày nay, y học có khả năng nhận xét một người còn sống hay đã chết, tuy nhiên, ngày xưa, nhất là ở thôn quê, người ta chỉ dựa vào những hiện tượng bên ngoài để phán đoán sinh mạng của một con người. Chính vì thế, mà bịnh nhân Catalepsy thường bị chôn lầm và sau đó, có thể đội mồ sống lại, gọi là quỷ nhập tràng. Giai đoạn phát bịnh của chứng Catalepsy có thể từ nhiều giờ đến nhiều ngày, đủ thời gian để thực hiện một đám ma.

Sau khi tĩnh lại trong phần mộ, người bịnh mắc thêm chứng rối loạn tâm thần, nên bị xem là ma cà rồng, quỷ nhập tràng. Quỷ nhập tràng là hình thức của một xác chết biết đi, xác người chết đội mồ sống dậy.

3* Tiểu thuyết Dracula

3.1. Tổng quát về tiểu thuyết Dracula
Dracula là quyển tiểu thuyết được viết năm 1897 của nhà văn Ái Nhỉ Lan Abraham “Bram” Stoker, nhân vật chính là Dracula chuyên hút máu người. Tiểu thuyết Dracula được xếp vào nhiều thể loại văn học khác nhau như: văn học ma cà rồng, chuyện viễn tượng kinh dị, tiểu thuyết kiểu Gothic.

Về cấu trúc hình thức, cuốn tiểu thuyết căn cứ vào những nhật ký, những lá thơ. Mặc dù Bram Stoker không sáng tạo ra ma cà rồng, nhưng nhân vật Dracula là nguồn gốc của những vở kịch và phim ảnh phỏng theo cốt chuyện của nó, được sản xuất trong thế kỷ 20 và 21.

3.2. Tóm tắt nội dung của tiểu thuyết Dracula
Nội dung dựa theo những trang nhật ký và những lời tường thuật. Câu chuyện bắt đầu khi Jonathan Harker, một cố vấn pháp luật người Anh, đi tàu và xe ngựa từ Anh Quốc đến lâu đài cũ nát, hẻo lánh của Bá tước Dracula, nằm dưới chân núi Carpathian tại biên giới giữa Transylvania và Moldavia.

Mục đích chuyến đi, là đến làm cố vấn pháp luật cho Bá tuớc Dracula trong một giao dịch bất động sản giữa Dracula với người giám đốc của ông ta là Peter Hawkin.

Ban đầu, luật sư Harker bị Dracula dụ dỗ bằng những cử chỉ rất lịch sự, và những bữa tiệc linh đình. Sau đó, Harker khám phá ra anh ta bị cầm tù trong lâu đài hắc ám. Anh ta cũng bắt đầu cảm thấy những hành động lạ thường của Dracula, nhất là lúc ban đêm.

Một đêm sương mù lạnh lẽo, ánh trăng vàng vọt, trong cảnh vắng lặng của vùng rừng núi, luật sư Harker tìm cách trốn khỏi lâu đài. Rủi thay, Harker rơi vào tay 3 nữ ma cà rồng, kinh hoàng vì sắp bị hút máu thì anh ta được Dracula cứu thoát khỏi đám thủ hạ ma cà rồng của ông ta. Dracula cần Harker giúp đở, cố vấn pháp luật trong một vụ kiện về giao dịch.

Qua những cảnh hãi hùng và lạnh lẽo mang tính ma quái, tiếng chó sói tru dài trong đêm trường âm u, với ánh trăng mờ ảo, những bóng ma xuất hiện rượt đuổi, khó khăn lắm Harker mới sống sót, và thoát khỏi lâu đài đầy kinh dị đó.

Không lâu sau đó, một chiếc tàu Nga thả neo gần biệt thự Dracula để tránh bão. Không biết chuyện gì đã xảy ra trong đêm, mà tất cả thủy thủ trên tàu đều biến mất, chỉ còn lại một thi thể bị trói vào cột buồm, nước da tái nhợt, bên cổ có 2 vết răng đọng máu, đó là thuyền trưởng bị ma cà rồng hút máu.

Cảnh tưởng ma quái làm cho người đọc yếu bóng vía rởn tóc gáy, nổi da gà.

3.3. Draculà thật ngoài đời
Bá tước Dracula sinh năm 1431 tại lâu đài Sighisoara (Romania) là con của lãnh chúa Vlad II Basarab có biệt danh là “Con của Rồng” (Dracul). Vlad cha đã truyền cái tên nầy lại cho con thứ của mình, tên là Dracula, có nghĩa là con của Dracul.

Vào mùa đông năm 1442, Dracula và em trai bị vua Murad II của Đế quốc Thổ Nhỉ Kỳ bắt làm con tin.

Năm 1447, cha của Dracula và anh trai bị ám hại. Thổ Nhỉ Kỳ thả Dracula và giúp cho lên làm hoàng thân nước Romania.

Sau khi được tự do, việc đầu tiên mà Dracula làm là trả thù những kẻ đã tham gia và có liên hệ đến việc sát hại cha và anh trai của mình.

Cuộc sống tù tội khi bị bắt làm con tin khiến cho Dracula trở nên thù hận và tàn bạo.

Một ngày đẹp trời năm 1459, Dracula bắt toàn bộ những người có liên quan đến vụ ám sát và gia đình họ. Người già thì đem đóng cọc nhọn xuyên qua tim, những người còn lại thì đem đi xây một lâu đài cách đó 50 dặm. Nhiều người đã chết vì kiệt sức, đói khát và bịnh tật. Sau đó, một pháo đài được xây xong.

Việc tàn bạo của Dracula bắt đầu một thời kỳ kinh hoàng mà sử sách còn ghi chép tới ngày nay. Phương pháp giết người ưa thích nhất của Dracula là đóng cọc xuyên qua tim, mọi tội phạm đều bị trừng phạt bằng cách nầy.

Năm 1462, Thổ Nhỉ Kỳ tấn công, Dracula chạy sang Hungary cầu cứu, nhưng bị bắt giữ và giết chết vì quá độc ác và tàn bạo.

