We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 26 September 2012

Truyện Ngắn KÉN VỢ


 

Buổi sáng thứ bảy mưa dầm dề. Trời một mầu xám đục, gió thổi ào ào qua những hàng cây si lá nhỏ xanh mướt trước nhà. Truyền hình tiên đoán sẽ có trận bão khá lớn vào rạng sáng Chủ Nhật làm mọi người trong vùng đều lo âu.
Trượng đứng trong cửa kính nhìn ra ngoài trời, mặt buồn so. Tối mai hắn lên máy bay để bay về Việt Nam mà giờ này T.V. còn thông báo mưa với bão thì làm sao về?
Hắn không thích phải dời lại mặc dầu không mất xu teng nào phải trả thêm cho hãng máy bay. Thời tiết xấu, những chuyến bay phải hủy bỏ bất ngờ là thường, nhất là vào mùa Đông có mưa tuyết.
Đang suy nghĩ, bỗng hắn nghe có tiếng người ở phía sau lưng:
"Chú Trượng dậy sớm thế?"
Hắn quay lại. Chị Tư, chủ nhà hắn "se” phòng.
"Sao anh Tư nói hôm nay anh chị đưa các cháu đi chơi ở "Đập Hai trăm năm" cơ mà?"
"Chú thấy không? Mưa bão quá làm sao đi được? Để cuối tuần khác vậy. À, khuya nay chú phải lên máy bay, mưa gió như thế này làm sao bay?"
Hắn thở dài ì ì:
"Chết tôi đấy chị. Vẫn cứ phải lái xe ra phi trường trình vé, lặn lội thế mà hãng máy bay hủy bỏ chuyến bay là lại phải chờ đợi cả ngày trời nữa trong khi tôi đã sắp xếp người ở Việt Nam ra đón ở phi trường rồi."
Anh Tư ở phòng trong đi tới, anh góp chuyện:
"Kỳ này chú Trượng về, lúc trở sang đây là có lời thêm một người nữa, phải không chú Trượng?"
Hắn ngượng ngập một cách sung sướng:
"Chưa biết có nên cơm cháo gì không anh Tư..."
Chị Tư xen vô:
"Việt kiều ở Mỹ về lấy vợ dễ lắm chú. Nghe nói mấy ông già bảy, tám chục kiếm vợ cũng còn được huống hồ chú, mới bốn mươi thì thiếu gì con gái trẻ đẹp."
Hắn có nghe câu chuyện ông cụ Chuẩn ở tỉnh kế cận, gần tám chục tuổi, bà vợ mất khoảng hai, ba năm nay, sáu tháng vừa qua ông về cưới một bà vợ ở Việt Nam, khoảng năm mấy, sáu chục. Bà này chưa sang được nhưng hi vọng luật sư sẽ làm đủ thủ tục để bà này sang vào sáu tháng tới. Hắn muốn nghe lại câu chuyện một lần nữa để cảm thấy cái "khoái tỉ" của Việt kiều muốn cưới ai cũng được nên hắn giả bộ:
"Già bảy, tám chục tuổi ma nó lấy. Như tôi cũng cảm thấy già rồi mà chị."
Chị Tư phản đối ngay:
"Chú biết ông cụ Chuẩn bao nhiêu không? Bảy mươi tám. Cái tuổi gần đất xa trời, ở đây có ai thèm, vậy mà về Việt Nam cưới được bà mới năm mấy, nghe nói còn ngon kinh khủng, thế thì chú là cứ phải gái tơ, hai mươi, hăm mấy cho nó sướng cái cuộc đời."
Hắn chỉ chờ đợi được nghe những câu đó, cảm thấy như người bay bổng lơ lửng trên không. Hắn làm bộ bật mí:
"Chưa về mà ở nhà đã viết thư sang nhắm cô này, cô kia cho tôi rồi. E lúc đó bối rối không biết lựa ai."
Anh Tư ra vẻ thông thạo về đàn bà vì ít nhất anh đã có "kinh nghiệm xương máu" về những người thực sự làm chủ gia đình:
"Trẻ chừng nào tốt chừng đó, chú Trượng. Cùng bất đắc dĩ lắm mới phải lấy gái già. Đã già cái gì cũng kém. Tôi mà được trở lại cái thời như chú bây giờ là tôi lấy gái mười sáu. Hai mươi coi như già chát rồi."
Chị Tư nghe chồng nói lộn tiết, chị vươn tay nhéo một cái cật lực vào cánh tay chồng, giọng chua như dấm:
"Nghèo mà ham. Ở đó mơ mộng mười sáu với mười bảy. Con gái anh nó cũng mười hai, mười ba rồi kia. Sắp có sui gia rồi, ăn nói bậy bạ không sợ con nít nó cười cho."
Anh Tư bị cái nhéo đau quá, anh la lên "Đừng, đau tôi" và vội vã đứng tránh xa bà vợ sư tử cái Hà đông, miệng vẫn cố gượng một nụ cười để khỏa lấp:
