We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 23 August 2012

Việt Nam Tìm Những Người "Yêu Nước" Không Cần Cộng Việt Trí Thức

Trí Thức Cộng Sản
 

Ngày 6 tháng 8 năm 2012, bảy mươi mốt vị trí thức cộng sản hàng đầu, viết “Thư Ngỏ” gởi các nhà lãnh đạo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Các ông đề nghị cải tổ chính trị và hành động chống Trung Quốc xâm lăng. Trước đó hai lần, một số trong các ông cũng đã lên tiếng thông qua bản “Kiến Nghị” ngày 10 tháng 3 năm 2011, và bản “Ý Kiến” ngày 08 tháng 9 năm 2011, kêu gọi lãnh đạo đảng chỉnh đốn nội bộ, bài trừ tham nhũng, và cảnh báo lòng dân phẫn nộ trước hành động xâm lăng trắng trợn của Trung Quốc mà nhà cầm quyền không dám phản ứng, lại còn cấm đoán, trấn áp người dân biểu tình chống Trung Quốc.

Hình như tâm huyết của những người đảng viên kỳ cựu nói trên, đồng ký tên trên các bản kiến nghị, với hy vọng nhà cầm quyền sẽ lưu ý vì tình trạng khẩn trương của đất nước trước họa xâm lăng. Nhưng thực tế các bản văn đó chìm trong sự hờ hững, bất cần lưu tâm. Bởi vì độc đảng nghĩa là độc quyền, độc tài, độc tôn, độc đoán thì cần gì ý kiến của kẻ khác, tự Bộ Chính Trị quyết đoán, quyết hành là đủ rồi.

Thử hỏi tại sao các nhà lãnh đạo Hà Nội cố tình quên hai chữ “nhân dân”, nguồn nhân lực từ đó họ lợi dụng để cướp chính quyền, và mãi còn lạm dụng để phô trương: Ủy Ban Nhân Dân vì dân, do dân, Quân Ðội Nhân Dân, v.v. Bây giờ chính các cơ quan nhân dân đó đàn áp, đánh đập, bắt bớ, giam cầm dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng. Phải chăng họ là người Trung Quốc? Nếu không phải thì họ cũng là bọn tay sai? Hay là người Việt nhưng đã được Trung Quốc mua chuộc nhiều tiền bạc, vàng, đô la, hay là bị gài bẫy há miệng mắc quai nên phải đành tuân theo lệnh của Trung Quốc? Bằng cớ là Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn đã từng sang Tàu lãnh lệnh “phải điều hướng dư luận quần chúng Việt Nam”.

Cho nên từ khi Nguyễn Tấn Dũng triều cống Cao Nguyên cho Trung Cộng khai thác Bauxite thì hàng loạt chuyên viên trí thức phản biện rằng, điều đó chẳng những bất lợi về kinh tế, mà còn tác hại về môi trường và dân sinh. Nguyễn Tấn Dũng bất chấp. Thậm chí Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, vị khai quốc công thần đã công khai phản đối, xét về chiến lược quân sự sẽ nguy hại vô cùng. Nhà nước cũng bỏ qua. Nghĩa là những gì Trung Quốc chủ trương lấn từng bước với mục đích thôn tính Việt Nam, Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội cũng phải tin vào 16 chữ vàng và 4 cái tốt để thỏa mãn quan thầy, cho dù trí thức, quân nhân hay quần chúng có bất bình phản đối. Hà Nội vẫn biết, nhưng họ tin có Bắc Kinh ủng hộ, sẵn sàng can thiệp bằng mọi cách để duy trì hệ thống cai trị giùm để Hà Nội còn cơ hội chia nhau quyền hành lợi lộc, ngược lại Hà Nội đã dâng biển, dâng đất cho Trung Quốc rồi.

Xét cho cùng Trung Quốc chỉ cần chiếm trọn Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thôi, vùng biển đó thừa tài nguyên giúp Tàu Cộng trở thành cường quốc. Hà Nội đã thuận giao rồi, vừa công khai qua công hàm của Phạm Văn Ðồng, vừa bí mật thông qua những gì Hà Nội còn che giấu mà Bắc Kinh ít nhiều hé mở khi nói Việt Nam phản bội. Sự thật Trung Quốc không cần chiếm trọn đất nước Việt Nam. Ðã có bọn tay sai làm Thái Thú cai trị thay. Cao nguyên do Bắc Kinh làm chủ, rừng biên giới Bắc Việt có nhiều khoáng sản đã cho Tàu Cộng khai thác 50 năm, khắp nơi có Phố Tàu lớn rộng kềm chế nền kinh tế, 95% những gói thầu lớn nhỏ về mọi mặt đều lọt vào tay Trung Quốc do sự tiêu lòn hối lộ của cán bộ đảng viên Việt Nam. Hàng ngàn sĩ quan được Trung Quốc huấn luyện còn mang nặng ơn quan thầy, kể cả Tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng Việt Nam. Trung Quốc chưa đánh chiếm Việt Nam mà đã hành động như một thứ thực dân mới đang đô hộ xứ mình.

Thư ngỏ lần nầy của 71 ông trí thức gởi các cấp lãnh đạo có những điều mà các ông đã biết quá rõ: Ðó là không khi nào đảng chấp nhận những gì các ông viết ra. Nếu các ông muốn chứng minh quí ông là những người hiểu biết, hay mục đích chỉ làm cho quần chúng hiểu thêm nhà nước nầy là tay sai của Trung Quốc, chế độ nầy cần phải thay đổi, cũng vô ích thôi. Ðối với Bộ Chính Trị đảng, quần chúng nhân dân là đối tượng phải thẳng tay đàn áp khi cần, để nắm vững chính quyền.

Lần đầu tiên các ông dám đề cập đến sự bất đồng chính kiến, đòi sửa đổi hiến pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền. Ðòi công khai giải thích quan hệ Việt-Trung? Và hỏi công hàm của cựu Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng gởi Chu Ân Lai đã xác nhận việc gì với Trung Quốc? Ðồng thời các ông còn yêu cầu nhà nước chấm dứt sự tùy tiện kết tội để trấn áp, bắt bớ, giam cầm những người yêu nước.

Xin thưa, đảng không ngây thơ dại dột như các ông tưởng, đảng biết rõ hơn những dòng chữ hoa mỹ, lễ độ diễn tả trong thơ ngỏ của các ông. Nhưng chủ trương, ý đồ, thái độ của đảng qua bao nhiêu năm đã công khai chứng tỏ. Các ông đã thấy rõ mà tại sao còn giả vờ đề nghị thế nầy thế khác? Giáo sư Tương Lai còn ngây ngô dọa nạt nhà nước rằng ngoảnh mặt với nhân dân thì sẽ phải trả giá rất đắt. Giá nào? Ông có dám công khai tuyên bố không? Các ông đã từng nghe nói đến tàu lạ, chúng đụng chìm tàu đánh cá Việt Nam, chúng bắt người đòi tiền chuộc mạng, chúng cắt dây cáp tàu khảo sát của ta, chúng lập thành phố Tam Sa, Hà Nội có phản ứng gì đáng kể không? Thậm chí không dám mời đại sứ Trung Quốc đến Bộ Ngoại Giao nhận công hàm phản đối, mà phải sai người trân trọng đem giao tận tay đại diện Trung Quốc, trái với thông lệ ngoại giao bình thường. Bao nhiêu điều đó chưa đủ chứng minh cho quí ông thấy Hà Nội hèn với giặc ác với dân như dư luận rêu rao hay sao?

Giáo sư Tương Lai nói đi rồi nói lại liền, ông xác định trong cuộc phỏng vấn của đài RFI: “Chúng tôi là người của chế độ, chấp nhận sự lãnh đạo của đảng, nhưng muốn cho bộ máy nhà nước sửa sai trở thành tốt đẹp hơn”. Các ông đã đề nghị sửa sai bao nhiêu lần rồi mà sai trái ngày càng nhiều hơn. Vậy thì nếu chấp nhận sự lãnh đạo của đảng các ông nên ngồi im nhìn hậu quả. Bằng không nếu lương tri buộc các ông thuận lý với chính mình thì phải hành động. Phải đứng ra hô hào đoàn kết chống xâm lăng, không để một thế lực nào cản trở bởi vì sức mạnh của quần chúng là vô song. Các ông phải nắm lấy quyền hành để bảo vệ đất nước dân tộc. Các ông có dám không? Hay là trí thức vốn đã có địa vị cao sang, đứng trên tháp ngà, rút cổ, chỉ dám nhìn xã hội đầy dẫy bất công gian xảo?

Cùng thời gian Hà Nội viết thơ ngỏ, tại Sài Gòn có 42 nhà gọi là trí thức “hạng hai”, những người đã từng được cộng sản móc nối trong cuộc chiến Quốc-Cộng, nhưng ngày nay không ai được tin dùng, Cộng Sản chỉ cho họ những chức vụ “chầu rìa” làm bông hoa cho chế độ, vì hai lý do: Họ không thuộc giai cấp bần cố nông. Họ đã từng chung đụng với địch nên khó tin lòng trung thành tuyệt đối của những người nầy.

Các ông trí thức hạng hai lớn tiếng kêu gọi xuống đường chống Trung Quốc xâm lăng. Tiếng kêu khô cằn, vô hiệu, bởi vì có bao giờ Sài Gòn biểu tình tự phát được đông người đâu. Ðã vậy các ông còn yêu cầu thành phố tổ chức, nếu không các ông sẽ tự động hô hào quần chúng xuống đường.

Ông Lê Hiếu Ðằng, một sinh viên “tranh đấu” ngày xưa còn hứa với đồng bào rằng “chúng tôi không lùi bước”. Thử hỏi các ông không lùi bước thì sẽ tiến tới đâu? Ðừng quên chế độ nầy đủ khả năng trấn áp một cách tàn nhẫn, trong khi các ông không có khả năng hô hào dân chúng của thành phố Sài Gòn xả thân hy sinh chứng minh lòng yêu nước đến cùng. Cho nên xin đừng khua môi múa mỏ vào giờ thứ 25! Nằm im mà hưởng thụ sẽ ít bị nguyền rủa hơn.

Còn nếu các ông thật lòng muốn bảo vệ tổ quốc thì hãy gắng công thuyết phục tất cả trí thức Hà Nội, Sài Gòn và toàn quốc, vận động xóa bỏ độc đảng độc tài, tay sai Trung Quốc thì may ra còn cứu vãn được tình hình, dù đã trễ nhưng không muộn.


 Võ Long Triều

Thảm Trạng: Hạt Điều Máu


Cuốn phim trinh thám chính trị nổi tiếng Blood Diamond (Kim Cương Máu) với tài tử nổi danh Leonardo DiCaprio thủ vai chính, được thực hiện vào năm 2006 với ngân sách cả trăm triệu mỹ kim, được nêu danh 5 lần trong Giải Oscar và đoạt huy chương vàng trong một số giải điện ảnh nổi tiếng khác, đã lột tả ý nghiã ghê rợn của chữ “máu” đi liền với một số những viên đá quý mà quý vị phụ nữ nâng niu trang điểm.

