We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 24 June 2012

Tinh thần tập thể


Nhiều người Việt Nam hay chê người Tây phương là ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa. Tuy nhiên, trên thực tế, sống ở Tây phương lâu, hầu như ai cũng biết, về nhiều phương diện, người Tây phương có tinh thần tập thể cao hơn hẳn người Đông phương, kể cả người Việt Nam.

Riêng ở Úc, từ học đường đến xã hội, ở đâu người ta cũng đề cao tinh thần đồng đội (teamwork). Lý do đơn giản, hầu như ở đâu người ta cũng làm việc với người khác. Xu hướng kỹ nghệ hóa và toàn cầu hóa càng gia tăng, nhu cầu làm việc tập thể lại càng nhiều. Thường, mỗi dự án bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau; mỗi lãnh vực bao gồm nhiều bộ phận khác nhau; mỗi bộ phận bao gồm nhiều người với những công việc khác nhau. Do đó, công việc của người này bao giờ cũng cần hòa điệu và hòa hợp với công việc của người khác. Sự hòa điệu và hòa hợp giữa các công việc ấy cũng cần thiết không kém sự hoàn hảo trong từng công việc cụ thể. Để thực hiện điều đó, người ta không những cần có trách nhiệm với công việc của chính mình mà, trong chừng mực nào đó, còn cần phải có trách nhiệm với công việc của người khác nữa.

Khi tuyển nhân viên, các công ty và cơ quan tại Úc thường nhấn mạnh một yêu cầu: tinh thần tập thể. Trong mấy chục năm dạy học tại Úc, tôi thường được các công ty hay cơ quan hỏi về hồ sơ xin việc của các sinh viên vừa mới tốt nghiệp của tôi. Một trong những câu hỏi người ta thường đặt ra nhiều nhất là: Có tinh thần tập thể hay không? Có biết cách làm việc với người khác hay không?

Nhớ, cách đây khá lâu, tôi được mời tham gia ban tuyển chọn giảng viên dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai tại một trường đại học ở Melbourne. Có trên dưới một trăm người nộp đơn. Vòng đầu, chúng tôi đọc lý lịch nghề nghiệp và chọn khoảng 5,6 người để mời đến phỏng vấn. Công việc này, thật ra, không khó khăn lắm. Chúng tôi có hai tiêu chuẩn chính: bằng cấp và kinh nghiệm giảng dạy. Nếu căn cứ vào hai tiêu chuẩn ấy, số người được chọn vẫn quá nhiều, chúng tôi sử dụng thêm một tiêu chuẩn khác để loại trừ bớt: tính chất đa dạng trong kinh nghiệm giảng dạy. Ví dụ, cũng dạy tiếng Anh trong mười năm, nhưng một người chỉ dạy ở Úc và một người dạy ở Úc và một số quốc gia khác, đặc biệt ở châu Á, người sau sẽ được ưu tiên hơn. Nếu người ấy biết thêm một ngôn ngữ gì khác ngoài tiếng Anh thì lại càng được ưu tiên hơn nữa.

Cuối cùng, trong danh sách dự định mời phỏng vấn, có một người có lý lịch, theo tôi, gần như hoàn hảo: Có bằng tiến sĩ ngôn ngữ học tại trường đại học M. ở Úc; trước khi có bằng Tiến sĩ, từng dạy tiếng Anh ở Trung Quốc và Hồng Kông; sau đó, dạy bán thời ở một trường đại học R. ở Úc trong vòng bốn năm.

Tôi khen lý lịch người ấy rất ấn tượng. Một người bạn trong ban tuyển chọn không đồng ý. Chị bảo tôi đọc danh sách những người chứng thực thông tin (referee) vốn là một phần quan trọng trong mọi hồ sơ xin việc ở Tây phương. Tôi đọc. Danh sách ấy gồm hai giáo sư ở Trung Quốc và một giám đốc công ty ở Úc. Chị bạn đồng nghiệp tôi nói: “Anh để ý xem. Ba người này đều không có liên hệ gì đến những nơi cô này từng học hoặc làm việc cả. Cô ấy học Tiến sĩ ở đại học M. đến bốn năm, chẳng lẽ không thân đủ với một giáo sư nào để nhờ làm referee? Cô ấy dạy bán thời ở Đại học R. cũng bốn năm, chẳng lẽ không thân đủ với bất cứ ai để nhờ làm referee? Cô ấy dạy ở Trung Quốc ba năm; ở Hồng Kông hai năm, cũng không thân đủ với ai để nhờ làm referee? Như vậy rõ ràng là cô ấy có vấn đề trong quan hệ với đồng nghiệp. Tôi không có ý nói cô ấy xấu. Nhưng tôi chỉ sợ là cô ấy không phải là người có tinh thần ‘teamwork’.”

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, ở Tây phương người ta xem tinh thần tập thể và thói quen làm việc tập thể là một trong những nội dung quan trọng nhất trong hệ thống giáo dục, từ tiểu học đến trung học và đại học. Ở đâu, các thầy cô giáo cũng khuyến khích học sinh và sinh viên làm việc theo nhóm. Bài tập trong lớp, người ta cho những đề tài làm theo nhóm. Bài làm cho cả học kỳ cũng làm theo nhóm. Trong lớp, học sinh hay sinh viên thường được chia thành từng nhóm nhỏ để thảo luận. Về nhà, họ cũng được yêu cầu làm các dự án nghiên cứu chung với bạn bè.

Như vậy, ví dụ, thay vì ra một đề luận văn cho mỗi người viết một bài khoảng một hay hai ngàn từ; thầy cô giáo có thể cho học sinh hay sinh viên viết chung một bài luận văn dài hơn, khoảng từ ba đến năm ngàn từ.

