We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 27 August 2012

Sân khấu Cộng Việt : Thời "Tứ Chiến": Dũng, Sang, Trọng và "Lạ"

Việt Nam thời "Tứ chiến": Dũng, Sang, Trọng và "Lạ"
                          

- Việc bắt giam Nguyễn Đức Kiên nói gì thì nói là một đòn đánh vào tay chân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông Dũng có đăng đàn giở thủ thuật chính trị "biểu dương Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an, đã nghiêm túc chấp hành sự chỉ đạo của Chính phủ; đã khởi tố, điều tra để đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng, gây mất ổn định hoạt động ngân hàng" thì thiên hạ ai cũng biết tỏng chính đàn em của ông đang bị "chúng nó" bỏ tù.
Nhưng mà thật sự thì "chúng nó" là ai?
Ngược dòng... lịch sử với những câu phát biểu về "bầy sâu tổ bố" thì bàn dân đều "đỗ thừa" người ra tay là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Đằng sau ông Chủ tịch, thiên hạ kháo nhau về một trang blog ngày đêm đăng tải những thông tin tấn công Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đám đàn em.
Nhưng còn Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng?
Nguyễn Phú Trọng là người giáo điều cộng sản. Phát biểu "mới nhất" với nội dung cũ mèm tại Cuba tái khẳng định điều đó. Nguyễn Phú Trọng chính là người trong vai trò quyền lực cao nhất của thể chế chính trị Việt Nam, sang Bắc Kinh ký Tuyên Bố Chung vào ngày 15 tháng 10 năm 2011, khẳng định quan hệ thần phục toàn diện với Trung Quốc.
Động thái sau đó cho đến nay của Nguyễn Phú Trọng gồm 3 bước:
1. Tổ chức Đại hội Chỉnh đốn đảng, làm nền tảng cho cuộc thanh trừng nội bộ tiếp theo sau.
2. Đưa ra quyết định trong Hội nghị Trung Ương - chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo TƯ về phòng, chống tham nhũng trực thuộc BCT do Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Thực chất là đá Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi ghế "tham nhũng thanh tra tham nhũng".
3. Tiến hành "Phê và Tự Phê" trong Bộ Chính trị, Ban bí thư mà thực chất là 12 ngày vừa thương lượng, vừa đấu đá, vừa tìm cách thanh trừng nhau trong phòng kín trước khi "cực chẳng đã" / "hết thuốc chữa" đành mở cửa phòng đập nhau trước mặt nhân dân.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thực hiện những điều này trong bối cảnh tranh chấp quyền lực của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - nổi cộm nhất là những vụ việc tấn công vào tay chân của 2 phía: Đặng Thị Hoàng Yến, Đinh La Thăng, Dương Chí Dũng, Phạm Chí Dũng...
Ghép lại những dữ kiện này cho thấy đúng là Trương Tấn Sang có liên quan đến "cú đập bầu Kiên" nhưng không chỉ một mình ông Chủ tịch nước vung BÚA.
Nhúng tay vào kế hoạch, tay cầm lưỡi LIỀM bên cạnh BÚA tạ của Chủ tịch nước là Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng.
Và như vậy có thật "như là thật 100%" là đằng sau ông Chủ tịch nước có một trang blog ngày đêm đăng tải những thông tin tấn công Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; hay đằng sau lại là ông Tổng Bí thư; hoặc "ai đó" xếp hàng đứng sau lưng ông trùm của đảng?
Quan trọng hơn, liệu trong cuộc chiến Dũng-Sang-Trọng này, lãnh đạo cộng sản Trung Quốc với mối quan hệ "gắn bó, sâu sắc, môi hở răng lạnh" với đảng cộng sản "anh em" Việt Nam lại "nỡ lòng nào" đứng khoanh tay đứng nhìn, bỏ mặc... đồng chí chúng bây? Đứa nào thâu tóm quyền lực cũng được!? Có ngây thơ và... khinh thường các đồng chí Lạ của đảng ta mới nghĩ rằng vụ việc đấu đá nội bộ đảng CSVN hoàn toàn không có bàn tay của CSTQ dính / xen / nhúng / thò vào.
Do đó, 3 câu hỏi đặt ra là:
1. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang là kẻ "chủ mưu" và kéo thêm đồng minh là TBT Nguyễn Phú Trọng để tấn công Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? hay:
2. TBT Nguyễn Phú Trọng bây giờ mới là tay chủ động với vai trò "ngư ông đắc lợi" trong cuộc chiến bất phân thắng bại cò Sang ngao Dũng? và:
3. Trong bộ ba Dũng-Sang-Trọng này ai (1, hay 2, hay cả... 3) là kẻ giấu trong người ấn chỉ Thái thú của Bắc Kinh (chắc chắn phải có ít nhất là một, bởi vì phải có "đứa" trong 3 tay quyền lực cao nhất này chủ mưu cho những vụ "Khắc ghi tấm lòng nhường cơm sẻ áo" dành cho Trung Quốc, hay Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, hoặc ra lệnh bao vây, trấn áp, bắt giam công dân biểu tình chống TQ xâm lược).
Tại sao cần có câu trả lời cho 3 câu hỏi này?
Bởi vì nếu kẻ thực sự chủ mưu, chủ chốt vụ đấu đá này là tay sai cho Trung Quốc thì đây là đại họa cho đất nước Việt Nam.
Ngay trước mắt chúng ta thấy:
- Vụ việc khai mào đấu đá nội bộ này (chưa biết kéo dài bao lâu và đi đến đâu) đã có chỉ dấu đẩy những quan tâm về hiểm họa xâm lăng toàn diện (lãnh thổ, lãnh hải, chính trị, kinh tế, văn hóa...) đã, đang, và sẽ tiếp tục của Trung Quốc xuống vào thứ yếu.
- Việc bắt giam chỉ một cá nhân Nguyễn Đức Kiên mà đã có tác động tiêu cực lớn lên nền kinh tế Việt Nam. Trong vài ngày sau "bầu" Kiên thành "tù" Kiên, thị trường chứng khoán VN "bốc hơi" hơn 5,6 tỷ đô la theo AFP, và sẽ còn tiếp tục "xì khói" tiếp. Nó sẽ có tác động tiêu cực lây lan từ thị trường chứng khoán sang các địa bàn kinh tế khác. Và chắc chắn, sau cùng, nó sẽ tác động dây chuyền từ giới thượng tầng thiểu số giàu có đến tầng lớp đa số dân nghèo sẽ gánh chịu hậu quả.
- Nền kinh tế đang bất ổn chuyển sang nguy kịch sẽ ảnh hưởng lên đời sống sát sườn của đại số người dân. Chuyện "tạm thời" hay "vĩnh viễn" mất một hòn đảo, một vùng biển xa xôi trở thành mối quan tâm thứ yếu của đại số quần chúng vốn đã và đang tắt hơi vì những vấn nạn dân sinh (chưa nói đến những "phiền toái" khi không để "đảng và chính phủ lo" chuyện ngoại giao biển đảo bằng mồm). Và đó cũng là điều Trung Quốc mong muốn.
- Khi nền kinh tế quá bất ổn thì sẽ là lúc nhu cầu ổn định chính trị lại được đảng nâng cao thành "nhu cầu sống còn của tổ quốc" để "đảng và chính phủ lo" đời sống của nhân dân. Với thực tế khó khăn sát sườn, cộng thêm sức mạnh của hệ thống tuyên truyền của đảng, những "động thái chính trị tự phát" nhằm bảo vệ chủ quyền, tự do dân chủ, nhân quyền và dân quyền của thành phần lý tưởng trong xã hội sẽ dễ trở nên "lạc quẻ", "bơ vơ" đối với quần chúng và càng dễ cho đảng chụp lên đầu mũ phản động. Phải chăng đó cũng là điều mà lãnh đạo TQ "thích" nhìn thấy trên quê hương của chúng ta?