"Đàn ông ai chẳng vậy, phải không chú Trượng? Lòng trâu cũng như lòng bò."
Trượng gật gù để lấy lòng người đàn ông chủ nhà:
"Đúng, anh Tư. Đàn ông ai không thích gái tơ. Nói chị Tư đừng buồn, đàn bà già coi như vứt đi rồi."
Chị chủ nhà không vừa gì:
"Xí. Già cũng năm bảy đường già chú à. Nhiều con mẹ tuổi còn nhỏ hơn tôi mà sờ vào da thịt nhão nhào, búng ra hồ, bẹo ra nước. chỉ được cái mặt tô son trát phấn dầy mo lên. Lấy khăn ướt chùi sạch đi hoặc sáng ra mới ngủ dậy trông thấy mà gớm. Phải mấy con mẻ, chú có ưng không?"
"Thứ đó chú Trượng đâu có thèm." Anh Tư đế vô, anh vẫn chưa tởn cái véo tím tay vừa xong. "Phải là mười tám, đôi mươi cho nó đáng công về tận Việt Nam, phải không chú Trượng?"
Hắn sung sướng ra mặt:
"Có lẽ vậy, anh Tư."
Đêm hôm đó, hắn nhờ anh Tư đưa hắn ra phi trường. May quá, chuyến bay vẫn bay như dự định, đáp xuống Đài Loan mấy tiếng để thả khách xuống, lấy xăng và đón thêm khách lên rồi bay thẳng về Sàigòn. Người nhà đã chờ hắn ở phòng đợi, một chiếc xe Van được bao thuê từ Mỹ Tho lên để chở hắn cùng gia đình trở về Mỹ Tho.
Sau mười lăm năm không gặp, mẹ hắn ôm chầm lấy hắn:
"Mầy về má mừng quá, Năm à. Má tưởng đến lúc chết má cũng không được gặp lại con, giống như hồi ba con đi rồi mất tích đó."
Hắn vỗ vỗ vào lưng bà già:
"Con cũng mừng gặp lại má và gia đình."
Rồi hắn rời bà già để lần lượt ôm mấy anh chị và mấy đứa em của hắn.
"Kìa anh chị Hai, anh chị Ba. Anh chị Tư đâu? Con Sáu, con Bảy, con Tám giờ lớn quá héng?"
Anh Hai nhìn hắn:
"Chú về lần nữa thì chúng nó có chồng, có con hết rồi."
Mọi người đều cười ồ, lên xe. Dọc đường, ngó bên ngoài hắn thấy quang cảnh đổi khác rất nhiều nên trong lòng dâng lên một cảm giác buồn, vui lẫn lộn. Chưa biệt cuộc sống của gia đình hắn ra sao nhưng trong hiện tại thấy mọi người có vẻ vui gượng và rất dè dặt lời ăn tiếng nói, một điều không hề có ở mấy người anh vốn bạo ăn bạo nói của hắn, xưa kia là quân nhân trong chế độ Miền Nam Việt Nam.
Nghỉ ngơi và đi thăm bà con, họ mạc trong ba, bốn ngày đầu, ngày hôm nay bà mẹ hắn gọi hắn nói:
"Nầy Năm, má thấy con đã bốn chục tuổi mà má cũng già quá rồi. Như mấy lần con gọi điện thoại về và má đã cho con hay, chiều hôm nay má sẽ dẫn con sang bên bác Chín để coi mắt con gái bác. Con nhỏ này má coi bộ được lắm. Có nhiều người ngắm nghé nó, nhưng má nói xa nói gần với bác Chín để dành cho con."
Hắn không suy nghĩ, hỏi ngay:
"Nhỏ này độ bao nhiêu tuổi hả má?"
Bà già ngay thật:
"Má nghĩ nó bằng tuổi con Sáu, cũng trên ba chục."
"Sao già vậy má?"
Bà già nhìn hắn:
"Trên ba chục thì nó thua con khoảng bẩy, tám tuổi. Cỡ đó má nghĩ là vừa. Ngày xưa ông bà mình "gái hơn hai, trai hơn một" thì sao?"
"Đàn bà sanh đẻ mau già lắm má. Bây giờ lấy trẻ trẻ thì ít
nữa mới vừa."
"Trẻ là bao nhiêu hả mậy?" Bà già ngó hắn lom lom.
Hắn thấy bà già hơi có vẻ gắt nên ngập ngừng:
"Có đứa nào khoảng... mười tám, đôi mươi không má?"
"Chu choa!" Bà Tám la lên. "Đúng là bố nào con nấy. Mầy y như cái tính ông già của mày. Chỉ hảo ngọt, chỉ thích gái tơ. Nhưng con ạ, con lấy cái thứ ban đêm còn phải cõng nó đi đái ấy chỉ khổ thân con thôi. Nó nhõng nhẽo, đòi này đòi kia, mầy nát người mầy ra."
Mặc dầu hắn mới nghe tuổi lớn đã không ưng, nhưng bà Tám cố níu kéo thằng con trai cưng sang chơi nhà bà Chín vì trước đây một đôi lần vui miệng, bà đã hứa là sẽ làm sui với bà Chín khi thằng con trai bà về dạm vợ.
