We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 19 July 2012

Chuyện Nhà Báo Đánh Thuê "Hải Ngoại" (4)

Hiệu ứng Pháp lý, Dân sự về việc nhật báo Người Việt phổ biến nhục mạ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”


I. Báo Chí & Hiện tượng Phỉ báng Mạ lỵ tại Hoa Kỳ
1. Căn Bản Pháp lý của Phỉ Báng Mạ lỵ Ngày Nay
Tại Hoa Kỳ, kể từ khi có án lệ Zenger [1735], phỉ báng không còn là một tội hình [seditious libel], mà được thụ lý như một vụ hộ [civil case], do bồi thẩm đoàn quyết định về nội vụ và cấp bồi thường thiệt hại dân sự, dưới lời hướng dẫn về mặt pháp lý của quan toà tại chức.
Phỉ báng [libel] là những phát biểu bêu xấu, nhục mạ, có thể trông thấy được, dưới hình thức văn bản, ấn loát, hình ảnh, phim ảnh.  Còn mạ lỵ [slander] là những lời lẽ bêu xấu, nhục mạ đã xuất khẩu và có người nghe được.
Phỉ báng và mạ lỵ là tình trạng lạm dụng của quyền tự do ngôn luận.  Phỉ báng và mạ lỵ là những sai phạm [torts/civil wrongs] trong việc phổ biến tin tức thất thiệt làm thiệt hại tới quyền lợi vật chất và tinh thần, tới nghề nghiệp, danh dự, uy tín của một người, hay một nhóm ngưòi, khi họ trở thành nạn nhân của những sai phạm đó.  Luật pháp coi phỉ báng và mạ lỵ cùng một thành tố sai phạm như nhau.
Muốn thắng một vụ kiện dân sự về phỉ báng mạ lỵ, nguyên đơn phải chứng minh được bốn thành tố sau đây:
  1. bị đơn phát biểu bêu xấu, nhục mạ dưới hình thức phỉ báng mạ lỵ, vu khống, thất thiệt;
  2. phổ biến tới đệ tam nhân hay nhiều người khác không phải là nguyên đơn;
  3. nguyên đơn bị chỉ trích rõ rệt, đích danh trong nội vụ phỉ báng, mạ lỵ;
  4. và nguyên đơn bị thiệt hại dưới hình thức vật chất hay tinh thần, do hậu quả của tin tức thất thiệt, sai quấy đó [mất danh dự, mất uy tín, mất việc làm, phá vỡ gia đình v.v.]
Trách nhiệm của người phổ biến [publication/transmission] hay chuyển tiếp một tin thất thiệt có tính cách nhục mạ  [forwarding/republication of defamation] trên báo chí, ấn phẩm, mạng lưới v.v. cũng ngang trách nhiệm của người đề xướng phỉ báng, mạ lỵ lần đầu, nếu như người tiếp chuyển [a] biết đó là tin thất thiệt, [b] hoặc phải biết như thế, khi có thẩm quyền và cơ hội kiểm soát, chọn lọc trước khi phổ biến.
2. New York Times  vs Sullivan [1964]
Trước năm 1964, các Tiểu Bang thường quyết định rằng phỉ báng và mạ lỵ khộng được Tu Chính Án Một bảo vệ [unprotected speech], nghĩa là nhà báo tuyệt đối chịu trách nhiệm về sự phỉ báng, dù không biết điều phổ biến là sai quấy.
Phải đợi tới khi Tối Cao Pháp Viện, trong vụ án New York Times  vs Sullivan (1964) thẩm định rằng các chính khách, viên chức [public officials], nếu muốn thắng kiện phải chứng minh [a] tin tức phổ biến là thất thiệt, có tính cách phỉ báng mạ lỵ, và [b] bị đơn [phóng viên, chủ bút, cơ sở truyền thông] lúc đó có manh tâm ác ý [actual malice] khi truyền tin thất thiệt gây phương hại cho nguyên đơn.
Quan Toà Tối cao Pháp Viện William J. Brennan, xét xử vụ New York times vs Sullivan, đã phán định bị đơn có manh tâm ác ý phỉ báng mạ lỵ [c] nếu bị can biết rõ đó là tin thất thiệt hoặc [d] chểnh mảng coi thường hư thực khi đăng tin.
Tối Cao Pháp Viện mở rộng đối tác của án lệ “Sullivan” [Sullivan Case] với những nhân vật công cộng/nhân vật của công chúng [public figures], gồm các nhân vật có tiếng tăm, như tài tử màn ảnh, các tác giả nổi tiếng, các thể thao gia, các nhà kinh doanh năng động, các nhà tài phiệt lớn, có máu mặt, các lãnh tụ cộng đồng v.v.
II. Trường Hợp điện báo Người Việt phổ biến nhục mạ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”
Nhật báo Người Việt  đăng bài “Vết thương ngày 30 tháng 4” của Nguyễn Gia Kiểng vào ngày 16 tháng 4, 2012.  Gần 3 tháng sau, Chủ Nhật mùng 8 tháng 7, nhật báo Người Việt đăng nguyên văn bài phản biện của tác giả Sơn Hào – “Lời lẽ bóp méo sự thật của Nguyễn Gia Kiểng”, với những đoạn chính như sau:
Kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4 liền kề với ngày quốc tế lao động ngày 1-5 làm cho niềm vui của chúng ta được nhân lên gấp bội. Cả dân tộc vui mừng, tự hào, tất cả những người lao động vui mừng, tự hào. Nhưng lạ thay, ông Nguyễn gia Kiểng đã viết bài “Vết thương ngày 30 tháng 4” đưa lên mạng Internet, theo đó đã sặc mùi chia rẽ Nam Bắc, làm như thể miền Nam, Sài gòn là một miền đất khác Việt Nam, một dân tộc khác Việt Nam, làm như thể từ ngày 30 tháng 4, 1975 thì miền Nam Sài Gòn mất tất cả, bị xâm lăng tất cả! Không hiểu ông có thâm thù gì với cách mạng, thâm thù gì với dân tộc mà lại than thở như vậy. Ông quên mất điều đơn giản, tối thiểu là chỉ có đội quân xâm lược Mỹ và bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ là thất thủ, là mất miền Nam, mất Sài Gòn, còn dân tộc Việt Nam, cả Nam lẫn Bắc là người thắng trận, thu giang sơn về một mối, chấm dứt ách thống trị của thực dân mới…
1. Căn Bản Pháp Lý về Bài viết của tác giả Sơn Hào:
Với tất cả sự dè dặt trong phạm vi bài tham luận này, căn cứ vào nội vụ, tác giả Sơn Hào, khi xác định dưới dạng “phản ánh từ độc giả” rằng “bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ là thất thủ, là mất miền Nam, mất Sài Gòn” [sic], có thể đã hành động với những sai phạm dân sự [torts/civil wrongs] như sau:
  1. Tác giả đã phát biểu, bêu xấu, nhục mạ dưới hình thức phỉ báng mạ lỵ, vu khống, thất thiệt rằng những người “mất miền Nam, mất Sài Gòn [là] bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”. Muốn chứng minh ngôn từ phát biểu là phỉ báng, mạ ly, nguyên đơn chỉ cần chứng minh có đệ tam nhân thấy, đọc, nghe và hiểu đó là phỉ báng, mạ lỵ, khi chính tác giả của bài đăng tải này không chứng minh được sự thật là toàn thể những người “mất miền nam, mất Sài Gòn” là “bè lũ Việt Gian tay sai của Mỹ”… dù bị đơn nghĩ và cả quyết đó chỉ là ý kiến cá nhân, hay đùa cợt, chế giễu [CSVN thường chế giễu người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi là “ngụy”, là “ma cô, đĩ điếm”, khi có người nghe, đọc và hiểu đó là lời nhục mạ, thì sự thể mạ lỵ, phỉ báng đã thành].
  2. Tác giả đã phổ biến tin thất thiệt này tới đệ tam nhân hay nhiều người khác không phải là nguyên đơn khi tác giả có ý định đăng tải công khai trên mặt báo của Người Việt, có tính cách truyền thông công cộng [newspaper, magazine, publication];
  3. Tuy tác giả không nêu đích danh nạn nhân trong nội vụ, nhưng lại suy diễn và ám chỉ [interpretation/mention by innuendo] những người “thất thủ, mất miền Nam, mất Sài Gòn” là quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, là gần 3 triệu người bỏ nước ra đị với căn cước “tỵ nạn cộng sản”, là đa số dân chúng miền Nam bị kẹt lại trong nước sau ngày 30 tháng tư  năm 1975 để sống cảnh tù đầy, bóc lột, kỳ thị … là “Việt gian”, là “tay sai của Mỹ”, là “ngụy”;
  4. Tác giả đã trực tiếp mang lại cho những người bị phỉ báng những thiệt hại dây chuyền dưới hình thức vật chất [lý do dối trá, những chứng cớ xảo quyệt để nhà nước CSVN tiếp tục tịch thu tài sản, cướp nhà cướp đất của dân oan – đa số xếp hạng “ngụy”, hạn chế việc làm ăn của họ v.v. ] hay tinh thần [làm mất danh dự, mất uy tín, tù đày, phá vỡ gia đình v.v.].  Đó là những hậu quả tất nhiên của tin vu khống thất thiệt.