Đó là đối với người dân trong lãnh vực "cơm no áo ấm". Còn đối với tập đoàn đầu mình lẫn tứ chi đang cai trị:
- Khi tập đoàn tư bản đỏ / nhóm lợi ích bị tấn công, có hai xác suất xảy ra: (1) Họ sẽ đoàn kết đứng dưới lá cờ Nguyễn Tấn Dũng để bảo vệ "tiền đồ" lẫn "cơ đồ"; hay (2) sẵn sàng quy đầu về "chúa" mới, nhất là nếu chúa mới được sự bảo kê của anh nhà giàu phương Bắc, đang ngồi rung đùi chờ để "chuyển ngân" cho một tập đoàn đang bị "rớt tiền" và "khát tiền", sẵn sàng làm tay sai để phục hồi phong độ và tiếp tục làm giàu.
- Trong nội bộ đảng, sẽ xuất hiện một kẻ "chiến thắng" sau khi cứu nguy được nền kinh tế tan hoang mà chính "hắn" là thủ phạm. Hắn đã chứng tỏ được "bản lãnh chính trị" trong "thương thuyết" để có được những hỗ trợ nhiệt tình từ các đồng chí TQ; đã khẳng định được "tư thế lãnh đạo" trong sự nghiệp tái lập lại sự "đoàn kết của đảng" bằng những dàn xếp, áp lực ngầm có sự cố vấn, đe dọa, lẫn bôi trơn của các đồng chí "lạ". Quyền lực từ trong đảng, đến tập đoàn kinh tế tập trung về một mối - trong tay kẻ làm tay sai cho Bắc triều.
- Hoặc sẽ xuất hiện một kẻ "chiến thắng" đứng về phía nhân dân, đặt quyền lợi tổ quốc lên trên hết và cùng với toàn dân gỡ bỏ những vấn nạn tiêu cực, độc tài trên đất nước, như đã xảy ra tại một số nước CS cũ.
                                                           *
Trong trận "tứ chiến" này chưa thấy bóng dáng toàn dân cầm gươm, cầm giáo quyết định vận mạng của tổ quốc. Đại đa số dân ta vẫn ngày 3 bữa kiếm ăn, lo lắng về giá xăng, giá gạo, giá xì dầu và tương lai sắp sửa thêm mịt mù vì gánh thêm cơn bão "rớt" lọt qua đầu các đại gia.
Còn lại đa phần làm khán giả:
1. Nội bộ chúng đánh đấm nhau, chúng sẽ yếu (!?). Tốt!
2. "Thằng ba Dũng", con gái, con trai và đám tài phiệt đỏ tay chân của nó, bị đánh là đáng đời. Chúng là bầy sâu tham nhũng.
3. Thông tin vạch trần những thủ đoạn, âm mưu dơ bẩn của quan chức, tập đoàn... có là tốt, mười phần trúng được nửa là tốt; không cần biết đến tính trung thực, hệ luỵ đối với tương lai đất nước, và thực sự phục vụ cho quyền lợi nhân dân hay cho những ý đồ chính trị nội bộ đen tối; hoặc phục vụ cho một âm mưu từ ngoại bang nhằm phá nát, phá tan tành guồng máy chính trị / kinh tế vốn đã và đang suy sụp, để càng dễ bề khống chế.
4. "Đảng ta" đang tắm gội và trừ bỏ những con sâu. Tốt! Không cần biết kẻ giội nước tắm gội người khác thì sạch dơ như thế nào. Cũng chẳng quan tâm nước dùng để tắm gội là "nước ta" hay "nước lạ".
Nếu không phải cúi mặt ngày 3 bữa cơm áo gạo tiền, nếu chỉ muốn ngóng mắt làm khán giả thì "khán giả" nên chọn ai để mà vỗ tay cổ vũ?
- Nguyễn Phú Trọng, viên Tổng Bí thư giáo điều và chính thức đặt viết ký lên những lời tùng phục Trung Quốc?
- Nguyễn Tấn Dũng, viên Thủ tướng mà những tai tiếng về tham nhũng, mức độ giàu có của đám con cái nhiều tiền nhiều quyền, cùng những màn PR lố bịch, cũng như những hứa hẹn "lèo" từ thời mới nhậm chức cho đến vụ "giải quyết rốt ráo" Tiên Lãng?
Còn lại là Trương Tấn Sang, viên Chủ tịch nước mà mới đây nhất bài viết “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân” lại làm tốn thêm giấy mực blogger:
Bỏ qua những chuyện "chủ tịch tập làm văn", "bài ca trữ tình của chủ tịch", bỏ qua quan điểm của những người không cộng sản phê bình một ông "trùm" cộng sản với những cái nhìn một chiều của người cộng sản về ngày độc lập, về thành quả của đảng mà ông Sang là thành viên..., thay vào đó đặt mình vào vị trí của ông Ủy viên TUD, Ủy viên BCT đảng CSVN để tìm những gì ông muốn gián tiếp hay trực tiếp gửi gắm qua bài văn nhàm chán, lòng thòng đầy nỗi niềm và tình tự của ông:
- Ông mở đầu và dùng ngày "quốc khánh" để nói về Ngày Độc Lập.
- Ông dùng những "tích cực xen lẫn tiêu cực" để nói về việc "Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”...
Phải chăng ông muốn gửi thông điệp ngầm: Có! Có đứa “cõng rắn cắn gà nhà”. Nhưng không! Trương Tấn Sang này không phải là tên tay sai của Bắc triều, là tên rước voi về giày mả tổ?
Nếu không phải là ông Sang thì là Nguyễn Tấn Dũng!?
Hay chính hắn: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng!?
                                                     *
Tất cả những gì viết ra chỉ với mục đích tìm hiểu ai là kẻ thù, là tay sai nguy hiểm nhất trong cơn bão giông của dân tộc này. Không còn có thể phủ nhận được rằng đất nước ngày hôm nay đang đối diện cùng lúc hai hiểm họa: bên trong là một tập đoàn độc tài cai trị hèn với giặc ác với dân; bên ngoài là một thế lực bành trướng đang từng bước rất xảo quyệt xâm chiếm nước ta.
Sẽ không thể chống lại bành trướng phương Bắc nếu còn mong đợi đứng dưới lá cờ lãnh đạo của đảng độc tài hay đảng này còn tiếp tục độc quyền cai trị. Và ách độc tài khó mà được tự cởi bỏ bởi những kẻ cai trị khi mà người bị trị vẫn cúi đầu cam chịu, hay chỉ hài lòng ở vị trí làm khán giả xem "chúng đấu đá nhau".
Kết quả của màn đấu đá nội bộ đảng chỉ có thể mang lại những tích cực cho đất nước nếu người dân tham gia, góp phần, tìm mọi cách khai dụng để trong bóng đen u tối tìm được một ánh sáng cho dân tộc. Ngược lại, tất cả chỉ là trò chơi quyền lực của những kẻ cai trị. Nguy hiểm hơn lại đang có bàn tay quỷ quyệt của ngoại bang nhúng vào.
Tương lai của đất nước chỉ có thể tươi sáng khi mỗi công dân Việt Nam biết rõ rằng để có được thì mỗi người phải trả một cái giá nào đó. Cái giá hời nhất, rẻ mạt nhất mà người ta có thể trả là ngồi đó và hy vọng rằng đảng độc tài sẽ tự thay đổi, đảng sẽ lấy lại niềm tin của nhân dân. Nhưng "tiền nào của nấy", kết quả mua được bằng giá hời sẽ là những đêm dài nối tiếp... nơi đây tôi chờ, nơi kia anh chờ, trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ... (TCS).
Và chờ cho thằng này xuống đứa kia lên để cánh màn nhung lại được kéo ra, diễn viên mới, tuồng cũ, chỉ khác: sân khấu made in China.
Vũ Đông Hà
danlambaovn.blogspot.com

