We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 3 August 2012

Thiên Chúa đã về trong Quốc ca Nga

Thượng đế trở về với Quốc ca Liên bang Nga

Trúc Xanh

Thiên Chúa đã về trong Quốc ca Nga

Biết tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn nên Mr. Deev có lần hỏi:
- Ta nghe nói đừng bao giờ dùng “Hochiminh City” thay cho “Saigon” trước mặt u?
- Of course! Chính hắn là người đã đưa cái chủ nghĩa cộng sản điên rồ vào Việt Nam. Làm sao mà chịu cho nổi.
- Ta cũng không thích “Hochiminh City”,“Saigon” nghe hay hơn.
- Saigon cũng giống như thành phố Saint Petersburg của nước Nga đó. U có biết Saint Petersburg từng bị đổi tên không?
- Không.
- Tên ban đầu là Saint Petersburg. Rồi sau đó bị đổi là Petrograd. Rồi lại bị đổi là Leningrad, cũng lại một gã comie độc tài nữa. Nhưng cuối cùng, khi người Nga đá phăng cái chủ nghĩa cộng sản cà chớn kia, thì thành phố này được trở về với cái tên cũ là Saint Petersburg.
- Hy vọng một ngày nào đó Saigon được trở về Saigon?

Hy vọng. Chắc chắn hy vọng!

Thành phố Saint Petersburg (hay “Saint Peter” mà người Việt thường gọi là “Thánh Phêrô”) - một trong những thành phố cổ kính và đẹp nhất thế giới - đã bị cưỡng đặt theo tên của Vladimir Lenin, cũng như Sài Gòn từng được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông cũng bị cưỡng đặt cho cái tên Hồ Chí Minh.

Thế nhưng người Nga đã trả lại tên Saint Petersburg cho thành phố thân yêu của họ. Không chỉ có thế, người Nga cũng dùng lại lá quốc kỳ của thời trước.

Bắt đầu từ năm 1896, Quốc kỳ Nga có ba màu: trắng, xanh dương và đỏ. Sau Cách mạng Tháng mười 1917, lá cờ này bị bỏ đi, thay vào đó là lá cờ đỏ mang hình búa liềm. Đến năm 1991, khi chế độ cộng sản tan rã tại Nga, Liên Bang Xô Viết (Soviet Union) trở thành Liên Bang Nga (Russian Federation), cờ đỏ búa liềm bị dẹp bỏ, người Nga quay về với lá cờ Триколор (Tricolor) lúc trước.

Có nhiều giải thích cho nguồn gốc 3 màu của quốc kỳ Nga. Một giải thích cho rằng đó là huy hiệu trên khiên (coat of arms) của vương quốc Grand Ducchy of Moscow. Huy hiệu này có hình Saint George mang giáp bạc, cỡi ngựa màu trắng, choàng khăn màu xanh dương và cầm một cái khiên cũng màu xanh dương, trên nền màu đỏ. Một giải thích khác thì cho rằng 3 màu trắng, xanh dương và đỏ chính là 3 màu trên áo dài của Đức Mẹ Maria.


Cờ Liên bang Nga
Nguồn: OntheNet
Quốc kỳ Nga có sự thay đổi như vậy còn Quốc ca Nga thì sao?

Vừa nghe là tôi đã bị cuốn hút bởi giai điệu sống động và hào hùng của Quốc ca Nga. Nhưng điều đáng chú ý nhất là lời ca, trong đó có câu:

Хранимая Богом родная земля.
Đất nước này được bảo vệ bởi Thượng đế. (*)
(Đọc là “Khranimaya Bogum rodnaya zemlya” với “Bogum” - Богом - là Thượng đế [Chúa, Trời])

Tại sao Quốc ca Nga giờ đây lại nhắc đến Thượng đế?

Để hiểu ra điều này, tôi xin được kể tóm tắt lịch sử của Quốc ca Nga.

Quốc ca của Liên Bang Nga ngày nay có phần nhạc điệu được lấy từ quốc ca của Liên Bang Xô Viết. Năm 1944, bài quốc ca của Liên Xô được sáng tác và xử dụng thay cho bài “The Internationale” (Quốc Tế Ca) vì lời ca nhấn mạnh đến nước Nga nhiều hơn. Năm 1956, lời bài quốc ca này được thay đổi, bỏ đi đoạn ca ngợi Joseph Stalin.

Đến năm 1990, sau sự xụp đổ của Liên Xô, nước Nga cần tìm một bản quốc ca mới. Chính phủ đã tổ chức nhiều cuộc thi viết lời cho bản quốc thiều “Patrioticheskaya Pasnya” nhưng không thành công vì bài hát không gây được cảm hứng cho các lực sĩ Nga trong các cuộc thi đấu quốc tế.

Cuối cùng, quốc ca của Liên Bang Xô Viết được dùng lại, nhưng bỏ lời cũ, thay lời mới. Năm 2000, chính phủ Nga chính thức lấy làm quốc ca với lời mới do Sergey Mikhalkov sáng tác vì diễn tả được niềm tự hào về lịch sử đất nước và truyền thống dân tộc.

Một trong những truyền thống lâu đời của người dân Nga là là hữu thần. Nhiều giáo phái cùng chung sống với nhau trên nước Nga từ rất lâu đời, trong đó đáng kể nhất là Chính thống giáo, Công giáo, Tin lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, và Phật giáo.

Giáo hội Chính thống giáo Nga (Russian Orthodox Church) được coi là giáo hội lớn thứ nhì chỉ sau Giáo hội Thiên Chúa La mã (Roman Catholic Church). Theo Wikipedia, tới năm 1914, Giáo hội Chính thống có trên 55 ngàn nhà thờ, 5 ngàn đan viện, trên 100 ngàn linh mục, gần 100 ngàn tu sĩ nam nữ, với tín đồ trên 60% dân số toàn quốc.

Khi đảng Bôn-sê-vích lên nắm quyền ngay lập tức họ ra tay triệt hạ các tôn giáo. Hàng ngàn nhà thờ và đan viện bị phá hủy hoặc bị tịch thu để làm kho chứa, trung tâm giải trí, kể cả biến thành những trại tập trung kiểu nhà tù Gulag. Trong khoảng thời gian 1917-1940, số nhà thờ được hoạt động chỉ còn 500, trên 130 ngàn tu sĩ bị bắt, trong đó trên 90 ngàn tu sĩ bị giết chết. Nhà cầm quyền cộng sản đã áp dụng mọi cách tàn độc nhất để buộc các tu sĩ và tín đồ bỏ đạo; ngoài việc bị phỉ báng và chế diễu, họ còn bị tra tấn, tẩy não, bị bắt vào các trại tập trung, nhà tù hay nhà thương điên.

Tôi hỏi chuyện Tanya, một phụ nữ làm chung với tôi. Tanya vốn là một người Nga theo Do Thái giáo, bà từng sống tại thủ đô nước Nga. Tanya cho biết vào cái “lúc đó” khắp Moskva chỉ còn duy nhất một nhà thờ được mở cửa, người ta đến đó cũng chẳng được dự thánh lễ mà chỉ có thể thắp vài ngọn nến. Những nhà thờ khác bị dùng như viện bảo tàng, phải mua vé mới được vào. Không ai được làm lễ rửa tội. Ai còn muốn giữ đạo - bất kể đạo gì - cũng đều phải “go underground”, đi đạo… chui!