Buổi sang coi mắt cũng khá vui. Không có tiệc mặn nhưng có bánh trái, nước ngọt, nước trà. Bánh hoa hồng nhỏ nhỏ, xinh xinh đựng trong đĩa giấy cho mỗi cái trông rất khéo, như của tiệm bánh thứ thiệt, bánh bông lang mầu vàng nghệ nổi bông lên nhẹ hều, trông đã thấy muốn ăn. Trà sen bốc khói thơm ngọt ngào và nhà cửa, bàn ghế thì ngăn nắp, sạch sẽ, vui tươi dù trong cảnh đạm bạc.
"Chị ngồi đây, chị Tám." "Bà Chín niềm nở chào đón hai mẹ con bà Tám với vẻ hết sức quí trọng, ân cần." Năm ngồi đây đi cháu. Sao, nói chuyện nước ngoài cho bác nghe đi. Cháu mần công việc chi ở bên đó?"
Hắn đâu có bụng dạ ngồi kể chuyện nước ngoài cho mấy bà già trầu nghe, dù bà ấy là bạn thân với má hắn. Hắn sang đây chỉ vì nể lời má hắn ép sang, nhưng đã sang rồi thì cũng muốn coi mặt cô con gái bà Chín xem ra sao. Tuy nhiên, chưa coi hắn cũng cảm thấy việc không thành rồi. Băm mấy thì không được. Về Việt Nam để lấy thứ băm mấy, thà chết già ở Mỹ sướng hơn. Hắn đã có thành kiến với những người đàn bà lớn tuổi, thành kiến ấy càng trở nên bất di bất dịch vì đám bạn bè như anh Tư thổi vào đầu hắn.
"Cháu làm Mê-nê-dơ cho hãng sản xuất sắt, thép thưa bác. Công việc này cháu đã làm hơn chục năm rồi."
Bà Chín tươi cười:
"Làm Mê-nê-dơ là làm cái chi hở cháu? Bác với má cháu quanh năm ở đồng quê đâu biết chữ Anh.
"Mê-nê-dơ là trông coi thợ thuyền đấy bác. Cháu coi khoảng năm chục người, hết hơn bốn chục là người Mỹ, Mỹ đen có, Mỹ trắng có, Mễ có, Việt Nam, Đại Hàn có..."
Bà Chín chắc lưỡi xuýt xoa:
"Chu choa. Cháu giỏi quá héng. Má cháu tha hồ được nhờ. Lâu lâu về thăm nhà cho má cháu vui, Năm à!"
"Dạ..."
Hắn tỏ ra thờ ở với những câu hỏi của bà Chín. Hắn chỉ mong cô con gái bà Chín ra để hắn ngó một cái, rồi về. Vậy thôi. Chứ chắc chắn tuổi đó không lấy được. Nãy giờ chạy qua chạy lại để bà Chín sai vặt là mấy đứa con gái nhỏ, con hay cháu bà Chín hắn không biết vì bà Chín chỉ kêu chúng bằng tên.
Hắn vừa ăn xong một cái bánh hoa hồng cho phải phép chủ nhà mời mọc ráo riết quá, cảm thấy ở nhà quê mà bánh làm cũng ngon, bột bánh dẻo, mềm, nhân thơm ngon đậm đà lại có chút dầu cà cuống rất đúng điệu thì nghe bà Chín gọi cô con gái cưng:
"Liễu đâu con? Con ra chào bác Tám với anh Năm sang chơi đi con."
Bà Chín phải gọi đến lần thứ hai mới thấy cô con gái ra. Cô mặc một bộ đồ bà ba đen, tóc uốn tử tế, mặt mày xinh xắn, nhất là cái miệng có duyên và đôi mắt ngó ngay, trong sáng. Dáng dấp cô có eo có co đàng hoàng, người không cao không thấp, tóm lại nhan sắc cô trên trung bình đối với gái quê. Cô nở một nụ cười dịu dàng nhìn bà Tám với cái nhìn rất quí mến, thân thiết lâu ngày:
"Con chào bác Tám. Bác Tám sang chơi."
Cô e lệ không dám nhìn hắn trong khi hắn ngó chằm chằm vào mặt cô gái để đánh giá xem đẹp, xấu, trẻ, già. Cô đang bối rối chưa biết đối xử ra sao thì bà Tám vời cô lại, vẻ âu yếm:
"Liễu ngồi đây với bác. "Rồi bà quay sang bà Chín:" Nó thứ mấy vậy bà, kêu Liễu, Liễu thành ra tui đâu có biết nó thứ mấy."
Bà Chín sắp lại vài cái bánh trên đĩa:
"Nó thứ Tám đó. Nhưng từ hồi đi dạy tiểu học, học trò cứ gọi nó bằng tên thiệt chứ không gọi thứ. Riết rồi ở nhà cũng quen miệng gọi vậy."
Liễu đứng lên cầm dao xẻ bánh và đặt vào mỗi chiếc đĩa nhỏ một miếng bánh bông lang. Cô bê đĩa bánh đến từng người. Bà Chín vừa mời bà Tám và hắn, vừa nói:
