We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 4 July 2012

Câu Chuyện Hy Hữu

1. Câu Chuyện Hy Hữu




Nhớ mãi một câu chuyện tôi cứ nghĩ không bao giờ xẩy ra trong đời người. Nhưng nó đã xẩy ra một cách hết sức bất ngờ trong những ngày lao tù dưới chế độ CS ở miền Bắc Việt Nam. Hình như một sự mầu nhiệm nào đó để ngăn cản những người CS bớt làm điều ác để mọi người bớt nguyền rủa và chính bản thân cũng như gia đình họ gặp những điều an lành hơn. Câu chuyện khó có thể tin và ngoài sức tưởng tượng của con người.

Những ngày tháng ở trại tù cải tạo (trại 2 liên trại 2) Hoàng Liên Sơn, gần bản Mường Côi thuộc huyện Nghĩa Lộ. Ngày ngày đoàn tù lao động như lấy gỗ, chặt giang, nứa, củi… hoặc đi nhận thực phẩm ở Phù Yên đều đi ngang qua các nhà của dân chúng ở hai bên đường. Họ là thành phần bị chỉ định cư trú mà CS gọi là “Khu Kinh Tế Mới“. Có những người từng làm việc hoặc ở trong quân đội của chính phủ Pháp. Những người sống dưới chế dộ cộng sản nhưng không đúng đường lối hoặc quan điểm. Tóm lại những người mà chế độ cho là nguy hiểm, xét lại hay có hại đối với chế độ, thêm vào đó là người dân bản xứ.

Ðặc biệt mỗi lần ngang qua nhà anh Trung (anh bị thương ở tay cử động khó khăn, VC gọi là Trung Khều làm nghề thợ may), quản giáo và vệ binh (danh từ VC) hay ghé lại nhà anh ngồi nghỉ, uống nước chè hút thuốc lào và tán gẫu. Nhân tiện những người tù cũng ngồi la liệt hai bên đường trước cửa nhà anh để nghỉ. Anh hay đem thuốc lào và nước để anh em dùng. Thời gian này anh em nghiện thuốc lào bất đắc dĩ vì không có thuốc lá. Mặc dầu trong bụng lúc nào cũng cồn cào vì cái đói triền miên, nhưng thuốc lào hình như cần thiết hơn. Thấy sự đối xử anh Trung rất khác biệt với những người khác. Ðó là điều hiếm hoi trong một chế độ lấy lừa dối làm chính, xem mạng người như cỏ rác và đầy hận thù. Các con của anh cũng khác xa với “cháu ngoan bác hồ” [mất dậy không chỗ nào nói nổi], không bao giờ gọi chúng tôi là “thằng tù”.

Một lần chúng tôi ngồi nghỉ trước nhà anh trên lề đường để uống nước và hút thuốc lào do con anh mang đến. Nội quy cấm không được tiếp xúc với dân, nếu vi phạm sẽ bị cùm trong nhà kỷ luật vì vậy mọi sự tiếp xúc phải lén lút đừng để bọn cán bộ bắt gặp. Nhân tiện tôi hỏi cháu sao không gọi các chú là “thằng tù“ giống như các đứa trẻ khác. Cháu trả lời “Bố cháu dạy các bác các chú là thành phần học thức miền Nam, vì vận nước phải đi tù chứ không có tội tình gì cả. Các con phải đối xử lễ độ với họ và tôn trọng họ“. Thấy sự việc càng ngày xẩy ra không đơn giản, phải có nguyên do xâu xa nào đó mà tôi chưa biết. Trong đầu tôi tự hỏi mãi “tại sao”, mà chính tôi chưa bao giờ trả lời được. Lúc bấy giờ trong trại khoảng 300 tù nhân chỉ có 2 người là TQLC, tôi và anh Nguyễn Văn Ðốc. Nhưng anh Ðốc làm thợ rèn không bao giờ ra khỏi trại, chỉ một mình tôi TQLC lao động ngoài trại (Anh Ðốc đã mất vài năm nay tại Houston.)

Mãi đến ngày gần Tết năm 78, tôi được trại giao công tác lấy lá dong mang về trại để gói bánh chưng cho bộ đội lẫn tù nhân. Tôi đi ngang qua nhà anh, thấy anh ra hiệu tôi xuống suối trước cửa nhà anh, rồi anh đi theo xuống gặp tôi và lại ngồi gần tôi. Một lúc rất lâu anh không nói năng gì cả. Tôi thấy anh ngồi trầm tư và suy nghĩ, đôi mắt nhìn tôi chăm chú. Tôi ngồi im lặng tôn trọng sự suy nghĩ cuả anh. Một lúc sau anh bắt đầu kể với giọng trầm buồn.

– “Năm 73 sau ngày ngưng chiến, một buổi sáng nhiều sương mù, tôi đi theo bờ biển để tìm cua, ốc tại thôn Gia Ðẳng. Vì không kiểm soát được nên tôi lọt qua phòng tuyến của anh và bị các anh bắt được. Tôi rất lo ngại là sẽ bị các anh đánh đập, nhưng ngoài sức tưởng tượng của tôi, các anh đã đưa thuốc cho tôi hút và tử tế đưa tôi về BCH của các anh. Tôi được một anh lính Thủy đánh bộ mang quân hàm Thượng úy hay Ðại úy gì đó, tôi không biết chắc chắn lắm, dẫn tôi ra Huế để ăn uống và xem chiếu bóng bằng xe ôtô con. Thú thật anh, trong lòng tôi vô cùng cảm xúc cách đối xử tử tế của các anh. Nhưng tôi không thể ở lại với các anh mặc dù tôi rất muốn, vì các anh cũng biết tôi còn gia đình hiện đang sống bên kia và sẽ bị trù dập nếu tôi là hàng binh. Sau một ngày đi chơi rất thoải mái tôi được các anh trả về đơn vị tôi. Từ đơn vị của các anh tôi chạy về đơn vị tôi. Thú thật tôi không ngờ các anh không bắn theo tôi mà thực sự có ý định thả tôi. Tôi về phải làm tờ kiểm điểm và phải nói lên sự đối xử tàn ác của các anh. Thú thật anh lương tâm tôi rất xẩu hổ nhưng không viết như vậy không được.

Rồi đến ngày “Giải phóng miền Nam“, tôi bị phục viên và được chỉ định đem gia đình về đây sinh sống. Tôi nghĩ chế độ nào dù bạo tàn hay nhân đạo theo thời gian cũng phải thay đổi, con người dù sống một thế kỷ rồi cũng mai một đi. Chỉ có tình người là trường tồn vĩnh cửu, mặc dầu chế độ và xã hội hiện tại rất hiếm hoi. “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng“. Ngày hôm nay tôi đối xử tử tế với các anh là vì tôi nhớ mãi sự tử tế của các anh đối xử với tôi, mà trong tư tưởng tôi luôn luôn bị nhồi nhét các anh là thành phần ăn gan uống máu đồng loại. Tôi nghe bộ đội nói tên anh và cho tôi biết anh là “Lính Thủy đánh bộ“ trốn trại vừa bị bắt lại còn đang kỷ luật.

Ngày hôm nay tôi kể cho anh nghe câu chuyện này mà tôi đã dấu kín từ lâu. Tôi biết anh là lính thủy đánh bộ nên thổ lộ cảm nghĩ của tôi vì tôi tin anh cùng đơn vị đã bắt tôi cũng đã biết hoặc đã nghe chuyện này. Tôi muốn nói với anh lời cuối, anh nên giữ gìn sức khoẻ, đừng có trốn trại mà sẽ không bao giờ thoát được mà chỉ thiệt thân, hãy chờ đợi ngày về với gia đình. Tôi không biết thời gian nào nhưng tôi nghĩ rằng sẽ lâu lắm. Ðiều tiên quyết là anh phải còn sống mới về xum họp với gia đình, anh nên nhớ điều hết sức quan trọng này.”

Sau khi nói xong anh đưa tôi gói xôi và trở lại nhà, và nói “Anh ăn đi tôi không có gì hơn để giúp anh.” Trong khi vừa ăn xôi vừa nghĩ lại những lời tâm sự của anh.

Ðúng là năm 73 sau khi có lệnh ngưng chiến tại chỗ đơn vị của Thiếu Tá Trần Quang Duật, Tiểu Ðoàn Phó TÐ1/TQLC có bắt được 1 tù binh đi lạc vào tuyến phòng thủ của TÐ1 ở thôn Gia Ðẳng. Sau khi giải giao về BCH/LÐ/258 đang đóng ở Hội yên. Lữ đoàn Trưởng Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh đã xin lệnh cấp trên để đưa anh ra thị xã Huế ăn uống vui chơi mong tìm hiểu thêm tin tức và mong anh ta hồi chánh. Tôi được cấp xe, tiền để đưa anh ra Huế ăn uống và xem chiếu bóng. Tôi không hỏi tên anh vì tôi nghĩ anh sẽ nói tên giả. Ðầu tiên ăn phở anh ăn ngon lành như chưa từng được ăn ngon như thế, được uống cà phê, hút thuốc lá và đi xem chiếu bóng. Trước khi về tôi đưa anh ra quán chè ở cồn Hến để anh giải lao và nhìn đồng bào ta nhộn nhịp qua lại. Anh đăm chiêu và tận hưởng những gì được ưu đãi, chắc anh nghĩ trong đời anh khó có dịp được hưởng lần nữa. Một lúc anh nói với tôi: “Các anh tử tế lắm, ăn uống rất ngon và thành phố tấp nập. Tôi thích lắm, nhưng tôi không ở lại với các anh được vì tôi còn gia đình đang sống bên kia”. Trên đường trở về tôi được lệnh trả anh về cho TÐ1/TQLC để đơn vị này thả anh tại nơi bắt anh để anh trở về đơn vị.

Biết rõ và nhớ rất rõ từng chi tiết theo lời tâm sự của anh. Nhưng suốt thời gian nghe anh tâm sự, ngồi lặng yên tôi lắng nghe. Không xác nhận cũng như không nói lời nào cả. Ở tù với CS một thời gian tôi thấm thía sự gian trá lừa lọc và tàn ác của họ. Năm 1979 khoảng tháng 7 trời rất là nóng bức từng cơn gió Lào làm cháy da thịt. Tôi xuống suối để rửa mặt cho đỡ nóng bức. Anh xuống theo và gặp tôi. Anh Trung đưa cho tôi 2 củ khoai lang đã chín, vài viên kẹo, một nắm thuốc lào và nói: “Tôi chỉ có thể giúp anh bấy nhiêu, anh cũng biết là mọi người rất nghèo, không dư dả như miền Nam của các anh. Tôi nghe 5 người trốn trại sẽ được di chuyển đến trại khác vào ngày mai. Tôi chúc anh may mắn, và tôi nghĩ chúng ta khó có ngày gặp lại. Mong anh giữ gìn sức khoẻ”.

