We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 18 June 2012

Chủ Đề 19.6: Anh Vẫn Sống …

Nhật Trường Trần Thiện Thanh: Anh Vẫn Sống …

Lên năm tuổi tôi được thấy những cánh dù thả sát cạnh nhà, được nghe những tiếng súng tấn công vào mật khu cộng sản và được gia đình thu xếp để về Sài Gòn sinh sống.
Chiến tranh lại đến với Sài Gòn, những cộng quân chỉ hơn tôi ít tuổi lạc lõng trong cuộc tháo chạy hay nằm phơi xác trên đường phố trong trận Mậu Thân.
Rồi hình ảnh chiến tranh trên truyền hình trên báo chí, những cuộc pháo kích vào Sài Gòn, những vụ đặt bom khủng bố và những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử trận mỗi ngày một nhiều hơn. Không chọn lựa chiến tranh nhưng chiến tranh đã đến và mỗi ngày một trở nên khốc liệt hơn.
Sống trong khu lao động chúng tôi thường gắn bó với nhau, khi người lính trận trở vềdù sống hay chết cũng là cơ hội để thế hệ chúng tôi gắn bó với nhau hơn. Vềthăm nhà các anh kể cho chúng tôi nghe chuyện chiến trường rồi hát cho chúng tôi nghe những bài ca yêu thích. Nếu các anh về trong hòm gỗ trong chiếc poncho chúng tôi lại có những đêm không ngủ quay quần bên các anh ca hát như sửa sọan cho chính mình sẵn sàng dấn thân vào cuộc chiến.
Nhữngđứa bạn tôi Mai, rồi Quân lấy khai sinh của người khác để đầu quân gia nhập quân đội. Sau 1975 tôi chưa thấy ai nhắc đến những thanh niên miền Nam như Mai như Quân đã tình nguyện gia nhập quân đội mặc dầu chưa đến tuổi thi hành quân dịch.
Vẫn biết đi vào cuộc chiến là đi vào cõi chết chúng tôi vẫn nóng lòng sửa sọan. Tại sao lại ước mơ và sửa sọan bước vào chiến tranh thay vì nghe lời người lớn du học: Tôi yêu được làm người lính. Khi còn nhỏ mỗi lần nghêu ngao hát bài: “Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis …” là mỗi lần được gia đình khuyên nhủ ráng học để giúp nước giúp nhà.
Tôi yêu đời lính nên cũng yêu nhạc lính và tôi yêu nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Rừng lá thấp là bài tôi yêu thích nhất. Bài được viết tặng cho Đại Úy Vũ Mạnh Hùng tử trận trên cầu ThịNghè trong trận chiến Mậu thân. Lạ một điều bản nhạc về một người thật đã hy sinh nhưng vẫn đi vào lòng người và vẫn lôi cuốn nhiều người “lên đường vui chinh chiến dài lâu.”
Trong CD Anh Không Chết Đâu Anh Nam Lộc và Việt Dzũng nêu lên một đặc thù của nhạc Trần Thiện Thanh là thường nhắc đến màu xanh. Trong bài Rừng Lá Thấp chưa đến 200 chữ đã có đến 5 chữ để diễn tả màu xanh: “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi … Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh …Rừng lá xanh xanh lối mòn chẩy quanh…” Màu xanh chính là mầu hy vọng, màu của sự sống, màu của tương lai, chính những dòng nhạc xanh xanh của Trần Thiện Thanh đã giúp hàng hàng lớp lớp lên đường “đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên …”.
Rừng Lá Thấp không phải là bài duy nhất Vinh Danh Người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trần Thiện Thanh còn viết bài Người ở lại Charlie để tạ từ Đại tá Nguyễn Ðình Bảo tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 Dù đã anh dũng hy sinh trên đồi Charlie Tân Cảnh Komtum. “Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie. Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí… Anh! Anh! Nhớ anh trời làm cơn bão. Anh! Anh! Tiếc anh chiều rừng thay áo…”
Trần Thiện Thanh, cùng người em trai Trần Thiện Thanh tòan sáng tác ca khúc Bắc Đẩuđể vinh danh một bạn thân vừa nằm xuống “Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu, …” Thần chết không phải chỉ đến với người sống, thân xác anh vì Sao Bắc Đẩu ba lần bị đạn thù bắn nát. “Người tên Bắc Đẩu chết trận La Vang, liệm xác ba lần Ngọc Bích cũng tan…” Bắc Đẩu Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn ngọc Bích là một bằng chứng tàn khốc của Chiến tranh.
Vở nhạc kịch Trên Đỉnh Mùa Đông và bản nhạc Anh không chết đâu Anh được sáng tácđể ca ngợi tinh thần bất khuất của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa Đại úy Pháo Binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Đương. “Anh không chết đâu anh, người anh hùng mủ đỏ tên Đương”đã tự kết liễu đời mình khi tiền đồn bị cộng quân chiếm đóng. Từ Hạ Lào Anh trở về quê nhà và “Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính…”
Khi cuộc chiến kết thúc, 30-4-1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn tướng Lê văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và hằng ngàn chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tuẩn tiết để “vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính…”Họ đã trở thành những anh hùng vị quốc vong thân và sống mãi trong lòng dân tộc. Nếu bạn từ phương xa ghé thăm Melbourne, Victoria, xin ghé Đền Thờ Quốc Tổ thắp một nén nhang cầu nguyện cho vong linh của những người đã hy sinh để chúng tađược sống.
Tháng 9-2012 tới đây tại Úc Châu sẽ có một Lễ Hội Âm Nhạc: Nhật Trường Trần Thiện Thanh – Anh Không Chết Đâu Anh, với sự góp mặt của hầu hết Ca Nhạc Sĩ và MCs hàng đầu Trung Tâm Asia Entertainment do VietStars Entertainment đứng ra tổchức. Riêng tại Melbourne, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria đã đồng thuận phối hợp với VietStars Entertainment để tổ chức Lễ Hội Âm Nhạc này.
Tất cả tiền lời của hai ngày Lễ Hội Âm Nhạc ở Melbourne, Thứ Bảy, ngày 8 và ChủNhật, ngày 9 Tháng 9, 2012, sau khi trừ các chi phí tổ chức, sẽ được Ban TổChức xung vào quỹ để trùng tu và bảo trì Đền Thờ Quốc Tổ để hậu sinh luôn có cơhội phụng thờ Quốc Tổ, anh hùng liệt nữ dân tộc, và những người chiến sĩ đã bảo vệ miền Nam tự do.
Trần Thiện Thanh viết bài Biển mặn nói lên tâm sự chính mình và tâm sự của những người con yêu của đất nước một đất nước luôn bị đe dọa của Bắc Phương:
“Cao ngất Trường Sơn, Ôm ấp tình thương nước ra sông nguồn, Tìm về biển Đông, Tình yêu thành sóng Thái Bình Dương, Rồi từng đêm sương, Sóng vỗ về ru giấc quê hương, Nhưng quê hương chưa ngủ, Khi bom đạn tơi bời, Còn nhục nhằn dưới ruộng trên nương.
Tôi thức từng đêm thơ ấu, Mà nghe muối pha trong lòng Mẹ là mẹ Trùng Dương, Gào than từ bãi trước ghềnh sau, Tuổi trời qua mau,
Gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi, Nên năm hăm mốt tuổi, Tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai.
Tôi đến lại đi, Xa vắng đời tôi chiến chinh lâu dài, Miệt mài đời trai, Vượt truông dài che khuất biển xanh, Đẹp tựa trong tranh, Gót bùn lầy cho lúa thêm xanh, Trong bao lần quân hành, Tôi qua vùng khô cặn, Mồ hôi thành biển mặn trên môi.”
Lời nhạc Trần Thiện Thanh luôn tràn đầy tính nhân bản kiên cường chiến đấu nhưng tuyệt đối không reo rắc hận thù. Vì thế nhạc của anh sống mãi trong lòng những người Việt thương yêu đất nước và luôn sẵn sàng “đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên …”.

Tôi viết bài này nhân sinh nhật lần thứ 70 của Nhật Trường Trần Thiện Thanh, 12-6-2012, để nhớ mãi Trần Thiện Thanh “…Anh vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính …”
Tôi viết bài này nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6 để nói lên lời tri ân các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa những người “… vẫn sống thênh thang trong lòng muôn người biết thương đời lính …”

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
17-6-2012

----------
                   UK-Đấu Tranh :Kính Tặng Các Chiến Sĩ QLVNCH
 

-

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa Tại Mỹ


 
Ngày lễ Memorial Day 28 tháng 5 tưởng niệm, tri ơn chiến sĩ trận vong ở Mỹ xong là đã thấy cộng đồng người Mỹ gốc Việt chuẩn bị cho ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19/6.

Trong bầu không khí ngậm ngùi tưởng nhớ những người nam nữ đã đã vì dân chiến đấu vì nước hy sinh, người Mỹ gốc Việt khó mà không nhớ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Càng nhớ càng đau, CS Hà nội còn đang thù hận người đã chết, đã và đang giam hồn tử sĩ của Việt Nam Cộng Hoà trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà mà CS cố tình cấm tu bỗ, cố ý bỏ hoang phế, điêu tàn suốt 37 năm qua. Nhiều cơ quan, đòan thể, cộng đồng, hội đòan của Việt Nam Hải ngọai nghĩ mình không ở được với CS ở VN, không đến được với Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa dể tưởng nhớ và tri ơn chiến sĩ VNCH, thì tại sao mình không đem biểu tượng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, thỉnh hồn tử sĩ ra hải ngọai để tri ơn, ngưỡng vọng. Như không ở được VN vói CS, người Việt đem hôn thiêng sông núi VN theo mình ra hải ngọai, với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ tung bay khắp các cộng đồng Việt Nam hải ngọai ở Tây Âu, Bắc Mỷ, và Uc châu. Biểu tượng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ở Mỹ, nơi có hơn phân nửa đồng bào hải ngọai, gần Little Saigon, thủ dô tinh thần của người Việt hải ngọai, còn là nơi quân dân cán chính VNCH còn có thế biến nguyện vọng thành sự thật, sống chiến đấu bên nhau, chết nằm gần bên nhau nữa.
http://4.bp.blogspot.com/-0eTj-MgHq3k/TnthetCEUYI/AAAAAAAAAC4/DlC8WHh_K_c/s1600/NTBH_057_TT_DangXay.jpg

Cho nên mấy năm nay người Việt ở Mỹ đã thành lập Ủy Ban Vận Động Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính, rất được nhiều đồng bào VN hải ngọai ủng hộ. Đã có gần đủ tiền mua đất rồi, đang làm thủ tục thành lập với sự góp nhân tài lực của người Việt hải ngọai.

Đó là chuyện phải làm vì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ở VNCS bây giờ vô cùng thê thảm. Không phải vì nặng quá khứ nên có thái độ quá khích đối với CS Hà nội nên nói thế. Đây là nhận định của du khách ngoại quốc du lịch VN muốn viếng Nghĩa trang Quân Đội VNCH ở Biên Hoà.