2. Căn Bản Pháp Lý về việc Đăng Tải, Phổ Biến Tin Thất Thiệt trên nhật báo Người Việt
Với tất cả sự dè dặt trong phạm vi bài tham luận này, căn cứ vào nội vụ, báo Người Việt có thể đã hành động với những sai phạm dân sự  [torts/civil wrongs] như sau:
  1. Báo Người Việtđã đăng tải, phổ biến tin thất thiệt là toàn thể người “mất miền nam, mất Sài Gòn” [gồm cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản và đa số người dân miền Nam bị kẹt lại trong nước, lâm cảnh khốn khổ, tù đày] là “bè lũ Việt Gian tay sai của Mỹ”.
  2. Báo Người Việtvới tư cách là một cơ sở truyền thông đặt tại hải ngoại, do những người từng sinh sống tại miền Nam sáng lập, nay sinh hoạt thường xuyên với cộng đồng người Việt hải ngoại, ắt phải biết rõ, một cách công minh [nếu không chịu ảnh hưởng, áp lực, hay chỉ huấn của CSVN] bài viết của Sơn Hào là thất thiệt, có tính cách nhục mạ, phỉ báng khi xác định rằng toàn thể những người “mất miền Nam, mất Sài Gòn” — với thân phận người Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại, hay với thân phận kẻ tù đày, bị ngược đãi, kỳ thị trong nước — là “bè lũ Việt Gian tay sai của Mỹ”.
  3. Báo Người Việt cũng phải biết như thế, khi có nhiệm vụ và cơ hội kiểm soát, chọn lọc bài vở “chuyển” tới trước khi phổ biến.
Báo Người Việt cũng đã nhận lỗi trong việc khiếm khuyết thi hành trách nhiệm kiểm soát tin tức, lời lẽ hư thực, và đã tích cực phổ biến tin thất thiệt.
Thư Xin Lỗi của Ông Phan Huy Đạt, Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt đã nhìn nhận:
  • Những người bị Sơn Hào phỉ báng, nhực mạ là “quý độc giả, quý đoàn thể tổ chức cựu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.
  • Nhật báo Người Việt …phạm một lỗi nặng nề…
  • Ngày Chủ Nhật vừa qua, mục thư Độc Giả trên báo Người Việtđã in một lá thư với lời lẽ hàm hồ có lợi cho chế độ cộng sản và còn xúc phạm toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa…
  • Lỗi lầm đáng tiếc trên xảy ra là do nhân viên phụ trách chọn Thư Độc Giả.  Sau khi tìm hiểu sự việc, chúng tôi đã quyết định ngưng việc người phạm lỗi.
  • Ngoài ra, Hội Đồng Quản Trị Công Ty Người Việt đã nghiêm khắc khiển trách và chế tài những người liên đới trách nhiệm, gồm Chủ Nhiệm và Chủ Bút.
  • Chúng tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn quý độc giả và thân hữu đã cho biết ngay phản ứng về lá thư độc giả nêu trên trong mấy ngày qua; và một lần nữa mong toàn thể quý vị lượng thứ.
Tuy nhiên, thư Xin Lỗi của Ông Phan Huy Đạt, Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt:
  • Chỉ có tính cách nhìn nhận những sai phạm dân sự [torts/civil wrongs] [a]đã hoàn tất, một cách minh thị, trên giấy trắng, mực đen [b] có hiệu quả làm tổn thương [c] toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà.
  • Lời nhận lỗi đó chỉ có tính cách “chữa lửa” với hy vọng giảm thiểu hậu quả tài chính về sự thất thu trong tương lai, do sự tẩy chay của độc giả và thân chủ quảng cáo, vốn thuộc toàn thể khối người bị nhục mạ.
  • Do đó lời “nhận lỗi” hay ăn năn sám hối trên không thể là thành tố “giải trách”, “tha lỗi”, khiến báo Người Việtcó thể phủi [rửa] tay trở thành trong sạch, vô tội vạ trong nội vụ.
  • Tuy lá thư xin lỗi của chủ nhiệm nhật báo Người Việt không nêu rõ lý do sai phạm, nội vụ đã cho thấy sự cố tình, tính toán, hay thâm ý của người có trọng trách chọn lựa đăng tải một bài phản biện sau khoảng cách 3 tháng trời, với đầy đủ thời gian tính cho sự manh tâm ác ý trong sai phạm phỉ báng mạ lỵ.  Tối Cao Pháp Viện Hoa  Kỳ, trong vụ án New York Times  vs Sullivan (1964) thẩm định rằng các chính khách, viên chức [public officials], nếu muốn thắng kiện phải chứng minh [a] tin tức phổ biến là thất thiệt, có tính cách phỉ báng mạ lỵ, và [b] bị đơn [phóng viên, chủ bút, cơ sở truyền thông] lúc đó có manh tâm ác ý [actual malice] khi truyền tin thất thiệt gây phương hại cho nguyên đơn. Quan Toà Tối cao Pháp Viện William J. Brennan, xét xử vụ New York times vs Sullivan, đã phán định bị đơn có manh tâm ác ý phỉ báng mạ lỵ [c] nếu bị can biết rõ đó là tin thất thiệt hoặc [d] chểnh mảng coi thường hư thực khi đăng tin.
Trên thực tế, toàn thể  cộng đồng người Việt hải ngoại, những người “tỵ nạn cộng sản” và đa số dân chúng miền Nam bị kẹt lại trong nước không là những nhân vật của công chúng [public figures] để tác giả Sơn Hào vung tay chỉ trích và để nhật báo Người Việt tự do tung tin thất thiệt.  Họ là những cá nhân ôn hoà, những nạn nhân của thời cuộc.  Vậy với tư cách tư nhân, họ chỉ cần chứng minh tin đăng tải là tin thất thiệt, mà không cần chứng minh sự manh tâm ác ý của tác giả, của phóng viên, của toà soạn.  Tư nhân sinh sống yên ổn cần được bảo vệ kỹ hơn là các chính khách và nhân vật nổi tiếng trong các vụ phỉ báng mạ lỵ.  Do đó nếu thanh danh họ bị xúc phạm, làm họ bị thiệt hại, mất danh dự, mất uy tín trong nghề nghiệp, hoặc mất cơ hội sinh nhai, thì trong vị trí tư nhân, họ chỉ cần chứng minh việc phỉ báng mạ lỵ có tính cách vu khống, thất thiệt là đủ thành tố.
TẠM KẾT LUẬN:
Bất cứ cá nhân, pháp nhân, hội đoàn, tổ chức dân sự, tương trợ, chuyên nghiệp, xã hội, tôn giáo, văn hoá, giáo dục có liên hệ trực tiếp với toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa, trong và ngoài nước, nếu thấy bị xúc phạm và bị thiệt hại trong vụ phỉ báng, mạ lỵ do tác giả Sơn Hào và nhật báo Người Việt cố tình hay bất cẩn gây ra có quyền chọn thi hành những biện pháp sửa sai, đòi đền bù như sau:
  1. nhờ cơ sở pháp lý, luật sư nhiệm cách bênh vực quyền lợi đòi bồi thường về các sai phạm dân sự [torts/civil wrongs], căn cứ vào nội vụ và các thành tố nêu trên;
  2. hoặc tối thiểu tỏ thái độ bất bình, bất tín nhiệm, cảnh cáo bất hợp tác, không tài trợ cho một cơ sở truyền thông có nhiều thành tích ám muội, nhiều âm mưu chia rẽ cộng đồng như vậy, căn cứ vào những chứng cứ cụ thể, rõ rệt — những hình ảnh hợp tác, hội họp với quan chức CSVN; căn cứ vào những hành vi tái tục bêu xấu, khiêu khích, ác ý “có lợi cho chế độ cộng sản và còn xúc phạm toàn thể quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa…[lời của ông Phan Huy Đạt, chủ nhiệm nhật báo Người Việt].
Luật lệ chế tài phỉ báng mạ lỵ có hiệu ứng đòi hỏi các cơ sở truyền thông, ấn loát, các diễn đàn trên mạng, nhà báo phỏng vấn và tường thuật tin tức, phổ biến trước tác, tài liệu một cách thận trọng, kỹ lưỡng hơn, giúp độc giả hiểu biết rõ rệt, đúng mức về tình hình thời cuộc liên quan tới đời sống chung quang họ, một cách ôn hoà, trung thực.
Đó cũng là cơ hội để giới báo chí nói chung tự kiểm và phối hợp lương tâm nghề nghiệp với đà tiến hoá của nền dân chủ hiện đại, mỗi lức tăng trưởng và cải tiến để khỏi tự hủy.  Tiến bộ phúc lợi, quyền lực và đạo đức phải kết sinh song hành trong cuộc sống nhân bản, đáng sống, đáng bảo trọng.
TS-LS Lưu Nguyễn Đạt