Không ít học sinh hay sinh viên than thở: Cực quá, thứ nhất, phải họp hành với nhau thường xuyên; thứ hai, trong trường hợp các bạn trong nhóm lười hoặc dốt, công việc sẽ càng kéo dài và kết quả sẽ không như ý muốn.

Tuy nhiên, đứng về phương diện sư phạm, người ta vẫn thấy đó là cách giáo dục tốt nhất để chuẩn bị cho học sinh và sinh viên có phong cách làm việc hiệu quả trong tương lai. Người ta lý luận: khi đi làm việc sau này, không phải lúc nào chúng ta cũng may mắn gặp những đồng sự giỏi, tháo vát, có tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng đồng ý với mình. Do đó, học sinh và sinh viên cần được đào luyện tính bao dung, sự cởi mở và các kỹ năng thương thảo và đàm phán để có thể thuyết phục được người khác. Cái gọi là “người khác” ấy có thể đến từ nhiều quốc gia và từ nhiều nền văn hóa khác nhau, do đó, kỹ năng giao tiếp liên văn hóa (intercultural communication) cũng được xem là cực kỳ cần thiết.

Những điều được đề cập ở trên, với người sống lâu ở ngoại quốc, chả có gì mới mẻ. Tuy nhiên, nhân đó, chúng ta cũng nên nhìn lại phong cách giảng dạy trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam, cách thức bổ dụng nhân sự trong guồng máy hành chính tại Việt Nam, và đặc biệt, cái thành kiến cho người Tây phương nặng tinh thần cá nhân chủ nghĩa cho đến bây giờ vẫn còn rất phổ biến ở Việt Nam.

Nguyễn Hưng Quốc

MỘT TU SĨ VIỆT NAM, MỘT CA SĨ CÓ TIẾNG



Nhóm "Les Prêtres" gồm có cha Jean-Michel Bardet, 40 tuổi, tốt nghiệp Nhạc viện Quốc gia Lyon, hiện là linh mục ở nhà thờ Gap, cha Charles Troesch, 29 tuổi, lúc nhỏ đã hát với nhóm "Les Petits Chanteurs à la Croix de Bois", nay là phụ trách nhà thờ Đức Bà ở Laus vùng núi Alpes, và một học sinh chủng viện (séminariste) người Việt Nam tên là Joseph Nguyễn Đình Nguyên, 27 tuổi...

nguyen-dinh-nguynMỗi khi đi dự lễ ở chùa hay nhà thờ,nghe các thầy, các tu sĩ có giọng tốt hát, đọc kinh, tôi thường nghĩ nếu các vị nầy làm ca sĩthì ta sẽ nghe được biết bao bản hát hay. Trước đây, tôi nghe nói các bà xơ đã có lập thành một nhóm ca sĩ và cho ra những đĩa hát từng được nhiều người thưởng thức. Lần nầy ba tu sĩ công giáo ở Pháp đứng ra thành lập nhóm "Les Prêtres" (Những Linh Mục), do đức Giám mục Jean-Michel Di Falco Léandri hai thị trấn Gap và Embrun khởi xướng. Theo lời khuyên của ca sĩ Didier Berbelivien, họ nối gót nhóm "The Priests" bên nước Éire (Ireland, Irlande, Ai-len) đã từng bán một triệu rưởi đĩa hát ở Âu châu. Mục đíchđầu tiên là kiếm một sốtiền để xây một trường học bên Madagascar và một nhà thờ ởLaus. Nhóm "Les Prêtres" gồm có cha Jean-Michel Bardet, 40 tuổi, tốt nghiệp Nhạc viện Quốc gia Lyon, hiện là linh mục ởnhà thờ Gap, cha Charles Troesch, 29 tuổi, lúc nhỏ đã hát với nhóm "Les Petits Chanteurs à la Croix de Bois", nay là phụtrách nhà thờ Đức Bà ởLaus vùng núi Alpes, và một học sinh chủng viện (séminariste) người Việt Nam tên là Joseph Nguyễn Đình Nguyên, 27 tuổi. Anh được đức Giám mục TP Saigon  gởi qua Pháp từ năm 2003 để theo học ở chủng viện Gap. Sau hai năm, anh được tạm nghỉtrong một năm gọi là thời gian suy xét,đồng thời anh ghi tên học bằng kỹsư âm thanh và được phái qua làm ở RCF (Radio Chrétienne des Hautes-Alpes),đài phát thanh của địa phận Gap và Embrun. Chưa quyết định được tương lai của mình, anh xin gia hạn thời gian nầy một năm nữa. Chính vào lúc nầy anh dấn thân vào nhóm "Les Prêtres".
Tập hát (album) đầu tiên Spiritus Dei của nhóm xuất bản tháng ba 2010, gồm có 14 bài tôn giáo thiêng liêng, hay vô thần ngoại đạo của những tác giả có tiếng hoặc cận đại, thường được hát trong dân gian. Cả ba ca sĩ chung sức với nhau vớiđức Giám mục để chọn bài. Với sự đồng tình của các tác giả, nhiều bài đã được sửa lời, thích nghi. Ví dụ nhiều lời gợi ý ước ao, mong muốn trong bài Alleluia của Léonard Cohen được sửa thành bài tụng ca cuộc sáng tạo thế giới. Ngay khi mới ra, trong một lúc tập nầy đã đứng hàngđầu các tập hát ở Pháp vìđáp ứng nhiều tầng lớp trong xã hội, già trẻ, giàu nghèo, người có đạo, kẻ ngoại đạo.
  1. Spiritus Dei, nhạc Georg Fridrich Haendel (Saraband), lời Giám mục Di Falco, chuyển biên Roger Loubert và Florent Bidoyen
  2. I believe (Tôi tin), nhạc và lời Eric Lévi, sáng lập viên nhóm Era
  3. Quand on n’a que l’amour(Khi ta chỉ có tình yêu), nhạc và lời Jacques Brel
  4. Il est né le divin enfant(Chúa Hài Đồng đã sinh ra), nhạc cổ truyền, chuyển biên Roger Loubert và Florent Bidoyen
  5. Ave Maria, (Kính mừng Maria), nhạc Franz Schubert
  6. Amazing Grace, nhạc truyền thống Éire, lời John Nexton, chuyển biên Roger Loubert và Florent Bidoyen
  7. L’envie d’aimer(Thèm yêu), nhạc Pascal Obispo, lời Lionel Florence và Patrice Guirao
  8. Ave Verum Corpus, (Kính mừng thánh thể), nhạc Wolfgang Amadeus Mozart
  9. Je crois en toi(Tôi tin ở Ngài), nhạc và lời Didier Barbelivien, chuyển biên Roger Loubert và Florent Bidoyen
  10. Conversation avec Dieu(Đàm đạo với Chúa), đức Giám mục Di Falco đọc, nhạc Roger Loubet
  11. Alleluia, nhạc và lời Léonard Cohen, thích nghi đức Giám mục Di Falco
  12. Il faudra leur dire( Cần phải nói cho họ), nhạc và lời Francis Cabrel
  13. Minuit, chrétiens(Nửa đêm, hỡi các Ki-tô hữu), nhạc Adolphe Charles Adam, lời Placide Cappeau
  14. L’histoire de Spiritus Dei (Lịch sử Spiritus Dei), bài viết của Giám mục Di Falco và do chính ông đọc, nhạc Roger Loubert và Florent Bidoyen, nhạc đệm Ban hợp ca "Les Copains d’Accords", Val d’Oise