"Bánh nầy con Liễu làm hết đấy bà. Từ hồi mười, mười hai tuổi nó đã mê nữ công, gia chánh, đi học hết lớp này đến lớp kia, về nhà là mua vật liệu thực tập, hư ăn không được phải đổ. Như cái bánh hoa hồng này, nó làm năm lầm bẩy lượt mới ra thế này đó. Bánh bông lang dễ hơn nhưng mua cho đủ bột, đường, bơ, bột nổi để làm nhiều khi cũng khó. Có tiền mà không có vật liệu. Bà Tám với cháu Năm dùng nhiều đi..
Lúc Liễu trao đĩa bánh cho hắn, hắn thử toét miệng cười với Liễu nhưng Liễu chỉ mỉm một nụ cười nhẹ nhàng, đứng đắn. Liễu không thích bọn con trai bờm xơm, thô bạo.
Bà Tám trầm trồ:
"Bánh Liễu làm bác ăn ngon lắm. Có lẽ ngon hơn bánh Tấn Thành hiệu con trâu xanh ở Mỹ Tho nữa. Chừng nào con hưỡn, sang chỉ cho Bẩy và Tám con bác chúng biết làm nữa với."
Liễu chỉ nhẹ nhàng "Dạ" nhỏ trong miệng, nhưng bà Tám nghĩ tiếp, con nhỏ về làm dâu bà thì có thiếu gì cơ hội nó làm bánh cho bà ăn và dạy mấy đứa em chồng. Cùng lối xóm sớm tối gặp nhau nhưng bà Tám đâu dè con nhỏ khéo tay đến vậy. Chẳng gì Liễu cũng đang là một cô giáo tiểu học, đã có bằng Trung học đệ nhất cấp từ hồi xưa, được tiếng trong vùng là cô giáo tận tâm, dạy giỏi và được học sinh rất quí mến.
Mọi ngày Liễu ăn mặc xuềnh xoàng đi dạy, bà Tám đâu có thấy Liễu đẹp, hôm nay Liễu trưng diện lên trông Liễu chỉ chừng hăm lăm, hăm sáu. Bà Tám coi chân cẳng Liễu, đoán Liễu sẽ tốt con. Không cần đẻ nhiều, chỉ vài ba đứa nhưng giòng giống mẹ có tốt, con mới tốt, mới thông minh, học giỏi nên người.
So ra, bà Tám thấy Liễu có vẻ còn trội hơn con bà nữa. Thằng Năm chỉ có cái mã Việt kiều, chớ tuổi thì đã cứng, bốn chục còn gì. Mặt mày trông có lanh nhưng là cái lanh thủ đoạn, ăn người, không có những nét đằm thắm, đôn hậu như Liễu.
Ngồi nhìn hết con trai đến Liễu, đến nhà cửa ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ; nhìn những đĩa bánh tinh khiết, thơm ngon, xếp đặt khéo léo chứng tỏ cái người làm ra chúng cũng khéo léo, cẩn thận, sắp đặt đâu ra đó, bà Tám thầm cầu Trời khấn Phật cho thằng con trai xiêu lòng vì những ưu điểm của Liễu mà sang hỏi Liễu làm vợ.
Bà cũng ngại một điều khác. Cùng lối xóm biết nhau đã mấy chục năm nay, thân thiết như trong họ mạc, vui buồn có nhau như bà Chín với bà, sang coi mắt con người ta là cả làng, cả xóm đều hay, rồi lại đi lấy người khác, cưới cô khác, mang lại sự bẽ bàng cho người ta thì mặt mũi nào nhìn nhau. Cái khổ là ở chỗ đó. Thí dụ như không sang chơi nhà người ta kia, thì sao cũng dễ. Sang thế này chỉ để ngó mặt một cái rồi về, bắt người ta sửa soạn bánh trái, dọn dẹp nhà cửa rồi chẳng lấy, làm mất duyên con gái người ta, thiệt bà Tám không muốn chuyện đó xảy ra một chút nào.
Sau hai tuần trà và đã thưởng thức đủ các loại bánh, bà Tám đứng lên kiếu từ ra về.
Trước khi ra khỏi cửa, hắn còn cố ngoái lại nhìn Liễu một lần nữa. Hắn thầm công nhận Liễu xinh, dễ thương và có nhiều tài về tề gia nội trợ. Nhưng chỉ có một điều làm hắn bứt rứt: Liễu đã băm mấy rồi. Giả sử cũng con người đó, diện mạo tính tình đó mà lấy bớt đi được hơn chục tuổi, chỉ còn để lại khoảng 20, 22 là cùng thì đẹp biết mấy. Mười sáu, mười bẩy thì không dám mơ vì tưổi hắn cũng đã bốn chục.
Sau mấy ngày ở nhà, dò ý mấy người chị dâu cũng như mấy đứa em gái, hắn biết không thể nào lấy gái 16, 17 được. Thật quá uổng, hắn chặc lưỡi tiếc rẻ. Chỉ tội cái tưổi lớn mà không ưng chứ nếu hăm mấy thì còn gì bằng.
Về tới nhà, câu đầu tiên chị Ba, chị dâu hắn và nhỏ Sáu, em gái, hỏi hắn là:
"Sao chú Năm, coi cô Liễu được hông? Đẹp và ngoan nhất xóm và cả vùng này nữa đó. Cô giáo tiểu học lương ít nhưng ít nữa theo chú sang Hoa Kỳ thì có sao đâu."
Hắn thở dài ì ì ngồi xuống chiếc ghế sa-lông có vẻ chán nản. Chị Ba ngó hắn coi bộ không êm liền nói:
"Gái quê thì chỉ có vậy thôi, đâu văn minh như đầm Mỹ được nhưng là người làm ăn, chăm chỉ, chồng con được nhờ chứ chồng không phải hầu hạ như đầm Mỹ.
Việt kiều về nói chị mới biết, nhiều thanh niên Việt lấy vợ Mỹ khóc dở mếu dở. Nó chỉ biết ăn rồi nằm chờ chồng đi làm về đưa tiền cho nó đi sắm sửa, tiêu pha. Nó đâu có chịu cực, chịu thiếu thốn như người Việt mình. Các cụ mình gọi là "hạng ăn sẵn, nằm ngửa" đấy..."
Bà Tám đang đi từ nhà bếp đi lên. Từ lúc về, bà chưa có dịp hỏi ý kiến Năm xem ra sao.
Chị Ba thấy bà Tám thì nín khe, chị biết chị không nên có ý kiến về việc trăm năm của em chồng. Hay không được tiếng khen, dở bị đổ thừa thì khổ. Ý chị và các cô em chồng như Sáu, Bẩy, Tám đều tán thành Năm lấy Liễu. Tuy cùng bạn đàn bà cả nhưng chị Ba thấy Liễu rất được người, được nết. Thiếu gì người đến mai mối, nhòm ngó Liễu cho con, cho em người ta nhưng hình như bà Chín và cả nhà chỉ thích cho Liễu lấy một Việt kiều. Việt kiều ở Úc, ở Pháp, Canada, Nhật Bản, Phần Lan, Thụy Điển đều được hết nhưng ở Mỹ thì quí hơn vì nghe người ta đồn ở Mỹ dễ làm ăn hơn.
Năm được biệt đãi hơn những người khác là vì Năm đang sinh sống tại Mỹ, đúng ý muốn của cả nhà bà Chín, lại là con trai bà Tám lối xóm, hai bà đã đều biết tính tình nhau thì mọi việc coi như xong 90% rồi.
Mười phần trăm còn lại để dành cho Năm. Hắn gật đầu một cái là xong liền.
Bà Tám ngồi xuống chiếc ghế sa-lông bằng gỗ ở phòng khách đối diện với Năm trong lúc Năm đang cầm tờ báo. Tờ báo lớn che khuất cái mặt của Năm mà chỉ thấy hai bàn tay hắn đang giương tờ báo cho cao để nhìn vào. Chẳng biết hắn có đọc thật hay chỉ làm cái cớ để tránh những câu hỏi của bà Tám về vụ vừa xong mà hắn biết chắc thế nào cũng có.
"Mầy, coi con nhỏ ra sao, hả Năm? Bà Tám bắt đầu nhè nhẹ. Hắn vẫn không bỏ tờ báo xuống nhưng làm bộ chăm chú đọc:
"Con nhỏ nào hả má?"
"Xời ơi, mầy như người trên cung trăng. Con Liễu con bà Chín tao với mầy vừa đi coi mắt đấy, còn con nhỏ nào nữa."
Hắn thở ra:
"Gì cũng được hết nhưng chỉ mỗi tội..."
"Tội gì hả mậy?" Bà Tám có vẻ hơi cáu, giọng bà có cường độ.
Mắt hắn vẫn không rời tờ báo:
"Già quá!"
Bà Tám la lên, bà giận thằng con thiệt tình:
"Chèng đéc ơi, con người ta trẻ trung, xinh đẹp, khéo léo hết cỡ như vậy mà mầy còn chê. Nữ công gia chánh, đức hạnh,
học vấn, cái gì cũng trội, cũng trên trung bình rất nhiều mà mầy chưa vừa lòng thì tao không biết mầy còn kén đứa nào ngon hơn. Mầy nhìn lại mầy, xem mầy bao nhiêu tuổi rồi? Tao chưa hỏi kỹ bà Chín nhưng ít ra mầy cũng hơn nó cả chục."
Hắn vẫn dán mắt vào tờ báo. Bà già đâu có hiểu những lý lẽ của hắn, những lý lẽ mà anh Tư cũng như nhiều bạn trai độc thân bên Hoa Kỳ chủ trương và chỉ vẽ cho hắn.
Hắn chợt nhớ đến ông cụ Chuẩn nào đó. Phải cho bà già hay may ra bà già mới "đổi mới tư duy" được, cái danh từ hắn vừa đọc được trong báo:
"Con nói má hay. Tỉnh con ở bển có ông già gần tám chục mà về Việt Nam cưới bà vợ mới năm mấy. Trẻ ơi là trẻ. Chẳng gì con cũng chỉ nửa số tuổi của ổng lấy vợ băm mấy thì thà ở giá cho rồi."
Bà Tám nổi sùng lên:
"Mầy tưởng mấy con mẻ, lấy mấy ông già Việt kiều góa vợ mà ngon à?
Mấy mẻ chỉ cốt lấy tiền với lại có dịp ra nước ngoài rồi bảo lãnh con cái, bầu đoàn the tử qua thôi. Tình nghĩa gì mấy con mẻ. Tao nói không đúng cứ gọi là tao nằm cho thiên hạ đánh bằng chổi chà. Bây giờ mầy lại đi bắt chước mấy thằng cha già dại gái đó sao?"
Hai mẹ con bà Tám vừa lời qua tiếng lại tới đó thì anh Hai về tới. Nãy giờ đứng ở phòng trong, anh Hai đã nghe má và Năm tranh luận và đã hiểu rõ ngọn ngành. Vốn trọng tự do cá nhân, Hai bước ra phòng khách:
"Thôi má à. Việc trăm năm của chú Năm cứ để cho chú quyết định. Nó bốn chục tuổi đầu rồi, phải 18, đôi mươi gì còn non dại mà má và cả nhà phải xía vô. Chú thích lấy ai thì cứ để chú lấy."
Bà Tám không biết nói sao hơn. Bà vừa tiếc cô con dâu hụt tài sắc vẹn toàn, vừa ngại ngùng khi nghĩ đến phải ăn nói làm sao với bà Chín đã biệt đãi thằng con trai của bà thật ra không xứng đáng tí nào với Liễu.
*
Năm ở lại Việt Nam đến hai tháng vì quyết chí phải lấy bằng được cô vợ rồi mới trở lại Mỹ. Lẽ ra hắn đâu có được đi lâu như thế vì làm việc lau chùi, dọn dẹp cái Siêu thị Mỹ này mới được hơn chục năm, tuy có vacation nhưng mới được ba tuần mỗi năm. Hắn phải nói với ông Mike, manager, mới được nghỉ không lương 5 tuần nữa.
Sau đám coi mắt Liễu không nên chuyện, Năm chưa dám giục bà già đi coi những đám khác vì coi bộ bà Tám còn "kết" Liễu lắm. Bà không nói thẳng với hắn nhưng cứ xuýt xoa với con dâu, con gái là bà tiếc Liễu quá. Cái con bé thiệt ngộ, thiệt giỏi, thiệt đảm đang mà nó chê. Chắc nó lấy công chúa bên Tàu!
Thời may có một người mối manh đến vào lúc Năm đã ở nhà được một tháng.
Bà này tên Ngọ, vốn xưa kia có quen biết với bà Tám nhưng lâu ngày bẵng đi hai bên không giao thiệp. Bà Ngọ nghe người ta đồn bà Tám có cậu con trai Việt kiều về Việt Nam kén vợ, bà liền đến thăm bà Tám. Sau những câu hỏi xã giao thường xuyên, bà Ngọ đi vào đề liền. Rằng bà có cô cháu gái kêu bằng dì, con người em ruột, xinh xắn dễ thương lắm, bà muốn làm mai cho con trai bà Tám. Câu đầu tiên bà Tám hỏi bà Ngọ về người con gái là: "Con nhỏ năm nay bao nhiêu tuổi?" Bà Ngọ đáp: "Nó khoảng 20, 21 gì đó, trẻ măng à." Bà Tám nghe được thì mừng thầm, bà nghĩ bụng chuyến này thằng con trai khó tính của bà ắt sẽ hài lòng.
Hai hôm sau, bà Tám y hẹn đưa Năm đến coi mắt cô gái. Trước khi đi hắn đã hỏi kỹ lưỡng bà Tám là cô gái bao nhiêu tuổi và bà Tám cứ theo lời người mai mối nói con nhỏ mới 20, 21. Trái với đám coi mắt Liễu, nhà gái chẳng sửa soạn gì nên nhà cửa bùm xùm như gánh hát, người lớn, con nít đông đặc trong một căn nhà nhỏ xíu chỗ ngồi không đủ. Tiếng con nít la khóc át cả tiếng nói chuyện của người lớn. Cô gái tên Diệu Anh bưng khay trà ra mời, ngỏn ngoẻn chào bà Ngọ là dì, chào bà Tám là bác và liếc mắt đưa tình với hắn làm hắn tràn ngập sung sướng.
Diệu Anh coi bộ lanh chứ không thùy mị như Liễu. Cô ta mời trà xong vào phòng trong còn nghe mấy đứa em đứa cháu cười khúc khích nói to với nhau: "Ê, chị Diệu Anh, đừng đứng nhìn trộm anh rể của em đấy nhé."
Bà Tám, bà Ngọ, ba má Diệu Anh và Năm ngồi ở phòng khách đều nghe nhưng chuyện con nít con nôi trửng dỡn với nhau, có chi phải để ý?
Đám cưới được tổ chức cấp tốc để cô dâu chú rể có vài tuần trăng mật, trước khi Năm phải trở lại Mỹ. Bà Chín và gia đình được mời nhưng không ai đến dự. Đêm tân hôn, Năm khám phá chẳng những Diệu Anh không còn con gái mà lại là một người đàn bà rất thành thạo việc phòng the khiến Năm cảm thấy thất vọng ngay từ giây phút đầu của của cuộc sống vợ chồng.