Sau đây là một đoạn nhật ký của một người Mỹ. Maggy Sterner trong Vietnam Dairy 4: Honoring the Dead ngày 15/7/2005, sau khi ghé mà không được viếng để tôn vinh tử sĩ trong Nghĩa Trang Quân Đội Biến hòa. Ngưòi Mỹ này đi với con, sau khi quan sát từ ngoài có một câu hỏi: “Is this a prison for ghosts?” (Đây phải chăng là trại giam những vong hồn [tử sĩ VNCH]).

Câu hỏi đó là câu kết luận của đoạn nhựt ký của Ông như sau: ”Cách một khoảng ngắn trên xa lộ đi về hướng bắc, chúng tôi gặp nghĩa trang quốc gia của quân đội Miền Nam VN, gọi là Nghĩa Trang Biên Hoà. Có một thời, đây là một nghĩa trang lớn nhứt của Nam VN. Bây giờ nó bị bao bọc bởi một tường rào cháy nám, bên trên là những vòng kẻm gai và nhiều tháp canh gác. Ngay đối với ngôi nhà mồ trên đồi, nơi ngưòi ta thường bắt đầu bày tỏ sự chào kính, cũng bị cấm. Sát bên cạnh nghĩa trang, chúng tôi thấy những tân binh của bộ đội mới của VN đang giặt đồ và trồng rau. Tại sao cần nhiều quân nhân quá ở một địa điểm như thế này? Tại sao nghĩa trang trông giống như một căn trại võ trang. Những bộ đội trẻ đóng tại căn cứ này – sanh sau Chiến tranh VN chấm dứt – không còn bị đe dọa bởi những người Miền Nam VN “phản động” hàng ngàn người đang nằm dưới đất ở đây. Những quân nhân của Miền Nam mà Đảng CSVN gọi là “bù nhìn” và không cho có mặt trong lịch sử hay viện bảo tàng. Qua kẽ hở của tường rào nám đen, chúng tôi thấy vài ngôi mộ bị cỏ dại cao che phủ. Một năm trước đây một đoạn video từ VN đã đến được Mỹ cho thấy nhiều mộ bia bị hư hao. Nhiều phần của nghĩa trang bị cố ý phá hoại.Tại sao cho phép điều đó xảy ra? Tại sao làm những tường rào ra và tháp canh? Nhà cầm quyền sợ cái gì? Phải chăng đó là trại nhốt những vong hồn? [tử sĩ VNCH]”.

Ai cũng biết vong hồn đó dĩ nhiên là vong hồn của tử sĩ VNCH vì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là nghĩa trang quân đội lớn nhứt, danh dự nhứt của VNCH trước 30 -4-75, ngày chấm dứt cuộc chiến tranh của CS Hà nội muốn thôn tính Miền Nam, vì tư do, dân chủ, quân dân cán chính VNCH phải tự vệ chống lại CS Bắc Việt suốt gần 20 năm ròng rã.

Nhưng vì địa lý chánh trị toàn cầu, Mỹ và Trung Cộng thay đổi, quyền lợi Mỹ đổi thay,VNCH bị bức tử. CS Hà nội gồm thâu được cả nước. CS Hà nội say chiến thắng, say máu trả thù -- triệt để và thâm độc. Người sống của VNCH, quân dân cán chính, CS đưa đi trại tù cải tạo, một loại tù cấm cố, lao động cưỡng bức, mười mấy năm trời, còn khổ cực hơn tù đại hình mà không có toà xét xử, không có bản án. Dân làm ăn thì đánh tư sản mấy lượt, đuổi đi kinh tế mới. Hồi hương lập nghiệp. Còn dân thường thì đổi tiền mấy lần, sạch cửa sạch nhà, biến thành công dân hạng hai, mất quê hương trên quê cha đất tổ của mình, sống như trong trại tù lớn là xã hội VN. CS Hà nội cào bằng văn hoá quốc gia dân tộc VN và áp đặt một loại văn hoá ngoại lai Mac xit –Leninst. Người Miền Nam di tản tỵ nạn CS hàng triệu người, phân nửa chết trong rừng sâu và trên đại dương. Vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN. Lương tâm Nhân Loại đánh động; Liên hiệp Quốc mở cuộc cứu trợ và định cư lớn nhứt trong thế kỷ 20. Tiếng Anh thêm một chữ “boatpeople” (thuyền nhân).

Còn những tử sĩ VNCH, thì CS Hà nội quyết nhốt vong hồn trong những nghĩa trang bị đặt thành khu quân sự cấm dân vào thăm viếng, tưởng niệm. Trong Nghĩa Quân Đội Biên Hòa, CS đào mồ, cuốc mả, lấy mộ bia làm tấm lót nước ngập. Những tấm lót nước ngập ở Bịnh Viện Từ Dũ trong thập niên 80 là những tấm đậy kim tĩnh lấy từ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chỗ nào nền đất thì bộ đội đào xới trổng mì sắn, rau củ. Chỗ nào nền xi măng thì cho các tổ hợp mướn làm mặt bằng sản xuất, phơi sấy vật liệu. dơ dáy. Sau cùng đôi năm trở lại đây chính Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng ra nghị định bôi xoá di tích quân sử VNCH này bằng một quyết định giao nghĩa trang này cho tỉnh Bình Dương để biến thành một nghĩa địa thường dân như mọi nghĩa địa thường dân khác.

Cuộc trả thù có tính say máu của CS Hà nội đối với quân dân cán chính Miền Nam sau khi Chiến tranh VN chấm dứt đã làm cho một chiến tranh khác (other war) bắt đầu. Đó là một chiến tranh chánh trị đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Một Việt Nam hải ngoại của ngưòi Việt Quốc Gia hình thành đấu tranh không ngừng nghỉ, quốc tế vận ở ngoài và hai mặt giáp công hải ngoại đánh vào tiếp ứng cho đồng bào trong nước.

Quân cán chính VNCH đã cùng nhau vì dân chiến đấu vì nước hy sinh ở nước nhà. Quân dân cán chính VNCH đã cùng tù đày CS. Quân cán chính VNCH không giải ngũ đã cùng nhau tranh đấu liên tục cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN khi ra hải ngoại. Tại sao quân dân cán chính VNCH không được cùng an nghĩ ngàn thu với nhau? Cảm nghĩ muốn thuộc về nhau khi sống cũng như khi chết của quân dân cán chính VNCH đó đã thúc đẩy việc thành lập nghĩa trang quân cán chính. Không sống được ở nước nhà VN, thì quân cán chính VNCH đem VN theo mình. Để khi làm xong nghĩa vụ với quốc gia dân tộc, quân cán chính có thể nằm bên nhau, dưới bóng quốc kỳ VNCH tượng trưng cho hồn thiêng sông núi VN, ngay trên quê hương mới của mình, gần cộng đồng của mình./.

Vi Anh

Bán dâm cao cấp : Lựa chọn cá nhân hay sản phẩm xã hội?


 
 - Bán dâm cao cấp trong xã hội Việt Nam hiện nay vừa có dáng nét của một sự lựa chọn cá nhân, vừa có dáng nét của một sản phẩm xã hội. Hai dáng nét ấy không triệt tiêu nhau mà lại hòa quyện nhau tạo dựng nên một chân dung xã hội Việt Nam mà trong đó nhân phẩm và đạo đức đang tha hóa nghiêm trọng...
Lịch sử nước Việt Nam là một lịch sử lâu đời, nhưng có lẽ chưa có thời kỳ nào trong lịch sử ấy việc bán dâm lại trở nên rầm rộ và phổ biến như trong xã hội VN hiện nay. Nó hiện đang có dáng vẻ của một nghề thời thượng: vốn ít và phất lên rất nhanh. Vốn ở đây, ngoài cái vốn tự có, chỉ cần có thêm một danh hiệu gì đó mà nhiều người biết đến (như ca sĩ, diễn viên, người mẫu... hay hoa khôi, hoa hậu, chẳng hạn) là đủ; số tiền được trả có thể lên cao ngất ngưởng đến hàng nghìn đô - những con số làm choáng váng đại đa số người Việt, vốn còn phải sống trong cảnh nghèo khó, chạy cơm từng bữa.

Một chị bán thịt, nghe được những cái giá ấy, cảm thấy choáng váng đến nỗi chị nói vui: Nếu có chút ít nhan sắc, chị nhất quyết bỏ bán thịt ngay để đi... bán dâm. Dẫu chỉ là một câu nói vui, nhưng nó cho thấy việc bán dâm bây giờ dễ dàng và đơn giản như thế đấy: Vốn có sẵn, được giá thì cứ bán thôi, chết ai nào! Đạo đức à? Nhân phẩm à? Chúng là gì thế nhỉ? Một số người, nhất là những con người trẻ, cảm thấy những khái niệm ấy thật xa lạ. Cũng phải thôi. Vì điều mà họ luôn được nghe nhắc nhở đến và đã thấm nhuần vào trong tâm trí từ thuở "hồng hoang" ngắn và gọn hơn thế, chỉ một từ thôi: Tiền!

Việc bán dâm vốn dĩ là một việc xưa như trái đất. Nhân vật bán dâm xưa nổi tiếng nhất và được nhiều người VN biết đến nhất có lẽ là nàng Thúy Kiều trong thi phẩm Kim Vân Kiều của nhà thơ Nguyễn Du.

Với nàng Kiều ngày ấy, việc bán dâm này là một hệ lụy của xã hội - nàng là một nạn nhân của xã hội phong kiến vào thời kỳ mà cường quyền lên ngôi bức bách, hiếp đáp dân lành - chứ hoàn toàn không phải là một sự lựa chọn cá nhân; nàng vốn là một khuê nữ "trong ngọc trắng ngần" đã phải bất đắc dĩ bán mình để chuộc cha, giúp ông thoát khỏi án oan ngục tù. Và vì không phải là một sự lựa chọn cá nhân nên dẫu nàng phải trải qua 15 năm lưu lạc với thân phận "gái lầu xanh", hình ảnh của nàng vẫn đẹp lung linh trong mắt chàng Kim Trọng, trong mắt mọi người.

Còn với các nàng Kiều hôm nay thì sao - những nàng buôn bán được giá, với cái giá làm biết bao kẻ thèm thuồng? Việc bán dâm của họ là sự lựa chọn cá nhân hay là sản phẩm của xã hội? Câu trả lời không hề dễ dàng vì điều nào trong cả hai điều ấy cũng đều chứa đựng những lý lẽ hợp lý của nó.

Sự lựa chọn cá nhân ư? Chứ còn gì nữa. Nghèo khổ quá, đành phải bán dâm đã đành, để tồn tại, để sống sót. Những phận người bất hạnh như thế luôn có mặt ở mọi nơi trong những xã hội còn nhiều lầm than, cơ cực. Số này cũng luôn là số đông, và nơi chốn hành nghề của họ thường là những con đường vắng lặng hay những ngõ hẻm tối tăm. Họ tuy đông nhưng lại không phải là thành phần làm cho cái nghề bán dâm trở nên xôm tụ, rộn ràng. Người ta đã quen với sự hiện diện khốn khổ và đầy dẫy của họ đến mức chấp nhận nó một cách vô thức, cho dù pháp luật có đồng ý hay không.