Tôi suy nghĩ sự chuyển trại là một tin không bao giờ cho tù nhân biết, nếu tiết lộ sẽ có biện pháp kỷ luật ngay. Chắc là anh tin tôi mới cho tôi biết. Tôi bèn nói nhanh với anh vì ngập ngừng thì tôi sẽ không bao giờ dám nói: “Người Lính Thủy Ðánh Bộ mà anh kể chính là tôi”. Nói xong tôi chào anh và quay lưng lên đường nhập chung với đội. Ðúng ngày mai, 5 người chúng tôi chuyển về liên trại nhập chung với những người trốn trại ở các trại khác di chuyển về trại Phú Sơn 4 Bắc Thái để công an quản lý. Tôi nhớ mãi hành động cũng như cách cư xử thân thiết và tử tế của anh. Tôi nguyện trong lòng một ngày nào đó, nếu còn sống sót để trở về với gia đình tôi sẽ tìm gia đình anh để thăm. Mãi đến cuối năm 87 tôi mới được thả ra khỏi trại cải tạo về với gia đình. Về đến nhà bao nhiêu chuyện phải lo: lo ăn, lo mặc, lo chỗ ở, lo kiếm tiền để sinh sống cho chính mình và gia đình mình. Sau đó phải lo giấy tờ hồ sơ để xuất cảnh. Bao nhiêu chuyện phải gánh vác không còn thì giờ nghĩ đến gia đình anh Trung cho đến khi gia đình tương đối ổn định sau khi được định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 1994, nhân một chuyến làm ăn ở Kuala Lumpur (Malaysia) với 1 người Hoa quốc tịch Mã Lai. Trong khi chờ đợi hợp đồng với 1 xưởng mộc, anh ta hỏi tôi có muốn về thăm viếng VN hay không. Tôi không có ý định về VN vì chế độ CS còn tồn tại, cha mẹ tôi đã qua đời, hơn nữa tôi mới rời đất nước một thời gian ngắn khoảng 4 năm, không có lý do để về VN. Bỗng tôi nghĩ đến anh Trung tôi đổi ý muốn về VN một chuyến. Sau vài ngày ở Saigon, tôi tìm cách đi ra miền Bắc đến tỉnh Hoàng Liên Sơn tìm gia đình anh Trung. Ðáng tiếc cảnh vật cũng như người đã thay đổi, không có cách gì tìm lại được gia đình anh. Tôi trở lại Saigon trong lòng vô cùng hối tiếc và ân hận. Nhưng tôi nghĩ mọi việc đều được thượng đế an bài, tôi cố công đi tìm nhưng không gặp được cũng là do ý trời. Lý luận như thế để lường gạt lương tâm được yên ổn không còn bứt rứt nữa.

Vài ngày sau đó không có chuyện gì để làm, hơn nữa Saigon nóng bức và chật chội, tôi có ý định về miền Tây chơi. Tôi ra bến xe Tân cảng Phú lâm mua vé xe về Cần thơ.

Trong khi chờ đợi xe khởi hành, tôi ngồi quán uống nước nhìn người qua lại tấp nập và vội vã hình như thời gian không đủ đối với họ. Bỗng nghe 2 anh khuân vác giành mối gây nhau bằng giọng Bắc mà theo kinh nghiệm xương máu của tôi đúng là giọng Bắc Kỳ năm 75. Hai anh cãi nhau nhiều, nhưng chỉ một câu làm tôi chú ý và ngạc nhiên. “Mày, con Trung Khều, bố con mày là thành phần phản động phải sống ở vùng núi, không được sống vùng đồng bằng như gia đình tao, tao không xem mày ra gì c…” Câu nói này làm trong đầu óc tôi hiện lên hình ảnh quen thuộc xa xưa, nhưng không biết chắc đúng hay không. Ðợi 2 anh cãi xong lại gần anh bị anh kia mắng, tôi hỏi: “Anh quê ở đâu mà vào Nam làm nghề khuân vác”. Anh nhìn tôi ngỡ ngàng và đôi chút ngạc nhiên. Tôi bèn mời anh lại chỗ tôi ngồi và gọi nước cho anh.

Một lúc sau anh ta tâm sự, “Gia đình tôi trước ở Mường Côi tỉnh Hoàng Liên Sơn. Sau đó cả gia đình di chuyển về Phủ Lý tỉnh Nam Ðịnh để sinh sống. Nhưng cuộc sống quá khổ thiếu thốn đủ thứ, gia đình quá nghèo nên tôi định vào Saigon để kiếm tiền giúp gia đình.” Tôi bèn hỏi “Hồi nẫy tôi nghe anh kia nói bố anh là Trung Khều phải không?” Anh nhìn tôi và nói: “Bố tôi là bộ đội phục viên, tay bị thương nên mang tật”. Tôi bèn nói bố anh làm nghề thợ may phải không? Anh ngạc nhiên hỏi vì sao tôi biết. Anh nhìn tôi chăm chú và nói “Bác là Việt kiều ở nước ngoài về phải không?” Tôi hỏi tại sao anh lại đoán chắc như thế. Anh bèn chỉ đôi giầy tôi đang mang và nói “Ða số người ta chỉ mang dép mà bác lại mang giầy Adidas”. Tôi mỉm cười nói với anh ta “Tôi cũng ở Mường Côi Hoàng Liên Sơn 3 năm”. Anh cười nói “Bác nói giọng Nam rặt sao lại ở Hoàng Liên Sơn?”. Tôi bèn nói tôi ở tù cải tạo ở đó. Anh ta mừng rỡ nói, “Bác ở trại tù 9 căn bị cháy hết đó phải không?” Tôi nói phải, anh nhớ dai lắm. Anh ta nói thêm: “Các bác các chú ở trong trại đó lao động ngang qua nhà cháu, hay nghỉ hai bên đường trước cửa nhà để uống nước và hút thuốc lào”. Tôi liền nghĩ: “Khổ công lặn lội đi tìm không được, tình cờ lại gặp cố nhân”. Tôi bèn hỏi thăm bố mẹ anh ta. Anh ta kể: “Bố cháu bây giờ yếu lắm, di chuyển đi lại khó khăn, không làm gì cả. Chỉ có mẹ cháu buôn bán ngoài chợ Phủ Lý nhưng không đủ ăn. Không có vốn làm sao kiếm tiền được. Gia đình cháu rất vất vả và nghèo khổ.” Tôi lấy 200 đồng (Dollars) để giúp anh và gia đình anh và gửi lời hỏi thăm bố mẹ anh… Tôi nói tên tôi cho anh biết và nghĩ rằng bố anh có lẽ còn nhớ. Tôi viết địa chỉ cho anh để sau này anh có thể liên lạc được với tôi.

Sau 7 ngày lang thang ở VN, tôi trở lại Malaysia để tiếp tục công việc làm ăn… Trong lòng tôi thực sự thơ thới, hân hoan cũng như tràn đầy hạnh phúc, như vừa trút bỏ gánh nặng ngàn cân trên vai và đã thực hiện được điều tâm nguyện của mình. Mọi việc lặng lờ trôi vào quá khứ và tôi quên bẵng đi một thời gian. Năm 1995 khoảng tháng 5, tôi nhận được một lá thư. Lời lẽ trong thư là lời lẽ của một anh bộ đội miền Bắc đã phục viên. Tôi muốn gìn giữ từ ngữ của anh dùng để người đọc có ý niệm rõ chứ tôi không có ý dùng từ ngữ VC…..

“Tôi được con tôi kể lại, anh tặng cho nó và gia đình tôi một số tiền quá lớn đối với trí tưởng tượng của tôi. Tôi nghĩ trong chế độ xã hội hiện nay rất thiếu tình người, không ai cho tôi một số tiền lớn lao như thế và đối xử tử tế như anh vậy. Nhờ đó vợ tôi có số vốn buôn bán, cuộc sống đỡ hơn trước nhiều lắm. Thật sự bây giờ tôi không thể nào hình dung được hình ảnh của anh, hình như thời gian đã làm cho tôi quên mất. Nhưng việc làm của anh đã giúp cho tôi “một ấn tượng bức xúc” không bao giờ tôi quên được. Tôi rất mừng cho anh và gia đình anh đã thoát khỏi sự cùng cực đau khổ. Là nạn nhân của một chế độ bất nhân, tàn bạo và hận thù nhưng mọi người trên thế giới mở rộng vòng tay giúp đỡ. Chế độ đó, tôi đã phục vụ cả cuộc đời tôi và hy sinh xương máu để bảo vệ.

Cuối cùng tôi xin nói với anh rằng. Thuyết nhân quả của nhà Phật đã đánh tan bức tường vô thần trong đầu óc tôi. Bây giờ sự suy nghĩ của tôi vào giờ phút còn lại của cuộc đời hoàn toàn thay đổi hẳn. Tôi tin tưởng hoàn toàn vào câu nói của nhà Phật “Gieo nhân nào hưởng quả nấy”

Tôi thành thật cảm ơn anh. Sự tử tế của anh đã làm biến đổi con người tôi thành người tốt như hiện nay, theo ý tôi nghĩ…
 
 
Tác giả: Mai Văn Tấn
 
 http://quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=27815#.T_Sl-1GkxD8