Vào thập niên 1990, khi các cuộc nội chiến đẫm máu lan tràn tại các quốc gia Phi Châu như Angola, Sierra Leone, Cote d'Ivoire, Liberia, Congo, các lực lượng nổi loạn đã khai thác các mỏ kim cương để lấy tiền mua vũ khí và tài trợ cho các cuộc nổi dậy lật đổ chính quyền tại các quốc gia đó.

Trong tiến trình sản xuất kim cương, họ bắt cóc nông dân và dân chúng, kể cả trẻ em, và lùa họ vào các mỏ kim cương. Ở đó họ bị đối xử tàn nhẫn và làm việc như những kẻ nô lệ, bị áp dụng những biện pháp thô bạo nhất để trừng phạt khi làm việc chậm chạp hay giấu trộm kim cương như chặt tay thậm chí chặt đầu hoặc bắn bỏ. Cuốn phim Kim Cương Máu đã trình bày những hình ảnh hãi hùng, ghê rợn tại những mỏ khai thác kim cương kể trên. Vì có nguồn gốc, mục tiêu và tiến trình khai thác dính đầy máu đó mà những hạt kim cương này đã bị thế giới đặt tên là những “kim cương máu”, khác với những kim cương được sản xuất bởi những công ty đá quý bình thường.

Vì mối quan tâm ngày càng gia tăng và gần đến mức tẩy chay của thế giới về “kim cương máu” nên các quốc gia sản xuất “kim cương lương thiện” đã họp lại tại thành phố Kimberley ở nước Nam Phi vào năm 2000 để tìm giải pháp ngăn chặn việc phổ biến kim cương máu. Vào Tháng 12 năm 2000, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết quan trọng. Theo đó, kim cương khi bán ra phải có chứng minh nguồn gốc để không bị nhầm lẫn với kim cương máu mà cả thế giới khinh tởm và tẩy chay.

Vào tháng 9 năm 2011, tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) công bố một bản phúc trình chi tiết về tình trạng cưỡng bức lao động trong các trại cải huấn ở Việt Nam -- nơi giam giữ không chỉ những người nghiện ngập, những người bị nhiễm HIV, những tù thường phạm, mà còn cả những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm.

Cũng theo báo cáo của HRW thì dù mang danh là “cải huấn” và “cai nghiện” nhưng thực tế đây chỉ là những trại tù, trong đó tù nhân bị cưỡng bức làm việc tới kiệt lực, bị hành hạ, tra tấn tàn nhẫn, và một trong những việc đáng sợ mà các tù nhân phải làm là bóc hạt điều. Các tù nhân bị bắt lột vỏ hạt điều từ 6 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Mỗi tù nhân bị buộc phải làm từ 20 ký tới 40 ký hạt điều mỗi ngày để nạp cho ban quản lý trại giam -- so với khả năng sản suất bình thường của một công nhân bên ngoài chỉ khoảng 10 ký mỗi ngày. Ai không đạt chỉ tiêu thì bị đánh đập. Có người khi phản đối đã bị xiềng chân và biệt giam. Báo chí ở Việt Nam từng loan tin các vụ trốn trại tập thể ở nhiều nơi từ Hải Phòng, Sài Gòn, Bình Dương, Cần Thơ và một số nơi khác. Một trong những lý do chính là không chịu nổi sự hà khắc của ban giám thị.

Vỏ và mủ hạt điều chứa chất acid Cardol độc hại và càng thêm đậm đặc sau khi sấy. Mủ làm lở loét tay chân và đặc biệt rất nguy hiểm cho mắt. Các tù nhân không được cung cấp đầy đủ găng tay, một phần vì tốn kém và một phần vì đeo găng tay sẽ làm giảm năng suất. Có người đã bị mù sau một thời gian làm hạt điều. Những nhà máy sấy hạt điều thường nằm cạnh các trại giam. Hàng ngày các nhà máy này thổi ra những cột khói vàng khè. Khi thuận gió khói này bay vào buồng giam khiến tù nhân bị cay mắt và khó thở khiến họ phải dùng khăn mặt để che.

Những bàn tay rỉ máu và ghẻ lở, bên dưới những dòng mồ hôi và nước mắt, của hơn 300.000 tù nhân tại 123 trại tù và “trung tâm cai nghiện” ở Việt Nam hàng ngày vẫn đang tiếp tục sản xuất ra những hạt điều thơm tho và béo ngậy được xuất cảng đi khắp thế giới.

Gần đây, nhân cuộc điều tra về tình trạng sức khỏa của bà Trần Thị Thúy, -- một tù nhân lương tâm bị nhà nước Việt Nam kết án 8 năm tù vì là đã đứng ra giúp nhiều dân oan cùng cảnh ngộ khiếu kiện đòi lại nhà đất -- thảm trạng tù nhân bị cưỡng bức bóc hạt điều lại một lần nữa bị phanh phui trước công luận.

Cũng theo báo cáo của các tổ chức nhân quyền thì các ban quản lý trại giam ký hợp đồng với các công ty xuất cảng hạt điều và bắt tù nhân ngày đêm sản xuất cho đủ chỉ tiêu. Kỹ nghệ hạt điều đem lại cho nhà cầm quyền Việt Nam khoảng 1,5 tỉ Mỹ kim mỗi năm.

Giám đốc đặc trách Y tế và Nhân quyền của Human Rights Watch, ông Joe Amon tuyên bố: “Hàng chục ngàn người, nam, nữ và trẻ em bị cầm giữ trái với ý muốn của họ trong các trung tâm cưỡng bức lao động. Đó không phải là điều trị cai nghiện, cần đóng cửa những trung tâm này và trả tự do cho những người đó”.

Tạp chí Time cũng mô tả “hạt điều máu” là một trong những hình thức cưỡng ép lao động, khai thác các nạn nhân và bệnh nhân trong các trại cải huấn ma túy của nhà cầm quyền, bên cạnh các việc khác như may quần áo, làm gạch …

Phúc trình của HRW viết: “Ở Congo bên Phi Châu có kim cương máu. Ở Miến Ðiện có vòng cẩm thạch máu. Việt Nam có hạt điều máu”.

Vào ngày 13/6/2012 vừa qua, tổ chức Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ (CAMSA) mở chiến dịch báo động công luận và kêu gọi tẩy chay “hạt điều máu” và đã điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ.

Theo CAMSA thì chiến dịch tẩy chay “hạt điều máu” từ Việt Nam gồm có các mục tiêu sau đây:

(1) Tạo ý thức trong giới tiêu thụ trên thế giới về chính sách cưỡng bách lao động của nhà cầm quyền Việt Nam;

(2) Kêu gọi giới tiêu thụ không ăn hạt điều xuất phát từ Việt Nam, và thông tin cho nhau biết những cửa tiệm nào bán hạt điều từ Việt Nam để tránh;

(3) Áp lực các công ty quốc tế ngưng nhập cảng, phân phối, hay bán hạt điều xuất phát từ Việt Nam; và

(4) Vận động các chính quyền trong thế giới tự do và các cơ quan Liên Hiệp Quốc áp lực nhà nước Việt Nam bãi bỏ chính sách cưỡng bách lao động và chấp nhận cho các cơ quan quốc tế kiểm tra các trại cải huấn và trại tù.Mục đích tối hậu của chiến dịch là giải thoát cho hàng trăm ngàn nạn nhân và bệnh nhân khỏi tình trạng nô lệ trong các trại cải huấn và các trại tù.

CAMSA kêu gọi cộng đồng người Việt tại hải ngoại đẩy mạnh chiến dịch này và vận động công chúng quốc tế nhập cuộc, và cũng kêu gọi các tổ chức cộng đồng và cơ quan truyền thông ghi danh yểm trợ chiến dịch này.

Là người Việt Nam, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ khi mỗi ngày hàng mấy trăm ngàn những dòng nước mắt, mồ hôi, máu và mủ của đồng bào chúng ta tiếp tục đổ xuống, hòa lẫn vào những hộp hạt điều mà chúng ta đang thưởng thức.

Là người tiêu thụ, điều tối thiểu mà mỗi chúng ta có thể làm để góp phần giảm thiểu nỗi khổ đau của đồng bào, đặc biệt là những tù nhân lương tâm tại Việt Nam, (cũng như những nạn nhân tương tự tại Trung Quốc) là ngưng mua hạt điều từ Việt Nam và Trung Quốc. Đây là bước đầu tiên cần làm trong các cộng đồng người Việt khắp nơi, để từ đó chúng ta có thể vận động một cách hiệu quả sự tiếp tay của cả thế giới về thảm trạng này./.
Đỗ Đăng Liêu

Chu kỳ thù hận Việt-Trung-Miên

 
- Khi nhắc đến quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, giới lãnh đạo CSVN thường nhấn mạnh đến 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” do Giang Trạch Dân thay mặt lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) tặng Lê Khả Phiêu, đại diện giới lãnh đạo CSVN đầu năm 1999 nhưng không hề nhắc đến 12 lời nguyền rủa “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học” do Đặng Tiểu Bình, thay mặt CSTQ tặng CSVN vào cuối năm 1978 trong chuyến đi thăm các quốc gia Đông Nam Á của y.

Gọi là lời nguyền rủa vì họ Đặng không viết ra để gởi Bộ Chính trị đảng CSVN qua đường ngoại giao mà do chính giọng Tứ Xuyên của y phát biểu trên đài truyền hình cho nhân dân Đông Nam Á và thế giới cùng nghe.

Lý do nguyền rủa

Đặng Tiểu Bình & Hồ Chí Minh
Phải công tâm mà nói, mặc dù dùng chữ “Việt Nam” họ Đặng nhắm vào đảng CSVN chứ không hàm ý dân tộc Việt Nam hay nhân dân Việt Nam. Và cũng công tâm mà nói, sau khi tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa hai đảng CS, việc Đặng Tiểu Bình rủa đảng CSVN là “côn đồ” không phải là quá đáng.

Trung Quốc đổ quá nhiều xương máu, góp quá lớn công sức và của cải cho chiến thắng của đảng CSVN. Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam:

“Mặc dù đang mạnh dần, Trung Quốc vẫn lo ngại sự hiện diện ngày càng mở rộng của Mỹ tại Đông Nam Á. Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã lần nữa can thiệp. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiển địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiển phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm gởi nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.

