We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 10 August 2012

Tại Đảng Lo Chuyện Bên Tầu: Nếu Không Tụi Em Lãnh Giải Olympics 2012

USA 90 Medals (41 Gold)
Great Britain 58 Medals (26 Gold)
CHINA 81 Medals (37 Gold)
VIETNAM 18 Medals (18 Plum)

----------
Thế Vận - tổng kết ngày thứ 12 -
 Việt Nam lãnh 18


Huy Chương Chì

Trong các cuộc tranh đua thể thao, người ta chỉ trao cho người thắng 3 loại huy chương: Vàng - hạng nhất, Bạc - hạng nhì, và Đồng - hạng ba… Kết thúc trận đấu mà đứng “hạng 4” thì phải về tay không; bởi vì chưa có ai nghĩ ra chuyện có nên làm thêm cái “huy chương Chì” (? hay thau?) để trao cho người về hạng 4... Nhưng đây lại là cái huy chương bẽ bàng mà trên con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghiã siêu việt, phái đoàn lực sĩ - vi-xi bây giờ gọi là “Vận Động Viên” - nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vô địch tham dự Thế vận hội 2012 tại Luân đôn đã mang vể cho Viêt Nam.

Trong kỳ thế vận 2012 tại Luân Đôn lần này phái đoàn thể thao Việt Nam dẫn dắt bởi Tổng cục Thể dục Thể thao, trước khi khai mạc tranh tài, đã tự phá cái kỷ lục của chính họ (vi-xi gọi theo kiểu “chém gió” là “đã làm lịch sử,” hay là “một bước tiến lịch sử”) về là số người đi tham dự: 56 thành viên trong đó có 18 lực sĩ - (nên biết thêm ở Sydney 2000 có 2 lực sĩ, Athens 2004 có 5 lực sĩ, và Bắc Kinh 2008 có 8 lực sĩ). Ậy! Xem cho kỹ lại con số người tham dự một chút:

56 thành viên trong đó có 18 lực sĩ

Tức là một tập hợp mà quan (38 người) nhiều hơn lính (18 người)? Mỗi lực sĩ cần được 2 quan nhà nước kẹp hai bên nách cho yên tâm? Số quan gấp đôi số lính mà lại chỉ có 1 bác sĩ (BS Nguyễn Văn Phú)… “Đổng chí” Lâm Quang Thành, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Trưởng đoàn thể thao Việt Nam dự Thế vận hội 2012, giải thích ngon ơ theo kiểu “định hướng xhcn” là:

“Tỉ số quan 2, lính 1 là ‘chuyện bình thường.’ Số người của ‘chúng ta’ đi lần này không phải là nhiều mà là ‘hợp ní,’ rất ‘cụ thể’ đã được Ban tổ chức (?) cho phép và quy định (?!)”

Đ/c Lâm Quang Thành, còn khai thiệt (rât hiếm khi!) là trong danh sách của phái đoàn Việt Nam được liệt kê, đã trình cho Ủy ban Thế vận 2012, có cả 3 cán bộ / công an nhà nước (với phận sự cũng đã được ghi rõ ràng trên danh sách tháp tùng phái đoàn này…) Má ơi ! Sao “căng” quá vậy! Sau kỳ thế vận 2012 này mà nếu có được một (01) lực sĩ Việt Nam nào đó can đảm “trèo tường lửa,” liều mạng vượt qua được khỏi hàng rào an ninh công an cs để xin tị nạn chính trị thì xem ra công việc “vượt rào” này còn khó hơn là đoạt huy chương Vàng thế vận… Thiệt tình!

Nên biết thêm, các khoản tiền (hứa?) thưởng dành cho các lực sĩ, theo quy định của “nhà nước” và doanh nghiệp, là 1 tỉ đồng cho huy chương Vàng, 600 triệu đồng cho huy chương Bạc và 400 triệu đồng cho huy chương Đồng… còn cho “huy chương Chì” (cho hạng 4) thì vẫn là một ly nước lã cộng chút muối ớt hiểm… Có lẽ đi cho đông để có mặt mà chia tiền !?

Sau đây là danh 18 lực sĩ tham dự 11 bộ môn khác nhau mà tôi chạy “Google search” gần muốn chết qua hơn 20 trang web mới ghi lại tạm đầy đủ để trình đến quý vị:

1- Nguyễn Tiến Nhật: Đấu kiếm (Fencing).

2- Nguyễn Thị Ánh Viên: Bơi lội (Swimming).

3- Hòang Xuân Vinh: Bắn súng (Shooting).
Lê Thị Hoàng Ngọc: Bắn súng.

4- Trần Lê Quốc Toàn: Cử tạ (Weightlifting).
Nguyễn Thị Thúy: Cử tạ.

5- Phan Thị Hà Thanh (trẻ nhất chưa tới 16 tuổi): Thể dục dụng cụ (Gymnastic).
Đỗ Thị Ngân Thượng: Thể dục Dụng cụ.
Phạm Phước Hưng: Thể dục Dụng cụ.

6- Nguyễn Tiến Minh: Vũ cầu (Badminton).

7- Dương Thị Việt Anh: Điền kinh (Nhẩy cao / High Jump).
Nguyễn Thị Thanh Phúc: Điền kinh (Đi bộ 20 Km / Walking).

8- Nguyễn Thị Lụa: Đô vật (Wrestling).

9- Văn Ngọc Tú: Nhu đạo (Judo).

10- Chu Hoàng Diệu Linh (17 tuổi): Thái cực đạo (Taekwondo)
Lê Huỳnh Châu: Thái cực đạo.

11 - Phạm Thị Thảo: Chèo thuyền (Rowing).
Phạm Thị Hải: Chèo thuyền (Rowing).

Hôm nay là ngày thứ 10 (6 tháng 8) của Thế vận hội mà tôi tìm đỏ hai con mắt qua khắp các các hệ thống truyền hình có sẵn (NBC, ESPN, Star Sport...) cũng không tài nào tìm ra xem “bi giờ em (lực sĩ Việt Nam) ở đâu?” “em đang thi đua, tranh tài ra sao?” Sau đó mới vỡ lẽ ra lý do là vào cuối ngày thứ hai của thế vận hội, tức là ngày Chủ nhật 29 tháng 7 năm 2012, ba phần tư (3/4) số lực sĩ Việt Nam đến tham dự thế vận hội 2012 đã bị loại ra ở vòng loại (qualifier round). Họ đã sẵn sàng “âm thầm đóng lại hành lý” đáp chuyến máy bay cho sớm sủa (cũng tiện, đỡ phải mất công chen lấn vào giờ tắt lửa thế vận) trở về nước. Các “video clip” mà tôi lục lọi tìm thấy trên Net (của lực sĩ Phan Thị Thanh Hà, Phạm Phước Hưng… chẳng hạn) chỉ thấy trên “YouTube” qua sự ghi lại mốt cách sơ sài vội vàng của các cá nhân khán giả người Việt may mắn có cơ hội dự xem cuộc trạnh tài… Còn “maintream media” thì hoàan toàn sổ toẹt!

Kết quả của cuối ngày thứ hai thế vận (Chủ nhật 28 tháng 7 2012) ghi lại bởi “dtinews” được tôi tóm lược lại như sau:

- Giấc mơ thế vận của võ sĩ Judo Văn Ngọc Tú đột nhiên thành ác mộng sau trận tranh tài mở màn (first fight) với võ sĩ Sarah Menedez của Ba Tây. Văn Ngọc Tú ghi “0” (zero) điểm trong khi Menedez ghi được 2 điểm.

- Xạ thủ Hoàng Xuân Vinh lên trường bắn tranh đua tầm bắn 10m súng trường hơi Nam vòng loại. Hoàng Xuân Vinh bắn được tổng cộng 582 điểm xếp hạng 9 (thua Xạ thủ Nam Hàn Jin Jongoh – 588 điểm). Hoàng Xuân Vinh Vinh bị loại trong thể bắn tầm 10m này vì chỉ có 8 xạ thủ được vào vòng thi kế tiếp. Kế đến, ở tầm bắn 50m súng ngắn trong cùng ngày, Hoàng Xuân Vinh qua được vòng loại với 563 điểm; nhưng trong lần tranh chung kết ngày 5 tháng 8, Hoàng Xuân Vinh chỉ ghi được 658.5 điểm và xếp hàng 4 (huy chương Chì – chỉ thua có 0.1 điểm sau người xếp hạng 3 huy chương Đồng). Nên biết, trong 50m súng ngắn, Jin Jongoh Nam hàn ghi 662 điểm huy chương Vàng, Cho Young Rae cũng từ Nam hàn ghi 661.5 điểm huy chương Bạc, và Wang Zhiwei Trung cộng ghi 658.6 điểm huy chương Đồng.

Nữ Xạ thủ Lê Thị Hoàng Ngọc chỉ ghi được 379 điểm trong tầm bắn 10m súng trường hơi Nữ vòng loại và xếp hạng 21 trên số 49 tuyển thủ; cũng bị loại ngay vòng đầu.

- Trong đợt tranh đua vòng loại Thể dục dụng cụ (Gymnastic qualifier) Nữ, cả 2 tuyển thủ Việt Nam Đỗ Thị Ngân Thương và Phan Thị Thanh Hà đều bị loại ở ngay vòng đầu. Đỗ Thị Ngân Thương ghi được 11.466 điểm trên “Đòn so le” (uneven bars) và 11.966 trên “Đòn dài” (beam). Đỗ Thị Ngân Thương vì bị thương ở chân trong các cuộc tranh tài trước đây đành đứng hạng chót (thứ 80 trên số 80) trong số các tuyển thủ Nữ (?) Đồng thời, Phan Thị Thanh Hà ghi 13.533 môn “Nhào lộn trên ngựa” (Vault) và 12.466 điểm môn “Nhào lộn trên sàn phẳng” (floor ecercise). Cả hai đành chào tạm biệt cuộc tranh tài kế tiếp.

Ngay sau đó nam tuyển thủ môn Thể dục dung cụ Phạm Phước Hưng cũng bị loại ngay ở vòng đầu.

- Môn cử tạ hạng “ốc tiêu” (hạng 56kg) lực sĩ Trần Lê Quốc Toàn, người mà đoàn lực sĩ thế vận Việt Nam có hy vọng nhiều nhất (số 1) cho một huy chương thế vận lần này, chỉ nhấc (lifting) được tổng cộng 293Kg (1kg thấp hơn bình thường của anh) và Trần Lê Quốc Toàn về hạng 4 (mang thêm 1 “huy chương Chì” cho phái đoàan Việt Nam) sau Valentine Hristov Snezhev của Azerbaijan hạng 3 - huy chương Đồng, Wu Jinbao của Trung Cộng hạng 2 - huy chương Bạc, và Om Yun Chon của Bắc Hàn về hạng 1 - huy chương Vàng.

Cũng môn cử tạ hạng “hột tiêu” 53Kg Nữ, lực sĩ Nguyễn Thị Thúy không đạt tới trọng lượng 200Kg (chỉ nhấc được tổng thể 195Kg). Nguyễn Thị Thúy xếp được hạng thứ 8 trên 18 tuyển thủ ở cuối trận tranh tài môn cử tạ hạng “hột tiêu” này, và bị loại.