Lũng đoạn kinh tế nhờ chế độ độc tài



Người Việt Nam đang sẵn sàng nổi giận khi nói đến Trung Quốc. Tấm lòng phẫn nộ thể hiện trong các cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật vừa qua. Nhưng mối lo sợ còn thấy trong những bài viết lan truyền trên mạng. Một nhà báo mạng báo động: “Không còn nghi ngờ gì nữa! Quê hương đã tràn ngập bóng Trung Quốc!”
Lo sợ về các thủ đoạn của người Trung Quốc đã trở thành một nỗi ám ảnh trong lòng người Việt trong mấy chục năm qua; tạo nên những câu chuyện gần như huyền thoại. Người Trung Quốc đã sang Việt Nam gạ mua móng trâu, bò với giá rất cao, khiến nhiều người Việt Nam đi chặt chân trâu, bò (của mình hay chặt trộm); gây nên nạn thiếu trâu cày. Người Trung Quốc phổ biến ốc bưu sang Việt Nam, gây thiệt hại mùa màng. Người Trung Quốc thu mua đồng vụn giá cao gây ra nạn ăn cắp đồng, phá mạng lưới dây điện, vân vân. Người Trung Quốc đi mua mèo với giá cao gây ra nạn dịch chuột kinh hoàng. Các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên... rộ lên “cơn sốt đỉa” vì người Trung Quốc sang mua đỉa với giá cao; nhiều người Việt rủ nhau đi nuôi đỉa! Hội Ðộng Vật Học Việt Nam đã phải báo động: Nếu nuôi đỉa bừa bãi, không kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường tự nhiên nhiều quá thì hậu họa sẽ không thể lường được. Các chuyện trên không biết chắc là đúng sự thật được bao nhiêu phần trăm; giống như những chuyện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, chuyện Hoàng Phúc đi tìm đất huyệt, vân vân. Nhưng chúng phát xuất từ trong dân gian, cho thấy mối lo lắng vẫn ám ảnh người Việt từ hàng ngàn năm chưa dứt.
Nhà báo Văn Quang mới phổ biến một bài kể ra những “thủ đoạn của các con buôn người Trung Quốc” lũng đoạn thị trường Việt Nam. Và đây là những chuyện thật, hầu như ai cũng biết, có thể tin được. Thí dụ, chuyện hàng đoàn xe vận tải chở dưa hấu, rau quả sang Trung Quốc bán, nằm la liệt ở cửa khẩu làm mọi thứ thối rữa chỉ còn nước đổ đi. Hay ở thị trấn Mỹ Phước, Ðồng Tháp Mười, các thương lái Trung Quốc đến trả giá cao thu mua “khóm” (dứa) không cần đợi khóm chín mà còn xanh cũng mua, miễn to là được. Họ chỉ đặt cọc 10 triệu đồng, đến khi các chủ vựa Việt Nam sẵn sàng hai thùng, 42 tấn trái cây, thì họ biến đâu mất, nhà buôn Việt Nam đành chịu lỗ. Trong khi đó thì các nhà máy chế biến như công ty Rau quả Tiền Giang không mua được dứa, sản xuất đình trệ.
Lại thêm chuyện mua cua ở huyện Năm Căn, Cà Mau, có lúc lên đến 60, 70 người Trung Quốc sử dụng chiếu khán du lịch, tạm trú rồi đi thu mua cua; nhiều lái buôn sau đó biến mất. Ở huyện Cái Bè, Tiền Giang, họ cũng đến thu mua chuối khiến nhiều nhà vườn đã đốn bỏ các cây ăn trái khác để trồng chuối; được một thời gian rất ngắn rồi bỏ, các chủ vườn chịu thiệt. Tại Bến Tre thương lái Trung Quốc đã chiếm thị trường thạch dừa; sau đó hạ giá mua xuống chỉ còn một phần ba. Những người sản xuất thạch dừa ở Bến Tre rơi vào thế “sống dở chết dở” vì lỡ đầu tư sản xuất rồi, làm ra hàng hóa không biết bán cho ai. Một thủ đoạn đáng sợ nhất là họ mua gạo Việt Nam, trộn gạo hạng tốt với gạo xấu, rồi đem bán qua nước khác, gọi đó là gạo tốt. Người tiêu dùng các nước sẽ dần dần không còn tín nhiệm gạo Việt Nam nữa.
Ngoài những “thủ đoạn” trên, ai cũng biết còn có chuyện người Trung Quốc sang khai thác bè nuôi cá ở Vũng Rô, Tuy Hòa, ở bên quân cảng Cam Ranh.
Nhưng sở dĩ người Trung Quốc có thể lũng đoạn lập bè đánh cá ở những nơi đó, chính vì chính quyền Việt Nam đã làm ngơ. Nếu có những lái buôn ngoại quốc khác biết những cơ hội làm ăn kiếm lời như vậy, thì chắc ai cũng làm, chứ không phải chỉ có người Trung Quốc. Nhìn vào phản ứng của các cán bộ nhà nước Việt Nam thì thấy thủ phạm chính gây ra các tệ nạn đó là do chế độ độc tài chứ không phải vì lòng tham của các lái buôn.
Như trên báo Người Lao Ðộng viết: “Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, gia chủ chỉ cần thuê công nhân sửa chữa nhỏ, lập tức có nhân viên của phường, thành phố đến làm việc ngay... còn mấy cái bè nuôi cá to đùng của ông bạn hàng xóm ngang nhiên đem vào đất nhà mình để khai thác, rồi tự tiện đem tàu đến thu hoạch trước mũi chủ nhà; vậy mà vẫn im lặng như tờ. Ðến khi báo chí phanh phui thì lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc, rồi thì ông đổ cho bà, bà bảo tại ông...”
Cũng giống như vậy, khi chúng ta coi lại những câu chuyện về thu mua dứa, thu mua cua, hay thạch dừa, thì thấy nguyên nhân chính khiến nhiều người Việt bị lừa gạt và thiệt thòi là vì nước Việt Nam không có luật pháp bảo vệ các hợp đồng thương mại. Ðúng ra, chắc phải có luật, nhưng người ta không biết đến, không dùng, và nhà nước không thi hành, có thể vì đồng lõa với gian thương. Trong một quốc gia bình thường, ai ký những hợp đồng mua dứa, mua cua như trên mà không làm đúng sẽ bị luật pháp trừng phạt. Luật lệ đặt ra không phải chỉ bảo vệ các người làm thương mại, mà chính là để bảo vệ chữ tín trong việc thương mại.
Những người Việt bị lừa, chở rau trái lên đến cửa ải rồi xe nằm ụ đến nước héo úa, thối rữa, lý do chính là họ không được luật pháp bảo vệ. Những người bán cua, bán dứa bị lừa, không thể nói chỉ vì họ dại dột mà lý do chính cũng vì họ không được luật pháp bảo vệ.
Ai lo về luật pháp? Chính quyền của đảng Cộng Sản Việt Nam. Tại sao họ không lo thi hành luật pháp, bảo vệ người Việt? Khi được hỏi vì sao chính quyền Việt Nam cho phép hàng ngàn lao động phổ thông Trung Quốc vào trong nước ta làm những việc như đào đất, phụ hồ quét dọn... mà những việc này lao động Việt Nam không được sử dụng trong lúc nạn thất nghiệp tràn lan, ông Nguyễn Ðại Nghĩa thuộc Sở Lao Ðộng thành phố Hải Phòng nói: “Các nhà thầu Trung Quốc nêu lý do không sử dụng lao động Việt Nam là vì tình trạng mất cắp thường xảy ra.”
Nếu có người ăn trộm ăn cắp thì đó là công việc của chính quyền phải điều tra, trừng phạt theo luật lệ. Bao nhiêu cảnh sát công an để làm gì, chỉ lo đi ngăn cản những người biểu tình yêu nước mà không lo chống trộm cắp? Một cán bộ cao cấp như ông Nguyễn Ðại Nghĩa mà trả lời như vậy, chứng tỏ chính quyền cộng sản tự nhận mình không lo được việc chống trộm cắp, nên để cho người Trung Quốc họ tự lo lấy. Mà cách của họ lo lấy là đem lao động người Trung Quốc vào cướp công việc làm của người Việt Nam! Nếu bây giờ họ đòi mang cảnh sát, công an của họ vào lo lấy việc an ninh, chắc cũng chịu hay sao? Hay là việc đó đã xảy ra rồi?
Tóm lại, từ việc lái buôn Trung Quốc đánh lừa dân Việt Nam, đến chuyện các nhà thầu Trung Quốc đem người sang cướp công việc làm của lao động Việt Nam, lý do chính là do chế độ cai trị độc tài đảng trị, các quan chức toàn quyền, không cần đến pháp luật nên cũng không bao giờ lo bảo vệ luật pháp và dùng luật pháp bảo vệ dân. Họ đã quen như vậy từ hơn nửa thế kỷ nay rồi. Như vụ bè nuôi cá ở Tuy Hòa và Cam Ranh, một nhà báo việc trên tờ báo Thanh Niên: “Lại 1 quả bom nữa được gài. Chỉ thấy tội cho các cấp quản lý của mình là rất ngây thơ.”
Thật ra, chỉ có các nhà báo ngây thơ chứ các quan chức cộng sản không hề ngây thơ. Các cán bộ đã quen nể sợ các “đồng chí anh em vĩ đại” và nay lại được các đồng chí anh em “đấm mõm” no đầy bụng, họ làm cái gì cũng có lợi cả chứ không phải vì ngây thơ! Các quan chức tham nhũng đã tạo địa bàn cho các lái buôn trục lợi. Họ không cần bảo vệ dân bằng pháp luật vì họ không cần được dân bỏ phiếu bầu. Họ chỉ cần trung thành với cấp trên trong băng đảng, là tha hồ làm giàu. Khi nào còn chế độ độc tài thì không thể tránh tình trạng đó!
Chỉ có người dân Việt Nam bị thiệt. Nếu không phải các lái buôn người Trung Quốc vào nước ta dùng các thủ đoạn ma mãnh đánh lừa người Việt, thì với bộ máy chính quyền như hiện nay, sẽ có những lái buôn nước khác. Không cần người Trung Quốc, bất cứ người nước nào thấy có thể mua chuộc được chính quyền nước khác, họ cũng tìm đường lũng đoạn.
Chỉ bao giờ cả hệ thống tham nhũng, thối nát và bất lực này được xóa bỏ thì người Việt mới đỡ bị lừa gạt trắng trợn.

