We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 27 September 2012

Tin Vui Con C**: Đi Khắp Nước Việt

Toàn văn lá thư của Con C** gửi trung tá Vũ Văn Hiển

Các bạn trong thôn thân mến,

Phát biểu của Trung tá công an Vũ Văn Hiển đã tạo nên một nguồn phẫn nộ trong dư luận. Chưa bao giờ chúng ta phải đối diện và phải đăng những bản tin, viết lên những lời phản hồi, nhận định liên hệ đến sự kiện này một cách vừa bức xúc, vừa trong tâm trạng chẳng đặng đừng như thế. Bài viết cũng đã được gửi đến các bạn trong thôn với tâm trạng đó.
*


THƯ CẢM TẠ

Kính gửi Trung tá Vũ Văn Hiển, phó công an phường 6 quận 3 thành phố Hồ Chí Minh.

Thưa Trung tá,

Lời đầu tiên, cho phép tôi được tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc đến Trung tá, người đã vinh danh tôi với hơn 80 triệu người Việt Nam trong nước và nước ngoài trong ngày hôm qua, 24 tháng Chín năm 2012. Xin Trung tá cho tôi được tự giới thiệu mình, tôi: CON CẶC. Dạ, nhiều người bảo như thế là tục tĩu, nhưng tôi biết nói thế nào thưa Trung tá, khi mọi người đều gọi tôi như vậy.

Mặc dù tôi là một cơ quan sinh dục, thực hiện chức năng bài tiết, chức năng truyền giống, giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của loài người, nhưng không phải ai ai cũng tôn trọng tôi đúng với vai trò của mình. Khi giận, người ta gào vào mặt nhau: CON CẶC! Khi khinh bỉ, người ta nhổ vào mặt nhau: CON CẶC! Để chửi một thằng tồi, người ta bảo: CÁI THẰNG CẶC! Làm ăn tệ lậu như Vinashin, người ta bảo: LÀM ĂN NHƯ CẶC! Và còn hàng khối câu cửa miệng khác với giọng điệu coi thường tôi lắm, thưa Trung tá. Trong khi tôi, CON CẶC, không xấu xí, đê tiện, tồi mạt, kém cỏi như những kẻ bị ví von.

Ngược lại, cũng có những người tung hô tôi một cách quá đà, thưa Trung tá. Họ gọi tôi là Ngọc Hành, là Của Quý. Cũng có người đặt tên tôi dễ thương: Cậu Nhỏ, nghe cứ như Hoàng tử bé vậy đó. Rồi bao nhiêu người, vì nghe lời báo lá cải, vì tin vào kinh nghiệm truyền miệng trên lauxanh.us mà nỗ lực không ngừng để cải thiện vóc dáng của tôi. Họ còn giết tê giác lấy sừng, nấu ngẩu pín dê, ăn tay gấu… và đổ lỗi là vì tôi mà họ phải tàn ác với thú vật như vậy.

Nhưng dù họ có nâng niu tôi, hay chà đạp tôi, cũng không ai tôn trọng tôi cho bằng Trung tá cả. Trung tá đã nâng tôi lên một tầm cao mới, một tầm cao mà ai ai cũng nỗ lực để có được. Giữa trụ sở công an phường 6 quận 3 trước mặt đông đảo mọi người, cấp dưới của mình, Trung tá đã thét lên lời thét đầy uy lực: Tự do cái Con Cặc! Vâng, đây chính là lời thét vĩ đại nhất nhằm vinh danh mình mà tôi từng biết đến, thưa Trung tá.

Tự do! Hai chữ đó mới quý giá làm sao! Người ta đã đổ bao nhiêu xương máu để dành lấy tự do từ cường quyền, bạo chúa, từ độc tài, phát xít. Thưa Ngài, người Pháp chọn Tự do là từ đầu tiên trong ba tiêu chí: Tự do – Bình đẳng – Bác ái, và vì vậy mà họ chọn quốc kỳ của họ có ba màu Xanh – Trắng – Đỏ. Tự do là một trong ba từ mà chúng ta viết phía dưới quốc hiệu. Tự do là từ mà ông Hồ Chí Minh đã trích từ tuyên ngôn của nước Mỹ khi ông ta đọc tuyên ngôn độc lập ở Ba Đình năm 1945. Và tôi cũng nghĩ rằng, nếu ngày đó ông Hồ không nhân danh tự do, thì chắc gì hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu cho cái gọi là “cách mạng” ấy.

Tự do là điều mà – ngay khi Trung tá xưng tụng tôi, hét vào mặt vợ cũ của ông Nguyễn Văn Hải, thì tại tòa án – ông Hải đã đổi lấy 12 năm tù giam, bà Tạ Phong Tần phải đổi lấy 10 năm tù giam, chưa kể những năm quản chế sau khi mãn hạn.

Thưa Trung tá, tôi không biết lấy gì để đền ơn Trung tá vì những lời có cánh mà Trung tá đã dành cho tôi. Thực hiện theo khẩu hiệu mà Trung tá nêu ra, các bạn trẻ trên facebook đã thi nhau thay hai chữ Tự Do bằng tên của tôi. Họ nói: không có gì quý hơn độc lập Con Cặc, Con Cặc – Bình Đẳng – Bác Ái, Hiệp định thương mại con cặc (FTA – có lẽ sẽ đổi thành DTA (dick trade agreement) hoặc PTA (penis trade agreement)), rồi chưa kể đến các quyền như quyền con cặc đi lại, quyền con cặc ngôn luận, quyền con cặc kết hôn, quyền con cặc biểu tình… Nhiều đến mức tôi thiết nghĩ họ phải có một từ mới: cặc quyền!