Ngày tranh đua đầu tiên (thứ Bẩy 28 tháng 7 năm 2012):

- Lực sĩ Nguyễn Thị Ánh Viên trong môn bơi thể loại 400m tự do (free style) ghi được 4:50:32 và bị loại trong tầm bơi này vì các lực sĩ Mexico, Phần lan và Pakistan ghi từ 4:31 đến 4:42. Nguyễn Thị Ánh Viên còn một cuộc đua 200m Bơi nhái (Breaststroke) vào ngày 2 tháng 8; nhưng rất tiếc tôi không tìm thấy một kết quả khả dĩ nào (ở các vòng bán kết) được ghi lại sau ngày 2 tháng 8 về “siêu kình ngư” (như báo “lề phải” nước ta đặt tên cho lực sĩ này) Nguyễn Thị Ánh Viên.

- Cầu thủ Vũ cầu Nguyễn Tiến Minh, người có cái vinh dự cầm cờ (thủ kỳ) cho phái đoàn Việt Nam trong buổi “diễu binh” khai mạc thế vận hội 2012 Luân đôn), thắng Tan Yuhan của Bỉ ở vòng loại (tỉ số 21-17, 14-21 và 10-21)… Trong vòng thứ hai ngày 31 tháng 7, tay cầu Nguyễn Tiến Minh thua tuyển thủ Ấn độ Kashyap Parupalli với tỉ số rất cách biệt trong hai sets (tỉ số 21-9 và 21-14).

- Môn “Chèo thuyền cặp đôi loại nhẹ” (Women’s Lightweight Double Sculls), hai tay chèo Nữ Phạm Thị Hải và Phạm Thị Thảo chèo về hạng chót (7:50:06) ở vòng loại và dĩ nhiên bị loại.

Trần Văn Giang

--------
Olympic : Số phận nghiệt ngả của những nhà vô địch TC sau khi giải nghệ

 Olympic : Số phận nghiệt ngả  của những nhà vô địch TC sau khi giải nghệ
Đằng sau vinh quang và những lời hứa hẹn, các nhà cựu vô địch thể thao Trung Quốc vẫn từng ngày từng giờ vật lộn với cuộc sống mưu sinh.
Theo tạp chí Thể thao Trung Quốc hàng ngày, gần 80% trong tổng số 300.000 VĐV nước này đang phải vật lộn với chấn thương, thất nghiệp và nghèo đói sau khi giải nghệ.
Có vẻ như, những lò đào tạo đầy khắc nghiệt của Trung Quốc đã dạy các VĐV của mình cách trở thành những "cỗ máy săn vàng" trong thể thao nhưng không thể khiến họ làm lại điều tương tự trong cuộc sống thường nhật.
"Cơm áo không đùa với khách thơ"
Không có kiến thức căn bản, thiếu kĩ năng sống, thế giới phức tạp bên ngoài phòng tập với nỗi lo cơm, áo, gạo tiền đã trở thành nỗi ám ảnh với nhiều VĐV mà không nhiều người trong số họ có thể vượt qua.
Cựu vô địch cử tạ châu Á Cai Li đã chết vì viêm phổi ở tuổi 33 sau khi ông không thể đủ khả năng để trả các hóa đơn y tế của mình. Liu Fei, bảy lần vô địch quốc gia và vô địch thế giới ở môn thể dục dụng cụ đang đấu tranh để sinh tồn với 800 NDT (tương đương 2,8 triệu VNĐ) mà cô kiếm được hàng tháng từ việc dạy kèm thể dục.
Liu Fei và căn hộ chật chội tại một khu dân cư nghèo.
Đặc biệt, nhà vô địch giải Marathon Quốc tế Bắc Kinh năm 1999 Ai Dongmei đã tuyên bố cách đây vài năm rằng cô không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bán những huy chương đã giành được để nuôi sống gia đình.
Ai Dongmei phải trải qua công việc bán quần áo cũng như bỏng ngô trên khắp các đường phố Bắc Kinh để kiếm kế sinh nhai. Không dừng lại ở đó, cô còn quyết định bán 19 chiếc huy chương như là phần kí ức đẹp đẽ, chói lọi nhất trong cuộc đời để có thể chăm sóc cho gia đình cũng như đòi lại công bằng cho sự hi sinh của mình suốt hai thập kỉ. Ai Dongmei đã khởi kiện HLV của mình vì cho rằng ông đã ăn chặn tiền thưởng của cô cũng như Hiệp hội thể thao nhằm đòi lại 160.000 NDT như là khoản bồi thường cho những chấn thương mà cô gặp phải trong thời gian tập luyện và thi đấu.
Ai Dongmei phải đấu tranh cật lực mới nhận được tiền hỗ trợ phẩu thuật căn bệnh quái ác.
Hành trình đi tìm công lí của Ai Dongmei với sự trợ giúp và quan tâm của dư luận cũng đã tìm được cái kết có hậu. Cô nhận được bồi thường 200.000 NDT từ Hiệp hội thể thao và có thể tiến hành ca phẫu thuật bàn chân đã bị biến dạng do những ngày tháng tập luyện gian khổ.
Từ vinh quang đến tận cùng nỗi đau
Khi Zou Chunlan bỏ học ở tuổi 13 để theo đuổi con đường của một VĐV chuyên nghiệp, HLV tuyển dụng đã đảm bảo rằng suốt phần đời còn lại của cô chỉ cần quan tâm đến việc giành chiến thắng. Trong suốt một thập kỷ, Zou đã nghe theo lời khuyên của ông để nỗ lực giành danh hiệu quốc gia cử tạ đầu tiên vào năm 1990 khi 19 tuổi và bỏ túi 4 chức vô địch quốc gia khác. Nhưng khi giã từ sự nghiệp vào năm 1993, Zou đã phát hiện ra rằng viễn cảnh về một cuộc sống vô lo đã tan theo bong bóng.
Giờ đây, thực tại mà Zou phải đối mặt còn khốc liệt hơn bất cứ một bài tra tấn thể lực nào mà cô đã từng trải qua. Sau 3 năm làm việc vặt trong nhà bếp của đột tuyển cử tạ, Zou đã bị yêu cầu thôi việc. Cô sau đó phải phải lăn lộn ở công trường với công việc bốc vác rồi lại tìm đến công việc của một nhân viên massage trong các phòng tắm hơi công cộng với thu nhập vài trăm NDT một tháng.
Zou Chunlan phải bán bộ sưu tập huy chương để nuôi sống bản thân và gia đình.
Thế nhưng, những thiếu thốn về vật chất vẫn chưa phải là tận cùng nỗi đau của người phụ nữ bất hạnh này. Những tấm huy chương không chỉ lấy đi của cô mồ hôi, nước mắt và những năm tháng đẹp đẽ của tuổi trẻ mà còn cướp đi niềm hạnh phúc lớn lao nhất của một người phụ nữ.
"HLV nói với tôi thứ thuốc đó giúp tăng cường dinh dưỡng và tôi đã tin tưởng anh ta". Zou chua xót nói về steroid - một chất bị cấm từ năm 2005 do những tác động khủng khiếp của nó đến sức khỏe con người đã được tiêm liên tục vào người cô trong những năm tháng còn thi đấu.
Cô làm công việc ở một phòng mát-xa với công rẻ mạt.
Những mũi tiêm ấy đã cướp đi tất cả những điều tuyệt vời nhất mà tạo hóa đã ban cho một người phụ nữ như Zou, để rồi giờ đây người ta phải làm quen với hình ảnh một người phụ nữ có giọng nói ồm ồm, cạo râu mỗi sáng và cô đơn suốt quãng đời còn lại vì căn bệnh vô sinh vật lộn hàng ngày với cuộc sống mưu sinh trong các phòng tắm công cộng.
May mắn thay, với sự quan tâm của công chúng cũng như các tổ chức xã hội, Zou đã bắt đầu công việc mới với một tiệm giặt ủi của riêng mình ở thành phố Trường Xuân. Những gánh nặng đã được xã hội san sẻ bớt, thế nhưng nỗi đau tột độ mà Zou đang phải trải qua thì không ai có thể đồng cảm được.
Liệu những tấm huy chương có thực sự đáng giá hơn hạnh phúc của một đời người? Một khi những nhà lãnh đạo thể thao chưa tìm được cách tưởng thưởng xứng đáng cho những người làm ra tấm huy chương, tốt nhất nên ngừng nghĩ đến việc giành lấy nó

MỘT CHÚT NẮNG XUA ĐI NGÀN NỖI NHỚ



(Viết thay lời cảm tạ đến nhà thơ, thầy giáo Nguyễn Duy Xuân)


Có lẽ phải sống thật lâu ở Châu Âu, ta mới cảm nhận hết cái buồn của tuyết rơi và cái lạnh của mùa tuyết tan. Khi mùa đông về, con đường chạy trong thành phố nhìn như những dải lụa, đất và trời hòa vào một mầu trắng trong. Trời tảng sáng, hơi lạnh phảng phất quyện lên như làn khói thuốc mỏng. Mờ mờ qua khung cửa, những chùm tuyết treo trên cành cây run rẩy, lung linh như những bông hoa thủy tinh. Thấp thoáng sau mái nhà bên, những thân cây cổ thụ trơ trụi, khẳng khiu, nhọn như mũi dao, đâm thẳng vào lòng người. Mùa này, lũ chim đã đi trốn đông, dòng suối sau nhà cũng ngưng tiếng nước chảy. Ta chỉ có thể nghe được tí tách đâu đó của những giọt nước thoát ra từ ống khói sau nhà, chưa kịp rơi xuống đã đóng băng, kéo dài ra trông như sợi tơ, sợi cước. Trong cái giá lạnh, mông nung đất trời, niềm hoài vọng về nơi cố hương của buổi sớm mai ấy, dường như ta nghe đâu đó tiếng sẻ chia, đồng cảm làm cho lòng người ấm lại:
“ Trời Tây nhiệt độ dưới không
Giá băng mọi nẻo, lạnh lùng tuyết rơi
Ở nơi ấy đồng bào tôi
Chìm trong cái rét xứ người cắt da..

Tây Nguyên đang nắng chan hòa
Ai sang ta gửi chút quà quê hương
Gói theo một chút nắng hường
Ấm lòng ai giữa giá sương xứ người”

Tôi đã bắt gặp bài thơ “Gửi Nắng Cho Ai” của nhà giáo Nguyễn Duy Xuân trong hoàn cảnh như vậy. Bài thơ chỉ vẻn vẹn có tám câu chia làm hai khổ, theo thể lục bát đơn giản, dễ hiểu. Nội dung và nghệ thuật, cũng như câu từ của bài thơ không có gì mới, nếu như không muốn nói là rất cũ. Và như anh bạn tôi, một người yêu thơ ở quê nhà, đánh giá không cao bài thơ lục bát trên. Âu đó cũng là điều dễ hiểu, vì anh không có cái cảm giác lạnh đến tê tái, đau và nhớ thương đến vô hạn như chúng tôi. Hình như chỉ với một tin thời sự nhỏ, đâu đó quanh anh cũng làm tâm hồn nhậy cảm của người nghệ sỹ hòa vào cái giá rét, xót xa cùng đồng loại. Sự đồng cảm ấy là nắng, gió là hơi ấm đã hóa vào thơ. Với chúng tôi, nó không chỉ còn là những câu thơ đơn thuần, mà nó còn là những bánh đa, bánh đúc hồn quê được gói trong lá dong lá chuối mà nhà thơ đã trải lòng sẻ chia.
Viết và làm thơ khá lâu, nhưng người thưởng ngoạn ở hải ngoại mới biết đến Nguyễn Duy Xuân qua bài thơ “Nếu Tổ Quốc Mai Này Không Còn Biển” của anh vừa được nhạc sỹ Trần Chí Phúc phổ nhạc. Lời thơ như những nốt nhạc trầm buồn, tự sự về quê hương, đất nước. Như lời nhạc sỹ Trần Chí Phúc(đại ý), thoáng đọc qua bài thơ, hồn đã rung lên, cầm đàn, ông hát, những nốt nhạc như có ngàn con sóng chợt vuột ra. Tôi nghe đi nghe lại ca khúc này, trong tâm trạng vô cùng bồi hồi, xúc động. Dường như âm nhạc đã tải hết hồn cốt của bài thơ. Tôi ít thấy có bản nhạc nào phổ từ thơ, tác giả giữ nguyên lời, (không thêm cũng như bớt) của cả bài thơ như ca khúc trên. Khi ca khúc ra đời, được phổ biến rộng rãi trên báo hải ngoại cũng như trong nước, nhưng gần đây không hiểu sao các trang trong nước đều gỡ bỏ?
Đảo đã mất và biển đã bị cắt, Tổ Quốc như con tầu mắc cạn. Cả bài thơ là những câu hỏi giả định, thay cho một lời cảnh báo:
Nếu Tổ Quốc mai này không còn biển
Về đâu những con sóng vỗ bờ
Những cánh chim hải âu chao liệng
Những con còng vẽ cát vu vơ?