 Ngô Nhân Dụng

Thư số 9 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Việt Nam

                                                   
Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có dân chủ, tự do, và quyền con người thật sự được tôn trọng.
Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Các Anh trong quân đội nhân dân mà. Với lại, Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Vẫn trong mục đích giúp Các Anh, từ góc nhìn khác để nhận ra “Chân Dung Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Ngày Nay”, qua những chỉ thị của đảng và những bài viết nhận định về tình hình trong nước. Trong bài này, tôi xin thay chữ Trung Quốc bằng chữ Trung Hoa.
Thứ nhất về chính trị.
Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng cộng sản, tổ chức tại Hà Nội trong 9 ngày vào đầu tháng 5 vừa qua, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có hai bài phát biểu lúc khai mạc, và lúc bế mạc. Trong bài phát biểu khai mạc, có đoạn: “… Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua tổ chức nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng. … Nhà nước ta không tam quyền phân lập ….”
Đây là tóm lược nhận định của: (1) Blogger Trương Duy Nhất. “Vẫn giọng đều đều như ông giáo làng, không nhấn nhá, không gây chú ý (mà các anh gọi là “ấn tượng”. PB Hoa), vẫn những câu những chữ sáo rỗng, không thấy gì mới. trong bối cảnh hội nghị căng thẳng, ngột ngạt, bực bội, bế tắc, của “200 khuôn mặt lạnh lùng, phản cảm, thiếu niềm tin”. (2) Blogger Dân Choa. “…..Thất vọng về tuyên bố của ông Tổng Bí Thư. Những tưởng cuộc sống thực tiễn sẽ thôi thúc nhà nước xúc tiến mạnh mẽ cải cách hành chính vốn là nhu cầu thiết yếu, mà đầu tiên là tu chính Hiến Pháp, rồi Nhà nước sẽ dẫn tới việc tam quyền phân lập. Nhưng không phải, ông Tổng Bí Thư đã đặt sẵn tiền đề cho việc sửa đổi, chỉ nhắm củng cố quyền lực cho đảng với nhà nước….” (3) Tác giả Nguyễn Ngọc Già. “…. Qua hội nghị này, đảng CSVN tiếp tục tái khẳng định “đất đai là sở hữu của họ” cũng không dấu hiệu nào cho thấy đảng chia sẻ quyền lực. Đảng tiếp tục dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của… đồng tiền…. Họ đang mất đoàn kết nghiêm trọng, cũng bởi tiền… và tái khẳng định một cách dứt khoát vấn đề không có chuyện “tam quyền phân lập”. Vậy là đảng CSVN vẫn lãnh đạo tuyệt đối đất nước… Họ rất yếu”.
Với tôi, góc nhìn mạnh mẽ hơn. Ông Nguyến Phú Trọng cũng là “một con Két như bất cứ con Két nào khác” trong Bộ Chính Trị đảng CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua, hết nhóm lãnh đạo này đến nhóm lãnh đạo khác cứ nhai đi nhai lại cái “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân …”, nhưng đoạn dưới thi ông Trọng lại khẳng định “không có chuyện tam quyền phân lập”.
Trong ngôn ngữ chính trị, một xã hội “pháp quyền” phải là một xã hội văn minh được quản trị (trong nước gọi là quản lý) bằng luật pháp, bất cứ lãnh vực sinh hoạt nào trong xã hội dù lớn hay nhỏ phải thông qua luật pháp, và tổ chức thực thi luật pháp là hệ thống tòa án. Vì vậy mà ngay cả Cảnh Sát chận những xe mà người lái xe vi phạm luật giao thông cũng chỉ là “nhân chứng” khi ra tòa, để thuật lại người lái xe vi phạm như thế nào để ông chánh án, và chỉ có chánh án mới đủ thầm quyền quyết định phạt người vi phạm . Việt Nam thì khác, vì cho đến nay vẫn là xã hội xã hội chủ nghĩa, chậm tiến, hỗn tạp, được cai trị bởi đảng cộng sản độc tài. Luật pháp, nhất là những luật quan trọng trong sinh hoạt xã hội thì trái với điều khoản căn bản qui định trong Hiến Pháp. Chưa hết, khi cá nhân hay cơ quan áp dụng luật pháp thì diễn giải theo mục đích phải đạt cho dù sai luật pháp, trái luật pháp, thậm chí là sai trái với đạo lý dân tộc nữa. Vậy là pháp quyền trong xã hội độc tài do đảng cộng sản đặt ra, chớ không phải xã hội văn minh.
Rồi ông ta lại nói “không tam quyền phân lập”. Tam quyền, tức Lập Pháp = Quốc Hội + Hành Pháp = Hệ thống hành chánh + Tư Pháp = Hệ thống tòa án. “Không phân lập”, nghĩa là 3 ngành này cũng chỉ là một, và dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Trong xã hội văn minh, 3 ngành này riêng biệt. Mỗi ngành vừa kiểm soát 2 ngành kia, vừa bị 2 ngành kia kiểm soát, nhờ sự tác động qua lại giữa 3 ngành “vừa kiểm soát vừa bị kiểm soát” mà tạo được thế cân bằng quyền lực trong sinh hoạt xã hội. Với xã hội văn minh như vậy, không thể tạo điều kiện dẫn đến độc tài. Trong khi hệ thống tổ chức Việt Nam, dưới sự cai trị của chế độ của đảng duy nhất là đảng cộng sản, và độc quyền lãnh đạo, dẫn đến một xã hội độc tài là điều đương nhiên. Không tam quyền phân lập, Việt Nam là một xã hội độc tài không thể nào phủ nhận.
Viết đến đây tôi nhớ trên trang <NhanDan.online> có lời than phiền một nhân vật ngoại quốc đã dùng chữ Việt Cộng khi nói đến lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Tôi không hiểu tại sao lãnh đạo Các Anh không dám vỗ ngực xưng danh là Việt Cộng, vì người Việt Nam gia nhập đảng cộng sản thì gọi ngắn gọn là Việt Cộng chớ gọi là gì. Chắc Các Anh không thể nào không nhìn thấy những tấm bảng dọc theo đường phố viết rõ ràng “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm”. Vinh quang và muôn năm như vậy mà sao không dám nhận mình là Việt Cộng? Phải chăng “cộng sản” là cái đảng xấu xa? Vì nếu không xấu xa, hà tất lãnh đạo Các Anh ghê sợ đến mức không dám nhận là Việt Cộng. Các Anh nghĩ sao về điều mà tôi vừa phân tách?
Thứ hai về tham nhũng.
Cũng trong bài phát biểu của ông Trọng, có đoạn: “.. Từ nhiều năm qua, đã sớm ban hành Nghị quyết của Trung ương, Pháp lệnh, và tiếp đó là Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chiến lược Quốc gia phòng & chống tham nhũng và nhiều quyết sách khác; đã thành lập Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương; đã tiến hành nhiều biện pháp liên tục.”
Rồi ông thừa nhận: “…. Nhưng đến nay công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Tại sao?” Ông đặt câu hỏi, nhưng ông không trả lời. Có lẽ ông cho đó là nhiệm vụ của cả Ban chấp hành Trung ương trong mấy ngày họp hành sau đó. Ông chỉ nêu lên một nguyên tắc chung như thế này: “Để trả lời cho câu hỏi đó, cần nhìn thẳng vào sự thật, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sâu sắc tình hình tham nhũng, lãng phí và kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. …. Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng hãy là một chiến sĩ tiên phong, đi đầu trong cuộc đấu tranh này. Phải gương mẫu, giữ mình cho trong sạch, không vướng vào tham nhũng, lãng phí; đồng thời phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt trong đơn vị công tác của mình.”
Với đoạn trên đây, Các Anh có nhận ra điều gì không? Tôi thì có, vì trong xã hội dân chủ văn minh, mọi người có quyền nhìn từ các góc cạnh khác nhau đối với mỗi sự việc cũng như mỗi sự vật. Đầu tiên là tôi đành phải lặp lại rằng, ông Tổng Bí Thư đảng CSVN của Các Anh vẫn “phun ra cái ngôn ngữ chung chung” mà bất cứ vị nào trong bất cứ đại hội nào của Bộ Chính Trị, ít nhất là từ khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa tháng 4/1975 đến nay đều “nhai đi nhai lại rồi phun ra” được cả. Trong bài phát biểu lúc bế mạc, ông Trọng cho thấy Bộ Chính Trị đã mạnh tay khi tước quyền lãnh đạo phòng chống tham nhũng từ trong tay Nguyễn Tấn Dũng, đảng viên cộng sản giàu số 1 Việt Nam do “lãnh đạo chống tham nhũng” trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Bộ Chính Trị lại giao cho một cơ quan cũng trực thuộc Bộ Chính Trị”, tức là “tước quyền tham nhũng” từ nhân vật này sang nhân vật khác, vì Bộ Chính Trị là nguồn gốc của tham nhũng, nên không thể đưa “chức vụ nặng túi” đó cho cơ quan nào khác ngoài Bộ Chính Trị.
Phải chăng đây là cách tranh giành quyền lực trong hàng ngũ lãnh đạo, và Nguyễn Tấn Dũng không còn ở thế vững vàng nữa?” Rất có thể do vậy mà dư luận loan truyền rằng, gia đình Nguyễn Tấn Dũng đang tìm cách thoát khỏi “bức màn kềm tỏa” của một âm mưu mà lãnh đạo CSVN thường áp dụng với những kẻ thất sủng chăng?
Thứ ba về bang giao với Trung Cộng (trong nước gọi là quan hệ).
Ngày thứ ba 19/6/2012 vừa qua, báo Quân đội Nhân Dân Việt Nam ra mắt trang Web tiếng Trung Hoa (người dân gọi là tiếng Tàu), với sự tham dự của nhiều viên chức Quốc Phòng, Ngoại Giao, Tuyên Giáo, và Đại sứ Trung Cộng tại Việt Nam. Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc Phòng không có mặt, nhưng có gởi hoa chúc mừng. Báo Quân Đội Nhân Dân cho biết mục đích của trang Web tiếng Trung Hoa là “tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống”. Được giải thích rộng hơn: “Trang Web giúp bạn Trung quốc và những người biết tiếng Hoa trên thế giới có thêm nguồn thông tin chính xác, tin cậy, dấn dần hiều thêm về đất nước và con người Việt Nam, hiểu thêm quan điểm chính sách của đảng và nhà nước Việt Nam , hiểu rõ hơn về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đổi mới, năng động, dân chủ và phát triển”. Trong phần phát biểu của Tướng Mai Quang Phấn, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, có đoạn: ….“Trọng tâm trang web là khai thác những mặt tốt, những điểm đồng. Với những điểm còn khác biệt, cần có thông tin chính xác để bạn đọc hiểu đúng lập trường quan điểm của Việt Nam; giáo dục quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai nước”….
Trước khi tôi phân tách giúp Các Anh suy nghĩ tìm hiểu mục đích của nhóm lãnh đạo CSVN trong Bộ Chính Trị khi cho phép Quân Đội Nhân Dân mở trang Web này, mời Các Anh đọc lại đoạn tài liệu dưới đây:
Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đã công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng Bí Thư đảng CSVN và Đỗ Mười Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện lãnh đạo CSVN, với Giang Trạch Dân Tổng Bí Thư, và Lý Bằng Thủ Tướng, đại diện lãnh đạo Trung Cộng, trong ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Cộng. Wikileaks khẳng định, tin tức này nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài Gòn gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu có đoạn ghi rõ:
“…. Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng CSVN và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc….”.
Với đoạn tài liệu trong Biên Bản thuộc loại tối mật trên đây, do lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam với đảng cộng sản Trung Cộng thảo luận, đồng ý, và ký tên cách đây 22 năm. “Liệu trang Web bằng tiếng Tàu do Quân Đội Nhân Dân Các Anh thực hiện, có phải là lãnh đạo CSVN thực hiện một bước nữa trong giai đoạn chuyển tiếp, để người Tàu quen dần với tiếng Tàu từ Việt Nam cùng với sinh hoạt trong xã hội Việt Nam, mà sẳn sàng tiếp nhận Việt Nam trở thành thành viên trong cái gọi là đại gia đình Trung Cộng vào năm 2020 không?”
Nếu không phải, thì tại sao lãnh đạo CSVN lại lo người Tàu tại Trung Hoa và trên khắp thế giới “hiểu không đúng” về Việt Nam, trong khi ngăn cấm các cơ quan truyền thông trong nước với 194 nhật báo in, hơn 590 tạp chí, 61 trang tin điện tử, 67 đài phát thanh truyền hình trên cả nước, và 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, tuyệt đối không viết, không đăng, không nói, không chiếu hình, về những tin tức mà lãnh đạo CSVN gọi là “nhạy cảm”, cho nên đại đa số người dân trên quê hương không hề biết gì về những sự kiện nhạy cảm đã xảy ra trên đất nước Việt Nam. Cũng may, còn có một số nhỏ đồng bào -nhất là tuổi trẻ- qua hệ thống internet mà nhận ra loại sự kiện nhạy cảm đó và phản ứng kịp thời, nhưng đã bị nhóm lãnh đạo sử dụng Quân Đội nhân dân, Công An nhân dân, với côn đồ nhân dân: (1) Đàn áp nhân dân phản đối Trung Cộng lấn chiếm đất, lấn chiếm biển, lấn chiếm đảo, thâm nhập tràn khắp nội địa thông qua lãnh thầu các dự án, thuê mướn hơn 300.000 mẫu đất rừng đầu nguồn và cấm người Việt Nam vào những khu đất đó. (2) Đàn áp nhân dân phản đối Trung Cộng tự do khai thác tài nguyên trong lãnh hải Việt Nam, trong khi tự ý ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam hành nghề trên biển. Sự kiện này có vẻ như có thỏa hiệp ngầm giữa lãnh đạo CSVN với lãnh đạo Trung Cộng, nên Hải Quân, Cảnh Sát Biển, và Dân Quân Biển Việt Nam, không một lực lượng nào cứu giúp ngư dân, thậm chí cũng không giúp tiền cho ngư dân đóng tiền chuộc cho Trung Cộng. (3) Đàn áp nhân dân phản đối Trung Cộng ào ạt vào Tây Nguyên khai thác Bauxite, một loại tài nguyên sẽ gây ô nhiểm môi trường trầm trọng và dài lâu trong một vùng rộng lớn từ Cao Nguyên xuống đến sông Đồng Nai.