Hình ảnh đồng bào biểu tình trước toà soạn báo Người Việt khi báo này nhục mạ lá cờ vàng năm 2007




SỰ BẤT QUÁ BAO NHIÊU LẦN MỚI ĐỦ?
      

Trong cái túi khôn của người xưa có một câu rất đáng học là “Sự bất quá tam.” Ba lần thôi, đủ rồi. Phạm lỗi. Xin lỗi, đấm ngực ăn năn cũng chẳng ai tin được nữa, nếu sự việc xẩy ra quá 3 lần. Mẹ Tăng Sâm nghe người ta nói con bà giết người, đến lần thứ ba thì bà không thể nào không tin. Có lỡ thì cũng lỡ đến lần thứ ba, chứ ai lầm lỡ đi, lầm lỡ lại cùng một sai lỗi đến lần thứ bốn, thứ năm, thứ sáu … và biết đâu sẽ còn dài dài?
Tờ báo Người Việt phạm lỗi, đăng bài của độc giả Sơn Hào bá vơ nào đó xúc phạm đến danh dự của cộng đồng người Việt tỵ nạn, cho là những tên làm tay sai cho Mỹ, tức là bán nước, tính ra lần này là lần thứ tư. Đấy là chưa kể đến chuyện Đỗ Ngọc Yến, chủ nhiệm sáng lập tờ báo Người Việt, ngồi chủ tọa bàn việc lớn với những tên chóp bu VGCS là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong v.v. Chưa hết, những người ở xa không đọc báo Người Việt nên không biết, nhưng theo tiết lộ của chủ báo Saigon Nhỏ, bà Hoàng Dược Thảo, thì chuyện báo Người Việt thì thụt nâng bi bọn VGCS xưa nay xẩy ra dài dài, chỉ tại người ta không để ý đến mà thôi. Chủ báo Saigon Nhỏ viết: Từ 20 năm qua, tôi đã lột mặt nạ báo Người Việt nhiều lần. Từ thập niên 80, báo Người Việt đã sưu tầm tài liệu cho Việt Cộng khi cho tổ chức cuộc thi viết về nạn đói năm Ất Dậu song song với tin Việt Cộng kiện Nhật bản đòi đền bù cho nạn nhân nạn đói năm Ất Dâu (1945). Toà soạn báo Người Việt đã bị đốt sau khi đài truyền hình của Người Việt phát hình cờ Việt Cộng chạy trên sông Thủ Thiêm.  Sau mỗi lần bị lột mặt nạ, báo Người Việt lại sa thải người chịu trách nhiệm biên tập. Sa thải kiểu “đèn trống quân” vì sau một thời gian, khi mọi việc lại lắng dịu thì người bị sa thải này lại được thu hồi vào vị trí cũ.”
            Lần này cũng vậy, báo Người Việt sỉ nhục đồng bào đã đíu rồi, ông chủ nhiệm Phan Huy Đạt mới mời một số “fan” đến để xin lỗi. Đúng ra cũng là một điều hay, thế nhưng “rằng hay thì thực là hay, xem ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” ấy.
            Này nhá, hãy nói về lá thư xin lỗi của ông chủ nhiệm trước. Ông là một luật sư, hẳn biết rõ luật báo chí và cách thức làm báo. Luật pháp cho phép báo chí bảo mật nguồn tin. Nhưng xin nhớ, nguồn tin chứ không phải là nguồn (tác giả) bình luận. Cho rằng tác giả đăng bài bình luận trong mục “ý kiến độc giả” là người phải chịu trách nhiệm về những điều mình viết ra. Nhưng, tờ báo không thể nào đăng bài của một người, nhất là bài phê phán, mạ lỵ người khác hay một tập thể, mà không biết rõ tác giả là ai. Trường hợp như thế, tờ báo sẽ, hoặc là không biết làm báo, hoặc tắc trách, hoặc là vì một lý do nào khác, bị áp lực, bị đe dọa, hoặc bị mua chuộc bằng tiền bạc, quyền lợi v.v. nên phải bảo vệ bí mật cho người viết. Tác giả Sơn Hào là ai, tại sao báo Người Việt không dám công khai danh tánh của người này cho dư luận biết. Nếu ông luật sư chủ nhiệm quả thực không biết Sơn Hào là thằng cha căng chú kiết nào thì quả thực ông không biết làm báo, hoặc ông tắc trách. Còn nếu biết mà ông không dám vạch mặt chỉ tên tên Sơn Hào, lại đứng ra nhận lỗi và xin lỗi thay cho hắn để bảo vệ bí mật cho hắn thì vì lý do gì, chủ đích gì? Những người bị Sơn Hào mạ lỵ cũng cần phải được biết chứ.
            Vấn đề thứ hai không kém quan trọng trong lá “Thư Xin Lỗi” của ông Ls chủ nhiệm Phan Huy Đạt là cách dùng chữ của ông trong mạch văn của lời xin lỗi. Rõ ràng toàn bài viết là một lời xúc phạm (insult) làm mất thanh danh (defamation) của nền Cộng Hòa miền Nam VN trong đó ông là một thành viên, mà ông chỉ cho đó là một lời lẽ hàm hồ thì ngưòi tỵ nạn như chúng tôi thật sự không hiểu nổi. Hoặc là ông không biết rành tiếng Việt, hoặc là ông cố tình chạy tội chứ không phải xin lỗi. Viết như Sơn Hào mà ông chỉ cho là “hàm hồ.” Vậy chứ hàm hồ nghĩa là gì ông có biết không? Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu (p. 466) thì chữ “hàm hồ” có nghĩa là: cổ họng (hóc?) nói năng không được rành mạch. Sơn Hào trong bài viết của hắn nói rất rõ ràng, minh bạch chứ có cái gì hàm hồ đâu. Ông luật sư cứ đọc lại mà xem. Nếu ông có cách nào đó buộc Sơn Hào phải viết cho rành mạch hơn ý tưởng của hắn cho ông xem thực sự hắn muốn nói gì rồi ông hãy cho biết quan điểm của tờ báo có phải hay hơn không. Việc gì ông phải hấp tấp xin lỗi sớm thế. Nếu ông luật sư chủ nhiệm không làm được như vậy thì chỉ còn có thể hiểu được là ông tìm cách làm giảm nhẹ đi vấn đề và xin lỗi cho xong chuyện. Cách này là cố tình chạy tội.
            Việc báo Người Việt tổ chức họp cộng đồng để đưa ra lời xin lỗi cũng là một vấn đề khó hiểu khác. Theo nhà báo Hà Giang (của Người Việt) thì khách mời có khoảng 5 chục người, gồm thân hào, nhân sĩ, đại diện các đoàn thể, và nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ tại Little Saigon. Cho đến lúc này, những người quan tâm theo dõi vấn đề chỉ được đọc bài tường thật buổi họp của chính báo Người Việt qua nhà báo Hà Giang là phóng viên viết tin và lãnh lương của Người Việt. Ngoại giả không thấy một cơ quan ngôn luận nào khác đưa tin hay tường thuật về buổi hội họp này. Báo Người Việt gây biến cố, rồi báo Người Việt mời “nhân dân” đến họp, rồi cũng báo Người Việt tường thuật buổi họp và loan tin. Như vậy thì nền tự do báo chí của tờ Người Việt xem ra cũng không khác gì nền tự do báo chí của VGCS là mấy. Người bình dân thường gọi hành động vừa đá bóng vừa thổi còi này là “báo chí lề phải” đấy ông chủ nhiệm ạ.