Nội dung này cũng phù hợp với con số do hãng tin Reuter loan đi ngày 16 tháng Năm, 1989 dựa theo tin của China News Service “Hãng tin bán chính thức của Trung Quốc trong một thông báo được theo dõi tại Hong Kong cho biết Trung Quốc đã gởi 320 ngàn quân sang Việt Nam trong thập niên 1960”. Về con số thương vong, bản tin còn cho biết hơn 4 ngàn lính Trung Quốc đã chết trong cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý dưới các chế độ CS, con số thương vong là một thống kê có tính cách chính trị, con số thật sự không được tiết lộ. Giống như cách CSVN tổng kết thương vong trong chiến tranh Việt Nam, khi nghĩ đến chuyện Mỹ bồi thường chiến tranh, họ đưa ra con số quá cao nhưng khi khoe khoang chiến thắng họ lại hạ con số tổn thất xuống thấp.

Trung Quốc, trong lúc dành dụm từng ký gạo gởi giúp Việt Nam, phải trải qua nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người do Mao Trạch Đông gây ra trong thời kỳ Bước tiến nhảy vọtCông xã nhân dân từ năm 1958 đến năm 1962.

Không có một con số chính xác số người chết đói tại Trung Quốc nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đã đồng ý con số lên đến vài chục triệu người. Tác giả Peng Xizhe dự đoán thấp nhất với 23 triệu người và Frank Dikötter, giáo sư môn Lịch sử Trung Quốc Hiện đại, dự đoán ít nhất có 45 triệu người chết, trong đó khoảng 2 đến 3 triệu chết vì tra tấn. Phần lớn các nhà nghiên cứu còn lại cho rằng khoảng 30 triệu người đã chết đói. Viết trên New York Times, giáo sư Frank Dikötter trích dẫn lá thư viết tay của viên Giám đốc Sở Anh Ninh Công Cộng tỉnh Tứ Xuyên báo cáo lên cấp trên tỉnh của y có 10.6 triệu người chết đói. Ở Cam Túc có 50 trường hợp ăn thịt người. Nhà báo Daniel Southerland viết trên Washington Post, tại công xã Fengyang có 63 trường hợp người ăn người và tại công xã Damiao hai vợ chồng Chen Zhangying và Zhao Xizhen luộc chín đứa con 8 tuổi của mình để ăn. Riêng tại công xã Wudian có cả trường hợp bán thịt của chính mình như bán thịt heo. Nói chung, những năm cuối thập niên 1950 cho đến đầu 1960 là những năm dân số Trung Quốc giảm thấp nhất nhưng không phải vì hạn chế sinh đẻ nhưng chết quá nhiều.

Tuy nhiên, cũng ngay trong thời gian dân Trung Quốc có nơi phải ăn thịt người mà sống, giới lãnh đạo CSTQ đã vét kho gởi sang nuôi CSVN.

Dưới đây là nội dung bản tổng kết của báo Nhân Dân phát hành tại Hà Nội, số 2021 ra ngày 28 tháng Chín 1959 nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được dịch sang tiếng Anh và lưu trữ trong Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Libray of Congress):

“Trong năm năm qua, Trung Quốc đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ nhiệt tình. Chỉ riêng tiền bạc, trong đó Trung Quốc viện trợ không hoàn lại, đã lên đến 900 triệu Yuan, đây là số lượng bằng thu nhập nội địa của ngân sách Việt Nam trong ba năm 1955, 1956, 1957 cộng lại... Trong công nghiệp, Trung Quốc đã giúp chúng ta trong lãnh vực khai thác hầm mỏ, sản xuất điện khí, cải thiện sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất phân bón và hóa chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp dầu khí, công nghiệp sắc thép... Mặc dù trong mười năm xây dựng, Trung Quốc đạt được nhiều thành quả vật chất, vẫn còn là một nước nghèo. Dù sao, Trung Quốc đã hết lòng viện trợ chúng ta. Do đó, chúng ta càng biết ơn sự trợ giúp đó”.

Hồ Chí Minh & Mao Trạch Đông
Mối tình Việt Trung đã vượt qua khỏi giới hạn quan hệ hai nước bình thường, như Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, viết trong bài Hồ Chí Minh với Trung Quốc: “Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ đã đi tới nhiều nơi trên thế giới, nhưng có lẽ Trung Quốc là một trong mấy nước Bác lui tới nhiều lần nhất, sinh sống ở đó trong thời gian dài nhất, có cống hiến rất lớn cho phong trào cách mạng cũng như để lại ở đó nhiều tình cảm nhất”. Nói chung, từ đời sống đến tình cảm, mặt nào cũng “nhất”.

Đảng CSVN đã sống bằng cơm gạo Trung Quốc suốt ba năm ngân sách các năm 1955, 1956, 1957 trong khi cũng ngay thời gian đó quê hương Tứ Xuyên của Đặng Tiểu Bình chết trên 10 triệu người, chết không kịp chôn, chết đầy đường phố.

Từ thời gian thành lập năm 1930 đến cuối thập niên 1960, dây chùm gởi CSVN sống bám vào thân cây CSTQ từ vật chất đến tư tưởng. Câu nói quen thuộc trong bang giao quốc tế “quốc gia không có bạn hay thù mãi mãi mà chỉ có quyền lợi” không áp dụng được với Việt Nam và Trung Quốc. Quan hệ Việt Trung không giống như quan hệ ngoại giao giữa bất cứ hai nước nào trong lịch sử cận đại. Những hy sinh của đảng CSTQ cho đảng CSVN quá lớn để quên và quá cao để đáp đền đầy đủ. Không có sự trợ giúp của đảng CSTQ, không biết số phận đảng CSVN giờ này trôi giạt về đâu.

Phân tích để thấy, Đặng Tiểu Bình nguyền rủa đảng CSVN “côn đồ” không phải là quá nặng lời.

“Mối tình hữu nghị Việt – Hoa/ Vừa là đồng chí vừa là anh em”

Đảng CSTQ quan tâm và lo lắng cho đảng CSVN chỉ vì, ngoài lý do an ninh phên dậu phía nam Trung Quốc, họ còn luôn nghĩ đảng CSVN là một phần của đảng CSTQ.

Không chỉ phía Trung Quốc mà Việt Nam một thời rất lâu cũng thừa nhận điều đó. Tinh thần nô lệ Trung Quốc ăn sâu vào nhận thức của nhiều thế hệ lãnh đạo CSVN như Dương Danh Dy kể lại “Bác luôn coi sự nghiệp và lợi ích của cách mạng Trung Quốc như của chính mình.” Công hàm Phạm Văn Đồng bây giờ là chuyện lớn nhưng trong thời buổi thở nhờ bình dưỡng khí của Trung Quốc như báo Nhân Dân viết, công hàm chỉ là chuyện nhỏ. Nhiều người kết án 11 ủy viên trong Bộ Chính trị CSVN thuộc đại hội 2 năm 1951 ngu xuẩn khi viết công hàm 1958 nhưng đó là ngu xuẩn theo nhận thức ngày nay. Trong mắt lãnh đạo Đảng thời kỳ 1958, công hàm Phạm Văn Đồng lại là một hành động hết sức sáng suốt, thông minh, biểu hiện tính giai cấp, phù hợp nhu cầu phát triển đất nước và xu hướng cách mạng vô sản toàn thế giới. Mấy tổ yến trên hoang đảo xa xôi cách Đà Nẵng 170 hải lý làm sao sánh được với 900 triệu Yuan, làm sao so được sự hy sinh vô bờ bến của đảng CSTQ dành cho đảng CSVN, làm sao so được với cả một lịch sử gần gũi như anh với em, vợ với chồng, nước với sữa, môi với răng giữa hai đảng. Toàn bộ nội dung công hàm còn được đăng trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 như một cách nhấn mạnh đến tầm nhìn xa thấy rộng của Đảng.

Tình càng nặng, nhớ càng sâu mà khi thù cũng sẽ rất lâu. Cuộc tình giữa hai đảng CS Trung Quốc và Việt Nam diễn theo một chu kỳ có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Từ những ngày còn trẻ hẹn hò bên bờ sông Mác, bên suối Lê Nin, đã thề nguyền sống chết có nhau, hơn một lần sớt chia nhau từng hạt gạo, viết tặng nhau những dòng thơ vô cùng thắm thiết rồi khi chia tay trong mùa đông lạnh rét họ trở thành thù địch chẳng những chém giết không một chút xót thương mà còn mượn tay hàng xóm để tàn sát gia đình, chặt đầu con cái và thả trôi sông người thân của kẻ từng thề vinh nhục có nhau.

Ngày 17 tháng Hai năm 1979, Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh giới hạn xâm lăng lãnh thổ Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học”. Với số quân vượt trội nhiều lần và có yếu tố bất ngờ nhưng Trung Quốc đã chịu đựng tổn thất nặng nề ngay trong những ngày đầu của cuộc chiến. Sau tuần lễ đầu chịu đựng nhiều thiệt hại nhưng danh sách các vùng chiếm được chỉ là những làng xã dọc biên giới, Đặng Tiểu Bình bằng mọi giá phải chiếm cho được thành phố Lạng Sơn, thủ phủ tỉnh Lạng Sơn để lấy tiếng trước khi rút lui. Chiều ngày 4 tháng Ba, sau nhiều trận giao tranh đẫm máu quân Trung Quốc tiến vào Lạng Sơn. Khi rút khỏi những nơi này, quân Trung Quốc san bằng tất cả nhà cửa để trả thù cho số thương vong quá lớn. Ký giả Nayan Chanda thăm vùng giao tranh vài ngày sau cuộc chiến đã ghi nhận không chỉ các công sở nhà nước mà cả trường học, bịnh viện đều bị quân Trung Quốc giựt sập. Theo nhận xét của Đại Tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ, Trung Quốc thiệt hại chỉ trong vài ngày bằng hơn một nửa số tổn thất của Mỹ trong 10 năm tham dự chiến tranh Việt Nam. Thật vậy, với vũ khí lạc hậu và đạo quân đông đảo nhưng không có kinh nghiệm chiến trường, Đặng Tiểu Bình đã “học” nhiều hơn “dạy”.

Tái áp dụng chính sách cô lập Việt Nam

Mới đây CSTQ lần nữa mượn tay hàng xóm Campuchia để bao vây và cô lập Việt Nam như họ đã từng làm sau năm 1975. Cùng một mục tiêu nhưng khác về phương tiện. Vào năm 1978, phương tiện là vũ khí nhưng lần này tài chánh sẽ là phương tiện chính. Năm 1978, các quốc gia hội viên ASEAN ủng hộ quan điểm Đặng Tiểu Bình vì họ không muốn thấy một “Cu Ba phương đông” trong vùng Đông Nam Á. Năm 2012, ngoại trừ Philippines, các quốc gia như Thái, Miến, Brunei, Nam Dương, Mã Lai, Singapore đã nghiêng về phía Trung Quốc qua thái độ không muốn can thiệp vào xung đột biển Đông.