Nếu phải, thì Các Anh nghĩ gì khi mà chính Các Anh cùng thân nhân thân quyến cũng phải chuẩn bị để trở thành người Tàu trên đất Việt, dãi đất có dạng hình cong chữ S mà ông cha chúng ta đã đổ ra biết bao xương máu gìn giữ từ 2000 năm trước? Nhất là trong cuộc chiến 1954-1975, lãnh đạo CSVN đã dùng sinh mạng của hơn 4.000.000 thanh niên nam nữ xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc để thi hành lệnh của cộng sản quốc tế nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam?
Tôi dẫn chứng: (1) Trong đại hội 4 của đảng CSVN năm 1976, lúc ấy tôi bị giam trong trại tập trung vùng rừng già xã Việt Cường, huyện Trấn Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Cán bộ “quản giáo” là Trung Úy Khảm đã nói với chúng tôi trong giờ học chính trị, rằng: “Đại Hội 4 đã sơ kết tôn thất nhân mạng trong cuộc chiến vừa qua là hơn 4 triệu thanh niên chết, với con số nhiều hơn về thương tích. (2) Trong đại hội cộng sản quốc tế tháng 11/1960, ông Khroutchev (Nga) tuyên bố: “Khi một đảng cộng sản tham gia vào cộng sản quốc tế (tức Liên Sô) phải chấp nhận Liên Sô là quốc gia số một (tức lãnh đạo). Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”. Tháng 1/1961, khi đến thăm thủ đô Austria (Áo quốc), ông Khroutchev trả lời báo chí, có câu: “Đời vắn quá, không biết tôi còn sống để vui mừng khi cộng sản quốc tế thống trị thế giới hay không?” Hơn 10 năm sau đó, khi ông Lê Duẫn giữ chức Tổng Bí Thư, cũng tuyên bố: “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, và cho cộng sản toàn thế giới”.
Điều trên đây chứng minh thêm nữa về mục tiêu của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chiến tranh 1954-1975 là xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa, vì CSVN là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế tại bán đảo Đông Dương (tức 3 nước: Việt Nam – Cam Bốt – Lào).
Thứ tư về người Tàu trên đất Việt.
Theo phóng viên Thanh Quang đài Á Châu Tự Do ngày 18/6/2012, thì tâm trạng người dân Việt Nam trong nước có tinh thần dân chủ tự do luôn khắc khoải và bất an cho vận nước, do rừng đầu nguồn trọng yếu của tổ quốc bị Trung Cộng đưa dân (hay quân) thuê mướn hàng loạt và dài hạn. Vùng đất đầu nguồn là “xương sống của quê hương” bị họ án ngữ theo sự mời gọi của “chính sách lớn của đảng và nhà nước”, cho khai thác bô xít Tây Nguyên, nhiều công trình trọng yếu bị người Trung Hoa trúng thầu, nền kinh tế nước nhà bị họ lũng đoạn, biển cả của tổ tiên bị Trung Quốc lấn chiếm…, và mới đây, người dân lại càng bất an trước tình trạng người phương Bắc dưới dạng “doanh nhân” tới “an nhiên nuôi cá” ở Vũng Rô, thậm chí ngay tại cảng chiến lược trọng yếu Cam Ranh. Chưa hết, gần đây nhất, có tin “Hải Phòng tràn ngập lao động Trung Hoa”!
Bài viết “Gian nan với chú Ba Tàu”, nhà văn Trần Khải (trong nước) cảnh báo: “Trong khi Việt Nam lăng ba chi bộ, đánh võng giữa Biển Đông, thì lặng lẽ anh Tàu đưa dân tràn ngập, mở mặt trận biển người ở Hải Phòng, cấy du kích biển ở ven cảng Cam Ranh, cửa biển Vũng Rô, Côn Đảo…. Anh Tàu muốn gì? Có phải muốn Việt Nam tung hô vạn tuế Bắc Vương? Thì đã tung hô rồi”.
“Tình trạng “anh Tàu đưa dân tràn ngập” quê hương Việt Nam, ắt hẳn không tránh khỏi phản ứng mạnh mẽ của người dân Việt biết nghĩ tới quê hương. Có lẽ đây là lý do khiến độc giả Nguyễn An Liên của báo Đất Việt, báo động rằng: “Chẳng bao lâu nữa, toàn bộ 63 tỉnh, thành trên cả nước đều có bóng dáng của bọn giặc Tàu.
Một độc giả khác tên Minh Hối Hạn (trong nước), bày tỏ nỗi bất bình: “Từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Dương, Đắk Nông, Vũng Tàu…cho đến Khánh Hòa, Cam Ranh, chính quyền ở đâu cũng nói không quản lý được” người Tàu trong phạm vi của mình”. Tác giả nhấn mạnh: “Bây giờ lãnh đạo Việt Nam mới sáng mắt ra trước tình hữu nghị 2 nước gọi là đời đời bền vững”. Rồi tác giả tự hỏi: “Ai bảo anh Tàu có văn hóa? May ra chỉ với Đài Loan là Bắc Kinh nhân nhượng, còn thì anh Tàu luôn luôn giở trò kích động cái gọi là 3 dòng thác cách mạng để xúi Hà Nội đánh phá, triệt hạ Sài Gòn, trong khi Bắc Kinh luôn luôn nhìn Đài Bắc như tình anh em cốt nhục, không chơi trò tự đẩy dân mình “Sinh Bắc Tử Nam” như Hà Nội đã làm”.
Còn tác giả Chiều Thu (trong nước) như một lời than: “Bây giờ chính phủ thả lỏng cho các quan địa phương: địa phương nào thì chính quyền nơi ấy quản lý. Cứ tiền vào là OK. Bọn Trung Hoa nó nằm thóp các quan Việt Nam từ trên xuống dưới chỉ hám tiền nên…người Trung Hoa tràn ngập Việt Nam… Đồng tiền lên ngôi, đạo đức xuống vực, con người vô cảm với đồng loại, với đất nước …!”
Một cựu đảng viên cộng sản tự hỏi: “Có bao nhiêu sư đoàn quân Tàu núp bóng công nhân hiện đang có mặt trên khắp đất nước ta?”. Vẫn theo độc giả này thì “bọn quan tham từ chóp bu cho đến tép riu chỉ mãi mê tập trung theo dõi, đàn áp những người yêu nước và cưỡng chế cướp đất của dân, tranh nhau vơ vét cho đầy túi tham, nên đã mặc sức cho bọn Tàu hoành hành như Việt Nam không có chủ”.
Hãy nghe ông Nguyễn Đại Nghĩa, Phó chánh văn phòng Sở Lao Động thành phố Hải Phòng bị đại diện công nhân nêu câu hỏi: “Vì sao thành phố cho phép hằng ngàn lao động người Tàu vào Việt Nam là công nhân như đào đất, phụ hồ, quét dọn, … nói chung là những công việc này lao động Việt Nam không được thuê mướn trong khi công nhân thất nghiệp lang thang đầy đường?” Ông Nghĩa trả lời như không có gì phải quan tâm: “Ta phải đáp ứng nhu cầu nhà thầu, vì chủ trương của thành phố là luôn luôn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nên phải tạo điều kiện dễ dàng cho người ta”. “Trong lúc các nhà thầu CHỆT CỘNG nêu lý do không sử dụng lao động Việt Nam là vì “Tình trạng mất cắp thường xảy ra.” ….
Theo nhà báo Tống Văn Công, “hầu hết 90% dự án EPC trên cả nước là nhà thầu Trung Hoa thực hiện”….. Như vậy, lãnh đạo CSVN rất có thể đã thỏa thuận trước với lãnh đạo Trung Cộng, nên đã tạo mọi điều kiện cho nhà thầu Tàu thắng tất cả các gói thầu EPC, trong đó có một số chỉ định thầu mà không qua đấu thầu. Các nhà thầu Tàu mang theo bao nhiêu quân lính trá hình, có lãnh đạo nào biết không? Nhà báo viết tiềp: “Từ Nam chí Bắc không một địa phương nào là không có các gói thầu của Trung Hoa”….. Vậy là công nhân hay quân lính Trung Cộng, chừng như đã ngập đồng bằng, rừng núi, và các thành phố Việt Nam rồi.
Nhưng blogger Hà Sĩ Phu (trong nước) thì “Ước làm người Tàu trên đất Việt”. Ông chua chát nhưng rất chí lý trước cảnh nhiễu nhương “một tư nhân Trung Quốc đã chiếm lĩnh truyền hình cáp Quy Nhơn”. Đó là sự nhạy cảm chính trị bậc thầy của một đảng cộng sản biến đâu mất, hay (CSVN. PB Hoa) đã dùng để ứng phó với dân chúng hết rồi? “Giặc ngoài” chẳng thấy, chỉ thấy “thù trong nơi nhân dân ư?” ….
“Ông nêu câu hỏi: “Mà Trung Hoa là ai?” Rồi ông tự trả lời: “Chính đảng CSVN đã xác định, đây là kẻ thù truyền kiếp, chưa bao giờ họ từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta ! Điều này cả thế giới đều biết, người Việt Nam nào cũng biết, chẳng lẽ chỉ những người lãnh đạo Việt Nam hôm nay lại bỗng dưng không biết?” Tác giả nhấn mạnh: “Nhưng nếu biết, sao không phổ biến tinh thần cảnh giác ấy đến toàn quân, toàn dân, mà lại chủ trương thủ tiêu tinh thần cảnh giác ái quốc bằng 16 chữ “vàng dởm”, sao cứ để những hiện tượng nguy hiểm đến an ninh quốc gia, cứ như giặc nội xâm với giặc ngoại xâm đã thống nhất một phương án “diễn biến hòa bình, gậm nhấm hòa bình, thôn tính hòa bình, tự diễn biến, tự dâng hiến” trên hình hài đau thương của Tổ quốc vậy?” Ông thách thức: Thương binh nặng đâu, nhân dân tự phát đâu, phải tiến vào những nơi đã để cho người Tàu được trá hình “rải quân” trên những nơi trọng yếu, chứ sao lại ngoặc sang tấn công một ông Tiến sĩ Hán Nôm (chắc là ông nói đến tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. PB Hoa) biết bênh dân nghèo, tấn công một đảng viên 82 tuổi quyết dành quãng đời còn lại cho sự minh bạch của đất nước? Đây chính là mối lo “chệch hướng” chứ không gì khác. Chuyện chệch hướng này là vô tình hay chủ tâm?” Tác giả cựu đảng viên lão thành cảnh báo: “Người Tàu tự do quá, ngang nhiên quá, khi họ tới Việt Nam lúc nào rồi trốn biệt tăm lúc nào, giới hữu trách hói là không hay không biết. Như vậy, người Tàu quả là “công dân loại 1” ngay trên quê hương Việt Nam, trong khi người Việt bản xứ chỉ là “công dân loại 2”. Như vậy “ai là chủ nhân đất nước này?”
“Đáng nói hơn nữa là những người Trung Hoa này làm gì ở Việt Nam? Nếu họ chỉ làm lậu, thì về phương diện kinh tế và xã hội, hậu quả đã rất đáng lo ngại. Còn nếu họ làm thêm việc gì khác nữa thì hậu quả thật không thể lường hết được. Nhất là khi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Hoa không còn kìm giữ được nữa. Trong trường hợp ấy, rõ ràng là Trung Hoa đã có sẵn một lực lượng nằm vùng khổng lồ. Có khi không cần đánh, họ cũng thắng. Bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều biết điều đó. Nhưng tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ như không biết? Tại sao họ vẫn dửng dưng? Nó vượt ra ngoài khả năng quản lý của họ ư? Họ thiếu nhân sự ư? Nhất định là không phải, vì tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba bốn công an cặp kè. ….. Người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”. Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, mà họ lại sợ đến như vậy? Còn với người Trung Hoa thì không? Tại sao? Thực tình, tôi không hiểu, không thể hiểu!”
Với bài “Người Trung Hoa không mong gì hơn thế”, tác giả Ngô Văn Lang lưu ý rằng: “Trung Hoa quyết định đây là thời cơ ngàn vàng của họ, và họ đã chuẩn bị “rất bài bản, rất cẩn thận cho quá trình thôn tính Việt Nam”, mà mở đầu là thôn tính từng phần qua những hành động như thuê rừng đầu nguồn, khai thác bô-xít Tây Nguyên, đầu tư nhiều công trình trọng yếu, lo lót để được nuôi cá ngay tại nơi trọng yếu chiến lược”. Rồi tác giả báo động: “Đây là âm mưu vô cùng thâm độc trên con đường thôn tính Việt Nam, thế mà Trung ương và địa phương làm ngơ, không có động thái gì để đuổi họ ra khỏi vịnh biển chiến lược quốc gia này. Thôn tính thị trường Việt Nam bằng hàng hóa Trung Hoa, và chủ yếu là hàng hóa phẩm chất (xin thay chữ chất lượng) kém để đầu độc người Việt Nam, với mục đích vô hiệu hóa nền sản xuất kinh doanh của Việt Nam. Trung Hoa hiểu rằng hàng hóa không chỉ là hàng hóa, mà hàng hóa còn là văn hóa. Người Việt Nam hàng ngày dùng đồ Trung Hoa sẽ bị ảnh hưởng một cách từ từ nhưng sâu đậm bởi văn hóa Trung Hoa. Trung Hoa thôn tính truyền hình Việt Nam bằng vô số phim Trung Hoa, và đã thành công kinh khủng khi khiến cho thanh niên Việt Nam thuộc sử Trung Hoa hơn là sử Việt Nam…Câu hỏi mà người Việt Nam phải đặt ra là: “Tại sao Trung Hoa lại thành công được như vậy?.Và nếu mỗi người Việt Nam đều đặt câu hỏi đó thì Trung Hoa có tài giỏi đến mấy cũng không thành công được”.
Kết luận.
Với phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng “không có chuyện tam quyền phân lập”, và ông cũng cho biết là Bộ Chính Trị đã “tước quyền lãnh đạo phòng chống tham nhũng từ tay Nguyễn Tấn Dũng”, đến vấn đề “bang giao với Trung Cộng”, và sau cùng là “người Tàu trên đất Việt”, mà tôi trích dẫn hoặc tóm lược cùng với nét nhìn của tôi, hy vọng là vừa giúp Các Anh có được nét nhìn từ góc cạnh khác với nét nhìn của công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vừa gợi lên những điều mà Các Anh cần suy nghĩ để đánh giá lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước Các Anh như thế nào.
Tôi gởi sự suy nghĩ về những vấn đề trên đến Các Anh, hãy bình tâm nhận định những sự kiện, những phân tách cùng với những nhận định mà Các Anh vừa đọc qua, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa, mà hãy đứng về phía 89 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, cùng với hằng triệu triệu cánh tay đứng lên giành lại quyền được làm người từ tay cộng sản độc tài, một chế độ đã tạo nên một xã hội băng hoại bắt nguồn từ chính sách dối trá, ngu dân, để cùng nhau xây dựng một nền văn hoá khai phóng, nhân bản, khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình như những công dân của các quốc gia văn minh trên thế giới.
Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Cựu Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.
“Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.
Texas, 01 tháng 7 năm 2012.