4* Ma
Ma là một khái niêm trừu tượng, là phần phi vật chất của một người đã chết. Theo quan niệm của một số người, thì con người gồm có thể xác và linh hồn. Thể xác mang tính vật chất, linh hồn mang tính phi vật chất. Khi thể xác chết thì linh hồn rời khỏi xác. Nếu linh hồn đó không có cơ hội đi “đầu thai” hoặc nơi trú ngụ chung với những linh hồn khác, mà tương tác với đời sống thực của con người thì được gọi là “ma”, “hồn ma” hay “quỷ”. Cũng có quan niệm cho rằng, tùy theo tình cảm và trách nhiệm được giao phó, thì có “hồn”, “linh hồn”, “thánh”, “thần”, “thiên sứ”. Những linh hồn mới gọi là “hương linh”. Khi nói đến “ma” người ta nghĩ đến việc không hại người, nhiều lắm là chọc phá, nhát người. (Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò). Trái lại, quỷ, yêu, tinh, chằng, là những khái niệm đáng sợ. Nhiều người cho rằng, linh hồn được tách ra làm 2 phần, hồn và vía. Nam thì có 7 vía, nữ 9 vía. Khi một người nữ bị bất tĩnh, thì người ta réo 3 hồn 9 vía mau về nhập vào xác để tiếp tục sống.

4.1. Niềm tin vào ma
Không có cơ sở chính xác nào xác nhận “có ma” một cách chắc chắn, mà cho đến nay, khoa học cũng chưa chứng minh hay bác bỏ hoàn toàn. Tùy vào từng người, lứa tuổi, chủng tộc, văn hoá mà người ta tin rằng có ma hoặc không có ma.

4.2. Các loại ma
Tùy theo mỗi nền văn hoá, ma cũng đa dạng. Ở Việt Nam, có ma da, ma lai rút ruột, ma trơi, ma hời, ma xó, ma cà rồng…

Ma trơi là loại ma giống như những đốm lửa nhỏ, mà đến nay, khoa học giải thích đó là những chất khí dễ cháy, bốc hơi lên, khi gặp không khí trong một số điều kiện, sẽ bốc cháy và tạo thành những đốm lửa nhỏ, với độ sáng khá nhỏ nhưng có thể trông thấy lập loè vào ban đêm.

Cuốn Liêu Trai Chí Dị, tác giả tên Bồ Tùng Linh, người Trung Hoa, nói đến ma thiện, ma ác. Tác giả tưởng tượng , ma giống như người thật, có sinh hoạt tình dục và tình cảm yêu đương. Đó là quyển tiểu thuyết ma được dịch ra tiếng Việt, phổ biến rộng rãi trong dân gian một thời trước kia ở VN.

(Liêu trai. Trai: là phòng học, Liêu: là tạm thời, sơ sài. Liêu trai chỉ những lều chỏng mà các nho sinh dựng lên để tham dự các kỳ thi của triều đình. Trong nhiều chuyện, hoàn cảnh là trường thi, nhân vật là nho sinh và hồn ma.)

Bồ Tùng Linh sinh ngày 5-7-1640, mất 25-7-1715, là nhà văn triều đại nhà Thanh. Đỗ tú tài năm 18 tuổi dưới thời Thuận Trị, mãi đến năm 71 tuổi mới được bổ nhậm chức cống sinh thời Khang Hy.

Tiểu thuyết Harry Potter, lễ hội Halloween cũng nói về thế giới ma quỷ.

4.3. Bức ảnh ma nổi tiếng
Tấm hình do người thợ chụp được bóng ma Brown Lady ngày 19-9-1936 tại lâu đài Raynham Hall, Anh Quốc. Bóng ma Brown Lady gắn liền với một bí ẩn khác, cho rằng bà tên là Dorothy Walpole, vì ngoại tình cho nên chồng bà là Viscount Townshend đã nhốt kín bà trong lâu đài Raynham Hall cô tịch, không cho nhìn mặt con. Năm 1726, Dorothy Walpole chết vì bịnh đậu mùa, nhưng nhiều người cho biết, bà bị chồng đẩy xuống cầu thang, té gãy cổ mà chết.

Vì chết một cách tủi nhục nên không siêu thoát được, và linh hồn vẫn cứ lảng vảng, ám ảnh trong lâu đài. Nhiều người đã thấy bóng ma màu nâu nên gọi là Brown Lady. Cả vua George IV, Lucia C. Stone, đại tá Loftus cũng đã thấy bóng ma Brown Lady. Năm 1836, đại úy Marryat cùng 2 người bạn đã đối diện với bóng ma, đại úy bắn vào bóng ma, đương nhiên là viên đạn ghim vào tường. Đến năm 1926, hai cậu bé cũng đã khẳng định là có thấy bóng ma. Câu chuyện vẫn tiếp tục. Và ngày nay, không còn ai thấy bóng ma đó nữa.

5* Cõi âm
“Theo quan điểm của nhà ngoại cảm, khi người ta chết đi, hồn còn tồn tại trong thế giới vô hình hay còn gọi là cõi âm. Người thường không thể nhìn thấy được, nhưng nhà ngoại cảm có thể nhìn thấy và “giao lưu” được với linh hồn ở các giới: thượng giới, trung giới và hạ giới còn được gọi là cõi âm”. Phan Thị Bích Hằng đã giải đáp về cõi âm như thế.

Chính cô đã tìm được gần 10,000 hài cốt của các “anh hùng liệt sĩ” vô danh và những hài cốt mất tích lâu năm.

Phan Thị Bích Hằng cho biết: “Hồn người lính Sài Gòn dắt Hằng đến bụi cây rất lớn và chỉ chính xác chỗ anh bộ đội nằm, khi đào thì thấy ngay hài cốt. Hằng bảo với dân làng: “Vậy là anh ta đã lấy công chuộc tội rồi, mọi người không nên căm thù nữa nhé”.

Qua lời nói trên, ta thấy, anh bộ đội ngã xuống trước, anh lính Sài Gòn còn sống, nên mới biết chỗ bộ đội chết mà chỉ cho BH. Điểm đặc biệt là Bích Hằng biết hồn nào là lính Sài Gòn và hồn kia là bộ đội Việt Cộng. Do đó suy ra, có lẻ hồn anh VC có đội nón cối, mang dép râu cầm AK. Trái lại, anh lính Sài Gòn có lẻ cầm M16. Đồng thời, qua lời nói, Bích Hằng (BH) cũng cho biết là dân làng có khả năng nhìn thấy được 2 cái hồn, nên mới khuyên họ không còn hận thù cái hồn anh lính Sài Gòn nữa.

Bích Hằng nói tiếp, những ngày đầu tiên đi tìm mộ, BH gặp khó khăn là chưa biết nói chuyện với người đã chết, vì thế có nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra. Đó là vợ anh liệt sĩ VC mang bộ xương của người lính Sài Gòn về chôn tại nghĩa trang “liệt sĩ cách mạng”, vì thế đời anh lính Cộng hoà tàn thêm lần thứ hai, và chết thêm lần thứ ba, là phải ôm ấp bà vợ của anh cán ngố nên vô phương có hy vọng đi đầu thai. Người chết 3 lần, thịt xương nát tan.