Mười Ba Năm Khổ Sai: chuyện thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ

Thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy Trước 30.4.1975 và sau 13 năm tù. (Hình Văn Khố: Olivier Glassey Trầnguyen)

 







Những ngày sau 30 tháng Tư, 1975 chắc chắn là những ngày kinh hoàng nhất cho rất nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam. Nhưng đối với một số người, những ngày ấy kéo dài tưởng như vô tận, đến mười mấy năm, mà mỗi ngày là một thế kỷ của nhọc nhằn và mỗi đêm là một trường canh của kinh sợ.

Cái giai đoạn lịch sử ấy – tuy man rợ và đầy tang thương – nhưng vẫn là một di sản được những người trong cuộc ôm ấp và gìn giữ.
 Bởi vì, cái lịch sử ấy chính là một dấu chứng cho niềm tin vào điều thiện và sự vượt qua của những ai còn sống sót sau kinh nghiệm hỏa lò. Đó có lẽ là lý do mà khi đến Mỹ, Cựu thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã mang theo 3 vật rất quan trọng đối với mình. Một đôi găng tay may từ vải vụn, bà đã dùng trong thời gian 13 năm tù cải tạo. Hai chiếc áo tù – một bằng vải thô, và một bằng len, do chính bà đan lại từ hai chiếc áo lạnh cũ đã chật của hai con gái, do mẹ bà gửi vào. Và một cơ thể đã bị phá hủy, thương tật.
Nhưng bà cũng mang theo một gia tài quan trọng hơn cả những vật chứng này – một gia tài không ai có thể tịch thu, đấu tố, hay phá hủy: một ý chí để sống, một nghị lực phục vụ gia đình và xã hội, và một niềm tin mãnh liệt vào Chúa. Chính gia tài này đã là cứu cánh cho bà trong suốt 13 năm tù, và quãng đời sau đó.
Trên hai chiếc áo tù đó, số tù – cũng là 'nhân diện' của bà trong mười ba năm khổ sai – đã bắt đầu phai nhạt theo năm tháng. Nhưng những đau đớn về tinh thần lẫn thể xác vẫn còn hằn sâu. Có lẽ những thế hệ một và một rưỡi còn nhớ và biết cái bi kịch hỏa lò tại Việt Nam, nhưng thế giới và những thế hệ Việt ngoại biên vẫn cần một văn khố chính thức về bi kịch này.  
Điều quan trọng là chúng ta không để cho những sự thật về bi kịch này phai nhạt – như những số tù trên áo những người tù khổ sai năm nào. Chúng ta cần ghi lại những đau thương – không vì hận thù – nhưng vì để đấu tranh cho Công lý, Hòa bình, Tự do, Bác ái. Đến bao giờ, người Việt hải ngoại mới có một tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù của Aleksandr Solzhenitsyn, người đoạt giải Nobel Văn Chương 1970 với những tác phẩm vạch trần cái hỏa lò của Cộng Sản Xô Viết? Những quần đảo ngục tù vẫn còn hoành hành trên cơ thể của nhiều con dân Việt và ngay trên đất Việt qua những hậu quả khốc liệt của nó. Đến bao giờ chúng ta mới có một Solzhenitzyn của Việt Nam? Vì nếu những đau thương này đã đến từ bất công, thì chúng cũng là một mối đe dọa cho con người ở tất cả mọi nơi – như nhà tranh đấu dân quyền Martin Luther King đã nói, "Bất công ở bất cứ nơi nào là bất công ở khắp mọi nơi." Xã hội con người không tách rời nhau bởi biên giới hay ngôn ngữ, mà cộng thông trong lý tưởng công bằng, bác ái, và dân chủ.
Chiếc áo tù ngày nào, tuy nay không còn ấm lạnh trên người Nguyễn Thanh Thủy nữa, nhưng kinh nghiệm mười ba năm tù khổ sai là một chiếc áo đầy gai, vẫn châm chích và làm đau đớn tâm hồn và thể xác bà. Hai mươi bốn năm sau khi ra khỏi trại tù, bà vẫn còn oằn oại trong những bệnh tật do giai đoạn oan nghiệt này tạo ra, và những kinh hoàng của bốn tháng biệt giam vẫn bám riết tâm trí bà. Chúng ta thử cùng bà ngồi trước màn ảnh của quá khứ, chứng kiến lại những điều mà trước nay bà chưa nói được với ai, vì nó quá kinh hoàng và khó khăn để thuật lại.

Nguyễn Thanh Thủy nhớ lại, “Vài hôm sau ngày 30 tháng Tư, 1975, tôi bị gọi đến nơi làm việc của Ủy Ban Quân Quản của chế độ Cách Mạng (tức Văn Phòng Khối Đặc Biệt, đường Cộng Hòa cũ) để hỏi cung từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Cán Bộ Cộng Sản cho biết, lẽ ra giam cầm tôi luôn, nhưng vì các con tôi còn quá nhỏ, nên mỗi ngày tôi đến đây làm việc rồi về. Họ cho tôi xấp giấy, cây viết, và muốn tôi viết lại quá trình hoạt động. Mỗi ngày tôi chỉ viết lý lịch của mình, rồi tôi nộp, nhưng họ không bằng lòng. Tôi có cho họ biết là tôi không nhớ gì cả, và yêu cầu họ cho tôi thời gian để tập trung trí nhớ. Sau đó, họ giúp tôi bằng cách dẫn tôi đi vòng quanh khối Đặc Biệt, vào những phòng làm việc của Khối để nhìn từng nơi xem thấy cái gì còn, cái gì mất. Tôi chú ý đến Văn phòng của Trưởng Cơ Quan E4, nơi còn những bản sơ đồ vẽ hệ thống hoạt động, những bản thuyết trình có ám danh công tác, bí số nhân viên, nhưng không có tên tuổi thật. Tôi nghĩ trong đầu một kế hoạch để đối phó với Cộng Sản khi bị hỏi cung.”
Cô dâu Nguyễn Thanh Thủy và chú rể Lê Thành Long
Nguyễn Thanh Thủy không chỉ là một người tù cải tạo. Bà còn là vợ một người tù cải tạo. Chồng bà, Cựu Đại Tá Võ Bị Lê Thành Long, cũng vào tù sau ngày 30 tháng Tư 1975. Ba người con nhỏ của ông bà được gửi gắm lại cho ông bà Ngoại tại Mỹ Tho. Tuy nhiên, những cố gắng để kéo dài thời gian hỏi cung của bà cũng không giúp bà được ở gần gia đình mãi. Đến 15 tháng Sáu, 1975 thì bà bị tập trung vào tù cải tạo. Theo lời bà, thì “Tôi ở chung trại với tù cải tạo nam, học tập chính trị ở hội trường, học quốc ca của Cộng Sản và những bài hát đấu tranh chống Mỹ Ngụy, làm những bài thu hoạch, phê và tự phê, kiểm điểm, nộp cho họ. Tất cả mọi người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tội nhiều hoặc ít. Đó là cách luận tội của Cộng Sản. Tôi vào trại tù cải tạo Long Thành, với một túi xách đeo vai, một chiếc chiếu nhỏ cho một người nằm. Thiếu đủ mọi thứ. Tôi phải xuống hố rác cạnh dãy nhà chúng tôi ở, để tìm chai, lọ, mấy tấm tôn để đựng nước, đựng cơm, thức ăn… Nước chỉ đủ uống, không đủ tắm. Trời tháng sáu mưa dầm dề. Chờ trời mưa, tôi gội đầu tắm giặt nhờ những dòng nước mưa chảy theo mái nhà.”
Trong suốt thời gian bị giam một mình, bà đã canh cánh sợ bị bọn võ trang muốn làm hỗn nên không bao giờ dám chợp mắt, đã nơm nớp khiếp sợ mỗi đêm khi cai ngục lẻng kẻng xâu chìa khóa đâu đó giữa rợn rùng thăm thẳm tối. “Vì đêm trước có ai bị đưa đi, thì sáng hôm sau coi như mất tích,” bà nói. Hơn nữa, phương tiện vệ sinh căn bản nhất cũng không có. Bà hồi tưởng, “Nói đến nơi tiểu tiện bằng những cầu dã chiến ngoài trời, mưa dầm là nó lầy lội, và những con vòi trắng lềnh bềnh mà nữ thì làm sao dám ngồi để tiểu tiện, nên tôi đành nín, nhịn khát, đợi tối mới ra cái nhà tắm che bằng bốn vách lá, đi xong cho vào hố rác. Nhớ tới cảnh này, tôi luôn rùng mình, sao tôi chịu nổi dơ bẩn như thế.”
Bà nói tiếp, “Đầu tháng 10 năm 1975, tôi bị chuyển về trại giam Thủ Đức (tức 16NV). Chỉ có một người nữ bị chuyển là tôi. Tôi ở một mình trong phòng giam và bắt đầu các cán bộ thẩm vấn, điều tra từ trung ương đến. Tôi bị kêu lên đêm có, ngày có, bị hỏi liên tục, hỏi xong rồi bắt viết, thu bài. Những tháng ngày này, đầu óc tôi quá căng thẳng. Cả đêm không buồn ngủ, tựa lưng vào vách tường, kê túi quần áo và gối nằm để làm điểm tựa viết bài họ điều tra.”

Bà nhớ lại, “Tôi phải cải tạo khổ sai ở đây nhiều năm, không đủ vệ sinh và thiếu thốn. Ăn thì độn khoai mì có vỏ đỏ quấy, gọi bột ngàng phệt, hột bo bo, mì sợi luộc có cả con chuột chết vớt ra bỏ đi, lại tiếp tục chia mì sợi cho người một phần để ăn, không thì đói. Cả ngày cuốc xới mỏi mệt, tối đến vào phòng ngủ gần người lao phổi (xuất huyết phổi tới thời kỳ chót), bệnh giang mai thời kỳ thứ ba, phổ có nước thời kỳ chót. Tôi phải sống chung với họ cho tới khi họ được tha, và không bao lâu thì họ chết. Tôi phải may những nệm ngồi bằng vải vụn riêng để tránh lây nhiễm. Lúc ngủ, các bạn khỏe xếp gần nhau, chừa một chiếu cách người bệnh, xây đầu khác hướng với người bệnh và xây lưng về phía người bệnh để tránh lây nhiễm.”

Vì Nguyễn Thanh Thủy đã giữ một vai trò khá quan trọng khi phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bà đặc biệt bị quản lý nghiêm ngặt và tra khảo liên tục, làm bà chóng mặt, căng thẳng đến ngã bệnh. Cán bộ không bao giờ rời mắt khỏi bà, ngay cả về đêm. Bà kể, “Tôi là người tù bị chỉ định nằm ngay cửa ra vào hoặc ngay cửa sổ phòng tù để họ dễ kiểm soát hành vi về đêm của tôi. Cửa sổ tù không bao giờ có cửa để đóng lại, nên rất lạnh. Đêm đêm đói bụng quá, các bạn tù kể món ăn này, món ăn kia cho đỡ thèm đỡ đói. Nhớ chồng con kể chuyện hạnh phúc ngày nào thì có bà lên tiếng, kêu đừng kể nữa, vì rờ hai bên toàn chiếu không. Tới ngày thăm nuôi được gặp thân nhân gia đình, là lúc lấy dạ dày an ủi trái tim.”