Lý do rất dễ hiểu. Nhìn vào cán cân ngoại thương cũng như vốn đầu tư của Trung Quốc vào các nước ASEAN sẽ biết ngay họ làm như thế phát xuất từ lý do kinh tế và nỗi lo sợ Trung Quốc trừng phạt. Kể từ khi Thỏa hiệp Mậu dịch Công bằng Trung Quốc-ASEAN (The China-ASEAN Fair Trade Agreement) được ký kết năm 2010, các công ty Trung Quốc đổ tiền như nước vào ASEAN và hiện nay là thành viên thương mại lớn nhất trong vùng. Tổng giá trị mậu dịch giữa Trung Quốc và các nước ASEAN được dự tính sẽ tăng gấp đôi từ 231 tỉ đô la năm 2010 lên đến 500 tỉ đô la vào năm 2015 bao gồm hầu hết các ngành công nghiệp, nhẹ như tơ sợi đến nặng như sắt thép. Làm ăn với ASEAN, Trung Quốc rất yên tâm vì biết ASEAN không phải là một liên minh quân sự và trong nội bộ ASEAN chẳng nước nào tin tưởng nước nào.

Tham vọng khống chế ASEAN không phải là mới mà đã bắt đầu từ chuyến viếng thăm của Đặng Tiểu Bình đến các nước ASEAN từ năm 1978. Việc họ Đặng chọn Thái Lan như chặng đầu tiên chỉ vì vừa muốn ve vãn đồng minh thân cận Mỹ ở Đông Nam Á và cũng muốn dùng đất Thái để tiếp tục yểm trợ vũ khí cho Pol Pot. Tại mỗi chặng trên chuyến viếng thăm, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh Việt Nam, một “Cu Ba phương đông” như một đe dọa cho hòa bình và ổn định trong vùng Đông Nam Á. Trong số các lãnh tụ ASEAN thời đó chỉ có Lý Quang Diệu là người hiểu được tâm địa của họ Đặng. Đặng Tiểu Bình ngạc nhiên khi nghe Lý Quang Diệu phát biểu rằng các quốc gia Đông Nam Á lo ngại Trung Quốc nhiều hơn là lo ngại Việt Nam. Dù bất đồng một số điểm Đặng và Lý rất thán phục nhau về khả năng lãnh đạo, tính thực tế và biết nhìn xa về tương lai đất nước họ và thế giới.

Điều kiện kinh tế chính trị năm 2012 khác với điều kiện kinh tế chính trị năm 1979 nhưng đều bất lợi cho CSVN và cũng do bàn tay lông lá của Trung Quốc vận dụng từ bên trong. Chủ trương của Trung Quốc là không chế Việt Nam, giữ Việt Nam trong vòng khốn đốn, lạc hậu, nghèo nàn, ăn không ngon và ngủ không yên như thời Trung Quốc xúi dục Khmer Đỏ quậy phá vùng biên giới Tây-Nam Việt Nam. Lãnh đạo CSTQ vừa phải hành xử như một trong những cường quốc kinh tế nhưng cùng lúc không che giấu tham vọng thống trị biển Đông bằng mọi phương tiện. Và nếu phải chọn một đối tượng để dằn mặt các nước nhỏ trong vùng, không có đối tượng nào khác hơn là Việt Nam.

Sau một thời gian tương đối yên tĩnh, biết đâu trong những ngày tới, tiếng súng lại nổ vang ở Phú Quốc, Tây Ninh, An Giang và nạn “cáp duồn” lại xảy ra cho bà con đang làm ăn trên đất Campuchia. Khác với tình trạng năm 1977-1978, lần này CSVN nhiều lắm chỉ có thể phản ứng tự vệ dọc biên giới Việt Miên nhưng không thể, về cả điều kiện chính trị thế giới lẫn khả năng quân sự, đánh sập Campuchia trong một hai tuần như trước đây.

Trong cuộc chiến Việt Miên năm 1979, phía Việt Nam chiếm nhiều ưu thế về cả phương tiện chiến tranh lẫn kinh nghiệm chiến trường. Hai ưu thế đó không còn nữa. Suốt 37 năm, giới lãnh đạo đảng CSVN chỉ lo củng cố vai trò cai trị, tham nhũng, tập trung lực lượng an ninh vào việc trấn áp những người yêu nước mà bỏ qua một thế giới đang không ngừng thay đổi, đi lên và những lãnh đạo Campuchia gốc Kmer Đỏ đang mỗi ngày được hiện đại hóa về mọi mặt.

Pol Pot và Đặng Tiểu Bình

Pol Pot
Nói đến Khmer Đỏ không thể không nhắc vai trò của Trung Quốc trong xung đột Việt Nam Campuchia. Pol Pot và đảng CS Campuchia là thủ phạm trực tiếp nhưng Đặng Tiểu Bình và đảng CSTQ cũng đã đóng vai trò quan trọng dẫn tới nạn diệt chủng Campuchia. Chính Hun Sen xác nhận điều này trong luận án của y: “Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc ủng hộ cuộc diệt chủng của Polpot đối với nhân dân Campuchia cũng như việc Polpot xâm lược Việt Nam”.

Quan hệ giữa Pol Pot và Trung Quốc bắt nguồn rất sớm và trở nên chặt chẽ về mặt lý luận sau khi Pol Pot bí mật viếng thăm Trung Quốc vào năm 1965. Y ở lại Trung Quốc nhiều tháng và làm việc với Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng bí thư đảng CSTQ. Pol Pot được Mao Trạch Đông chỉ dẫn nhiều điểm về lý luận cách mạng và chiến tranh nhân dân. Mao thậm chí còn tặng người học trò ngoan Pol Pot này ba chục cuốn sách của Marx, Engels, Lenin và Stalin. Dòng máu hung bạo, ác độc trong người của Pol Pot được nhuộm đỏ bằng chủ nghĩa Mao và chủ nghĩa dân tộc cực đoan Campuchia. Quan điểm cách mạng liên tục của Mao ảnh hưởng Pol Pot rất nhiều trong việc hoạch định các chiến lược tấn công chế độ Lon Nol thân Mỹ.

Pol Pot trở lại Trung Quốc và tham khảo với Đặng Tiểu Bình từ 28 tháng Chín đến 22 tháng 10, 1977. Đây là lần đầu tiên báo chí quốc tế chính thức biết Saloth Sar và Pol Pot chỉ là một người. Họ Đặng rất vui khi được Pol Pot chia sẻ quan điểm triệt để chống CSVN của y. Trung Quốc viện trợ cho Campuchia hàng trăm xe tăng, đại pháo và nhiều máy bay chiến đấu để chuẩn bị cho các trận đánh lớn có thể xảy ra. Trong giai đoạn này, Trung Quốc là đồng minh duy nhất của Khmer Đỏ. Pol Pot chủ trương chỉ cần một người Campuchia diệt được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phát làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.

Các trận đột kích liên tục của quân đội Pol Pot gây thiệt hại nặng cho dân Việt sống vùng biên giới đã dẫn đến cuộc phản tấn công của CSVN vào nội địa Campuchia trong những ngày cuối năm 1979, đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng và ngày 8 tháng Giêng 1979 thiết lập chế độ thân CSVN Heng Samrin với Hun Sen là Bộ trưởng Ngoại Giao. Về mặt chiến lược, việc CSVN đánh sập chế độ Pol Pot là đúng nhưng vì không có một đồng minh nào ngoại trừ khối Liên Xô xa xôi, bị Trung Quốc, Mỹ, ASEAN liên kết nhau cô lập nên CSVN đã rơi vào vũng lầy Campuchia suốt mười năm.

Hun Sen là ai?

Hun Sen
Hun Sen chẳng phải là người xa lạ. Y nguyên là Trung đoàn phó của một đơn vị Khmer Đỏ đào thoát theo Việt Nam và đóng vai Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Heng Samrin. Lý lịch của y cũng giống như các lãnh đạo CS thay đổi tùy theo thời thế. Một số nghiên cứu cho rằng y tham gia Khmer Đỏ khá sớm, khoảng 1967, nhưng Hun Sen phủ nhận và tự khai y chỉ gia nhập vào năm 1970 đáp lời kêu gọi của Hoàng thân Norodom Sihanouk. Giống như nhiều lãnh đạo Campuchia có quá khứ Khmer Đỏ khác, Hun Sen cố tình che giấu lý lịch của mình càng nhiều càng tốt.

Luật sư Brad Adams, Giám đốc Khu vực Á châu của Human Rights Watch, nhận xét Hun Sen là một kẻ có bản chất độc tài thô bạo không khác gì các nhà độc tài trong cùng “câu lạc bộ 10 ngàn”, ám chỉ một nhóm gồm những nhà độc tài thông qua bạo động, kiểm soát an ninh, dựa vào sự yểm trợ từ nước ngoài để kéo dài quyền lực cai trị trên 10 ngàn ngày. Sau sự sụp đổ của hàng loạt các nhà độc tài tại Tunisia, Egypt, Libya và Yemen, Hun Sen là một trong số rất ít hội viên của “câu lạc bộ 10 ngàn” còn nắm được quyền hành.

Tên danh dự đầy đủ của Hun Sen là Samdech Akeak Moha Sena Padei Techo Hun Sen còn dài hơn cả tên danh dự của nhà độc tài khát máu nhất Congo là Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga. Mới đây khi được hỏi liệu y có lo ngại sẽ bị lật đổ như các nhà độc tài Tunisia, Egypt, Libya, máu Khmer Đỏ trong người sục sôi lên và Hun Sen trả lời: “Tôi chẳng những làm suy yếu đối phương mà còn tận diệt chúng... Nếu kẻ nào nghĩ mình đủ mạnh để biểu tình, tôi sẽ đánh gục bọn chó đó và nhốt chúng vào trong cũi”.

Hun Sen không chỉ đe dọa thôi nhưng trong quá khứ y đã trấn áp đối lập một cách thô bạo nhiều lần. Trong năm 1991, khi các đại diện Liên Hiệp Quốc vào Campuchia tổ chức tuyển cử, Hun Sen đã ra lịnh cho an ninh dưới quyền tàn sát trên 100 đảng viên của một đảng đối lập ngay trước mắt của phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Một lần khác, vào năm 1997, Hun Sen ra lịnh cho cận vệ tấn công bằng lựu đạn vào một buổi họp của lãnh tụ đối lập Sam Rainsy làm 16 người chết và hơn 150 người bị thương. Cũng trong năm 1997, lo ngại bị thất cử, Hun Sen tổ chức đảo chánh chống lại đảng Hoàng gia mà y đã liên minh. Hàng trăm người bị bắt và bị giết. Các nhân viên Liên Hiệp Quốc khi đào xác lên đã khám phá phần lớn đã bị bắn vào đầu trong lúc đang bị còng tay và bị bịt mắt. Những hình ảnh đó gợi lại cảnh tượng kinh hoàng của thời Pot Pot.