Phạm Bá Hoa

"LẦN GẶP BÁC HỒ TÔI BỊ MẤT TRINH"

NHÂN DỊP 19 THÁNG 5
NGHE CHÁU NGOAN BÁC HỒ KỂ LẠI CHUYỆN

Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi.
Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng.
Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.

Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự.


Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai ...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ " của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ...
Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam.

Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.
Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.

Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.

Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.


Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe.


Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của của bác cho đồng bào miền Nam”.



Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - Đà Nẵng 02/09/2005

2 bồ nhí của "Bác" trong chiến khu, Châu & Quyên





ukdautranh.com (vietlyhuong.net)

Tại tôi... không may

Ở Việt Nam người ta hay nói đến bằng A, bằng B, bằng C để định mức cho trình độ ngoại ngữ tiếng Anh được học ở các “Trung Tâm Đào Tạo” (TTĐT) ngắn hạn, hoặc bằng cử nhân Anh Văn cho bậc đại học chính quy dài hạn 4 năm.
Tiếng là bằng cấp hay đúng hơn là một loại chứng chỉ (certificate) của các TTĐT ngắn hạn (vocational centre) nhưng đừng xem thường nó à nha!.

Như đã kể ở bài trước, có một dạo tôi làm việc cho một công ty của Thụy Sĩ có chi nhánh ở Việt Nam . Quanh năm ngày tháng tôi hết ở Hà Nội rồi đến Sài Gòn, những lúc ở Sài Gòn, buổi tối tôi cũng thường hay la cà bụi đời nơi mấy cái quán bar ở Phạm Ngũ Lão (Sài Gòn) để nhìn “tây ba lô” cho đỡ nhớ xứ “xứ người”. Lúc đó, ngồi đía dóc với mấy người đẹp chân dài làm pha chế cho quán bar ở đây, tôi đã vài lần được các nàng cho biết các nàng cũng đang theo học bằng B, bằng C tiếng Anh ở các TTĐT trong phố. Để chứng minh, các nàng còn “khè” cho tôi coi một số bài tập của thầy cho đem về nhà làm. Nhìn các bài tập này tôi thấy nó khó dàn trời mây luôn đối với một thằng đã ở Úc trên 10 năm, và cũng có chút học hành lem nhem ở đây như tôi.
Tình thật mà nói nếu cho tôi làm một bài luận văn của học viên đang học tiếng Anh ở mức bằng C ở trong nước thì tôi… bí lù. Làm được chết liền! Vậy thì trình độ ngoại ngữ của dân mình ở trong nước phải giỏi lắm chứ. Bởi vì hầu như ai cũng có vài cái bằng cấp phải học bằng ngoại ngữ hết. Bằng B, hay bằng C là loại “lôm côm” nhất chứ người ta còn có đến bằng Thạc sĩ hay Tiến sĩ , Giáo sư đào từ các đại học ngoại nữa kìa…

Cho đến một hôm, công ty (nước ngoài) nơi tôi đang làm việc có nhu cầu tuyển thêm một số nhân viên địa phương mới. Thằng sếp thấy tôi là (gốc) Việt Nam , lại biết nói tiếng Việt “very well” (rất nhiều “vi kê” khác về nước làm không biết nói tiếng Việt đâu nha!) nên đẩy cho tôi ôm cái công việc mà tôi không khoái tý nào, đó là phỏng vấn các ứng đơn xin việc để tuyển người.
Phải công nhận là ở Việt Nam mình chuyện gì thì chậm chứ chuyện đăng báo tuyển người thì vô cùng hiệu quả, rất là nhanh. Mẩu quảng cáo đăng lên báo chỉ có 1 ngày thôi thì phòng nhân sự đã nhận được trên 40 hồ sơ xin việc. Công ty tôi chỉ tuyển có mấy người nên sếp giao cho tôi làm cái chuyện khó nuốt là chuyện sàn lọc để loại bớt.
Ngày phỏng vấn, tôi chỉ cho hẹn chục 12 người, chọn lựa những ai có đơn xin việc tương đối thích hợp nhất mà tôi đã tham khảo trước…

Thú thật là lần đầu tiên xem hồ sơ của các bạn trẻ trong nước tôi có chút ngạc nhiên là sự đồng bộ giống y khuôn nhau trong các hồ sơ xin việc. Người nào cũng có một cử nhân hay cao đẳng hệ chính quy nào đó, ai cũng có vài chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh bằng B hay C, và ai cũng có thêm vài bằng vi tính loại sử dụng thành thạo các thứ Office Word, Excel, Power Point, Asset v.v… Người này giống y chang người kia.
Đọc xong xấp hồ sơ của các ứng viên tôi mới thấy cái khó cho người chọn lựa. Ai cũng như ai thì biết chọn… ai đây? Vì vậy tôi đành phải xem qua mấy… tấm hình dán trong đơn xin việc để làm tiêu chí mà “sàn lọc” bớt số đơn thặng dư. Tôi xin thành thật mà nói là tôi biết rõ các công việc của công ty tôi đang muốn tuyển chẳng có liên quan gì đến chuyện hình ảnh xấu đẹp của ứng đơn hết, nhưng tôi đành phải “tội nghiệp ” cho những ai đi xin việc ở trong nước (nhất là mấy cô) mà không có “ngoại hình” loại “điện nước đầy đủ” (dễ nhìn).