hinh-2


Trước sự ngạc nhiên ngay của các ca sĩ,tập hát đã đạt thành công lớn với 850.000 tập được mua. Tiền thu nhập đã được dùng đểsửa sang một trường học ởMadagascar và trùng tu nhà thờ Đức Bà ở Laus. Tập thứ hai, Gloria, xuất bản tháng tư 2011, cũng gồm có 14 bài, nội dung tương tự tập trước tuy phần ngoài đời ít nhiều nặng hơn :
  1. Glorificamus Te, lời đức Giám mục Di Falco, nhạc Piotr Ilitch Tchaïkovski (Le Lac des Cygnes - Hồ những Thiên Nga)
  2. Savoir aimer(Biết yêu), lời và nhạc : Florent Pagny, Pascal Obispo và Lionel Florence
  3. Les Lacs de Connemara(Những hồ Connemara ở Éire), nhạc và lời Michel Sardou, Jacques Revaux và Pierre Delanoë
  4. Le Vent de l’espoir (Ngọn gió hy vọng), lời Jenny Johns, Yann Ludwig và Claude Lemesle, nhạc Ludwig van Beethoven (L’Hymne à la Joie - Tụng ca nỗi vui)
  5. Puisque tu pars (Bởi vì em đi), nhạc và lời Jean-Jacques Goldman
  6. Au commencement(Lúc ban đầu), lời đức Giám mục Di Falco, nhạc Maurice Ravel (le Boléro)
  7. Je vous salue Marie(Kính chào Maria), lời Francis Jammes, nhạc Georges Brassens
  8. Mon vieux (Ông già tôi), nhạc và lời Daniel Guichard
  9. Je cherche ton visage (Tôi tìm mặt con), đức Giám mục đọc bài viết
  10. Mon enfant est parti (Con tôi đã ra đi), lời Giám mục Di Falco, nhạc Ludwig van Beethoven (sonate dương cầm số 8 gọi là Pathétique - Thống thiết)
  11. L’indifférence (Dửng dưng), nhạc và lời Gilbert Bécaud
  12. Prière à Marie (Cầu khẩn Maria), nhạc và lời Michel Jourdan, đức Giám mục Di Falco và Pierre Porte
  13. Douce nuit(Đêm thánh vô cùng), bài hát truyền thống
  14. Aux amis de Spiritus Dei(Gởi các bạn Spiritus Dei) đức Giám mục Di Falco và các tu sĩ đọc bài viết.
Tập nầy cũng được mến chuộng không kém, đến nay đã bán được 250.000 tập. Cả hai được sắp trong Top 10 những tập nhạc bán nhiều nhấtở Pháp. Nhờ thành công của hai tập hát, nhóm "Les Prêtres" được mời biểu diễn trên đài truyền hình A2 trong chương trình cuối chiều chủ nhật Vivement Dimanche, trước mặtđức Giám mục Di Falco. Thư khen ngợiđược gởi đến tới tấp, nhiều thư viết những bài hát đã làm yên lòng người nghe, dịu bớt buồn phiền. Thư mời biểu diễn cũng không ít và đức Giám mục bảo không thể làm hài lòng tất cả. Dù sao, trong hơn 20 buổi ở Pháp cũng như ở ngoại quốc, nhóm "Les Prêtres" đã hát trước khoảng 30.000 thính giả, luôn đem lại những giờ phút thanh bình, vui thích, thông cảm, hạnh phúc.
Vào lúc công trình đang nồng nhiệt, Joseph Nguyễn Đình Nguyên lấy một quyết định làm xôn xao giới âm nhạc và môi trường công giáo. Trong thời gian đi biểu diễn chung đụng với công chúng, anh thấy có thểsống đức tin ngoài nhà thờ và nói muốn lập gia đình, nghĩa là không trở về lại chủng viện nữa, một quyết định chí lí chỉcó anh mới có quyền tự lấy sau một thời gian lâu suy nghĩ, một quyếtđịnh mà mọi người phải tôn trọng nhất là khi anh chưa được phong chức. Có tiếng đồn anh có gặp người bạn đường nên mới quyết định rời áo tu, nhưng thật ra như tuồng không phải vậy. Thường đào tạo một giáo sĩphải mất 6, 7 năm, trong thời gian đó mọi sự được xếp đặt làm sao để người dự tuyển tự do chọn lựa, ngoài mọi áp lực. Rất tiếc là Giáo hội Công giáo không có truyền thống như nhiều Giáo hội khác cho phép linh mục lập gia đình mà vẫn tiếp tục phục vụ. Hậu quả là có nhiều tu sĩphá giới, thường không có tiếng tốt trong dân gian. Những trường hợp hoàn tục thường hiếm có, ítđược biết, nhưng lần nầy Joseph Nguyễn Đình Nguyên là một ca sĩ có tiếng nên mới xôn xao dưluận. Chính đức Giám mục Di Falco cũng không tỏ vẻ ngạc nhiên và khuyên anh Nguyên nên chia sẻ quyếtđịnh với mọi người đểkhỏi bị cho là đã có ý dấu diếm hay kiếm cách đánh lầm.
Tuy là thành phần nhóm "Les Prêtres", Joseph Nguyễn Đình Nguyên không phải chính thức là một giáo sĩ. Bây giờ phải tính sao ? Anh Nguyên đềnghị giữ chân đứng của mình trong nhóm đến cuối năm nghĩa là vẫn tiếp tục biểu diễn những buổiđã ký trong các hợp đồng ởMarseille, Rouen,… đến tháng 11 năm nayở Palais des Congrès ở Paris, với sự đồng ý của đức Giám mục Di Falco và hai đồng nghiệp trong nhóm. Anh Nguyên đã can đảm sáng suốt rõ ràng chọn con đường đi của đời mình sau khi suy nghĩ kỹlưỡng. Chúc anh tiếp tục thành công, trong đời sống cũng như trong công ăn việc làm, nhất là trong lãnh vực âm nhạc mà anh đã tỏ ra có sức, có tài.


