We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 15 July 2012

Chuyện Nhà Báo Đánh Thuê "Hải Ngoại" (2)



 

Ngày hôm nay tức năm (5) ngày sau khi đăng thư  của Việt Cộng gọi “ngày 30 tháng 4 là ngày vui mừng cuả dân tộc và VNCH là bè lũ tay sai của giặc Mỹ”, chủ nhiệm của báo Người Việt, người kế vị cố chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến, ông Phan Huy Đạt có thư xin lỗi nguyên văn như sau:
Thư Xin Lỗi
Của Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt
Kính gửi quý độc giả, quý đoàn thể tổ chức cựu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa.
Nhật báo Người Việt mới phạm một lỗi nặng nề nên chúng tôi viết thư này để xin lỗi toàn thể cộng đồng .
Ngày Chủ Nhật vừa qua, mục thư  Độc Giả trên báo Người Việt đã in một lá thư với lời lẽ hàm hồ có lợi cho chế độ cộng sản và còn xúc phạm toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa. Những ý kiến và lợi lẽ đó hoàn toàn trái ngược với lập trường và nhật báo Người Việt vẫn theo đuổi từ  hơn 30 năm qua.
Chúng tôi trân trọng gửi tới quý vị cùng toàn thể đồng bào lời xin lỗi chân thành của cá nhân tôi và nhật báo Người Việt.
Lỗi lầm đáng tiếc trên xảy ra là do nhân viên phụ trách chọn Thư  Độc Giả. Sau khi tìm hiểu sự việc, chúng tôi đã quyết định ngưng việc người phạm lỗi.
Ngoài ra, Hội Đồng Quản Trị Công Ty Người Việt đã nghiêm khắc khiển trách và chế tài những người liên đới trách nhiệm, gồm Chủ Nhiệm và Chủ Bút.
Chúng tôi sẽ cố gắng có thêm biện pháp ngăn ngừa những sai lầm như vậy trong tương lai, tiếp tục cùng toàn thể đồng bào đấu tranh xóa bỏ chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do.
Chúng tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn quý độc giả và thân hữu đã cho biết ngay phản ứng về lá thư độc giả nêu trên trong mấy ngày qua; và một lần nữa mong toàn thể quý vị lượng thứ.
Phan Huy Đạt.
Phản ứng của chủ nhiệm báo Người Việt là những điều đã được tiên đoán trước. Ông Phan Huy Đạt lại xin lỗi khơi khơi, không tiết lộ tên người viết, người chọn bài là ai để chúng ta cùng biết. Điều này rất quan trọng vì nếu không biết danh tánh cuả tên Việt Cộng nằm vùng trong báo Người Việt này, chúng có thể sẽ len lõi trong cộng đồng để phá hoại tiếp tục khi có dịp. Ông là chủ tịch HĐQT báo Người Việt kiêm chủ nhiệm. Trong thư ông cho biết HĐQT khiến trách chủ nhiệm, chủ bút tức là ông … “tự kiểm điểm”  theo kiểu Việt Cộng tự sướng cho vui…
Đào Nương tôi đã dò tìm trong danh sách nhân viên toà soạn báo Người Việt xem có “lọt sổ” người nào so với danh sách cũ không thì thấy cả 7 ông trong Ban Biên Tập của báo Người Việt còn … nguyên vẹn “từ chủ nhiệm Phan Huy Đạt, phụ tá chủ nhiệm Đinh Quang Anh Thái, chủ bút Phạm Phú Thiện Giao, phụ tá chủ bút Vũ Quí Hạo Nhiên, Phụ tá Hành Chính BBT Nguyễn Việt Linh,  Tổng Thư Ký Đỗ Dzũng, TTK NVonline  Đỗ Tài Thắng, Nguyễn Đồng, cố vấn kỷ thuật, Bùi Kim Anh Trưởng Ban Trình Bày. Ít ra, lần trước, khi lá cờ vàng nằm trong chậu nước rưả chân, báo Người Việt còn có chút liêm sĩ khi đưa ra ông chủ bút Vũ Ánh và ông TTK VũQuí HạoNhiên là những người chịu trách nhiệm và sau đó sa thải họ dù tạm thời để che mắt cộng đồng. Lần này, chuyện trầm trọng hơn nhiều vì báo Người Việt không chỉ “ca ngợi chiến thắng thống nhất đất nước” của Việt Cộng mà ông Phan Huy Đạt còn nhìn nhận “sai lầm” là đã “thoá mạ tất cả quân, dân cán chính VNCH làm tay sai cho giặc Mỹ” nhưng cả toà soạn cuả báo Người Việt  không có ai đứng ra chịu trách nhiệm cả thì thật là khó hiểu? Không lẽ thư Việt Cộng “tự bò” từ  computer lên mặt báo Người Việt làm cho đảng cộng sản “tự sướng” và ông Phan Huy Đạt lại “tự nguyện” che chở cho Việt Cộng? 
Khi ông Phan Huy Đạt viết: “Chúng tôi sẽ cố gắng có thêm biện pháp ngăn ngừa những sai lầm như vậy trong tương lai, tiếp tục cùng toàn thể đồng bào đấu tranh xóa bỏ chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do”  thì điều này có nghĩa là những chuyện “sai lầm” như trên vẫn có thể xảy ra trên mặt báo Người Việt trong tương lai nhưng ông sẽ tìm biện pháp để ngăn ngừa? Tại sao những việc như vậy không hề xảy ra trên bất cứ một mặt báo Việt ngữ nào ở hải ngoại trừ tờ Người Việt với một ban Biên Tập liệt kê gần 60 người như trong hình đính kèm? Khi phải cần có “biện pháp ngăn ngừa” thì có nghĩa là cơ quan ngôn luận mà ông Phan Huy Đạt là chủ tịch HĐQT kiêm chủ nhiệm nhìn nhận có sự hiện diện hay sự xâm nhập cuả Việt Cộng cho nên ông phải tìm “biện pháp ngăn ngừa” để tránh sự lộng hành của chúng?
Dù là trẻ con, chúng tôi cũng khó tin rằng với “chủ trương đấu tranh xóa bỏ chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do” mà ông Phan Huy Đạt nêu ra trong thư xin lỗi này là điều có thực khi mà phóng viên của báo Người Việt, cơ quan ngôn luận đấu tranh xóa bỏ chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do đã có thể đi lại trong toàn cõi Việt Nam làm phóng sự mà không bị Việt Cộng tóm cổ vào tù. 
Cứ nhìn vào gương cuả ông nhạc sĩ Việt Khang mà đài SBTN tranh đấu trước đây thì rõ. Ông này chỉ có hai bản nhạc “than thở” về thân phận cuả đất nước mà cho đến nay, Việt Cộng bỏ tù ổng ở đâu mất tiêu mà đài SBTN với ông phóng viên Thanh Toàn tìm mãi không ra khiến có người cho rằng nhạc sĩ Việt Khang không có thực. Báo Người Việt, thường xuyên chuyển tiền về trả cho cộng tác viên nào trong nước? Ai là người tiếp tục hưởng lợi khi báo Người Việt tiếp tục “sai lầm” khi nhục mạ người Việt quốc gia, nhục mạ lá cờ vàng, ca tụng lãnh tụ cộng sản qua câu đối Tết? Cố chủ nhiệm báo Người Việt Đỗ Ngọc Yến ngồi chủ tọa buổi họp với Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Xuân Phong với tư cách gì? Việt Cộng hay Việt Gian? Hay Việt Kiều Yêu Nước?
Tóm lại, nếu người Việt hải ngoại “tiếp tục tha thứ” cho báo Người Việt như lời “thỉnh cầu” của ông Phan Huy Đạt lần này thì bao lâu nữa, báo Người Việt sẽ “sai lầm” lần nữa. Ngày trước, báo Viêt Weekly chỉ đăng bài ca tụng Hồ Chí Minh do một người trong nước viết, tên “Trần truồng” chỉ treo hình ông Hồ trong tiệm của y nhưng ít ra những tên này không hề xúc phạm đến VNCH và oan hồn cuả tử sĩ Việt Nam đã chết trong cuộc chiến và các trại cải tạo Việt Cộng. Còn bây giờ, báo Người Việt đăng bài viết chửi toàn thể Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà đồng thời gián tiếp chửi luôn nước Mỹ là “giặc”! Chúng tôi yêu cầu ông Phan Huy Đạt hãy công bố tên người viết, người chọn bài để chúng tôi biết mặt mà tránh, không phải sinh hoạt với tên cộng sản này.
                                       
                                      
Nhân đây thì cũng xin tiên đoán trước điều sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới: tùy theo cường độ cuả sự tẩy chay cuả đồng bào tị nạn cộng sản mà báo Người Việt sẽ gia tăng cường độ của sự hối lỗi.
Nếu Tập Thể Chiến Sĩ của ông Nguyễn Xuân Vinh im lặng, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ chỉ phản kháng bằng thư, các hội đoàn quân nhân, các quân binh chủng im lặng “chấp nhận làm tay sai cho giặc Mỹ” như Việt Cộng viết trên báo Người Việt thì ông Phan Huy Đạt sẽ cười vui, thở phào và người viết cũng như người chọn thư đăng tải trên có thể sẽ được lên chức như trường hợp của Vũ Quí Hạo Nhiên sau vụ cờ vàng và chậu nước rửa chân.
Nếu quí vị theo dõi báo Người Việt, quí vị sẽ đọc được tin “Ông Trương Tấn Sang thăm vùng 3 Hải Quân” (NV Thứ Ba ngày 10 tháng 7) với ảnh màu và lời tường thuật rất trang trọng như là báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân trong nước: “… ngoài vùng 3 HQ, trong chuyến đến Đà Nẳng, ông Sang còn thăm Bộ Tư Lệnh Quân Khu 5, một trọng tâm của quân đội Việt Nam…”
Với những bản tin như thế này thì Ban Biên Tập của báo Người Việt chỉ cần vài ông “du sinh” là đủ, cần gì những tên tuổi như Đỗ Quí Toàn, Phạm Quốc Bảo, Huy Phương, Nguyên Huy, Lê mạnh Hùng, Nguyễn Văn Khanh, Du Tử Lê, Viên Linh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Hoàng Khởi Phong, Song Thao, Võ Long Triều, Hà Tường Cát… Không lẽ các ông cũng như Đào Nương tôi, đêm đêm trước khi nằm ngủ phải thắp nhang cầu xin ơn trên cho ông Phan Huy Đạt tìm được “biện pháp ngăn ngừa” cho báo Người Việt khỏi biến thành công cụ tuyên truyền cho Việt Cộng để không phải đấm ngực nuốt nghẹn vì tủi nhục…
Đào Nương Hoàng Dược Thảo