Hun Sen 1997 theo dấu chân Pol Pot 1977

Nhiều người cho rằng Hun Sen mới ngã về phía Trung Quốc mới đây. Điều đó không đúng. Khuynh hướng thân Trung Quốc của Hun Sen bắt đầu sau cuộc đảo chánh đẫm máu năm 1997. Cuộc đảo chánh đã làm y mất uy tín trong các lãnh đạo các quốc gia dân chủ Tây phương. Nhiều quốc gia đã ngưng viện trợ cho chính phủ Hun Sen hay tiếp tục viện trợ nhưng đưa ra các điều kiện phải tôn trọng nhân quyền.

Giống như Pol Pot trước đây, Hun Sen không còn đường nào khác ngoài việc đi tìm sự ủng hộ từ phía Trung Quốc. Dĩ nhiên giới lãnh đạo CSTQ nắm bắt cơ hội ngàn vàng này. Từ năm 1997 đến năm 2005, Trung Quốc cung cấp chính quyền Hun Sen 600 triệu đô la qua đầu tư, viện trợ không hoàn lại, hủy bỏ nợ đến thời hạn trả. Từ năm 2000, hàng loạt lãnh đạo cao cấp CSTQ lần lượt viếng thăm Campuchia. Tổng bí thư Giang Trạch Dân thăm Campuchia năm 2000, Chủ tịch Lý Bằng thăm Campuchia năm 2001, Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Campuchia năm 2002.

Đáp lại, trong cùng thời gian, Hun Sen đã thăm viếng Trung Quốc tất cả 6 lần. Hun Sen từng tuyên bố “Trung Quốc nói ít làm nhiều” vi viện trợ của Trung Quốc không đặt ra các điều kiện nhân quyền trong khi nhân quyền lại là tiền đề thảo luận với các nước dân chủ. Trong bang giao quốc tế, chế độ Hun Sen nhiệt tình ủng hộ các chính sách của CSTQ qua việc ngăn cấm các viên chức trong chính quyền y thăm viếng Đài Loan, ủng hộ chính sách “Một Trung Quốc”, y còn họa theo Trung Quốc khi lên tiếng kết án Mỹ trong vụ máy bay Mỹ ném bom lầm xuống tòa đại sứ Trung Quốc tại Belgrade năm 1999.

Trong lãnh vực quân sự, Trung Quốc lần nữa đóng vai trò yểm trợ tích cực như đã từng làm đối với chế độ Pol Pot. Từ sau cuộc đảo chánh của Hun Sen năm 1997, Trung Quốc đã gởi các trang bị quân sự cho cánh Hun Sen, xây dựng các doanh trại quân đội, sửa chữa phi trường Kampong Chhnang, hàng năm đưa 40 sĩ quan trong quân đội Campuchia sang Trung Quốc huấn luyện. Năm 2011, Trung Quốc cho Campuchia vay 195 triệu đô la để mua một số lượng máy bay trực thăng không được tiết lộ của Trung Quốc. Mới đây, 18 tháng Tám 2012, Trung Quốc viện trợ quân sự cho Campuchia thêm 19 triệu đô la và sẽ giúp xây dựng các bệnh viện quân đội, trung tâm huấn luyện cho đạo quân 140 ngàn của Hun Sen.

Trong hai tháng qua, nhiều người Việt phê bình Hun Sen và lãnh đạo hai nước láng giềng hữu nghị thân thiết Campuchia và Lào, có lịch sử gắn bó từ thời đảng CS Đông Dương, đã bí mật bắt tay Trung Quốc. Thật ra, không có chỗ cho các yếu tố đạo đức, ơn nghĩa trong bàn cờ chính trị. Hơn ai hết Hun Sen biết chính bản thân y trước đây khi được đặt vào chức Bộ trưởng Ngoại giao ở tuổi 27 cũng chỉ là con cờ chính trị của CSVN mà thôi. Thời thế đã đổi thay và con người thay đổi theo thời thế là chuyện bình thường.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Campuchia nên giữ vai trò độc lập trong xung đột Việt Trung để nhận được sự ủng hộ từ cả hai bên nhưng đó chỉ là lý thuyết, lịch sử và thực tế kinh tế chính trị cho thấy, Campuchia phải chọn CSTQ và chia tay với CSVN. Đi với Việt Nam, Hun Sen không được gì trong khi đi với Trung Quốc Hun Sen có lợi cho cả cá nhân lẫn đất nước của y. Việt Nam không thể cạnh tranh nổi với Campuchia và Bangladesh về sản phẩm tiêu dùng loại rẻ tiền nói chi là chuyện tranh đua với Trung Quốc để viện trợ cho Campuchia.

Đối với nội bộ Campuchia, càng đóng vai trò độc lập với Việt Nam bao nhiêu, Hun Sen, người vẫn còn bị phe đối lập tại Campuchia tố cáo là bù nhìn Việt Nam, sẽ càng được sự ủng hộ của nhân dân Campuchia bấy nhiêu. Thế hệ Campuchia được CSVN cứu sống năm 1979 đã già và nhiều trong số họ đã chết. Thế hệ trẻ lớn lên chỉ biết đến Việt Nam là kẻ thù truyền thống của dân tộc Khmer.

Trong diễn văn kỷ lục dài trên 5 giờ trước quốc hội vào đầu tháng 8, 2012, Hun Sen cứng rắn cam kết “Thật ra, tuy nhiên, biên giới đường biển giữa Campuchia và Việt Nam vẫn chưa xác định và không một giọt nước nào của nguồn hải lưu đã bị mất về tay Việt Nam”. Các lãnh tụ đối lập trong quốc hội Campuchia từ nhiều năm nay liên tục tố cáo Việt Nam cướp đoạt đất đai trong đó có cả đảo Phú Quốc và vùng hạ lưu sông Cửu Long nơi có dân Khmer Krom đang sống. Khẩu hiệu chống Việt Nam cướp đất đầy tính khích động nhưng lại rất thu hút cử tri trong các mùa bầu cử. Sự cứng rắn đối với Việt Nam của Hun Sen đáp ứng “nguyện vọng” nhân dân nhằm binh vực tính chính danh của chế độ và tiếp tục là hội viên của “câu lạc bộ 10 ngàn” lâu hơn nữa.

Hun Sen tham nhũng

Vi trùng tham nhũng sinh sản rất nhanh trong các chế độ độc tài, nơi quyền lực tập trung trong tay một nhóm nhỏ người nắm quyền cai trị. Tham nhũng là một trong những căn bịnh đang đè nặng lên xã hội Campuchia và gia đình bị tố cáo tham nhũng nhiều nhất là Hun Sen. Mặc dù chỉ làm việc cho chính phủ trong suốt hơn 30 năm, gia đình y có một đời sống sung túc hơn bất cứ người dân Campuchia nào.

Cũng theo lời của luật sư Brad Adams thuộc tổ chức Human Rights Watch, mười năm trước, một viên chức Bộ ngoại giao Mỹ đã tiết lộ cho ông biết tài sản của Hun Sen được ước lượng vào khoảng 500 triệu đô la. Không ai biết chính xác giá trị bất động sản và dự trữ đô la, vàng bạc của Hun Sen và gia đình tại các ngân hàng ngoại quốc hiện nay là bao nhiêu. Phản ứng trước những lời tố cáo tham nhũng, Hun Sen cho báo chí biết y và gia đình chỉ sống bằng đồng lương Thủ tướng 1,150 đô la mỗi tháng. Tuy nhiên không một nhà phân tích nào tin vào con số không thể nào đúng với thực tế này.

Không có CSVN, Hun Sen không chỉ mù một mắt mà đã mồ hoang mã lạnh từ lâu rồi, nhưng với bản chất bạo động, háo danh, tham vọng quyền lực sẳn có người của cựu Khmer Đỏ, Hun Sen rất dễ dàng bị Trung Quốc khích động và mua chuộc. Lãnh đạo CSTQ thừa tiền bạc và cũng thừa kinh nghiệm làm ăn với các lãnh đạo độc tài. Cả một đám lãnh đạo châu Phi xa xôi và đắt tiền mà Trung Quốc còn mua chuộc được dễ dàng sá gì một Hun Sen hay một Choummaly Sayasone rẻ mạt ở sát bên nhà.

Chu kỳ thù hận Việt-Trung-Miên

Và tất cả những oan nghiệt đó, dùng chữ của Hun Sen trong luận án tiến sĩ chính trị của y, chỉ vì cùng “từ một bào thai” CS. Lịch sử hiện đại của ba nước bị trói chặt bởi sợi xích oan nghiệt CS. Thật vậy, ý thức hệ CS là nguyên nhân sâu xa cho tất cả đau thương thảm khốc mà người dân vô tội trong ba quốc gia Việt, Trung, Campuchia đã chịu đựng. Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, Cải cách ruộng đất ở Việt Nam, Năm số không (Year Zero) ở Campuchia đều là sản phẩm của hệ tư tưởng Mác Lê Mao.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn trên phần lớn trái đất nhưng tại ba nước Việt, Trung, Campuchia bóng ma Cộng Sản vẫn còn ám ảnh thường xuyên trên số phận con người. Ngày nào đảng CS còn cai trị hay có ảnh hưởng lớn, ba nước Việt, Trung, Miên lại sẽ đi vòng theo một chu kỳ thù địch, bắt đầu từ chỗ nợ máu xương và chấm dứt ở chỗ thanh toán nhau bằng xương máu.

Trung Quốc có tranh chấp biên giới với gần 20 quốc gia, lớn như Ấn Độ và nhỏ như Bhutan, nhưng chỉ có Việt Nam là hệ lụy nặng nề. Campuchia cũng tranh chấp biên giới với Thái Lan và thậm chí mới pháo kích vào đất nhau nhưng chỉ xung đột với Việt Nam là người ta hình dung ngay đến một viễn ảnh vô cùng thảm khốc.

Tại sao?

Chỉ vì cả ba nhánh sông này đều phát xuất từ một nguồn CS. Những người như Hồ Chí Minh, Trần Phú, Norodom Sihanouk, Heng Samrin, Pol Pot, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm đã xác lạnh từ lâu nhưng tên tuổi họ vẫn được nhắc đi nhắc lại trong lịch sử ba nước như những oan hồn còn nặng nợ trần gian.

Thật vô cùng phi lý khi những đứa bé Campuchia sinh ra ở Nam Vang, đứa bé Việt Nam sinh ra ở Hà Nội hôm nay lại phải gánh chịu oan khiên từ thời đảng CS Đông Dương. Và cũng thật buồn cười khi quan hệ giữa hai quốc gia không đặt căn bản trên luật pháp quốc tế mà bị chi phối bởi bốn câu thơ “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện đầy sáo ngữ, mỉa mai và phản thực tế.