Tanya hỏi tôi thế “lúc đó” ở nước cô thì sao. Tôi nói cộng sản nước tôi học được bài học của đàn anh, họ không chặt chém hàng loạt như thế. Thâm độc hơn, một mặt họ lập ra các giáo hội “quốc doanh” để khống chế tôn giáo, mặt khác họ đánh những đòn nguội, đón lén để triệt buộc các tôn giáo chính thống.

Tôi nghĩ tới giáo điểm Con Cuông, nơi đang bị đàn áp thô bạo. Chỉ là một “giáo điểm” thôi, nghĩa là số giáo dân rất rất ít nên chưa được gọi là “giáo phận”, vậy mà cộng sản cũng không tha, họ muốn Con Cuông phải là vùng vô thần tuyệt đối để xứng đáng với danh hiệu “vùng đất anh hùng”.

Anh hùng thế nào, cỡ Stalin, cỡ Lenin không? Rồi mấy “anh hùng” đó ra sao? Các tượng đài Stalin, Lenin - những người một thời được coi là “thánh sống” - đều đã bị dân Nga dựt cho đổ kềnh, nằm chỏng gọng như những đống rác to đùng, vô dụng.


Tượng của Lenin và Stalin tại Fallen Monument Park, Moscow
Nguồn: OntheNet
Những cán bộ ở Con Cuông nên học lịch sử các nước Cộng Sản để thấy rằng họ đang làm những việc hết sức sai lầm. Cộng sản Nga ra tay dã man đến cỡ nào nhưng cuối cùng có tiêu diệt được tôn giáo đâu!

Nghe đi nghe lại Quốc ca Nga, tôi chợt hiểu tại sao mình ưa thích lắm giai điệu của bản nhạc, thì ra vì nghe nó giông giống những bản thánh ca. Tôi nhớ tới bài “Lên Đền Thánh”, bài hát cũng tạo cho tôi cảm giác tương tự, thấy lòng tràn đầy hân hoan và biết ơn. Hát chậm thì rất thiết tha, hát nhanh theo điệu Rock thì rất sôi nổi. Phổi như cứ nở ra từng đợt. Hèn chi các vận động viên Nga cảm thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên khi hát quốc ca.

Russian National Anthem by Belgian singer Helmut Lotti (with English subtitles)


Quốc ca Nga khiến tôi nhớ tới quốc ca nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - Tiến Quân Ca (**). Trong đó câu “Thề phanh thây uống máu quân thù” được sửa lại thành “Đường vinh quang xây xác quân thù”, nghe bớt ghê rợn nhưng nội dung vẫn là khát máu.

Nước Nga - cái nôi của chủ nghĩa cộng sản - đã vứt bỏ Stalin, Lenin, cờ búa liềm. Còn Việt Nam, bao giờ mới vứt bỏ tham vọng “xây xác giặc” để trở thành “Việt Nam không đòi xương máu”(***)?

Nhưng hy vọng nhé, hy vọng ơi, tôi vẫn không ngừng hy vọng…

Một ngày không xa nữa chế độ cộng sản cũng phải xụp đổ trên nước Việt Nam. Lúc ấy người Việt sẽ đón mừng “Sài Gòn” trở về Sài Gòn, như người Nga đã hân hoan đón “Saint Petersburg” trở về Saint Petersburg, cung kính đón Thượng đế trở về trong các giáo đường, nhà nguyện và trong Quốc ca Nga.



DCVOnline biên tập, minh họa và đề tựa.
(*) Lược dịch nghĩa lời hát Quốc ca Nga
Nước Nga - Vùng đất thiêng liêng của chúng ta,
Nước Nga - đất nước thân thương của chúng ta.
Ý chí kiên cường, vinh quanh vĩ đại,
Người ban cho ta mãi mãi.

Từ biển nam cho đến cực bắc
Những cánh rừng và đồng lúa trải dài.
Người là duy nhất trên thế giới, có một không hai.
Đất nước này được Thượng đế bảo vệ.

Không gian bao la cho ước mơ và cuộc sống
Mở ra với chúng ta cho những những ngày tới.
Sự trung thành với tổ quốc cho ta sức mạnh,
Trước kia, bây giờ và mãi mãi.

Điệp khúc:

Vinh quanh thay, Tổ Quốc tự do của ta.
Tập hợp lâu đời của những người cha.
Sự khôn ngoan từ Gấu Mẹ vĩ đại.
Hãy sáng lên, tổ quốc ơi. Ta tự hào vì Người.

55 Năm Sau Nhìn Lại: Cách Mạng Hay Cướp Chính Quyền

55 Năm Sau Nhìn Lại: Cách Mạng Hay Cướp Chính Quyền [ Phần 1]
Việt Thức 
LS.Trần Thanh Hiệp

Cuối thập niên 80, cũng vào dịp này, tôi có viết một bài báo ngắn bàn về chính biến mùa Thu năm 1945, ở Việt Nam, thường được gọi là cuộc Cách mạng tháng Tám. Theo cách nhìn của tôi, đó không phải là cách mạng mà chỉ là 
cướp chính quyền cho riêng những người cộng sản. Một người bạn tôi, nửa đùa nửa thật, nói bằng tiếng Pháp để phê bình: “c’est de l’anti-communisme intégral tout craché” (hiểu một cách nôm na: “rõ ràng là chống cộng cùng mình, suốt mặt, cực đoan). Tôi không trả lời, để bụng xét lại, tự hỏi xem mình có thật bị khuôn đóng trong cái nhìn nhị phân (binaire) quốc-cộng máy móc hay không?

Từ bấy đến nay, tôi có dịp tiếp thu thêm nhiều ý kiến khác, thâu thập qua nhiều nguồn thông tin – tài liệu viết, tài liệu nói – do một số nhân chứng lịch sử cung cấp như Vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Đình Hòe, Phạm Khắc Hòe, Lê Văn Tiến, v.v… Ngoài ra tôi còn đặc biệt chú ý đến những khám phá mới, xuất phát từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà viết sử, các nhà khoa học xã hội, v.v… ở trong cũng như ở ngoài nước, cả người Việt Nam lẫn người ngoại quốc.

Năm nay, trở lại đề tài cũ, tôi không thấy cần phải thay đổi kết luận. Nhưng về mặt luận cứ thì cần bổ sung. Dĩ nhiên, cũng chỉ là đề tiếp cận, càng gần càng tốt, sự thật về chính biến mùa thu năm 1945. Tuy nhiên, cốt yếu là để phá đổ cho hết huyền thoại cách mạng mà bộ máy tuyên truyền cộng sản đã vận dụng mấy thập niên qua trong dụng ý nhập nhằng với quốc sử. Chính biến này đang còn là một vùng tối cần phải soi sáng để làm cho rõ vì sao nó đã, vẫn còn là một vùng tối và tại sao nó không thể tiếp tục nằm trong vùng tối.
Nhớ lại tháng Tám năm 1945, những ngày cướp chính quyền
55 năm đã trôi qua kể từ khi ở Việt Nam, năm Ất Dậu, xẩy ra chính biến mùa Thu. Khoảng cách thời gian này, với những biến chuyển trên khắp thế giới – đặc biệt trong nội bộ các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa cũ – đã giúp nhiều dân tộc lập lại những sự thật lịch sử của mình. Nhớ lại những việc đã qua, trong bề dày của quá khứ cận đại hay hiện đại, có nhiều cách nhìn, nói chung, trái ngược nhau trên bình diện ngôn từ, nhưng lại có thể không khác biệt nhau về mặt nội dung.