Vả lại, những người được mời đến dự buổi họp là những ai, họ thuộc thành phần và huynh hướng nào, đại diện cho tập thể nào hoặc cơ quan ngôn luận nào thì không được ký giả Hà Giang viết rõ ràng, rành mạch. Nghĩa là cũng hàm hồ luôn. Nhưng có một điều không hàm hồ và rất rõ là những người chống đối mạnh mẽ nhất khi sự việc xẩy ra như các ông Ngô Kỷ, bà chủ báo Saigon Nhỏ Hoàng Dược Thảo, Đ/T Thomas Trần v.v. không được mời, mà chỉ thấy những người không hề lên tiếng về việc này, lại nữa có nhiều người xưa nay được coi là “fan” của tờ Người Việt có mặt. Những Fan này được mời đến để làm gì, có phải để họ hợp thức hóa sự xin lỗi vờ của ông Phan Huy Đạt?
Một số từ ngữ và câu văn trong những lời phát biểu của cử tọa hoặc Ban Điều Hành tờ Người Việt có thể giúp soi sáng đưọc phần nào thắc mắc trên. Chẳng hạn, ông Ls chủ nhiệm trong phần trình bầy sự việc chỉ cho rằng đối với ông và tờ báo của ông, đây là một “tai nạn.” Sao lại là tai nạn? Tai nạn là một việc đáng tiếc gây ra vì vô tình, hoàn toàn không có chủ tâm. Một bài báo quan trọng qua tay hàng loạt nhân vật có trách nhiệm từ thư ký tòa soạn, đến phụ tá tổng thư ký, đến tổng thư ký, đến phụ tá chủ bút, rồi đến chủ bút là người sau cùng quyết định, như vậy mà là tai nạn được sao? Đúng là miệng lưỡi của ông luật sư. Còn ông phụ tá chủ bút Vũ Quí Hạo Nhiên biện hộ cho việc tờ Người Việt bằng một câu biện luận khá ngộ nghĩnh thế này: Thời buổi này còn có kẻ bênh vực CS ngu dốt như vậy thì phải cho thế giới thấy. Hiểu theo ông Vũ Quí Hạo Nhiên thì đây là phương pháp báo Người Việt làm cho những kẻ bưng bô cho CS như tên Sơn Hào phải tự lột mặt nạ mình. Không biết nên gọi cái chiến thuật này là “gậy ông đập lưng ông” hay “lấy mỡ nó để rán nó” mới được. Hay lắm, nhưng xin hỏi toàn thể Ban Điều Hành báo Người Việt câu này là, việc ông chủ nhiệm sáng lập ra tờ Người Việt Đỗ Ngọc Yến chủ tọa buổi họp với Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong, tại sao Người Việt lại giấu nhẹm đi, đến khi bị phát giác lại còn bào chữa? Trường hợp Đỗ Ngọc Yến tại sao Người Việt không phô bầy ra cho cả thế giới thấy? Sao không lấy mỡ của Đỗ Ngọc Yến rán Đỗ Ngọc Yến cho đúng với chủ trường của tờ Người Việt? Rồi đến câu hỏi của ông Phan Tấn Ngưu mới thật là khôi hài. Ông Ngưu hỏi báo Ngưòi Việt có chịu áp lực của thế lực nào không. Không lẽ một nhân vật hoạt động cộng đồng tên tuổi như ông Phan Tấn Ngưu kém thông minh đến độ không biết trước được câu trả lời của ông Đinh Quang Anh Thái, đại diện cho tờ Người Việt, ra sao? Như vậy thì ông Phan Tấn Ngưu hỏi để làm gì?
Và cuối cùng theo bài tường thuật của ký giả Hà Giang thì nhà báo công giáo Trần Phong Vũ, chủ bút nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân đã “rửa tội” cho tờ báo Người Việt bằng một lập luận rất ư là chí lý. Ông Vũ nói: Chỉ cần đọc những bài bình luận hàng ngày của ông Ngô Nhân Dụng trên nhật báo Người Việt thì cũng hiểu rõ chủ trương của tờ báo. Nêu bằng chứng này, ông Trần Phong Vũ muốn dùng uy tín của ông để đưa ra sự bảo kê cho lập trường và đường lối chính trị của tờ báo Người Việt mà ông chủ nhiệm, luật sư Phan Huy Đạt đã minh định trong lá Thư Xin Lỗi trước đó: Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức … tiếp tục cùng toàn thể đồng bào đấu tranh xóa bỏ chế độ CS độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do. Đọc lời lẽ của ông Trần Phong Vũ, kẻ viết bài này cảm thấy buồn và tiếc hùi hụi việc ngày xưa Đức Cha Lê Hữu Từ đã từ chối rửa tội cho Hồ Chí Minh quá sức. Giá Đức Cha chịu khó rửa tội cho tên giặc già này thì Dân Tộc VN ngày nay đâu có đến nỗi phải điêu đứng như thế này? Do “phép rửa” của nhà báo công giáo Trần Phong Vũ, tờ Người Việt thể nào cũng được sạch tội trước mặt một số người. Chỉ tiếc một điều là ông Vũ lấy có một lon nước Ngô Nhân Dụng để rửa thì có lẽ hơi thiếu nước đấy. Giá như ông lấy cả hồ nước (ban biên tập) của tờ Người Việt gồm những nhà văn, nhà báo, nhà bình luận lớn, những sĩ quan chiến tranh chính trị có uy tín để rửa cho tờ Người Việt thì tội gì của Người Việt từ trước tới nay mà không được rửa sạch.
Thập niên 50 trong vụ Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc, Hồ Chí Minh giết mấy trăm ngàn mạng người rồi xin lỗi là xong. Cái chết thể xác nó nhẹ như lông hồng. Ngày nay tờ Người Việt giết chết danh dự của hàng triệu người rồi cũng xin lỗi, lại được một nhà báo công giáo lớn rửa tội cho thì mọi chuyện cũng sẽ qua đi thôi. Nhưng cái chết tinh thần vì mất danh dự nó đeo đẳng con người ta suốt cả cuộc đời. Nó nặng nề lắm.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Giấc Mộng Về Hưu: Khi Quê Hương VN Đã Đổi Mới...?

Một người Việt cao niên đã viết về VN hiện tại. Ai có ý định về VN sống huu ,xin đọc bài này


Sau đây là chi tiết 10 điều căn bản :

1. Tài chánh 
 2. Tình nghĩa đồng bào
 3. Anh em, bà con, Con cháu
 4. Thời tiết 
 5. Thức ăn
 6. Y tế 
7. An ninh 
8. Môi trường 
9. Luật pháp 
10. Chính trị




Cách đây 12 năm, lúc tôi được 49 tuổi, đã xa đất nước VN được 24 năm, khi nghe tin chính phủ Cộng sản đổi mới chính sách, quên hết hận thù, gọi Việt kiều ngoại là khúc ruột ngàn dặm, bỏ qua quá khứ, hướng về tương lai, đoàn kết một nhà (!)…Lúc đó tôi cũng như rất nhiều người Việt tha hương so sánh một vài điều về tài chánh, về vật giá, về tình ruột thịt, bà con giữa xứ Mỹ và xứ mình, nên cũng rất là “hồ hỡi”…nhưng quên đi mất nhiều chi tiết quan trọng mà mình ở đất Mỹ không thấy được những cái sự việc khác rất thực tế đang xảy ra ở VN. Sau 2 lần về thăm lại VN năm 2000 và năm 2007 cùng với nhiều tin tức về vô số vấn đề …nhưng chỉ ghi nhận trung thực trong 10 vấn đề nêu trên thì thấy phần lớn là xấu, nhất là vấn đề y tế, an ninh, luật pháp, nên: Tôi đã bỏ hẳn ý định về VN để nghỉ hưu.