Tuần báo Saigon Nhỏ số ra ngày Thứ Sáu 13 tháng 7, 2012

-----------

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER (NV) - Chiều 13 Tháng Bảy, tại nhật báo Người Việt, khoảng 50 thân hào, nhân sĩ, đại diện các đoàn thể và nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ tại Little Saigon đã có cuộc gặp gỡ với đại diện Ban Ðiều Hành Nhật Báo Người Việt, liên quan đến một bức Thư Ðộc Giả đăng trên tờ báo này.
Một phần quang cảnh buổi gặp gỡ giữa đại diện Nhật Báo Người Việt và đại diện hội đoàn, đoàn thể, báo chí cộng đồng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Mục đích của buổi gặp gỡ là để Nhật Báo Người Việt trình bày nguyên ủy sự việc lá thư của độc giả ký tên Sơn Hào, với nội dung, lời lẽ xúc phạm đến tập thể người Việt tị nạn, và tuyên truyền cho chế độ Cộng Sản, được đăng trong mục Thư Ðộc Giả, số báo ra ngày Chủ Nhật, 8 Tháng Bảy.
Gửi lời chào cử tọa, Luật Sư Phan Huy Ðạt, Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt, trình bày rằng, sự xuất hiện của lá thư này trên Nhật Báo Người Việt là một “tai nạn” và là “lỗi lầm nghiêm trọng,” gây nhiều phẫn nộ trong cộng đồng; và đại diện Nhật Báo Người Việt, ông “chân thành xin lỗi đến toàn thể độc giả, các đoàn thể, tổ chức cựu quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa”.
“Chúng tôi muốn lắng nghe ý kiến của quý vị, sự bận tâm của quý vị. Chúng tôi sẽ trình bày rõ ràng sự việc, đồng thời ghi nhận ý kiến và lời khuyên bảo của quý vị.” Luật Sư Ðạt nói.
Ông Phạm Phú Thiện Giao, Chủ Bút nhật báo Người Việt, trình bày rằng lá thư gây phẫn nộ cho cộng đồng là do một độc giả gửi vào, bàn về bài viết “Vết Thương Ngày 30 Tháng Tư,” của tác giả Nguyễn Gia Kiểng, đăng trên trang Diễn Ðàn Người Việt ngày 17 Tháng Tư, 2012.
Ông Thiện Giao cho biết, ngay sau khi lá thư được đăng ra, tòa soạn đã nhận được nhiều phản hồi bày tỏ sự phẫn nộ; và khi được hỏi tại sao lại đăng lá thư đó, ông được ông Vũ Quí Hạo Nhiên, Phụ Tá Chủ Bút, người phụ trách mục Thư Ðộc Giả, giải thích rằng: “Thời buổi này còn có kẻ bênh vực Cộng Sản ngu dốt như vậy thì phải cho thế giới thấy.”
“Khi chọn đăng lá thư này, người phụ trách đã phạm lỗi lầm lớn là đăng bức thư độc giả mà không đăng kèm theo lời giải thích, tạo sự ngỡ ngàng cho độc giả.” Ông Thiện Giao trình bày.
Luật Sư Phan Huy Ðạt nói với cử tọa, ngay trong những ngày sau đó, Hội Ðồng Quản Trị và Hội Ðồng Chủ Biên của công ty Người Việt đã có buổi họp khẩn, thừa nhận đây là lỗi lầm lớn, cần phải có lời xin lỗi chính thức và chân thành đến tất cả cựu quân nhân VNCH và độc giả.
Trong lời xin lỗi đăng trên số báo ngày Thứ Năm, 12 Tháng Bảy, Nhật Báo Người Việt thừa nhận lá thư độc giả có “lời lẽ hàm hồ có lợi cho chế độ Cộng Sản và còn xúc phạm toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.
Cũng trong lời xin lỗi ấy, Luật Sư Phan Huy Ðạt tái xác định trong cuộc gặp gỡ cộng đồng, rằng các biện pháp kỷ luật đã được đưa ra. Người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc để lá thư độc giả ấy xuất hiện trên mặt báo, là Phụ Tá Chủ Bút Vũ Quí Hạo Nhiên, phải thôi việc; đồng thời Hội Ðồng Quản Trị đã có khiển trách nghiêm khắc cùng biện pháp chế tài đối với hai người liên đới trách nhiệm, là chủ nhiệm và chủ bút.
Mở đầu phần ý kiến và câu hỏi của cử tọa, Bác Sĩ Trần Văn Cảo, thuộc Nguyệt San Diễn Ðàn Giáo Dân, phát biểu rằng “lời xin lỗi (được đăng trên báo Người Việt ngày 12 Tháng Bảy) là không chân thành, không đúng mức, và không đúng lúc”.
Bác Sĩ Trần Văn Cảo, thuộc Nguyệt San Diễn Ðàn Giáo Dân, cho rằng “lời xin lỗi (được đăng trên báo Người Việt ngày 12 Tháng Bảy) là không chân thành, không đúng mức, và không đúng lúc”. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Bác Sĩ Cảo nêu ý kiến rằng, phải đến Thứ Năm mới có thư xin lỗi là quá chậm; và chữ “ngưng việc” ông Vũ Quí Hạo Nhiên là không có ý nghĩa rõ ràng, vì hàm ý sau này, khi hết ngưng, người đó sẽ làm việc lại.
Phần phát biểu tiếp theo, cựu Trung Tá Phạm Ðình Cung, Binh Chủng Nhảy Dù, nói rằng ông đến để “nghe xem lời xin lỗi có thành thật không,” và nay thì hài lòng khi “được nghe rõ là ông Vũ Quí Hạo Nhiên đã được cho nghỉ việc”. Ông Cung nhấn mạnh, đăng lá thư nói trên là thái độ “coi thường mọi người” giữa một cộng đồng tỵ nạn toàn cựu tù cải tạo.
“Sa thải rồi thì tôi cám ơn, đó là một việc làm đúng. Còn việc đụng một cái là mình hăm he biểu tình, thì để làm gì? Có chống được Cộng Sản không?” Cựu Trung Tá Cung nhấn mạnh.
Ông Phan Tấn Ngưu, chủ tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, tâm sự rằng ông tuy đã lớn tuổi, vẫn không lúc nào quên chiến sĩ VNCH, và chủ trương luôn tận tụy bảo vệ danh dự bằng mọi giá.
“Tôi muốn cộng đồng mình thực sự mạnh, đoàn kết, chứ nếu cứ chia 5 xẻ 7 thì làm sao hỗ trợ được việc đấu tranh đòi dân chủ ở Việt Nam.”
Hướng về phía đại diện nhật báo Người Việt, ông hỏi thẳng: “Công ty Người Việt có chịu áp lực của bất cứ thế lực nào không?”
Ðại diện nhật báo Người Việt, ông Ðinh Quang Anh Thái, phụ tá chủ nhiệm, khẳng định rằng “Nhật Báo Người Việt chưa bao giờ, không bao giờ, và mãi mãi sẽ không bao giờ chịu áp lực hay nhận yểm trợ của bất cứ thế lực nào.”
Chủ Nhiệm Phan Huy Ðạt cũng nhân câu hỏi ấy, trình bày rằng công ty Người Việt có quy chế “ESOP” (Employees Stocks Ownership Plan), có nghĩa là công ty do Quỹ Hưu Bổng Nhân Viên Người Việt làm chủ, và vì vậy “không thể có thế lực bên ngoài ảnh hưởng vào”. Ngoài ra, với quy chế làm việc tập thể, “mọi quyết định đều phải được mang ra bàn thảo và bỏ phiếu, Việt Cộng muốn lọt vào công ty này cũng khó lắm, và nếu có lọt vào được thì cũng không làm gì được, vì làm gì cũng phải ‘vote.’”
Tác giả Huy Phương, một cộng tác viên kỳ cựu của nhật báo Người Việt, nhận xét rằng “quyết định để cho ông Vũ Quí Hạo Nhiên nghỉ việc như vậy cũng là quyết định nhanh,” nhưng khuyến cáo ban biên tập tương đối trẻ của Nhật Báo Người Việt là “đừng cao ngạo” và phải “rất cẩn trọng trong công việc”.
Một số người trong cử tọa cho rằng lời giải thích lý do lá thư độc giả xuất hiện trên mặt báo là “không được thỏa đáng” khiến Chủ Bút Phạm Phú Thiện Giao phải giải thích nhiều lần, rằng đây là một “lỗi lầm về phán đoán,” vì khi đăng lá thư, người chọn đăng nghĩ rằng độc giả sẽ phản ứng với những lời viết hàm hồ xuẩn động của tác giả lá thư, nhưng không ngờ đã gây phẫn nộ cho độc giả.
“Chúng tôi rút kinh nghiệm, và sẽ cẩn trọng trong cả cách thức trình bày nội dung, để mọi điều đều nằm trong một ngữ cảnh trọn vẹn.” Ông Thiện Giao nói với cử tọa.
Bác Sĩ Trần Văn Cảo, ông Nguyễn Tấn Lạc, phóng viên Khúc Minh (Radio Bolsa) bày tỏ “sự thất vọng” với Chủ Bút Phạm Phú Thiện Giao, và cho rằng chỉ sa thải Vũ Quí Hạo Nhiên thôi thì nhẹ quá, và đề nghị là cả chủ bút cũng phải chịu trách nhiệm, và “nên từ chức”.
Là người phát biểu cuối cùng, ông Trần Phong Vũ, thuộc Nguyệt San Diễn Ðàn Giáo Dân, nói rằng chỉ cần đọc những bài bình luận hàng ngày của ông Ngô Nhân Dụng trên nhật báo Người Việt thì cũng hiểu rõ chủ trương của tờ báo, và ông mong mọi người đừng để biến cố này khiến cộng đồng thành một nơi “đánh qua đánh lại”.
Cựu Trung Tá Nhảy Dù Phạm Ðình Cung nói rằng ông hài lòng về các biện pháp kỷ luật đối với nhân sự chịu trách nhiệm trong vụ lá thư độc giả xuất hiện trên mặt báo. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Và rồi ông tỏ ra phẫn nộ về sự có mặt của hai nhân vật trong phía cử tọa. Ông Trần Phong Vũ hỏi phía Nhật Báo Người Việt: “Hai ông Etcetera Nguyễn, tổng thư ký tờ Việt Weekly, và Nguyễn Phương Hùng, là hai người ai cũng biết đã công khai hợp tác với phía bên kia, tại sao lại có mặt ở đây?”
Ông Ðinh Quang Anh Thái trả lời rằng, “Hai nhân vật nói trên không có trong danh sách mời tham dự buổi gặp gỡ, nhưng vì tinh thần tự do báo chí, Nhật Báo Người Việt không thể cấm cửa hay ngăn cản sự có mặt của họ, cho dù họ đã chọn một chiến tuyến khác với tập thể người tị nạn.”
Kết thúc buổi họp, Luật Sư Phan Huy Ðạt cảm ơn sự có mặt của cử tọa. Và ông tái xác định lời xin lỗi của tờ báo: “Ðây là một sự việc hết sức đau buồn, tôi chỉ biết một lần nữa gửi lời xin lỗi chân thành đến quý vị.”
Trước khi ra về, một cụ bà lớn tuổi, cũng có mặt trong giới cử tọa, nói với phóng viên Nhật Báo Người Việt: “Phải hết sức cẩn thận, đừng đụng vào những vết thương còn mưng mủ, hãy để yên cho nó lành.”
–-
Liên lạc tác giả: HaGiang@...

Tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình


1* Ai giết Trung tướng Nguyễn Bình?

Ngày 29-9-1951, Trung tướng Nguyễn Bình cùng đoàn tùy tùng 22 người trên đường ra Bắc theo lịnh của Trung Ương, đã bị toán lính Miên do một trung úy người Pháp chỉ huy, phục kích tấn công, và Nguyễn Bình bị tử thương tại làng Srépok, huyện Se San, tỉnh Stung Streng, Cam Bốt.
Sự thật rõ ràng là Nguyễn Bình bị Tây bắn chết, nhưng sau đó, Nam Bộ lại lan truyền câu hỏi “Ai giết Nguyễn Bình?”. Câu hỏi được truyền miệng trong bộ đội miền Nam và trong dân gian, từ đó, xuất hiện những bài viết về bí mật cái chết của Nguyễn Bình, “một tướng lãnh được xem như tài ba lỗi lạc, tận trung với Đảng, hết lòng yêu nước, được Tổ quốc ghi công và dân tộc sùng bái”. Thế nhưng, những bài viết tựa đề: “Ai giết Nguyễn Bình”, “Tôi giết Nguyễn Bình”, “Những bí ẩn về cái chết của Nguyễn Bình” trực tiếp hoặc gián tiếp ám chỉ chính đảng CSVN là thủ phạm đã giết đồng chí của mình. Một số bài viết mang tính tuyên truyền, thanh minh thanh nga cho đảng, nhưng tất cả đều xoay quanh cái chết của Nguyễn Bình.

Không có tài liệu nào chính thức nêu bằng chứng cụ thể, vì nó nằm trong những âm mưu của Đảng mà những người liên hệ, tuy còn sống cũng không dám hé răng.

2* Việt Cộng công nhận Nguyễn Bình là một đảng viên trung kiên yêu nước

Tháng 12 năm 1945, nhận thấy Nam Bộ có nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận lịnh của Cộng Sản, nên Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam để “thống nhất các lực lượng vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”, những ai đầu phục thì thu nhận rồi tìm cách ám sát sau, dưới những lý do “hy sinh” hoặc “tử trận”. Nguyễn Bình được phong chức Khu trưởng Khu 7, miền Đông Nam Bộ. Hồ Chí Minh nói: “Bác trao miền Nam cho chú đó”.

Ngày 25-1-1948, Nguyễn Bình được phong chức Trung tướng, là trung tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân. Trong đợt phong chức nầy, Võ Nguyên Giáp là Đại tướng và 9 người khác như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiếu Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Nguyễn Bình là trung tướng đầu tiên, có nghĩa là Võ Nguyên Giáp từ đâu nhảy ngang vào chức Đại tướng và cũng có thể Nguyễn Bình cũng nhảy ngang vào chức Trung tướng.

Ngày 21-3-1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lịnh số 18-SL, cử trung tướng Nguyễn Bình làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, lãnh đạo lực lượng vũ trang miền Nam chống Pháp.

Sau nầy, Thượng tướng Trần Văn Trà đánh giá: “Nguyễn Bình là người Cộng Sản trung kiên, một tướng lãnh quả cảm, nghĩa hiệp và tài thao lược. Công lao mãi mãi sáng ngời trên đài Tổ Quốc Ghi Công”.

GS Trần Văn Giàu, nguyên là Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ cho biết: “Đó là một vị tướng có tâm và tài trí của Nam Bộ”.

Ngày 21-1-2000, QĐ số 52/BQP/QĐ cho thành lập đoàn công tác đi Campuchia tìm hài cốt Nguyễn Bình. Và ngày 26-2-2000, hài cốt Nguyễn Bình được mang về VN, làm tang lễ theo lễ nghi một tướng lãnh. Được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang” và huân chương Hồ Chí Minh.

Một tướng tài trung với đảng, một lòng yêu nước như thế thì tại sao phải bị khai trừ, thủ tiêu? Dư luận cũng thắc mắc tại sao phải chờ tới 49 năm, khi có nhiều người nhắc nhở, đề nghị thì đảng mới cho đi tìm hài cốt, và tại sao không tặng huân chương và danh hiệu anh hùng ngay sau khi bị Tây bắn chết?

3* Trung Ương gọi Nguyễn Bình ra Bắc

3.1. Nguyễn Bình lo lắng bất thường

Vào tháng 5 năm 1951, Nguyễn Bình nhận được một bức thơ vắn tắt của Võ Nguyên Giáp nguyên văn như sau: “Đồng chí thân mến, Đồng chí sẽ được một toán hộ tống 30 người gồm nhân viên tùy tùng và bảo vệ. Tôi tin rằng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ nầy. Đồng chí sẽ đi đường rừng băng qua các tỉnh Kompong Chàm, Kratié, Stung Streng.”

“Những người trong văn phòng anh ba Bình không hiểu lý do triệu hồi một viên tướng mà chính bác Hồ đã từng giao Nam Bộ trong những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” (“Bác trao miền Nam cho chú đó”)

“Hai Giỏi, thư ký cũng là người bảo vệ, thấy anh Ba đăm chiêu, nghĩ ngợi, có vẻ lo lắng bất thường, trước lệnh của Trung Ương”.

3.2. Dường như có linh tính báo trước

Dường như có linh tính báo trước chuyến đi nầy may ít rủi nhiều, là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời, tuy Nguyễn Bình không nói ra, nhưng những người chung quanh nghĩ như thế.

Nguyễn Bình lo lắng “việc ra Bắc” vì chính ông trước đây cũng đã ký những lịnh “đi Bắc” để đưa những đồng chí thân yêu lên đường đi vào cửa tử, đến bên kia thế giới.
Trung tướng Nguyễn Bình khoác binh phục, đang ngồi trên lưng ngựa
Trước khi lên đường, Nguyễn Bình (NB) đã viết thơ “tạm biệt” cho các bạn đã từng sống chết với nhau trên chiến trường.

“Anh Ba nhớ đến người bạn đã chết như luật sư Lê Đình Chi, chẳng may bị máy bay bắn chết. Anh không quên luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, người đã giúp anh đột nhập Sài Gòn năm 1946. “Ông Vĩnh đã yêu cầu mình cho một tiểu đội hộ tống về nhà tổ phụ ở Trung Lương (Mỷ Tho) đào 200 lượng vàng để làm công quỹ nuôi quân trong lúc cạn tiền”. Anh Ba soạn một số ảnh chụp chung với ông Vĩnh trong buổi lễ tấn phong trung tướng ở bờ kinh Dương Văn Dương, dán vào album nhỏ, gọi là lưu niệm chia tay. Ngoài ra, anh cũng viết thơ 5, 6 trang từ giã ông Lâm Thái Hoà, phụ trách pháo binh, bày tỏ nỗi lòng của người ra đi không còn hy vọng gặp lại. Tất nhiên là không quên Tám Nghệ, người có tài vừa đánh giặc vừa làm thơ.

Anh Ba yêu cầu Trung Ương cho khu trưởng Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghê) cùng đi về Việt Bắc, nhưng đề nghị đó không được chấp thuận.

Anh Ba kiểm điểm lại tất cả những việc làm, từ thành tích, chiến công đến những va chạm với mọi người, với cấp trên.

Nguyễn Bình nhớ lại Hoàng Thọ.

“Vụ Hoàng Thọ, mình đã quá nuông chiều cậu nầy. Nuông chiều vì một lẽ: nó là thằng em út đồng hương Hải Phòng, có nhiều điểm giống mình, anh hùng hảo hán, trung thực, ăn nói ngay thẳng. Khi Hoàng Thọ bất mãn bỏ tiểu đoàn 303 thì mình nhận được lịnh trên phải đưa nó ra Trung Ương để báo cáo. Mình biết “ra TW” là con đường chết, là một bản án tử hình đối với những đồng chí có nhiều uy tín và chiến công trong đơn vị. Mình hết sức khổ tâm. Nó đã nhiều lần cứu mình thoát chết, không có Hoàng Thọ, thì mình đã mồ xanh cỏ từ lâu. Tuy biết rằng đó là hạ sách, nhưng lịnh trên khó cãi, và mình cũng phải tránh tội bao che cho đàn em làm bậy. Mình phải ký giấy đi đường và cho lộ phí.”

4* Vụ Hoàng Thọ

4.1. Sự khủng bố của Việt Minh

Trong thời buổi loạn lạc, các tay anh chị giang hồ lấy câu “tứ hải giai huynh đệ” kéo bè kết đảng, nổi lên xưng hùng xưng bá, mỗi nhóm một cõi bách hại dân lành. Họ tự cho mình là nghĩa hiệp sống bằng dao búa, giải quyết tranh chấp theo luật giang hồ. Đứng bến, đâm thuê chém mướn, dân đen có chút tiền của, ngày đêm nơm nớp lo sợ bọn đạo tặc, cướp ngày đó…

Lúc bấy giờ Việt Minh nổi lên, thu phục bọn giang hồ dao búa làm tay chân. Những kẻ cướp của giết người ngày hôm trước, thì bỗng nhiên, ngày hôm sau thay hình đổi dạng trở thành bộ đội kháng chiến, như những tướng cướp Bảy Viễn, Ba Dương, Mười Trí, Nguyễn Phương Thảo là em kết nghĩa của nhà văn tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Nguyễn Phương Thảo sau trở thành Trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh lực lượng võ trang chống Pháp Nam Bộ.