*****
California ngày...tháng...năm 1995
Má yêu quí của con,
Năm con xin có lời về kính thăm sức khỏe của má và cả nhà. Sau đây con xin tường thuật lại để má biết những nỗi khổ của con từ ngày con đưa Diệu Anh sang đây.
Má cũng rõ gia đình ba má Diệu Anh - ông bà Tiếng-luôn luôn chỉ biết có tiền. Họ nghĩ con hái ra đô - la ở bên này nên trong hai năm qua, hết Diệu Anh đến ông bà Tiếng, luôn luôn gửi thư cho con và thư nào cũng hỏi tiền.
Thú thật với má, con chưa gởi giúp má và gia đình được 5 ngàn đồng bạc, nhưng con đã phải xoay xở để gởi ba má Diệu Anh 8 ngàn đô - la.
Để lo giấy tờ thủ tục cho Diệu Anh qua đây con phải đóng tiền cho luật sư hai ngàn, chi phí máy bay và tiền đi đường cho Diệu Anh vài ngàn nữa, sang đây con lại phải mướn nhà riêng cho thoải mái, chứ đâu có còn "se" phòng với anh chị Tư như trước. Tiền tháng trước tháng sau, tiền mua sofa, tủ lạnh, bàn ăn... rồi lại sắm cho Diệu Anh chiếc Toyota để cô ta đi học Anh ngữ, đặng sau này học nghề, đi làm... con đâm thiếu nợ lung tung đến nỗi phải đổi chiếc Lexus của con lấy cái Buick đặng có dư thêm ra 5 ngàn trả nợ. Mọi khi con chỉ trả mỗi tháng 350 đô - la tiền nhà, nay hai vợ chồng phải mướn riêng áp-pác-mân một phòng ngủ mất 650 đồng/tháng cộng thêm tiền điện, nước, điện thoại...
Má ơi, số tiền con chi tiêu như thế cho con và Diệu Anh, con thiệt không phàn nàn vì đi làm cho có tiền để tiêu. Điều đáng phàn nàn ở đây là con và Diệu Anh chẳng hợp tính, hợp tình, làm như Diệu Anh ưng lấy con chỉ vì muốn đi Mỹ mà thôi. Diệu Anh đi học Anh ngữ được sáu tháng thì sanh chứng đi sớm về trễ, nhiều khi lại có con trai gọi phôn đến nhà nữa. Con gặng hỏi thì nó nói chỉ là bạn. Diệu Anh cũng ăn diện se sua hơn trước rất nhiều, quần áo, đầu tóc, móng tay, móng chưn y như đào xi-nê. Tiền bạc thì đòi kiểm soát lương bổng và cuốn sổ nhà băng của con. Con không để cho Diệu Anh tự ý tiêu pha, mua sắm, gửi về gia đình ở Việt Nam là có chuyện. Vợ chồng lại gây gổ, gấu ó, giận hờn cả tuần. Diệu Anh lúc cãi vã còn nói nếu cổ biết con chỉ làm janitor thì không bao giờ lấy, làm như con dối gạt nó vậy.
Cách đây hai tuần, sau một trận cãi vã long trời lở đất vì một chuyện không đâu. Diệu Anh bỏ nhà ra đi sau khi bị con cho một cái bạt tai. Nó bảo nó sẽ lấy giấy chứng thương và đệ đơn ra tòa xin ly dị. Từ hôm đó nó không về nhà mà con cũng chả buồn đi kiếm. Con tiếc không nghe lời má và cả nhà nên đã bỏ mất cô Liễu. Hiện con đang sống trong lo âu thắc thỏm, chưa biết những gì ghê gớm sẽ còn xảy ra cho con. Tuy nhiên con xin má và gia đình an lòng, đừng quá lo cho con. Chuyện gì rồi con cũng sẽ đối phó được, lướt thắng được. Con đã tự bảo con thế.
Kính thư
Con trai của má,
Huỳnh văn Trượng tự Năm
Chị Ba được bà Tám cho bóc thư và đọc bà nghe vì Sáu, Bảy, Tám đều đi vắng.
Nghe tới đâu bà giận Năm tới đó, tiếc thằng con trai điên khùng học thói mấy ông già chơi trống bỏi. Bà lo cho Năm còn vụ kiện ly dị chia của cải và phải cấp dưỡng sau này đến mãn đời.
"May mà hai đứa chưa có con cái với nhau." Bà lẩm bẩm một mình, "chứ có cái nòi giống lăng loàn, trời đánh ấy vào chỉ khổ thân thôi."
Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC
(Trích Tuyển Tập Những Con Dốc Ðứng, xuất bản 1999)