Đến ngày hôm nay, tôi vẫn còn biết có người bạn cùng khóa 23 ở bên Mỹ nhưng đang có vợ ở VN , một người bạn ở Texas cũng dự tính về VN để dưỡng gìà, một bạn Việt kiều rất già có vợ trẻ, cứ sáu tháng ở VN, vài tuần về Mỹ… Một số Việt kiều dự tính về VN để sống luôn …Số còn lại mấy chục năm trước họ nhớ VN tha thiết, nhớ quay quắt, nói có về VN sống thì ”ăn đất, ăn cát cũng chịu”… sau đó họ về xây vài ba căn nhà ở VN. Bây giờ đa số họ không còn có cái tình cảm "nóng sốt" như những ngày xưa, bắt đầu âm thầm bán dần tài sản nhà cửa ở VN và chỉ về VN thăm viếng mà thôi, và quyết định sẽ chết ở Mỹ…


Tôi nêu lên dưới đây là những câu chuyện rất thật mà tôi đã theo dõi trên 20 năm và phỏng vấn họ nhiều giai đoạn, từ lúc họ nhỏ những giọt nước mắt nhớ về quê hương, lúc họ gởi tiền về VN xây nhà, cho đến lúc họ gặp tôi chấp tay xá xá lia lịa vì sợ, rất sợ cái gọi là đất nước Việt Nam của Cộng sản. Như chị Gẫm nói với tôi rằng “ Chú Nam đừng phổ biến những tin nầy sợ người ta hiểu lầm cho rằng anh chị là người vong bản quên đi đất nước quê hương của mình mà lại còn nói cái xấu nữa”. Những người bạn Việt kiều của tôi đang ở VN hay dự tính về VN tôi sẽ lần lượt phỏng vấn họ, hy vọng họ cho tôi biết những sự thật bây giờ và tương lai, bởi vì họ quan niệm “người ta sống được thì mình sống được, đừng có hù nhé, về VN thì sống mấy đời cũng không hết tiền, vật giá thì quá rẻ, bên Mỹ nầy cực quá, mình về VN có nhà lớn hơn, có kẻ hầu người hạ, có tình bà con đậm đà thắm thiết, vui gấp ngàn lần ở Mỹ, mình đừng làm chính trị chống chế độ thì đâu có ai khó dễ gì được …”


Tôi không dám nói nhiều vì cũng ngại các người bạn nầy sẽ ghét mình, thành thử cứ để thời gian và thực tế sẽ phơi bày trắng đen, biết đâu họ lại sống được như những người khác, làm bạn với Công an hiền lành, thương dân…vì thế tôi cố gắng thật khách quan khi viết bài nầy, nhưng có thể còn rất nhiều thiếu sót, nếu vô tình đụng chạm thì xin người đọc miển thứ cho và chỉ giáo thêm trong tinh thần xây dựng.



Sau đây là chi tiết 10 điều căn bản :

1. Tài chánh: Không có gì khó khăn khi so sánh lợi tức ở Mỹ hay ở ngoại quốc đối với lợi tức đầu người ở VN. Về VN sống thì có người giúp việc, có người nấu ăn, tiền hưu bổng xài cả đời không hết ….Trước năm 2010 có thể nói rằng vật giá ở VN còn rẻ so với ngoại quốc, nhưng bây giờ thì..! Anh Thu ở xóm tôi mới về VN, trở qua Mỹ đầu tháng 4/2011 nói rằng vật giá ở VN bây giờ rất cao, thí dụ: một tô mì vit tiềm trong một tiệm ăn trung bình giá khoảng 75.000 VN, tức khoảng 3 đô la rưởi...ăn một tô phở ở một tiệm tương đối sạch sẽ không có người ăn xin đứng chờ với hai bàn tay cùi hay ghẻ lỡ thì cũng xấp xỉ 4, 5 đô.!!

2. Tình người: Nếu Việt kiều về thăm viếng một thời gian ngắn thì thấy ai ai cũng đối xử với mình trong tình cảm đậm đà thân thiện hết. Người VN mình tình cảm đậm đà nhưng không dễ gì bị “người dưng nước lã” gạt, nhưng đau nhất trên đời là bị thân nhân bà con ruột thịt của mình gạt ngon ơ đau đớn lắm! Cô Nữ, Chị Hà người Tuy Hòa, về VN xây nhà, lựa mấy đứa cháu ngoan hiền đứng tên. Một thời gian sau chúng nó đem cầm sổ ĐỎ phải bỏ tiền ra chuộc tức muốn ói máu…Vợ chồng ông Điều, dân Quảng Bình di cư, bị cô em vợ sang đoạt hết mấy căn nhà ở VN tức muốn đứng tim …Dì dượng bên bà xã của tôi ở San Diego, về VN cưới thằng chồng VN cho con gái bên Mỹ, sang đây cao thủ đánh cắp hơn USD 60.000, ông bà tức quá, bây giờ chỉ cầu xin Chúa và đức Mẹ mà thôi…
Ngày 18-4-2011, trên Việt báo online tình mẹ con bà cháu ruột thịt tiêu tan chỉ vì tranh dành mảnh đất ở Thủ Thiêm …Cũng trên tờ Vietbao online, mục blog chuyện thật “Bà già ngu” bỏ tiền xây nhà ở VN, không ngờ mấy đứa em đem bán sạch, ở Mỹ một ổ bánh mì mà không có tiền mua, đấm ngực kêu trời …Còn nhiều lắm chỉ toàn là những trường hợp bị những người ruột thịt của mình gạt gẩm mà thôi ….ai cũng nói “Không biết mấy người bất lương đó ra sao, chứ anh hay chị hay cháu, hay (…) của tôi không như tụi đó đâu, gia đình tôi gia giáo, lễ nghĩa không lẽ họ dứt tình ruột thịt hay sao ….. Xin thưa rằng những người bị gạt là những người trong đầu đã có sạn, những con cáo già, không dễ có người xa lạ nào gạt được họ đâu, nhưng mọi người nên nhớ là sau vài chục năm xa cách Cộng Sản đã biến cải người dân, những người ruột thịt của mình thành những tay cao thủ “những quái chiêu lường gạt”!! Việt kiều bây giờ đối với khúc ruột ngàn dậm là những con cừu non mà thôi.


3. Con cháu: Người già ở ngoại quốc thì nhớ VN, còn về VN thì lại nhớ con cháu ở ngoại quốc. Anh Tư, chị Gẫm mê xóm Bóng, Nha Trang, 12 năm về trước nhất định về già sẽ về VN để sống, có nghèo cũng chịu. Bây giờ có 3 đứa cháu ngoại, 4 đứa cháu nội, tất cả đều ở Mỹ,…thương quá xá, xa một ngày cũng nhớ, thành ra cũng là một lý do bỏ luôn cái vụ việc về VN để ở …

Tôi có quen với một người bạn trẻ trên dưới 50 tuổi dự trù tương lai sẽ về VN về vùng quê để dưỡng già. ”Người ta sống được thì mình sống được …” nhưng người bạn đó chưa nghĩ tới đứa con trai một của mình ở bên Mỹ mà vợ chồng cưng nhất trên đời, nếu họ có vài đứa cháu nội không biết họ có dứt khoát bỏ con cháu bên Mỹ nầy mà về VN ở luôn hay không, chưa kể còn nhiều vấn đề khác nữa như vấn đề sức khỏe, an ninh …

4. Thời tiết : Quá nóng ở VN so với nơi cư ngụ của mình ở Mỹ. Bà mẹ của người bạn trong sở , tuổi gần 80, mấy năm về trước lúc nào cũng đòi về VN để sống. Mùa Đông năm 2010 bà về thăm VN để sửa sọan về ở luôn, tôi gặp bà trở về Mỹ…Bà bảo tôi rằng sẽ chết ở bên Mỹ, không về VN nữa…Hỏi mãi bà chỉ hé ra một chi tiết nhỏ thôi: "trời quá nóng, chịu không nổi...".