Những ngày đầu tháng Tám năm 1945, sau khi hai trái bom nguyên tử được thả xuống đất Nhật, Việt Nam đứng trước một bối cảnh lịch sử rất đặc biệt. Tình hình chính trị biến đổi mau lẹ chỉ trong vòng trên dưới mươi ngày. Nhật đã đầu hàng Đồng Minh nên mất hết quyền lực chính trị tại Việt Nam. Pháp chưa kịp đem quân trở lại để phục hồi địa vị thống trị cũ. 
Chính phủ Trần Trọng Kim từ chức mà không nhận trách nhiệm xử lý thường vụ trong khi chờ đợi chính phủ mới được thành lập. Dân chúng một phần bi cộng sản đội lốt Việt Minh, xách động, một phân háo hức tự động nổi lên chiếm chính quyền. Vua Bảo Đại tự ý thoái vị. Ngày 2 tháng 9, lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ai Quốc, dưới tên đổi khác, Hồ Chí Minh, nhân danh Mặt Trận Việt Minh, thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đọc Tuyên Ngôn Độc Lập. Trên cái nền đơn thuần sự kiện này, sau đó mỗi người một cách, người ta đánh giá chính biến mùa Thu năm 1945 bằng ngọn đuốc ý hệ là chính.
I. Cách cộng sản Việt Nam nhìn chính biến 19 tháng Tám 1945
Đối với những người cộng sản Việt Nam chính biến mùa Thu năm 1945 là một cuộc cách mạng..
 Họ khẳng định như vậy nhưng khẳng định từng bước, với nhiều thêm bớt tùy theo nhu cầu của tình thế. Khởi đầu, từ năm 1946, thấy vang lên hồi kèn chiến thắng của những cái loa văn nghệ mở đường cho cách mạng như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Ngọc Phan, v.v… Điển hình, 8 câu thơ dưới đây đọc thấy đâu đó của Xuân Diệu:

[…]

Có một buổi, cờ về Hà nội,
Về ngự trị trên đài sáng chói,
Giữa dân gian, trong những tiếng hoan hô,
Ngự trên cây, trên phố, ngự trên hồ:
Cờ chiến thắng Cách mạng thành tháng Tám!

[…]

Xuân nước việt khơi một ngày tháng Tám
Triều dân gian lên với sóng Hồng Hà
Lụt cờ đỏ nối giữa ngày u ám
Trời sao vàng mọc lúc nước bao la…

Loại son phấn suy tôn có tuổi thọ một thời này chỉ đáng lược bỏ để đi sâu vào cốt lõi lý luận cộng sản. Trường Chinh, lý thuyết gia của những người hộ sinh cho chính biến mùa Thu năm 1945, đã đánh lên âm mầu “la”của cái gọi là bản anh hùng ca Cách mạng tháng Tám. Pha chế lịch sử, ông đã viết rằng, “
Ngày 9-8-1945, Hồng quân Liên Xô đánh vào Mãn Châu như vũ bão. Chỉ trong sáu hôm, đội quân Quan-đông mạnh có tiếng của phát xít Nhật bị tiêu diệt. Thắng lợi căn bản đó của Hồng quân đã quyết định số phận của phát xít Nhật và Liên Xô đã thực sự giải phóng cho các dân tộc bị Nhật áp bức“.

Theo Trường Chinh, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật, giành lấy chính quyền từ tay Nhật”. Ông còn khẳng định thêm “
các chiến sĩ Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền, theo chỉ thị ngày 12-3-1945 của Đảng Cộng sản Đông Dương, chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đầu hàng [Việt Minh]“. Ông làm như thể vào thời điểm tháng Tám năm 1945, nhờ có Liên Xô đánh thắng được quân Nhật, những người cộng sản Việt Nam đã công khai hô hào làm cách mạng kiểu cộng sản, và dân chúng đã tri tình theo đảng cộng sản làm cách mạng kiểu ấy, khiến chính phủ Trần Trọng Kim đương quyền đã phải đầu hàng. Theo bước Trường Chinh, 4 Hiến pháp1946,1959, 1980 và 1992 đều đưa chính biến mùa Thu 1945 lên hàng cách mạng.

Chính biến này có vinh dự mở đầu cho Hiến pháp thứ nhất – 1946 – mà không phải nêu danh Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng tới Hiến pháp thứ nhì – 1959 – đã bắt đầu thấy nói lên vai trò lãnh đạo của đảng này. Từ Hiến pháp thứ ba – 1980 – 
“Đảng” công khai ra mặt, nhận công lao lãnh đạo “nhân dân… đi con đường của Cách mạng tháng Mười Nga toàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nước ta [Viết Nam] trở thành một nước xã hội chủ nghĩa, một thành viên của Cộng đồng xã hội chủ nghĩa thế giới”. Và văn bản này chính thức thiết lập “chuyên chính vô sản” trên cả nước. Hiến pháp thứ tư – 1992 – ra đời sau khi cái gọi là cộng đồng thế giới xã hội chủ nghĩa nói trên đã sụp đổ tan tành, chỉ còn biết thu góp lại những tàn dư, nhưng vẫn bám lấy cuống rốn cộng sản: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân ta tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công!”. Nói tóm lại, cộng sản đã đặt chính biến tháng Tám 1945 vào trong toàn bộ “chiến tranh cách mạng lâu dài” để gọi nó là một cuộc cách mạng. Theo thuật ngữ cộng sản, đó là một khâu trong dây chuyền cách mạng của họ nghĩa là một tiết mục trong chương trình hành động ấy. Cộng sản không lúc nào tách nó ra khỏi toàn bộ này để đánh giá nó như một hiện tượng khách quan và độc lập. Vì tách ra như thế thì sẽ không có cơ sở để bảo vệ giả thuyết cách mạng nếu có tranh cãi.

Những đoạn trích dẫn ở trên đã tóm lược đại chỉ của biểu văn chính trị (discours politique) của những người cộng sản Việt Nam. Khi lập luận chính biến tháng Tám là cách mạng, hiển nhiên cộng sản (như đã thấy ngay cả khi Trường Chinh nói lý thuyết) tuyên truyền nạt nộ quần chúng. Nhưng điều quan trọng hơn hết là họ muốn dùng nhãn hiệu cách mạng để làm nền tảng chính thống cho chủ trương của họ cầm quyền bằng bạo lc
.

Làm cách mạng là xâm phạm tới sinh mạng và tài sản của người dân, vì người cách mạng tự cho mình đủ mọi quyền kể cả quyền cướp của giết người, như đã xảy ra trong năm, sáu thập niên cách mạng cộng sản. Cho nên bàn chuyện cách mạng không phải là tranh cãi bằng ngụy biện, pháp lệnh, công an, nhà tù, quản chế tại gia, v.v… Mà phải đem chính biến tháng Tám ra đối chiếu với thực tại để xem nó có gì đáng gọi là cách mạng. Dưới độ góc nhìn này và đứng trên quan điểm Mác xít, lấy thước cộng sản mà đo cộng sản, hãy thử xem xét khẳng định của cộng sản trong Lời mở đầu Hiển pháp 1992 rằng “nhân dân ta làm Cách mạng tháng Tám thành công” xác đáng tới đâu. Ba câu hỏi cần đặt ra và cần được trả lời là:
1-Nói “nhân dân” làm Cách mạng tháng Tám là nói ai làm?
2-Làm cách mạng như vậy là làm gì?
3-Bảo rằng Cách mạng ấy đã thành công là nói nó đã đạt được những mục tiêu cụ thề nào?