Trong hoàn cảnh lao tù khổ sai, người nữ tù chịu nhiều khó khăn và khổ sở hơn người tù nam, nhất là về phần vệ sinh hằng tháng, và sự an toàn bản thân. Không chỉ những nữ tù cải tạo mới bị dòm ngó và hãm hiếp, mà những phụ nữ bị bắt vì vượt biên cũng bị lính gác bạo hành về tình dục. Sự căng thẳng của người tù nữ, vì vậy, cao gấp nhiều lần so với bạn tù nam. Bà lại kể, “Trại giam có nước máy, nên vệ sinh cá nhân cũng đỡ, nhưng vấn đề phụ nữ hằng tháng, không có băng giấy, tôi phải dùng quần áo cũ xé ra để lót, rồi giặt không xà phòng (vì không được thăm nuôi). Ăn uống, mỗi buổi sáng được một ly nước nóng, trưa một phần khoai độn, buổi chiều nửa chén cơm, một chút rau muống luộc với nước muối. Lễ lớn có một miếng thịt bằng ngón tay. Hơn một năm, một số tù cải tạo chuyển đi Bắc, một số tù cải tạo ở nơi khác chuyển tới, lúc đó mới có một số chị em phụ nữ ở trại Long Giao, trại giam Chí Hòa, Phan Đăng Lưu tới. Đa số là tù phản động. Tôi mới thoát cảnh ở một mình mà sống tập thể với bạn tù cũ, bạn tù mới. Tôi bắt đầu đi lao động, làm cỏ chung quanh trại giam, và trồng rau muống.”

Cảnh lao động vất vả của trại tù, dù sao, cũng cho người tù cơ hội được thấy ánh sáng mặt trời, mà không bị vây hãm gò bó giữa bốn bức tường bức bối. Nhưng trồng rau bằng phân người và nước tiểu người là những cực hình mà người tù phải gánh chịu, và ăn rau do chính mình trồng nhưng không được rửa sạch làm cho người tù bị tiêu chải kinh niên. Nhu cầu nha chu hay y tế căn bản cũng không được đáp ứng, nên bạn tù phải mượn kềm của tù nam hình sự, khi họ về ăn cơm trưa trong một tiếng, để nhổ răng cho nhau, khi răng đã hư quá nặng và không thể giữ được. Họ phải cầm máu bằng nước muối, vừa rát, vừa đau.

Bà kể tiếp, “Hai năm sau, tức tới tháng Bảy, 1977, chúng tôi chuyển lên trại tù cải tạo Căn Cứ 5 Rừng Lá, tức trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải. Đã di chuyển xa, nên việc phải gặp chấp pháp ít hơn, vài ba tháng một lần. Mà chủ yếu là lao động, cả đội mấy chục cô cầm cuốc, cầm xẻng, thùng tưới nước, chia nhau công tác để làm. Mới đầu chẳng biết cuốc, cả ngày trời cuốc một khoảng cỏ trước sân cơ quan mà thấy vẫn y nguyên. Lần lần gánh tranh, trồng rau muống, khoai lang, củ cải. Rau tưới bằng một lon nước tiểu pha một thùng nước suối, phân người bỏ dưới rãnh, lấp đất, trồng rau lên.

Tôi yếu sức nên đứng múc nước tiểu, pha cho người khỏe trẻ tưới. Cả ngày làm lao động mệt, chiều hết giờ chạy về bờ suối tắm 20 phút, vừa giặt giũ vừa tắm, không có quản giáo nữ canh gác. Cán bộ nam và võ trang canh gác khi đội nữ tắm. Bọn cai tù nói, “Các chị cứ coi chúng tôi như các chị, cứ thế mà tắm.” Thật là trơ trẽn. Chúng tôi cứ nhúng cả người xuống nước rồi lên giống như vịt rỉa lông. Những ngày mưa, nước suối đục ngầu, vẫn phải tắm, vì nước tiểu và phân dính cả người. Tới mùa nước suối cạn, bọn Cộng Sản chuyển đội nữ về lại trại cải tạo Long Thành. Nơi đây là trại hình sự, máy nước bị hư, không tiền sửa chữa. Mỗi ngày phát một gô nước uống, một tuần lễ mới ra suối cạn tắm một lần, giặt giũ rồi xách nước về. Về tới trại rửa cát bụi đi đường là thấy hết sô nước. Trại này trồng táo Thái Lan, dền, rau muống, cũng dùng nước tiểu, phân người làm phân bón. Chỉ trồng táo mới tưới bằng phân urê.”

Nhưng sau đó, bà bị chuyển trại, và bị đưa vào biệt giam hơn một năm để hỏi cung. Đây là gian đoạn gian nan nhất trong thời gian mười ba năm khổ sai của bà. Tuy nhiên, bà vẫn luôn giữ trong đầu một điểm đến: cố sống sót, đối diện với nghịch cảnh, để có ngày đoàn tụ với con. Bà ôn lại, “Ăn thiếu thốn, đói khát, bị vây quanh mấy tên cán bộ chấp pháp, tôi muôn điên lên vì thần kinh quá căng thẳng. Tôi sẽ gặp đau thương khi đối đầu với địch nên trước ngày cuối, để bảo mật, tôi đã hủy hồ sơ của Biệt đội Thiên Nga. Tôi cũng được bọn Cộng Sản đưa đi xem các văn phòng có liên hệ. Nhưng tôi vẫn lo lắng cho các nhân viên. 
Bà mẹ Thanh Thủy và ba con thơ tại Mỹ Tho 
Tôi muốn bảo toàn cho các bạn nữ đồng khóa, các nhân viên, và cộng tác viên. Tôi tâm niệm trong lòng mỗi lần phải gặp mặt cán bộ, tôi đều thầm nhủ đây là địch, đây là Việt Cộng, làm cho tôi thêm nghị lực, bình tĩnh hơn, mạnh dạn hơn để trả lời. Tôi ở biệt giam một mình hơn một năm, vì phải làm việc bằng đầu óc, trại giam gọi là động não quá nhiều, ăn uống thiếu thốn, ngủ nền xi-măng, tôi bị liệt một chân, phải lần vách. Tôi mới xin lau chùi quét dọn hành lang và xin phơi nắng nửa giờ mỗi ngày trừ thứ Bảy và Chủ Nhật. Tôi tập giật chân kinh và tự xoa nắn lấy chân bị liệt teo cơ do suy dinh dưỡng gây ra. Tôi tự nhắn nhủ, không nhớ con nhiều nữa, phải rán chịu đựng mọi khó khăn để có sức khỏe trở về với con.”

Thời gian biệt giam này đã dài như thế nào? Những chi tiết về gian đoạn này sẽ khiến nhiều người không thể tưởng tượng ra được, bà Nguyễn Thanh Thủy đã làm thế nào để sống sót. Bà nói, “Tháng 4 năm 1981, tôi bị đưa từ trại tù cải tạo Long Thành về trại tù biệt giam X4 (Bộ Công An Cộng Sản đường Võ Tánh, Sàigòn). Tôi ở xà lim, chung quanh tối om, ngoài một bóng đèn điện cho cả dãy xà lim, mỗi xà lim có một khoảng trống bằng một cục gạch trên sát trần nhà để thở. Trời tháng Tư ở Việt Nam, nóng bức, mồ hôi chảy như tắm, quần áo vo cao cho bớt nóng. Tuần lễ đầu tiên tôi bị xỉu, thiếu dinh dưỡng, thời tiết quá nóng. Cán bộ trại giam phát hiện do người ở cạnh xà lim đập tường hỏi thăm sức khỏe, không thấy tôi trả lời, họ đập tường gọi cán bộ cấp cứu. Sau lần cứu tôi tỉnh dậy, trại giam đưa một lọ thuốc tim nhỏ giọt để khi mệt nhỏ vào miệng và gọi cấp cứu.

Về ăn uống, sáng để gô ra, họ cho một gô nước nóng. Trưa và chiều để ít cơm trong cái thau và một chén canh ngoài song sắt xà lim, rồi tự mình mang cơm canh qua song sắt để ăn. Phải kiếm thế nghiêng thật nhanh, mang tất cả cơm canh vào. Vì không có muỗng, nên phải ăn bốc bằng tay.
Lúc mới tới, Cán Bộ chấp pháp cho biết tôi sẽ được ăn tiêu chuẩn quốc tế, dành cho người về làm việc, ngày 3 lần: sáng, trưa, chiều. Nhưng tôi chưa bao giờ nhận được buổi ăn nào như thế. Các tù nhân đi với Cán Bộ trại giam giao phần ăn không được mặc áo, phải ở trần và bận quần xà lỏn (quần đùi), họ không được nói bất cứ lời nào. Muốn hỏi gì, họ chỉ tay về phía Cán Bộ, người Cán Bộ mới có quyền nói chuyện với tù nhân.