Nếu Tổ Quốc mai này không còn biển
Những con tầu chẳng thể ra khơi
Đâu những chiều hoàng hôn cập bến
Cá đầy khoang rạng rỡ mặt người?

Nếu Tổ Quốc mai này không còn biển
Bỗng thấy hoang vu những bến bờ
Ba ngàn cây số trong câm lặng
Những bến tầu trống vắng chơ vơ?

Nếu Tổ quốc mai này không còn biển
Bình minh thôi mọc ở đằng đông
Phía ấy chỉ có dông bão đến
Mặt tiền đất nước sóng triều dâng!

Nhưng lịch sử chẳng bao giờ có nếu
Bởi ta yêu Tổ Quốc vô cùng
Dâng trọn cuộc đời ta chiến đấu
Cho người-muôn thuở vững non sông!
Bài thơ “Tổ Quốc Nhìn Từ Biển” của Nguyễn Việt Chiến và “Nếu Tổ Quốc Mai Này Không Còn Biển” của Nguyễn Duy Xuân, theo tôi là hai bài thơ viết về biển đảo hay nhất trong thời gian gần đây. Nếu bài “Tổ Quốc Nhìn Từ Biển” là những vần thơ khảng định chủ quyền biển đảo, khí phách quật cường của cha ông, thì “Nếu Tổ Quốc Mai Này Không Còn Biển” như một lời cảnh tỉnh, hiệu triệu tinh thần cho con cháu hôm nay. Tổ Quốc ta mấy ngàn năm qua, triều đại nào, thế hệ nào cũng phải căng mình chống giặc phương Bắc. Biển là mặt tiền, nơi ông cha ta mở mang bờ cõi. Biển cũng là hậu phương vững chắc cho mấy mươi lần chống giặc ngoại xâm. Là một nhà giáo nên lời thơ Nguyễn Duy Xuân nhẹ nhàng nhưng cũng rất rạch ròi, quyết liệt. Với anh biển mất là chúng ta mất tất cả:
“Nếu Tổ Quốc mai này mất biển
Bình minh thôi mọc ở đằng đông
Phía ấy chỉ có dông bão đến
Mặt tiền đất nước sóng triều dâng”

Điệp khúc- Nếu Tổ Quốc mai này không còn biển- đọc lên ta cảm thấy rưng rưng nghẹn ngào. Nỗi đau này không phải của riêng người nghệ sỹ, mà nó là cái đau chung cả dân tộc.
Nếu bốn khổ thơ đầu là một câu hỏi, thì khổ kết của bài là lời câu trả lời chắc nịch, hồn dân tộc mấy ngàn năm không bao giờ chịu khuất, chúng ta vẫn như những con tầu vượt sóng để ra khơi.
“Nhưng lịch sử chẳng bao giờ có nếu
Bởi ta yêu Tổ Quốc vô cùng
Dâng trọn cuộc đời ta chiến đấu
Cho người- muôn thuở vững non sông”

Tuyết vẫn rơi như táp vào kính xe, nền trời đen như sập. Cái gạt nước cũng chẳng xua đi được nỗi nhớ. Tuyết phủ trắng những ô ruộng bên đường, vun thành từng đống, tưởng mình đang đi trên những cánh đồng muối ở quê nhà. Ba mươi năm xa quê là bấy mươi năm thương nhớ, mang trong mình một nỗi đau dường như không bao giờ vỡ mủ. Có lúc ta ủ sâu nỗi đau kia vào trong lòng tuyết, nhưng rồi một ngày tuyết tan, vết thương đau trở lại.
Đọc lại hai bài thơ trên của Nguyễn Duy Xuân, làm cho ta bồi hồi khắc khoải. Tôi không phải là thi sỹ, nên không biết làm thơ, nhưng cảm xúc từ đâu chợt ùa tới.
“Tuyết vẫn rơi vẫn rơi
Thảm cỏ xanh trắng xóa
Nền trời đen như sập
Lòng người như trống rỗng
Còn lại giải khăn sô.
Tuyết vẫn rơi vẫn rơi
Bàn chân gầy cô độc
Chôn chặt những thương đau
Vùi sâu trong lòng tuyết.
Em ơi! Biết bao giờ
Tình ta vui trở lại?
Dải ngân hà chia đôi
Và những lời ly biệt
Hòa chung một dòng chảy
Như biển khơi cùng sóng.
Tuyết vẫn rơi vẫn rơi
Trên xứ người xa lạ
Lòng con đầy sám hối
Đứa con nhiều tội lỗi.
Biết bao giờ trở lại
Giải khăn tang con thắt
Một lần con tưởng niệm
Để linh hồn của mẹ
Bớt đi những thương đau
Năm tháng dài chờ đợi…
Tuyết vẫn rơi vẫn rơi
Biết bao giờ trở lại…”
Một chút đọng lại của cảm xúc, tôi chưa biết đặt tên. Nhưng ông phó cối, hàng xóm nhà tôi bảo, thế là thơ.
Có lẽ nào tôi lại biết làm thơ?
Đỗ TrườngĐức quốc- 24-2-2011
 http://hientinhvn.wordpress.com/2012/03/05/805/

TIÊN LÃNG: MÀN SẮP HẠ THEO ĐÚNG TUỒNG TÍCH

 
Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,

Một thứ trưởng bộ công an (trung tướng Phạm quý Ngọ) nói "nhân dân hãy yên tâm, vụ Tiên lãng KHÔNG BAO GIỜ bị chìm xuồng". Thế nhưng bây giờ hơn hai tháng rồi, (...đừng tin những gì CS nói!). "Chính quyền trung ương là một sự phóng to của chính quyền Tiên lãng và Hải Phòng" - bà Lê Hiền Đức đã nói rồi! Thủ Dũng cũng đã tuyên me là Chính quyền Tiên Lãng - Hải Phòng sai, nhưng anh Vươn có tội, và giao cho bọn thành quỷ đất cảng xử đẹp rồi! Báo chí lề đảng đã được định hướng cũng im re rồi, chỉ còn lại tiếng dế rả rích, tiếng ếch lề Dân kêu mưa ộp oạp! Tiếng chim (o)Anh, chim Thước cầm bằng tiếng vo ve, để "chó sủa mặc chó, đoàn trâu bò vưỡn cứ đi" thôi!

Ai đời, một thằng cầm đầu đội quân gồm chó công an, "bộ đội" đi cưỡng chế, phá nhà người, lại được giao quyền điều tra và truy tố mấy thằng cưỡng chế. Một, là thằng giao việc đó ngu si đần độn. Hai, là thằng đó có ăn chia trong vụ ăn cướp này. Bọn chúng coi dân việt, trí thức và trí ngủ (không tính nhà toán học NBC có quốc tịch Pháp) toàn là một lũ lợn (hay nói theo ông Nguyễn Huệ Chi thì... xin đừng coi trí thức chúng tôi là đàn bò). Nhà thơ Tản Đà NKH đã chua chát trong 2 câu thơ: 

"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn,
Cho nên bọn chúng dễ lên quan!"


"TỘI" (NGHIỆP) CHÀNG VƯƠN

"Sóng đầu" - Tiên lãng, nhớ chàng Vươn,
Dám mượn gan trời - lấn đại dương
Dâng sóng, Thủy thần tràn quét sạch
Sơn tinh đắp đập, nới biên cương,
Cơ ngơi tạo dựng - đông người phục,
Công trạng oai hùng - lắm kẻ thương.
Bổng chốc cướp ngày vào đập phá
Cuộc đời, công sức nát như tương!.


Võ Việt Vinh


TIÊN LÃNG: MÀN SẮP HẠ THEO ĐÚNG TUỒNG TÍCH

TYVN (Danlambao)

Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,

Trong khi đồng chí Thủ tướng anh minh "uy tín ngày càng lên cao" đang đăng đàn tại Ba Đình, đóng tuồng Bao Công Ba Dờ xử lý nồi canh lúc nhúc sâu cộm cán của đảng ta, thì tại Tiên Lãng, đảng Hải Phòng cũng rục rịch kéo màn, chuẩn bị tắt đèn cho vở tuồng Bao Công Ba Dờ xử án Tiên Lãng.

Một kết cuộc rất ư là có hậu cho vở tuồng bi hài có đủ: Thủ tướng có vài ngày được tung hê tưng bừng trên báo đài, một vài công thần có công lớn gầy dựng nên guồng máy đầy sâu, thoái hóa, cường hào có vài phút không bị đời bỏ quên, và các quan chức của đảng quang minh- vĩ đại- đời đời ở Tiên Lãng sau khi bị khán giả chưởi nát nước, bị giơ cao đánh khẻ vài roi, bây giờ chuẩn bị hạ cánh an toàn, tiếp tục trở lại sự nghiệp làm đầy tớ nhân dân vô cùng sung sướng. 

Chỉ có... "thằng" Vươn Tiên Lãng là khổ! Và vạn "thằng" Vươn khác ở khắp nơi trên đất nước vẫn thấy cuộc đời mình tan hoang như căn hộ vừa mới nhờ ơn bác và đảng mà "được" giải phóng (mặt bằng). 

Sau một thời gian dài ăn ngon ngủ kỹ, mặc kệ ai cướp đất ai, ai phá nhà ai, ai nói xuôi nói ngược, ai hợp đồng tác chiến thật hay, ai hùa theo thằng này, thằng khác..., nói chung và nói kiểu bình dân đất cảng là kệ bố chúng, thì cuối cùng các ông quan đảng cử ra đại diện cho dân mới lò mò vác long thể đến đầm tôm thăm dân cho biết sự tình. 

Nói rằng thăm dân để mị lòng dân chứ thực ra các quan đại biểu cuốc hội "cùng là đồng chí cùng là đồng bọn" trong đảng Hải Phòng lết thân rồng xuống đầm tôm cũng có "mục tiêu chiến lược". Đó là mở đường để các quan huyện trở lại công đường nhằm cùng với đồng bọn đảng Hải Phòng - hình ảnh thu nhỏ của đảng... Việt Nam - tiếp tục sự nghiệp vừa chấn, vừa chỉnh, vừa cướp, vừa học tập theo gương bác Hồ vĩ đại. 

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CỐNG RỘC(ngàn lần xin lỗi cụ nguyễn đình chiểu)

Hỡi ơi! Tiên Lãng súng rền; lòng Vươn trời tỏ.

Mười mấy năm quai đê lấn biển, chưa ắt thành công nhưng nổi danh như sóng;
Một trận đánh quan tham, thân tuy mất nhưng tiếng vang rền trên in te nét.