Bích Hằng kể tiếp, cô phát hiện ra khả năng giao tiếp của mình khi nói chuyện với vong linh, lúc gặp bà mẹ của GS Mai Hữu Khuê, giảng viên trường Đại học Kinh Tế. Bà cụ gọi “cháu ơi, bà tên Kinh, nhắn hộ giùm bà, là mộ của bà ở đây. Con của bà tên Khuê”. BH hỏi dân làng, thì họ cho biết ông Khuê nầy làm lớn lắm.

6* Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng


6.1. Tiểu sử
Phan Thị Bích Hằng sinh ngày 15-2-1972 là nhà ngoại cảm nổi tiếng ở Việt Nam. Cô là người xử dụng khả năng đặc biệt của mình suốt 20 năm qua, giúp rất nhiều gia đình tìm kiếm hài cốt của người thân bị thất lạc.

Việc tìm hiểu, khảo nghiệm khả năng ngoại cảm của BH có thể giúp cho các nhà khoa học giải đáp được nhiều vấn đề có liên quan đến giới tâm linh.

Phan Thị Bích Hằng sinh ở xã Khánh Hoà, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Đầu năm 2005, mở doanh nghiệp thiết kế nội thất, chồng làm giám đốc, vợ làm phó giám đốc. Có 2 con.

Năm 2007, thạc sĩ Bích Hằng công tác tại Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội. Là cán bộ môn Cận Tâm Lý tại Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người, thuộc Liên Hiệp các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật VN.

6.2. Trở thành nhà ngoại cảm sau một biến cố lớn

Năm 1988, cô và người bạn bị một con chó dại cắn. Người bạn gái chết. BH được gia đình đưa đi chữa trị nhiều nơi, từ đông y đến tây y nhưng không lành bịnh. Một thầy lang chữa bằng bài thuốc gia truyền, sau một đợt lên cơn dại, cô khỏi bịnh. Vài tháng sau hoàn toàn bình phục và khoẻ mạnh.

Cô thường đi lung tung, nhìn mặt mọi người và biết được họ còn sống hay sắp chết. Gặp ông Nguyễn Văn Trác, 50 tuổi, đang khỏe mạnh, cô bảo: “Ông ơi, ông sắp chết rồi, ông đừng đi làm nữa cho khổ thân”. Vài ngày sau, loa truyền thanh trong xã báo tin ông Trác đã chết.

Tiếp theo là ông Bùi Văn Trai, chủ nhiệm hợp tác xã thêu may Khánh Hòa. Giữa hội trường của UBND Xã có nhiều người chứng kiến, cô nói: “Đến tháng giêng chú chết đấy”. Cô bị mọi người mắng, nhưng không ngờ, đến tháng giêng ông Trai chết thật.

Sau vụ đó, cả làng đều cho rằng BH bị quỷ ám. Cha mẹ đưa cô đi khám và cúng bái xin cho khỏi bịnh. Trên thực tế, cô có khả năng phán đoán tình trạng sức khoẻ của người khác, thậm chí còn biết đến suy nghĩ của họ. Nhưng cô rất đau khổ và mong rằng được mất những khả năng đó. Nhưng rồi, BH tìm được ngôi mộ tổ của gia đình cô, bị thất lạc nhiều năm. Kế đến, cô phát hiện trong sân nhà ông bác có một mồ chôn ở đó. Khả năng nầy được dân làng và mọi người chú ý. Cô giúp cán bộ thông tin văn hoá khảo sát lại di tích của Chùa Dầu ở quê cô, đã có từ đời nhà Trần. Những phát hiện của BH được ghi nhận, và sau đó, Chùa Dầu được công nhận là di tích lịch sử văn hoá.

Từ đó, khả năng của Phan Thị Bích Hằng được mọi người biết đến và gọi cô là nhà ngoại cảm.

6.3. Thành tích ngoại cảm
6.3.1. Tìm hài cốt chiến sĩ
Một trong những vụ được tường thuật nhiều nhất là việc tìm được mộ người em của GS Trần Phương, thông qua việc gọi hồn.

Cô BH đã tìm được hài cốt đã mất lâu đời của tướng Hoàng Công Chất, giúp cho họ Hoàng tiếp nối lại gia phả hoàn chỉnh. Cô cũng tìm được hài cốt của một “cán bộ cách mạng” bị giặc Pháp bắt giết mất xác.

Thậm chí qua BH, lịch sử phải viết thêm trận đánh khốc liệt ở khu rừng KNat, huyện KBang, tỉnh Gia Lai, nơi mà 400 thi thể các chiến sĩ và các chiến công của họ bị chôn vùi. Phan Thị Bích Hằng đã tìm được hài cốt và được đem về nghĩa trang liệt sĩ, mang lại niềm an ủi cho gia đình họ.

6.4. Các sự kiện và dư luận
6.4.1. Tìm được 4,000 hài cốt trên đảo Phú Quốc
Cuộc tìm kiếm được 4,000 hài cốt của các tù binh cộng sản trên nhà tù Phú Quốc của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng là một cuộc tìm kiếm đầy xức động và lớn nhất trong lịch sử VN.

6.4.2. Về Đại lễ 1,000 năm Thăng Long và cái chết của Võ Nguyên Giáp
Trước ngày đại lễ, nhiều tin đồn rằng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng tiên đoán cầu Long Biên sẽ bị sập, mưa lụt lớn làm cho nhiều người chết, đại lễ thất bại và tướng Võ Nguyên Giáp sẽ chết trong dịp nầy. Liền ngay sau đó, đài truyền hình VN chính thức đưa ý kiến của Phan Thị Bích Hằng, phủ nhận đã nói ra những điều đó. Nhiều nguồn tin báo chí cho biết BH đã bị bắt giữ, nhất là tin đồn về lời tuyên bố của cô là “sẽ chịu ngồi tù chung thân nếu như mọi việc không xảy ra như dự báo”.

Phan Thị Bích Hằng khẳng định, chưa bao giờ đưa ra phán đoán nào cả. “Từ trước đến nay, tôi chỉ có một công việc duy nhất là đi tìm mộ mà đối tượng là mộ liệt sĩ”.