Sự rầm rộ của việc bán dâm như thời điểm hiện nay là do có sự tham gia của một đội ngũ mới bao gồm những con người mà tạo hóa đã ban cho họ ít nhiều sự may mắn: sắc đẹp và danh hiệu. Trong xã hội VN đương đại, không hẳn là có sắc đẹp và danh hiệu là đương nhiên trở nên giàu có, lắm của, nhiều tiền. Và bi kịch chính là ở chỗ đó. Tục ngữ có câu: "Thuyền to, sóng lớn", "Càng cao danh vọng, càng dày gian nan". Sở hữu sắc đẹp, được đánh bóng thêm bằng một danh hiệu nào đó, những con người này bỗng dưng thấy nảy sinh trong lòng mình những khát vọng (nếu không muốn nói là tham vọng) bất tận về một sự phát sáng rực rỡ giữa đời (cho bằng chị, bằng em) bằng những bộ quần áo sang trọng, những ngôi nhà bề thế, những chiếc xe hơi lộng lẫy...

Chính khát vọng ấy (tham vọng ấy) đã đưa họ trượt dần vào quĩ đạo của những con thiêu thân nông nổi: Họ đã nhắm mắt để bán cái mà họ chẳng nên bán bao giờ. Với số đông ngoài kia đang cùng làm chung cái động thái bán buôn ấy, sự mất mát chỉ là một, thậm chí có người chẳng còn gì để mất. Với họ, đáng thương thay, sự mất mát là trăm, là ngàn lần hơn: Mất nhân phẩm, danh tiếng và mất luôn cả một tương lai xán lạn đang đón chờ phía trước (nếu họ chấp nhận dấn thân và phụng sự nghệ thuật nghiêm túc). Những giọt nước mắt muộn màng của họ làm người ta vừa thấy giận, vừa thấy thương đến xót cả ruột gan. Giận vì trách họ nông nổi quá. Còn thương vì thấy họ sao quá ngu khờ, đường ngay không chọn, lại chọn lối đoạn trường mà đi.

Tuy nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại. Họ biết làm sao hơn khi họ sống trong một xã hội như thế - một xã hội mà cái nghèo, nói chung, cũng như quá khứ nghèo khổ của họ, nói riêng, đã ám ảnh họ một cách ghê sợ như căn bệnh thế kỷ dẫu rằng họ có trong tay nhan sắc ấy, danh hiệu ấy? Nói về cái xã hội ấy, có một người đã phải cảm thán mà thốt lên rằng: "Thật khó để làm người đàng hoàng trong một xã hội thổ tả". Trong cái xã hội thổ tả đó, đồng tiền đã lên ngôi và chi phối mọi ý nghĩ, nhận thức và hành động của con người. Người ta sẵn sàng làm tất cả mọi thứ miễn sao có thật nhiều tiền. Họ đã thấm nhuần một chân lý vừa ra đời cách đây không lâu, cũng chính ngay trong xã hội ấy: "Cái gì không thể mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền".

Thật cũng không thể đổ hết mọi tội lỗi, trách nhiệm lên đầu họ khi mà ngay từ nhỏ, từ thời còn cắp sách đến trường; những gì mà họ được giáo dục, dạy dỗ, tiếc thay, lại không phải là nhân nghĩa giữa con người với nhau, là nhân cách để sống ở đời, mà thay vào đó, lại là những thần tượng không thực và những tín điều giả dối. Những điều không thực và giả dối được giáo dục ngay từ nhỏ đó đã tạo nên một thế hệ trẻ với tâm hồn mục ruỗng và nhận thức hời hợt. Hãy nhìn thẳng vào xã hội hiện giờ để thấy hết được sự tha hóa của những con người trẻ hôm nay, từ việc tôn sùng điên cuồng những thần tượng hào nhoáng đến những ứng xử gian dối, bạo lực trong học đường và ngoài xã hội. Được giáo dục và lớn lên trong một xã hội như thế, khái niệm về nhân phẩm và đạo đức đã bị lãng quên như những món hàng không còn hữu dụng.

Góp phần không nhỏ vào con đường bán thân ấy của các nhan sắc trẻ, không thể không kể đến sự lôi kéo, chào mời, giăng bẫy của một tầng lớp đại gia mới nhiều tiền, lắm bạc. Họ có nhiều tiền đến nỗi họ trở nên "rửng mỡ" và nảy sinh ra sở thích trưởng giả lố bịch, phi nhân bản: chứng tỏ đẳng cấp của mình thông qua việc mồi chài những cô gái trẻ, đẹp có danh hiệu nhưng non lòng, trẻ dại và đang cần tiền. Số đồng tiền to tát mà họ bỏ ra đó để phục vụ cho sở thích rởm đời của mình vô tình làm cho hình ảnh của những con người Việt khốn khó, đang lần mò trong những hóc xó tối tăm nào đó của đất nước để kiếm từng đồng tiền bạc lẻ sống qua ngày, càng thêm nhiều chua xót và nghiệt ngã.

Bán dâm cao cấp trong xã hội Việt Nam hiện nay vừa có dáng nét của một sự lựa chọn cá nhân, vừa có dáng nét của một sản phẩm xã hội. Hai dáng nét ấy không triệt tiêu nhau mà lại hòa quyện nhau tạo dựng nên một chân dung xã hội Việt Nam mà trong đó nhân phẩm và đạo đức đang tha hóa nghiêm trọng.

 
17/06/2012

 
Jeffrey Thai

MẶT THẬT CỦA VC BÙI TÍN : Ai Nói Bùi Tín Đầu Hàng Quốc Gia

MẶT THẬT CỦA VC BÙI TÍN


Liên Quan Gì Khi Tòa Tổng Lãnh Sự Việt Cộng Tại San Francisco tổ Chức Vinh Danh Vẹm Cái Lại Có Sự Xuất Hiện Của Đặc Công Bùi Tín? Tôn Nữ Hoàng Hoa góp nhặt

Con bài phản tĩnh cuội của Bùi Tín không còn có cơ hội sấp ngửa nữa mà con bài đã bị lật tẩy rõ ràng qua những sự phân tích của những ngừơi Việt QG chống Việt Cộng tham tàn giết hại vô số đồng bào VN vô tội và đem xương máu của dân tộc Việt Nam để đi xây dựng mộng bá chủ hoàn cầu cho Cộng Sản Quốc Tế

Trước hết xin mới quí vị nghe Bùi Tín trả lời từng câu hỏi để từ đó chúng ta thấy rõ hình dáng Ma vương giả dạng làm Gái Nhà Lành để "hút máu " những thư sinh háo sắc

Thứ nhất Khi được hỏi về "Ông nhận xét như thế nào về cộng đồng người Việt ở hải ngoại nói chung và những người quốc gia ở hải ngoại nói riêng?"
Bùi Tín trả lời: " Đây là một sự thiệt thòi rất lớn cho đất nước. Nhưng tôi thấy người Việt sống ở hải ngoại cũng còn có những nhược điểm; chưa thực sự đồng tâm nhất trí. Còn chia rẽ nhiều. Tình trạng chia rẽ nhau cũng dễ hiểu, bởi vì mỗi người ra đi có hoàn cảnh khác nhau. Trong những người gọi là "quốc gia" ở hải ngoại, có những nhược điểm cần khắc phục. Đó là thái độ hận thù còn quá sâu."
Bùi Tín chê người Việt QG còn hận thù quá sâu vì người Việt QG không chấp nhận chiêu bài "Xóa Bỏ Hận Thù" mà Việt Cộng đã dùng mọi chiến thuật khai triễn làm công tác lý luận để bọn phãn tĩnh Cuội, Đảng phái chính trị tay sai của VC và Việt gian Đang tung hứng tại hải ngoại hầu để bào vệ CHIẾN LƯỢC CỦA VC TẠI VN" qua lời của già Hồ "đoàn kết đại đoàn kết cho đảng csvn cai trị đời đời
2. Bùi Tín nói gì về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Trong “Mây mù thế kỷ”, trang 32, Bùi Tín viết về quân lực VNCH như sau:
“Quân lực VNCH có những khó khăn, ở ngay sự ra đời và phát triển của nó. Nó được chính quyền thực dân Pháp lập nên, được người Pháp tổ chức và huấn luyện. Các sỹ quan cấp cao nhất hầu hết là học ở các trường quân sự của thực dân Pháp. Các tướng Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn cao Kỳ, Nguyễn văn Hinh, Trần văn Đôn, Dương văn Minh, Phạm văn Phú, Đỗ cao Trí, Ngô quang Trưởng, Đỗ Mậu… đều thế cả. Trước nhân dân cả nước Việt Nam, trước dư luận quốc tế, quả thật là có nhiều khó khăn, khi muốn dành cho quân đội ấy những chữ “yêu nước”, “chính nghĩa”, khác hẳn với Quân đội Nhân dân Việt Nam. " Hãy nghe Bùi Tín phỉ báng Quân Lực VNCH khi cho rằng thật là có nhiều khó khăn khi muốn cho Quân Đội VNCH ấy những chữ "yêu nước" "chính nghĩa khác với Quân Đội Nhân Dân Việt Nam..”

Bùi Tín đứng trên tư cách cựu đại tá quân đội nhân dân của Việt Cộng công khai phỉ báng Quân Lực VNCH ấy thế mà dám mò về San Jose là nơi mà Tập Thể CCSVNCH/ Hải ngoại đang đóng đô Thử hỏi quí vị Cựu Quân Nhân VNCH có cần phải tập trung lực lượng biểu tình phản đối Bùi Tín tên VC cao cấp của Việt Cộng hay không?
3. Bùi Tín Phỉ Báng Lá Cờ Vàng
Trong “Mây mủ thế kỷ”, trang 54, Bùi Tín viết:
“Tôi đã gặp một số vị trong chế độ Sài-gòn cũ, có vị là trung tướng nói với tôi rằng: “Nếu chúng tôi chiến thắng, tức miền Nam thắng miền Bắc, không chắc chính sách của chúng tôi đối với các ông đã hơn gì so với chính sách của các ông đối với chúng tôi. Có khi chúng tôi lại có những trại giam tàn bạo hơn.” Ngay một số trí thức từng ở trong chính quyền miền Nam cũng tỏ ra phủ nhận bộ máy lãnh đạo của chế độ VNCH trước đây và phủ nhận cả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: “Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy. Chế độ đó đã thất trận, thất trận do thối nát, thiếu sáng suốt, phải bỏ nước chạy ra nước ngoài.” ở trong nước, đồng bào ta, kể cả những người từng sống trong chế độ Sài-gòn cuõ, cũng không nuối tiếc và hy vọng gì về những người “quốc gia” ở nước ngoài, vì họ không tác động có hiệu quả đối với đất nước, trong khi phần đông họ chỉ cổ vũ hận thù và một thời gian còn có không ít người chủ trương dùng bạo lực.”