les pretres


Võ Quang YếnXô thành mùa lá vàng rụng 2011

Chủ Đề 19.6: Duy trì sự tồn tại của Người Lính Việt Nam Cộng Hoà.

NGÀY 19 THÁNG SÁU 2012



Ngày Quân Lực của những năm trước 1975 luôn luôn bắt đầu bằng một cuộc diễn binh thật là hùng hậu của mọi quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tiếp theo là lễ gắn huy chuơng cho các chiến sĩ xuất sắc, ăn trưa và văn nghệ giúp vui.

Kể từ khi rời khỏi Việt Nam, các cựu chiến binh ở khắp bốn phương trời đã cố gắng tụ họp lại với nhau ở những địa phương mình đang sống, để lập nên những hội đoàn cựu quân nhân.Mỗi năm, đến Ngày Quân Lực, họ đều làm lễ kỷ niệm bằng mọi phương tiện có thể có được.Nơi nào có đông đảo hội viên, các cựu quân nhân có thể tổ chức một cuộc diễn hành giống như những ngày xa xưa. Nơi nào có số hội viên hạn hẹp, các hội đoàn vẫn cố gắng tổ chức Ngày Quân Lực bằng một lễ Chào Quốc Kỳ hát Quốc Ca, tiếp theosau đó là lễ truy điệu các chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc và cuối cùng là phần văn nghệ giúp vui.
Ngày Quân Lực tại Tiểu bang Victoria năm nay được tổ chức thật là lớn lao với hai buổi lễ và một buổi trình diễn văn nghệ, theo thứ tự như sau:
BUỔI TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ “LÍNH NGHĨ GÌ”
Buổi trình diễn văn nghệ này được tổ chức tại nhà hàng Candelles Reception & Convention Centre, số 570 Victoria Street, North Melbourne VIC 3051, vào ngày Thứ Bẩy 16 06 2012 vừa qua.
Thực sự, buổi trình diễn văn nghệ này không phải do Hội Cựu Quân Nhân tổ chức, mà là do chủ nhân của nhà hàng Candelles tổ chức đặc biệt cho người Lính Việt Nam Cộng Hòa nhân Ngày Quân Lực, với sự giúp đỡ của cả Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa, Hội Cựu Quân Nhân Úc và Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc Việt. Hơn nữa, vì Hội Cựu Quân Nhân VIC không có ý định tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ lớn, nên buổi trình diễn văn nghệ “Lính Nghĩ Gì” đã được nhiền khán giả coi đó như là một phần của Ngày Quân Lực.
Tôi là Lính, xa nhà đi trấn sơn khê . . . (Lính Nghĩ Gì, Nhật Ngân)
Trưởng ban tổ chức buổi văn nghệ là chị Ni Ni, và đạo diễn là Nữ Ca sĩ Cẩm Quỳnh.
Theo đúng chương trình, buổi trình diễn văn nghệ sẽ bắt đầu vào đúng 8:30 tối, nhưng khán giả đã có mặt tại nhà hàng từ lúc 7 giờ. Mặc dù thời gian còn rất sớm, nhưng đa số những ca sĩ và nhạc sĩ trong ban nhạc cùng với MC Quang Minh đều đã có mặt, và điều gây ngạc nhiên lớn cho mọi người là tất cả các ca nhạc sĩ này đều mặc Quân Phục của các Quân Binh Chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Nào là Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân . . .
Xướng Ngôn Viên (MC) Quang Minh đã bắt đầu buổi văn nghệ đúng giờ ấn định. Anh đã làm cả hội trường ngạc nhiên,thật là ngạc nhiên, khi lời nói mở đầu chuong trình của anh là:
“Để mở đầu chương trình, kính mời toàn thể quan khách đứng lên nghiêm chỉnh để chúng ta cùng làm lễ Chào Quốc Kỳ Úc Đại Lợi và Việt Nam Cộng Hòa”
Trên toàn cõi Úc Châu, tôi chưa hề được dự một buổi văn nghệ nào do tư nhân tổ chức mà lại có Lễ Chào Quốc Kỳ và hát Quốc Ca Úc Việt cả (có thể đã có mà tôi không được tham dự). Tôi vừa đứng lên vừa đưa mắt nhìn quanh, đa số các khán giả đều sung sướng ra mặt cùng nhau hăng hái đứng lên, chắc là họ cũng có cảm giác giống như tôi.
Em Hậu phương, còn anh nơi tiền tuyến . . .
Đèn sân khấu bật sáng lên, với hai dàn cờ Úc Đại Lợi và Việt Nam Cộng Hòa hiện ra thật là trang nghiêm và oai hùng.
Khúc nhạc dạo đầu vang lên, rồi cả ban nhạc hòa tấu bài Quốc Ca Úc Đại Lợi. Mặc dù không có lời của bản Quốc ca hiện lên trên màn ảnh, nhưng tôi nghe rõ mọi người chung quanh tôi đã cùng đồng ca:
“Australians all let us rejoice,
For we are young and free . . “