Thật ra, cô đã cho biết trước cái chết của hai ông Nguyễn Văn Trác và Bùi Văn Trai như đã nói trên. Không biết thực hư của câu chuyện ra sao, có tiên đoán hay không? nhưng nó có tác động chính trị xấu vào đại lễ nhiều tốn kém trong khi người dân còn nghèo đói, kèm theo việc trù ếm ngày đền tội của hung thần Võ Nguyên Giáp, làm mất niềm tin vào đảng CSVN. Dưới chế độ bưng bít thông tin, thì việc gì cũng có thể được hiểu ở nhiều mặt khác nhau, vì chỉ có báo chí lề phải thông tin một chiều, nên không biết đâu là sự thật, nhất là cái giả dối bao trùm, cụ thể như “Bác” có cả chục cái tên, ngày sinh, ngày chết cũng đều giả cả. Trong một gia đình, 4 anh em ruột một cha một mẹ, thì người mang họ Lê (Lê Đức Thọ), người mang họ Mai (Mai Chí Thọ), họ Đinh (Đinh Đức Thiện), họ Nguyễn (Nguyễn Đức Thuận). con trai ông họ Nguyễn (Nguyễn Cơ Thạch) thì lại mang họ Phạm (Phạm Bình Minh).

6.4.3. Tin tức của đài BBC
Trước hiện tượng ngoại cảm, ngày 31-1-1997, bộ Quốc Phòng và bộ Công An cho thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người do Vũ Thế Khanh làm Tổng giám đốc và GS TS Đào Vọng Đức, nguyên Viện trưởng Viện Vật Lý Hà Nội, làm giám đốc.

Hồi tháng 5 năm 2006, đài BBC đưa tin, Tổng Giám đốc Vũ Thế Khanh, cho hay: “Đây là những người có thần giao cách cảm, một số nghe được tiếng nói từ cõi khác, một số ngửi được mùi người chết”. Theo ông, “Có người sinh ra thì đã có khả năng thần bí, người lại có khả năng đó sau khi gặp một tai nạn gây chấn động mạnh về tâm lý”. Cũng theo ý kiến của ông Khanh, thì ở VN có chừng 100 người tự nhận là đã có thần giao cách cảm, nhưng con số nổi tiếng nhất thì khoảng 10 người, bà Phan Thị Bích Hằng được coi là người như thế. Ngoài ra còn có Nguyễn Ngọc Hoài, Nguyễn Văn Liên, Phan Khắc Bảy, Thẩm Thúy Hằng, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Nguyện…”

Theo báo Công An Nhân Dân thì cô Hằng đã được cán bộ cao cấp nhà nước mời đi tìm hài cốt của những người lính VN đã hy sinh từ thời kháng chiến chống Pháp.

Hôm 18-5-2006, đài BBC cũng cho chiếu bộ phim tài liệu nói về việc đi tìm hài cốt bằng phương pháp ngoại cảm ở VN. Phim Psychic Vietnam được chiếu trên kênh BBC Two ở Anh, nói về chuyện nhiều gia đình VN đã nhờ đến những người được gọi là có khả năng ngoại cảm, để giúp tìm mộ thân nhân đã chết trong chiến tranh, từ hơn 10 năm nay.”

6.4.4. Đề nghị gọi hồn Hồ Chí Minh và tìm hài cốt quân nhân Hoa Kỳ
Nhiều độc giả đưa đề nghị độc đáo là nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cần gọi hồn Hồ Chí Minh về để hỏi về con đường đúng đắn cho cuộc cách mạng xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, đồng thời chỉ rõ phương cách chống tham nhũng trong đảng CSVN.

Cũng có ý kiến “hốt đô la” về việc đi tìm hài cốt quân nhân Mỹ đã hy sinh trên chiến trường VN.

Nếu có trở ngại trong việc nghe và nói trong “tiếng người nước ngoài”, thì đề nghị Hoa Kỳ cấp học bổng lớp đàm thoại cấp tốc môn Anh văn.

7* Luyện thiên linh cái


Ngày 24-6-2002, toà án tối cao Sài Gòn, trong phiên xử phúc thẩm, đã tuyên án tử hình Phạm Văn Tuấn, tự thầy Tưng, và án tù chung thân cho tòng phạm Trần Thị Thể, về tội sát nhân và “cưỡng hiếp tử thi”, nhằm mục đích luyện thiên linh cái.

7.1. Người đàn ông phiêu bạc trên chiếc ghe
15 năm trước, tại cù lao xã Tân Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, xuất hiện một người đàn ông tên Phạm Văn Tuấn, 54 tuổi, tự xưng hành nghề thầy thuốc. Ông ta sống lênh đênh trên một chiếc ghe tại con rạch Mã Trường. Thật sự đương sự có vợ, 3 con ở Kiên Giang. Năm 1994 anh ta bỏ đi biệt tích, đến Đồng Tháp, sống như vợ chồng với 2 phụ nữ địa phương.

Từ ngày ghe của ông cập bến, thỉnh thoảng có vài người đến chạy chữa thuốc thang của ông. Một thời gian sau, người dân biết tên thầy Hai Tưng. Thầy Tưng nhanh chóng chiếm được cảm tình của người dân trong vùng vì chữa bịnh không lấy tiền.

Nhiều người mô tả thầy Hai Tưng tướng mạo hiền từ, nói chuyện nhẹ nhàng, khéo léo, có bài có bản, có tuồng có tích. Bịnh nhân đa số là phụ nữ, nhất là những cô gái trẻ thường tới lui chiếc ghe để bốc thuốc.

Ở vùng quê nghèo, tiếng lành đồn xa, một thổi 10, 10 thành 100, chẳng mấy chốc tiếng tăm thầy Hai Tưng lan ra trong 3 xã ở Đồng Tháp.

Bà con thương tình, cho mượn một khoảnh đất nhỏ để cất một căn chòi ở mé kinh.

Cuộc sống rất bí mật, suốt ngày cửa đóng im lìm, chỉ có “người vợ” Trần Thị Thể, 42 tuổi, thỉnh thoảng ra vào tiếp tế thức ăn, đến rồi đi. Thấy lạ, nhiều người thắc mắc, bà vợ cho biết, thầy Tưng đang tập trung luyện thiên linh cái.

Ông Bảy Ruốc kể lại, thiên linh cái là lấy sọ người tập luyện khả năng sai khiến âm, binh thiên tướng, cô hồn các đảng ở cõi âm, để điều khiển người khác. Có nhiều phương pháp luyện phép, người thì dùng thai nhi còn trong bụng mẹ, người thì lấy xuơng sọ người chết oan chết ức để đêm đêm ra sức điều khiển. Ông Bảy Ruốc cho biết thầy Tưng giải thích, “Thiên” có nghĩa là thiên biến vạn hoá, có quyền lực cao siêu như trời biển. “Linh” là linh thiêng, linh ứng. Riêng chữ “Cái” có nhiều nghĩa, tùy theo chính đạo hay tà đạo. Thầy Tưng luyện chính đạo, tu nhân, tích đức để giúp đời.