 Đại học danh tiếng của quận Cam, University of California, Irvine nằm sát nách Little Sài-Gòn của Mít tị nạn.  Theo Blogger Nguyễn Văn Tuấn, trường đại học Irvine bị cơ sở kinh doanh bằng cấp “dỏm”,  ăn cắp những chương trình, thời gian học, ban giảng huấn, phương cách giáo dục,… tạo ra chuyện Irvine University từng hợp tác với Đại học Quốc gia Hà- Nội,  đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh!(MBA). Các quan cứ thế lấy tiền của dân, ị lên đầu dân, mua bằng “dỏm” xài “búa xua”.




Đành rằng có rất nhiều công việc tuyển dụng chẳng có chút xíu liên quan gì đến … điện nước của mấy nàng, nhưng như đã nói khi mà hai ứng đơn giống nhau y chang về văn bằng, về chứng chỉ chuyên môn thì người tuyển chọn chỉ còn biết “trông mặt mà bắt hình dong” thôi chứ làm cách nào khác giờ.
Cuối cùng tôi cũng chọn ra hơn chục bộ hồ sơ loại “ngon cơm” nhất, và nghĩ là buổi phỏng vấn chỉ cho có lệ, chỉ gặp để nhìn rõ “dung nhan” của nhau thôi chứ người nào trong nhóm xin việc này cũng có trình độ toàn hàng “chiến đấu” không hà. Nhất là cái khoản tiếng Anh và vi tính, nhìn cả đống bằng cấp và những chứng chỉ mà họ đính kèm thì tôi biết mấy thứ này họ giỏi hơn tôi là cái chắc rồi chứ còn phỏng vấn phỏng viếc làm gì nữa.

Ấy! Nghĩ vậy mà không phải vậy đâu bạn mình ơi! Tôi không biết khi đi xin việc ở nơi khác người ta phỏng vấn ra sao. Còn tôi thì như đã nói, tự biết “tài” của mình, nên tôi không dám ba xí ba tú hỏi lôi thôi sẽ dễ bị lộ tẩy mấy cái dốt của tôi trước mặt các ứng viên. Hơn nữa phần vi tính các công việc mà tôi đang tuyển không cần phải đòi hỏi trình độ cao siêu để biết cách đút “phần mềm” vào hay rút “phần cứng” ra (khi nó không còn… cứng nữa) khỏi ổ máy v.v… Tôi chỉ cần họ biết đánh văn bản trên computer thôi, vậy là đủ. Vì vậy tôi không dám múa rìu qua mắt thợ (ở Việt Nam rất nhiều bạn trẻ rất giỏi về computer), tôi chỉ đẩy cái laptop của tôi đang xài cho anh chị ứng viên đang phỏng vấn xin việc, và nhỏ nhẹ … nhờ “em gõ dùm cho tôi chừng 10 câu, một bài ca, bài thơ hay bất cứ cái gì mà em thuộc”.

Tôi tin rằng chỉ cần nhìn người nào dạo chừng 2 câu trên bàn phím thôi chứ đừng nói gì đến 10 câu là tôi có thể biết được khả năng đánh máy của họ như thế nào rồi chứ cần gì nhìn cái bằng cấp ghi là một phút mấy chữ.
Vậy mà các bạn có biết chuyện gì xảy ra không? Thiệt là không tưởng tượng được trong 12 người dự phỏng vấn với Word, Excel, Power Point thứ gì họ cũng có bằng cấp chứng chỉ, với chú thích đạt yêu cầu loại “khá”, nhưng khi cần gõ máy thì họ nhìn cái bàn keyboard như nhìn cây “thiên ma cầm” trong phim chưởng vậy. Dấu chấm, dấu phẩy, xuống dòng v.v… Họ chăm chú tìm trên bàn phím như thầy pháp tìm bùa lỗ bang.

Đó là chưa kể trong buổi phỏng vấn này tôi đã khám phá thêm vài “bí kiếp” tuyển dụng chắc là khá “đại trà” ở trong nước. Nếu như các cô chân dài có lợi điểm dùng ngoại hình để đánh bại đối thủ khi đi xin việc thì phía các anh cũng biết tận dụng thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) để lót tay người phỏng vấn.
Hôm đó tôi thực hiện buổi phỏng vấn với riêng từng người, và trong phòng riêng khi chỉ có “sếp” và người xin việc thì đã có hai ứng viên nam, một mạnh dạn đẩy cái bao thơ (tiền) về phía tôi với câu chào mở đầu “Sếp cho em gửi các cháu ăn quà..” , còn anh thứ nhì đã quên luôn mục đích của anh đến gặp tôi là để phỏng vấn xin việc làm, anh thân thiện đến bất ngờ, cứ nằn nì rủ rê tôi (như rủ bạn anh vậy) chiều tan việc đi uống bia với anh. Anh giới thiệu là “có biết có cái quán mới mở ở Tân Định toàn “hàng” (nữ tiếp viên) chiến đấu không hà… sẵn sàng phục vụ từ A đến Z”
Còn phía “chân dài” các nàng cũng không lép vế, không phải ai cũng vậy nhưng một vài nàng đã biểu diễn vài “chiêu” thật ngoạn mục. Các nàng gọi “sếp” bằng anh xưng em ngọt như mía lùi. Đứng lên ngồi xuống luôn thể hiện kiểu cách y như đang đi thi hoa hậu. Có một nàng trong nhóm xin việc hôm đó, cứ chống tay lên cầm mà nhìn ông “sếp” đang phỏng vấn mình cười cười mỉm mỉm thiệt là đẹp mê hồn làm cho tim tôi nhảy muốn rớt ra ngoài luôn.
Còn chết người hơn nữa là cái cách của nàng này nhìn người đang phỏng vấn nàng, là tôi đây, y chang như trong tiểu thuyết ba xu của Mỹ gọi là nhìn kiểu “love at first sight”, còn tiếng Việt mình các nhà văn trữ tình cũng diễn tả đó là “tiếng sét ái tình” hay “yêu ngay lần đầu” gì đó… Kể luôn cụ Nguyễn Du thi nhân đại tài của nhà mình năm xưa cũng đưa kiểu nhìn này vô tác phẩm Đoạn trường tân thanh của cụ. Đó là “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không…”
Má ơi! Cũng may là “sếp” (dỏm) này chưa được công ty cho tiêu chuẩn tuyển thư ký riêng cho mình nên đành vừa tụng kinh vừa ngó lơ chỗ khác để tránh ánh mắt “ba đào dị nịch nhân” đắm đuối đến làm người ta chết chìm được của cô em chân dài đi xin việc hôm đó…

Kết quả có 8 ứng viên trong số 12 đơn có đủ các loại văn bằng chuyên môn về “phần cứng phần mềm” nhưng không gõ được vài dòng chữ cho liền lạc bằng keyboard…
Phần tiếng Anh cũng vậy, như đã nói, tôi vốn hơi “ớn ợn” với trình độ tiếng Anh của mấy trung tâm ngoại ngữ trong nước nên cũng chẳng dám hỏi han gì nhiều mà chỉ yêu cầu các ứng đơn “xin bạn kể cho tôi nghe bằng tiếng Anh, sáng giờ bạn làm gì. Thí dụ bạn thức dậy lúc mấy giờ, ăn sáng món gì, bạn đi bằng cách gì đến đây, bạn có thể chỉ đường cho tôi đi từ đây ra hồ… con rùa hay không””
Chỉ đơn giản vậy thôi. Tôi nghĩ rằng nếu anh chị nào đó có thể nói được cho tôi nghe chừng năm ba câu thôi thì tôi có thể nhắm mắt mà phê đại mấy chữ “đạt yêu cầu” vô phần tiếng Anh của họ cái cho rồi.
Nhưng tiếc thay! Cũng như phần vi tính, phần tiếng Anh cũng hầu như không ai thể hiện được điều gì như trình độ của các bằng cấp hay chứng chỉ mà họ có. Cuối cùng chỉ có 3 anh chị giọng nói tuy chưa được hay lắm, nhưng khả năng Anh ngữ của các anh chị này cho tôi tin là họ có học thật chứ không phải loại có bằng thật mà học dỏm.





Ngài Thứ trưởng Y-tế nước CHXHCNVN bị uýnh tơi tả vì chức thiệt mà bằng giả,  Blog Khai Trí đòi hỏi giùm cho hơn 80 triệu dân, vì sức khỏe và sinh mệnh của họ có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng “tri thức” của ông, rất cần ông trả lời trên báo chí.Riêng Web Hà Tĩnh Mình Thương còn đưa ra danh sách các quan đỏ nào đang xài bằng gỉả.  Ôi nhân tài như lá mùa thu ở nước ta!  Mùa “Thương Khó” của các đại gia…


Thì ra, sau buổi phỏng vấn tôi mới hiểu tại sao các hồ sơ xin việc lại có nhiều sự đồng bộ như vậy. Rất nhiều các loại chứng chỉ ngoại ngữ, chứng chỉ vi tính được các trung tâm đào tạo “bán” cho người xin việc như người ta bán một cần thiết phải có trong đơn xin việc chứ không cần chất lượng của bằng cấp hay chứng chỉ đó. Rất nhiều TTĐT ở trong nước chỉ cần có học viên ghi danh, có đóng đủ học phí là có chứng chỉ, không nhất thiết là phải có học hay khảo sát (thi) đạt yêu cầu…

Điều này đã làm cho trình độ của các chủ nhân của bằng cấp chứng chỉ thành đồng bộ, và đã làm cho rất nhiều người tuyển chọn phải lấy những tiêu chí không liên quan đến chuyên môn để mà chọn lựa như “ngoại hình”, “điện nước”, “”bao thơ” v.v…Trong đó mém chút nữa là cũng có tôi luôn.
Hôm đó nếu không kịp nhớ lại tôi vừa tự mình ký bản án chung thân với một “tiger” biết nói tiếng người, bây giờ đang làm mẹ của 2 đứa con gái tôi, thì tôi đã tuyển cô nàng “love at first sight” kia vô công ty chỗ tôi đang làm rồi.

Thế thì, có lẽ các bạn đang thắc mắc là bộ mấy ông chủ tuyển dụng nhân sự hoặc các sếp phỏng vấn nào cũng nhận bao thơ hay “tiếng sét ái tình” (như tôi) và để cho mấy cái bằng dỏm “lướt” đi một cách dễ dàng vậy sao?
Không hẳn là vậy, nhưng sự thật thì cũng có rất nhiều sếp không có trình độ (vi tính hay tiếng Anh) như các loại bằng cấp chứng chỉ thể hiện, nên không có khả năng khảo sát chất lượng thật của người “đã học” các loại bằng cấp này là học thiệt hay học dỏm.
Chuyện này cho đến hôm nay vẫn còn khá phổ biến ở nước mình. Đó là những bằng dỏm và bằng giả, bằng cách nào đó, đã len lỏi vào lực lượng nhân sự của tất cả mọi vị trí trong đủ các loại ngành nghề ở phía chính quyền lẫn tư nhân, và được chấp nhận y như bằng… thiệt.