Thứ ba: Bà con hãy nghe Bùi Tín điêu ngoa lẽo mép khi tự hắn dàn dựng một vị Tướng mà Tướng đó tên gì thì tên VC Bùi Tín không nói rõ mà chỉ mượn cớ để cho rằng những trại tù tàn bạo dã man của VC có tàn bạo thật nhưng không tàn bạo bằng nhà tù VNCH. Quí vị có cần mang trứng thối và cà chua liệng vào cái mồm lẽo mép của tên VC Bùi Tín không nhỉ?

Chưa hết xin quí vị hãy nghe giọng lưỡi Vẹm của Bùi Tín khi hắn giảo hoạt phỉ báng Lá Cờ Vàng. Cũng lại cái kiểu "nhiều người nói mà không xưng tên như :" Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: “Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy. Chế độ đó đã thất trận, thất trận do thối nát, thiếu sáng suốt, phải bỏ nước chạy ra nước ngoài.” ở trong nước, đồng bào ta, kể cả những người từng sống trong chế độ Sài-gòn cuõ, cũng không nuối tiếc và hy vọng gì về những người “quốc gia” ở nước ngoài, vì họ không tác động có hiệu quả đối với đất nước, trong khi phần đông họ chỉ cổ vũ hận thù và một thời gian còn có không ít người chủ trương dùng bạo lực.”

Tại sao VC Bùi Tín không dám nói hắn nói mà phải mượn cớ Vị Tướng này nhiều người kia? Tại vì Bùi Tín đang đóng vai Phản Tĩnh Cuội Chống Đảng.
Nếu hắn là phản tĩnh thật , chống đảng thật thì hắn đâu có phỉ báng Lá Cờ Vàng là Biểu Tượng Thân Thương Và Chính Nghĩa của Ngừơi Việt Quốc Gia .

Quí vị ở San Jose còn chần chờ gì mà không vẽ hình VC Bùi Tín rồi liệng cà chua trứng thối vào hình khi đi biểu tình chống tên VC Bùi Tín này Bởi tên Bùi Tín này sẽ chui cửa hậu vào Hội Trường

Quí vị nên viết vào banner một hàng chữ Việt Cộng khởi sự gây lại Cuộc Chiến Tranh VN tại Hoa Kỳ bằng Anh Ngữ để cho dân chúng Hoa Kỳ thấy rõ tính cách xâm lăng vào Cộng Đồng Ngừơi Tỵ Nạn VC tại Hoa Kỳ.

Trong tờ báo saigon Time ở Úc số 549 viết về Bùi Tín và tết Mậu thân 68 như sau:

Bùi Tín là người đã trực tiếp hoặc gián tiếp nhúng tay vào máu của những tội ác do CSVN gây ra thời Cải cách Ruộng Đất, khi ông là cán bộ cải cách ruộng đất trong thời đó. Bùi Tín cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp nhúng tay vào máu của những tội ác do CSVN gây ra thời chiến tranh xâm lăng Miền Nam khi ông là phó Tổng Biên Tập báo Quân Đội Nhân Dân với cấp bậc đại tá. Vì vậy, khi Bùi Tín chạy sang Pháp với chiếc áo "người cộng sản phản tỉnh", người Việt hải ngoại vẫn sáng suốt và thận trọng theo dõi những bài viết, những lời phát biểu của ông. Quả nhiên, trải qua năm tháng, dần dần mọi người đã nhận ra vai trò "phản tỉnh cuội", "đặc công văn hóa" của Bùi Tín. Đặc biệt, gần đây, khi trả lời BBC về vụ thảm sát của CSVN trong dịp Tết Mậu Thân tại Huế, Bùi Tín càng để lộ rõ chân tướng của ông khi ông xảo quyệt chạy tội thảm sát hàng chục ngàn người dân vô tội cho các trùm sỏ CS tại Bắc Bộ Phủ.

Đồng thời tờ báo Saigon Time đã phổ biến bài viết của tác giả Thiên Thanh - tamthucviet.com về việc Bùi Tín chạy tội cho bọn Việt Cộng đã thảm sát dân Cố Đô Huế như sau:

"Để tưởng nhớ 40 năm thảm sát Tết Mậu thân 68, hầu hết những diễn đàn điện tử lẫn các cơ quan truyền thông VN ở hải ngoại đều đưa ra bằng chứng đầy đủ hình ảnh về tội ác tày trời của CSVN trong cuộc thảm sát Tết Mậu thân 1968. Ngay cả những tài liệu của người ngoại quốc cũng đều cho thấy tính chất dã man của cuộc thảm sát có tính chất quy mô này khiến người dân miền Bắc rùng mình liên tưởng đến thời Cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 50. Trong khi đó, ở Việt Nam nhà nước CSVN vẫn ăn mừng chiến thắng Tết Mậu Thân. Còn cựu Đại Tá Bùi Tín hiện đang cư ngụ tại Pháp, là cựu Phó Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân năm 1968, trong một cuộc phỏng vấn trên đài BBC ngày 24/1/2008 liên quan đến đề tài quân đội cộng sản thảm sát dân chúng trong cuộc tấn công vào Huế, đã cho biết là ông không ngờ cuộc thảm sát quy mô lớn như vậy. Ông viện lý do rằng: ''Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết''. (sic) - để từ đó giải thích rằng, sở dĩ quân đội Cộng sản phải làm như thế là vì tuân theo lệnh ''không được để tù binh trốn thoát'' nhằm giữ bí mật. Và sau cùng ông Bùi Tín đi đến kết luận là "Theo tôi thì "không có mệnh lệnh cấp trên là tiêu diệt và giết tù binh'' (sic).

Những điều trình bày và cách lý luận của ông Bùi Tín nêu trên làm người ta rùng mình liên tưởng tới lối lý luận đầy ngụy biện bao che cho Bác Đảng thời cải cách ruộng đất thuở nào. Cùng một loại toà án nhân dân ở những cuộc cải cách ruộng đất đã sát hại dã man trên nửa triệu dân miền Bắc nay đã được đem ra áp dụng ở Tết Mậu Thân Huế,
thế mà sao ông nỡ lòng nào tảng lờ không biết. "

Thì bởi Bùi Tín thuộc vào thành phần Tiểu Nhân Trị của Việt Cộng thì làm gì có lòng trắc ẩn !!!

Hỡi người con dân Huế ở San Jose và tập thể Người Việt tỵ nạn cs tại Sa Jose mau mau sẵn sàng cà chua trứng thối liệng vào mặt tên VC Bùi Tín này để cho những linh hồn người dân Huế trong những mồ chôn tập thể, những linh hồn còn vướng vất ở trần gian chưa giải thoát, được mìm cười trong cõi hư vô . Và để những anh linh của người Lính VNCH đã Vị Quốc Vong Thân trong cuộc chiến do Việt Cộng gây ra tại Miền Nam VN được an nghĩ bình an trên cõi Vĩnh Hằng

Tôn Nữ Hoàng Hoa Ngày 17 tháng 6 năm 2012

Đời tị nạn

Nail, một nghề của người Việt tị nạn
Mang thân tị nạn nổi trôi tới xứ người, lúc bắt đầu hội nhập, bất cứ ai ai có lẽ cũng gặp ít nhiều trở ngại khó khăn vì vấn đề bất đồng ngôn ngữ. Việc mưu sinh do đó cũng bị ảnh hưởng rất nhiều, muốn tìm một việc làm theo ý mình không phải là chuyện dễ, nghề chọn người chớ người không thể chọn nghề nhứt là những ai không có nghề nghiệp chuyên môn, họặc cho dù có tay nghề gì đi nữa mà không thông thạo tiếng nói cũng không dễ gì được nhận. Vì vậy đa số đều lâm vào hòan cảnh như nhau, hễ có việc thì cứ nhào vô làm, đụng đâu làm đó chẳng câu nệ ngại ngùng gì miễn sao có chút tiền dằn túi trước rồi muốn gì thì mới tính sau. Bởi vì sau những năm dài bị đọa đày bầm dập dưới chế độ cộng sản, người dân đã thấm đẩm tới tận cùng xương tủy cái “chân lý” bần cùng của chủ nghĩa xã hội “lao động là vinh quang” mà dân gian miền nam đã không ngần ngại chua chát thêm vào câu “lang thang là chết đói” cho đủ ý hợp tình.

Thế nên khi tới được bến bờ tự do, tất cả mọi người từ sĩ nông công thương, thầy hay thợ, chủ hay tớ, trí thức hay cùng đinh, những tâm hồn lớn nhỏ gì cũng có thể ngồi chung một chiếc thuyền, cùng chung một mục đích như nhau là kiếm tiền. Ai càng có sức thì kiếm tiền càng dễ. Cứ nhào vô hảng xưởng cắm đầu cắm cổ làm hai shifts là nhanh chóng có tiền trong tay. Có làm hàm mới có nhai và một khi có no ấm bản thân thì mới có tinh thần nghĩ đến nguyện vọng lý tưởng đã từng vẽ vời xây mộng từ lúc vừa thóat khỏi gông xiềng đảng trị của cộng sản phi nhân độc tài.
Gia đình thầy giáo Phương gồm bốn người sau khi tới Úc được giáo hội bảo trợ về một vùng quê khỉ ho cò gáy chỉ có cây rừng và nông trại. Nơi đó, họ không tìm được việc làm nên đã dắt dìu nhau trở lạiSydney. Lúc ban đầu họ tạm trú trong một căn nhà xưa cũ của giáo hội tin lành cho mướn ngay tại trung tâm city gầnHyde Park. Hai đứa trẻ, thằng em vợ và con thầy Phương thì được sắp xếp cho vào trường học ngay cho kịp tuổi. Thầy Phương cũng ghi tên xin vào một khóa intensive English for migrants and refugees ở NSW Uni để ôn lại vốn liếng tiếng Anh chuẩn bị đi làm. Còn cô Phương thì tạm thời ở nhà đưa rước con đi học.

Thời đầu thập niên 80, tiền thất nghiệp cho một couple mỗi fortnight chỉ có 200 dollars. Tiền thuê nhà hai tuần là hết 80, chỉ còn lại 120dollars cho bốn người tiêu xài ăn uống trả bills, chật vật gói ghém lắm mới đủ. Vì vậy khi gặp một bà Úc có đứa con học chung lớp với con gái của cô giới thiệu cho cái job làm bồi phòng trong một motel bảy tầng ở gần nhà, cô mừng húm xin đi làm ngay mà chẳng cần biết công việc nặng nhẹ ra sao. Tới chừng vô làm mới biết ngày tám tiếng phải dọn mười cái phòng giường đôi, mỗi phòng đều phải lau chùi, dọn dẹp, hút bụi, làm giường với số lương là 150dollars một tuần. Vốn ốm yếu mình hạc xác ve nặng chưa tới 40kg, ngày đầu đi làm về, cô nghe ê ẩm cả người, hôm sau ngồi dậy không muốn nổi nhưng vẫn phải cố gắng, tự nhủ rằng dần dần chắc sẽ quen thôi. Cô tính rồi đây khi ông xã cô cũng có việc làm thì tiền lương hai người cộng lại sẽ có thể dư được chút đỉnh phòng thân khi bệnh họan túng cùng. Nhưng chỉ được hai tuần thì cô thấy cái lưng mình như bị gãy, đau nhức rã rời, nhắm không thể chịu đựng lâu hơn nữa được, cô đành xin nghỉ việc chờ cơ hội khác .