Thầy Tưng cho biết, khả năng của thầy có thể giúp chị em dụ được ông chồng trở về sau thời gian chán chê bỏ vợ. Có bùa khiến cho chồng mê, hoặc mua may bán đắt. Vì thiên linh cái là đạo âm binh thuộc về cõi âm, nên muốn đến chuộc bùa thì phải đến vào lúc canh ba, giữa khuya.

Vào nhà thầy phải đi bằng địa đạo, độn thổ lò mò đến phía trên sàn nhà. Thời đó chưa có điện vào xã, căn nhà của thầy ở giữa đồng không mông quạnh, xa xa chỉ thấy ánh đèn dầu khi mờ khi tỏ, lập loè làm tăng thêm vẻ huyền bí.

7.2. Sự mất tích đột ngột của những cô gái
Vào những ngày cúng tế, thầy Tưng thường đến nhà trong xóm mua vài ba con gà, con vịt, đồng thời hỏi mượn luôn cái nồi thật to để hầm. Có lần thầy mượn cái nồi để hầm đầu heo làm lễ. Những vật cúng tế thầy cho bà con hết, vì thầy ăn chay trường. Chẳng hiểu vì sao người ta không dám động đủa vào những vật cúng mà thầy cho họ, vì có cảm giác mùi tanh tưởi đến lợm giọng.

Đêm cuối tháng 5 năm 2000, một cô gái trẻ đẹp đến chuộc bùa trị chồng, cô tên Trần Thị Phương, sinh năm 1975. Trước khi đi, cô chỉ nói úp mở vài câu với gia đình rồi ra khỏi nhà.

Từ đêm đó, cô Phương biệt tăm tích. Gần 2 tháng sau, gia đình chia nhau tủa ra nhiều hướng đi tìm. Được người dẫn dắt đến nhà thầy Hai Tưng, bà con hoảng hồn khi thấy phía sau nhà có một mảnh đất nhú lên, bốc mùi hôi thúi. Sinh nghi, bà con tổ chức đào bới thì phát hiện một tử thi mất đầu. Công an được báo, kéo đến bao vây căn chòi. Cánh cửa căn nhà bí ẩn mở toan, phát hiện 3 cái sọ người trên bàn thờ, kế bên là một cái ve keo đậy kỹ, chứa đựng những chùm lông đen ngòm. Tiến sâu vào nhà, công an phát hiện nhiều dao lam, dao Thái Lan còn dính máu. Một số chứng minh nhân dân, nhiều vật dụng như dây chuyền, đồng hồ, vòng mã não của các nạn nhân. Gia đình oà lên khóc thảm thiết khi nhận ra những vật của cô Phương.

Khai thác nhanh đối tượng, thầy Tưng chỉ xuống sàn nhà và thú nhận có 2 thi thể dưới đó.

Đồng Tháp thường xuyên bị ngập trong mùa nước lũ, nên thường có những sàn nhà cao để tránh lụt. Dân làng cùng nhau đấp bờ, mang máy bơm đến rút cạn nước. Chỉ vải nhát xẻng, 2 thi thể được tìm thấy, toàn là phụ nữ, và đau lòng hơn nữa là bị mất đầu.

7.3. Tội ác rợn người
Thầy Tưng buộc nạn nhân phải chui qua đường hầm để quần áo bị dơ và phải thay đồ sạch để thầy làm phép. Trong lúc cô Phương vừa cởi áo, thì thầy Tưng đứng phía sau, dùng áo thun siết cổ nạn nhận cho đến khi thè lưỡi ra, mắt trợn trừng rồi ngã quỵ.

Trở vào lấy dao lam, cạo sạch lông âm hộ và lông nách. Nạn nhân nào cũng bị cạo sạch như thế cả, cho rằng càng nhiều của quý của phụ nữ thì luyện phép càng nhanh. Kế đó, hắn thực hiện hành vi “cưỡng bức xác chết”. Xác nạn nhân nào cũng bị thực hiện hành vi tồi bại như thế cả. Xong, cắt lấy đầu và đem chôn phần còn lại. Hắn mượn nồi to, hầm cho rửa thịt để lấy xương sọ.

Trước ngày hành hình, hắn bắn tiếng là sẽ dùng thiên linh cái, độn thổ trước mặt bà con để chứng minh phép thuật nhiệm mầu của hắn.

Chiều hôm trước ngày đền tội, dân chúng mang lều chỏng đến ngủ chật cả sân đình Tân Quới, để xí chỗ ở pháp trường. Hàng ngàn người tụ tập, vì tò mò, muốn xem tận mắt pháp thuật của thiên linh cái ra sao.

Thời khắc xử bắn đã qua. Phép thuật thiên linh cái chỉ có trong trí tưởng tượng của một con người bịnh hoạn và vô nhân tính đó mà thôi.

8* Kết
Phong tục tập quán của người Việt Nam thể hiện niềm tin, là có thế giới vô hình gọi là cõi âm, thông qua những nghi lễ, từ việc tổ chức đám tang cho người thân vừa tạ thế, đến những lễ cúng liên tiếp ngay sau đó. Hôm sau ngày hạ huyệt là cúng mở cửa mả (khai mộ). Mỗi ngày cúng cơm, xem như linh hồn người chết về dùng cơm với gia đình. Những lễ cúng hàng tuần (tuần thất), từ tuần thứ nhất đến cúng “thất” thứ 7, 49 ngày. Rồi cúng 100 ngày, cúng giáp năm, mãn tang.

Tin tưởng rằng ở cõi âm, linh hồn người thân cũng có nhu cầu và sinh hoạt như khi còn ở dương thế, nên đốt giấy tiền vàng mã gởi xuống cho người thân.

Cũng cho rằng 49 ngày là thời gian mà linh hồn chờ đi đầu thai. Tùy theo nghiệp lực nặng, nhẹ khi còn sống, được đi “đầu thai” qua 6 con đường là: Trời, a tu la, người, súc sanh, ngạ quỷ (quỷ đói) và cuối cùng là vào địa ngục. Những kẻ ác nghiệp nặng, tội lỗi ngập đầu khi còn sống, như những người chủ trương và thi hành CCRĐ ở miền Bắc, thì chỉ có con đường đi vào 18 tầng địa ngục mà thôi. Có lẻ vì thế mà nhà ngoại cảm Bích Hằng không tiếp xúc được với Bác để nhờ sự hướng dẫn cho sự nghiệp cách mạng XCHCN như có lời đề nghị nêu trên.