Về phần vệ sinh cá nhân, mỗi ngày được tắm một lần, 20 phút. Tù không bao giờ gặp mặt nhau, cứ người này tắm xong, mới mở cửa phòng khác cho tù ra tắm. Tiểu tiện đi vào thùng sắt đựng đạn của Mỹ, cứ đi tắm mang ra đổ, rửa sạch dùng lại.

Đưa tôi về nơi này, bọn Cán Bộ chấp pháp làm áp lực để tôi viết cam kết, với chồng hồ sơ thu thập được của nhân viên Thiên nga, cấp chỉ huy, bạn bè để trước mặt, cho thời hạn suy nghĩ là 3 ngày. Trên đường trở về xà lim, tôi nhờ chấp pháp trình lại với lãnh đạo của họ, 6 năm tù cải tạo đủ để suy nghĩ, không cần thêm 3 ngày. Tôi trả lời: Không, không bao giờ.

Thế là tiêu chuẩn ăn hàng ngày bị giảm đến mức tối thiểu, chỉ còn một chút cơm với vài hột muối hột. Thời gian này, bệnh nặng không được chữa, có lần ói từ nửa đêm đến sáng. Khi họ kiểm tra thấy nằm ói toàn mật xanh, Bs y tá tới, cho thuốc uống liền tại chỗ. Người y tá đưa thuốcd nói thật nhanh, thật khẽ, “Đừng uống.” Tôi vội nắm chặt thuốc trong lòng bàn tay, đưa tay giống như bỏ thuốc vào miệng và vội vàng uống nước. Sau này, tôi gặp người y tá đó khi khám sức khỏe đi Mỹ tại Bv Cảnh Sát. Người ấy mới kể, trước là y tá Bv Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, có thân nhân liệt sĩ, nên được giữ làm lại, biết tôi và tránh cho tôi bị thuốc.

Họ giữ tôi tại cơ quan X4 bốn tháng nhưng không khai thác được gì. Bọn chấp pháp đem cán bộ nữ ra dụ dỗ vì thương con tôi, mới khuyên tôi cam kết để tha về. Tôi khẳng định tôi về khi nào có chính sách của lãnh đạo nước, chứ về riêng lẻ không bao giờ có. Thấy tôi kiên quyết không khai, bọn chấp pháp biểu tôi đứng xa họ ba thước, nghe đọc lệnh án. Lệnh án có nội dung như sau: Do quyết định ngày… tháng… năm, Tên Nguyễn Thanh Thủy có thái độ ngoan cố không chấp hành cải tạo lao động nên tuyên án tập trung cải tạo tiếp 3 năm và quyết định có hiệu lực vô thời hạn.

Hai chân tôi bị nhốt ở xà lim, nên bị liệt không đi nổi. Trở lại xà lim, lấy quần áo chiếu mền theo họ chở về trại tù cải tạo Long Thành. Trước khi lên xe, họ đưa cái giỏ nhỏ nói là quà gia đình gửi. Sau này gặp chồng tôi, anh kể mấy ngày trước khi tôi trở lại trại cải tạo Long Thành, họ đưa một miếng giấy có chữ viết của tôi, vỏn vẹn, “Thăm anh và các con. Em vẫn khỏe mạnh.” Xong họ dặn chồng tôi mua cho tôi ít quà khô. Họ biểu đem đến cổng. Anh không biết chỗ, hỏi thăm gác cổng, họ bắt anh nhốt cho tới tối mới thả anh ra.

Sáng hôm sau là tôi chuyển trại. Họ phải xách tất cả một xách quần áo, sô đựng vài thứ linh tinh, một giỏ thức ăn. Vì tôi đi không nổi, mặt mày xanh xao, không ánh nắng mặt trời bốn tháng, màu da vàng của người VN rất đúng không sai tí nào. Nói đến hình phạt kỹ luật cho nữ, cái nhà kỹ luật là nhà có 2 lớp, giống như cái hộp có hai lớp, một lớp là phòng giam nóc bằng, cách khoảng chừng 1 thước, lớp ngoài cũng xi măng cốt sắt.

Mỗi phòng giam kỷ luật có một cái bệ. Cuối bệ có cây sắt thông ra ngoài để khóa bằng ống khóa sắt. Trên cây sắt có những cái cùm. Cái bệ xi măng có một cái lỗ để thùng đạn của Mỹ. Thùng trống không, làm chỗ tiểu tiện. Đặc biệt là kể từ ngày vào phòng giam kỹ luật cho đến ngày ra không được tắm. Khôn được tắm từ 1 tuần cho tới 3 tháng, 6 tháng, hay cả năm, chỉ những ngày kinh nguyệt phụ nữ mới được 40 phút thay quần áo.

Tùy theo hình thức phạt, đa số hai chân đều phải cùm lại, hỏng trên cái bệ, nên rất đau đớn vì tê chân và sét ăn vào cườm chân. Muỗi đốt suốt ngày đêm, bóng tối cả ngày đêm… Những hình thức này tôi đều trải qua, hằn sâu trong da thịt tôi.”
Chính thời gian biệt giam này đã gây ra nhiều tổn thương trên thân thể bà nhất, từ việc bị bại liệt một bên người, phong thấp, các chứng bệnh đường ruột và tiêu hóa, cho đến sự căng thẳng đầu óc đến cao độ. Từ việc bị giam trong phòng tối cả ngày lẫn đêm, cho đến việc bị điều tra hỏi cung 24/24, cho đến việc bà bị trừng phạt không cho ăn uống, chỉ có chút nước và ít muối hột, hay bị phạt không được tắm, những ngày có kinh nguyệt bà cũng chỉ được 40 phút thay quần áo rồi bị cùm lại – tất cả đã khiến bà rụng gần hết răng và cơ thể bà hoàn toàn kiệt sức, không đứng được.
Tại Mỹ với vật chứng nhà tù mang theo. (hình phóng sự: Benjamin Vũ)
Tôi thắc mắc, sau những đằng đẵng đói lạnh và lao động quá sức, không biết trong những lúc quá cùng cực và bị bệnh thập tử nhất sinh, Nguyễn Thanh Thủy có bao giờ cảm thấy tuyệt vọng không? Mười ba năm khổ sai đã cho bà nhiều kinh nghiệm đắt đỏ và một cái nhìn thấu đáo về chế độ chính trị đang nắm quyền trên quê hương bà. Và khi bà rời nhà tù nhỏ của trại Hàm Tân Z30, bà tiếp tục bị dồn bức cho đến giây phút gia đình bà đứt ruột rời bỏ người thân và quê hương để đi Mỹ qua diện H.O.
Bà kiên trì, giữ vững tôn nghiêm của người lính, giữ tinh thần lạc quan. Cho nên “Cả 13 năm tù, tôi không muốn kẻ địch thấy giọt nước mắt của tôi. Nên khó tìm thấy nét buồn, cho tới ngày em tôi lên trại, báo tin Ba tôi mất, tôi xỉu ngay tại phòng thăm nuôi và tôi rơi nước mắt.”
Nhưng dù không biết tương lai mình ra sao, Nguyễn Thanh Thủy vẫn luôn nghĩ đến người khác, những người bạn tù của bà. Chính vì nghĩ đến người khác, nên ngay từ đầu, bà đã không khai những bí mật Thiên Nga khi bị hỏi cung, mà mới bị trừng phạt nặng nề và chịu nhiều tổn hại về sức khỏe. Đến những ngày cuối cùng, bà vẫn giúp các bạn tù, “Mấy năm trước ngày ra trại, tôi làm đội trưởng kỹ thuật may, chỉ cho các em hình sự án cao biết may gia công để đỡ cuốc đất trồng rau cực khổ trong thời gian thụ án, sau có tay nghề may.”
Là người nữ tù cuối cùng rời trại cải tạo vì bị cho là ngoan cố, Nguyễn Thanh Thủy rời tù nhỏ, về tù lớn của xã hội Việt Nam hậu 1975, với hai hàm răng đã rụng, nên các con không dám tới gần bà. Con gái bà bảo, “Kỳ quá, Mẹ không có răng!”
Tôi tự hỏi, đối với bà, đâu là nỗi đau lớn nhất trong 13 năm này: những đau khổ về thân xác trong trại cải tạo, hay nỗi đau tình cảm phải chia lìa với gia đình và con dại? Thời gian có xoa dịu được những nỗi đau này không? Hay mất mát sẽ vĩnh viễn là mất mát?

Nguồn: Trang Đài Glassey – Trần Nguyễn/ hennhausaigon2015

Bài Học Cũ Chưa Thuộc : Trung Cộng !