Trẻ nhỏ đi học đã yên phần
Người lớn tìm việc mới trần thân
Việc làm không thể chọn theo ý
Một năm đổi job bốn năm lần
Đời ai tị nạn chẳng long đong
Cũng vì sinh kế phải cam lòng
Gặp gì làm nấy đâu quản ngại
Ai người đồng cảnh mới cảm thông 


Nhân một ngày chúa nhựt đi lễ nhà thờ ở Bondi, vợ chồng thầy Phương gặp hai gia đình người đồng hương qua trước mình hai năm hiện đang sinh sống làm việc ở vùng biển du lịch này. Thầy Phương nói thầy cũng đang tìm chỗ dọn vì giáo hội sắp lấy lại căn nhà đang cho thuê. Nghe vậy họ cho biết trong cái building họ ở còn một căn flat trống chưa ai mướn, họ rủ gia đình thầy về đó ở với họ cho có bạn với nhau. Lúc đó tứ cố vô thân, không có người mách nước chỉ bảo cho nên ai rủ ở đâu thì mướn ở đó chớ có biết vùng nào mắc rẻ, vùng nào thuận tiện dễ đi đứng và có nhiều hảng xưởng để kiếm việc làm. Dân tị nạn ở hostel ra đa số đều chọn vùng phía tây để lập nghiệp còn gia đình thầy Phương thì từ quê lên thành lớ ngớ lù khù nhè phía đông tòan là bãi biển du lịch mà “cắm dùi” thì chỉ có nước đi làm tạp dịch mà thôi.


Nhưng thời may, khi dọn về Bondi beach, một bữa trưa khi cô Phương đi rước con tan học, một bà Úc làm việc xã hội trong nhà thờ Saint Patrick Bondi kêu cô lại trao cho mảnh giấy có ghi số điện thọai của một nhân viên Welfare ở Endeavour hostel, bảo cô về nói với thầy Phương liên lạc với người này vì họ đang cần thông dịch viên. Lúc ấy là lúc thầy đang quơ quào làm tạm cái job cleaning trong một câu lạc bộ ở city chờ thời vì sau khi mãn khóa học thầy chưa tìm được việc gì đúng với sở trường của mình.
Cũng xin nói thêm, trước khi vượt biên, thầy Phương có đi coi tử vi thì được ông thầy tử vi dặn bảo là phải đi về hướng nam lập nghiệp thì mới mong thành công, mới mong có cơ hội cầm lại cây viết, bằng không sẽ cầm cây chổi suốt đời. Do đó, thầy đã chọn nước Úc, một lãnh thổ ở cực nam bán cầu (không còn nơi nào là cực nam hơn nữa trên trái đất này) để định cư. Chắc có lẽ nhờ vậy mà giờ đây chính là thời điểm cây viết trở lại trong tay thầy. Sau khi phỏng vấn, thầy được nhận và đi làm ngay tuần sau. Thế rồi thầy bye bye cây chổi, bắt đầu làm việc văn phòng nine to five, có bàn viết điện thọai riêng, mỗi tuần lãnh lương chính phủ chắc cú. Rồi khỏang vài tháng sau, khi Bộ Di Trú ra thông báo tuyển người, thầy đã nộp đơn thi và may mắn trúng tuyển, từ đó chính thức trở thành công chức chính phủ liên bang vĩnh viễn. Đúng là có phần thì chẳng cần gì bôn ba.

Vào thập niên 80, dưới trào thủ tướng Malcom Fraser, chính sách di trú rất rộng rãi nhân đạo, nhận dân tị nạn rất nhiều cho nên tuần nào cũng có một hai nhóm người tới định cư, thầy Phương do đó có cơ hội hướng dẫn phục vụ đồng bào mình nhiệt tình tối đa và đồng thời mặc nhiên cũng góp phần trả ơn chính phủ nước Úc đúng theo ý nguyện của thầy. Thời gian đó, chủ nhân hảng xưởng nào muốn tìm công nhân viên thì chỉ cần vào hostel là có đủ mọi tầng lớp thầy thợ cho họ chọn, khỏi đi lòng vòng cho mất công.
Có một kỷ niệm rất vui cho đám dân ở hostel lúc đó mà tới nay đã ba chục năm, thầy Phương vẫn còn nhớ rõ như in trong đầu. Đó là chuyện…đóng phim. Một cuốn phim mang tựa đề là “The Year Of Living Dangerously” nói về cuộc đảo chánh ở Indonesia dưới thời tổng thống Sukarno, trong đó tài tử Mel Gibson đóng vai một ký giả người Úc phải mạo hiểm tìm cách rời khỏi Indonesia vào giờ phút cuối vô cùng cấp bách lâm nguy. Ông đạo diễn phim này cần một số đông người làm bối cảnh chạy lọan (ba chục năm về trước con người chưa phát minh ra computer technology để đưa vào phim ảnh tạo người ảo thay cho người thật), nghĩ không tìm đâu cho bằng nhóm người tị nạn mới tới da còn rám nắng đen sạm giống hệt Indonesians cho nên ông ta vào hostel “tóm hết trọn ổ” gọn bân.
Có dịp kiếm tiền dễ dàng, thầy Phương kéo theo gia đình một người bạn bác sĩ và vợ con thầy đi đóng phim luôn. Thầy Phương và ông bạn bác sĩ, một luật sư và một anh lực sĩ kiến càng đóng vai nhân vật cao cấp gì đó ngồi trong phòng họp với cà phê khói thuốc mịt mù. Cô Phương thì được hóa trang làm nữ tiếp viên hàng không mà không…làm gì hết, chỉ đứng làm cảnh lúc Mel Gibson chạy băng qua cổng sóat vé dzọt ra phi trường “chẩu”(nhưng Mel Gibson dzọt lẹ quá như sao xẹt, nên khi chiếu lại không thấy cô tiếp viên đâu cả). Còn lại bao nhiêu người khác thì chỉ cần giả bộ xô xát nhau chạy lọan, vợ chồng con cái gánh gồng bồng bế chạy qua chạy lại tạo cảnh hỗn lọan để người ta quay phim là ăn tiền.

Đóng phim hai ngày week-end như thế, mỗi người có thể kiếm được một số tiền bằng đi làm một tuần. Vì vậy ai cũng hăng hái nhận… vai. Sáng sớm xe bus vô hostel chở mọi người tới phim trường để nhóm make-up hóa trang, sơn đen đen một chút, rồi đứng lóng ngóng chơi chờ khi nào người ta bảo action thì bắt đầu act. Buổi trưa tòan thể diễn viên được bao ăn no nốc, lại còn có giờ tea, coffee nữa, khỏe thì thôi. Khỏe nhứt là khi vai chánh diễn không vừa ý đạo diễn, ông ta bảo “cut” là sẽ có màn quay lại, phải mất thêm thời giờ, là mọi người được dịp lãnh thêm tiền ngon ơ. Còn Mel Gibson cứ mỗi lần bắt đầu lại là mỗi lần bị xịt nước lên áo, lên đầu cổ mặt mày gỉả đò như đổ mồ hôi nhễ nhại ròng ròng vì Indonesia là xứ nóng. Thế mới biết nghề nào cũng phải đổ mồ hôi xót con mắt mới kiếm được đồng tiền, cái gì cũng có cái giá phải trả, càng cao danh vọng càng nhiều gian nan là vậy, mà đây mới chỉ là một tiểu xảo đó thôi.
Thầy Phương có được cái job làm công chức như vậy là coi như ăn chắc suốt đời cho tới ngày về hưu không cần nhọc công kiếm tìm gì hơn nữa. Chỉ có cô Phương là hơi vất vả vì chẳng có nghề ngỗng gì chuyên môn. Sau khi học một khóa tiếng Anh, cô theo người bạn ở cùng building đi làm kitchen hand trong một nhà dòng nữ tu, một retreat house dành cho du khách thập phương tới trọ. Mỗi ngày chỉ làm part time sáu tiếng với công việc rửa rau xắt thịt lau chìu bếp núc tương đối thích hợp với cô. Duy chỉ có một điều khiến cô không mấy vui là nếu xong việc nhà bếp trước giờ, bà sister người Philippine hay bảo cô đi clean up các phòng ngủ trên lầu hoặc nhà nguyện kế bên. Job của cô là kitchen hand chớ đâu phải cleaner, người bạn làm chief cook sau khi nấu xong có thể ngồi ung dung đọc báo chờ tới giờ về còn cô sao lại phải làm thêm việc khác.
Tuy nhận thấy sự bất công đó nhưng cô tự an ủi rằng sông có khúc người có lúc, sống ở đời phải biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu, chấp nhận hòan cảnh hiện tại chờ thời cơ. Những lúc ấy thì cô lôi cái máy hút bụi vào nhà nguyện nhấn nút để đó cho máy nổ kêu rền trời còn cô thì nép vào một góc nhà thờ cầu nguyện, tìm ở đấng thiêng liêng một sự xoa dịu ủi an. Dẫu sao cô cũng cảm tạ ơn trên vô cùng đã che chở dìu dắt gia đình cô tới được đất nước thanh bình tự do để làm lại cuộc đời sau những tháng năm dài tối tăm vô vọng dưới tai ách cộng sản. Gia đình cô đã may mắn hơn rất nhiều người. Chồng cô vừa đặt chân lên xứ người chưa quen hơi bén đất đã bất ngờ nhận được một việc làm tốt đẹp hợp ý như một hồng ân của Chúa thì chút nhọc nhằn này của cô có đáng gì đâu phải thở than phàn nàn. Cô phải biết nhận lãnh cho mình để Chúa còn có cơ hội chứng tỏ sự công bằng của Chúa đối với mọi người. Nếu cả hai vợ chồng đều được ưu đãi hết thì hóa ra Chúa bất công hay sao.
“Con dâng Chúa đôi tay này từng vất vả làm cho tê tái
Con dâng Chúa đôi bờ vai, gánh gồng nặng trĩu bao ngày
Con dâng Chúa đôi chân này vì tìm hạnh phúc miệt mài.
Vì ngày mai, con lo hôm nay
Vì tương lai, con lo hiện tại
Bởi trời đất mãi luôn vần xoay và cuộc sống bon chen từng ngày…” 
(Thánh ca Con dâng Chúa của linh mục Nguyễn Mộng Hùynh)