Xin mở ngoặc ở chỗ này để quý bạn đọc ở nước ngoài hiểu thêm, ở nước mình bây giờ người ta phân biệt hai chữ “bằng dỏm” và “bằng giả” là hai loại khác nhau. Việc này đã được một “cao nhân” sử dụng bằng dỏm (hay giả) tự định nghĩa một cách rõ ràng cách đây cũng khá lâu. Đó là vị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, một tỉnh nằm cạnh Nha Trang ở đâu đó ngoài miền Trung.
Nếu tôi nhớ không lầm là năm 98 hay 99 gì đó. Khi bị báo chí phanh phui là bằng cấp ông này đang sử dụng, là một cần thiết cho chức vụ Chủ tịch mà ông đang làm – hình như là bằng tốt nghiệp phổ thông lớp 12 thì phải – là bằng giả. Ông chủ tịch của mình đã “nổi dóa” đăng đàn mở họp báo lớn tiếng ong óng cãi lại là:
“Tôi công nhận tôi không có học mà có bằng là vi phạm, nhưng bằng này là bằng thật chứ không phải bằng giả. Con dấu thật, chữ ký thật do Giám đốc sở giáo dục tỉnh Đồng Nai cấp đàng hoàng (không tin hỏi ổng coi!) sao lại gọi là giả được”.

Sự việc được “khui” thêm ra là 2 ông chức sắc ở tỉnh Phú Yên và tỉnh Đồng Nai đó đã áp dụng tính ưu việt của nền “kinh tế đối lưu” trong thời bao cấp trước đây. Lúc còn bao cấp người ta ít khi xài tiền, mà là dùng hàng hóa để trao đổi (như thời… đồ đá vậy). Ông Phú Yên có biển, có rừng nên cho ông Sở Giáo Dục Đồng Nai ít gỗ vụn để xây nhà, xây dư thì bán đi cho người ta làm củi chụm cũng được mà. Có… vài ngàn mét khối thôi chứ mấy.
Ngược lại ông Đồng Nai có cái Sở Giáo Dục hàng năm “búng” ra cả vài chục ngàn cái bằng trung học phổ thông thì tiếc gì không “búng” cho bạn mình một cái. Bằng thiệt, chữ ký thiệt đàng hoàng ai dám bảo là bằng… giả đâu.

Bó tay luôn phải không quý vị! Lúc đó báo chí trong nước đã bầu cho câu nói của ông Chủ tịch Phú Yên là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức nước mình. Và (có lẽ) từ đó chữ “bằng dỏm” được ra đời để chỉ loại bằng có con dấu thiệt, chữ ký thiệt, có lưu chiếu vào sổ bộ thiệt đàng hoàng, nhưng chủ nhân của nó không cần do học (thiệt) mà có. Và cũng từ đó trong lý lịch của một số quan chức trong phần trình độ văn hóa học vấn, nhiều vị khai tốt nghiệp cử nhân kinh tế, cử nhân luật v.v… Có vị cẩn thận hơn đã mở ngoặc đóng ngoặc mấy chữ (có học thiệt) để chú thích phân biệt với các loại bằng, cũng thiệt y như của họ, nhưng là học dỏm.
Còn loại bằng giả khác với bằng dỏm vừa kể là bằng giả không có con dấu thiệt, không có chữ ký thiệt, không có lưu chiếu. Người có được (bằng giả) là do in ấn nháy hiệu cho giống y thiệt, rồi lấy củ khoai tây tự khắc thành con dấu giả, nháy theo dấu thiệt, như đồng hồ nháy hiệu vậy, hoặc cạo sửa từ bằng thiệt của người khác rồi bỏ đại (mẹ) tên mình vô.

Như vậy thì người xài bằng giả và bằng dỏm về hình thức thì khác nhau, nhưng có một điểm giống nhau là cả hai không ai cần phải đi học (thiệt) để có bằng.
Ngày nay ở nước mình, sự kiện bằng dỏm & và bằng giả không chỉ ở những loại “lôm côm” như mấy cái chứng chỉ vi tính hay bằng B, bằng C của tiếng Anh để đi xin việc, hoặc bằng tốt nghiệp trung học phổ thông như ông chủ tịch Phú Yên năm xưa mà còn “leo cao” hơn đến các bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư v.v… đã không còn là chuyện hiếm thấy…
Bằng dỏm và giả với học vị càng cao thì người sử dụng nó, thường là có chức quyền hay tiền, nên càng dễ đạt được yếu tố “tiêu cực” lúc dự tuyển bổ nhiệm vào các chức vụ cao (đa số là viên chức, công chức cấp cao của nhà nước), hoặc là vì bằng ở loại học vị cao nên nơi nhận (việc) cho các loại bằng cấp này, vì không có trình độ khảo sát nên đã dễ dàng để bằng dỏm hay giả biến thành bằng… thiệt.

Trong tháng (7-2010) vừa qua, chắc quý bạn đọc cũng đã biết rồi, báo chí trong nước lại lùm xùm lu xa bu thêm hai bằng Tiến sĩ “dỏm” do không học mà có, mà lại còn ác liệt hơn nữa, các bằng Tiến sĩ dỏm kỳ này ngoài chuyện có chữ ký thật, con dấu thật nhưng lại được mấy trường đại học “không có thật” (trường ma) cấp.
Không biết các chủ nhân của hai bằng Tiến sĩ này có mạnh miệng cãi là “bằng của tui là bằng thật có con dấu thật, chữ ký thật chỉ do trường… dỏm cấp mà thôi nên không thể gọi là bằng giả được…” như ông Phú Yên năm xưa hay không.
Hai bằng Tiến sĩ mà báo chí mới phanh phui kỳ này. Một là của ông Giám đốc Sở “Văn hóa & Du lịch” Phú Thọ, và bằng thứ hai là của ông Phó bí thư Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái.
Theo báo chí trong nước thì ông “Sở văn hóa” Phú Thọ có bằng Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài, nghĩa là phải học bằng tiếng Anh, mà khả năng tiếng Anh của ông thì lại “xem xem” với mấy anh xin việc mà tôi phỏng vấn lúc trước.
Nghĩa là ông không kể được bằng tiếng Anh hồi sáng này ông ăn sáng món gì, tối hôm qua ông đi bia ôm ở quán nào, có vụ… A đến Z với mấy cô tiếp viên ở đó không… chứ đừng nói gì đến việc ông làm luận án khoa học bằng tiếng Anh để được cấp bằng Tiến sĩ…
Và ông Phó Yên Bái thì còn “thần đồng” hơn nữa, từ lúc ông có quyết định lãnh tiền của nhà nước hỗ trợ cho ông đi học cho đến lúc ông “khè” cái bằng Tiến sĩ ra cho thiên hạ ớn chơi chỉ có… 6 tháng.

Chuyện mà báo chí trong nước thấy đáng nói là cả hai bằng Tiến sĩ này đều có giá “học phí” (dù chẳng cần đi học) là 17,000 đô Mỹ để có. Cả hai đều nằm trong tiêu chuẩn sử dụng tiền “quỹ hổ trợ” của nhà nước dành cho cán bộ hiếu học muốn nâng cao trình độ để lấy cái bằng này.

Chuyện của hai ông Tiến sĩ dỏm ở Phú Thọ và Yên Bái lấy tiền nhà nước, không đi học mà vẫn có bằng dường như đã làm ức lòng đến hai ông Tiến sĩ (thiệt) đang làm việc tại các đại học và viện nghiên cứu của Úc đó là Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Sydney) và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc (Melbourne)
Giáo sư Tuấn qua bài viết “Thêm bằng chứng về bằng giả trường dỏm” cho rằng ông Phó bí thư Yên Bái bị (trường dỏm) lừa gạt, hay là ông sẵn sàng (để cho) bị lừa gạt khi tốn 17 ngàn để lấy cái bằng ở một trường đại học không có thật, và cái bằng đó chỉ là một tấm giấy lộn chứ không có giá trị gì hết.
Và ở một bài khác “Bằng tiến sĩ dỏm giá 17,000 đô – Hãi” Ông Tuấn cho biết lý do người sử dụng bằng dỏm (ở trong nước) không chỉ mục đích lòe thiên hạ cho oai mà còn là một nhu cầu cho chức quyền.

Đồng lúc đó Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc cũng viết 2 bài “Bằng giả và bằng dỏm” và “Tiến sĩ dỏm ở Việt Nam”
Ông Quốc cho là xài bằng giả để lòe thiên hạ cho sướng thì vấn đề chỉ là tâm lý và đạo đức chứ không liên quan đến pháp luật, chính quyền không can thiệp nhưng nếu sử dụng cái bằng dỏm hay giả ấy để mưu lợi thì lại khác. Ví dụ để xin dạy trong các trường học hoặc để thăng quan tiến chức như ông Phó bí thư Yên Bái thì: Nó trở thành một hành động lừa bịp…
Và cũng cùng lúc này tờ báo mạng TuanVietnam.net ở trong nước cũng có bài châm biếm sự giải trình của chính chủ nhân cái bằng Tiến sĩ dỏm không biết tiếng Anh là ông Giám đốc Sở văn hóa Phú Thọ.
Cũng như ông Chủ tịch Phú Yên năm xưa. Ông giám đốc Sở Phú Thọ này cũng đăng đàn họp báo, ông đến tận tòa soạn báoTuầnViệtNam.Net, nhờ tiếng nói của tờ báo này để giải trình qua hình thức phỏng vấn hỏi đáp về việc ông tốn 17,000 đô để “học” cái bằng Tiến sĩ ở nước ngoài mà không cần biết một chữ tiếng Anh
Trong bài hỏi đáp của TuầnViệtNam.net ông Giám Đốc Sở Phú Thọ này hé lộ me mé ra là còn đến… 10 quan chức khác cũng có bằng Tiến sĩ ở cùng trường “dởm” với ông. Mấy ông học bằng cách “online” (hàm thụ từ xa qua mạng) và nơi dạy không yêu cầu người học phải biết tiếng Anh. Ông khai những người khác (cũng là quan chức nhà nước ở Phú Thọ và Hà Nội) cũng học cùng “lò” nơi ông học, cũng được cấp bằng như ông, nhưng người ta không ai bị gì cả, còn ông chỉ là…
“Tại tôi không may thôi!”

Đúng là “pó toàn thân” luôn chứ không thèm “pó tay” nữa với chuyện “quê nhà xứ huyện” của nước mình phải không quý vị? Dùng tiền của nhà nước (là tiền của dân) “mua” một bằng cấp là một “tấm giấy lộn không giá trị gi hết” để “thăng quan tiến chức” và “mưu lợi” cho cá nhân mình. Khi bị đổ bể đối với mấy ông không là “một hành động lừa bịp” mà chỉ là “Tại tôi không may thôi!”
Không biết câu nói này có nên bầu là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức mình lần nữa không các pác nhẩy!

Phương “N”

Bài Xem Nhiều