Thủ đoạn của Việt Minh là, một mặt tuyên truyền mị dân, một mặt khủng bố trấn áp làm cho dân khiếp sợ mà phải phục tùng. Thành phần Việt Minh (VM) ban đầu rất phức tạp, người đàng hoàng thì ít, mà kẻ lưu manh thì nhiều. Thủ đoạn đó được các tay giang hồ dao búa thực hiện bằng cách chụp mũ “Việt gian, Phản động”. Hai cái tội nầy chỉ có con đường chết, và nhiều người dân chết tức tưởi, chết oan chết ức, chỉ vì chủ trương khủng bố dằn mặt để tạo uy thế, và sự vâng lời. Thế rồi, vào những đêm tối trời, một đám người mã tấu, đến gõ cửa, bịt mắt dắt đi. Người phải giết thì chặt đầu, cắt cổ, mổ bụng dồn trấu, cho đi mò tôm, bên cạnh xác chết có một bản án hày tội việt gian, phản động. Người cần phải thả để tuyên truyền thì cho học tập chính trị vài ngày rồi thả về để tuyên truyền và chứng minh VM sáng suốt, không giết lầm người.

Chính sách dùng “bạo lực cách mạng” và vừa đánh vừa xoa, bao giờ cũng thành công đối với đám dân ngu khu đen, mua gánh bán bưng, chân lấm tay bùn ở nông thôn.

Người dân ở Tây Ninh mà nghe đến tên Hoàng Thọ thì sợ xanh mặt, đối diện, thì rụng rời tay chân, kẻ yếu bóng vía thì són đái ra quần.

4.2. Về Hoàng Thọ

Hoàng Thọ là tay anh chị thủ lãnh băng đảng cảng Hải Phòng, dáng người vạm vỡ, vai u thịt bắp, râu quai nón. Nhà nghèo, nên từ nhỏ phải vào nương tựa cửa Phật để có hai bữa ăn. Nhà sư thấy thương thằng bé siêng năng nhanh nhẹn, nên dạy võ nghệ để sau nầy dễ bề kiếm ăn. Năm 17 tuổi, Thọ cởi trần gánh nước, trên ngực lún phún một chùm lông. Thấy vậy, nhà sư im lặng quay đi, và từ đó chỉ dạy gõ mõ tụng kinh. Thọ nản lòng, cuốn gói từ biệt nhà chùa. Nhà sư lẩm bẩm: ‘râu rìa lông ngực là tôi phản thần”.

4.3. Thủ lãnh bọn đầu gấu cảng Hải Phòng

Thọ vào đời, xông xáo múa võ sinh nhai. Trên giang hồ Hải Phòng, Thọ nổi tiếng là tay tàn độc. Một lần, đụng độ với gã thủ lãnh bến tàu tên Luân Mặt Ngựa. Thọ hạ độc thủ. Đối thủ bị gãy chân nằm dài dưới đất, nhưng vẫn giữ phong độ thủ lãnh, giương mắt trừng trừng nhìn Thọ, có vẻ không phục hoặc hứa hẹn sẽ trả thù. Thọ đứng nhìn một hồi rồi lên tiếng: “Mẹ kiếp! Dứt điểm mầy luôn để trừ hậu hoạ”. Nói xong, Thọ quỳ xuống, giương thẳng cánh tay với thế song chỉ đoạt ngọc châu, dùng 2 ngón tay phóng mạnh vào ổ mắt của Luân Mặt Ngựa. Cặp tròng lòi ra, máu me ướt cả mặt. Thọ lấy tay chụp, ném mạnh xuống đất, rồi dùng chân chà đạp. Thọ dạng chân ra, vạch quần đái vào mặt người bại trận, trước sự chứng kiến của đám đàn em đang mặt mày tái mét, im thin thít, bất động.

Thọ thản nhiên bỏ đi. Và mấy ngày sau trở lại, nghiễm nhiên là thủ lãnh bọn đầu gấu của cảng Hải Phòng.

Khi Nhật đảo chánh Pháp, tàu Nhật cặp bến Hải Phòng. Trước sự hùng mạnh của đạo quân Thiên Hoàng, băng đảng tan rã, phân tán tứ phương.

Chớp lấy cơ hội, Hoàng Thọ xin vào hải quân Nhật, được dạy làm thợ điện.

Ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, tàu Nhật rút lui. Hoàng Thọ thu thập đám đàn em, quay lại nghề cũ, với cái tên mới là Thọ Mạch Lô (Tiếng Pháp Matelot là lính thủy).

Khi Việt Minh cướp chính quyền, Thọ theo đoàn quân Cứu Quốc. Từ đó, trôi giạt vào Nam, làm tay chân của tướng Nguyễn Bình.

4.4. Hung thần của Cao Đài tỉnh Tây Ninh

Cả tỉnh Tây Ninh, ai nghe đến danh Hoàng Thọ cũng đều e dè khiếp sợ. Địa bàn hoạt động của Thọ là hai quận Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng, và mục tiêu là những chức sắc Cao Đài, những người làm việc cho Pháp và những kẻ bị kết tội Việt gian, phản động.

Người chết dưới tay của Hoàng Thọ đếm không xuể. Hành tung của Thọ vô cùng bí ẩn, thoáng hiện, thoáng biến khó lường.

Trong thời loạn lạc, bóng đêm là thế giới của ma quỷ và tội ác. Khi mặt trời vừa tắt, Thọ nương theo khí âm trở về, xuất hiện dưới một bóng dáng oai hùng lẫm liệt. Hông trái với gươm dài, hông phải súng ngắn, trang bị theo cấp chỉ huy của quân đội xứ Phù Tang. Gươm ra khỏi vỏ là phải có máu. Thọ xuất hiện như tử thần, đi đến đâu là có đổ máu đến đó. Giết người trong chớp mắt mà không nháy mắt.

Cắt cổ, chặt đầu, mổ bụng dồn trấu và cho đi mò tôm là sở trường thiện nghệ của Hoàng Thọ và của Việt Minh, trong khi thi hành mệnh lệnh của Nguyễn Bình và Trần Văn Giàu (bí thư xứ ủy Nam Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ)

Khúc sông Vàm Cỏ Đông chảy qua 2 quận Trảng Bàng và Gò Dầu Hạ, là mồ chôn những nạn nhân của Việt Minh và nạn nhân của bọn thực dân Pháp.

Người dân sống hai bên bờ sông, cứ vài ngày thì thấy một “thây ma chết sình” gọi là “chà chổng” nổi lình bình trên mặt nước.

Nhìn vào vết tích của thi thể thì biết ngay thủ phạm là ai, VM hay là Tây sát hại. Tây thì trói thúc ké, đưa ra cầu Vên Vên, bắn xong hất xác xuống sông. Việt Minh thì không phí đạn, cắt cổ hay đập đầu.

Việt Minh đã tấn công vào Tòa Thánh Tây Ninh, lực lượng bảo vệ do Trịnh Minh Thế chỉ huy, bị thất bại, nên một trung đội VM đã hạ sát đàn bà, trẻ em tại các nhà dân cách Tòa Thánh 100m.

4.5. Trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Thọ

Hoàng Thọ còn có biệt tài đánh trận. Nổi tiếng gan lì, từng gây tổn thất lớn lao cho bọn thực dân Pháp. Hoàng Thọ được trung tướng Nguyễn Bình phong chức Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ba lẻ ba (303), thuộc khu 7, miền Đông.

Tiểu xảo phô trương lực lượng

Vào đêm tối trời. Thọ cho quân di chuyển chung quanh làng. Cũng bao nhiêu quân đó mà cứ tiếp tục đi vòng quanh làng từ đầu hôm đến sáng. Từ đầu trên xóm dưới, chó sủa suốt đêm, kết hợp với tuyên truyền, dân chúng tin rằng “Đạo quân ông Thọ” lên tới hàng ngàn người.

Trận đánh cuối cùng

Hoàng Thọ mê chuyện Tàu, khoái nhân vật Hạng Võ, chủ trương quân cần tinh, không cần đông, hành quân thần tốc, dàn quân theo thế tử chiến, phía trước là địch quân, phía sau là chướng ngại vật không còn đường rút lui, như sông ngòi chẳng hạn, buộc binh sĩ chỉ có con đường là “cầm gươm ôm súng xông tới”, tìm chiến thắng và sự sống trong cái chết.

Tiểu đoàn ba lẻ ba thường phục kích các đoàn công voa tiếp tế của Pháp theo chiến thuật như thế, và đã đạt được thắng lợi, thu hoạch được nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng. Nhiều lần lập được công lớn. Nguyễn Bình hài lòng và thương mến.

Trong đời cầm binh, Thọ chỉ thất bại có một lần duy nhất, và cũng là báo hiệu chấm dứt cuộc đời của Hoàng Thọ.

Theo chiến thuật cũ, Thọ đưa quân về Vên Vên Trà Võ, phục kích đoàn xe tiếp tế của Pháp.

Nửa đêm, quân của tiểu đoàn ba lẻ ba đào hố cá nhân, ngụy trang độn thổ. Phía sau là sông Vàm Cỏ Đông, phía trước, bên kia con lộ là rừng cao su bạt ngàn, chạy về tới Cầu Khởi, tiếp giáp với chiến khu Bời Lời.

Lúc 10 giờ sáng. Ba chiếc ôtô blindé (xe bọc sắt) mở đường vừa qua khỏi, thì đoàn công voa trờ tới. Thọ chờ cho cả đoàn xe lọt trọn vào ổ phục kích, liền nổ súng khai hỏa. Quân lính từ hố cá nhân tràn lên, giáo mác, súng mút cà tông (Mousqueton: súng trường, còn gọi là “quảnh tầm sào”, vì dài như cây sào) xung phong ào ạt, khí thế mãnh liệt như chẽ tre. Nhiều xe bị cháy, nhiều chiếc lật xuống bên kia lề đường. Quân tiểu đoàn 303 làm chủ tình thế.

Bỗng nhiên, từ trong rừng cao su trước mặt, bọn lính Lê Dương xuất hiện, tấn công mãnh liệt, vũ khí tự động như mi trai dết, tôm song (Thompson), đã đè bẹp giáo mác và “quảnh tầm sào” bắn từng phát một với hộp đạn 5 viên.

Tiểu đoàn Hoàng Thọ thất thế, không có đường rút lui, mà phía trước là hoả lực mạnh mẽ của Lê Dương, nên phải đánh cận chiến. Cảnh hỗn loạn xảy ra. Đội hình tan rã, hệ thống chỉ huy không còn, mạnh ai nấy đánh và tìm đường thoát thân. Tiếng la hét, súng liên thanh nổ dòn, những cây thịt ngã xuống. Trong cảnh hỗn loạn, không ai thấy Hoàng Thọ đâu nữa.