Xâm lược văn hóa kiểu Trung Cộng


 
Hôm 15/8, Viện Khổng Tử (Confucius Institute) thuộc Viện Đại Học Sydney, mở một buổi diễn thuyết về Tây Tạng với đề tài “Phương cách lựa chọn vị Đạt Lai Lạt Ma và ảnh hưởng [của Ngài]về Chính trị, Tôn giáo và Xã hội tại Tây Tạng”. Diễn giả được giới thiệu là 1 học giả có uy tín, giáo sư Zhang Yun (Trương Vận), người được Viện Khổng Tử, ĐH Sydney diễn tả là “Giám đốc Viện Sử học, Trung tâm Tây Tạng học, Trung quốc”. Trang mạng của Viện này cho biết chi tiết rằng Giáo sư Trương Vận tốt nghiệp Tiến sĩ Đại học Nam kinh về lịch sử Mông Cổ, triều Nguyên, có nhiều công trình nghiên cứu về Cổ sử Tây Tạng. Từ năm 1993 phụ trách Trung tâm nghiên cứu¸phân bộ Tây Tạng học của Viện nghiên cứu lịch sử Trung quốc. Được coi là 1 chuyên gia hàng đầu của Trung quốc hiện nay về Tây Tạng, đặc biệt về chính sách Tây Tạng thời nhà Đường và Nguyên.
Buổi hội thảo thoạt nghe qua hầu như có giá trị văn hóa lịch sử này đã bị chỉ trích kịch liệt vì cách chọn diễn giả.
Hội đồng Úc Tây Tạng (Australia Tibet Council) phản đối buổi diễn thuyết này là “một trong những hoạt động mang tính cách tuyên truyền có lợi cho đường lối về Tây Tạng của nhà nước Trung Cộng’ vì chuyện gửi “những-kẻ-gọi-là-nhà-Tây-Tạng-học” như thế này sang Tây phương du thuyết không phải là chuyện lạ. Đối với những người am hiểu về văn hóa, lịch sử Tây Tạng, và chú ý đến tình hình chính trị tại Tây Tạng, cũng như tại Trung quốc về Tây Tạng (chưa nói đến chính người Tây Tạng) thì quan điểm của Trương Vận chẳng có gì xa lạ với họ. Ông ta chính là một trong những người đả kích Đức Đạt Lai Lạt Ma mạnh mẽ nhất. Chẳng hạn như trong nhiều cuộc phỏng vấn gần đây nhất, Trương Vận tuyên bố “Từ xưa nay, Tây Tạng luôn luôn do Trung quốc cai trị, nhưng trước khi Trung quốc tiến hành cách mạng dân chủ cho Tây Tạng (!) thì đó là một xã hội phong kiến lạc hậu, tệ hơn cả thời Trung cổ ở Âu châu … sống dưới chế độ độc tài của giới tăng sĩ kết hợp với thành phần có học” và đả kích Đức Đạt Lai Lạt Ma là “chủ trương tái lập chế độ phong kiến lạc hậu đó ở Tây Tạng”.
Bà Kyinzom Dhongdue, phụ trách liên lạc và quan hệ với chính quyền Úc của Hội đồng Úc Tây Tạng nói rõ hơn rằng “ Trung Cộng luôn luôn muốn ngăn ngừa tất cả mọi hình thức thảo luận đứng đắn về Tây Tạng, vì đó là 1 phần trong sách lược chính trị của họ nhằm ‘uốn nắn’ lại quan niệm và hiểu biết của Tây phương về Tây Tạng, về Đức Đạt Lai Lạt Ma, bởi Bắc Kinh lo sợ trước sự kính mến Ngài của người dân Tây Tạng trong và ngoài nước, vì uy tín quá sức rộng rãi của Ngài tại Tây phương, và nhất là sau khi có tới hơn 50 người Tây Tạng đã tự thiêu để phản đối chính sách diệt chủng văn hóa của Bắc Kinh tại Tây Tạng ngày nay”. Theo bà –và Hội đồng Úc Tây Tạng, thì Viện Khổng Tử là cơ sở tuyên truyền hợp lệ và thuận lợi nhất của Trung Cộng ngày nay.
Quan điểm này của bà Kyinzom Dhongdue, một người Tây Tạng lưu vong, không phải là tiếng nói đơn độc. Giáo sư Christopher Hughes, giảng dạy môn Quan hệ Quốc tế tại Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) và là 1 chuyên gia nổi tiếng quốc tế về Trung quốc, người từng chỉ trích chính trường Kinh tế Luân Đôn vì đã nhận ngân khoản tài trợ 600-ngàn đô la của nhà cầm quyền Trung Cộng để lập Viện Khổng Tử tại trường này, nhân chuyện này đã lập lại quan điểm của ông về mục đích hoạt động của các viện Khổng Tử trên thế giới. Giáo sư Hughes cho rằng “cách thức mà viện Khổng Tử tại Đại học Sydney tổ chức buổi diễn thuyết này khiến người ta càng hoài nghi thêm về mục đích hiện hữu của những viện Khổng Tử khác trên thế giới. Nó chẳng phải chỉ nhằm mục đích dạy tiếng Hoa không thôi đâu. Lý do họ viện dẫn rằng, diễn thuyết như vậy là hình thức tiêu biểu của quyền tự do ngôn luận, phát biểu ý kiến chỉ là trò mạo hóa thôi”.
Viện Khổng Tử
Một cách chính thức, theo nhà nước Trung Cộng thì Học viện Khổng Tử là cơ quan truyền bá văn hóa của Trung Quốc ở nước ngoài, do Bắc Kinh tài trợ; tương tự kiểu mẫu các cơ quan văn hóa Tây phương như Goeth Institue của Đức, Alliance Francaise của Pháp hay British Council của Anh quốc.
Theo Bắc Kinh định nghĩa thì Học viện này nhằm mục đích chính là dạy tiếng Hoa có nhiệm vụ đào tạo giáo viên Hoa ngữ; tổ chức thi trình độ tiếng Hoa; chiếu phim, tổ chức các hoạt động trao đổi văn hóa, hữu nghị... với mục tiêu cuối cùng là mở rộng ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trên toàn cầu”. Thế nhưng Lý Trường Xuân, Trưởng ban Tuyên giáo Trung Ương đảng Cộng sản Trung Quốc có lần từng trên tờ Economist rằng các học viện Khổng Tử “đóng một vai trò quan trọng trong các tổ chức tuyên truyền Trung Quốc tại nước ngoài.! Viện Khổng Tử trung ương được đặt tại Bắc Kinh và nhà nước Trung Cộng có kế hoạch lập khoảng 1000 học viện Khổng Tử trên thế giới. Cho đến nay, dưới sự chỉ đạo của Văn phòng về Hội đồng Ngôn ngữ Quốc tế - một tổ chức phụ thuộc vào Bộ giáo dục Trung Cộng, và tính từ năm 2004, khi viện Khổng Tử đầu tiên được lập tại Hán Thành, thủ đô Nam Hàn, đến nay Bắc Kinh đã chi hơn 500 triệu Mỹ kim để giúp lập Khổng Tử ở khoảng 40 nước trên thế giới (thuộc tất cả các châu).
Riêng tại Úc, tính đến nay đã có cả thảy 9 viện Khổng Tử. Tại Adelaide có 1 là Confucius Institute in Adelaide; Perth có 1 tại ĐH Tây Úc; Brisbane có 2 viện, tại ĐH Kỹ thuật Queensland, và ĐH Queensland; Sydney có 3 viện, tại ĐH NSW, ĐH Newcastle, ĐH Sydney; và Melbourne có 2, tại ĐH RMIT và ĐH Melbourne.
Tại Đông Nam Á, theo tài liệu của Trung Cộng thì đã có 11 viện loại này, 2 ở Thái Lan, 1 ở Cam Bốt, 1 ở Lào, 3 ở Phi Luật Tân, 2 ở Indonesia, 1 ở Singapore và 1 ở Mã Lai.
Riêng ở Việt Nam, hồi tháng 4/2009, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận cho mở thí điểm Học viện Khổng Tử, thực chất là trung tâm văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên từ đó đến nay chưa thấy có tin gì về địa điểm, ngày giờ chính thức lập viện này. Đến nỗi, hồi cuối năm ngoái khi đến Việt Nam, Phó Chủ tịch –sắp sửa trở thành Chủ tịch nhà nước Trung Cộng-Tập Cận Bình đã sốt ruột giục ban lãnh đạo Đảng và nhà nước CSVN “mau chóng chính thức lập viện Khổng Tử’.
Điều này đã làm nhiều người trong nước, nhất là nhiều nhà khoa bảng, trí thức lâu nay đã trở thành ‘đối tượng chú ý, sách nhiễu của nhà nước CSVN chỉ vì quan điểm và hành động công khai phản đối chính sách và hành động bành trướng, lấn áp của Trung Cộng về mọi mặt đối với Việt Nam đã phải lên tiếng báo động.