Vợ chồng tôi cố gắng hát theo mọi người, vì không có gì hổ thẹn cho bằng, đã mang danh là công dân Úc mà không thuộc bài Quốc ca Úc Đại Lợi.
Tới phần hát Quốc Ca Việt Nam, như mọi người đã biết trước, tất cả hội trường đều cùng nhau hát, hát thật say mê, thật hùng hồn. Hát để mà tưởng nhớ tới Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa thân yêu, hát để mà nhớ ơn các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước:
“Này công dân ơi,
Đứng lên đáp lời sông núi . . . “
Giọng nói trầm ấm của MC Quang Minh lại vang lên:
“Lễ mặc niệm cho các anh hùng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan đã bỏ mình trong chiến trận Việt Nam để cho chúng ta còn sống đến ngày hôm nay”
Đèn điện trong hội trường vụt tắt để trên sân khấu hiện rõ lên những ánh sao trắng sáng lóa trên nền đen, soi sáng một cái lô cốt đứng chên vênh với hàng bao cát chất chung quanh chân của lô cốt . . .
Không khí thật là im lặng, trang nghiêm
Bất thình lình . . . tiếng súng đại bác vang lên:
“Ầm . . . Ầm . . .”
Rồi những tiếng súng nhỏ thi nhau nổ khắp mọi nơi . . .
Tiếng máy bay trực thăng vang vọng từ đằng xa . . . rồi tiếng cánh quạt trực thăng xàn xạt ngay trên đầu, tưởng chừng như chiếc trực thăng nào đó vừa mới dáp xuống rồi lại cất cánh bay đi . . . bay đi . . .
Tiếng kèn đồng “Chiêu Hồn Tử Sĩ” nhè nhẹ vang lên, như bao oan hồn uổng tử đang kêu gào . . .
Thật là một buổi lễ chào cờ trang nghiêm và một buổi lễ mặc niệm thật bi hùng cho các Anh Hùng Tử Sĩ, một buổi lễ truy niệm với bao nhiêu âm thanh của chiến trường mà tôi chưa bao giờ được tham dự.
Chuong trình nhạc bắt đầu bằng bản nhạc hợp ca “Lính nghĩ gì” và chấm dứt cũng bằng một bản nhạc hợp ca “Tình Lính”.
Anh là Lính Đa Tình . . . (Tình Lính – Y Vân)
Một điểm đặc biệt trong buổi trình diễn văn nghệ này là, vào giữa chuơng trình, ban tổ chức đã mời hai người lính . . . chưa tròn tuổi lính lên sân khấu để kể lại cuộc chiếtn đấu của hai anh vào giò thứ 25 của cuộc chiến Việt Nam. Đó là Thiếu Sinh Quân Nguyễn Sơn Nam, khóa 1/75 Long Thành và Phi công Trần Quang Hải.Anh Sơn Nam vừa được gắn Alpha một tuần trước ngày 30 tháng Tư 1975, còn anh Hải và các đồng đội phi công vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện phi công ở bên Mỹ (có thể mang lon Thiếu úy Mỹ), trở về Việt Nam được đưa vào trường Thủ Đức để huấn luyện thêm về căn bản quân sự rồi mới làm lễ tốt nghiệp. Sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, các anh vẫn còn tử thủ và chiến đấu tại quân trường Thủ Đức.
Phi Công Trần Quang Hải đang kể chuyện đời lính của anh vào giờ thứ 25 của cuộc chiến. Bên tay phải của anh là Thiếu Sinh Quân Nguyễn Nam Sơn, Khóa 1/75 Long Thành.
Chính anh Hải và các đồng đội đã tử thủ tại quân trường Thủ Đức, đã dùng súng M72 bắn cháy một chiến xa của Việt cộng rồi mói rút ra Tuyến A cùng với anh em SVSQ Thủ Đức tiếp tục chiến đấu cho đến khi bắn hết đạn mới cùng nhau Tan Hàng Cố Gắng chứ không chịu đầu hàng, không để cho giặc bắt.
Buổi văn nghệ thật là vui nhộn (hơn bốn trăm người tham dự) và đầy những kỷ niệm, đầy những Lính của tất cả các Quân Binh Chủng, các hội đoàn Cựu Quân Nhân kéo dài cho đến giờ bế mạc mà tất cả các anh lính chiến và các em gái hậu phương vẫn còn như luyến tiếc cái không khí đầm ấm của Ngày Quân Lực. Một buổi văn nghệ thật là thành công, do nhũng người em gái hậu phương dành cho các anh trai tiền tuyến.
Tôi đã tìm gặp chị Ni Ni, chủ nhà hàng Candelles để hỏi về cảm tuởng của chị về buổi văn nghệ này.
Chị Ni Ni cho biết, hồi còn nhỏ, Ni Ni có người chị lớn gia nhập Nữ Quân Nhân, đóng ở Đà Nẵng. Mỗi khi có dịp, chị thường mời bạn bè lại nhà tổ chức ca hát thật là vui. Nhớ lại bầu không khí này mà Ni Ni đã có ý định tổ chức một buổi văn nghệ cho những người Lính, lấy chủ đề là “Lính Nghĩ Gì?” Cẩm Quỳnh lo đi mời ca sĩ, in và phát hành vé. Khi hai chị em cầm vé đi bán, ai cũng đặt câu hỏi:
“Chương trình này tổ chức là cho Ngày Quân Lực 19 tháng Sáu đó phải không?”
Thì cả hai mới chợt nhớ ra là buổi văn nghệ với chủ đề cho người lính đã rơi trúng vào thời gian của Ngày Quân Lực . . .
Thế là hai chị em lại ra sức sửa sang lại sân khấu cho thật là có ý nghĩa, đúng với “Ngày Quân Lực”. Việc đầu tiên là dựng một lô cốt với những bao cát đặt chung quanh. Khi mua cát dồn vào bao, hai chị em khệ nệ khiêng lên sân khấu, chỉ khiêng được có ba bao cát là . . . hết sí quách rồi, vì bao cát nặng quá! Nhưng không thể nào không có bao cát được, Cẩm Quỳnh đã suy nghĩ nát óc, cuối cùng đã nẩy ra sáng kiến là đi mua những hột sốp (bean nhồi các bao ghế) đem về nhồi đầy vào bao rồi cột chắc lại, cũng căng phồng và đẹp y như thật vậy (Vì thế, các ca sĩ đã được nhắc nhở: Khi hát, chỉ được vịn vào bao cát hoặc đặt nhẹ chân lên bao cát thôi, chứ làm mạnh là tiêu hết cả bao cát đó). Chiếc dù căng trên trần nhà, khởi đầu là do Hội Cựu Quân Nhân Úc cho mượn, nhưng vì quá nhỏ, nên hai chị em lại phải chạy ngược chạy xuôi đi tuốt xuống mãi tận Dandenong,vào tiệm cho muợn đồ lính để mướn một chiếc dù thật lớn và mọi thứ súng, lựu đạn, quân phục của lính. Người chủ tiệm còn cho biết, ông ta có cả . . . một chiếc xe tăng và máy bay trực thăng thiệt (không có máy móc bên trong) nếu hai cô có chỗ để trưng bầy những . . . đồ chơi này. Phần âm thanh của trực thăng, của đạn đại bác và của những khẩu súng M16, Ni Ni cũng phải mượn CD thâu các loại tiếng này và nhờ ban nhạc cùng vói người điều khiển âm thanh cùng hợp tác để chơi nhạc và phát âm thanh cho đúng lúc.
Còn phần của Cẩm Quỳnh, nói chuyện mãi, cuối cùng tôi mới được biết, cô là ái nữ của một Phi Công trực Thăng thuộc phi đoàn 219 (chuyên chở những Biệt Kích nhảy ra Bắc và dọc đường mòn Hồ chí Minh. Năm 1996, Cẩm Quỳnh đã được cha mẹ dẫn về Việt Nam chơi và do may mắn, ông Thiếu uý phi công đã gặp lại vị chỉ huy cũ của mình đang đạp xích lô kiếm sống qua ngày tại Sàigòn. Hai người chiến binh đã tụ họp bạn bè và tổ chức một buổi họp mặt các anh em lính trận Miền Nam tại một nhà hàng cũng do một phi công làm chủ. Anh em đã họp mặt thật là đông vui, coi đó là “Ngày Quân Lực của năm 1996” tại Sàigòn (xin xem lại bài Ông Đại Uý và Người Phu xe Xích lô trên www.vietluanonline.com).
Chị Ni Ni cuối cùng đã cho biết, vì phải sửa soạn quá nhiều thứ, tập dợt quá nhiều lần cho xứng đáng với sự mong đợi cúa các anh em Cựu Quân Nhân, nên mặc dầu là số người tham dự đã quá với sự mong đợi của ban tổ chức, nhưng vẫn . . . chưa đủ vốn. Tuy nhiên, để bù lỗ, Ni Ni đã nhận được rất nhiều lời cám ơn và khen ngợi đã tổ chức một buổi văn nghệ cho Lính, cho Ngày Quân Lực thật là vui và đầy ý nghĩa. Một số anh em Cựu Quân Nhân đã để nghị với chị là, nếu năm tới có tổ chức nữa, nên có một cuộc Rước Quốc Quân Kỳ với đầy đủ hiệu kỳ của các Quân Binh Chủng mà họ sẽ cho mượn. Một Cựu Quân Nhân Hải Quân cũng đã than phiền là nhạc lính vể các quân binh chủng đều được các ca sĩ hát lên thật hay, riêng Hải quân lại chằng có bài hát nào cả. Chị Ni Ni ghi nhận và xin hẹn tất cả các anh em cựu quân nhân vào Ngày Quân Lực 2013, sẽ tổ chức chu đáo hơn.
LỄ TRUY ĐIỆU CHO CÁC ANH HÙNG TỬ SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA – ÚC ĐẠI LỢI VÀ TÂN TÂY LAN.
Lễ Truy điệu các anh hùng tử sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, được tổ chức vào đúng 10 giờ sáng ngày Thứ Ba 19 tháng Sáu 2012, tai Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc Việt, số 44-50 Clow Street, Dandenong 3175.