5. Thức ăn: Đồ ăn có thể ngon miệng hơn, rẽ tiền hơn …Gần đây tin tức hàng ngày thực phẩm ở VN đầy ngập những chất độc trong thức ăn khỏi cần thí dụ...



6. Y tế: Ở VN tiền thuốc thang bệnh viện quá rẽ so với nước Mỹ nhưng kỹ thuật, vệ sinh thì quá tồi tệ…(trừ việc đi trồng răng. Trồng răng bên VN rất rẽ…khoảng USD 100/cái so với Mỹ khoảng USD 1.000/cái). Nhưng anh Tư, chị Gẫm về VN bị bệnh, trong lúc chờ mổ ở Nha Trang thấy ông bác sĩ còn bận đồ ngủ pyjama, mổ bệnh nhân dao kéo mổ xẻ máu me đầy chậu, ruồi nhặng bu đầy, dùng nước lạnh trong vòi rửa xong mổ tiếp cho bệnh nhân thứ hai !…

Tôi về VN lần đầu, chỉ có 3 tuần thôi mà bị hai thứ bệnh : tiêu chảy vì ăn cây kem và ho vì ngủ dưới bốn cây quạt trần …Khi bị bệnh thì việc đầu tiên là tôi muốn bay trở về Mỹ lập tức vi thuốc ở VN không trị nổi. Rất nhiều người già về VN chơi bị bệnh, con cháu gởi phi cơ cho họ trở về Mỹ liền ngay, như những người còn trẻ cũng đổi vé phi cơ trở về Mỹ khi biết bệnh của mình hơi bị nặng …


7. An ninh: Quá tệ, cướp giật ở thành thị, trộm cướp ở thôn quê. Cô em vợ vượt biên lúc 14 tuổi, sang Pháp lập gia đình, về VN thăm lúc 34 tuổi cứ tưởng xả hội VN giống bên Pháp, bị cướp giựt xách tay ngay chợ Bến Thành, mất hết giấy tờ làm việc với Công An sợ quá bây giờ không dám về VN …Cũng anh Tư, chị Gẫm mê xóm Bóng, Nha Trang, về xây nhà ở Thành, lúc về thăm VN bị trộm, bị cướp vài lần, nhà cửa giao cho đứa em xây bất hợp pháp, bây giờ cho không chánh quyền để đở tốn tiền thuê nhân công phá bỏ…
.

8. Môi trường Từ không khí, nước sông, nước hồ ô nhiểm đầy bệnh truyền nhiểm như hepatitis, bệnh lao, bệnh lãi …Nếu sống ở ngoại quốc với những điều kiện vệ sinh khi đã quen thì về VN mà tính ở luôn thì thì cũng phải là một người không bao giờ sợ bệnh, không sợ dơ và thật sự thương xứ VN lắm đó …


9. Luật pháp: Luật rừng, hối lộ là qua được hết, làm ăn lớn mà chi không đủ thì cũng có ngày bỏ của chạy lấy người …Công an là vua, bỏ tù bất cứ ai chống chế độ một cách hợp pháp, ai ai cũng biết chẳng cần thí dụ …

10. Chính trị: Quá tệ đảng CS tàn ác độc tôn, bỏ tù thủ tiêu những người yêu đất nước, thương dân tộc, nói ra sự thật, kể cả những đãng viên lâu đời …Dân chúng sợ sệt, không có dân chủ , nếu sống quen ở nước tự do thì không biết có chịu nổi cảnh sống nầy hay không… Chắc ai cũng biết, không cần thí dụ …


Để kết luận, tôi mượn lời của ông Khánh Hưng: “Ở trên trái đất nầy, không hề có thiên đàng. Điều mà anh và tôi tìm kiếm không phải là một xã hội hoàn hảo, mà là một xã hội ít có sự bất công hơn, ít có sự lừa dối hơn, và ít có cái xấu hơn. Trong ý nghĩa nầy, thì nước Mỹ là một mô hình tốt hơn vạn lần so với cái xã hội Việt Nam Cộng Sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối đang thống trị xã hội…”


Nói như nhà thơ Trần trung Đạo:


" Việt nam nay để thương, để nhớ, chớ không phải để ở.. "

Thấy cũng chẳng có gì để mà "phải thuơng phải nhớ" cả

Dân biểu Frank Wolf: Cần có đại sứ Mỹ gốc Việt tại Việt Nam


Dân biểu Frank Wolf của đảng Cộng hòa trong một cuộc phỏng vấn với VOA
Trong một hành động hy hữu, một nhà lập pháp Mỹ viết thư cho Tổng thống đòi cách chức một vị đại sứ. Dân biểu Frank Wolf, một tiếng nói trong Hạ viện Hoa Kỳ mạnh mẽ bênh vực nhân quyền gửi thư yêu cầu Tổng thống Barack Obama bãi chức đại sứ Mỹ tại Việt Nam, David Shear. Trong cuộc phỏng vấn với Trà Mi của Ban Việt ngữ, dân biểu Frank Wolf nhấn mạnh cần phải cách chức đại sứ Shear vì vị sứ giả này đã thất bại trong việc cổ xúy các giá trị biểu tượng của Hoa Kỳ, tức cổ võ cho nhân quyền ở Việt Nam.
Trà Mi:
Lá thư ông gửi cho Tổng thống Obama đòi cách chức đại sứ Mỹ tại Việt Nam thật sự gây sốc. Nếu tôi không lầm đây dường như là trường hợp đầu tiên như thế?
  Dân biểu Frank Wolf: Vâng, tôi nghĩ vậy.
Trà Mi: Trong thư ông đề nghị cách chức đại sứ David Shear vì ông Shear không cổ võ cho nhân quyền và không lên tiếng cho những người không có tiếng nói tại Việt Nam. Tuy nhiên, có lập luận cho rằng trách nhiệm và nghĩa vụ của một đại sứ Mỹ không chỉ giới hạn ở việc cổ võ nhân quyền tại một quốc nào đó cho dù đây là một phần trong công việc của ông. Vì ông còn có nhiều nhiệm vụ khác nữa và (như đại sứ Shear có nói) là cần phải ‘cân bằng’ để giữ cho quan hệ giữa Mỹ với quốc gia đó phát triển. Ông có hồi đáp thế nào trước lập luận này?