Dụng cụ xâm lược văn hóa
Điển hình là Tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện, người mới vừa bị nhà cầm quyền CSVN trừng phạt vơi tội danh “phổ biến những tài liệu mang tính kích động gây rối loạn trật tự trị an” trên trang blog riêng của mình; đã khuyến cáo “Hiện nay, phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo về văn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Điển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc. Nhiều công trình mới xây cũng có tượng sư tử Trung Quốc. Rồi hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam. Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay còn gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là một nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm”.
Điều lưu ý này của ông hoàn toàn hữu lý, và hết sức đáng lo ngại.
Bản tin Bloomberg ngày 1-11-2011 của phóng viên Daniel Golden có tựa đề đã nêu rõ: “China Funds U.S. Schools, Doesn’t Want Tibet Discussed” (Trung quốc tàì trợ cho các trường ở Hoa Kỳ nhưng không muốn bàn vê Tây Tạng).
Bản tin Bloomberg kể rằng khi Hanban (tức Văn phòng về Hội đồng Ngôn ngữ Quốc tế thuộc Bộ Giáo dục Trung Cộng) đề nghị tặng đại học Stanford University (California) 4 triệu đôla để tổ chức một Học viện Khổng Tử về ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa và lập một giáo sư môn này, nhưng kèm theo cảnh giác, vị giáo sư ấy không thể thảo luận về các đề tài nhạy cảm như Tây Tạng.
Giáo sư Richard Saller, Khoa Ttưởng Nhân Văn và Khoa Học của Đại Học Stanford, nói “Bắc Kinh bảo rằng họ không muốn bị bêu xấu.”. Trước đòi hỏi kiểu ‘cha chúZ” thế này, ĐH Stanford đã từ chối thẳng vì cho rằng “cần tự do học thuật”.
Trung Cộng hiện đẩy mạnh nỗ lực mở rộng sự hiện diện trong các khuôn viên đaị học Mỹ, để gọi là quảng bá văn hóa và lịch sử Trung quốc và đáp ứng nhu cầu đang tăng trên toàn cầu là học Hoa Ngữ.
Hanban, môt tổ chức liên hệ tới chính phủ và nằm dưới quyền quản trị của Bộ Giáo Dục TQ, đã xài ít nhất 500 triệu đôla kể từ năm 2004 để thiết lập 350 Viện Khổng Tử trên toàn cầu và khoảng 75 học viện tại Hoa Kỳ, nhiều gấp 4 lần số học viện này ở bất kỳ một nước nào khác.
Thời gian đầu, các viện này chỉ để dạy tiếng Quan Thoại (Mandarin) và các nghệ thuật truyền thống như thư pháp ở các khuôn viên đaị học Mỹ, sau này các Viện Khổng Tử do Bắc Kinh tàì trợ mới đi vào bậc cao hơn bằng cách bơm hàng triệu đôla cho nghiên cứu, gây nỗi lo từ các viên chức đại học Mỹ rằng đây là âm mưu bịt miệng những lời chỉ trích nhắm vào nhà cầm quyền Trung Cộng.
Chính nỗi lo này đã làm cho Hội Nghiên Cứu Châu Á Học (Association for Asian Studies), một hội đoàn của các học giả quốc tế chuyên ngành về Trung Hoa với 8,000 hội viên toàn cầu, hồi tháng 3-2011 đã quyết định là hội sẽ không tìm tới và cũng không chấp nhận sự hỗ trợ cuả Hanban, chỉ vì thấy có sự nối kết, mờ ám trong việc bị ảnh hưởng trực tiếp của nhà cầm quyền Trung Cộng để quyết định tài trợ.
Một chuyên gia về Trung quốc, Giáo sư Jonathan Lipman, của ĐH Mount Holyoke College ở South Hadley, Massachusetts, cũng đang giữ chức ủy viên trong Hội Đồng về TQ và Nội Á trong hội AAS, nói, “bằng cách gạ bán một sản phẩm các trường ĐH Mỹ muốn, là môn học Hoa Ngữ, các viện Khổng Tử đã đưa quan điểm, đường lối chính sách của nhà cầm quyền Trung Cộng đi thẳng vào hệ thống Đại học Mỹ một cách công khai, hợp lệ và rất mạnh mẽ. Cách nói của Bắc Kinh là “ họ cho tiền này để mở chương trình học về Hoa ngữ, và không một ai được nói gì về Tây Tạng hết”. Bắc Kinh biết chắc là trong thời buổi kinh tế khủng hoảng này, từ chối điều kiện đó là lâm vào cảnh lung túng vì không có tài chính yểm trợ cho những sinh hoạt như vậy.
Ông Steven Mosher, chủ tịch Viện Nghiên cứu Dân số (Population Research Institute) nói thẳng “viện Khổng Tử có thể là những “con ngựa gỗ thành Troia nhằm mục đích đầu độc thanh niên Hoa Kỳ theo lối suy nghĩ rằng Đảng - nhà nước Trung Cộng sẽ không là mối đe doạ cho người dân của họ hoặc cho thế giới nói chung”. Một nhà nghiên cứu về Trung quốc, ông Glenn Anthony từng theo dõi sát tiến trình Bắc kinh thành lập các viện Khổng Từ toàn cầu nói “đối với Bắc Kinh, có 3 vấn đề thuộc hàng nguyên tắc không được nói đến, ông gọi là yếu tố 3 T, gồm Taiwan (Đài Loan), Tibet (Tây Tạng) và Tiannmen (Thiên An Môn), như thế nhà cầm quyền Trung Cộng, qua Hanban, tất nhiên phải hoạch định để chúng sẽ không được giới thiệu, thảo luận hoặc tranh luận trong các tài liệu giảng dạy, trong lớp học hoặc trong các hoạt động tiếp cận cộng đồng. Vì thế, nhiệm vụ và mục tiêu của viện Khổng Tử được giản lược để “ nhằm cải thiện và tô điểm lại hình ảnh của Trung Quốc theo chế độ Cộng sản”.
Nhiệm vụ của các viện Khổng Tử này nhằm phục vụ đem lại lợi ích chiến lược được đặt trong ‘chính sách ngoại giao văn hoá toàn cầu” và “truyền bá văn hoá Trung Quốc trên toàn thế giới” như đã ghi rõ ở mục thực hiện chương trình Tiếp cận Văn hoá trong văn bản “Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 cho việc phát triển kinh tế và xã hội quốc gia”.
Bài học cũ chưa thuộc
Xem ra Tây phương vẫn chưa thuộc bài học của thời kỳ hạ bán thế kỷ 20, thời chiến tranh lạnh giữa 2 khối Tự do, Cộng sản, một bên do Hoa Kỳ dẫn đầu, một bên do 2 nước Cộng sản ‘trùm’ Nga Hoa, quanh vấn đề ‘mối nguy và sự đe dọa đến nền tự do dân chủ chân chính’, chủ trương và chính sách chỉ huy chặt chẽ của khối Cộng sản quốc tế đã tạo ra một làn sóng (hoặc đúng hơn là một quan điểm có ảnh hưởng quan trọng cổ võ phong trào phản chiến ồ ạt khắp thế giới) làm suy yếu cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ tự do, xiển dương dân chủ ở nhiều nơi, mà kinh nghiệm đau đớn và cay đắng nhất là của dân tộc Việt Nam, với kết quả sự sụp đổ của VNCH tháng Tư 1975 và tình cảnh của hơn 80 triệu người Việt trong nước hiện nay.
Con ngựa gỗ thành Troie, mang bảng hiệu ‘viện Khổng Tử’ đang tràn lan trên thế giới chưa làm người ta sợ nên vẫn còn nhiều ngây thơ.
Lời khuyến cáo của những nhà sử học chân chính, có lương tâm - điển hình qua lời cảnh tỉnh của những người Tây Tạng lưu vong- là tiếng chuông báo động cấp thiết cần phải được chú ý và truyền bá mạnh mẽ thêm. Kẻo hối không kịp!
Phạm Thạch Hồng