Nhớ VƯƠN xưa:
Cui cút làm ăn;
Toan lo nghèo khó.

Chưa quen nhậu nhẹt, đâu tới cửa quan;
Chỉ biết lấn biển, quai đê làm đầm nuôi cá, nuôi cua, ở ngoài cống Rộc. Việc đắp, việc đào, việc nuôi, việc thả, tay vốn quen làm;
Tập ăn, tập uống, tập chơi, tập nhậu, mắt chưa từng ngó.

Bữa thấy quan tham da trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem MECXEDEC chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Khá thương thay:
Vốn chẳng phải con quan, cháu sếp, theo dòng tham lam ngu dốt;
Chẳng qua là dân đen, dân đỏ, con giun xéo lắm phải quằn.

súng hoa cải, nào đợi cưa nòng;
Mấy bình gas, đâu chờ bật lửa.

Trên đầm có một nhà hai tầng, đang chờ quan tham đến phá
Dưới cống còn mấy tấm ván ngăn cũng đóng được mấy cổ quan tài.(cho hiền liêm ca thoại và cả thành)

Súng hoa cải tự tạo cũng cho sáu thằng đi viện;
Mấy bình ga, cũng làm thót dái ĐẠI CA

Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Liêm thằng Hiền bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào san bằng liều trại.

Bộ đội chạy ngang, công an chạy dọc, làm cho lão Ca hể ha viết sách;
Bọn Hiền trước, lũ Liêm sau, cùng hè nhau cướp đất

Những lòng tham đã lâu
Đâu có biết đó là phạm luật.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

TIÊN LÃNG HẢI PHÒNG, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn cầu CỐNG RỘC, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà anh VƯƠN NỔ SÚNG cho cam tâm;
Vốn không thắng được Vươn mà Hiền Liêm ra tay cướp đầm để đến ngày bị cách chức.

Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn ĐẢNG, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo nhờ BÁC HỒ, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến nhà Vươn khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui lều trại tan tành, trộm tôm cướp cá.

Sống làm chi theo quan tham, quan nhũng, dùng bằng giả, ăn thì giỏi, nói thì dốt, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi mà ăn theo nói leo, chia bè chia phái, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ quan tham, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!
Cầu Cống rộc năm canh ưng đóng lạnh, đất đai này xin gửi lại quan tham
Đất Tiên Lãng một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy! vợ vươn, con đoàn ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Dân đen thấp cổ bé họng nhìn bóng quan tham LÙ LÙ trước ngõ.

Ôi!
Một trận khói tan;
Nghìn năm tiết rỡ.

Bè lũ Liêm hãy còn nơi Tiên Lãng, chúng làm cho bốn phía mây đen;
Vợ con Vươn còn ở nơi Cống Rộc , ai cứu đặng một phường con đỏ.

Vươn nổ súng rồi vào tù, danh thơm đồn sáu mươi tư tỉnh chúng đều khen;
Hiền, Liêm tham mà làm bậy, tiếng xấu trải muôn đời ai cũng oán.

Sống làm dân, thác cũng làm dân, trong sạch nhưng nghèo hèn muôn đời vẫn vậy;
Sống làm quan, thác cũng làm quan, chữ tham lam không sao thoát được.

Nước mắt anh Vươn lau chẳng ráo, thương vì hai chữ nông dân;
Bực tức trong lòng BỌ VINH quyết tâm tìm sự thật.

Cộng Việt Hiến TS-HS: Thử Bàn Về Tính Liên Tục Và Sự Kế Thừa




HS- TS: Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa


Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa: Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các «quốc gia» Việt Nam sau năm 1945.

*     *     *


Lời tác giả: Kính gởi: Ban biên tập Việt ngữ BBC, GS Ngô Vĩnh Long, TS Lê Minh Phiếu, TS Dương Danh Huy và tác giả Phạm Thanh Vân về bài viết Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đảo [Hoàng Sa và Trường Sa]
——————————————-
[TruongSa-02]
Trong một bài viết trước đây liên quan đến chiến lược biển Đông và chủ quyền của VN ở các quần đảo HS và TS, tác giả có nêu vấn đề về tính liên tục quốc gia và sự kế thừa giữa các chính phủ và hai miền VN về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau 1975. Những ý kiến đó hôm nay được bàn rộng thêm.
Trước hết là quan niệm quốc gia (và nhà nước) theo công pháp quốc tế. Với quan niệm quốc gia này, từ năm 1945 đến nay hiện hữu bao nhiêu quốc gia Việt Nam ? Quốc gia nào đại diện nước Việt Nam duy nhứt trước các định chế quốc tế ? Tính liên tục và kế thừa về lãnh thổ giữa các quốc gia này từ các biến cố 1954, hay năm 1975 đến nay đã được thực hiện như thế nào?
Bài viết này lần lượt trình bày sơ lược quan điểm của tác giả về các vấn đề này.

1. Quốc gia và các nguyên tắc về công pháp quốc tế:
Trước hết nên hiểu thế nào về thuật ngữ «quốc gia» theo quan niệm Công pháp quốc tế.

«Quốc gia – l’Etat » được cấu thành do ba yếu tố : người dân, lãnh thổ và một chính phủ. Yếu tố người dân đặt vấn đề về «quốc tịch – nationalité». Yếu tố «lãnh thổ» đặt vấn đề «chủ quyền – souveraineté », đưa đến việc phân định biên giới (trên đất liền và trên biển) giữa các quốc gia láng giềng. Yếu tố « chính phủ – gouvernement », tức một tổ chức chính trị có khả năng tổ chức hành chính và thiết lập trật tự và an ninh xã hội cho cộng đồng dân chúng trong quốc gia đó. Yếu tố Chính phủ đặt ra vấn đề «độc lập ». Tức chính phủ này không bị lệ thuộc vào một thế lực nước ngoài.
Công pháp quốc tế hiện nay còn đặt ra tiêu chí xứng đáng về một nhà nước (chính phủ), tức «tư cách – dignité», để có thể công nhận hay không một chính phủ. Một nhà nước «xứng đáng» được đánh giá trên việc có đem lại an ninh và hạnh phúc cho người dân trong nước hay không. Một nhà nước hung tàn, bạo ngược, như nhà nước cộng sản Khmer (Khmer đỏ), nhà nước cộng sản bắc Triều Tiên, nhà nước cộng sản Việt Nam sau 75 (cho đến thập niên 90), Irak dưới thời Sadam Hussein, Serbie dưới thời Milosevic, Lybye dưới thời Khadafi hay Iran và Syrie hiện nay v.v… là các nhà nước không « xứng đáng », thường bị cộng đồng quốc tế (ONU) « lên án », hay cắt đứt ngoại giao, thậm chí còn có bổn phận can thiệp để chấm dứt sự đau khổ của người dân ở các nước này.
Trong quan hệ quốc tế, việc công nhận một quốc gia là hành vi theo đó một quốc gia thiết lập bang giao với một quốc gia khác. Việc công nhận quốc gia là chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, lãnh thổ và chính phủ của quốc gia đó. Giả sử, khi nước Pháp công nhận nhà cầm quyền Bắc Kinh là chính thống lãnh đạo nước TQ thì Pháp mặc nhiên công nhận một nước Trung Hoa duy nhứt (tức công nhận Bắc Kinh thì không công nhận Đài Bắc) và Tây Tạng là lãnh thổ của TQ.
Việc công nhận quốc gia là quan trọng vì nó xác định sự hiện hữu của một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận có thể mang tính pháp lý « de jure », tức công nhận quốc gia như là chủ thể duy nhất, bình đẳng về độc lập và chủ quyền trước Công pháp quốc tế. Hoặc « de facto », tức một hình thức công nhận tạm thời cho những quốc gia đang thành hình.
Về nguyên tắc một quốc gia duy nhứt, đại diện quốc gia ở các định chế quốc tế là duy nhứt. Trường hợp một quốc gia bị phân chia, tức có hai vùng lãnh thổ khác biệt, có hai nhóm dân chúng khác biệt (mặc dầu có cùng quốc tịch), do hai chính phủ khác biệt lãnh đạo, thì chỉ có một vùng duy nhứt đại diện cho quốc gia ở các định chế quốc tế. Trường hợp hai miền Nam, Bắc Việt Nam trước 1975, Quốc Gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa được các định chế quốc tế chấp thuận là đại diện chính thức và duy nhứt cho quốc gia Việt Nam.
Trường hợp quốc gia bị chia cắt (có hai vùng lãnh thổ với hai chính phủ riêng biệt), một nước công nhận chính phủ này thì đương nhiên không công nhận chính phủ kia (và ngược lại). Giả sử, Hoa Kỳ (và nhiều nước khác) trước kia công nhận chính phủ họ Tưởng ở Đài Loan và không công nhận chính phủ ở Bắc Kinh, hay công nhận VNCH và không công nhận VNDCCH.
Đối với LHQ, mỗi quốc gia chỉ có một ghế đại diê.n. Trường hợp quốc gia chia cắt, đại diện của quốc gia là phía được số phiếu bầu nhiều nhất tại đại hội đồng LHQ, ngoại trừ trường hợp bị các thành viên thường trực trong hội đồng an ninh « phủ quyết – veto ». Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan giữ ghế đại diện cho Trung Hoa ở LHQ đến năm 1972 thì bị đại hội đồng truất phế, thay vào đó là chính phủ ở Bắc Kinh, do việc HK không bỏ phiếu phủ quyết. Hai miền Nam và Bắc VN không bên nào có được ghế ở LHQ, do vấn đề chính trị ý thức hệ, mỗi khối ủng hộ một bên. Năm 1957 Liên Xô đề nghị hai miền Nam, Bắc VN đều được chấp nhận vào LHQ, nhưng việc này không được các bên chấp thuận (vì các bên đều giữ nguyên tắc quốc gia duy nhất).
Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.
Một nội các (chính phủ hay nhà nước) có thể được một chính phủ của một nước khác công nhận (hay không công nhận) trong trường hợp nước đó có biến động ảnh hưởng nội tình chính trị (nội các thay đổi do đảo chánh, thay đổi chính thể do cách mạng v.v…).
2. Các quốc gia Việt Nam – sự liên tục và kế thừa


2.1 Quốc Gia Việt Nam (12-3-1945 – 25-8-1945) của Quốc vương Bảo Đại:
Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Nhân dịp này ông Yokoyama, xưng là đại sứ Nhật, tiếp xúc với ông Bảo Đại, đề nghị trả lại độc lập cho VN. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại tuyên bố độc lập, nội dung đại khái gồm các điểm : « bãi bỏ hiệp ước bảo hộ đã ký với Pháp », « thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia » và « theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á »… Ngày 17-4-1945, theo ý muốn của Bảo Đại, cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ.
Dĩ nhiên, thái độ của Nhật không phải là tốt đẹp gì. Nếu họ có hảo ý thì họ đã trả độc lập cho VN từ lúc mới vào VN tháng 8 năm 1940, chứ không phải đợi đến lúc sắp sụp đổ mới làm. Hành động trễ tràng này cho thấy đây là cố gắng cuối cùng của Nhật trước khi thất bại trước quân Đồng Minh. Họ nghĩ rằng, khi lôi kéo được các quốc gia này vào khối Đại Đông Á, Nhật hy vọng xây dựng lại thế lực, nhờ vào lực lượng của các nước mới được độc lập, nhằm củng cố lại quân đội đang trên đà tan rã. Nhưng chỉ vài tháng sau, ngày 16 tháng 8, Nhật Hoàng đọc lệnh cho binh sĩ buông súng đầu hàng.