Mưu mô, xảo trí và nhanh nhẹn như con sóc, không ai biết Hoàng Thọ thoát thân bằng cách nào. Chuồn về mật khu Bời Lời, kiểm điểm quân số, thì dưới tay Hoàng Thọ chỉ còn lại hơn 30 mạng, và gần 120 bỏ xác tại chiến trường.

“Thói quen trong chiến thuật” đại kỵ đối với người cầm binh, không biết Hoàng Thọ có hiểu ra cái lý lẽ đó không? Chỉ có một bài bản, xử dụng tới lui, xào qua, nấu lại, thì “đi đêm có ngày gặp ma”.

4.6. Hoàng Thọ giết đảng viên Năm Chiếu

Sau thất bại chua cay, Hoàng Thọ nghi ngờ có gián điệp nằm vùng làm nội tuyến. Người mà Hoàng Thọ chiếu tướng là Lê Minh Chiếu, tự Năm Chiếu.

Năm Chiếu là tay chân thân tín của Nguyễn Bình hoạt động nội thành, thường ra vào mật khu để báo cáo và nhận chỉ thị.

Hoàng Thọ cho người phục kích bắt Năm Chiếu trên đường trở về thành, đem đến cái lều hoang giữa rẫy bắp ở ven rừng.

Thọ mình trần, ngồi trên chõng tre dõng dạc hỏi tội Năm Chiếu. Năm Chiếu mặc đồ đen, khăn rằn quấn cổ, mặt không hể đổi sắc:

- Loạn rồi! ông biết tôi là ai không mà dám nói thế?
- Mầy là thằng điềm chỉ cho Tây.
- Ông không đủ tư cách để nói câu đó! Năm Chiếu cười mỉa.

- Tao đập đầu mầy như đập một con chó phản bội, Thọ gầm lên. Nói xong, Thọ ra lệnh trói Năm Chiếu lại và dẫn đi.

Năm Chiếu quay lại nói: “Anh em có mặt ở đây xin báo cáo việc nầy lên đồng chí Nguyễn Bình”. Hoàng Thọ xô Năm Chiếu chúi nhủi về phía trước và nói: “Nguyễn Bình không cứu nổi mầy đâu”. Thọ dẫn Năm Chiếu đến cái giếng lạn ven rừng, đưa khúc gỗ đập mạnh vào ót và đạp xác xuống giếng.

Khi Hoàng Thọ trở lại lều, có người nói: “Năm Chiếu là đảng viên đó”. Thọ vung tay bất cần: “Đảng cái con buồi tao!”

Ít lâu sau đó, Hoàng Thọ được gọi về gặp Nguyễn Bình.

- Sao giết Năm Chiếu? Nguyễn Bình hỏi.
- Hắn là gián điệp cho Tây.
- Hồ đồ! Năm Chiếu là người của Đảng, chú dám tự tiện ra tay, không cần chỉ thị cấp trên. Chú đương là đối tượng được đề nghị kết nạp, nhưng vô kỷ luật không còn xứng đáng nữa!.

Thọ quen thói du côn, coi trời bằng vung, không biết sợ là gì: “Thọ nầy đi kháng chiến vì dân vì nước, không cần Đảng. Đảng chỉ là bọn bè phái bênh vực cho nhau”. Lời vừa ra khỏi miệng, Thọ biết đã lỡ lời.

Nguyễn Bình cười nhạt, đuổi Thọ ra ngoài chờ chỉ thị.

Hoàng Thọ được chỉ thị ra Trung Ương nhận công tác mới. Con cáo tinh ranh biết được đường ra Bắc là đường không có điểm đến, đó là con đường chỉ có cửa tử, mà Thọ cũng đã nhiều lần đẩy người khác trên con đường đó vào cõi chết.

Nhớ lại vụ Kiều Đắc Thắng, một hung thần đã từng thi hành những bản án “Việt Gian”, Phản Động” mà Trần Văn Giàu và Nguyễn Bình kết tội. Kiều Đắc Thắng đã ám sát ông Phan Văn Hùm tại quê của ông là Bún, Lái Thiêu vào tháng 10 năm 1945. Về sau, thấy Thắng quyền hành quá lớn, muốn vượt qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn) nên Nguyễn Bình đã gởi Kiều Đức Thắng “ra gặp bác Hồ”. Kiều Đắc Thắng được đổi tên là Vũ Tùy Nhàn, rồi người bị giết trên đường đi là Vũ Tùy Nhàn nên không gây xôn xao trong ba quân.

Thọ rời kháng chiến, đi biệt tích, xem như cái tên Hoàng Thọ không còn tồn tại trên đời nầy nữa.

Một năm sau.

Có một người khách từ miền Bắc đến Mỹ An. Khách nói năng hoạt bác, sành đời. Khách mở một quán lá bên đường, ven bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, làm kế sinh nhai. Người dân Đồng Tháp Mười gọi chủ quán là ông Bắc Kỳ.

Một năm sau nữa.

Có một người khách lỡ đường, ghé quán ông Bắc Kỳ xin trọ qua đêm. Trời chiều. Con kinh chạy dài hai bên bờ dừa nước mênh mông vắng lặng. Chủ khách nói chuyện tâm đắc bên ly rượu nồng.

Khách nhận xét chủ quán, ông có phong cách của người chỉ huy quân sự, ăn nói lớp lang, rành mạch, dứt khoát rõ ràng, đâu ra đó.

Ông Bắc Kỳ cười, đáp: “Lấy hình tướng để xét thực tướng là cái sai nhất của người đời”.

Ông khách đáp: “Ở đời, thực giả lẫn lộn nhau, qua cái giả để nhận ra cái thật, qua hiện tượng để nhận ra bản chất”.

Nửa đêm hôm ấy, ông Bắc Kỳ chủ quán bị bắt đem đến kinh 12, Đồng Tháp Mười. Ông khách nửa đùa nửa thật: “Năm Chiếu ở Suối vàng gởi lời thăm Hoàng Thọ và nhắn xuống dưới chơi.”

- Mầy là ai? Ông Bắc Kỳ hỏi.
- Tôi là bạn của Năm Chiến, được chỉ thị của đồng chí Nguyễn Bình đi tìm Hoàng Thọ bấy lâu nay.

Biết cuộc đời chấm dứt, Hoàng Thọ lớn tiếng chửi Đảng, tàu xà lúp chở không hết.

Thọ bị đập đầu ngã xuống đất, cơ thể co giật như thằn lằn đứt đuôi, địt tèn tẹt, cứt già cứt non bắn ra ướt cả đáy quần.

Ông khách cho lịnh phá nát khuôn mặt Hoàng Thọ để không còn ai nhận ra được danh tánh, và Đảng đã đứng ngoài việc thanh toán cựu công thần nầy.

Chuyến đi nầy thật sự không còn Hoàng Thọ trên đời nầy nữa. Nợ máu phải trả bằng máu.

5* Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bình

5.1. Tóm tắt tiểu sử

Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1906 tại xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Năm 11 tuổi về ở với người anh cả làm công chức ở Hải Phòng. Năm 17 tuổi thôi học năm thứ hai trung học, sau đó làm thủy thủ trên chiếc tàu Pélican của hảng Messagenés Maritimes chạy tuyến Sài Gòn-Marseille (Pháp). Sau đó, bỏ tàu, về sống ở Khánh Hội.

5.2. Kết nghĩa anh em với tướng cướp Sơn Vương

Phương Thảo có máu giang hồ, thích phiêu lưu mạo hiểm nên kết nghĩa anh em với nhà văn-tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Tham gia vụ cướp tiền của tên Tây René Gaillard, phó giám đốc đồn điền cao su Mimot, Cam Bốt, giáp ranh với Tây Ninh, thu được số tiền 50 ngàn đồng. Phương Thảo mở tiệm giặt ủi Thảo Sơn ở ĐaKao. Sau vụ cướp, Sơn Vương bị đi tù Côn Đảo.

5.2. Nguyễn Phương Thảo gia nhập Việt Nam Quốc Dân đảng

Phương Thảo kết bạn với nhà báo Trần Huy Liệu và được Liệu móc nối vào Việt Nam Quốc Dân đảng. Sau vụ khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái, VNQDĐ bị phân tán. Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo bị bắt, án tù 5 năm, đày đi Côn Đảo. Trong tù, Trần Huy Liệu được tù CS móc nối nên có khuynh hướng CS. Vì thế, tù VNQDĐ lên án tử hình và cắt cổ, nhưng Trần Huy Liệu thoát chết. Phương Thảo bị móc một mắt bằng bàn chải đánh răng mài nhọn. “Bị mất con mắt trái bởi đồng đảng, nhưng Phương Thảo như sáng ra, nhận thấy việc tham gia VNQDĐ là sai lầm, chủ nghĩa tam dân chỉ là lý thuyết suông”.

Từ đó, kinh nghiệm sống dựa trên nguyên tắc “Đánh lưỡi 7 lần trước khi nói”, “động não 7 lần trước khi quyết định tham gia đảng chính trị”. Vì thế, sau khi mãn tù về Hải Phòng, Phương Thảo đã từ chối đề nghị của Trần Huy Liệu, quyết không vào đảng Cộng Sản.

5.3. Nguyễn Bình lập căn cứ chống Pháp

Năm 1936, khi mãn hạn tù, bị trục xuất về nguyên quán Hải Phòng, Phương Thảo tuyên bố ly khai VNQDĐ, đổi tên thành Nguyễn Bình và cũng quyết định không vào đảng CSVN. Nguyễn Bình lập căn cứ Đông Triều chống Pháp, uy thế gia tăng. Theo Việt Minh sau cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 12 năm 1945, Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam Bộ.

Năm 1948 được kết nạp vào đảng CSVN. Ngày 29-9-1951, bị Tây phục kích giết chết trên đường ra Việt Bắc.