Việt Nam chưa bao giờ bị cô lập hơn hôm nay. Trong giai đoạn xung đột biên giới Việt Miên 1977-1979, ít ra còn có phe Liên Xô ủng hộ, ngày nay một mình trên hoang đảo, chung quanh chẳng còn ai và ảnh hưởng mỗi ngày thêm hẹp. Giới lãnh đạo đảng CSVN chẳng những biết rõ mà còn là đồng tác giả của thảm trạng Việt-Trung-Miên. Trước năm 1975, CSVN đã góp phần nuôi dưỡng tên đồ tể Pol Pot này. Năm 1965, Pol Pot đã từng đi bộ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ra Hà Nội để tham khảo Lê Duẩn về chiến lược chiếm Campuchia. Tháng Bảy năm 1975, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là hai trong số những quốc khách đầu tiên chính thức viếng thăm nước Campuchia Dân Chủ.

Suốt hơn 30 năm, nhân dân Việt Nam phải chịu đựng từ thảm họa này sang thảm họa khác như một chu kỳ lập đi rồi lập lại nhưng giới lãnh đạo Đảng không có một sách lược cụ thể, dứt khoát nào để đưa Việt Nam ra khỏi vòng bế tắc. Lý do đơn giản chỉ vì việc duy trì quyền lực và quyền lợi của giới lãnh đạo đảng được xem là một ưu tiên hàng đầu, trên cả chủ quyền đất nước và tương lai dân tộc.

Một người có ý thức nào cũng biết, cách duy nhất để thoát ra khỏi chu kỳ máu xương thù hận Việt–Trung-Miên là Việt Nam trước hết phải thoát ra khỏi bóng tối của chủ nghĩa Cộng Sản độc tài bước ra phía ánh sáng của thời đại tự do dân chủ.

Chỉ khi nào Việt Nam đứng dưới bầu trời tự do dân chủ giới lãnh đạo CSTQ mới không có quyền nghĩ những đại diện của quốc gia Việt Nam không Cộng Sản kia là “đám côn đồ”.

Chỉ khi nào Việt Nam đứng dưới bầu trời tự do dân chủ, Hun Sen cùng đảng Dân chủ Nhân dân của ông ta mới không còn nghi ngờ những đại diện của quốc gia Việt Nam không CS thật ra chỉ là những tên cướp nước giả nhân giả nghĩa.

Tất cả sẽ đều bình đẳng trước Hiến chương Liên Hiệp Quốc và các công ước quốc tế mà ba bên đã ký kết. Ân oán nợ nần giữa các đảng CS không có liên hệ gì đến dân tộc Việt Nam. Những khẩu hiệu có tính tuyên truyền như “16 chữ vàng”, “tình hữu nghị” sẽ bị gạch bỏ theo chế độ Cộng Sản đã sáng tác ra chúng.

Trong cuộc đàm phán đa phương hay ngay cả song phương với Trung Quốc và Campuchia, các đại diện của một nước Việt Nam dân chủ có thể thắng, có thể huề và cũng có thể thua, nhưng dù thắng, huề hay thua đều dựa trên cơ sở luật quốc tế và luôn hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước Việt Nam dân chủ, độc lập, chủ quyền, và sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới.

Con đường giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một con đường dài, gian nan, đầy gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Nhưng nếu không đi sẽ không bao giờ đến. Cho dù lâu dài và gian nan cũng phải bắt đầu và điểm bắt đầu mà một người Việt Nam yêu nước nào cũng có thể làm được, đó là tích cực đóng góp vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Trần Trung Đạo

Tham khảo:

· Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia, the United Nations.
· Frank Dikotter, Mao’s Great Famine, Walker & Company 2010
· Ian Storey, China’s Tightening Relationship with Cambodia, The Jamestown Foundation.
· Behind the Bamboo Curtain: China, Vietnam, and the World beyond Asia, edited by Priscilla Roberts, tr. 260, 393-394, Stanford University Press 2007.
· Ezra F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, Harvard University/Belknap Press 2010, tr. 283.
· Philip Short, Pol Pot: Anatomy of a Nightmare, Macmillan, 2006, tr. 389
· Francis Deron, Several Improper Connections in Matters of Massacre: China, Cambodia, Indonesia, Monde Chinois, 2008.
· Xiaobing Li, China at War: An Encyclopedia, ABC-CLIO LLC, 2012
· Reuter, China admits 320,000 troops fought in Vietnam, May 16 1989
· Daniel Southerland, Uncounted Millions: Mass Death in Mao’s China, Washington Post, July 17, 1994
· Brad Adams, 10,000 Days of Hun Sen, The New York Times, May 31, 2012
· Russell D. Howard, The Chinese People's Liberation Army: "Short Arms and Slow Legs", USAF Institute for National Security Studies 1999
· Cambodian Genocide Program, Yale University
· Vũ Cao Đàm, Bài học đáng giá từ Luận án Tiến sĩ của Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Bauxite Việt Nam, 14-8-2012
· Wikipedia “Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam”
· Wikipedia “Đặng Tiểu Bình”
· Wikipedia “Pol Pot”

Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành



Nằm ở trung tâm thành phố , chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước.Theo dòng thời gian, kiến trúc của chợ Bến Thành có nhiều thay đổi.
Tuy thế, dáng vẻ và phần đầu của mặt tiền chợ vẫn giữ được như xưa. Trong lòng nhiều thế hệ, chợ như là một biểu tượng của Sài Gòn Thành phố HCM cho dù điều đó chưa được chính thức công nhận.
Nằm ở trung tâm thành phố chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước. Theo Quen thuộc là vậy, có thể nhiều người quan sát thấy những bức phù điêu trang trí chợ Bến Thành với hình con bò, con cá đuối, nải chuối...
Nhưng có lẽ, ít người biết tác giả của những bức phù điêu đó là ai?



Tìm lại người xưa 

Trong quá trình tìm về lịch sử trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cũng như dòng gốm
Biên Hòa xưa. Tôi cũng may mắn tìm gặp lại được hai nghệ nhân gốm Biên Hòa, những người đã trực tiếp gắn những bức phù điêu ở chợ Bến Thành năm xưa.

Mùa hè năm 2007, qua lời giới thiệu của một chị làm trong ngành gốm, tôi được gặp ông Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng), một nghệ nhân gốm Biên Hòa xưa, hiện sống tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa. Qua vài lời nói chuyện làm quen.
Tôi liền hỏi ông ngay: 
“Cháu nghe nói trường mình, trường Mỹ nghệ Biên Hòa, ngày xưa có làm phù điêu trang trí cho chợ Bến Thành?”.
Ông Tư Dạng trả lời ngay: 
“Đúng, làm năm 1952, mẫu là sáng tác của ông Mậu; tôi và một người bạn là hai người trực tiếp lên Sài Gòn gắn những bức phù điêu đó”. 

Nguyễn Trí Dạng (trái) và Võ Ngọc Hảo, hai nghệ nhân đã trực tiếp gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành

Được gợi về những năm tháng xa xưa, ông hào hứng kể lại vô số chuyện cũ.

Chuyện về những người thầy, những thợ bạn và những sản phẩm gốm Biên Hòa xưa.

Đó là những chuyện không xưa lắm, nhưng lớp trẻ ngày nay khó hình dung về một ngôi trường nổi tiếng một thời với dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm mỹ nghệ, nên từ rất nhỏ ông đã có dịp tiếp xúc với những người nghệ nhân của trường Bá nghệ, càng quan sát ông càng đam mê những đất, men. Năm 14 tuổi, ông vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa, sau 4 năm học tập, ông tốt nghiệp năm 1950, và cũng là khóa học trò cuối cùng của trường dưới sự điều hành của ông bà Balick.

Sau khi ra trường, ông làm việc liên tục tại Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi được tuyển vào trường Kỹ thuật Biên Hòa, năm 1966, để làm thầy dạy ban gốm của trường. Cả đời ông gắn liền với nghề gốm, hiện nay ở tuổi 76, ông vẫn làm những sản phẩm gốm cho những đơn hàng nhỏ, lẻ.

Gặp được người nghệ nhân thứ nhất, tôi tiếp tục đi tìm người nghệ nhân thứ hai đã tham gia gắn những bức phù điêu đó. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, cùng với sự   hướng dẫn chỉ đường của ông Tư Dạng, tôi cũng tìm được người nghệ nhân này, gặp được ông tại Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào một ngày trung tuần tháng 10. Ông là Võ Ngọc Hảo, sinh năm 1932 tại Tân Thành, Biên Hòa.

Vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa năm 1945, sau bốn năm học tập, ông tốt nghiệp ban gốm của trường vào ngày 11.07.1949.

Sau khi tốt nghiệp, ông ra làm thợ cho Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa đến năm 1961, sau đó ông làm cho công ty cấp nước thành phố đến khi nghỉ hưu.

Hiện nay, ông sống tại Bình Lục, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Tại Cù Lao Phố, vào một ngày tháng 10.2007, hai người nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa năm nào, sau nhiều năm xa cách, ngày nào lên gắn những phù điêu tóc hãy còn xanh nay mái đầu đã bạc.

Gặp lại, hai ông ôn lại những kỷ niệm năm xưa về mái trường Mỹ nghệ, nay chỉ còn trong ký ức. Và nhớ lại những ngày đi gắn những bức phù điêu, đó là những kỷ niệm không thể nào quên.

Người viết bài này được phép ngồi cạnh hai vị nghệ nhân, dịp này xin thuật lại đôi điều về những ký ức đó! 
Ký ức còn lại 

Phù điêu hình bò và heo (cửa Đông)



Tôi đọc được một trang nhật ký của một nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa ghi:“Ngày 1.9 (âm lịch) mưa cả ngày. Qua ngày 2.9 nước lên lẹ cấp kỳ. Nước xuống lần cho tới ngày 17.9. Đâu về đó”. Đó là những dòng chữ ghi lại nhật ký trận lũ lịch sử Nhâm Thìn (1952) tại Biên Hòa. 

Phù điêu hình bò và vịt (cửa Đông)
 
Sau trận lũ lụt Nhâm Thìn, ba ông Phạm Văn Ngà (Ba Ngà), Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng) và Võ Ngọc Hảo được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cử lên Sài Gòn để gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành. Những bức phù điêu này được nhà thầu chợ Bến Thành đặt trường Mỹ nghệ Biên Hòa làm. Thầy Lê Văn Mậu được giao sáng tác theo đơn đặt hàng, được sự giúp của những người thầy và những nghệ nhân lành nghề bên Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa như: Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng, chủ Thạch, anh Tóc... Thầy Lê Văn Mậu sáng tác trực tiếp lên đất, sau đó chỉnh sửa với sự góp ý của những người nghệ nhân. Rồi những bức phù điêu đó, nhằm để tránh những sự vênh méo ở những sản phẩm có độ nung cao như gốm Biên Hòa, chúng được cắt ra theo từng miếng nhỏ riêng, để đem mang đi chấm men, đi nung. Lò đốt bằng củi thỉnh thoảng gây “hỏa biến” ở những đồ gốm, đặc biệt có ở những bức phù điêu chợ Bến Thành những màu men trắng ta, trắng ngà ngà vàng mỡ gà rất đẹp,rất hiếm gặp. Do những miếng nhỏ của những bức phù điêu được đặt ở nhiệt độ không đều nhau, tuy trong cùng một lò nung, nên khi ra lò nó có miếng màu nhạt, màu đậm là vậy. 