Mỗi xế trưa, cứ ba giờ là cô xong việc ra về. Trên đường tới trạm xe bus, cô phải đi ngang qua một dãy nhà nguy nga và những căn chung cư sang trọng đắt tiền (địa thế vùng Point Piper ở trên cao nên nhà nào cũng có cái view nhìn ra biển thấy vịnh Double bay, Rose bay với thuyền bè, yatch, canoe tư nhân đậu tấp nập và xa hơn nữa là Opera house cùng Harbour Bridge tráng lệ huy hòang, hai kỳ quan đặc thù của nước Úc). Một bữa cũng đi về như mọi bữa, hôm nay cô bỗng thấy một ông Úc khỏang trên năm mươi đang đứng sẵn trước cửa, chờ cô vừa đi tới thì lên tiếng chào và hỏi cô phải là người Việt Nam không. Cô cũng chào đáp lễ và nói yes, I am. Ông ta nói ông ta thích đồ ăn Việt Nam lắm, hổm rày đón cô để hỏi cô có chịu ghé vào nhà ông ta làm chút housework và nấu ăn cho ông ta không. Ông ta mời vô coi nhà chỉ bếp núc, nhà giặt, phòng ngủ. Ông ta tự giới thiệu tên là Bill là chủ một real estate ở Double bay. Con gái ông đã lớn có chồng ở riêng, nhà chỉ có ông và cô girl friend trẻ. Ông nói muốn nhờ cô hằng ngày ghé lại hai tiếng đồng hồ coi có chỗ nào cần dọn thì dọn rồi nấu giùm một hai món ăn cho hai người, mỗi giờ trả cô 5dollars (thời đó, lương căn bản công nhân một giờ là 5 đồng).
Cô thấy công việc như vậy là “trúng tủ” nghề nội trợ của nàng, lại sẵn tiện đường, tiện giờ giấc mà kiếm thêm được chút tiền nên rất mừng nhận ngay. Thế là ông Bill đưa chìa khóa cho cô, (làm như trên mặt cô có viết chữ ngay lành hay sao không biết, và hồi thời đó con người ta còn lương thiện dễ tin tưởng nhau quá, không như về sau này khi di dân và người tị nạn tứ xứ ồ ạt tràn ngập vào nước Úc, đem cái xảo quyệt gian manh giang hồ tứ chiếng truyền lại cho người Úc thì lần hồi dân tình nhiểm thói mánh mung xỏ lá, không còn biết được lòng người ai giả ai chân) rồi nói rằng ngày mai tôi sẽ mua sẵn vài món, cô muốn nấu sao cũng được, luôn tiện nấu cho tôi 2 cups brown rice. Cô ra về mà nghe thích thú trong bụng. Điều kiện của ông Bill sao mà quá dễ, muốn nấu sao thì nấu, chưa từng nghe chủ nào mà mướn người dễ như vậy. Nhà cô có mấy người mà mỗi người còn một ý, phải chìu như chìu vong, đàng này ông chủ lại để cô tự quyết định theo ý cô. Ở đợ kiểu này là “cha” người ta rồi còn muốn gì hơn nữa.
Trưa hôm sau cô ghé lại mở cửa vào dọn dẹp, thấy trên bếp có để sẵn hai dĩa thịt trừu và hai bó English spinach, Sau khi thay drap giường, quăng đồ vào máy giặt, cô bắt đầu nấu ăn. Cô ớn nhứt là mùi thịt trừu nhưng mà không nấu thì không được. Thấy có miếng gừng trong cái rổ hành tỏi, cô nảy ý làm món thịt lamb xào gừng để khử bớt cái mùi mỡ trừu hăng hắc nghe muốn nhợn. Cô gọt miếng gừng xắt chỉ và xắt nhỏ mấy lát thịt trừu rồi xào như xào mặn, cho muối cho đường vào mặn mặn ngọt ngọt, thử cái nước thấy cũng ngon ngon. Còn hai bó cải, cô rửa sạch cắt khúc, phi tỏi cho thơm, bỏ cải vào đảo sơ qua nêm nếm, xúc ra dĩa còn xanh um xanh ngắt trông rất ngon mắt. Khỏang 5 giờ chiều thì ông Bill về tới, cô nói ông ta ăn thử miếng thịt xào gừng coi sao. Thử xong ông ta kêu lên “delicious, so yummy!”. Thuận tay, ông ta bóc luôn miếng cải bỏ vô miệng vừa nhai vừa khen lấy khen để khiến cô vui mừng nhẹ nhõm vì thấy người ta hài lòng về mình. Ông ta còn nói chiều mai sẽ bảo Jeannie (tên bồ nhí của ông ta) tới thưởng thức Vietnamese food mới được.

Gặp người chủ dễ tính, cô làm việc rất thỏai mái vui vẻ. Có ngày ông Bill mua một bọc minced beef để đó, cô không biết làm gì thành ra đem quết nhuyển chế món bò viên. Tuy không đúng tiêu chuẩn bò viên hảo hạng vì không đủ gia vị nhưng đối với họ thì exellent, nói chung món nào cô chế ra, Bill và Jeannie cũng ưng ý. Đôi khi ông ta không biết mua thứ gì, chờ cô tới tính coi muốn làm món gì mới chở đi mua. Ông Bill khóai khẩu đồ ViệtNamtới nỗi muốn khoe với bạn bè nên có lần ông mở party mời ba chục người tới dự vào một tối weekend. Dĩ nhiên ông phải order thêm những thức ăn khác ngòai món lamb xào gừng, spinach stir fry, cá chiên sauce cà, gà sả ớt do cô nấu. Hôm đó nấu nướng dọn dẹp xong đã hơn 10 giờ đêm, khi cô xách giỏ ra cửa định về thì mọi người đều cám ơn cô và cô bồ nhí Jeannie đã xung phong chở cô ra trạm xe bus bằng chiếc xe sport hiệu Alfa Romeo màu đỏ thắm mới cáo chỉ của ông bồ “trâu già” mua tặng. Cách đối xử tử tế tốt bụng của người chủ này làm cô cảm thấy rất an ủi và bớt đi mặc cảm mình là kẻ tôi đòi. Có lẽ do nguồn gốc của người Úc là tội phạm và di dân tứ xứ, trải qua bao đời gian truân khó nhọc tạo dựng mới làm nên cơ ngơi tài sản, do đó họ dễ thông cảm, không đặt nặng vấn đề giai cấp hoặc kỳ thị những kẻ chân ướt chân ráo trắng tay mới bắt đầu khởi sự như cô.

Nhưng may thay, cái số làm osin của cô chỉ kéo dài ba tháng thì cô nhận được một việc làm full time khác nhàn hạ hơn trong một family business do hai ông bà ngườiHungarylàm chủ. Đó là một thương nghiệp chuyên cung cấp lenses (không biết tiếng Việt nói sao) cho các phòng thí nghiệm. Ngày tám tiếng công việc của cô là cắt những mảnh lenses theo order. Cùng làm với cô là một chị người ViệtNamvào trước cô một năm. Lúc đầu người chị em này có vẻ kỳ thị ra mặt, không nhìn cô đến nửa mắt, mặt mày khó đăm đăm như bà cô bên chồng chẳng có lấy một nụ cười Welcome người mới khiến cô cảm thấy rất bẽ bàng. Lạ chưa! Úc không kỳ thị mình mà người mình với người mình lại kỳ thị nhau, Việt Nam gặp Việt Nam mà “dội ngược” không muốn nhìn, có lẽ vì người Việt đã lừng danh là xấu xa xấu xí.
Theo lời bà chủ, chị miễn cưởng chỉ dẫn cô những việc phải làm bằng một giọng khô khan cộc lốc rồi trở về chỗ ngồi cắm cúi tiếp tục công việc của chị. Suốt buổi, chị chẳng hề đếm xỉa gì tới cô mãi cho đến giờ lunch chị mới cho biết một điều lệ là chị không nghỉ nửa giờ ăn trưa để chiều về sớm nghĩa là chị tan việc lúc ba giờ. Còn cô nếu ăn trưa thì ở lại làm tới ba giờ rưởi. Cô vừa làm vừa ấm ức buồn trong bụng không hiểu chị ta muốn thị oai gì mà cứ giữ thái độ lãnh đạm xa cách như vậy. Có lẽ chị đang âm thầm quan sát, đánh giá cô coi có xứng đáng làm bạn với chị hay không. Thôi kệ, ai biểu mình là ma mới, chị ta muốn kênh kiệu thì mình cứ giả điên coi chị ta kênh được tới chừng nào. Mà thôi tị hiềm chấp nhứt làm gì, chị ta không nói thì mình nói trước vậy. “phải biết mở cửa lòng mình trước thì mới mong mở đặng lòng kẻ khác” (Pasquier Quesnel), thử xem cái tảng băng này rồi đây có chảy ra được chút thiện cảm nào cho mình không. Cô bèn nói “vậy thì ngày mai tui cũng không ăn trưa, làm luôn một lèo rồi về sớm như chị. Chị tính vậy hay quá, công việc này đâu có nặng nhọc gì mà cần phải nghỉ ngơi, vả lại giờ morning tea mình ăn vài cái bánh thì cũng dư sức làm luôn tới về. Chị nói với bà boss giùm tui đi nghe, chị nói mới “linh” .
Sau hai ngày 16 tiếng làm việc chung, người chị em bắt đầu mở miệng “phỏng vấn” cô vài câu dọ dẫm đại khái như quê quán ở đâu, tới hồi nào, sao biết chỗ này mà xin việc vv… Cô nói “tui đâu biết chỗ này mà xin, bà boss vô hostel tìm người làm, ông xã tui làm việc ở đó nên giới thiệu tui với bả và bả nhận”. Vậy rồi qua tuần sau hai đứa bỗng dưng trở thành bạn ngon lành ngọt sớt như mía lùi, chừng đó mới biết té ra là hai đứa bằng tuổi nhau, cùng là hai con rồng như nhau, cùng có tên chữ lót là “Tố” giống nhau. Chị là cô giáo ở ViệtNam. Còn cô tuy không đi dạy học ngày nào nhưng tất cả những đứa học trò của ông xã cô đều gọi cô là “sư mẫu”. Bên nửa cân, người tám lượng, hèn chi mà đứa nào cũng có chút bẩm sinh… cao ngạo, tưởng là mình ở chót vót trên chín từng mây nên kỳ thị người dưới thế. Nhưng mỗi đứa thể hiện “khí phách” của mình một cách khác nhau. Người thì hịnh hỡm khinh thường đối phương ra mặt, kẻ thì giả điên tảng lờ nín thở qua sông, lấy nhu chế cương để chinh phục cho được “con ma đầu” ó đâm này. Rốt cuộc thì hai đưa hỉ hả cười xòa với nhau.
Bây giờ cô không hỏi thì chị cũng kể tuốt luốt hết mọi chuyện, chuyện bản thân, chuyện gia đình, anh chị em, bạn bè như đã từng thân thiết với cô đâu từ hồi đời kiếp nào rồi vậy. Hôm nào ông bà chủ có việc phải ra ngòai là chị tha hồ “gossip” về chuyện của hai ông bà từ thuở mới di dân tới Úc, nói cho hả hê bỏ lúc phải giả bộ làm màu làm chảnh câm như hến đến nỗi bà chủ thấy lạ phải lên tiếng hỏi “Are you both from the same country, the same language?”. Và bây giờ thì chị đã mau mắn gật đầu vui vẻ nói “Yes, we are” để rồi sau đó chính chị đã đề nghị cho hai ông xã quen biết kết bạn với nhau để chia sẻ nâng đỡ nhau trong cuộc sống tha hương nơi xứ người. Thế mới biết tâm lý chung của con người là rất sợ bị bỏ rơi cô lập, ai cũng sợ phải làm một Robinson lẻ loi một mình trên hoang đảo, mãi mãi sống cách biệt xã hội, quần thể bạn bè nhứt là trong cùng một hòan cảnh lưu vong tị nạn như nhau.
Đời tị nạn là như thế đó, có biết bao nhiêu chuyện ly kỳ hào hứng lẫn chua chát đắng cay mà tất cả chúng ta đều phải trải qua lúc mới bắt đầu. Trước khi có được một mái nhà để an cư thì có lẽ mọi người ai cũng đã từng lâm cảnh ba chìm bảy nổi chín cái long đong vì nhu cầu sinh kế, cái ăn cái mặc và tương lai con cái. Người xưa có câu “an cư lạc nghiệp” nhưng đối với những kẻ vong quốc tị nạn như chúng ta thì có lẽ phải lạc nghiệp trước rồi mới có khả năng mua nhà sắm cửa để an cư cho hết khỏang đời còn lại. Và một khi đã an cư rồi, chúng ta sẽ không còn là khách trọ nữa mà mặc nhiên đã thành chủ nhà, xứ sở này sẽ là quê hương thứ hai của chúng ta, là nơi chôn nhau cắt rún của thế hệ con cháu tiếp nối về sau. Xin được ghi lại nơi đây lời cảm kích tri ân những quốc gia đã mở rộng vòng tay nhân ái cưu mang những con người tị nạn khốn khổ lạc lòai.
© Kim Nguyên (Người Phương Nam)