6* Những trang nhật ký cuối cùng

Ngày 26-7-1951, khi được lịnh ra Bắc, Nguyễn Bình cùng 22 nhân viên khởi hành từ Tân Uyên qua Cam Bốt để ra Bắc. Nhật ký của Nguyễn Bình viết:

“Đi từ Sốcky đến Suối Đá, rồi từ đó đi Tà Nốt, tôi phải nằm trên xe bò vì bịnh ngày càng nặng. Bác sĩ ở Cam Bốt cho biết, phải tạm nghỉ 2 tháng nếu không muốn ngã quỵ trên đường đi. Tôi nghĩ, phải nghỉ 2 tháng, rồi đến 3 tháng mùa mưa nữa mới tới TW ở Việt Bắc thì không thể được, vì một năm không hoạt động trong tình hình kháng chiến ác liệt, nên tôi quyết định ra đi. 80% đoàn bị sốt rét, 4 chiếc xe bò chở không hết. Gạo sắp hết. Giữa đường xe bò bị gãy trục là một điềm xấu.

Ngày 21-9-1951, tất cả đều bịnh, tôi phải vào bếp nấu cơm cho cả đoàn. Hai trinh sát viên đi liên lạc có thể đã bị bắt cho nên các đồng chí ở Nackor đã không hay biết gì đến chúng tôi.

Ngày 23 tháng 9, tôi quyết định thay đổi lộ trình để tránh gặp địch. Ngày 24, không còn gì ăn. Ngày 25, 26, 27 anh em câu được vài con cá đem nấu canh me.

Ngày 29-9-1951, sáng ra, cho người đi mua khoai sắn nhưng không có.”

Trưa ngày 29-9-1951, trung tướng Nguyễn Bình bị phục kích và hy sinh. Nhật ký chấm dứt.

8* Tại sao Cộng Sản giết Nguyễn Bình

Đây là một âm mưu giết hại “công thần” cho nên được xếp vào loại tuyệt mật.

8.1. Phái đoàn Nam Bộ ra Bắc báo cáo tình hình

Năm 1948, một phái đoàn Nam Bộ do Trần Văn Trà hướng dẫn ra Bắc báo cáo tình hình kháng chiến Nam Bộ. Nguyễn Bình cử người thân tín là Lương Văn Nho tháp tùng, và căn dặn, sau khi báo cáo phải xin phép về miền Nam liền. Thế nhưng, khi Nho xin phép, thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu ở lại làm bản “đánh giá công tác vận động giang hồ tham gia kháng chiến”. Bản đánh giá được xem như bằng chứng mà Nguyễn Bình đã xử dụng đám lưu manh, đầu trộm đuôi cướp vào cuộc kháng chiến và đã phá hoại uy tín của Đảng, tạo lý do khai trừ.

Sau khi viết xong bản đánh giá, Lương Văn Nho cũng không được về Nam Bộ, mà được cử đi học ở Liên Xô.

8.2. Thành lập lực lượng chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ

Thay ngựa giữa dòng

Sau khi nghe Trần Văn Trà báo cáo tình hình, thì đảng thành lập ban chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ do Lê Đức Thọ lãnh đạo với sự tham dự của tướng Lê Hiếu Mai, Minh Đạo và đầy đủ thành phần các ban bệ như tình báo, chính trị, các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ… Lực lượng chỉ đạo nầy vào Nam thay thế Nguyễn Bình.

Đồng thời, Nguyễn Bình được triệu hồi ra Bắc. Nói cụ thể là loại trừ Nguyễn Bình, là người đã hết vai trò xử dụng. Thay ngựa giữa dòng.

8.3. Giả thuyết về những biện pháp loại trừ Nguyễn Bình

- Có ý kiến cho rằng Hồ Chí Minh chỉ muốn đưa Nguyễn Bình ra Bắc còn sống, nghĩa là không chận giết dọc đường.

- Cũng có ý kiến cho rằng Trung Ương đã mật báo cho Tây biết lộ trình của Nguyễn Bình để mượn dao giết người, ném đá giấu tay.

- Một ý kiến khác cho rằng Mao Trạch Đông yêu cầu Hồ Chí Minh cải tổ đảng, loại trừ những thành phần trước kia là đảng viên các đảng chính trị khác, như Nguyễn Bình đã từng là đảng viên VNQDĐ, lý do nầy không vững, vì Trần Huy Liệu trước kia cũng là đảng viên VNQDĐ, nhưng không bị khai trừ.

Nói chung, Nguyễn Bình đã chết dưới tay của đảng CSVN.
Nguyễn Bình bị thủ tiêu trong nội bộ rồi cũng lập mộ bia để đánh lận con đen
9* Kết
Nguyễn Bình đã giết đồng đội của mình là Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Kiều Đắc Thắng và tới phiên hắn, cũng bị các đồng chí Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp diệt trừ. Đó là điển hình của tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình.

Và đó cũng là truyền thống của các đảng Cộng Sản thế giới. Đứng đầu là Staline của đảng Cộng Sản ở Nga. Người mà Tố Hữu của đảng Cộng Sản VN ca ngợi và noi gương:

“Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xích Ta Lin bất diệt!” (Tố Hữu)

Chỉ trong 2 năm 1937 và 1938, Staline đã cho xử bắn 1,548,367 người, tính ra trung bình có 1,000 người bị giết mỗi ngày.

14 trong 15 đồng chí Bolshevik (trừ Staline ra) bị xử bắn và thủ tiêu.

3 trong 5 nguyên soái bị tử hình. 3 trong 5 Tổng tư lịnh QĐ bị tử hình. 10 Phó tư lịnh bị tử hình. 57 trong 85 tư lịnh quân đoàn bị tử hình. 110 trong 195 tư lịnh sư đoàn bị tử hình.

Ở Trung Cộng, Mao Trạch Đông đã giết những đồng chí thân cận nhất của hắn, như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu…

Cộng Sản VN thì nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Vụ 7 tướng lãnh trong đó có tướng Đào Trọng Lịch bị chết tai nạn trong chuyến bay công tác sang Lào. Đoàn cán bộ cao cấp quân đội chết nạn trong chuyến bay thăm đảo Sơn Trà. Cái chết đột tử của 2 đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Hoàng Văn Hoan phải đào tẩu mới sống sót.

Khi gọi nhau bằng “đồng chí” trong các câu chuyện đối đáp nhau thì báo hiệu là sẽ có vấn đề sanh tử, và đồng chí đi liền với đồng rận. Chí và rận cùng loại như nhau.
Trúc Giang
Minnesota ngày 13-7-2012

Người bị cầm tù, nhạc cũng bị cầm tù



Đúng vậy! Nhạc sĩ Việt Khang ở trong nước, chỉ với hai bài nhạc Việt Nam Tôi Đâu? và Anh là Ai? đã bị nhà cầm quyền CSVN bắt bỏ tù, bỏ tù người và bỏ tù cả nhạc. Hai bài hát này đã trở thành một thứ “quốc cấm”, không ai được hát, không ai được lưu truyền.

Thực chất hai bài hát đó là gì? Lời nhạc không mang tính hằn học, nhưng mang một sức mạnh truyền cảm thức tỉnh lòng người, đánh động tiềm thức sâu thẳm của mọi người, tạo nên sự phẫn nộ trong lòng người, thôi thúc họ phải suy nghĩ về số phận nghiệt ngã của quê hương dân tộc.

Nghe hai bài hát này ai cũng mang những uất hận nghẹn ngào trước cảnh Trung Quốc xâm lược vùng biển Việt nam, ai cũng đau xót trước cảnh kẻ quyền thế thì giàu sang trên sự lường gạt, trong khi đa số người dân thật thà thì sống nghèo nàn, khổ cực, đoạ đày và bị hiếp đáp. Người dân trong nước khi nghe hai bài hát này như nghe tiếng lòng mình đang thổn thức còn người sống ở nước ngoài khi nghe hai bài hát này thì bao nao nức dồn dập hướng lòng về quê hương đang đau khổ và lâm nguy.

Hai bản nhạc đó đã làm cho chế độ độc tài CSVN run sợ và họ đã bắt Việt Khang. Họ bỏ tù người và bỏ tù cả nhạc. Ở trong nước không ai dám công khai hát hai bài hát này.

Nói đến nhạc cấm lưu hành tôi mới nhớ đến số phận bản nhạc Tàu đêm năm cũ xảy ra cách đây hai tuần. Bài hát mà cứ như là người. Bị cầm tù 37 năm nay, cuối năm vừa rồi bài hát được nhà cầm quyền ký giấy phóng thích, mới hít thở không khí tự do được chừng 6 tháng thì lại bị lôi cổ vô tù nằm trở lại. Số là Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) ngày 29 tháng 11 năm 2011 đã ký giấy phép đồng ý cho phổ biến bài hát trên của Trúc Phương cùng với bài Hoa nở về đêm của Trần Thiện Thanh, nhưng ngày 26 tháng 6 vừa qua cũng chính Cục NTBD lại ký quyết định thu hồi sản phẩm có hai bài hát do chính mình cấp phép. Chuyện bắt nguồn từ việc ca sĩ Vi Thảo ở trong nước hợp đồng với Bến Thành Audio để sản xuất album nhạc lấy tên bài hát Tàu đêm năm cũ làm chủ đề. Bến Thành Audio đứng tên liên kết với Nhà xuất bản Âm nhạc để xuất bản. Bến Thành Audio đã làm đúng thủ tục, làm đơn xin phép Cục NTBD để ca sĩ Vi Thảo được hát hai ca khúc “ngày xưa” mà nhiều người miền Nam rất yêu thương: Tàu đêm năm cũ và Hoa nở về đêm.

Phát hành chưa đầy một tháng, album Tàu đêm năm cũ đã bị Cục NTBD gửi quyết định yêu cầu thu hồi nhưng không đưa ra lý do xác đáng. Cục NTBD chỉ cho biết “chưa cho phép phổ biến bài hát Tàu đêm năm cũ do tác giả Trúc Phương sáng tác”. Vấn đề cần đặt ra ở đây là tại sao Cục NTBD đã cấp phép rồi lại thu hồi?

Cục NTBD cho biết thêm lý do thu hồi là: “có một số ca từ không phù hợp trong ca khúc Tàu đêm năm cũ”. Như thế nào là “ca từ chưa phù hợp”? Chúng ta hãy nghe qua lời ca của bản nhạc này. Lời nhạc chính thức của Trúc Phương như sau:

Trời đêm dần tàn tôi đến sân ga

Đưa tiễn người trai lính về ngàn

Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay

Gió khuya ôi lạnh sao, ướt nhẹ đôi tà áo

Tàu xa dần rồi, thôi, tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời

Trở gót bâng khuâng, tôi hỏi lòng đêm nay buồn không,

chuyến xe đêm lạnh không

(Gió khuya ôi lạnh không)?

Để người yêu vừa lòng

Đêm nay lặng nghe gió lùa qua phố vắng,

Trăng rằm về xa xăm

Trong giây phút này, tôi mơ ước sao nằm trọn vào tay nhau

Ngày tháng đợi chờ, tôi đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?