Hậu quả, ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là «Quốc gia Việt Nam» vì vậy cũng kết thúc.

Về tình trạng pháp lý, Quốc gia Việt Nam chỉ hiện hữu vỏn vẹn 5 tháng, từ 12-3-1945 đến 16-8-1945. Đây có phải là một thực thể « quốc gia » đúng nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không?
Khi Nhật đặt chân đến VN trong Thế chiến II, tháng 8 năm 1940, có ký kết với Pháp vẫn để cho Pháp có chủ quyền tại Đông Dương, ngoại trừ phương diện quân sự. Kết ước này không được tôn tro.ng. Tháng 3 năm 1945 Nhật truất quyền của Pháp ở VN và nắm toàn quyền lãnh đa.o. VN được đặt trong khối «Đại Đông Á» của Nhâ.t. Việc Nhật trả độc lập cho VN và sau đó Tuyên bố độc lập của Bảo Đại có giá trị trước công pháp quốc tế. Vì ở thời điểm đó Nhật đã giành chủ quyền VN từ tay Pháp (và trả lại cho Bảo Đại). Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ «xứng đáng» so với tiêu chí của Công pháp quốc tế hiện nay. Chỉ trong một thời gian ngắn chính phủ này đã tổ chức hành chánh, thiết lập an ninh trật tự trong xã hội đồng thời thực hiện các công tác cứu trợ cần thiết cho người dân vì VN đang trong thời chiến tranh, chịu sự dội bom, đánh phá của Đồng minh, trong tình trạng thiếu thốn về mọi mă.t.

Tuy nhiên, vài tháng sau Nhật đầu hàng. Độc lập và chủ quyền của Việt Nam mà Bảo Đại tuyên bố chưa kịp nước nào công nhâ.n.

(Bảo Đại thoái vị, nhượng quyền cho «Chính phủ cách mạng» của Hồ Chí Minh, có thể do ám ảnh hành động của thủ tướng Thái Plaek Phibulsongkhram. Ông này từ chức, nhường quyền lại cho ông Pridi Phanomyong, nguyên là một giáo sư Luật, là người có khuynh hướng thân Mỹ, chống lại việc hợp tác với Nhật, do lo ngại việc Thái sẽ bị đặt dưới sự bảo hộ của Đồng minh vì nước này đứng về phía Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng việc thoái vị này có thể do uy hiếp của nhóm Hồ Chí Minh).
Hành động thoái vị của Bảo Đại cho thấy là sai lầm. Lý ra chính phủ Trần Trọng Kim trụ được cho đến khi Đồng Minh gởi quân vào tước vũ khí của Nhật, vì trên nguyên tắc, lực lượng quân đội Nhật có bổn phận giữ an ninh trật tự trong xã hội cho đến khi quân Đồng minh vào giải giới. Số phận của VN, cũng như các nước bị Nhật chiếm trong chiến tranh, đã được các nước Đồng minh định đoạt trước ở hội nghị Potsdam 1945.

Tranh chấp đảng phái ở VN sau đó là tranh chấp để dành làm đại diện cho VN để đối thoại với Đồng minh
.
2.2 Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của Chính phủ lâm thời (Mặt trận Việt Minh, từ 2-9-1945 đến tháng 12 năm 1946):

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh 16-8-1945, ở VN đã có một khoảng trống chính trị vì chính phủ Trần Trọng Kim không có thực lư.c. Việc này có thể do hệ quả của việc không dám dựa vào quân đội Nhật (vẫn còn trách nhiệm giữ an ninh trật tự tại VN cho đến khi Đồng minh vào giải giới), vì sợ kết vào tội làm « bù nhìn » cho Nhâ.t. Trong khi các lực lượng « lưu vong » như Việt Minh của Hồ Chí Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt của Nguyễn Tường Tam… đều nhôn nhao về nước tìm cách nắm chính quyền. Trong đó ông Hồ Chí Minh tỏ ra nắm vững tình hình quốc tế và cao tay về chính trị hơn cả.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng », một chính phủ « lâm thời » được Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nô.i. Việc này chỉ xảy ra vài ngày trước khi quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào Bắc Kỳ, (theo qui định của các nước Đồng minh ở Hội nghị Potsdam). Quân Tưởng gồm hai đạo, vào VN từ hai ngả : từ Quảng Tây vào Lạng Sơn do Tiêu Văn cầm đầu và từ Vân Nam vào Lào Cai do Lư Hán cầm đầu, tổng cộng khoảng 180.000 quân. Hai đạo quân này đi tới đâu thì tước khí giới của Việt Minh tới đó, rồi giao chính quyền quyền cho quân của các đảng phái khác (VNQĐ, DV, VNCMDMH) thân Tàu. Hồ Chí Minh lo bị mất quyền, vì thế, từ Hà Nội, ông hô hào tổ chức « tuần lễ vàng », nhằm quyên góp vàng bạc trong dân để có phương tiện đút lót cho các tướng Tiêu Văn và Lư Hán để giữ quyền hành. Nhờ hành vi « lo lót » này, các vị tướng Tàu ngả về ủng hộ Hồ Chí Minh, làm áp lực lên các đảng phái khác (vốn rất chia rẽ, một phe theo Tiêu Văn, một phe theo Lư Hán), ép thành lập « Chính phủ Liên hiệp Lâm thời » ngày 25 tháng 12 năm 1945. Chính phủ này gồm có đại diện của các phe phái tại VN. Quốc hội cũng được tổ chức qua cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng 3, Quốc hội nhóm họp, tuyên bố « Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến » thành hình, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và Nguyễn Hải Thần làm phó chủ 
ti.ch.
Hồ Chí Minh cũng nắm bắt được tin Pháp đang vận động với Tưởng Giới Thạch, trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Trung Hoa, để quân Pháp vào thay thế quân Hoa ở miền Bắc (thực ra ở bắc vĩ tuyến 16), theo như qui định của Đồng minh tại hội nghị Potsdam. Trong khi đó, Anh cũng trao quyền cho Pháp ở miền Nam (nam vĩ tuyến 16). Ông Hồ « đón gió » chính trị trước việc này, tìm cách ký kết với Pháp một kết ước, mục đích dĩ nhiên là để được xem là đại diện chính thức của VN. Ngày 28-2-1946 Pháp và Trung Hoa ký kết ước Trùng Khánh thì ngày 6 tháng 3 ông Hồ cũng ký với Pháp một hiệp ước gọi là « hiệp ước sơ bộ ». Theo đó Pháp công nhận VN là một nước «tự do» nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.

Quốc gia Việt Nam từ thời điểm 2-9-1945 đến khi «hiệp ước sơ bộ» được ký có phải là một quốc gia thực sự?

Sau khi được Bảo Đại giao ấn và kiếm, biểu tượng uy quyền của vua đối với thần dân trên lãnh thổ Đại Nam, lý ra «chính phủ lâm thời» có tính chính đáng để khai sinh một nước Việt Nam độc lâ.p. Tuy vậy việc này không có giá trị đối với công pháp quốc tế, một mặt do chưa ổn định nội an thì quân Tàu đã kéo qua, mặt khác do hệ quả của «hiệp ước sơ bộ».
Khi ký hiệp ước sơ bộ, chính phủ của ông Hồ được Pháp công nhận tư cách đại diện một «quốc gia», giới hạn ở Bắc kỳ (đúng ra phía bắc vĩ tuyến 16). Quốc gia đó là quốc gia «Việt Nam tự do – Vietnam libre», đứng trong «Liên bang Đông dương» và khối «Liên hiệp Pháp».

Vấn đề phải hiểu thế nào là nước «Việt Nam tự do» đứng trong «Liên bang Đông dương»?

Từ hòa ước Patenôtre 1884 đến tháng 3 năm 1945, toàn Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên) thuộc Pháp. Để dễ bề cai trị, Pháp đặt nền hành chánh thuộc địa tại Việt Nam theo lối « chia để trị ». VN bị phân chia thành ba miền (còn gọi là ba kỳ) riêng biê.t. Ba Kỳ cùng Lào, Kampuchia và Quảng Châu Loan (nhượng địa của TQ) được Pháp đặt trong « Liên bang Đông dương – Union Indochinoise », còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp. Liên Bang Đông Dương ra đời ngày 17-10-1887, do một Toàn quyền (sau này là Cao ủy) được Pháp bổ nhiệm lãnh đa.o. Các « xứ » (tiểu bang) hay các « kỳ » của VN trong Liên bang có tình trạng pháp lý khác nhau. Nam kỳ có qui chế thuộc địa, dân chúng ở đây có chế độ « thuộc dân – sujets français », trực thuộc Bộ Thuộc địa Pháp, do một Tổng đốc (gouverneur) lãnh đa.o. Trong khi Trung kỳ và Bắc kỳ (cũng như Lào và Kampuchia) có tình trạng pháp lý là các xứ « bảo hộ », trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Dân chúng ở các xứ này có qui chế «dân bảo hộ Pháp - protégés français », là qui chế thấp nhứt (1/ công dân Pháp – citoyens français, 2/ thuộc dân Pháp – sujets français và 3/ dân bảo hộ Pháp – protégés français).
Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập mà chỉ nói một nước « Việt Nam tự do » thuộc « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ». Tức ông Hồ chấp nhận « quốc gia » Việt Nam, thực ra là « tiểu bang » hay « xứ », do chính phủ ông lãnh đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ, mà quyền hành của ông còn dưới quyền của Thống sứ Pháp.

Các đảng phái quốc gia lên án ông Hồ việc này là rước Pháp vào lại VN. Nhưng thực ra, có hay không có « hiệp ước sơ bộ » thì Pháp cũng vào lại VN. Cũng như có hay không có các chính phủ của Bảo Đại hay của ông Hồ thì quân Trung Hoa cũng vào Bắc Kỳ. Việc này là do qui định của phe chiến thắng, tức các nước Đồng minh. Khi Pháp và TH ký kết ước trao đổi quyền lợi, Pháp trả các nhượng địa cùng các cơ sở kinh tế của Pháp tại đất TH cho họ Tưởng thì phe này cũng trả lại VN cho Pháp.

Chính trị gọi là «đón gió» của ông Hồ, vì ông hiểu biết tình hình quốc tế, biết được định đoạt của Đồng minh về số phận các quốc gia do Nhật chiếm trước chiến tranh, vì thế xông xáo ký kết ước với Pháp. Nhưng việc này cũng kết liễu tính chính thống của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đồng thời hành động này làm cho các đảng viên trong đảng CSVN nghi ngại lập trường của ông Hồ. Vi việc này mà sau này ông Hồ trở nên rất sắc máu, đúng tiêu chuẩn của một cán bộ quốc tế vô sản, để chứng minh lập trường của mình. Nhưng dầu vậy ông Hồ cũng không được phía cộng sản Nga tin tưởng. Họ nghi ngờ ông Hồ là « cơ hội chủ nghĩa » cho đến khi ông này qua đời năm 1969.

Như thế nước «Việt Nam Dân chủ Cộng hòa » do ông Hồ lãnh đạo không hề là một quốc gia thực sự mà chỉ là một «tiểu bang» trong Liên bang Đông Dương.

Sau khi bị chỉ trích, ông Hồ cố gắng thay đổi thực tế này qua các hội nghị tại Đà Lạt và Fontainebleau, nhưng đều thất ba.i. Chính phủ của ông Hồ rút khỏi Hà Nội và bước vào cuộc kháng chiến, bắt đầu từ tháng 12 năm 1946. Việc này, ông Bảo Đại phê rằng: Sau thất vọng ở Fontainebleau, (Việt Minh) chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào biển máu.