Trước hết tưởng phải nhấn mạnh ở hai điểm. Thứ nhất, chớ coi câu “
đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” là khuôn vàng thước ngọc để mong biết hết thực chất cộng sản Việt Nam. Đó mới chỉ là một phần sự thật mà thôi! Có một điều cộng sản nói và cộng sản làm đúng như họ nói là “cách mạng”. Vấn đề sinh tử là phải biết chắc khi nào cộng sản nói một đằng làm một nẻo, khi nào cộng sản nhất định làm những gì họ nói.

Vậy nếu phải bàn về ngôn ngữ cách mạng của cộng sản thì đừng mang mặc cảm “chống cộng“, đừng sợ bị chê là chẻ sợi tóc làm bốn. Mà phải tìm hiểu đến nơi đến chốn, nhất là về quá khứ. Chỉ như vậy mới mong hiểu rõ được họ ở hiện tại cũng như trong tương lai.

Vứt bỏ chủ nghĩa đại khái không có gì đáng phải hồ thẹn! Thứ hai, ngôn ngữ cách mạng cộng sản là loại ngôn ngữ “ý hệ”, 
đối với họ, có giá trị một chân lý tuyệt đối như kinh thánh. Cho nên người cộng sản coi ý hệ của họ là sự thật khách quan. Và cộng sản dựa vào ý hệ để đặt định chủ trương, đường lối, chính sách cho hành động. Họ tin rằng như vậy là duy vật khách quan, khoa học, kỳ thực họ duy tâm hơn cả người duy tâm. Ở đây là bàn về ngôn ngữ và hành động cộng sản vào thời điểm 1945 – không phải 1999 – và quy chiếu vào tài liệu chính là bản Báo cáo của Trường Chinh trước đại Hội toàn quốc khoá II họp năm 1951 của Đảng Cộng sản (khi ấy còn mang danh xưng Đảng Lao Động). Ngoài ra cùng còn dựa vào những bài viết của ông những năm 40 đã được sửa chữa hoặc viết lại sau 1975, cho hợp với lịch sử chính thức của đảng.
A. Nhân dân là ai?
Rất nhiều người hiểu một cách thông thường rằng nhân dân là tất cả dân, là quốc dân hay toàn dân. Không ít các vị nhân sĩ, trí thức tây học còn cho rằng nhân dân là tiếng đối dịch ra tiếng Việt của chữ “peuple” nên nhân dân cũng là dân tộc. Trong ngôn ngữ cộng sản, không phải là nhân dân không mang nghĩa này. Nói cho ngay, trong nhiều trường hợp cộng sản muốn dân chúng cứ hiểu nhân dân theo nghĩa ấy, tức là như đã được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của họ: nhân dân là “khối người đông đảo làm nền tảng cho một nước…“. Nhưng đối với cộng sản, chữ nhân dân là một danh từ chính trị – theo thuật ngữ cộng sản – một phạm trù thuộc ý hệ Mác-Lênin, không phải là một thực thể nhân xã khách quan. Nó chỉ là một hình tượng của ý hệ cộng sản về thực thể ấy. Cho nên cộng sản thay đổi hình tượng này tùy từng lúc, tùy từng hoàn cảnh.

Thật thế, Hiến pháp 1946 không dùng cho nhân dân mà dùng cho “toàn dân“, một cách để gián tiếp định nghĩa nhân dân là toàn dân. Sự nhượng bộ về hình thức này tuy vậy cũng không quan trọng gì, vì cái gọi là “Hiến pháp 1946” thật ra chỉ là một chiếc bánh vẽ không hơn không kém. Nó được hối hả biểu quyết bằng một quốc hội bù nhìn, với một thiểu số nhỏ dân biểu “quốc gia” không thông qua bầu cử mà được cộng sản “mời” bổ sung! Một sự kiện, đã được các báo cộng sản thời đó tường thuật, cho thấy cung cách thảo luận và biểu quyết của quốc hội này: Khi bàn đến quốc ca, do lời đề nghị của dân biểu thuộc đảng xã hội Phan Tử Nghĩa, mọi người đứng dậy hát bài Tiến quân ca, thế là quốc hội thông qua quốc ca! Ngoài ra, được chung quyết ngày 09-11-1946, bản Hiến pháp này không hề được ban hành, tức là nó không bao giờ có hiệu lực pháp lý. Rồi ngày 19-12-46, cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, cộng sản rút lên Việt Bắc, vào chiến khu để kháng chiến, các dân biểu quốc gia “đối lập” trước được mời, nay bị lùng bắt. Quốc hội từ đó cho đến sang thập niên 50 khi hết chiến tranh, không họp nữa, chỉ còn tồn tại dưới hình thức một Ban Thường Vụ. Hiến pháp 1959 không định nghĩa chữ nhân dân, chỉ khẳng định nơi điều 2 rằngnước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước dân chủ nhân dân. Sau 1975, khi đã chiếm được quyền trong cả nước, Đảng cộng sản công khai lộ diện, Hiến pháp 1980 mới đưa ra một định nghĩa trực tiếp của chữ nhân dân, nơi điều 3: “
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ tập thể là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Cứ theo cách phân định này thì rõ ràng nhân dân không phải là toàn dân mà cũng không phải là tất cả những thành phần được kể trên đều là nhân dân! Cùng là nông dân nhưng chỉ có “nông dân tập thể” mới được kể là nhân dân, còn nông dân cá thể thì không. Cũng vậy, trí thức muốn được coi là nhân dân thì phải là trí thức “xã hội chủ nghĩa” chứ không thể là trí thức “suông”. Đầu thập niên 90, tiếp theo sự sụp đổ của toàn bộ các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ, cộng sản Việt Nam phải mở rộng thêm một phần nào nội dung chữ nhân dân: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (điều 2 HP 1992).

Nhưng họ lại không quên thòng thêm một định nghĩa gián tiếp về nhân dân là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc… (điều 4, Hiến pháp đã dẫn). Nói cách khác, bề ngoài, công khai trước dư luận, cộng sản tùy tiện định nghĩa chữ nhân dân. Lúc thì lấy cái nhỏ định nghĩa cái lớn (giai cấp là nhân dân) lúc lại lấy cái lớn định nghĩa cái nhỏ (dân tộc là nhân dân). Đã vậy, lại đưa vào bản chất của nhân dân một thành tố không ăn nhập gì tới bản chất ấy, đó là quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Phải chăng như vậy là nếu một tập thể nào không phải là liên minh của hai giai cấp công, nông và nếu nó không do giai cấp công nhân lãnh đạo thì không phải là “nhân dân” sao? Qua nhiều minh chứng đã dẫn ở trên của biểu văn chính trị, 
cộng sản nói “nhân dân” là nói tào lao mà thôi.

Nhưng trong nội bộ đảng thì cộng sản lại rất là minh bạch. Như Trường Chinh đã xác định nhân dịp đọc báo cáo trước Đại Hội II: “Hiện nay, nội dung của chính quyền nhân dân nước ta là chuyên chính dân chủ nhân dân: Nhân dân gồm các giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Những tầng lớp ấy, do giai cấp công nhân lãnh đạo, cùng tham gia chính quyền…“. Phải soi sáng cho quan điểm này bằng hai nhận định.
Thứ nhất, trên lý thuyết, Trường Chinh, rập khuôn tư tưởng Mao Trạch Đông, cũng quy định rằng có bốn giai cấp họp thành nhân dân. Nhưng trên thực tế không có một tiêu chuẩn nào chắc chắn, ổn định để xác định tính giai cấp cả. Bởi vậy vấn đề này thuộc quyền chuyên quyết của đảng.
Thứ nhì, giai cấp nào cũng chỉ được kể là giai cấp qua những phần tử gọi là đại biểu của giai cấp ấy. Đảng Cộng sản đã tự phong cho mình là đại biểu của giai cấp công nhân, giai cấp này đồng thời lại là lãnh đạo của tất cả những giai cấp khác mà các đại biểu không là ai khác hơn những người được đảng cộng sản nhìn nhận có tư cách ấy. Vậy nhân dân là Đảng và tất cả những người theo đảng. Chính người thợ cả của cuộc Cách mạng tháng Tám, Trường Chinh đã xác nhận điều này (l).