Câu chuyện Di cư vào Miền Nam của tôi


Hồi tưởng của : Đoàn Thanh Liêm


 Nhân đọc cuốn “ 20 Năm Miền Nam 1955 – 1975 “ của tác giả Nguyễn Văn Lục, mà đã được giời thiệu với công chúng từ năm 2010 - tôi nhớ lại chuyện Di cư vào Miền Nam của bản thân mình, và xin được ghi lại một số chi tiết như sau đây.
Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng tú tài 2 qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hanoi, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Bùi chu Xuân trường Nam định để ra Hải phòng bằng đường thủy. Và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách đi theo đoàn quân để tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng yên sát với mỏ than Hòn gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hanoi đến Hải phòng để tìm bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể.

Trước khi rời Hanoi, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận Đã Thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, mà đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới cấp cho tôi một “Giấy Chúng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi. Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn.

Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích phiêu lưu mạo hiểm của tuổi trẻ - nhưng phần lớn là do động cơ thúc đảy bởi cái chuyện “ phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “, mà đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc. Tôi phải ở lại thành phố Hải phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Saigon hồi giữa tháng 8.

Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi?

 Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 - 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa mà sớm ra được tới Hải phòng để đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi ít lâu sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với tiện nghi thoải mái hơn.

Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Saigon. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Gallieni), gần với Chợ Bến Thành. Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ từ giàn “cốt pha” (coffrage) - để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Saigon, mà làm cho tôi cứ nhớ hoài.

Chúng tôi được mấy bà con đến được Saigon vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hanoi hay từ Nam Định mà đến đây trước ít lâu, như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng …, các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ.
Sau mấy bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đày đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nhỏ để chi tiêu lặt vặt. Có lần chúng tôi lại được tiếp đón Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa.

 Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong đợi của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi.

Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Saigon cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nhiều và vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, mà có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú gần Chợ Bến Thành. Thật là một kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi nơi miền đất mới lạ Saigon này.

 Cuối cùng, thì vào khoảng tháng 3 năm 1955, sau Tết Âm lịch bọn chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng ở khu Ngã Sáu Chợ Lớn mà vừa mới được xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đày đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước… Và cứ như vậy cuộc sống của lớp người trẻ chúng tôi lần hồi được tổ chức ổn định để có thể tiếp tục việc học tập và hòa nhập được với nền nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình.

Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Và rất nhiều các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình anh chị em chúng tôi đều đã thành đạt tại đây. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời.
* * *
Năm 2012 này, nhân dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2012), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên vốn là một phần tử trong khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản thời đó - mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam.

Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư lớn lao của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác – tất cả đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó. Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy./

Costa Mesa California, Mùa Vu Lan Nhâm Thìn 2012
Đoàn Thanh Liêm

Bài Xem Nhiều