2.3 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam (27-5-1948) và Việt Nam Cộng Hòa (26-10-1955 đến 30-4-1975):
Thế chiến Thứ II chấm dứt, việc này cũng kết liễu các chế độ « thực dân » ở các xứ « thuộc địa » của các đại cường cũ (Anh, Pháp…). Khuynh hướng của Hoa Kỳ, đại cường mới lên, chủ trương bãi bỏ tất cả các chế độ thực dân, do đó khuyến cáo các cường quốc phải trả lại độc lập cho các thuộc địa của mình. Các xứ như Phi, Miến Điện, Nam Dương, Ấn Độ và Pakistan… lần lượt lấy lại độc lập mà không tốn một giọt máu.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nước Pháp đã kiệt quệ nhưng vẫn muốn giữ quyền lợi và ảnh hưởng của mình. Phía Hoa Kỳ đặt điều kiện cho Pháp, để được sự trợ giúp, phải để cho dân VN thành lập một chính phủ đại diện (nhằm đi đến độc lập và thống nhứt đất nước).

Nội tình VN hỗn loạn, các đảng phái quốc gia không có thực lực lại xâu xé, tranh chấp lẫn nhau. Bên có thực lực là phe của ông Hồ, nhưng là lực lượng là của cộng sản. Phe này tìm cách loại trừ phe kia để độc chiếm sân khấu chính trị. Trong khi nội tình nước Pháp cũng không khá hơn. Chính trị Pháp về Đông Dương chia làm hai khuynh hướng, phe tả thúc hối chính phủ phải thuơng lượng với Hồ Chí Minh. Phe hữu thì đòi phải thuơng lượng với Bảo Đa.i.

Cuối cùng «lá bài» Bảo Đại được Pháp chọn làm đối tượng đối thoại để thực hiện chính sách mới của họ về thuộc địa nhằm thỏa mãn các điều kiện của Hoa Kỳ.

(Thực ra đây là một lựa chọn theo lối « không chó bắt mèo ăn c. ». Vì ông này không cộng sản và có được tính « chính thống » trước người dân VN. Ông Bảo Đại là một type người ăn chơi đàng điếm, cả cuộc đời chỉ la cà trà đình, tửu quán, sòng bài… không thể là một « chính khách » của một nước thuộc địa đang gay go dành lại độc lập (và thống nhứt đất nước) trong một không gian vô cùng hỗn loạn vì tranh chấp về quyền lợi và chính trị (ý thức hệ) giữa các cường quốc đang nắm vận mạng của cả thế giới. Khi được nắm quyền (Quốc trưởng) ông này chỉ ở bên Pháp, lo ăn chơi chứ không ở lại trong nước để chia sẻ ngọt bùi với quần thần và dân chúng. Ông bị Ngô Đình Diệm hạ bệ là hợp lý. So với ông Hồ Chí Minh thì Bảo Đại thua xa về trí tuệ và tư cách. Nhưng ông Hồ là người vô sản chân chính, đặt quyền lợi quốc tế cộng sản lên trên lợi ích của dân tộc.)
Ngày 27-5-1948 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại lên làm «Hoàng Đế, Quốc trưởng». Ngày 5 tháng 6 năm 1948, chính phủ này ký bản «Tuyên bố chung» với Cao ủy Bollaert ở Hạ Long, theo đó Pháp cam kết: «Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhứt của mình. Việt Nam tuyên bố sát nhập vào Liên Hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp.»

Nhưng « bản tuyên bố » này bị các thế lực thân thực dân ở Nam kỳ chống đối. Cùng lúc ở Paris, chính giới Pháp phản đối việc này, cho rằng ông Bollaert không có tư cách để nhượng bộ như vâ.y. Họ lý luận rằng, trong vấn đề Nam kỳ, vì đây là «nhượng địa» của VN cho Pháp. Do đó mọi quyết định liên quan đến Nam kỳ phải do quốc hội biểu quyết.

Nhưng thời điểm này nội tình chính trị nước Pháp không ổn định, nội các thường xuyên thay đổi. Đất nước kiệt quệ do chiến tranh, rất cần các sự giúp đỡ của HK. Nội các mới công bố chính sách Đông Dương vào ngày 19-8-1948, công nhận nội dung tuyên bố Hạ Long. Đến 8 tháng 3 năm 1949, tuyên bố Hạ Long được xác định cụ thể qua lá thư của Tổng thống Vincent Auriol gởi cho Bảo Đại, còn gọi là kết ước Elysée.

Nội dung có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp phải công nhận VN « độc lập » và « thống nhứt ». Đây là một thắng lợi lớn của Việt Nam, là tiền đề để xây dựng một nước Việt Nam độc lập và tự chủ. Cho dầu về một số mặt còn lệ thuộc vào Pháp, nhưng không tốn giọt máu nào, thì đó cũng là cái giá rất rẻ để chấp nhâ.n.

Đối với các định chế quốc tế, Quốc gia Việt Nam của của Bảo Đại đã được chấp thuận đại diện cho nước Việt Nam duy nhứt, gia nhập vào các tổ chức quốc tế như sau:

- Tổ chức Y tế Quốc Tế (l’Organisation mondiale de la Santé – O.M.S.) ngày 17 tháng năm năm 1950.
- Tổ chức Lao động Quốc tế (l’Organisation internationale du Travail – O.I.T.), ngày 21 tháng sáu năm 1950.

- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Lương thực và Nông nghiệp (l’Organisation des Nations Unies pour l’alimentation et l’agriculture – F.A.O.), ngày 11 thasng 11 năm 1950.
- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (l’Organisation des Nations Unies pour l’éducation, la science et la culture – U.N.E.S.C.O.), ngày 21 tháng 6 năm 1951.

- Liên hiệp Quốc tế về Viễn Thông (l’Union internationale des Télécommunications – U.I.T), ngày 24 tháng 9 năm 1951.
- Liên hiệp Bưu chính Thế giới (l’Union postale universelle – U.P.V.), ngày 20 tháng 10 năm 1951.

Năm 1951, ông Trần Văn Hữu, nguyên thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao, đại diện Việt Nam đi dự hội nghị San Francisco, ký kết hiệp ước Hòa Bình với Nhâ.t. Nhân dịp này ông đã tuyên bố tại hội nghị về chủ quyền lâu đời của VN tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị Nhật chiếm đóng trái phép trong thời kỳ chiến tranh, do đó ông thay mặt quốc gia Việt Nam tuyên bố quyết định thâu hồi hai vùng lãnh thổ này về lại quốc gia Việt Nam. Tuyên bố của ông Trần Văn Hữu không gặp phản đối của nước nào nào tại hội nghị.
Quốc gia Việt Nam với Quốc trưởng Bảo Đại cũng được nhiều nước trên thế giới công nhận, như Hoa Kỳ, tóa thánh Vatican cũng như nhiều nước khác trong thế giới tự do (đến năm 1954 có 35 nước công nhận).

Tháng 6 năm 1954 Ông Diệm về làm thủ tướng. Một tháng sau đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Genève. Ngày 20-10-1955 ông Diệm trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đa.i. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 đổi tên nước và thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Nội dung Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và VNDCCH, xác định nước Việt Nam là duy nhứt, việc phân chia hai miền chỉ là tạm thời. Các định chế quốc tế tôn trọng điều này.

Việc phân chia đất nước, chính phủ Bảo Đại (và Hoa Kỳ) chống đối. Chính phủ Quốc gia Việt Nam (cũng như hai nền cộng hòa của nước VNCH sau này), tôn trọng tính liên tục của quốc gia, cũng không công nhận nhà nước VNDCCH và chủ trương một quốc gia Việt Nam (thống nhứt ba kỳ) và duy nhứt.
Sau 1954, Chính phủ VNDCCH được thành lập ở miền bắc nhưng không đại diện cho quốc gia Việt Nam ở các định chế quốc tế. VNCH, kế thừa di sản của Quốc Gia việt Nam, tiếp tục đại diện cho quốc gia Việt Nam tại các định chế quốc tế đã ghi ở trên. Tức các định chế quốc tế công nhận tính liên tục quốc gia Việt Nam, từ Quốc Gia Việt Nam sang Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 18 tháng 11 năm 1954, QGVN được chấp nhận cho gia nhập vào Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế (l’Organisation internationale pour l’aviation civile – O.A.C.L).

Ngày 1 tháng 4 năm 1955 QGVN được chấp nhận cho gia nhập Tổ chức Khí tượng Thế giới (l’Organisation mondiale de la météorologie – O.M.M).
Ngày 21 tháng 9 năm 1956 VNCH được gia nhập Ngân hàng Quốc tế về Tái xây dựng và Pháp triển (la Banque internationale pour la reconstruction et le développement – B.I.R.D.).

Sau 1963, nền Đệ nhứt cộng hòa chấm dứt, nền Đệ nhị cộng hòa kế thừa VNCH, tiếp tục đại diện cho quốc gia VN duy nhứt tại các định chế quốc tế cho đến khi sụp đổ ngày 30-4-1975.
Như thế, tóm lại, từ Quốc Gia Việt Nam 1948 cho đến Việt Nam Cộng Hòa 1975, các quốc gia này đã giữ được tính liên tục và thể hiện sự kế thừa di dản quốc gia từ các triều đại phong kiến, nhà Nguyễn, đến thời kỳ Pháp thuô.c.

Nhà nước Quốc Gia Việt Nam đã tuyên bố dành lại HS và TS cho VN tại hội nghị San Francisco năm 1951. Nhà nước VNCH đã đổ máu gìn giữ HS khi quân Tàu xâm lăng năm 1974.
2.4 Quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » từ tháng 12 năm 1946 đến Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ tháng 7-1954 đến 30-4-1975
Từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954 là khoảng thời gian gọi là « chín năm kháng chiến », hay còn gọi là « cuộc chiến Đông dương lần thứ nhứt ». Chính phủ của ông Hồ tuyên bố « tiêu thổ kháng chiến », phá bỏ thành thị, làng xã, rút vào rừng thành lập các khu kháng chiến. Chính phủ của ông Hồ trở thành một « chính phủ kháng chiến » thực sự với ý nghĩa của nó.

Nhưng từ năm 1949, sau khi Tàu Mao thắng Tàu Tưởng, cuộc chiến « kháng chiến dành độc lập » cũng trở thành cuộc chiến để cộng sản Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng. Từ tháng 2 năm 1951, đại hội đảng CSVN lần 2, ông Hồ tuyên bố phương pháp chiến tranh là lấy kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của Trung Quốc, tư tưởng là lấy tư tưởng của Mao Trạch Đông. Cuộc « kháng chiến dành độc lập » của VN được Mao Trạch Đông hoạch định cùng sách lược với cuộc chiến Triều Tiên, trong chiến lược nhuộm đỏ Châu Á, «gió Đông thổi bạt gió Tây». Trong cuộc chiến Triều Tiên, phía Trung Cộng đã gởi hàng triệu «chí nguyện quân» đánh giúp Bắc Hàn. Cuộc «kháng chiến thần thánh» giành độc lập của VN đã đổi sang màu «đỏ» của phong trào vô sản quốc tế. Bộ đội ông Hồ, từ quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực cho đến cán bộ chỉ huy, tất cả đều do Trung Cộng cung cấp. Nhờ sự giúp đỡ vô biên của TQ , bộ đội của ông Hồ, cùng với bộ đội của bác Mao, thắng được quân Pháp ở trận Điện Biên Phủ, buộc Pháp ký Hiệp định Genève 1954.