Buổi lễ này do Hội Cựu Quân Nhân Úc (RSL) chi nhánh Dandenong phối hợp với Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc Việt tổ chức, quy tụ các hội viên của Hội RSL Dandenong, hội Cựu Quân Nhân Úc tham chiến ở Việt Nam (Vietnam Veterans Association – VVA) và các cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Lễ truy điệu này bắt đầu được tổ chức từ ngày 19 06 2005, sau khi Tượng Đài Chiến Sĩ Úc Việt tại Dandenong được khanh thành, do một số anh em Cựu quân nhân tự tổ chức. Những người lính này quan niệm rằng, Lễ Truy Điệu cho các anh hùng tử sĩ phải được tổ chức đúng vào Ngày Quân Lực 19 06 mỗi năm, bất kể ngày đó là ngày làm việc hay ngày nghỉ cuối tuần. Đúng ngày, đúng giờ, vong hồn các anh hùng tử sĩ chắc chắn theo thói quen từ năm 1965 sẽ tới tụ họp ở các đài tử sĩ, những người lính còn sống và những người lính đã chết sẽ gặp nhau tại đây:
Tao chào mày, dã nằm xuống cho tao và bạn bè còn được sống.
Tao thắp cho mày nén nhang cho vong hồn mày bớt lạnh.
Tao đốt cho mày điếu thuốc để cùng nhau hút mà nhớ lại tình bạn bè ngày xưa khi còn bên nhau.
Ý nghĩa của Ngày Quân Lực là như thế đó.
Vào ngày 19 06 2005, không ai bảo ai, không có thông báo trên báo chí, không có gì cả.Chỉ có tấm lòng của người Lính đối vói người Lính, ai có lòng thì tới, ai bận công chuyện thì thôi. Lác đác chỉ có một vài anh em tói thắp nhang cho bạn bè.
Kể từ đó tới nay, mỗi năm lại có thêm một số anh em đến thắp nhang cho bạn bè đã nằm xuống. Thắp nhang xong, họ đi vòng vòng nhìn ngắm tượng đồng hai người lính để nhớ tới những ngày xưa thân ái, khi còn giầy sô áo trận nón sắt súng trên tay.Họ đi vòng vòng nhìn lên trên không để thấy chiếc trực thăng ngày xưa, chính chiếc trực thăng này đã đưa họ và bạn bè đồng ngũ tói những địa danh Pleime, Đồng Xoài, Bình Giã, An Lộc, dòng sông Mỹ Chánh . . . để cùng nhau sát cánh chung vai anh dũng chiến đấu để rồi cuối cùng, những người bạn này đã ra đi mãi mãi.
Nhẩy Dù Nguyễn Việt Long và John Wells dặt vòng hoa tưởng niệm.
Thấy con số cựu quân nhân đến mỗi ngày mỗi đông, ông John Wells, hội trưởng Hội RSL Dandenong và ông Steve Lowes hội trưởng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc Việt đã có nhã ý tổ chức ngày truy điệu cho các anh em cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan.
Buổi lễ này chỉ được tổ chức trong tình đồng đội, không đăng báo, không phát thiệp mời, không có ai đọc diễn văn, không có ai thổi kèn đánh trống. Những ai có lòng thành, có thì giờ, thì đúng 10 giờ sáng ngày 19 06 mỗi năm, hãy tới đài tưởng niệm mà thắp một nén nhang cho những người bạn đã nằm xuống.
LỄ KỶ NIỆM NGÀY QUÂN LỰC 19 06 DO HỘI CỤU QUÂN NHÂN TIỂU BANG VICTORIA TỔ CHỨC.
Buổi lễ chính thức kỷ niệm Ngày Quân Lực sẽ do Hội Cựu Quân Nhân của Tiểu bang tổ chức, được ấn định vào ngày Thứ Bẩy 23 06 2012, lúc 2 giờ chiều, tại trụ sở của hội, số 48 đường Geelong Road, Footscray VIC 3011. Trên nguyên tắc, hội RSL Footscray và hội Cựu Quân Nhân Tiểu Bang cùng nhau xử dụng tầng trệt của trụ sở nói trên, nhưng vì đây là buổi lễ có đông đảo anh em tham dự, nên hội CQN đã xin với chủ nhân của hội quán (Dutta Galla Nursing homes) để xử dụng cà lầu trên cho buổi lễ. Chúng tôi cũng được tin là, đoàn Hậu Duệ Cựu Quân Nhân cũng sẽ chính thức ra mắt và hoạt động với các hội đoàn cựu quân nhân, dưới sự điều động của cô Phan Đình Bảo Kim. Chúc mừng cho Đoàn Hậu Duệ, hy vọng rằng trong những năm tháng sắp tới, khi các anh em cựu quân nhân đã đến tuổi về hưu, các hậu duệ sẽ tiếp tục công việc làm để duy trì sự tồn tại của Người Lính Việt Nam Cộng Hoà.
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ MUÔN NĂM
NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ BẤT DIỆT.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