Dân biểu Frank Wolf: Anh không thể ‘cân bằng’ bằng cách phớt lờ hiệp ước căn bản và hiến chương của quốc gia mà anh đại diện. Những ngôn từ trong Hiến pháp Hoa Kỳ ra đời tại Philadelphia vào năm 1787 là hiệp ước của toàn thế giới cũng như những ngôn từ trong Bản Tuyên ngôn Độc lập là công ước mà người dân Việt Nam cũng như người dân ở Philadelphia vào năm 1776 cùng chia sẻ. Tòa đại sứ Mỹ phải là một hòn đảo của sự tự do. Ngày Độc lập của Hoa Kỳ 4/7 hay Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ căn bản là hai yếu tố nền tự do và quyền tự do. Cho nên, anh không thể thỏa hiệp để hy sinh nền tự do, quyền tự do của con người, hay nhân quyền để đổi lấy những cái lợi về kinh tế. Có nhiều người Mỹ gốc Việt đã tới văn phòng của tôi cho biết rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ đi. Và đại sứ David Shear đã thất bại về những điều căn bản. Sự thật buộc chúng ta phải thốt lên rằng ông ta đã thất bại. Thử so sánh đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông David Shear, với đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, ông Gary Locke xem. Đại sứ Locke ở Trung Quốc đã cổ võ vận động cho nhân quyền. Nhìn vào trường hợp của luật sư nhân quyền khiếm thị Trần Quang Thành sẽ thấy rõ điều đó. Vì thế mà tôi cho rằng vị đại sứ Mỹ tại Việt Nam thay thế cho ông David Shear nên là một người Mỹ gốc Việt. Đại sứ Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa, hiểu và cảm nhận rõ về Trung Quốc. Vì vậy mà ông ta đã có thể đưa nhà hoạt động nhân quyền Trần Quang Thành ra khỏi Trung Quốc để tới Hoa Kỳ. Còn đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông David Shear, thậm chí không thể đưa một công dân Mỹ ra khỏi một trại giam ở Việt Nam. Ông ta quá yếu. Lẽ ra ông ta nên vào trại giam gặp nhà hoạt động Nguyễn Quốc Quân. Vậy mà đại sứ Shear thậm chí cũng chẳng thèm liên lạc với vợ của ông Quân cho tới khi chúng tôi làm ông bẽ mặt. ‘Cân bằng’ ư? Vâng, một vị đại sứ Mỹ cần phải ‘cân bằng’, nhưng ông Shear đã thất bại về các giá trị căn bản. Và kết quả đã cho thấy là tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam tồi tệ đi trong nhiệm kỳ của ông đại sứ Shear tại Việt Nam. Chính quyền của Tổng thống Obama có một trong những chính sách về nhân quyền và tự do tôn giáo tệ nhất. Hơn nữa, ông đại sứ Shear đã làm chúng tôi bị lầm. Ông viết thư hứa với chúng tôi rằng ông sẽ mở rộng cửa tòa đại sứ tại Việt Nam mời tất cả những nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động tới nhân Ngày Lễ Độc lập 4/7 của Hoa Kỳ, một cách biểu hiện sự bảo vệ đối với các nhà hoạt động nhân quyền tại Việt Nam. Đây là điều đã xảy ra trong những năm 80 khi đại sứ Mỹ tại Romani mở cửa cho các nhà bất đồng chính kiến của nước này. Ông đại sứ Mỹ tại Việt Nam hiện nay đã thất bại trong lĩnh vực nhân quyền và cần phải bị cách chức.

Trà Mi: Ông đề nghị rằng đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nên là một người Mỹ gốc Việt. Chúng ta đang có một Tổng lãnh sự Mỹ ở Việt Nam là một người Mỹ gốc Việt rồi. Liệu có khác biệt gì chăng nếu có một người Mỹ gốc Việt làm đại sứ Mỹ tại Việt Nam?
Dân biểu Frank Wolf: Tôi nhấn mạnh là đại sứ vì đại sứ là người đại diện cho chính phủ Mỹ tại nước ngoài, là tiếng nói đại diện cho Hoa Kỳ.

Trà Mi: Ông đặc biệt phẫn nộ trước việc đại sứ Shear đã không mời những nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền tới đại sứ quán Mỹ trong Ngày Lễ Độc lập của Mỹ và cách thức ông ta xử lý vụ việc của tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân. Thế nhưng đưa ra hai lý do này để yêu cầu cách chức ông đại sứ, liệu có công bằng và đủ sức thuyết phục chăng, thưa ông?

Dân biểu Frank Wolf: Dĩ nhiên. Có rất nhiều lý do và lý lẽ chứng minh rõ ràng rằng ông đại sứ Shear đã thất bại. Hãy đặt trường hợp là thân nhân của một công dân Mỹ bị giam tại Việt Nam mà không được ông đại sứ và chính phủ Mỹ cổ võ bảo vệ cho mình sẽ thấy rõ thế nào. Ông Shear không vào trại giam gặp ông Quân mà cũng chẳng liên lạc với người nhà của ông Quân nữa. Vậy có thể nói tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam là một hòn đảo của sự tự do chăng, có thể là một hòn đảo kinh tế nhưng chắc chắn không phải là một hòn đảo của sự tự do.

Trà Mi: Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Mỹ, Victoria Nuland đã lên tiếng bênh vực đại sứ Shear, cho biết ông Shear đã đặt nhân quyền vào trọng tâm mối giao tiếp của Mỹ với Việt Nam và đã nêu vấn đề nhân quyền với quan chức cấp cao của Hà Nội trong mỗi lần tiếp xúc. Phản hồi của ông thế nào?

Dân biểu Frank Wolf: Họ chẳng qua là những người phát ngôn, những cái loa của chính quyền. Chính quyền của Tổng thống Obama có một trong những chính sách về nhân quyền tệ nhất. Mọi người có nhìn thấy không? Hỏi chuyện những người Việt Nam sẽ thấy tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ đi thế nào. Dĩ nhiên chính quyền luôn có người phát ngôn bênh vực họ nhưng họ không thể biện hộ được về những thành tích tệ hại liên quan đến chính sách nhân quyền.
Trà Mi: Theo luật Mỹ, chính khách không có quyền cách chức đại sứ, là những người được Tổng thống chỉ định và được Thượng viện chuẩn thuận. Có thể hiểu thế nào về thông điệp từ lá thư và từ lời kêu gọi của ông?
Dân biểu Frank Wolf: Rằng đại sứ Shear cần phải bị cách chức. Nếu chính quyền Mỹ làm đúng, họ phải cách chức ông đại sứ David Shear và thay bằng một vị khác biết cổ võ cho các giá trị của Hoa Kỳ, cổ súy nhân quyền và giúp đỡ những giáo dân, những tín đồ Phật giáo, những người Thượng Tây Nguyên, những nhà hoạt động dân chủ, và những blogger tại Việt Nam, những người mưu tìm và khao khát quyền tự do căn bản của con người.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn dân biểu Frank Wolf đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

Tu sĩ Tứ Xuyên TựThiêu:Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy cách vượt qua căng thẳng

Dharmsala, Ấn Độ - Ở mức độ cơ bản, là người thì ai cũng giống nhau, đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Đây là lý do tại sao bất cứ khi nào tôi có cơ hội, đều lưu ý đến những người trong gia đình rằng chúng ta có chung bản chất nội tại của sự tồn tại và phúc lợi.

Ngày nay càng có nhiều sự thừa nhận qua sự phát triển và chứng minh của khoa học về sự nối kết gần giữa trạng thái của tâm và hạnh phúc. Mặt khác, nhiều người sống trong những xã hội mà vật chất quá đầy đủ, trong số đó có nhiều người không hạnh phúc. Bên dưới bề mặt đẹp của sự giàu có là loại rối loạn tinh thần, dẫn đến sự thất vọng, những cuộc cãi vã không cần thiết, phụ thuộc vào ma túy hay uống rượu, trường hợp tệ nhất là tự tử.
Giàu có không bảo đảm đem lại niềm vui hoặc sự đầy đủ mà bạn đi tìm. Khi bạn đang giận dữ hay hận thù, có bạn thân xuất hiện, bạn cũng coi như sương mù hay lạnh giá, xa lạ và bực mình.
Tiềm năng của con người là thông minh. Bên cạnh đó, con người có khả năng nhận định và trực tiếp chỉ đạo với ý thức mạnh mẽ trong bất kỳ tình huống nào. Vì vậy, chúng ta nhớ rằng lâu rồi có món quà kỳ diệu này và năng lực để phát triển nhận định và sử dụng một cách tích cực, ta sẽ bảo vệ sức khỏe tinh thần tiềm ẩn bên trong.
Chúng ta đang nhận ra mình có tiềm năng vĩ đại có thể cung cấp sức mạnh cơ bản. Sự thừa nhận này là động lực cho phép chúng ta đối phó với bất kỳ khó khăn. Không có vấn đề gì khi chúng ta đang đối mặt với hoàn cảnh mà không mất hy vọng hoặc rơi vào cảm xúc của lòng tự trọng thấp.