Câu hỏi đặt ra, «quốc gia» Việt Nam DCCH với «chính phủ kháng chiến», từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954, do ông Hồ lãnh đạo có phải là một «quốc gia» đầy đủ ý nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không?

Dĩ nhiên là không ! Một chính phủ kháng chiến luôn là một chính phủ tạm thời. Về lãnh thổ thì chính phủ này chỉ kiểm soát trên rừng rú. Chính phủ này không hề kiểm soát được các tỉnh lớn, không đem lại an ninh và hòa bình cho dân chúng. Trong khi người dân, ngoại trừ những người ở thôn quê hẻo lánh không có điều kiện, hầu như tất cả đều «dinh tê».

Cuối cùng «kháng chiến thành công», Pháp thua Việt Minh ở trận Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Genève tháng 7 năm 1954. Chính phủ VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo vì vậy lấy được một nửa đất nước, tính từ vĩ tuyến 17. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiện hữu trên thực tế (de facto) từ đây.

Nhưng các chính sách của nhà nước VNDCCH đã tố cáo nhà nước này lệ thuộc vào một thế lực ngoại bang. Sau 1954, các chính sách về kinh tế, cách thức tổ chức xã hội, tư tưởng chính trị, văn hóa… thảy đều rập khuôn với các chính sách của Mao Trạch Đông đã áp dụng trước đó tại Trung Hoa lục đi.a. Các phong trào «cải cách ruộng đất», phong trào «trăm hoa đua nở», phong trào diệt «trí phú địa hào»… áp dụng tại VN đều là ý kiến của cố vấn TQ.

Một nhà nước không vì lợi ích của dân chúng là một nhà nước không xứng đáng. Một nhà nước lệ thuộc vào ngoại bang là một nhà nước không được công nhận theo quốc tế công pháp.

Về lập trường chính trị, chính phủ VNDCCH tuyên bố theo xã hội chủ nghĩa, chủ trương một nước Việt Nam duy nhứt (theo qui định của Hiệp định Genève). Chính phủ VNDCCH không công nhận sự hiện hữu của một chính phủ VNCH ở miền Nam. Chính phủ VNCH bị gán cho là chính quyền ngụy, bù nhìn, do đế quốc lập nên chứ không do nguyện vọng của người dân miền Nam. Chính phủ VNDCCH cũng tuyên bố không công nhận bất kỳ một đại diện nào cho VN từ phía VNCH tại các định chế quốc tế. Tức là chính phủ VNDCCH chủ trương một quốc gia VN duy nhứt mà họ là đại diện chính thống.
Chính phủ VNDCCH, trên phương diện công pháp quốc tế, là một chính phủ hiện hữu trên thực tế (de facto) nhưng không được công nhận (de jure). Chính phủ này không hề đại diện nước Việt Nam duy nhứt tại bất kỳ một tổ chức quốc tế nào. Trong khi tư cách đại diện của VNCH tại các tổ chức này thì bị VNDCCH phủ nhâ.n. Lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở về bắc là lãnh thổ mà tổ chức chính trị của ông Hồ «chiếm» đươ.c. Chính quyền họ có trong tay là do «cướp» đươ.c.

Những người cộng sản VN rất tự hào về việc này. Họ tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ, không chấp nhận di sản của chính quyền thực dân cũng như đả phá các nhà nước tiền nhiệm VN thời phong kiến. Họ tuyên bố sáng lập một nước VN mới. Như thế, vấn đề liên tục quốc gia không đặt ra. Việc kế thừa cũng không đặt ra.

Nhưng khó khăn chỉ đến khi đối diện với thực tế. Sau 1975, vấn đề chủ quyền HS và TS sẽ giải quyết thế nào, khi chính quyền này đã công nhận nhiều lần trong quá khứ chủ quyền HS và TS thuộc TQ?

Vấn đề về liên tục quốc gia vì thế phải được quan niệm lại, đồng thời với việc kế thừa. Các việc này phải được thực hiện như thế nào để quốc gia VN không mất lãnh thổ (và hải phận) ở hai quần đảo HS và TS?

2.5 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời 20-12-1960 đến 2-7-1976:

Trong vấn đề «thống nhứt» đất nước, VNDCCH chủ trương «giải phóng miền Nam», vì đồng bào miền nam đang quằn quại dưới ánh cai trị bạo tàn của Mỹ-Ngu.y. Vấn đề «giải phóng» sẽ được thực hiện bằng bạo lực, bằng cách phát động cuộc chiến tranh cách mạng, hô hào dân miền Nam nổi dậy lật đổ chế độ.
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh để phục vụ cho chủ trương đó. MT khai sinh ngày 20-12-1960 theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), được đặt dưới sự lãnh đạo của bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam.

Mục tiêu của MT là: «đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ quốc. »

Cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thực hiện theo một nghị quyết khác của đảng CSVN, là một thành công chính trị lớn lao cho đảng CSVN. Con cờ mà họ lập ra, MTGPMN, từ nay được quốc tế biết đến. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập ngày 8-6-1969. Dĩ nhiên VNDCCH cùng các nước trong khối cộng sản lập tức công nhận thực thể chính trị này. Việc này đặt lại tính chính thống của chính phủ VNCH trước các định chế quốc tế, làm yếu đi tư thế đại diện một nước Việt Nam duy nhứt. Nhưng cho đến khi sụp đổ, VNCH vẫn là đại diện duy nhứt cho quốc gia Việt Nam tại các tổ chức quốc tế.

Cùng lúc chính trị của Mỹ về vấn đề VN bước vào khúc quanh quyết đi.nh. Mỹ muốn « Việt Nam hóa chiến tranh », vì thấy không cần thiết để hiện diện ở VN nữa, sau khi bắt tay được với Mao Trạch Đông qua việc ký kết ước Thượng Hải. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được Mỹ nâng lên ngang tầm với VNCH, để bốn bên Mỹ, CS miền Bắc, VNCH và CPCMLT ký kết hiệp định Paris 1972. HK bắt đầu rút quân khỏi miền Nam đồng thời cúp viện trợ quân sự cho VNCH.

Việc đến phải đến, 30-4-1975 VNCH sụp đổ. Quốc gia VNCH đổi tên thành Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

3. Vấn đề kế thừa giữa VNCH và CHMNVN qua khía cạnh đại diện các định chế quốc tế – Thái độ của VNDCCH.
Bộ trưởng bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời là bà Nguyễn Thị Bình. Sau khi VNCH sụp đổ, bà Bình đã có những động thái hướng đến các tổ chức quốc tế nhằm kế thừa danh nghĩa của VNCH đại diện cho quốc gia Việt Nam. Ngày 7-5-1975, một điện tín từ Bộ ngoại giao của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã gởi đến O.M.S, cùng lúc với các định chế quốc tế khác, nội dung tóm lược như sau:

«Chính phủ Cộng hòa Miền Nam VN thông báo đã kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cũ ở Sài Gòn đã sụp đổ. Chính phủ Cách Mạng lâm thời là người duy nhứt có thẩm quyền, thực sự đại diện dân chúng miền Nam, có tính chính thống để đại diện miền Nam Việt Nam tại O.M.S cũng như các định chế quốc tế khác. »

Việc «kế thừa» VNCH của CPCMLT tại các định chế quốc tế không gặp khó khăn, chỉ đơn giản là việc «đổi tên nước», tại UNESCO vào tháng 7 -1975, U.I.T vào tháng 2 năm 1976.

Điều cần ghi nhận là động thái của VNDCCH qua việc xin gia nhập O.M.S như là «một thành viên chính thức» vào ngày 10 tháng 4 năm 1975. Việc này được đại hội O.M.S chấp nhận ngày 7-5. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhứt đã bị phá bỏ. Tức là có hai nước VN tại O.M.S.
Điều cần ghi nhận khác, tại đại hội O.M.S năm 1976, hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN chỉ có một phái đoàn đại diê.n. Việc này vi phạm điều lệ LHQ, vì một người không thể đại diện cho hai quốc gia. Tuy vậy, việc này cũng được thông qua, với điều kiện, khi phái đoàn phát biểu cho nước nào thì phải để bảng ghi tên nước đó phía trước.

Như thế, trong chừng mực, VNDCCH chấp nhận có hai quốc gia Việt Nam : VNDCCH và CHMNVN, sau ngày 30-4-1975.

Việc thống nhứt đất nước 2-7-1976 như thế là thống nhứt giữa hai quốc gia. Vấn đề kế thừa về lãnh thổ do đó mang một sắc thái chính trị khác.
Về hai quần đảo HS và TS, việc phải lên tiếng khẳng định chủ quyền là một điều bắt buô.c. Như đã viết ở trên:

«Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác. »
Quốc tế cần phải biết thái độ của chính phủ mới về chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi vì, ở TS có tranh chấp với TQ và một số nước khác ; ở HS thì TQ đã xâm lăng đảo này bằng vũ lực tháng 2 năm 1974. Việc lên tiếng không chỉ là cần thiết mà còn là bắt buộc, nếu VN muốn khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này.

Sau 30-4-1975, không thấy chính phủ CMLT tuyên bố lời nào về chủ quyền của HS và TS. Thái độ im lặng này của CPCMLT có thể sau này ảnh hưởng đến hồ sơ pháp lý của VN tại HS và TS. Theo thông lệ quốc tế, người ta thường xem việc một quốc gia giữ yên lặng trước một động thái của một quốc gia khác là không có ý kiến (hay mặc nhiên đồng thuận) về động thái đó. Thí dụ, thái độ im lặng của chính phủ VNDCCH trước việc TQ xâm lăng HS là một thái độ mặc nhiên đồng thuận việc TQ «giải phóng HS». Trong khi đó, Liên Xô đã lên tiếng phản đối động thái này của TQ.

Việc này không gây ngạc nhiên, bởi vì cuộc chiến này đã được gọi là cuộc chiến « giải phóng », tức cuộc chiến đánh đổ (phủ nhận) chính phủ tiền nhiệm, nhằm tháo gỡ cùm gông kìm kẹp dân chúng. CPCMLT đã xem chính phủ tiền nhiệm là ngụy, là « quân bán nước », « làm tay sai của quân cướp nước » (tức đế quốc Mỹ). Do đó không có vấn đề « kế thừa » lãnh thổ. Làm thế nào có việc kế thừa « bọn cướp nước và bè lũ bán nước » ? mà chỉ có vấn đề « giải phóng », « đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào », chiếm lại đất đai và dành lại dân chúng. Một số đảo ở TS đã được thể hiện như thế (de facto).

Đến nay, các mặt nạ lần lượt rơi xuống. Mọi người đều biết MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN, chứ không hề do nhân dân miền Nam thành lập để « vùng lên » chống áp bức. Các cán bộ lãnh đạo MT đều là đảng viên của đảng CSVN. Những lãnh đạo CSVN hiện nay, hay đã quá cố (Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết…), những người trong MTGPMN cũ, đều là thành viên TU của đảng CSVN. Nói MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN là không sai. Đây là một thực tế không thể phản biê.n.

Chính phủ VNCDCH và CPCMLT tuy hai mà mô.t. Ý kiến của VNDCCH về HS và TS trong chừng mực cũng là ý kiến của CHMNVN. Mà ý kiến đó là công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS. Ý kiến này không được người dân VN nào, Nam cũng như Bắc, chấp nhâ.n. HS và TS là các lãnh thổ của quốc gia VN, do tổ tiên người VN khám phá, khai thác và quản lý trên thực tế liên tục từ nhiều thế kỷ. Chấp nhận HS và TS thuộc chủ quyền của TQ là phản bội tiền nhân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

Sự thật lịch sử là như thế, vấn đề đặt ra, nước CHXHCNVN thống nhứt ngày hôm nay sẽ kế thừa chủ quyền ở hai quần đảo HS và TS như thế nào ? Nước này sẽ đứng trên lập trường của nước nào, VNDCCH, CHMNVN hay VNCH để khẳng định chủ quyền ở HS và TS ? Đây không phải là một lựa chọn về «chính trị» mà là một quyết định đứng vào lập trường nào để có thể bảo vệ một cách hữu hiệu quyền lợi của dân tô.c.