Tóm lại, cộng sản nói “nhân dân làm Cách mạng tháng Tám” nhưng đừng hiểu là toàn dân làm mà phải hiểu là chính Đảng Cộng sản đã làm.
B. Cách mạng là gì?
Một điều quan trọng nhưng rất nhiều người không để ý, đó là cộng sản ít bàn đến một khái niệm về cách mạng nói chung. Bị chi phối bởi sử quan giai cấp đấu tranh nên cộng sản đã gắn liền cách mạng với giai cấp đấu tranh. Từ điển cộng sản định nghĩa cách mạng là một “cuộc tranh đấu của giai cấp bị áp bức đứng lên lật đổ nền thống trị của giai cấp áp bức, phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng một chế độ tiến bộ“. Về điềm này Trường Chinh đã nói rất rõ: Trước hết, “
Điều cốt yếu của một cuộc cách mạng là giành chính quyền và củng cố chính quyền“. Sau nữa, dưới mắt lý thuyết gia họ Đặng này thì Cách mạng tháng Tám đã mở đầu cho “quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam là quá trình từ xã hội có tính chất thuộc địa, nửa phong kiến qua xã hội dân chủ nhân dân, đến xã hội chủ nghĩa“. Cách mạng ẩy bước đầu là “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Gọi là “dân tộc” vì “tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập, thống nhất toàn vẹn cho dân tộc“. Gọi là “dân chủ” vì “thực hiện những quyền tự do dân chủ cho nhân dân“. Gọi là “nhân dân” vì “do nhân dân tiến hành, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dựa trên cơ sở liên minh công nông“. Cách mạng ấy bước sau sẽ phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giữa hai cuộc cách mạng này, theo Trường Chinh trích dẫn Lê-nin, thì sẽ có “nhiều bước quá độ, nhiều trình độ quá độ khác nhau”, nhưng tựu trung, chúng chỉ có một thực chất đó là “chuyên chính vô sản“. Giáo điều này của Lê-nin đã được Trường Chinh khẳng định lại được một hình thức quy luật: “Nhớ rằng chuyên chính vô sản là một trong nhưng nguyên lý bắt buộc cho tất cả các nước muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội“. Kết luận tất yếu phải rút ra là cách mạng Việt Nam do cộng sản tiến hành nhất định phải là “chuyên chính“. Khi còn ở giai đoạn dân chủ nhân dân thì là “chuyên chính công nông” (nằm trong phạm trù chuyên chính vô sản – Trường Chinh chú thích như vậy), khi chuyển sang “xã hội chủ nghĩa” thì là “chuyên chính vô sản“. Hai bước này, cộng sản Việt Nam đã đi không chệch hướng trong suốt hơn 4 thập niên, với cao điểm là những năm 80. Từ đầu thập niên 90, đà tiến ấy bỗng như mất hết động lực, những chỉ dấu của một quá trình băng hoại đã xuất hiện. Nhưng nói Cách mạng tháng Tám là nói khâu mở đầu cho hai bước đi này để cách mạng được bất đầu.
C. Cách mạng tháng Tám thành công như thế nào?
Chính biến mùa Thu năm 1945 đúng ra đã không mang lại bất cứ một thành công cách mạng nào, dù cách mạng dân chủ nhân dân hay cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì chúng chưa bắt đầu. Nói làm Cách mạng tháng Tám “thành công” là để tuyên truyền. Thật ra, bản thân chính biến này cũng không mang dự án cách mạng mà cộng sản đã vạch ra từ trước.
 Do đó, nó chỉ là một vụ “cướp chính quyền” để Đảng làm cách mạng. Trường Chinh gọi đó là “tổng khởi nghĩa”. Người thầy của cách mạng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh, trong thư gửi đồng bào nhân dịp tổng khởi nghĩa này cũng chỉ thúc dục tiến lên dưới lá cờ Việt Minh, không đả động gì tới cách mạng cộng sản: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đem sức ta mà giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trể. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

Vậy nói Cách mạng tháng Tám đã thành công thì chỉ có thể là vì nó đã cướp được chính quyền cho Đảng. Thế thôi. Nhưng nếu vậy thì tất lại phải đặt ra những vấn đề mới. Cướp chính quyền cho ai? Cướp chính quyền để sau đó sẽ làm gì? Và những việc làm này có giải quyết được vấn đề tiến bộ không?

Thực tế chính trị hơn nửa thế kỷ qua đã trả lời câu hỏi thứ nhất là “cướp cho Đảng Cộng sản“. Thực tế này cũng trả lời cả câu hỏi thứ hai: để Đảng thiết lập “chuyên chính” dưới nhiều hình thức (
chuyên chính công, nông, chuyên chính vô sản mà chuyên chính là cưỡng đoạt nhân quyền). Câu hỏi thứ ba, muốn trả lời phải vượt ra khỏi hệ thông tư tưởng cộng sản. Nếu không, câu trả lời đã sẵn rồi và sẽ là “có tiến bộ“. Lập luận như vậy là không rút ra được những bài học của quá khứ.

Chính khách họ Trần, thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam – theo nghĩa hiện đại của danh xưng – không phải là người làm chính trị chuyên nghiệp. Ông chỉ là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước, thuộc thế hệ những người trí thức Tây học nhưng thấm nhuần tinh thần nho giáo. Vì thế, ông không xu hướng cách mạng bạo động, chỉ muốn ôn hòa thực hiện ngay những cải cách mà thực trạng đất nước cho phép. Khi thấy Việt Minh xách động dân chúng giành chính quyền, đồng thời ông lại thất bại trong mấy ban vận động hợp tác với Việt Minh để thành lập một chính quyền mới, trong liên tục quốc gia, ông đã tri tình lùi bước để cho Việt Minh nhận trách nhiệm trước lịch sử. Chẳng những vậy, ông cũng từ khước không nhận lời đề nghị của người Nhật, nếu ông chính thức yêu cầu họ có thể tiếp tay chính phủ ông chống nổi loạn hầu bảo vệ trật tự. Ứng xử của ông trước chính biến mùa Thu 1945 là ứng xử của một kẻ sĩ, khi thấy làm được việc thì đứng ra gánh vác, khi thấy không làm được việc thì lui về ở ẩn.

Các bộ trưởng trong nội các của ông, nói chung, cũng có thái độ tương tự. Theo hồi ký của Phạm Khắc Hòe, có hai bộ trưởng, Trần Đình Nam và Hồ Tá Khanh đề nghị “chúng ta rút lui ngay, nhường hẳn quyền bính cho Việt Minh”. Luật sư Vũ Văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh chủ trương Việt Nam phải có một chính quyền hợp pháp bảo đảm được trật tự để, lâm sự, giao thiệp với Đồng Minh, ngăn ngừa trước không cho Đồng Minh lấy lý do trật tự mà giúp cho người Pháp trở lại cầm quyền. Do đó, dù có trao quyền cho Việt Minh thì cũng cứ phải giữ chính thể quân chủ để duy trì căn bản pháp lý của một chính quyền hợp pháp. Các luật gia khác trong nội các như Trần Văn Chương, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh, v.v… đều tán thành quan điểm của Vũ Văn Hiền. Sau cùng cả nội các đồng ý lấy thái độ như luật sư Hiền đã đề xuất.