Hungary Cần Sa :Cộng Việt Làm Giàu Trên Tội Ác -Tội Cho Dân Nghèo


Hungary bắt vườn cần sa lớn kỷ lục

cùng 8 người Việt  vào tù

 

Video: Vài ngày trước khai mạc giải tennis 'Budapest Open 2012', cảnh sát Hungary đã cất một mẻ lưới lớn về cần sa. Vườn cần sa lớn nhất trong lịch sử đã bị phát hiện tại Hungary trị giá hơn 1 triệu EUR, 12 người bị bắt, trong đó có 8 người Việt.




Video tại hiện trường của cảnh sát Hungary.

Như các báo đã đưa tin, cảnh sát Hungary đã phát hiện và thanh toán một vườn cần sa lớn nhất trong lịch sử hoạt động của mình, với hơn 1.400 gốc cần sa đang ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, trị giá “chợ đen” vượt 300 triệu Ft (hơn 1,1 triệu Euro). Nhiều người Việt Nam làm việc tại vườn cũng đã bị bắt giữ.
Theo thông báo từ sở cảnh sát tỉnh Nógrád (miền Bắc Hungary), ngày 1-8-2012, cảnh sát đã nhận được tin báo về sự tồn tại của một vườn trồng cần sa lớn trong vùng lân cận. Căn cứ những dữ liệu được thu thập, cảnh sát hai tỉnh Nógrád và Heves đã hợp đồng tác chiến và phát hiện ra một vườn cần sa lớn, được thiết lập tại một tòa nhà kho ở vùng Petőfibánya. Lượng cần sa được tìm thấy ở đây lên tới 248kg, được trồng với sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật như 30 chiếc quạt thông gió và hệ đèn tỏa nhiệt công suất cao. 

Lượng điện năng được sử dụng tại vườn cũng là do câu điện trộm, bất cứ lúc nào cũng có thể gây tai nạn nguy hiểm đến tính mạng những người làm việc ở đây. Theo tính toán, các nghi can đã dùng tới 168 bóng điện loại 600W (giá 40.000 Ft/chiếc, mỗi chiếc đều kèm theo một biến áp), gây thiệt hại rất lớn (64 triệu Ft) cho Cơ quan Điện lực.

Chủ của vườn cần sa được cho là một cặp vợ chồng người Hungary. Những cuộc điều tra cho thấy cặp này còn một vườn cần sa khác ở TP Fiľakovo (gần biên giới Hungary, nay thuộc lãnh thổ Slovakia, nơi cư dân gốc Hungary chiếm đa số), được trang bị thiết bị kỹ thuật hiện đại trị giá 57.000 Euro, theo ước tính của các điều tra viên.

Tổng cộng, đã có 12 nghi can bị bắt giữ để điều tra, trong đó có 8 công dân Việt Nam làm thuê tại các vườn cần sa. Những người Việt không có bất cứ một thứ giấy tờ tùy thân nào, theo lời khai sơ bộ, giấy thông hành của họ đã bị tước đoạt và họ phải làm việc như những “nô lệ” với đồng lương chết đói. Hiện tại, việc xác định nhân thân của nhóm người Việt đang được tiến hành.

Trong cuộc họp báo của cảnh sát vào ngày thứ Năm vừa qua mà tin tức được đăng tải trên các phương tiện truyền thông lớn của  Hungary, Cơ quan cảnh sát điều tra nhận định rằng sau khi rất nhiều vườn cần sa được điều hành bởi người Việt bị phát hiện tại thủ đô Budapest, việc trồng trọt cần sa dường như được chuyển về nông thôn.

Tuy nhiên, nếu như trong các trường hợp trước đây, các vườn cần sa đều do người Việt thiết lập và điều hành thì trong vụ án hiện tại, những thông tin ban đầu cho thấy có thể có yếu tố mới là những người chủ quốc tịch bản địa thuê người Việt trồng “cỏ” cho họ.

Có điều, cảnh sát cũng cho biết cặp vợ chồng Hungary không đủ tiền để “đầu tư” cho thương vụ cần sa này và như vậy, trên họ còn có những kẻ khác mà cảnh sát chưa muốn tiết lộ. Một điều chắc chắn, theo cơ quan điều tra, “cỏ” sẽ là mặt hàng khan hiếm tại Sziget Festival, liên hoan âm nhạc ngoài trời lớn nhất Châu Âu sẽ diễn ra trong vài ngày tới tại Budapest.
Nguồn: NCTG, Youtube, Heol

Tội Ác Cộng Việt: Đồng Lỏa Nạn Buôn Người Sang Nga

CẢNH BÁO NẠN BUÔN NGƯỜI VIỆT SANG NGA
Liên Minh CAMSA
 
Trong thời gian gần đây, Liên Minh CAMSA liên tiếp nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp về các nạn nhân Việt Nam tại các xưởng may và công ty xây cất do người Việt làm chủ tại Nga. Các lời kêu cứu đến từ nạn nhân và từ các thân nhân của họ tại Việt Nam. Qua quá trình điều tra và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy công nhân đã bị lừa trực tiếp ngay tại Việt Nam và khi sang Nga thì bị bóc lột, để rồi trở thành nô lệ nơi đất người và di hại nặng nề khi đã được về nước. Những kẻ buôn người  là chủ sử dụng lao động người Việt đã chiêu mộ các công nhân  sang Nga làm việc qua các môi giới tại Việt Nam. Trước tình trạng việc buôn lao động với hình thức này đang thịnh hành, Liên Minh CAMSA gióng lên một tiếng chuông báo động về tình trạng buôn người Việt sang Nga.

Nhng điu nên biết v nn buôn người Vit sang Nga
Các nạn nhân Việt Nam đều có chung cảnh ngộ là điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên đã sang Nga làm việc cho các chủ sử dụng lao động người Việt qua một số cá nhân và công ty môi giới tại Việt Nam.
Tất cả các công nhân trước khi sang Nga đều nhận được sự cam kết cũng như đã ký vào một bản hợp đồng với  môi giới tại Việt Nam với lương cơ bản là 500USD/tháng và thời gian làm việc là từ 8-10 tiếng/ngày. Tuy nhiên khi sang Nga làm việc thì chủ sử dụng lao động bắt buộc các công nhân phải ký vào một bản hợp đồng với một nội dung ép buộc, khác với những gì họ đã ký với bản hợp đồng trong nước. Nếu các công nhân không ký thì phải chịu trả một khoản phí là 4.500 USD để về Việt Nam. Các công nhân đã phải ở lại làm việc với sự bóc lột sức lao động từ 18-20 tiếng/ngày và làm việc 30 ngày/tháng mà không nhận được bất kỳ đồng lương nào vì tiền lương đã bị chủ trừ tiền ăn, ở, điện, nước và trả tiền cho bảo vệ. Như vậy, các công ty bóc lột tiền lương của công nhân ít nhất là 1.200USD/tháng.
Các công nhân bị chủ sử dụng lao động tịch thu tất cả giấy tờ tuỳ thân và bị giam giữ trong phạm vi công ty với điều kiện sống hết sức tồi tàn, thiếu ánh sáng và luôn có người canh gác. Các công nhân này nhiều hôm phải ăn những thức ăn đông lạnh đã bốc mùi, nước uống thì mất vệ sinh, thời tiết tại Nga rất lạnh nhưng lại không có máy sưới ấm và phải tắm bằng nước lạnh. Khi bị dồn vào đường cùng, các công nhân ngưng làm việc thì bị chủ đánh đập, bỏ đói và tiếp tục ép buộc ký vào bản cam kết ở lại làm việc cho đến khi kết thúc hợp đồng.
Trước khi sang Nga, các công nhận đã bị bóc lột với số tiền phí dịch vụ môi giới từ 2700-5000 USD và khi đến Nga thì tiếp tục phải đóng 1000 USD cho chủ sử dụng lao động.  Đây là số tiền quá với mức cho phép mà luật Việt Nam đã ban hành:  công ty môi giới chỉ được phép thu không quá một tháng lương theo hợp đồng cho một năm làm việc. Một tháng lương trên hợp đồng của các công nhân đi Nga chỉ là 220-500 USD.  
Các công nhân phải chuyển qua tay một số môi giới tại Việt Nam và khi sang Nga làm việc thì bị mua và bán tới các chủ khác nhau như một món hàng trao tay.
Với những hành vi lừa đảo, chuyển nhượng và bóc lột các công nhân, môt số công ty của người Việt ở Nga đã có hành vi buôn người, tiếp tay là các công ty môi giới tại Việt Nam.  
Hiện nay, trên nước Nga ước lượng có khoảng 200 công ty chiêu mộ người lao động từ Việt Nam sang làm việc tại hàng nghìn xưởng may và công ty xây dựng.
Nhng điu cn biết khi sang Nga làm vic và thông đip ca Liên Minh CAMSA.  
Để không bị trở thành nạn nhân, Quý Vị có thể thực hiện các biện pháp đề phòng sau đây:
(1)    Tuyệt nhiên không đi qua môi giới tư nhân;
(2)    Tuyệt nhiên không đi lao động với chiếu khán (visa) du lịch;
(3)    Nếu đi qua công ty xuất khẩu lao động, tuyệt nhiên không đóng tiền phí dịch vụ nếu không được cấp bản hợp đồng để cầm về nhà đọc trước và tham khảo những người rành luật;
(4)    Nếu đi qua công ty xuất khẩu lao động, tuyệt nhiên không đóng bất kỳ tiền phí nào nếu không nhận được biên nhận đúng với số tiền phải nộp;
(5)    Liên lạc với chúng tôi qua số địa thoại: +60377268497 hoặc email: camsa@bpsos.org, để phối kiểm nơi làm việc ở Nga trước khi lên đường.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước chung tay giúp phổ biến thông tin này nhằm bài trừ nạn buôn người Việt sang Nga ngày càng lan rộng. Phòng bệnh hơn chữa bệnh.

 http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2488

Bài Xem Nhiều