4. Tính pháp lý của việc kế thừa hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa của nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam
.
Ngày 2-7-1976 hai nước VNDCCH và CHMNVN hiệp thương thống nhứt đất nước. Như đã viết ở phần trên, VNDCCH chủ trương có hai nước Việt Nam sau 30-4-1975, qua việc VNDCCH xin gia nhập các định chế quốc tế. Ở điểm này, CHMNVN « kế thừa » VNCH, việc gia nhập vào các định chế quốc tế của CHMNVN chỉ đơn giản là thủ tục đổi tên nước. Nhưng sự gia nhập của nước VNDCCH vào các định chế quốc tế là với tư cách một nước Việt Nam khác.
Với tư cách một quốc gia khác, sau khi thống nhứt đất nước, CHXHCNVN có kế thừa VNCH hay không?

Sau khi thống nhứt đất nước, đại diện của Việt Nam tại các định chế quốc tế là đại diện của nước VNDCCH vừa mới gia nhập trước đó. Tính liên tục quốc gia đã được xác định : từ VNDCCH chuyển sang CHXHCNVN. Việc này làm rõ rệt tương quan giữa VNDCCH và VNCH. Nếu CHXHCNVN có ý định kế thừa CHMNVN, tức kế thừa VNCH, thì đã không gia nhập vào các định chế quốc tế (như trước 1975), để khẳng định nguyên tắc một quốc gia Việt Nam duy nhứt. Ở trường hợp này, sau khi thống nhứt giữa hai nước VNDCCH và CHMNVN, đại diện của CHMNVN, kế thừa VNCH, cũng sẽ là đại diện của nước VN mới CHXHCNVN.
Nhưng trường hợp này đã không xảy ra. VNDCCH luôn quan niệm VNCH là một chính quyền « tay sai của ngoại bang », là « ngụy » cần phải lật đổ, do đó không thể hiện hữu vấn đề kế thừa.

Nước CHXHCNVN là một nước VN mới, đoạn tuyệt với quá khứ của nhà nước thực dân và các nhà nước phong kiến. Lãnh thổ của nước CHXHCNVN là lãnh thổ chiếm được từ tay Pháp (1954) và Mỹ, Ngụy (1975), chứ không phải là lãnh thổ kế thừa từ cha, ông. Nhà nước CHXHCNVN cũng là nhà nước mới, đoạn tuyệt với mọi nhà nước thực dân, phong kiến, hay chính quyền Ngụy ở Sài Gòn.
Tinh liên tục quốc gia đã được thể hiện : di sản của VNDCCH được chuyển sang CHXHCNVN. Chính quyền CHXHCNVN kế thừa di sản của chính phủ VNDCCH. Việc này càng rõ rệt hơn khi ta nhận thấy đảng lãnh đạo nhà nước VNDCCH trước kia và đảng lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hôm nay là một : đảng CSVN.

Vấn đề kế thừa chính phủ CMLT cũng không đặt ra. Những người lãnh đạo chính phủ này cũng nằm trong đảng CSVN. Tức cả hai nước VNDCCH và CHMNVN, nhân sự lãnh đạo đều nằm trong một đảng. Mình với ta tuy hai mà một, lập trường chính trị của hai nước chỉ là mô.t. Lý ra, sau 30-4-1975, CPCMLT không cần phải kế thừa VNCH, gia nhập các định chế quốc tế. Việc này hôm nay mới thấy đó là một thủ thuật chính trị của đảng CSVN để khỏi phải vướng mắc với di sản của VNCH tại các định chế quốc tế khi phải xin gia nhập sau này.

Như đã viết ở phần 1, việc kế thừa sẽ đặt lại các vấn đề về bang giao quốc tế. Đó là việc tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác. Sau 1975, chính phủ CMLT đã im lặng về tình trạng pháp lý ở HS và TS. Trong khi đó, nước CHXHCNVN, kế thừa VNDCCH, còn phải có nghĩa vụ tôn trọng những kết ước, những tuyên bố đơn phương về một vấn đề quốc tế… của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.

5/ Tạm kết:

Với những phân tích sơ lược ở trên ta có thể kết luận danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS vẫn chưa hề thụ đắc (de jure). Xu thế của thời đại là giải quyết tranh chấp bằng phương tiện hòa bình. Tranh chấp HS và TS chỉ có thể giải quyết bằng một tòa án quốc tế. Với những lổ hỗng pháp lý như thế, nếu đưa ra một tòa án để phân giải ngay bây giờ, VN không có nhiều hy vọng để thắng TQ.
Vì vậy, mọi yếu tố pháp lý có thể làm phương hại cho VN đều phải được bàn luận tới. Bàn luận bằng môt thái độ khách quan, khoa học, với những dữ kiện thuyết phục, kiểm chứng đươ.c. Có như thế ta mới nắm vững được ngọn ngành của vấn đề.

Người viết sẽ trở lại trong bài tới để trình bày về hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương và các hành vi mặc nhiên chấp thuận (của nhà nước VNDCCH về HS và TS) theo tài liệu hướng dẫn chính thức của LHQ. Người viết cũng sẽ phân tích về hiệu lực pháp lý của các tuyên bố đơn phương, các hành vi mặc nhiên chấp thuận qua các bản án mẫu của Tòa án Công lý Quốc tế (C.I.J), qua các trường hợp tranh chấp lãnh thổ đã xảy ra trong lịch sử thế giới, ở một số thí dụ để so sánh với trường hợp VN. Các thí dụ : 1/ nội dung và hiệu lực pháp lý của lá thư của Bộ ngoại giao Colombie gởi chính phủ Vénézuela về chủ quyền quần đảo Los Monjes. 2/ Nội dung và hiệu lực pháp lý của công hàm chính phủ lâm thời Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca trong tranh chấp chủ quyền đảo này giữa Mã Lai và Tân Gia Ba. 3/ nội dung và hiệu lực pháp lý tuyên bố « Ihlen » của bộ trưởng Bộ ngoại giao Na Uy về chủ quyền Groenland trong tranh chấp lãnh thổ này giữa Đan Mạch và Na Uy. 4/ Nội dung tuyên bố của các viên chức Pháp về chủ quyền các đảo « Anglo-Normand » trong quá khứ và tác động của chúng lên quyết định của tòa án trong tranh chấp Anh-Pháp về chủ quyền các đảo này. 5/ Về thái độ của chính phủ Thái Lan về tấm bản đồ phân định biên giới 1907 và hệ quả của thái độ này lên phán quyết của tòa án trong tranh chấp Thái-Miên về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear v.v…

Khi đã có một ý thức về hiệu quả pháp lý của các tuyên bố đơn phương hay các thái độ mặc nhiên công nhận qua các bản án mẫu, ta sẽ thấy tầm tác hại to lớn của các động thái trước kia của nhà nước VNDCCH về HS và TS. Sau đó ta phải đi tìm một phương pháp thích ứng để hóa giải kịp thời hiệu lực của các tuyên bố hay thái độ này.

Chỉ có vậy mới có thể giữ được bờ cõi của tổ tiên, mới tránh được cảnh ức hiếp của TQ như các việc cắt cáp tàu Bình Minh II năm ngoái, hay việc cho đấu thầu 9 lô ngay trên thềm lục địa, trong vùng 200 hải lý ZEE của VN mới đây. Đó còn chưa nói tới nạn nhân trục tiếp là các ngư dân VN, những người thường xuyên bị TQ bắt bớ, tịch thu ngư cụ, tàu bè, bắt đòi tiền chuô.c.

Không còn cách nào khác, VV là nước yếu, muốn bảo vệ quyền lợi của mình là phải đưa vấn đề ra tòa án quốc tế. Công lý dùng để bênh vực kẻ yếu. Mọi thái độ «đà điểu», hay thái độ «uống thuốc an thần» có thể giữ được đảng trong lúc này, có tác dụng trong giai đoạn mà tác hại đến đất nước lâu dài. Chế độ hữu ha.n. Đất nước vĩnh cửu.
© Trương Nhân Tuấn
Góp ý của Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN:
Bài này tác giả Trương Nhân Tuấán bàn đến những di họa của các tuyên bố, thái độ và hành độâng “BÁN NƯỚC” của đám lãnh đạo Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Ung Văn Khiêm v.v.), nay để lại hậu quả là Tàu Phù đương nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa (của VN đành rành ra từ xưa đến nay, Hoàng Sa thì đến 1974 bị Tàu Cộng xâm lăng từ tay VNCH) là của “Trung Quốc Vĩ Đại”, như đám Thái Thú Bắc Kinh “BÁN NƯỚC” tại Hà Nội luôn xưng tu.ng. Mặc dù nay tới thế cùng, Quốc Hội CSVN vừa biểu quyết thông qua Luật Biển hồi tháng 6-2012, nhưng vấn đề cũng chưa phải là yên chí được đâu, như một số học giả đã có ý kiến về Luật Biển này (xem bài của Học giả Vũ Hữu San trong số báo KTTT kỳ này, trang 21-23). Các ý kiến (cá nhân) của tác giả Trương Nhân Tuấn sau đây có thể không có nhiều người đôàng lòng; nhưng trong tinh thần cầu thị, tìm hiểu mọi vấn đề thật rốt ráo, kể cả các ý kiến trái ngược, bất lợi hoặc ý kiến của đối phương, Diễn Đàn Quốc Tế cho đăng bài của tác giả Trương Nhân Tuấn, để những người có trách nhiệm với vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông nghiên cứu sâu xa hơn và tìm một khảo hướng thích hợp để khắc phục những gì có thể đặt ra sau này cho VN trước Công Pháp Quốc Tế. CSVN và đám lãnh đạo của Đảng này nổi tiếng lọc lường trên thế giới, thì nay chúng phải chịu hậu quả của các sự lọc lường này. Không may là chúng lại ảnh hưởng đến đất đai, lãnh thổ của Tổ tiên bao công gìn giữ. Chỉ có một đường hướng giải quyết tận gốc vấn đề là DỨT KHOÁT và TUYỆT NỌC đối với tất cả những gì gọi là “CỘNG SẢN” bằng cuộc “CÁCH MẠNG THẾ KỶ 21 CỦA VIỆT NAM SAN THÀNH BÌNH ĐỊA LĂNG BA ĐÌNH” để giải quyêát “ONCE FOR ALL” (một lần tất cả) những gì liên hệ  đến “CỘNG SẢN” và xây dựng một nước VIỆT NAM MỚI: DÂN CHỦ - TIẾN BỘ - HÙNG CƯỜNG, như được đưa ra trong bài viết của TS Nguyễn Bá Long, đăng trong số báo kỳ này (Vietnamese & English Versions, pages 7-12). Cuộc “CÁCH MẠNG THẾ KỶ 21 CỦA VN SAN THÀNH BÌNH ĐỊA LĂNG BA ĐÌNH” có mục đích đứt điểm CS và thoát khỏi họa Bắc Thuộc mà VN đang lọt vào hiện nay.
T/M Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN
TS NGUYỄN BÁ LONG
Chủ Nhiệm

Bài Xem Nhiều