Phù điêu hình cá đuối và nải chuối (cửa Tây)

Trước khi đóng thùng mang lên Sài Gòn bằng những chiếc xe công nhông. Những mẫu gốm của phù điêu chợ Bến Thành được mang từ trường trong (ngày nay là địa điểm trường CĐ Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) ra sắp ngoài trường ngoài (ngày nay là địa điểm trụ sở UBND tỉnh Đồng Nai), bởi lò nung gốm được đặt ở trường trong. Những mẫu gốm của phù điêu được đem sắp ngay chỗ cột cờ, chỗ văn phòng thầy Mã Phiếu (trưởng phòng hành chánh trường Mỹ nghệ Biên Hòa) bước ra, sắp ra ở đó. Thầy Lê Văn Mậu, chắp tay sau lưng, đi qua đi lại coi xem tấm nào nó bị vênh mới cho đục sau lưng cho nó mỏng để cho nó bằng. Xong xuôi đâu đó mới xếp vào thùng chuyển lên Sài Gòn. Rồi xuống dưới đó, chợ Bến Thành, nhà thầu khi họ xây dựng họ chừa lại những mảng tường cho mình để gắn những phù điêu. Và họ cũng làm sẵn cho mình những giàn giáo, những cô công nhân trộn cho những hồ vữa sẵn để mình chỉ tập trung gắn những phù điêu. Ông Phạm Văn Ngà, người thợ cả chỉ đạo gắn những bức phù điêu cho hai người thợ trẻ, ông Tư Dạng và Hảo, làm những công việc cần làm để gắn những bức phù điêu lên. Từng tấm, từng tấm, gắn từ những tấm ở dưới trước rồi dùng những cây chỏi để giữ cho nó gắn chặt với hồ vữa, đến khi hoàn thành một bức phù điêu, kiểm tra lại xem chổ nào còn hở thì trét hồ cho kín. Nhìn thấy công việc cũng không khó khăn lắm, cộng với nhiều công việc đang đợi mình ở Biên Hòa, nên ông Ba Ngà về trước, để lại những tấm phù điêu đó cho hai người thợ trẻ tiếp tục công việc. 

Phù điêu hình bò và cá (cửa Nam)



Những thuận lợi ban đầu, khi ở Sài Gòn họ tạo điều kiện cho mình, nhưng bên cạnh đó gặp cũng không ít khó khăn. Ở cái cửa chính kế ga xe lửa, chổ này về khuya cá biển về họ mần rầm rầm hơi nó bốc lên mà nó hôi tanh, muốn ói vậy, trong khi đó mình phải ngủ trên... những chiếc đồng hồ nơi cửa chính này. Ban ngày thì nắng chang chang, sáng có sương mù tối đến mưa phùn, những giấc ngủ lạnh buốt là thế nhưng những người nghệ nhân Biên Hòa này luôn cố gắng để hoàn thành công việc được giao. Theo trí nhớ của hai nghệ nhân gốm, thì thời gian hoàn thành 12 bức phù điêu cho bốn cửa của chợ Bến Thành khoảng hai tháng trở lại chứ không có hơn, cũng mau lắm! 

Phù điêu hình vịt (cửa Bắc)

Khi những bức phù điêu đã tương đối hoàn tất thì người thợ cả Ba Ngà xuống xem, chỉnh sửa lại đôi chổ còn thiếu sót. Hai người thợ trẻ hoàn thành công việc được giao, họ phấn khởi, đó là những kỷ niệm một thời nay khó phai mờ trong ký ức! 
Lê Văn Mậu - tác giả những bức phù điêu. 

Lê Văn Mậu (1917 - 2003) là một nhà giáo nhân hậu và một điêu khắc gia tài hoa. Sinh năm 1917 tại Vĩnh Long. Năm 1930, lên Sài Gòn ở nhà người cậu là bác sĩ Quế để học trung học. Sau khi đậu Diplôme vào năm 1934, Lê Văn Mậu lên Biên Hòa xin học điêu khắc trong dịp hè với ông Balick, hiệu trưởng trường Mỹ nghệ. Ông bà Balick là thân chủ bác sĩ Quế nên rất quí thầy và sắp xếp cho thầy ở Cù Lao Phố. Khi ông Balick hứa sẽ xin cho thầy học bổng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì thầy quyết định bỏ học ban tú tài mà theo học trường Mỹ nghệ. Trong thời gian học ở đây, những mẫu sáng tác của thầy được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa chọn để đưa vào sản xuất. Sau những năm tháng học tập, thầy đậu hạng nhất kì thi tốt nghiệp khóa ngày 2.7.1937. 

Đoàn Trường Kỹ thuật Biên Hòa tham dự khóa hội thảo về giáo dục năm 1965 tại Sài Gòn (Lê văn Mậu đầu tiên, bên trái)

Được ông Balick giới thiệu, cuối năm 1937, thầy đã vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không phải qua thi tuyển. Năm 1940, báo Pháp La volonté indochinoise nhận xét phê bình: 
“Tác phẩm Đám rước của ông Mậu, do cách bố cục và sự tìm tòi trong cách thể hiện, đã báo hiệu một nghệ sĩ tài năng”. Sau nhiều trăn trở tính suy, mùa hè năm 1942, thầy quyết định thôi học một năm trước khi thi tốt nghiệp, ông hiệu trưởng E. Jonchère cho thầy một chứng chỉ với nhận xét rất tốt. 

Theo thư mời của ông Balick, Lê Văn Mậu trở thành giáo viên dạy môn điêu khắc và môn vẽ cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa kể từ năm 1944, là người thế chân cho thầy Nhứt (Đặng Văn Quới) nghỉ hưu. Từ đó thầy gắn bó với trường Mỹ nghệ, với Biên Hòa tròn nửa thế kỷ. Cuộc đời nhà giáo của thầy phẳng lặng êm đềm. Năm 1963, thầy được cử làm hiệu trưởng trường Mỹ nghệ Biên Hòa, nhưng với tên mới là trường Kỹ thuật Biên Hòa. 

Năm 1973, trường Kỹ thuật Biên Hòa có sự xáo trộn, thầy xin thôi chức hiệu trưởng và thầy thuyên chuyển về trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm giảng viên môn điêu khắc. Sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại trường cũ, nhưng có tên mới là ĐH Mỹ   thuật Tp.HCM, cho đến khi nghỉ hưu. 

Ông Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng nhận xét: “Ông là người thầy đã đóng góp nhiều công sức để đào tạo cho đội ngũ điêu khắc ở miền Nam trước và sau giải phóng”. 

Trong sự nghiệp sáng tác của mình thầy Lê Văn Mậu đã sáng tác hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ. Hiện nay được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Chỉ xin kể một số tác   phẩm tiêu biểu của thầy: Đức mẹ Maria (1951, Nhà thờ Biên Hòa), Napoléon xem binh thư (1954, Pháp), Phật Thích Ca(1954, Chùa Xá Lợi), Bóng xế tà (1964, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), Đại thần Phan Thanh Giản (1964, Vĩnh Long), Tượng trưng tài nguyên và kinh tế Biên Hòa (1967), Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1968, đặt trước chợ Rạch Giá), Đài phun nước Cá hóa long (1968 - 1970, Công trường Sông Phố, Biên Hòa), Hùng Vương dựng nước (1989, Khách sạn Continental, Thành phố Hồ Chí Minh)… Thầy ba lần làm tượng VIP đáng nhớ: tượng Cựu hoàng Bảo Đại (1948), tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm (1959) và tượng Bà Sáu Thiệu (1970-1973).  Và thầy đã sáng tác rất nhiều mẫu mã phục vụ cho những sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa.

Bài và ảnh sưu tầm của : Vỏ văn Thu / Bà Chiễu    (Cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang tri

Việt Nam ACB : Tuồng Nhơ Bẩn Trên Sân Khấu Ô Nhục


Rút tiền hàng loạt, lòng tin xuống dốc sau vụ Nguyễn Đức Kiên
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu - ACB (Reuters)
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu - ACB (Reuters)

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã bị sút giảm đến hôm nay 23/08/2012 là ba ngày liên tiếp, người gởi tiền đã rút ra hàng trăm triệu đô la để mua vàng cất giữ. Hãng thông tấn Pháp AFP dẫn nguồn tin từ báo chí trong nước cho biết như trên, sau vụ bắt giữ ngoạn mục ông trùm tài chính Nguyễn Đức Kiên.

Chỉ số thị trường chứng khoán Thành phố Saigon đã bị sụt giảm gần 10% kể từ thứ Ba 21/08, và giá vàng tăng khoảng 5%, sau khi ông Nguyễn Đức Kiên, 48 tuổi, bị bắt vì tội « kinh doanh trái phép » hôm 20/08/2012.
Ông Nguyễn Đức Kiên thuộc nhóm sáng lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), một trong những ngân hàng quan trọng nhất của Việt Nam, trong đó ngân hàng Anh Standard Chartered có nắm cổ phần. Ông được xem là một trong số 100 người giàu nhất Việt Nam.
Sự giàu có của ông Nguyễn Đức Kiên và các quan hệ được đồn đoán giữa ông với thượng tầng quyền lực của chế độ, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã khiến vụ ông Kiên bị bắt giữ trở thành cơn địa chấn tại Việt Nam. Vụ này trên thực tế được coi là phần nổi của các vụ đấu đá giữa những nhân vật cấp cao nhất của Đảng Cộng sản cầm quyền.
Cổ phiếu ngân hàng ACB đã bị giảm gần 20%, và nhiều khách hàng lo sợ đã xếp hàng để rút tiền gởi tiết kiệm tại đây, khiến Ngân hàng Nhà nước hôm nay phải gởi đến các chi nhánh của ACB nhiều xe tải chở tiền mặt. Một nhà báo của AFP đã quan sát thấy như trên. Trong khi đó, Phó tổng giám đốc ACB Đỗ Minh Toàn cho báo Tuổi Trẻ biết, nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, nên ngân hàng bảo đảm chi trả cho tất cả những khách hàng muốn rút tiền.
Ngân hàng Nhà nước cũng thông báo đã bơm vào hệ thống ngân hàng 600 triệu đô la hôm thứ Tư 22/08, gấp đôi số tiền đã hỗ trợ hôm trước đó. Báo chí trong nước cho biết riêng trong ngày thứ Ba, khách hàng đã rút 240 triệu đô la từ ACB.
Trước những tin đồn về việc ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc ngân hàng ACB cũng đã bị bắt, sáng nay ACB đã phủ nhận tin này và cho biết ông Hải chỉ « tạm ngưng » làm việc để hợp tác với cơ quan điều tra, và tạm thời ông Đỗ Minh Toàn thay mặt để điều hành mọi hoạt động.
Trước mắt Ngân hàng Nhà nước khẳng định việc bắt giữ ông Nguyễn Đức Kiên không liên quan đến ngân hàng ACB mà ông chỉ nắm chưa đến 5% cổ phần, nhưng do các hoạt động của ba công ty riêng của ông Kiên.
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam của trường đại học New South Wales ở Úc nhận định : « Rõ ràng là lãnh vực tư nhân đang bị nhắm đến, nhưng chúng ta còn phải chờ đợi thêm thông tin ».