Ngày nay, những tập quán đó trở thành truyền thống văn hoá mà người tin hay không tin cũng thực hiện để thể hiện lòng thành,hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Trúc Giang

Josephine Cẩm Vân Nữ bác sĩ :Tại Sau Người Việt Quốc Gia Tốt Hơn Người Việt Cộng Sản?

Josephine Cẩm Vân: Nữ bác sĩ - Thiếu tá hải quân phi hành Hoa Kỳ
Bác sĩ quân y phi hành - Thiếu tá hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân trong một chuyến đi Việt Nam giúp bệnh nhân nghèo
Trà Mi-VOA
Một cô gái trẻ Việt Nam vừa là bác sĩ vừa là thiếu tá hải quân Hoa Kỳ. Đó là câu chuyện thành công của bác sĩ-thiếu tá quân y phi hành Josephine Nguyễn Cẩm Vân mà Tạp chí Thanh Niên có dịp giới thiệu với quý vị trong chương trình hôm nay.

Thiếu tá Cẩm Vân: Cả hai chị em tôi đều vào Học viện Hải quân Mỹ và tốt nghiệp năm 1999. Chúng tôi tham gia quân đội vì ảnh hưởng từ cha mình. Ông từng phục vụ hải quân của miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Cha tôi thường nói về tình yêu và sự cống hiến cho đất nước. Vì thế, chị em tôi quyết định tham gia quân đội Mỹ để phục vụ đất nước đã cưu mang và cho mình cơ hội phát triển.

Trà Mi: Chị có thể cho biết đôi chút về công việc của chị hiện nay?

Thiếu tá Cẩm Vân: Tôi đang khám chữa bệnh tại Trung tâm quân y Walter Reed, bệnh viện tại bang Maryland này chuyên phục vụ các quân nhân trong quân đội và hải quân Mỹ. Ngoài ra, tôi còn chịu trách nhiệm tuyển dụng các sinh viên gia nhập hải quân. Tôi cũng nằm trong ban xét duyệt cấp học bổng cho các sinh viên muốn theo học y khoa, rồi sau khi ra trường, họ sẽ làm việc cho hải quân trong 4 năm. Tôi đi nhiều nơi trên nước Mỹ thuyết trình với sinh viên để chia sẻ kinh nghiệm trong hải quân. Tôi hoàn tất thời gian làm bác sĩ nội trú tại đại học Pensylvania chuyên khoa da liễu vào năm 2010. Sau đó tôi được lệnh tới trung tâm Walter Reed công tác.

Trà Mi: Trước đó, công việc của chị thế nào? Là một thiếu tá hải quân phi hành chắc chị thường xuyên công tác xa nhà?

Thiếu tá Cẩm Vân: Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, tôi vào trường y Stanford ở California trong 4 năm. Hoàn thành thời gian thực tập, tôi vào trường bay ở Florida. Thời gian học bay đối với bác sĩ quân y là nửa năm. Sau đó tôi sang Nhật, làm y sĩ phi hành khoảng 2 năm.

Trà Mi:
Một cô gái Việt Nam tham gia quân đội chắc chắn có nhiều khó khăn, thử thách. Chị có thể sơ lược một vài khó khăn mà chị cảm thấy lớn nhất đối với chị trên con đường binh nghiệp?

Thiếu tá Cẩm Vân: Bước vào Học viện Hải quân, tôi phải rời ba mẹ, không còn được cha mẹ bên cạnh chăm sóc như trước, phải tự lập hoàn toàn và học cách trở thành một người lãnh đạo. Thêm vào đó là những yêu cầu về thể chất và những kỷ luật nghiêm ngặt của quân trường. Đó là những cái tôi sợ nhất lúc đó, nhưng giờ đây nhìn lại, tôi hiểu rằng để trưởng thành, người trẻ cần phải bước ra khỏi vành đai an toàn của riêng mình. Bốn năm ở Học viên Hải quân là những năm gian khó nhất đối với tôi. Tôi chỉ tập trung vào đèn sách và học tập nền giáo dục của quân đội. Để thực hiện ước mơ trở thành bác sĩ, tôi phải nỗ lực từng ngày. Và tôi gặt hái được thành quả khi tôi tốt nghiệp với thứ hạng á khoa. Đối với tôi, thử thách lớn nhất là học cách trở thành một người lãnh đạo từ chính những giá trị của mình. Giờ đây tôi vui mừng vì đạt được vị trí hôm nay để với những giá trị Á Châu mà tôi thừa kế tôi có thể cống hiến trong lĩnh vực y khoa lẫn trong vị trí lãnh đạo ở hải quân.

Trà Mi:
Theo chị, tinh thần lãnh đạo có ý nghĩa thế nào đối với nữ giới nói riêng, cũng như đối với tuổi trẻ, nói chung.

Thiếu tá Cẩm Vân: Người có tinh thần lãnh đạo là người luôn đặt người khác lên trước bản thân mình, luôn sẵn sàng làm việc nhiều nhất và không bao giờ vụ lợi cá nhân. Khi tôi tốt nghiệp trường y Stanford và Học viện Hải quân, nhiều người cho rằng chắc là tôi hạnh phúc và hãnh diện lắm. Mặc dù bên ngoài tôi nói là tôi rất phấn khích, nhưng trong lòng tôi không vui lắm. Nhiều năm qua tôi đã suy nghĩ về điều này và lý do mà tôi không vui là vì tôi đã quá tập trung vào công việc của riêng mình để được vào những trường danh tiếng, ra trường hạng cao, và trở thành một bác sĩ. Nhưng giờ đây, trong cương vị một bác sĩ, tôi hướng sự tập trung của mình vào bệnh nhân, vào những người xung quanh tôi. Đó mới chính là thành tựu làm tôi hài lòng nhất. Trách nhiệm mới của tôi trong Hải quân là tuyển dụng sinh viên gia nhập vào hải quân và trở thành các bác sĩ quân y. Tôi đặc biệt chú ý tới những sinh viên gốc Á, đặc biệt là người Việt Nam. Các giá trị của người Việt dạy tôi về truyền thống gia đình, tinh thần làm việc chăm chỉ, và biết nghĩ đến người khác. Các giá trị của người Mỹ dạy tôi phải vươn ra ngoài vành đai an toàn của mình, đặt mình vào những tình huống khó khăn, và phát triển thành một người lãnh đạo. Đó là những điều tôi muốn chia sẻ với các bạn thanh niên để các bạn trở thành những nhà lãnh đạo, thành công trong các lĩnh vực mà các bạn đam mê.