Trắng đêm tôi chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về

Bìa bản nhạc Tàu đêm Năm Cũ của Trúc Phương

Hình bóng người “Chinh phu trong lòng người cô phụ” là một hình ảnh đẹp trong trái tim muôn người. Lời ca cũng không nhất thiết mang hình ảnh của người lính VNCH mà còn phảng phất bóng dáng “nón cối, dép râu” của bộ đội “ra đi vì đời”. Nhưng dầu sao thì cũng không nên vì định kiến nhỏ mọn “bên này hay bên kia” mà khước từ sự hiện diện vô tư của nó.

Ngày xưa ở miền Nam cũng như ngày nay ở hải ngoại, trong các ca khúc nhạc Việt, chúng ta vẫn không hề có chút kỳ thị nào những bài hát lời ca mang tính nhân bản, cho dù là xuất phát từ miền Nam hay miền Bắc.

Truớc 1975, có những ca khúc và những bài thơ có nguồn gốc từ miền Bắc đã được lưu hành rộng rãi tại miền Nam, thậm chí được các nhạc sĩ trong Nam phổ nhạc. Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan được Phạm Duy phổ nhạc thành “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” đã trở nên nổi tiếng trong Nam, đã bị cấm trên toàn miền Bắc. Bài thơ “Các Anh Đi” là của một thi sĩ miền Bắc được Văn Phụng phổ nhạc. Ca khúc “Đợi Anh Về Em Nhé” thơ của Konstantin Simonov, lời dịch của Tố Hữu, do Văn Chung phổ nhạc cũng được ban hợp ca Thăng Long trình diễn nhiều năm. Thậm chí, ca khúc “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn cũng được các ca sĩ Sài Gòn hát rất nhiều. Trần Hoàn là ai? Sau 75, Trần Hoàn là trưởng Ty Thông tin Bình Trị Thiên và ông đã làm đến bộ trưởng Bộ Văn Hoá Thông Tin, cơ quan có quyền ra lệnh cấm nhạc.

Suy cho cùng, chuyện lời ca tiếng nhạc của một bài hát, chuyện vặt vãnh trong khi đất nước đã được “hòa bình” hơn 1/3 thế kỷ rồi mà họ vẫn xoi mói một cách hèn mọn như vậy thì nói gì đến chuyện trọng đại, lớn lao là hòa hợp, hòa giải dân tộc mà họ thường rêu rao? Chỉ có bịp bợm người dân trong nước và lừa gạt công luận thế giới mà thôi!

Suy cho cùng, không ai cầm tù một bài hát. Tàu đêm năm cũ là một dẫn chứng cụ thể cho điều đó với toàn thể đồng bào trong và ngoài nước. Hành vi thiếu văn hóa đó nói lên bản chất hèn mọn chắc chắn chúng ta không tìm thấy được ở bất cứ mộtquốc gia văn minh nào trên thế giới hiện nay, trừ chế độ CSVN.

Chuyện Tàu đêm năm cũ cũng gợi cho chúng ta nhớ lại nhiều vụ cấp phép chồng chéo và bất nhất gần đây giữa các cơ quan cho phổ biến các ca khúc trước 75, chuyện cấp phép cho các chương trình nhạc của nghệ sĩ trong nước, của nghệ sĩ hải ngoại về trình diễn và cả nghệ sĩ quốc tế nhưng rồi bỗng bị thu hồi trước giờ diễn.

Ai cũng thừa biết “văn hóa nghệ thuật là một mặt trận” và là một lĩnh vực rất nhạy cảm của nhà cầm quyền CSVN. Nhà cầm quyền CSVN quy định, việc trình diễn và phát hành các tác phẩm âm nhạc trước 1975 cũng như của hải ngoại ngày nay phải làm thủ tục xin phép Cục hoặc Sở từng bài hát một.

Chúng ta hãy đi trở lại con đường cầm tù 37 năm nhạc vàng miền Nam của nhà cầm quyền CSVN.

Mãi cho đến khi bắt đầu thời kỳ “Đổi mới” thì các ca khúc nhạc vàng miền Nam mới dần dà được nhà cầm quyền CSVN xét lại và cho phổ biến một cách rất hạn chế tuỳ theo tác giả và tác phẩm. Năm 1986, lần đầu tiên nhà cầm quyền CSVN cho công bố danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của miền Nam trước kia được phép công khai trình diễn. 11 năm sau ngày “giải phóng” người miền Nam, 36 ca khúc trong hàng ngàn ca khúc của người miền Nam mới được “giải phóng”. Để tránh né nhạc vàng, Bộ Văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại “Đổi Mới” nhưng không thành. Số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở miền Nam mà cả ở miền Bắc, thậm chí nhạc vàng còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập niên 1980. Nhà cầm quyền tỏ ra bất lực và thất bại trước phong trào nhạc vàng sống lại.

Theo một bản tin đăng trên báo Thanh Niên ở trong nước thì tính đến năm 2008, con số ca khúc được cấp phép cho phổ biến có khoảng 1000 bài. Tờ Thanh Niên cho biết năm 1989, 49 bài hát sáng tác trước 1945 được cho phép trình diễn. Đến năm 1991, thêm 66 ca khúc trước 1975 được cấp phép. Một năm sau, thêm 66 ca khúc nữa, rồi thêm 90 ca khúc nữa. Tính cho đến nay, sau nhiều đợt cho phép nhỏ giọt, con số bài hát trước 1975 được cho phép đã nhiều hơn 1000 bài.

Vào năm 2008, Cục NTBD đã tuyên bố danh sách ca khúc được phổ biến công khai trên trang web của cục nhưng trên thực tế, đến tháng 1 năm 2012, việc làm này mới được thực hiện. Dù vậy, số lượng ca khúc đưa lên cũng mới chỉ có 319 bài. Cục NTBD cho biết danh sách này còn nữa nhưng suốt từ tháng 1 đến nay, vẫn chưa thấy có thêm bài hát cho phép nào được cập nhật.

Không rõ vì lý do gì mà Cục NTBD chưa chịu công khai rộng rãi danh mục ca khúc đã được phép phổ biến. Gần đây, ông Phạm Đình Thắng, Phó cục trưởng Cục NTBD khẳng định quan điểm của Cục NTBD là “tất cả đều được công khai, không có gì phải giấu”. Ông cho biết những năm trước, danh sách ca khúc vẫn được gởi cho phòng chuyên môn của các sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhưng chắc vì lý do nào đó nên đã thất lạc!!!??? Khi được hỏi tại sao đến thời điểm này, danh mục ca khúc được phổ biến đăng tải trên trang web của cục cũng chỉ có 319 bài thì ông Thắng cho biết việc này đã giao cho Phòng Tổ chức Biểu diễn, chắc phòng đang cập nhật!!!???

Bài báo cũng nói rằng, có khoảng trên 10 ngàn bài hát được sáng tác trước 1975 trở ngược về thời điểm 1945. Tính như vậy thì, nói nôm na, con số được cấp giấy phép trình diễn chỉ vào khoảng 10 phần trăm trên tổng số 10 ngàn bài. Nói một cách khác, cứ 10 bài được sáng tác thì hết 9 bài còn bị giam giữ, cầm tù, chưa được phóng thích.

Ngày nay, không ít ca sĩ trong nước có cơ hội ra nước ngoài thoải mái, tự do, trình bày những bài hát “xưa cũ” được yêu thích nhưng bị cấm đoán không cho trình diễn ở trong nước. Trong khi đó thì hiện nay chúng ta cũng có nhiều ca sĩ, nhạc sĩ và nghệ sĩ từng bỏ xứ đi tìm tự do nay về nước trình diễn, có người sống hẳn ở Việt Nam. Ai sao chưa nói tới, trường hợp Phạm Duy thì thật là chướng tai gai mắt!

Tưởng cũng cần nhắc lại, từ những năm 1950, Phạm Duy đã tỏ ra bất phục tùng chính quyền cách mạng, rồi ông rời bỏ cách mạng để xuôi Nam. Từ đó, nhạc của ông bị liệt vào hạng phản động và tên tuổi của ông bị đem ra phê phán. Thời kỳ ở miền Nam và một thời gian dài sau 1975, ông có quan điểm chống Cộng mạnh mẽ thể hiện qua nhiều sáng tác, điều đó khiến ông bị phe CS kết án gắt gao. Tại Hoa kỳ, thời gian đầu ông sáng tác một số ca khúc nói lên nỗi buồn tha hương, cũng như đả phá chế độ CS tại Việt Nam. Do vậy mà trong suốt 30 năm từ 1975 đến 2005, Phạm Duy bị nhà cầm quyền CSVN cấm đoán và những ca khúc của ông bị liệt vào loại nhạc quốc cấm.

Dầu sao thì Phạm Duy cũng là một “tài năng âm nhạc” của Việt Nam. Ở hải ngoại, nhạc của ông được hát tự do, chẳng ai cấm, ông cũng chẳng cần phải xin phép ai. Ấy vậy mà ở vào cái tuổi cửu thập cổ lai hy, ông lại mò về Việt Nam “Xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu cho khó thương”, xin xỏ, quỵ luỵ một chế độ mà ông đã từng từ bỏ, chầu chực họ nhỏ giọt phóng thích những đứa con tinh thần của ông. Tính đến nay thì ông cũng chỉ mới giải vây được 118 ca khúc trong tổng số cả ngàn bài hát của ông bị cầm tù ba mươi mấy năm nay.

Tuổi đời của tôi và Phạm Duy cách nhau xa chừng. Tôi không dám nặng lời với Phạm Duy vì không biết nếu mình được may mắn sống dai như ông, về già, cuối đời, mình có làm những chuyện ngu xuẩn như vậy không? Sợ nói trước bước không qua. Tôi chỉ có thể nói: ngu đến thế là cùng!!!

Trần Việt Trình

Ngày 11 tháng 7 năm 2012
_________________________________________________________________________________________________

Biểu tình 15.07: ĐCSVN Rất Sợ Đau Lòng Trung Cộng

Hai bài thơ Đường luật của Người Thọ Xuân

Đối lập và Thù địch
Đối lập là thi nhau tiến xa
Chứ còn thù địch giết không tha.
Phía mình thế lực… thù luôn bạn,
Chúng nó âm mưu… địch cũng ta.
Lạ quá hùm beo đâu đẻ thế?
Hay là rắn rít tự lòng ra?
Mới hay nơi đến trăm năm lệch
Khi bước đầu sai một sát na.
12-7
 ***
Biểu tình
Dễ chết như chơi gậy đập đầu,
Hùng tâm tráng chí sợ gì đâu.
Lời hô tiền pháo nào đâu khác,
Bước tiến hậu binh cũng tựa nhau.
Chinh chiến dù sao thù phía trước,
Biểu tình có cả giặc đằng sau.
Xưa nay lịch sử sang trang mới
Hào khí toàn dân vẫn nhiệm màu.