Vua Bảo Đại lúc đầu đã chọn lập trường này. Nhưng về sau, trước những biến đổi hàng ngày của tình hình, người vua cuối cùng của dòng họ Nguyễn đã quyết định thoái vị. Nguyên nhân nào đã đưa tới quyết định ấy? Thật ra, từ ba nguồn thông tin hiện có là ba tập hồi ký của Trần Trọng Kim (Một Cơn Gió Bụi), Phạm Khắc Hòe (Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc), và chính vua Bảo Đại (Con Rồng Việt Nam), người đọc cũng đã có thể rút ra được một số kết luận, dù rằng họ đã phải rất dè dặt với Phạm Khắc Hòe vì thái độ của ông tâng bốc quá lố cộng sản. Trong tương lai, sử học còn có thể mang tới những ánh sáng mới về những động cơ tâm lý đã thúc đẩy vua Bảo Đại từ bỏ ngôi báu. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, những động cơ ấy không phải là điều chủ yếu. Việc tìm hiểu tại sao vua Bảo Đại thoái vị không quan trọng bằng việc xác định người vua ấy đã thoái vị như thế nào, đã trao quyền cho ai, và trên những cơ sở gì, với những hậu quả pháp lý ra sao?

Về điểm này, tưởng phải phục hồi giá trị lịch sử cho “Chiếu thoái vị” ngày 25-8-1945 của vua Bảo Đại, một văn kiện lịch sử đã bị chôn vùi một cách vô ý thức quá sớm, chẳng những bởi những người cộng sản mà cả những người chống cộng sản. Đối với người Việt Nam, không ai nghĩ rằng Chiếu thoái vị này là một loại Đại Hiến Chương (Magna Carta hay Great Charter) mà ý nghĩa lịch sử cũng như pháp lý cao hơn bản Đại Hiến Chương 1215 của vua Jean-Sans-Terre, một lời cam kết của vị vua này ở Anh quốc chấp nhận nhường một phần vương quyền cho các bá tước người Anh. Vậy mà ngày nay chẳng những riêng người Anh, cả thế giới đều coi nó như một nguồn gốc lịch sử của nhân quyền. Trong khi đó, Chiếu thoái vị 25-8-1945 của vua Bảo Đại là một văn bản chính thức và công khai, qua trung gian các đại diện của dân chúng, nhường không điều kiện toàn bộ vương quyền cho dân chúng. Những người cộng sản cướp chính quyền, theo âm mẫu “la” của Trương Chinh, coi Chiếu thoái vị của vua Bảo Đại chỉ là một văn kiện “đầu hàng cách mạng” là điều hiểu được. Nhưng quả thật rất khó hiểu sự kiện đã có không ít những người tự nhận là chống cộng sản, hoặc vì không biết được nội dung đầy đủ của nó nên coi nó như không có gì đáng kể, hoặc khiếp đảm vì bạo lực của cộng sản cướp chính quyền, không nhận ra được giá trị đích thực của Chiếu thoái vị, thậm chí còn nhập nội và lưu truyền mặc cảm tự ti của những người thất trận!
Đã đến lúc phải tái lập sự thật. 
Trên bình diện lịch sử, Chiếu thoái vị ngày 25-8-1945 của vua Bảo Đại là một sử liệu quý giá đánh dấu sự chấm dứt nền quân chủ cổ truyền để chuyển quyền, không đổ máu, từ vua sang dân, trong một tinh thần tự nguyện vì độc lập của đất nước, vì tự do của mỗi người dân và vì đoàn kết của cả dân tộc. Trên bình diện pháp lý, văn kiện này là một bản hợp đồng rất đặc biệt – vừa thành văn vừa không thành văn – ấn định rõ ràng những điều kiện trong đó hành vi trao quyền được thực hiện và những nghĩa vụ mà người nhận quyền phải thi hành. Điều cho đến nay không ai nói tới hoặc không nghĩ tới, là bên nhận quyền, 
những người cộng sản cướp chính quyền năm 1945, đã long trọng cam kết thi hành những nghĩa vụ ấy. Nhưng cộng sản đã bội ước, nhận quyền để thiết lập chuyên chính còn bạo tàn hơn cả quân chủ.

Cũng như trong trường hợp bản Đại Hiến Chương 1215, luật học ngày nay không cần tìm biết vì sao vua Jean-Sans-Terre đã nhường quyền mà chỉ cần biết vị vua này đã nhường những quyền gì, nhường cho ai? Vua Bảo Đại, với tư cách người kế thừa vương quyền của dòng họ Nguyễn lưu truyền đã gần 400 năm nay, đã văn kiện hóa hành vi nhường quyền của mình bằng những lời lẽ không thể minh bạch hơn nữa: “vì hạnh phúc của dân”, “vì độc lập của nước”, không “ngồi yên mà đợi quốc hội” trước “nhiệt vọng dân cử” rất cao của dân chúng miền Bắc, đã “quả quyết thoái vị” để tránh nạn “Nam-Bắc phân tranh ” đồng hời “
nhượng quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa” . Một trong đòi hỏi của người trao quyền là chính quyền dân chủ sắp được thiết lập phải “lấy sự ôn hòa xử trí” đối với các đảng phái đã từng tranh đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân”.

Như vậy là vua Bảo Đại đã sang trang cho lịch sử cả hàng ngàn năm. Và những người nhận quyền từ tay vua Bảo Đại đã giao ước, trước mặt quốc dân, với vua Bảo Đại, sẽ viết những trang sử mới theo đúng lời yêu cầu ghi trong Chiếu thoái vị. Giao ước long trọng nhiều lần. Lần thứ nhất, khi vua Bảo Đại gặp các đại diện của ấy Ban Nhân Dân Cứu Quốc tự xưng là đại diện cho tất cả mọi đảng phái và tầng lớp dân chúng, sáng ngày 23-8-1945 tới cung điện với giấy ủy quyền nhân danh Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (Việt Minh) ở Hà Nội phái vào .
 Theo tập hồi ký Con Rồng Việt Nam thì phái đoàn đại diện gồm có hai người là Trần Huy Liệu, Phó chủ tịch của ủy ban Nhân dân cứu quốc và Cù Huy Cận, nhưng ký giả Nam Đình Nguyễn Kỳ Nam lại viết trong tập hồi ký của ông là còn có cả Nguyễn Lương Bằng, đại diện cho “cách mạng”. Cách thức nhận quyền thuộc phần giao ước không thành văn. Người ta đọc thấy trong tập hồi ký Con Rồng Việt Nam rằng Trần Huy Liệu xuất trình giấy ủy quyền và tuyên bố: “Nhân danh dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Mặt Trận Giải Phóng đất nước cho chúng tôi vinh dự đến gần Hoàng thượng để nhận ấn kiếm”’. Được vua Bảo Đại trao cho đọc Chiếu thoái vị, sau khi đọc xong và, hội ý với Cù Huy Cận, Trần Huy Liệu nói: “Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận hết cả bản văn này. Nhưng chúng tôi kính xin tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết”*. Chiều ngày 23-8-1 1945, vua Bảo Đại bận triều phục, đọc cho hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ môn nghe Chiếu thoái vị đề ngày 25-8-1945.
Lần đầu tiên nền dân chủ đã trực tiếp ra đời trên đất nước Việt Nam, với một áp âm tươi sáng: “Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập. Lần thứ hai, sự giao ước – lần này gián tiếp – đã được nhà cầm quyền cộng sản trá hình, thay thế triều đình Huế, long trọng tuyên đọc qua bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 trong đó có trích dẫn tinh thần dân chủ tự do theo truyền thống phương Tây để được nêu lên như một giá trị quy chiếu. Không biết rằng vô tình hay cố ý, sự giao ước giữa hai bên không được văn kiện hóa để mang hình thức một tài liệu thành văn. Nhưng xét theo tập tục của người Việt Nam vào thời điểm mùa Thu năm 1945, giữa hai bên “Vua” và “Dân” đã có sự kết ước với những điều kiện rõ rệt. Ở các chợ miền quê trong cả nước hồi đó, tập tục mua bán trâu bò chỉ cần thỏa thuận miệng và một cử chỉ hai bên vỗ vào tay nhau là sự kết ước thành tựu. Không lẽ một bản văn trọng đại như Chiếu thoái vị, được tăng cường thêm bằng những hình thức trọng thể của việc thoái vị và Tuyên ngôn ngày 2-9-1945 thành lập chính quyền Cộng Hòa, lại không có giá trị bằng một lời giao ước miệng mua bán trâu bò ở giữa chợ sao?