Tôi viết điều này như người mất tự do lúc 16 tuổi. Tiếp sau đó, tôi đã sống lưu vong hơn 50 năm trong suốt thời gian những người Tây Tạng đã tự cống hiến để giữ bản sắc, văn hóa và giá trị của họ. Hầu hết mỗi ngày tin tức từ Tây Tạng thể hiện sự đau lòng nhưng không phải những thử thách này đưa đến sự bỏ cuộc. Một trong những cách tiếp cận mà cá nhân tôi thấy hữu ích là để trau dồi tư tưởng. Nếu tình hình không có vấn đề như vậy, ít có thể cứu chữa được thì không cần lo lắng về nó. Nói cách khác, nếu có kết quả hay cách giải đáp cho sự khó khăn thì bạn không cần lo lắng nữa.
Điều cần thiết là tìm cách tháo gỡ gút mắc và dùng năng lượng tập trung vào kết quả hơn là lo lắng về vấn đề. Như một sự lựa chọn, nếu không có giải pháp hay không có sự giải quyết nào thích hợp thì cũng không có vấn đề để lo lắng về nó vì bạn cũng không thể làm bất cứ điều gì hơn. Trong trường hợp đó, bạn nên trực tiếp đối diện với thực tế để chấp nhận sớm cho được thoải mái. Công thức này dĩ nhiên bao hàm trực tiếp đối diện vấn đề và lấy cái nhìn thực tế. Ngược lại, bạn sẽ không tìm ra hoặc không có giải pháp cho vấn đề.

Nuôi dưỡng động lực thích hợp có thể bảo vệ bạn khỏi cảm giác sợ hãi và lo âu. Nếu bạn phát tâm trong sạch và chân thành và khởi tâm giúp đỡ trên cơ sở của lòng tốt, từ bi và tôn trọng thì bạn có thể thực hiện bất kỳ loại công việc nào và làm có hiệu quả hơn với ít sợ hãi hay lo lắng, không sợ người khác nghĩ gì hoặc cuối cùng bạn sẽ thành công đạt đến mục tiêu của mình. Thậm chí bạn không đạt được mục tiêu, bạn cũng cảm thấy tốt vì bạn đã làm hết khả năng của mình. Nhưng với động cơ xấu, mọi người có thể khen ngợi hoặc bạn có thể đạt được mục tiêu, bạn vẫn không được hạnh phúc.
Đôi khi chúng ta cảm thấy cuộc sống không được thỏa mãn vì thời điểm khó khăn chung đang đối đầu với mọi người. Điều này xảy ra ở những mức độ khác nhau theo thời gian. Khi điều này xảy ra, chúng ta cố gắng tìm cách để nâng cao tinh thần bằng cách nhớ lại sự thành đạt của mình. Thí dụ, chúng ta được yêu bởi một người nào đó, chúng ta có tài, được giáo dục, có thực phẩm để ăn, quần áo để mặc và nơi ở vì đã làm việc vị tha trong quá khứ. Nếu chúng ta không tìm thấy được cách nào để nâng cao tinh thần của mình thì rất nguy hiểm và rơi vào cảm giác bất lực. Điều này có thể dẫn chúng ta tới sự tuyệt vọng là mình không có năng lực làm điều gì tốt cả. Là tu sĩ Phật giáo, tôi đã học được sự đau khổ chính trong nội tâm của mình là những cảm xúc rối loạn.

Tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và sự kiện tinh thần phản ánh trạng thái tiêu cực hoặc không từ bi của tâm, chắc chắn làm suy yếu kinh nghiệm của sự bình an nội tâm. Đó là sự hận thù, giận dữ, niềm tự hào, lòng tham, ganh tị, v.v… được coi là nguồn gốc của khó khăn, đang bị phiền não.

Đồng thời, nó cũng là những gì cản trở nguyện vọng cơ bản nhất để được hạnh phúc và tránh đau khổ. Khi chúng ta thực tập nhuần nhuyễn rồi thì trở nên không biết gì đến sự tác động của mình vào người khác: Họ là nguyên nhân của hành vi phá hoại những người khác và chúng ta. Vụ giết người, bê bối,và sự lừa dối tất cả đều có nguồn gốc trong những cảm xúc rối loạn. Điều này chắc chắn đưa đến câu hỏi này - chúng ta có thể rèn luyện tâm không? Có nhiều phương pháp, nhưng trong truyền thống Phật giáo, là hướng dẫn đặc biệt gọi là rèn luyện tâm. Trong đó tập trung vào nuôi dưỡng sự quan tâm đến người khác và biến nghịch cảnh thành thuận. Đó là mô hình của tư tưởng, chuyển đổi các vấn đề thành hạnh phúc có hiệu lực cho người dân Tây Tạng để duy trì phẩm giá và tinh thần của họ khi đối mặt với những khó khăn lớn. Thật vậy tôi đã tìm thấy lời khuyên này mang lại lợi ích thiết thực tuyệt vời trong cuộc sống của riêng tôi.

Vịthầy lớn người Tây Tạng chuyên về đào tạo tâm đã từng nhận xét rằng một trong những phẩm chất của tâm tuyệt vời nhất là nó có thể được chuyển đổi. Tôi không có nghi ngờ rằng những người cố gắng để chuyển đổi tâm của họ, vượt qua những cảm xúc rối loạn đạt được cảm giác bình an bên trong thì qua khoảng thời gian sẽ nhận thấy sự thay đổi trong thái độ tinh thần và phản ứng của họ tới mọi người và các sự việc. Tâm của họ sẽtrở nên nhuần nhuyễn và tích cực hơn. Tôi chắc chắn rằng họ sẽ tìm thấy cảm giác nhiều hạnh phúc riêng khi họ góp phần vào hạnh phúc lớn hơn của những người khác. Tôi cầu nguyện mọi người thực hiện mục tiêu của họsẽ được gia hộ thành công.
Hải Hạnh dịch

----------------------

Tu sĩ 18 tuổi tự thiêu ở Tứ Xuyên

Hai người Tây Tạng tự thiêu ở tỉnh Thanh Hải hồi tháng 6/2012
Người Tạng liên tiếp có các hành động tự thiêu để phản đối sự cai trị của Trung Quốc
Một vị hòa thượng 18 tuổi đã châm lửa tự thiêu ở tỉnh Tứ Xuyên thuộc tây nam Trung Quốc hôm thứ Ba ngày 17/7, các nhà hoạt động nhân quyền cho biết.

Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ tự thiêu của người Tạng để phản đối sự cai trị của Trung Quốc đối với Tây Tạng.
Vị hòa thượng trẻ tuổi này được xác định danh tính là Lobsang Lozin.
Trong lúc đang bước về phía trụ sở chính quyền, Lozin đã châm lửa vào thân mình và tử vong ngay lập tức ở quận Bharkham thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Tổ chức Chính quyền Tây Tạng Trung ương, tức chính phủ Tây Tạng lưu vong, đóng tại Ấn Độ cho biết trong một thông cáo báo chí.
Chính phủ Tây Tạng lưu vong cho biết người dân địa phương đã phong tỏa một cây cầu để ngăn chặn cảnh sát tiến vào hiện trường sau vụ tự thiêu.

Chính quyền và cảnh sát ở Bharkham, hay Maerkang theo cách gọi của người Hán, đã không xác nhận vụ tự thiêu này ngay sau đó.
Tuy nhiên, Chính quyền Tây Tạng Trung ương cho biết đông đảo cảnh sát có vũ trang đã di chuyển về phía Bharkham sau khi xảy ra vụ việc.

Theo các nhà hoạt động nhân quyền cho Tây Tạng, Lobzin đang tu hành tại Tu viện Tsodun Kirti ở Bharkham. Đây cũng là nơi xuất thân của hai vị tăng sĩ khác cũng đã tự thiêu hồi tháng Ba năm nay.
Khoảng 42 người Tạng được tin rằng đã tự thiêu kể từ tháng Ba năm ngoái ở những khu vực có người Tạng sinh sống trên lãnh thổ Trung Quốc.

Phần lớn trong số này đã không qua khỏi.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc đã xác nhận một số vụ tự thiêu trong khi báo chí nước ngoài bị cấm đến những khu vực này nên không thể xác nhận.

Phần lớn các vụ tự thiêu xảy ra ở các khu vực có người Tạng cư trú bên ngoài Tây Tạng.
Chính phủ Trung Quốc cáo buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng hiện đang sống lưu vong, là kích động các hành động tự thiêu và kêu gọi ly khai khỏi Trung Quốc.

Bài Xem Nhiều