Chủ Đề 19.6:NHỚ NGÀY QUÂN LỰC

NHỚ NGÀY QUÂN LỰC

Hoa phượng nở, ve gọi hè réo rắc

Ngày xưa ơi, áo trắng đẹp sân trường
Anh lính Hậu Giang, An Lộc, Liên Khương
Từ các nẻo trên Bốn Vùng Chiến Thuật

Ánh hồng lên sáng ngời Ngày Quân Lực

Từng đoàn người lũ lượt kéo đi nhanh
Vẳng từ xa, loa náo nhiệt phóng thanh
Các đoàn thể, xếp thành hàng thứ tự...

Nắng ban mai chói chan rừng biểu ngữ
Nhạc Quốc Ca vang dội trong không gian
Dân, Quân, Cán, Chánh... lần lượt diễn hành

Xây Dựng Nông Thôn, Trưng Vương, Vĩnh Ký

Biệt Động, Người Nhái, Chiến Tranh Chánh Trị

Cảnh Sát, Đà Lạt, Hành Chánh Quốc Gia

Quốc kỳ bay trong ánh nắng chan hòa
Gió lồng lộng, quân kỳ bay phấp phới

Sư đoàn Mười Tám, Pháo Binh tiến tới
Nghĩa Quân, Biệt Chính, đoàn Nữ Quân Nhân

Thủ Đức, Công Binh, Dù, Thiếu Sinh Quân

Biệt Kích, Hải Quân, Sư Đoàn Hai Mốt...

Đại Bàng uốn mình, khói tuôn từng cột
Dệt cờ vàng ba sọc đỏ trên không
Bao niềm vui, niềm kiêu hãnh ngập lòng
Đoàn quân Nam ta hào hùng, tài, đức...

Cô nữ sinh, dự lễ Ngày Quân Lực
Niềm hân hoan bên bè bạn thầy cô
Mái tóc thề trong vành nón bài thơ
Vòng hoa chiến thắng, choàng lên lính trận

Hồn trong sáng tươi hồng như nắng sớm
Chong sách đèn dệt mộng đẹp tương lai
Niềm tin yêu hứa hẹn một ngày mai
Sẽ dâng hiến những gì mình hiểu biết

Nhưng trường đời lắm oan khiên cay nghiệt
Và tình người thật tráo trở gian ngoa
Khi giặc tràn vào tan cửa hại nhà
Tài hoa diệt, để thỏa lòng thua kém

Đau thương chất chồng, vỡ tan mộng đẹp
Lặng thở dài, ngày ấy đã qua rồi!
Nay chỉ còn âm vọng đáy tim tôi
Khi Miền Nam rơi vào tay quỉ đỏ

Phút mặc niệm, mắt rưng rưng lệ nhỏ
Tâm tư chùng lặng, thương xót bâng khuâng
Còn đâu nữa Ngày Quân Lực tưng bừng
Còn đâu nữa thời tuổi xanh dệt mộng

Có còn chăng, đây nỗi lòng hiu quạnh
Còn quê nghèo đã cách biệt trùng khơi
Từ Bắc chí Nam giặc xéo tơi bời
Ngày Quân Lực! Ôi xác xao niềm nhớ!

DƯ THỊ DIỄM BUỒN


-----
Mời quí chiến hữu và các bạn xem hình ảnh về ngày Quân Lực 19-6-2012 do các hội đoàn quân đội tại Houston tổ chức vào ngày chúa nhật 17-6-2012. Ngày Quân Lực đã được tổ chức rất long trọng, qui mô, có tầm vóc lớn và đã thành công rực rỡ với hàng ngàn đồng hương tham dự. Quí vị click vào Slideshow để xem hình lớn hơn, 
 Thành thật cám ơn.

Dòng Máu Người Quốc Gia - Khác Dòng Máu Việt Cộng: “Mày Tên Gì?”

                                           “Mày Tên Gì?”
         