ANH QUỐC LẬT LẠI HỒ SƠ CỦ : CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA" ĐỨC ÔNG PHÊRÔ ĐÀO ĐỨC ĐIỀM"



Đức Ông Phêrô Đào Đức Điềm Về Thăm Vn, Bị Giết Bí Ẩn
(01/30/2003)

LONDON -- Bản tin sau đây của cơ quan thông tấn Công Giáo VN VietCatholic News, cho biết một Đức Ông khi về VN đã bị chết một cách bí ẩn.



Chúng tôi mới nhận được tin buồn: Đức ông Phêrô Đào Đức Điềm, giam đốc Trung Tâm Công Giáo cho người Việt tại Anh quốc đã qua đời lúc 10 sáng ngày 25 tháng 1 năm 2003, tại Việt Nam.

Về cái chết của Đức ông Điềm tại Việt Nam thì còn nhiều bí ẩn, theo nguồn tin chúng tôi vừa nhận được hôm nay -- nhưng chưa được kiểm chứng thì “Đức Ông bị đâm chết tại hotel ở Việt Nam”. Chúng tôi đang phối kiểm tin này và sẽ cho biết sau.

Nay được tin thêm từ thân nhân của Ngài ở Hố Nai cho biết tin như sau.

Hiện đã có đại diện của tòa lãnh sự Anh Quốc tại Hà Nội ra làm việc tại Huế để điều tra về cái chết của Ngài. Chúng tôi cũng được tin thêm là hiện thi thể của đức ông Điềm đang được quàn tại nhà lạnh để khám nghiệm nên không ai được viếng xác cả.

Nguồn tin này cũng cho biết là công an Huế đã bắt một nghi can để điều tra vì nghi là có liên hệ tới cái chết của Đức ông Điềm. Nghi can bị bắt là người tháp tùng Đức ông trong cuộc thăm quê hương lần này.

Hôm thứ tư tại giáo xứ Kim Bích ở Hố Nai (nơi có bà con thân thuộc và gia đình của Ngài sống ở đó) sẽ có thánh lễ phát tang cho linh hồn đức ông Phêrô Điềm.

Và sau đây là tiểu sử Đức Ông Điềm do Trung tâm Mục Vụ London cung cấp.

Đức Ông Phêrô Đào Đức Điềm sinh ngày 14 tháng 12 năm 1939 tại làng Lang Gián, quận Nam Sách, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trong một gia đình gồm ba anh em trai và một gái. Đức Ông là con thứ hai, mồ côi cha từ lúc mới lên mười tuổi.

Vì lý do an ninh, vài tháng sau khi thân sinh Đức Ông qua đời, mẹ Đức Ông dẫn các con, cùng với một số gia đình công giáo khác, tản cư sang làng Kim Bích, một xứ đạo lớn trong vùng. Ở đó một thời gian, cho đến khi Đức Ông học hết lớp tư, gia đình lại dọn lên thị xã Hải Dương. Đến năm kế tiếp, Đức Ông được Thầy Toán nhận vào ngay trong nhà xứ và làm cậu giúp lễ. Một năm sau Đức Ông chính thức gia nhập tu viện Quảng Yên.

Năm 1954, đất nước chia đôi, cùng với làn sóng người tị nạn cộng sản di tản vào miền Nam Việt Nam, Đức Ông được đưa về chủng viện Chân Phước Liêm, Bình Đức, Mỹ Tho. Sau khi thi xong bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vào năm 1959 tại Mỹ Tho, Đức Ông về Sài Gòn học tiếp tại trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng.

Kể từ giữa năm 1962, Đức Ông bắt đầu học triết và thần học ở Đại Chủng Viện Thánh Giuse, số 6 đường Cường Để, Sài Gòn.

Trong thời gian này Đức Ông mang thêm một cái tang lớn nữa : Thân mẫu của Đức Ông theo tiếng gọi của Chúa, vĩnh viễn ra khỏi thế gian vào ngày 7 tháng 10 năm 1963. Đức Ông rất buồn và cảm thấy thật cô đơn, nhưng đã tín thác hoàn toàn nơi bàn tay nhân lành của Chúa, nên Đức Oâng quyết tâm đi tiếp đoạn đường Ngài đã vạch ra cho Đức Ông.

Cuối năm thần học đầu tiên, Đức Ông chịu chức cắt tóc, rồi đi giúp xứ và dạy học ở Tiểu Chủng Viện Đà Lạt.

Đức Ông được thụ phong Linh Mục vào ngày 01.05.1969 tại nhà thờ chính toà (nhà thờ con gà) Đà Lạt, dưới sự chủ lễ và tấn phong của Đức Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền.

Sau đó, Đức Ông được bổ nhiệm làm cha phó nhà thờ Chính Toà Đà Lạt hơn 4 năm. Suốt thời gian này Đức Ông được chỉ định nhiều trách vụ khác nhau : như hướng dẫn giáo lý hôn nhân, giáo lý tân tòng, giáo lý ở trường Trí Đức, liên lạc với các dòng tu nam nữ và các trường Công Giáo trong địa phận...

Sau 6 năm miệt mài phục vụ cho đoàn chiên của Chúa, Đức Ông vẫn luôn tin tưởng vào nhiệm vụ cao cả của Ngài, nhưng biến cố 1975 đã gây nhiều sóng gió cho Đức Ông.

Ngày 29.07.1979 sau 14 lần thất bại, Đức Ông lại lênh đênh trên biển cả trên con đường tìm tự do. Sau 8 ngày bồng bềnh vô định, bị nhiều tàu qua lại từ chối, cuối cùng một chiếc tàu của Anh đã vớt và đưa về tạm trú ở Singapore.

Tháng giêng năm 1980, Đức Ông đặt chân đến Anh Quốc. Nhờ hồng ân của Chúa, Đức Ông đã vượt qua bao thử thách trong việc mở mang nước Chúa nơi đất khách quê người; nên vào tháng giêng năm 1990, Giáo Hội đã nâng ngài lên hàng Đức Ông.

Xin mượn lời của Đức Ông để kết thúc : Nhìn về tương lai, 25 năm thật xa. Nhìn lại quá khứ, 25 năm thật mau. Bao nhiêu biến cố xảy ra, bao nhiêu thử thách, bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu phấn đấu và khổ nhục. 25 năm trải dài những thăng trầm của cuộc đời, dù chỉ là để phục vụ. Nhưng nhờ ơn Chúa, nhờ những giáo dân thánh thiện luôn giúp đỡ bằng lời cầu nguyện và thông cảm, tôi đã vượt thắng mọi nỗi khó khăn, thử thách ở đời này.

Vào lúc 10 sáng ngày 25 tháng 1 năm 2003, Đức Ông về với Chúa tại Việt Nam.
 

Thư ngỏ gởi Linh Mục Phao-lô Huỳnh Chánh





http://hon-viet.co.uk/NguyenTaChung_ThuNgoGuiLmPhaoLoHuynhChanh.htm

Bài Xem Nhiều