Những gì đã thực tế xảy ra, sau ngày vua Bảo Đại thoái vị đến nay đã hơn nữa thế kỷ, cho thấy là những người được trao quyền đã bội ước. Không hề có “đoàn kết quốc dân“, chỉ có “giai cấp đấu tranh” giữa các “nhân dân” đủ loại. Không hề có “dân chủ”, chỉ có “chuyên chính“. Không hề có đa nguyên, đa đảng chỉ có một đảng độc nhất là Đảng Cộng Sản độc chiếm quyền hành. Mọi người nay đã có cơ sở để khách quan đánh giá chính biến mùa Thu 1945, định xem nó là một vụ cướp chính quyền hay là một cuộc cách mạng.
Nhờ sự giúp sức của thời gian, mọi người nay thấy rõ được rằng không thể máy móc dựa vào việc bạo động cướp chính quyền để ca ngợi chính biến mùa Thu 1945 là một cuộc cách mạng lật đổ phong kiến, hủy bỏ chế độ quân chủ, thiết lập dân chủ. Mà phải vạch trần ra rằng nếu thật sự muốn thiết lập dân chủ thì hành vi của vua Bảo Đại nhường toàn bộ vương quyền đã mở rộng đường vào dân chủ và có thể giúp tiết kiệm được mồ hôi, nước mắt, xương máu cho dân Việt Nam trên con đường vòng hơn 50 năm áp bức đảng trị gay gắt hơn cả phong kiến. Nhưng, mặt khác, muốn coi chính biến này là một cuộc cách mạng thì phải hiểu chữ cách mạng theo nghĩa của hệ quy chiếu cộng sản. Nhìn dưới độ góc đó, chính biến mùa Thu chỉ mới là một “khâu” cướp chính quyền trong chuỗi dài cách mạng cộng sản, theo con đường “Cách mạng tháng Mười” mà lịch sử từ một thập niên qua đã chứng minh rằng nó đã thất bại ngay từ bước quá độ, không thể và không bao giờ đi tới được thành công.

Trong nhưng năm tới, Việt Nam chắc cũng sẽ có những công trình nghiên cứu sử học vô tư – như trong bộ sử hậu-cộng-sản, do giáo sư đại học Nga, Iouri Afanassiev, chủ trì và ấn hành năm 1991 tại Mạc Tư Khoa – để đưa ra trước ánh sáng những thao tác của Đảng Cộng sản Việt Nam trong ý đồ cưỡng hiếp và ngụy tạo lịch sử. Nhưng ngay tự bây giờ người ta cũng đã có cơ sở để dứt khoát 
kết luận rằng cuộc chính biến mùa thu 45 không thể coi là một cuộc cách mạng – dù vô sản hay dân tộc dân chủ nhân dân – mà chỉ là một vụ cướp chính quyền.

LS Trần Thanh Hiệp

Bạc Liêu: Bà Đặng Thị Kim Liêng Tự Thiêu Noi Gương Tinh Thần Tây Tạng (2)


Chết Vinh Quang Còn Hơn Sống Nhục Dưới Chế Độ VGCS Buôn Dân Bán Nước

Những trò khủng bố- chèn áp - bức bách về tinh thần cúa VGCS dành cho những nhà đấu tranh Dân Chủ và thân nhân của họ ra sao? Bởi từ nhiều năm nay biết bao bài viết- bài tường thuật về những trò bỉ ổi- man rợ mà VGCS áp dụng cho những người dấu tranh và cả gia đình cùng những người thân của họ đã được đăng tải- Nhưng thật sự nếu chúng ta không phải là người trong cuộc thì khó lòng hình dung ra sự thật TÀN KHỐC bên trong như thế nào .

----


Thật Không sao Hiểu nổi



Được tin thân mẫu blogger Tạ Phong Tần qua đời sau khi tự thiêu vì bị chính quyền địa phương sách nhiễu, hù dọạ, khủng bố tinh thần suốt một thời gian dài mà tôi bàng hoàng.
Tôi chưa bao giờ hồ nghi một chút nào về sự tàn ác, dã man, ngu muội của nhà nước cộng sản VN và cung cách hành xử không có một chút tình người, không một chút lương tri, đốn mạt hết mức của cái nhà nước này đối với người dân, đặc biệt đối với những ai dám lên tiếng nói lên sự thật về chế độ, về thực trạng xã hội VN hay có bất cứ một hành vi nào phản kháng lại sự cầm quyền của họ. Nhưng o ép, khủng bố tinh thần một người phụ nữ lớn tuổi, thân cô thế cô, một người mẹ đang có con bị giam cầm không có lý do chính đáng, suốt một thời gian dài đến mức bà không chịu nổi, phải tự chọn cho mình một cái chết đau đớn, tức tưởi, tuyệt vọng đến thế thì quả là khốn nạn không biết chừng nào mà kể.


Kể từ khi đảng và nhà nước cộng sản VN nắm quyền lãnh đạo ở đất nước này, đã có bao nhiêu trường hợp người dân bị giết hại hoặc phải tự chọn cho mình một cái chết oan ức, cách này cách khác, vì bị nhà cầm quyền xử ép, dồn đến đường cùng với đủ mọi nguyên nhân, lý do? Nào bị vu cho tội phản động, tay sai của giặc Pháp, bị quy vào thành phẩn địa chủ, tiểu tư sản….thời Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, hay vụ án xét lại năm xưa cho đến tội làm tay sai cho Mỹ-ngụy, có dính dáng đến chế độ cũ, hay thuộc giai cấp tư sản mại bản bóc lột nhân dân cần phải được cải tạo, rồi bây giờ thì nào bị cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng nhưng đền bù không thỏa đáng, hoặc là nạn nhân của những vụ án xét xử không công bằng, hoặc cũng vẫn là cái tội muôn đời “phản động, tuyên truyền chống phá sự nghiệp cách mạng” v.v...