Trà Mi:
Giờ đây nhìn lại chặng đường đã trải qua, điều gì chị hài lòng nhất và điều gì chị cảm thấy chưa thật sự hài lòng?

Thiếu tá Cẩm Vân: Bây giờ là lúc tôi cảm thấy mình hạnh phúc nhất vì tôi không còn tập trung vào bản thân mình hay những gì mình mong muốn cho bản thân nữa mà vào những người xung quanh và giúp đỡ họ.

Trà Mi: Chị có về Việt Nam 3 lần, trong những chuyến đi đó chị đi với tư cách cá nhân hay với tổ chức? Các chuyến đi kéo dài bao lâu và chị đã làm được những gì tại Việt Nam?

Thiếu tá Cẩm Vân:
Một chuyến tôi đi với Project Vietnam, một tổ chức được nhiều người biết đến ở bang California hằng năm về Việt Nam khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Hai lần khác tôi đi cùng bạn bè. Chúng tôi đã tự mua các thiết bị y tế mang về giúp một số làng quê nhỏ bé ở miền Nam Việt Nam. Từ những chuyến đi này, tôi học được bài học rằng chúng ta không nên than phiền mà hãy sống và giúp đỡ người khác hết lòng. Tôi muốn nói với các bạn trẻ rằng các bạn đừng than phiền, mà ngược lại, hãy chấp nhận những khó khăn và học hỏi từ đó. Hãy luôn mỉm cười và giữ thái độ lạc quan. Khó khăn sẽ giúp chúng ta trưởng thành và trở thành những thành viên đóng góp hữu ích cho xã hội.

Trà Mi:
Trong tương lai, chị có dự định trở lại Việt Nam?

Thiếu tá Cẩm Vân: Vâng, mùa hè năm nay, tàu bệnh viện của hải quân Mỹ USS Mercy sẽ thực hiện chuyến đi nhân đạo 3 tháng tới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bắt đầu từ tháng 7. Chúng tôi sẽ ghé Việt Nam 2 tuần trong chuyến đi này. Tôi tham gia với tư cách là một bác sĩ quân y Hoa Kỳ trong đoàn khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.

Trà Mi: Bài học lớn nhất từ tất cả những kinh nghiệm chị đã trải qua tại quân trường với hải quân và trong ngành y là gì?

Thiếu tá Cẩm Vân: Có rất nhiều điều tôi học được trong những năm qua và thời gian gần đây tôi đọc rất nhiều sách về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Tới được Hoa Kỳ là cơ hội tốt nhất mà tôi và gia đình tôi có được. Vì vậy, tôi muốn đóng góp lại cho nước Mỹ bằng cách tham gia vào các vấn đề đối ngoại, ứng dụng các giá trị Á Châu và kinh nghiệm có được trong quân đội Mỹ để giúp cải thiện các mối quan hệ giữa Mỹ với các nước.

Trà Mi:
Trên chặng đường thành công, chị ứng dụng các giá trị của người Việt Nam và các giá trị của một người Mỹ bao nhiêu phần trăm?
Chị bị ảnh hưởng nhiều bởi những giá trị Việt Nam truyền thống hay bởi những giá trị của nước Mỹ nhiều hơn?


Thiếu tá Cẩm Vân: Ai hỏi tôi rằng tôi là người Việt hay người Mỹ, tôi sẽ trả lời tôi là cả hai. Tôi thấy người Việt là người tử tế nhất. Tôi học được cách giao tế, tương tác với mọi người từ việc tiếp xúc với những người Việt quanh mình. Sinh trưởng ở Mỹ cho tôi những cơ hội mà ở Việt Nam không có được. Cả hai yếu tố này tạo nên con người tôi ngày nay và tôi biết ơn cả hai.

Trà Mi: Chị quyến luyến, gần gũi với nguồn gốc và quê hương của mình, nếu có thể góp phần cho quê hương của mình, chị sẽ làm gì?

Thiếu tá Cẩm Vân: Câu hỏi này cũng là điều tôi suy nghĩ hằng ngày. Tôi muốn khuyến khích các bạn trẻ Việt Nam đừng tập trung vào bản thân mình mà hãy nghĩ về những người xung quanh. Thành tựu lớn nhất trong đời sống là sự phục vụ người khác. Mục tiêu của tôi trong tương lai là tiếp tục về Việt Nam cho dù là trong sứ mạng nhân đạo với hải quân. Đó là điều tôi rất đam mê và hy vọng sẽ tiếp tục.

Trà Mi: Cảm ơn chị rất nhiều về thời gian dành cho cuộc trao đổi này. Xin chúc chị nhiều thành công trong sự nghiệp và trong những chuyến đi nhân đạo về Việt Nam.

Tạp chí Thanh Niên vừa gửi đến quý vị câu chuyện thành công của một cô gái trẻ Việt Nam, bác sĩ quân y phi hành-thiếu tá hải quân Josephine Nguyễn Cẩm Vân, hiện đang công tác tại Trung tâm quân y Walter Reed, tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ. Để nghe lại câu chuyện này cùng nhiều gương thành công khác của giới trẻ Việt Nam, mời quý vị vào trang nhà voatiengviet.com.

Tạp chí Thanh Niên chia tay với quý vị và các bạn tại đây và hẹn tái ngộ cùng quý vị trong một câu chuyện mới vào giờ này, tuần sau.

Gương hy sinh của một người cha :Một Người Cha Tuyệt Vời


Thỉnh thoảng trên Tv có chiếu hình ảnh một ông già gân, mồ hôi nhuể nhoại,khòm lưng,vừa chạy vừa cố sức đẩy đứa con bại liệt ngồi trên xe lăn. Mặt mày cậu ta méo xẹo, ẹo qua ẹo lại, múa mái tay một cách hổn loạn trước sự reo hò cổ vỏ vô cùng náo nhiệt của dân chúng đứng hai bên đường.

***

Video: Together…Team Hoyt

Gương hy sinh của một người cha

Người cha là Dick Hoyt (1940), trung tá hồi hưu Air National Guard. Người ngồi trên xe lăn là trưỏng nam Rick Hoyt. Cả hai đều ngụ tại Massachusetts.

Rick (1962) chẳng may bị thiếu oxy khi lọt lòng mẹ nên bị liệt não cerebral palsy nên phải chịu bại liệt và không thể nói được.

Các bác sĩ đều khuyên hai vợ chồng Dick nên đem gởi luôn đứa bé vào bệnh viện để được nuôi dưỡng và săn sóc suốt đời, nhưng họ chối từ và giữ Rick ở nhà và tạo điều kiện cho cháu có một cuộc sống “bình thường”.