N.T.X.

------
Đại SQ Trung quốc

ĐCSVN rất sợ biểu tình yêu nước. Đó là sự thật!
Xin các đồng chí đừng sợ hãi biểu tình yêu nước khiến cho bất loạn tâm trí mà có những hành động dại dột và phát biểu mê sảng như ông Nguyễn Thế Thảo làm đau lòng, tổn thương dân lành. Chúng ta hãy xem đó là những tiếng chuông vang dền của dân tộc Việt góp phần thức tỉnh các đồng chí lãnh đạo sáng suốt thấu triệt dã tâm của giặc Tàu nhằm tìm ra đối sách quan trọng trong những lúc nước sôi lửa bỏng như thế này. Vì muốn hay không muốn, thích hay không thích trong những lúc này các đ/c đang lèo lái con tàu Việt Nam, đang cầm nắm vận mệnh của dân tộc. Xin các đ/c đừng đẩy 90 triệu dân trong đó có chính người thân, gia đình, dòng họ các đ/c xuống bờ vực thẳm, vào vòng cương tỏa của Tàu Khựa!...

*

Tôi viết những dòng này trong tâm trạng rất tức cười vì một vài xử sự gần đây của chính quyền các cấp liên quan đến biểu tình yêu nước trong tháng 7/2012, biểu tình của nông dân bị cướp đất…

Ngày hôm nay thứ bảy 14/7/2012, chính quyền địa phương phường Yên Hòa quận Cầu Giấy Hà Nội bất ngờ cưỡng bách giáo dục luật sư Lê Quốc Quân tại địa phương, đồng loạt với việc các báo chí chính thống dồn dập đưa tin về việc côn đồ hành hung nông dân huyện Văn Giang – Hưng Yên. Nhìn qua có vẻ chẳng có liên quan gì đến nhau, nhưng bản chất mục đích của chính quyền nhằm góp phần “rút củi dưới đáy nồi” tinh thần yêu nước của nhân dân đang sục sôi. Một mặt họ cho xả su páp đối với số đông dân thường, mặt khác họ tìm cách dằn mặt những nhân vật có tên tuổi như cụ bà Lê Hiền Đức, TS Nguyễn Xuân Diện, LS Lê Quốc Quân… qua những sách nhiễu vụn vặt. Còn ngày hôm qua, nhân cơ hội chủ trì cuộc họp của HĐNDTP Hà Nội, ông chủ tịch Nguyễn Thế Thảo đã có phát biểu hết sức xuyên tạc và phản động về biểu tình yêu nước nhằm gây hoang mang và chia rẽ dư luận nhân dân thủ đô.


Đó là ở Hà Nội, còn ở Sài Gòn thì sự trấn áp còn khốc liệt, kinh khủng hơn. Đó là lý do vì sao mà năm ngoái, tại Sài Gòn chỉ diễn ra 2 cuộc biểu tình trong khi ở Hà Nội còn kéo dài đến cuộc thứ 11 và trong tháng 7/2012 chỉ diễn ra được một lần duy nhất thì bị dập tắt. Bản thân tôi hôm 1/7/2012 có mặt Sài Gòn cũng được cảm nhận ít nhiều về sự khốc liệt này, đi đâu cũng có 3-4 người đeo bám như hình với bóng thậm chí vào nhà vệ sinh công cộng ở nhà ga cũng có 1 kẻ lạ mặt khoanh tay đứng trước cửa dập dòm. Hôm qua, tôi đảo qua blog danlambao và đọc thấy bản tin “An ninh côn đồ hành hung các blogger” về việc hành hung hết sức thô bỉ, ngang nhiên của thế lực xấu (CA !?) đối với những người đã từng đi biểu tình yêu nước.

Đó chỉ là một vài sự kiện nóng hổi dồn dập gần đây, ắt hẳn trong quá khứ rất nhiều người đã phải chịu đựng sách nhiễu, đe dọa, khủng bố tinh thần-sức khỏe thậm chí là lao tù mà mục tiêu tối hậu của thế lực xấu nhằm dập tắt những sự phản khảng trước những áp bức bất công, cổ súy cho những cải cách xã hội, vang lên tiếng chuông cảnh tỉnh thống thiết trước họa ngoại xâm…

Xin hỏi các đ/c lãnh đạo ĐCSVN sợ cái gì?

Sợ theo Tàu thì còn Đảng nhưng bị lệ thuộc => dẫn đến một thời kỳ Bắc thuộc mới?
Sợ theo Mỹ thì mất Đảng nhưng còn nước?

Nhưng xin thưa với các đ/c rằng: theo Tàu thì vừa mất đảng mà cũng vừa mất nước. Bởi vì khi mất nước thì nhân dân sẽ căm hận ĐCSVN bất tài vô dụng để mất đảo, mất biển khi đó nhân dân tự khắc sẽ đạp đổ ĐCSVN xuống bùn đen. Các đảng viên thường, các sỹ quan cấp thấp trong các lực lưỡng vũ trang, các nhân viên trong các cơ quan công quyền sẽ tự đào thoát, rã ngũ vứt thẻ đảng trở về với nhân dân. Khi đó nhân dân cùng với tinh hoa của dân tộc là các anh tài, hào kiệt, nhân sỹ-trí thức sẽ tái tổ chức lại 1 ủy ban cứu quốc để chống quân xâm lược như bao đời ông cha tổ tiên ta đã từng làm trước họa ngoại xâm.

Còn đi theo Mỹ mà thực chất là học hỏi các tiến bộ của văn minh thế giới nói chung thì nước không những không mất mà ĐCSVN cũng vẫn tồn tại. Bởi vì nếu cởi mở về chính trị, tự do tư tưởng/lập hội/báo chí/tôn giáo, hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực thì khi đó ĐCSVN vẫn có cơ hội cạnh tranh, vận động bầu cử như các Hội-Đoàn-Đảng khác sẽ xuất hiện trong tương lai. Nếu ĐCSVN triệt để chống tham nhũng, mạnh tay với bọn sâu mọt, chọn lựa những người tài đức đứng đầu các Chi-Đảng Bộ các cấp thì ĐCSVN vẫn có chỗ dựa mạnh mẽ, đông đảo trong các thành phần công-nông-binh. Cố nhiên khi đó ĐCSVN không còn là tuyệt đối mà chỉ là một thành tố trong Quốc Hội, Chính Phủ mà thôi.

Hiện nay, nếu ĐCSVN tiếp tục câu giờ nhằm giữ nguyên hiện trạng đầy nhiễu nhương, bất cập mà thực chất chỉ làm lợi cho 1 số kẻ/nhóm thao túng đất nước thì lòng dân càng ngày càng bất an, tham nhũng hoành hoành làm mất sức mạnh dân tộc, giặc Tàu càng có thời gian củng cố tiềm lực quân sự sẽ dứt điểm đánh chiếm khi đủ mạnh và lợi dụng cơ hội bất ngờ. Khi đó thì đảo mất, biển bị khống chế thì ĐCSVN sẽ nhanh chóng bị tẩy chay, không còn bất kì ai tin tưởng về khả năng lãnh đạo quốc gia trước họa ngoại xâm dẫn tới sụp đổ mau lẹ.

Còn nếu các đ/c trong Bộ Chính Trị, TW của ĐCSVN có tinh thần dân tộc đủ mạnh, tình yêu quê hương đủ thiết tha (*) thì tôi tin chắc các đ/c sẽ suy nghĩ như tôi "Đảng chỉ là nhất thời, Dân tộc mới là vạn đại". Khi đó các đ/c sẽ không bao giờ sợ hãi vu vơ đối với các cuộc tuần hành, biểu tình yêu nước thậm chí ngấm ngầm bật đèn xanh để các cuộc biểu tình nổ ra khắp nơi với hàng triệu người tham gia.

Đối với tôi những anh hùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng, bị thực dân Pháp xử chém năm 1930 trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái trước khi ra pháp trường hô vang “Việt Nam vạn tuế” gây xúc động và giáo dục tinh thần yêu nước mãnh liệt hơn là những tiền bối của ĐCSVN ra pháp trường nhưng lại hét "Đảng Cộng Sản muôn năm".

Hãy can đảm đột phá tư tưởng lên các đ/c của tôi ơi!

Điều quan trọng nhất chúng ta là người Việt, chúng ta sẽ thông cảm và tha thứ cho nhau như ca dao Việt Nam có câu "Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại". Còn chính quyền Tàu không nhân nhượng với các đ/c đâu, cho dù các đ/c có can tâm tình nguyện hàng ngày (xin lỗi bạn đọc): Lấy tay rửa đít mỗi khi chúng nó ỉa. Bởi vì dã tâm ngàn năm của Đại Hán là xâm lược, đồng hóa, hãm hại các nước làng giềng. Hãy nhìn vào thực tế tình hình các nước chung đường biên giới với Trung Quốc như Ấn Độ, Miến Điện, Triều Tiên, Việt Nam và cả Nga thì chúng ta hiểu bản chất nham hiểm, độc ác, bỉ ổi của Tàu như thế nào.

Xin các đồng chí đừng sợ hãi biểu tình yêu nước khiến cho bất loạn tâm trí mà có những hành động dại dột và phát biểu mê sảng như ông Nguyễn Thế Thảo làm đau lòng, tổn thương dân lành. Chúng ta hãy xem đó là những tiếng chuông vang dền của dân tộc Việt góp phần thức tỉnh các đồng chí lãnh đạo sáng suốt thấu triệt dã tâm của giặc Tàu nhằm tìm ra đối sách quan trọng trong những lúc nước sôi lửa bỏng như thế này. Vì muốn hay không muốn, thích hay không thích trong những lúc này các đ/c đang lèo lái con tàu Việt Nam, đang cầm nắm vận mệnh của dân tộc. Xin các đ/c đừng đẩy 90 triệu dân trong đó có chính người thân, gia đình, dòng họ các đ/c xuống bờ vực thẳm, vào vòng cương tỏa của Tàu Khựa!

http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/07/14/dcsvn-rat-so-bieu-tinh-yeu-nuoc-do-la-su-that/

Bài Xem Nhiều