Sự tàn ác của nhà nước cộng sản VN đối với nhân dân trong suốt hơn sáu thập kỷ qua thật tình không sao kể xiết. Chỉ riêng đối với những ai vì yêu nước, vì xót xa, bức xúc trước sự lạc hậu của đất nước so với các nước láng giềng và thế giới, trước thực trạng tồi tệ về mọi mặt của xã hội VN và đời sống hoàn toàn thiếu vắng tự do, dân chủ, nhân quyền con người không được coi trọng, đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân không được thật sự bình yên, ổn định...nên đã dám lên tiếng, thì luôn luôn nhận được sự trả thù hèn mạt của nhà cầm quyền. Từ những năm tháng đầu tiên khi đảng cộng sản lên nắm quyền cho đến bây giờ, bao nhiêu thời gian đã trôi qua và thời cuộc, thời thế đã biến chuyển, thế nhưng cách hành xử của nhà nước với những con người như vậy cùng gia đình họ vẫn không hề thay đổi.


Những ai chưa bao giờ ở vào vị trí như vậy sẽ không thể tin, không thể hiểu được và còn cho rằng những người khác đã nói quá lên chứ nhà nước nào mà lại cư xử như vậy. Hoặc cố bênh vực rằng bất cứ quốc gia nào, chế độ nào, hễ anh chống đối lại họ, thì anh cũng sẽ bị trừng phạt thôi, làm sao có thể đòi hỏi một chính quyền nào đó đối xử tốt với anh, gia đình anh khi anh chống đối họ? Nói như vậy là cố tình lập lờ, đánh đồng như nhau giữa cách hành xử của một chế độ dân chủ pháp trị với một chế độ độc tài cai trị bằng luật rừng, luật của đảng.
Trong một chế độ dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng, chính quyền luôn luôn phải chịu sức ép từ các đảng phái đối lập, từ sức mạnh của báo chí truyền thông, lá phiếu của người dân và dư luận quốc tế. Họ không thể chà đạp lên tất cả mọi thứ. Đối với những người bất đồng chính kiến, tù nhân chính trị, họ phải đưa ra xét xử công khai, họ không thể che đậy hành vi của mình nếu sử dụng những chiêu, trò ném đá dấu tay, bẩn thỉu, hèn mạt như cách mà một nhà nước độc tài toàn trị có đủ quân đội, công an, luật pháp, báo chí trong tay nhưng vẫn sử dụng như nhà nước VN. Từ việc dùng truyền thông báo đảng để vu khống, bôi nhọ danh dự người bất đồng chính kiến, gây sức ép với cơ quan làm việc của người đó để cơ quan buộc người bất đồng chính kiến/người hoạt động chính trị phải thôi việc, sử dụng chính quyền địa phương hoặc cơ quan đế đấu tố, kiểm điểm, tạo dư luận để cô lập người đó với những người xung quanh, ngụy tạo những bản án hình sự để ghép tội, hoặc sử dụng những điều luật mơ hổ như điều 88, 79…đế bắt giam với những bản án nặng nề, bên cạnh đó thì thường xuyên khủng bố tinh thần người bất đồng chính kiến và người thân của họ...


Những ai chưa/không trải qua, sẽ không thể nào tin được những hành vi hèn mạt nhất mà nhà nước này vẫn sẵn sàng áp dụng, kể cả ném mắm tôm, chất thối vào nhà, khóa trái cửa nhốt người bên trong không cho ra ngoài, cho xã hội đen đánh dằn mặt, gây tai nạn khi đi xe trên đường, theo dõi thường trực khắp mọi nơi mọi lúc…Đó là tất cả những gì mà từ thời cụ Hoàng Minh Chính, ông Nguyễn Hộ xa xưa cho đến thượng tọa Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Công Định hay những người bất đồng chính kiến khác, kể cả những con người bình thường như các blogger trong nhóm CLBNBTD, các thanh niên công giáo bị bắt, những người yêu nước đi biểu tình phản đối Trung Quốc…đã và đang trải qua, cùng với gia đình của họ.


Với những ai không chịu nổi, thì cái chết là sự lựa chọn tuyệt vọng cuối cùng. Như cụ bà Đặng thị Kim Liêng, thân mẫu blogger Tạ Phong Tần đã phải chọn.
Tôi nhắc lại, tôi chưa bao giờ hồ nghi về sự tàn ác, ngu muội, cách hành xử phi nhân tính của nhà cầm quyền VN đối với người dân nói chung và những người dám nói khác ý họ. Chỉ có một điều tôi không sao hiểu nổi, sao họ lại ngu đến thế khi vẫn tiếp tục thực hiện chính sách đàn áp, đối xử tệ hại này giữa lúc tình hình biển Đông đang hết sức căng thẳng, hiểm họa mất nước đã sờ sờ trước mắt và hơn bao giờ hết họ cần có sự ủng hộ của nhân dân và quốc tế?
Hành xử như vậy thì nhân dân nào sẽ đứng bên cạnh họ khi chiến tranh nổ ra? Các nước dân chủ tiến bộ nào trên thế giới sẽ ủng hộ họ khi Trung Quốc gây sự với VN? Bài học từ năm 1979, 1988, khi VN đơn độc chống chọi lại với TQ, sao họ không nhớ, không thuộc?


Trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979, đâu phải Mỹ chưa từng chìa bàn tay ra trước với VN nhưng vì tầm nhìn thiển cận, ngây ngất với cái chiến thắng mà thật ra có được, là nhờ sự hỗ trợ của Liên Xô, Trung Cộng và cả khối XHCN lúc bây giờ chứ VN có cái gì ngoài xương máu của chính nhân dân mình, đảng cộng sản VN đã bỏ lỡ cơ hội để rồi sau đó, cả dân tộc phải trả giá bằng cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây-Nam, 10 năm bị cấm vận cũng như việc bất lực nhìn Trung Quốc tận hưởng mọi cơ hội của việc mở cửa trước với phương Tây? Sao họ không nghĩ rằng, kịch bản này sẽ lại có thể lặp lại, nếu nhà nước cộng sản VN không chứng tỏ cho thế giới thấy sự thay đổi trong chính sách đu dây với TQ và cải thiện vể nhân quyền, mở rộng một số tự do dân chủ cho người dân, thì Mỹ và các nước cũng vì quyển lợi của họ, sẵn sảng để mặc cho Trung Cộng nuốt VN miễn là quyển tự do hàng hải trên biển Đông và các quyền lợi khác của Mỹ và đồng minh không bị xâm phạm?


Chỉ có hai cách trả lời cho thái độ này: hoặc là họ ngu lâu khó cải tạo, hoặc là họ đã chọn lựa: thà mất nước mà giữ yên chế độ. Hãy nhìn cách họ tiếp tục xưng xưng ca tụng tình hữu nghị Việt Trung, hèn hạ câm nín trước mọi động thái leo thang gây hấn của TQ trên biển Đông trong lúc vẫn tăng cường đàn áp, khủng bố người dân thì câu trả lời cũng đã rõ. Nhưng nước mất vào tay TQ, liệu thân phận của họ, quyền lực của họ có còn nguyên vẹn, yên ổn? Chưa kể, lịch sử, nhân dân sẽ nguyền rủa muôn đời, không thể nào họ không hiểu điều này.
Song Chi
http://www.rfavietnam.com/node/1284
-------------
Chỉ Có Trường VGCS Huấn Luyện : Cho Con Người Cán Cộng
Nữ cán bộ cướp giấy phúng điếu, bỏ chạy thục mạng

Bài Xem Nhiều