Tất cả trường ở Massachusets đều từ chối không cho Rick đến học với lý do là họ không đủ người chuyên môn và trang bị thích hợp. Mẹ của Rick là Judy là một người đàn bà bản lĩnh và rất kiên trì. Bà không ngừng tranh đấu cho quyền lợi của các em khuyết tật. Cuối cùng bà đả thắng. Chương 766 về luật giáo dục đặc biệt được sửa đổi lại và thông qua lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Thế là Rick và một số em khuyết tật khác được quyền đi học.

Cái máy hy vọng

Nhưng làm sao Rick có thể diễn đạt vì cậu ta nói không được. Hai vợ chồng Dick bèn liên lạc với tiến sĩ William Crochetiere là Chairman of the engineering department at Tufts University và Rick Foulds, một cựu sinh viên đã tốt nghiệp. Sau thời gian nghiên cứu các nhà chuyên môn tại Tufts Univ đã chế ra một cái máy có tên là Tufts interactive communication device (TCI). Gia đình của Rick thì gọi đây là cái máy hy vọng hay Hope Machine.


Bìa sách về Team Hoyt.
Để làm thành câu Rick chỉ cần ấn đầu vào một thanh thép của cái máy. Và đây là lần đầu tiên Rick mới có thể trao đổi với người khác được.

Đó là vào năm Rick được 11 tuổi và được nhận vào trường công lập để học.

Rick theo học tại đại học Boston năm 1993 và đổ được văn bằng về giáo dục đặc biệt (special education) và sau đó cậu ta làm việc cho trường cao đẳng Boston (phòng thí nghiệm nghiên cứu về vấn đề liên quan đến những người bị khuyết tật).

At the age of 11, after some persistence from his parents, Rick was fitted with a computer that enabled him to communicate and it became clear that Rick was intelligent. With this communication device, Rick was also able to attend public school for the first time.

Rick went on to graduate from Boston University in 1993 with a degree in special education and later worked at Boston College in a computer lab helping to develop systems to aid in communication and other tasks for people with disabiliti

Thành tích phi thường của Đội Hoyt (Team Hoyt)

Vào năm 1977 tình cờ cậu bé Rick xem thấy hình ảnh chạy đua trong một tập san. Cậu ta liền gợi ý muốn hai cha con cùng tham gia vào các cuộc chạy đua chơi. Lúc đó, cha cậu là Dick Hoyt đã gần 37 tuổi rồi và ông ta chưa hề chạy bao giờ cả. Thương con nên ông phải ráng chìu ý. Sau khi hai cha con tham dự cuộc chạy đua đầu tiên 5 miles, Rick nói “Pa ơi! Khi con chạy với Pa con có cảm tưởng hình như con không phải là một người phế nhân nữa”.

Sau cuộc đua nầy, Dick tăng thêm hy vọng. Hai cha con có thể cùng chạy chung với nhau trong những cuộc đua khó hơn. Mỗi ngày Dick đều chuyên cần luyện tập. Ông vừa chạy bộ vừa đẩy một chiếc xe lăn trên đó có để một bao ciment cho nặng vì lúc đó Rick kẹt phải bận đi học.

Tính đến tháng 11, 2012 Đội Hoyt đã tham dự 1069 cuộc chạy đua dai sức trong đó có 69 marathons và 6 Ironman trialthons. Hai cha con đã tham dự 26 lần Boston Marathons, và đạp xe xuyên nước Mỹ trên một đoạn đường dài 3,735 miles trong 45 ngày. Rick được chở ngồi phía trước trên một chiếc xe đạp chế tạo đặc biệt. Trong các cuộc thi trialthons, lúc phải lội dưới biển, Dick vừa lội vừa kéo theo một cái phao trên đó có Rick.

Tháng 6 năm 2012 , Dick sẽ được tròn72 tuổi còn Rick sẽ được 50 tuổi. Khi mới bắt đầu chạy trong những năm đầu đội Hoyt tham dự lối 50 cuộc tranh tài trong một năm, nhưng nay thì họ bớt lại còn 20-25 cuộc đua trong một năm mà thôi (Theo Team Hoyt-Wikipedia).

Marathon và Ironman Trialthon là gì?

* Marathon là môn chạy bộ dai sức trên đường dài 42, 200 km

*Ironman Trialthon là một cuôc tranh tài thể thao hốc búa nhất. Nó gồm nhiều môn người lực sĩ bắt buộc phải thực hiện liên tục theo thứ tự trong một ngày như: lội trên biển 3, 860 km, đạp xe 180, 250 km, xong tiếp tục chạy marathon 42, 200km không được ngơi nghỉ.

Đa số lực sĩ chỉ có một giới hạn thời gian rất khắt khe là 17 giờ đồng hồ để hoàn tất hết các môn trên.

Cuộc tranh tài bắt đầu lúc 7 giờ sáng, thời gian lội 3,9 km không được vượt quá 2 giờ 20 phút, đạp xe không được vượt qua khỏi 5giờ 30 chiều. Tất cả lực sĩ phải hoàn tất hết các môn vào lối 12 giờ khuya.(tài liệu Wikipedia).

Tuổi già sức yếu

Năm 2012 nầy Dick được 72 tuổi rồi. Mấy năm trước Đick cân nặng 115-120 pounds, nay thì ông ta mập hơn và cân được 148 pounds. tuổi già sức yếu nên Dick cảm thấy khó khăn hơn trong việc đẩy chiếc xe lăn của cậu Rick.

Ngoài ra còn vấn đề cái ghế ngồi của cậu Rick. Lúc trước là cái ghế cũ, tuy nhẹ nhưng đã làm Rick đau đớn suốt lộ trình cuộc đua marathon. Ngày nay thì Rick có được cái ghế mới đặc biệt dành cho riêng anh. Nhưng điểm đặc biệt là cái ghế mới nầy dài hơn, cao hơn và nặng hơn cái ghế cũ lúc đẩy. Đây là mối ưu tư của Dick.

Cuộc đời của hai cha con Dick và Rick được viết thành sách: Devoted-The story of a Fathers love for His son.

Kết luận.

Trên thế giới người ta gọi cha con Dick bằng danh từ triều mến Team Hoyt.

Sự hy sinh không giới hạn của Dick cho người con tật nguyền đã làm mọi người thán phục và vô cùng cảm kích.
Vâng, chúng ta có thể làm được:Yes we can là câu châm ngôn của Team Hoyt.

Montreal, 2012

Nguyễn thượng Chánh

Bài Xem Nhiều