Tiếng Việt nghĩa lý rất rõ ràng, nhất là về thứ bậc, trên dưới đâu vào đó. Vợ kêu chồng bằng anh. Chồng kêu vợ bằng em. Khi chồng kêu thì vợ dạ. Cả tiếng anh và dạ cho thấy người chồng lớn hơn người vợ. Chồng là anh, vợ là em!
Cha mẹ gọi con bằng con. Con thì “thưa ba, thưa má” và xưng con. Với ông bà thì xưng là cháu, với anh chị thì xưng là em…Với người trong máu mũ huyết tộc, bà con thì theo vai vế mà xưng, gọi: Cậu, mợ, o (cô) dượng, bác chú thím thì xưng là cháu…
Bạn bè thân thiết thì gọi mày tao chi tớ…
Với người lạ lớn tuổi thì gọi bằng ông, bà, xưng cháu hoặc tôi. Ngang tuổi thì gọi bằng anh chị, xưng tôi hoặc em. Nhỏ tuổi hơn thì gọi bằng em, cháu…
Với người già hoặc già lắm, muốn tỏ lòng tôn kính thì gọi cụ, ông cụ, bà, bà cụ… (ngôi thứ ba). Khinh thường thì gọi bằng thằng, thằng chả, con mẹ, con mẹ ấy (ngôi thứ ba), trẻ thì gọi bằng thằng: thằng nọ thằng kia…
Dùng mày, tao có hai trường hợp: bạn bè thân thiết chí cốt như nói ở trên; còn ngoài ra thì để tỏ ý khinh thị, ghét, coi thường. Với thằng chăn trâu, ông ăn mày thì người ta gọi bằng mày, xưng tao: “Mày làm gì ở đây?”, “Mày cút khỏi mắt tao!”
Cách gọi chứng tỏ được sự tôn trọng hay coi thường,không tôn trọng hoặc sự khinh ghét
Cách gọi của người Việt Nam, mỗi nơi mỗi khác. Người miền Trung, người Huế, gọi một cách bình thường như tôi vừa trình bày ở trên. Vào miền Nam, tôi hơi lạ cách gọi của mấy “lơ” xe đò: “Bà con cô bác lên xe lẹ lên, tới giờ rồi!” Ai mà họ gọi là bà con cô bác? Ai là bà con (có huyết tộc). Ai là cô? Ai là bác? Về tới miền Tây Nam Bộ thì rõ hơn: Dù lạ, dù quen, những người trẻ gọi các người lớn tuổi hơn bằng chú, bằng dì, theo nghĩa “bà con”.
Té ra trong cuộc Nam Tiến, người ta bỗng thấy sợ khi tới vùng đất mới. “Tới đây đất nước lạ lùng, Nghe con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng” nên họ sinh ra tâm lý tìm tới nhau, gần nhau hơn để bớt đi nỗi sợ nơi xứ lạ: “con chim kêu, con cá vùng” từ đó mà nảy sinh gọi bằng chú, dì, cô hay anh em…
Người Miền Trung, nhất là người Huế, người có học, có đổ đạt, có bằng cấp thì rất lễ nghĩa, đúng với câu “Tiên học lễ, học hậu hoc văn.” Đặc biệt, đối với những người yêu nước, vì nước vì dân mà hy sinh, chịu tù tội, lưu đày, cực khổ thì người ta tôn trọng lắm.
Huế là nơi xung đột giữa Tây với ta. Ta là người Việt Nam, - xin đừng hiểu méo mó triều đình không phải là của ta! - Thời kỳ đó, văn hóa đó, dân tộc đó thì vua là dân tộc, là đất nước. Vì vậy, ông vua theo Tây là ông vua bán nước. Ông vua chống Tây là ông vua yêu nước.
Chuyện thằng tướng Tây De Courcy, ỷ có tàu sắt súng đồng, khinh mạn triều đình Huế quá lắm, khiến người Việt ai cũng bất mãn; chuyện ông vua Hàm Nghi bị bắt ở Nghệ Tĩnh rồi giải về giam ở Huế, chuyện ông vua Thành Thái bị truất ngôi, ông vua Duy Tân bị đày làm náo động lòng người Huế dữ lắm. Gần nửa thế kỷ sau khi ông Duy Tân bị đày, tôi đến Huế, vẫn còn nghe các bạn học trò, hướng đạo, các thầy cô và người Huế nói về những biến cố ngày xưa ấy.      
Họ nói với nhau, với tôi chỗ giam vua Hàm Nghi trong thành Mang Cá hay ngôi chùa vua Duy Tân trốn lên trên ấy, hay chuyện ông già Bến Ngự, lăng cụ Phan, trụ sở tòa báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh thúc Kháng ở đường Hàng Bè, v.v…
Những câu “Đày vua không Khả...”, “Chiều chiều trước bến Văn Lâu…” hoặc “Chiều chiều ông Ngự ra câu…” đều bày tỏ lòng kính trọng của người dân đối với người yêu nước, dù người đó là vua, là quan hay dân thường.
Ở Huế nhiều người biết cụ Tuần Chi, tức là cụ Tuần vũ Nguyễn Đình Chi, (phu quân của bà Tuần Chi hay còn gọi là Tùng Chi, nguyên hiệu trưởng trường Đồng Khánh, Huế). Khi ông làm tuần vũ Quảng Ngãi, đọc lời khai một người tù mới bị bắt, tên là Hoàng Đức Nậy (trước 1975, ông nầy là ủy viên trung ương đảng Cọng Sản Việt Nam), con cụ Cử Hoàng Đức Cự bạn đồng liêu với ông, bèn gọi ông Nậy lên rồi tha về. Ông Nậy bấy giờ là đảng viên đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, hồi ấy, người ta không phân biệt ai thuộc đảng nầy, ai thuộc đảng kia, ai Quốc Gia, ai Cộng Sản. Người ta gọi chung là “Người làm Cách mạng”, gọi như thế để tỏ lòng tôn kính, tránh dùng tiếng chống Pháp, “e ngại” với chínnh quyền thực dân. “Người làm cách mạng” là người chống Pháp giành độc lập. Người dân tôn trọng và yêu mến tất cả những “người làm cách mạng” đó. Ai bị tù, không bị người ta gọi một cách khinh miệt là người tù hay thằng tù. Cụ Tuần Chi tha cho ông Nậy vì ông Nậy là “người làm cách mạng” chứ không phải ông Nậy là đảng viên đảng Cộng Sản, thêm một lý do nữa là vì ông Nậy là con của người bạn ông. Việc làm của cụ tuần Chi có thể bị Tây bắt tội.
Cũng trong ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính đó, người ta gọi cụ Phan Bội Châu một cách tôn kính là Cụ Phan, cụ Huỳnh Thúc Kháng là cụ Huỳnh, cụ Ngô Đức Kế, cụ Ngô Đình Diệm là cụ Ngô, và cả ông Hồ Chí Minh, thời kỳ 1945, 46 là cụ Hồ.
Người Tây phương, người Tàu thì khác. Người Pháp, người Mỹ gọi ông bà, cha mẹ, anh chị người lạ người quen thì gọi là Vous hay You, tự xưng là Je hay I. Tiếng Tàu thì Ngộ, Nị tuốt luốt, già trẻ, trong ngoài đều như nhau.
Ý nghĩa tiếng Vous hay You rất phổ quát và phức tạp. Tự điển ghi như sau:Vous:(đại từ) anh, chị, ông, bà...; các anh, các chị, các ông, các bà...You:(đại từ) anh, chị, ông, bà, ngài, ngươi, mày; các anh, các chị, các ông, các bà, các ngài, các người, chúng mày. Vous, theo tiếng Pháp, gọi chung, dù là ông bà cha mẹ, là anh chị, mày tao. Khi dịch, cứ theo ý nghĩa nội dung câu chuyện mà dịch thành ông bà hay mày tao, tỏ ý khinh thị hay tôn kính như thế nào cũng được.
Trong cuốn “Tự Phán” của cụ Phan Bội Châu, - cuốn hồi ký cụ Phan viết về cuộc đời cụ và tự phê phán xấu tốt, hay dở -. Cụ có thuật lại việc cụ bị bắt ở Thượng Hải năm 1925, đem về Hà Nội rồi bị đưa ra Hội Đồng Đề Hình để xét lại cái án của cụ. Trước đó cụ đã bị Tây xử tử hình vắng mặt. Khi ra tòa, dĩ nhiên quan Tây ngồi ghế chánh án, ông Bùi Bằng Đoàn làm thông dịch viên.
Quan Tây hỏi:
- “Comment vous appelez vous?”
Ông Bùi Bằng Đoàn dịch là:
- “Mày tên gì?”
Ông Bùi Bằng Đoàn dịch chữ Vous là mày. Nghe có được không?
Có người cho là không được; trong đó có tôi!
Tôi đọc cuốn “Tự Phán” của cụ Phan, khoảng năm 1956, do nhà Anh Minh xuất bản. (1) Tôi ngạc nhiên, bất mãn về chữ mày đó, do cụ Phan tự tay viết lại trong sách. Biết thì biết vậy nhưng quên thì không quên. Mới đây, đọc Việt Thường, thấy ông nhắc lại việc nầy, tôi rất thích thú. Cái ông Việt Thường nầy cũng lạ! Cái gì ông cũng nhớ mà sao nhớ dai thế? Ông ta đọc “Tự Phán” lúc nào nhỉ? Cuốn “Tự Phán” chỉ mới xuất bản lần đầu tiên sau khi nước Việt Nam bị chia cắt năm 1954. Không lý Việt Cộng cũng cho phổ biến cuốn sách ấy ở ngoài Bắc để khen ông thông dịch viên Bùi Bằng Đoàn dịch “hay”?
Năm 1904, sau khi “vào Giám” (Vào Giám là vào học ở Quốc Tử Giám”, cụ Phan tìm cách kết hợp những người yêu nước. Kể từ đó cho đến khi bị bắt năm 1925 là một khoảng thời gian dài 20 năm, cụ có rất nhiều hoạt động chống Pháp. Cụ là nhân vật chính trong số các ông như Tiểu La Nguyễn Thành, Kỳ Ngoại hầu Cường Để, Thượng thư Hồ Lệ, Thượng thư Nguyễn Thông, Tây Hồ Phan Chu Trinh, Thái Xuyên Trần Quí Cáp, Thạnh Bình Huỳnh Thúc Kháng, v.v…thành lập Duy Tân hội, lãnh đạo Phong Trào Đông Du, tác giả rất nhiều thơ văn kêu gọi lòng yêu nước của dân chúng như Á Tế Á, Lưu Cầu huyết lệ tân thư, v.v… trong nam ngoài bắc, ai cũng biết tiếng tăm của cụ. Cái tiếng ấy lớn lắm đến nỗi Hội Nhân Quyền Pháp phải can thiệp vào cái án của cụ.
Không lý ông Bùi Bằng Đoàn không biết cái tiếng tăm ấy của cụ Phan mà dùng tiếng mày một cách khinh thị để dịch chữ vous của quan Tây? Cụ Phan là người yêu nước, hoạt động cách mạng vì nước, vì dân, ai cũng kính trọng, sao gọi là mày? Cho dù Tây nó có gọi là mày đi nữa, tại sao không dịch là ông. Sợ mất lòng Tây hay muốn dịch cho đúng ý chủ?
Vậy lý do chính để ông Bùi Bằng Đoàn dịch như thế là cái gì?
Có phải dưới con mắt của ông Bùi Bằng Đoàn, cụ Phan là “thằng làm giặc”, dám cả gan chống lại “nước Đại Pháp” nên phải dịch là mày?
Có phải ông Bùi Bằng Đoàn nịnh Tây, giả bộ miệt thị cụ Phan để quan “nước Đại Pháp” vừa lòng?
Không chắc ông Bùi Bằng Đoàn dám miệt thị cụ Phan là thằng giặc. So với cụ Phan là người yêu nước thì ông Bùi Bằng Đoàn chẳng là cái thá gì cả!
Có lẽ ông cũng biết quá rõ cụ Phan là người yêu nước, nhưng nếu dịch là “Anh tên gì? hoặc “Ông tên gì?” thì sợ quan “nước Đại Pháp” sẽ không vừa lòng, không chứng tỏ được lòng trung thành, khuyển mã và ngưỡng mộ của ông với “nước Đại Pháp”.
Một trí thức như ông Bùi Bằng Đoàn, một nhà khoa bảng, ông biết hết, biết tất, dù ông có kính nể cụ Phan bao nhiêu đi nữa, ông cũng dấu kín trong lòng. Ông Bùi Bằng Đoàn phải chứng tỏ cho “chủ Pháp” biết ông ghét “thằng giặc” ấy vì nó dám chống lại “nước Đại Pháp”, là “mẫu quốc”, chứng tỏ cho “chủ Pháp” biết ông chống lại “thằng giặc”, không theo nó bao giờ để ông được “nước Đại Pháp” chiếu cố tới vinh hoa phú quí mà ông thèm muốn!
Quả thật ông Bùi Bằng Đoàn là người thông minh khác thường, vạch được hoạn lộ cho ông. Sau vụ xử án Phan Bội Châu, trong khi cụ Phan thì bị tù, bị giam lỏng ở Bến Ngự thì đời ông Bùi Bằng Đoàn lên hương lắm, lên tới chức thượng thư bộ hình để xử tội những người làm cách mạng chứ không tha về như ông Tuần vũ Nguyễn Đình Chi đã tha cho ông Hoàng Đức Nậy.
Sau tháng 8 năm 1945, ông Bùi Bằng Đoàn theo ông Hồ Chí Minh, và đời cũng lên hương một lần nữa, tới chức Phó Chủ tịch Quốc Hội (bù nhìn, phải không nhỉ?!!).
Theo tử vi thì người ta có tuổi và mạng. Tôi không rõ ông Bùi Bằng Đoàn tuổi con gì, nhưng có lẽ ông mạng thủy, cốt con lươn. Con lươn đầu trơn, chui đâu cũng lọt.
Con người như thế, mai mốt đây, lỡ khi tôi gặp ông Bùi Bằng Đoàn dưới âm phủ, tôi hỏi “Mày tên gì?” thì ông Bùi Tín có tức giận tôi không nhỉ? 
 hoànglonghải

          (1) Nhà Anh Minh ở đường Phan Bội Châu, Huế. Tên nôm na đường phố nầy là Ngã Giữa. Thời “quốc trưởng hồi loan” thì đổi là đường Gia Long. Khi cụ Ngô mới về làm thủ tướng, lại đổi tên là đường Phan Bội Châu. Nhà Anh Minh, do ông Hoàng Văn Thành - họ tên tôi nhớ không chắc đúng! - trông coi, chuyên xuất bản những sách do cụ Phan viết. Ông Hoàng Văn Thành là một đồng chí và người cùng quê với cụ Phan. Khi ông đi tù Côn Đảo được tha, thay vì về quê ở Nghệ An, ông ở lại Bến Ngự, nhà cụ Phan bị giam lỏng. Đến khi cụ Phan qua đời năm 1941, ông vẫn tiếp tục ở đó chăm sóc phần mộ và hương khói. Khi cụ Ngô về làm thủ tướng thì những người theo cụ Ngô như cụ Võ Như Nguyện, Ngô Đình Thảng, Huỳnh Hữu Hiến, được ông Ngô Đình Cẩn hỗ trợ, thành lập nhà xuất bản Anh Minh, giao cho ông Thành trông coi. Được mấy năm, nhà xuất bản nầy cũng dẹp tiệm sau khi những người theo cụ Ngô khi cụ còn “lê gót nơi quê người” (lời bài ca suy tôn Ngô Tổng Thống của nhạc sĩ Nguyễn Hiền) cáo lui về vườn theo gương Phạm Lãi.
           Kỳ tới: Trở lại việc ông Võ Tử Đản tố cáo ông Bùi Tín đã chém bố ông Đản là ông Võ Bào, lý trưởng làng Nại Cửu, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị năm 1947.
hoanglonghai

Bài Xem Nhiều