Trả lời RFI Việt ngữ vào tối nay theo giờ Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng giám đốc ACB cho biết thông tin mới nhất là ông Lý Xuân Hải đã chính thức từ nhiệm vì lý do riêng, và ông Đỗ Minh Toàn đã lên thay ông Hải làm Tổng giám đốc.


Thụy My

----------------
Tuồng nhơ bẩn trên sân khấu ô nhục

Cuộc đấu giữa các phe phái trong đảng cộng sản Việt Nam đe dọa cả tình hình kinh tế, sau vụ bắt giam ông Nguyễn Ðức Kiên, phó chủ tịch hội đồng sáng lập ACB - lớn nhất trong nhóm các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh.
Các mạng đã truyền tin ngay trong đêm Bầu Kiên bị bắt giữ, sáng hôm sau, 21 Tháng Tám, báo chí mới bắt đầu đưa tin, nhưng giới có tiền không chờ đọc tin của nhà nước.
Theo bản tin từ trang DVSC.com của công ty Ðại Việt, thị trường chứng khoán trong nước đã “lao dốc, chứng khoán rớt thê thảm, các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu ngân hàng.” Theo tính toán của các chuyên gia thì hai thị trường chứng khoán Hà Nội và Sài Gòn đã mất tổng cộng 35,600 tỷ đồng, tương đương gần 1.8 tỷ đô la Mỹ.
Các nhà tư bản đỏ mất tiền không đáng kể. Mối nguy là dân chúng không còn tin ở hệ thống ngân hàng. Giá vàng đã tăng vọt. Theo tin trên mạng, dân chúng kéo nhau đến rút tiền từ ngân hàng ACB, buổi chiều một số chi nhánh ngân hàng ACB đã hết sạch tiền. Các chi nhánh lớn hơn thì đông nghẹt người chờ rút tiền. Ngân hàng ACB đã yêu cầu các chi nhánh tạm ngưng việc trao tiền cho người đã được chấp thuận vay. Ban giám đốc ACB yêu cầu các trưởng, phó đơn vị không được rời khỏi nhiệm sở. Tổng giám đốc ngân hàng ACB là ông Lý Xuân Hải cũng đã bị công an bắt giữ.
Bộ Công An ở Hà Nội đã đưa ra thông cáo trấn an dư luận, nhưng không biết kết quả sẽ tới đâu trước tâm lý bất an của những người có tiền tiết kiệm đang lo bị mất vì các “ông lớn” trong đảng cộng sản đang “làm thịt” lẫn nhau. Mấy ngày nữa chúng ta mới biết tâm lý hoảng hốt của người dân có được trấn an hay không. Trước đây đã có phong trào chuyển tiền ra nước ngoài. Chắc chắn phong trào này đang được đẩy tới mạnh hơn.
Thống Ðốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Văn Bình trấn an với lời hứa Ngân Hàng Nhà Nước sẵn sàng hỗ trợ ngân hàng ACB trong trường hợp xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt. Nhưng dư luận cũng biết ông Bình chính là người được Bầu Kiên dùng tiền để mua cho địa vị thống đốc, đồng thời cũng là người lo làm tiền cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu dân tiếp tục rút tiền thì chỉ trong mấy ngày sẽ gây khủng hoảng. Người gửi tiền ở ngân hàng khác cũng lo đi rút tiền về. Làm sao cấm được? Trong khi đó không ai biết việc cứu hay không cứu ngân hàng ACB sẽ do ai quyết định? Người nắm ghế thủ tướng hay người nắm Bộ Chính Trị? Làm sao dân tin được là những người này sẽ đồng ý được với nhau trong một thời gian ngắn?
Vì cuộc đấu giữa hai phe đã đến mức độ thù hằn, không thể nào thỏa hiệp được. Mạng Quan Làm Báo là tiếng nói của phe chống Nguyễn Tấn Dũng tiết lộ Bầu Kiên có quan hệ làm ăn với Nguyễn Thanh Phượng, con gái Dũng. Mạng này được coi là thuộc phe Trương Tấn Sang, chủ tịch nước, đã liên tiếp tấn công Nguyễn Tấn Dũng với đủ thứ tội từ lâu nay. Phe Trương Tấn Sang có blog Quanlambao, phe Nguyễn Tấn Dũng làm blog Tư Sang như để trả đòn.
Trên mạng Tư Sang, phe Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra lá thư tố cáo: “...Trương Tấn Sang làm bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (1997-1999) chỉ mới 2 năm nhưng sai phạm nhiều việc, bị tố cáo cụ thể nên Trung Ương phải rút ra Hà Nội để kiểm điểm, mà lớn nhất là liên quan đến vụ Năm Cam đầy tội ác và vụ bao che cho người Hoa (khi anh Sang làm chủ tịch thành phố) để nhận tiền vàng... Vợ chồng chị Hồng, giám đốc công ty xuất nhập khẩu Quận 3, tố cáo hành vi thiếu đạo đức của Trương Tấn Sang, một bí thư Thành Ủy ép một giám đốc nữ phải ngủ với mình, đi Singapore để cung phụng và làm gái bao qua đêm cho mình, người ta không chịu thì ra lệnh công an bắt bỏ tù...” Nhưng lời tố cáo nặng nề nhất là Trương Tấn Sang đã chịu làm tay sai cho Trung Cộng.
Sau khi Bầu Kiên đã bị bắt, trên blog Quanlambao mới tiết lộ những cuộc điện đàm của Bầu Kiên và đàn em, trong đó có Nguyễn Văn Bình, thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước, “Cái lão Trọng này đáng chết! Vậy mày gọi điện cấm các báo không được bình luận, chỉ đăng nó bị bắt vì kinh doanh trái phép ở mấy công ty, không được nói gì về ngân hàng cả...” Trọng là Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư, đang đứng chung phe với Tư Sang. Hai người đã bí mật lập chuyên án đặc biệt giao cho Bô Trưởng Trần Ðại Quang trực tiếp chỉ huy, chỉ báo cáo cho tổng bí thư và chủ tịch nước!
Mạng này còn “sáng tác” ra lời Nguyễn Văn Bình đề nghị với Bầu Kiên chạy chữa để ngăn chặn việc điều tra ngay, vì nếu phanh phui hết ra có thể làm hệ thống các ngân hàng thương mại lâm nguy: “Anh ơi bây giờ phải lấy cớ: Ổn định hệ thống ngân hàng, không làm dân hoảng loạn, lấy cớ ngân hàng nhạy cảm để không cho bọn cảnh sát điều tra và bọn TC2 mở rộng sang các ngân hàng Phương Nam, Eximbank, Techcombank, Bắc Á, Việt Bank, Kiên Long, SHB, Bản Việt... nếu không thì sờ đến đâu chết đến đó anh ơi...” Ðiều này chứng tỏ phe Trọng và Sang cũng biết ảnh hưởng nguy hiểm cho thị trường tài chánh và kinh tế, nhưng vẫn hạ thủ Dũng.
Trên blog Quanlambao mới viết: “Mấy lời với thầy trò Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Văn Hưởng (Hưởng là tướng công an, phe Dũng): Hãy mau mau lập công chuộc tội thì còn được khoan hồng, bằng không anh y tá sẽ thí mạng các người là điều chắc chắn!”
Anh y tá đây là Nguyễn Tấn Dũng.
Cuộc đấu giữa hai phe trong đảng cộng sản được dân chúng Việt Nam coi như một tấn tuồng, vì dù phe nào thắng, phe nào bại thì cũng vẫn là vở tuồng cũ. Kịch bản chính sẽ không thay đổi, họ vẫn bảo vệ một chế độ độc quyền chuyên chế cho một nhóm trên cùng chia nhau lợi lộc. Nhưng đây là một dấu hiệu cho thấy các phe phái trong đảng cộng sản không còn thỏa thuận được với nhau cách chia chác quyền lợi âm thầm bên trong nội bộ nữa.
Trước đây, những vụ tranh chấp trong đảng cộng sản đều diễn ra trong hậu trường, Võ Nguyên Giáp giành với Lê Duẩn; Lê Ðức Thọ với Trường Chinh; Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười với Võ Văn Kiệt, vân vân, có thể đưa tới những vụ thủ tiêu, ám sát, nhưng ngoài các đảng viên cao cấp ra, không ai được biết có tranh chấp nội bộ. Trận đấu giữa hai phe hiện nay không còn giữ kín được nữa. Vì quyền lợi quá lớn, phe nào đang được ăn nhiều thì sẽ quyết tâm giữ mâm cỗ đến cùng, không thể bỏ được. Trước đại hội đảng vừa qua, phe Tư Sang đã tấn công phe Ba Dũng bằng việc phanh phui ổ tham nhũng Vinashin. Hơn nữa, các mạng lưới thông tin mới khiến mỗi phe lại tìm cách vận động dư luận bên ngoài bằng cách phơi bày các tội lỗi của đối thủ. Nhờ vậy, người dân bình thường mới được biết chi tiết về các tội lỗi đó.
Nhưng cuối cùng, những tội lỗi đó do đâu mà ra? Không phải những cá nhân như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Bầu Kiên đã soạn ra vở tuồng tranh giành lợi lộc này. Trong hệ thống xã hội đó, bất cứ lúc nào cũng có những người trong đảng cộng sản tìm cơ hội giành nhau các quyền lợi lớn lao không lo bị ai kiểm soát, nhờ địa vị độc tôn của đảng cộng sản. Chính hệ thống độc quyền chính trị đã sinh ra tình cảnh này. Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, hay Trương Tấn Sang cũng tuồng trong cùng một kịch bản.
Ðây là lúc những người dân bình thường phải quyết định: Dân Việt Nam sẽ tiếp tục chỉ đóng vài khán giả coi những vở tuồng nhơ bẩn như đang diễn ra trước mắt; hay phải đứng dậy, xóa bỏ cái sân khấu ô nhục này?

 Ngô Nhân Dụng

Bài Xem Nhiều