Thôi, dù tôi có kể ra bao nhiêu cũng không sánh hết được công lao trời bể của Trung tá. Và đêm đã khuya, thư đã dài, tôi còn phải vào với ông chủ để vui vẻ với bà chủ. Tôi xin dừng bút tại đây. Cuối thư, không có gì hơn, xin chúc Trung tá và gia đình sống vui vẻ, mạnh khỏe trong con cặc, hạnh phúc.

Nay kính thư,

CON CẶC

Thông-Điệp Bí Mật Của Bánh Trung-Thu

 
Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên soạn)
Người Việt-Nam xưa chia thời-gian trong năm làm bốn mùa: Xuân-phân, Hạ-chí, Thu-Phân và Đông-chí, họ dựa theo chu-kỳ vũ-trụ của âm và dương. Thu-phân thường rơi vào tháng tám âm-lịch theo nguyên-lý của khí Trời tối-tăm và lạnh-lẽo.

Rằm (15) tháng 8; đúng vào thời-điểm giữa ba tháng của mùa Thu; bầu Trời trong sáng dưới ánh trăng tròn rực rỡ. Đó chính là ngày Tết Trung-Thu.

Theo “Từ-Điển Bách-Khoa-Toàn-Thư”:

“…Tết Trung-Thu có nguồn gốc văn-minh lúa nước; khởi nguồn từ đồng-bằng sông Hồng. Thời điểm này khí trời mát-mẻ, mùa-màng đang chờ thu-hoạch. Nông-dân nghỉ-ngơi và vui chơi sau một vụ mùa. Theo các nhà khảo-cổ-học thì Tết Trung-Thu ở Việt-Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt Trống-Đồng-Ngọc-Lũ. Sau này người Hoa tiếp nhận từ văn-hóa Việt và sau đó phổ-biến thành ngày lễ truyền-thống của các dân tộc Đông-Á như Hàn-Quốc, Nhật-Bản. Thời nhà Hán, khi đã chiếm Trung-Nguyên và Nam-Dương-Tử; họ du-nhập luôn những nét văn-minh gốc nông-nghiệp của người Việt; bởi vốn-dĩ văn-minh Hán cũng là du-mục và trồng khô…” (Ngưng trích.)

Người Trung-Hoa cổ-đại thì cho rằng Tết Trung-Thu bắt nguồn từ thời Xuân-Thu. Tuy vậy, trước đời Đường văn-tự chưa phát-triển, sử sách viết về Tết Trung-Thu không nhiều lắm. Sau này nhờ nhiều thi-sĩ hoặc văn-nhân để lại những bài thơ hoặc tác-phẩm, người đời mới biết được truyền-thuyết và tập-tục của nó. Từ đó Tết Trung-Thu trở thành ngày lễ cố định hàng năm.
Hình tết Trung-Thu xưa tại Việt-Nam trong bộ sưu tập của: Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (École Francaise d Extrême - Orient).
Trung-Thu vốn là nguồn cảm hứng lớn cho các thi-sĩ từ xưa đến nay, trong đó có nhà thơ đời Đường Đỗ-Phủ:

“Thu cảnh kim tiêu bán
Thiên cao nguyệt bội minh
Nam lâu thùy yến hưởng
Ty trúc tấu thanh thanh”
Được Thái-Giang dịch-nghĩa là:
“Cảnh thu nay đúng nửa rồi
Trăng thu thêm sáng, khung trời thêm cao
Lầu nam ai rót rượu đào
Tiếng tơ, tiếng trúc thanh tao nhịp nhàng”.

Nhà thơ Tản-Đà Nguyễn-Khắc-Hiếu cũng nhắc đến ngày Trung-Thu qua những giòng thơ:

“Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.
Hình ảnh Hát Trống Quân ở miền Bắc Việt-Nam.
Chuyện cổ-tích ngày xửa, ngày xưa còn kể rằng vua Đường Minh Hoàng trị-vì ở Trung-Quốc vào thế-kỷ thứ VIII (713-741 tây-lịch) dạo chơi vườn Ngự-Uyển trong đêm rằm tháng tám âm lịch; có trăng rất tròn, trong sáng. Trời thật đẹp hòa theo không khí mát mẻ, vua đang thưởng-thức cảnh đẹp thì gặp đạo-sĩ La-Công-Viễn còn được gọi là Diệp-Pháp-Thiện. Người có phép tiên tung lên Trời chiếc gậy thần biến thành một chiếc cầu vĩ-đại lấp lánh màu bạc để đưa nhà vua lên cung trăng dạo chơi.Đến một nơi khác hẳn chốn giang-trần; đi được vài bước, hai người đến trước một cung-điện nguy-nga.Phía trên các cửa có chạm chữ vàng: “Cung Quảng Hàn”.Vua hân-hoan thưởng-thức cảnh giới lạ thường; du-dương với âm-thanh ánh-sáng huyền-diệu cùng các nàng tiên tha-thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát.Trong giờ phút tuyệt-vời ấy nhà vua quên cả Trời gần sáng.Đạo sĩ phải nhắc, Đường-Minh-Hoàng mới ra về nhưng trong lòng vẫn bồi-hồi luyến tiếc không nguôi.

Trở lại trần-gian, vua còn vấn-vương cảnh tiên nên đã cho chế ra “Khúc-Nghê-Thường-Vũ-Y” và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân-gian tổ-chức rước đèn cùng bày cỗ ăn mừng; trong khi nhà vua cùng với Dương-Quí-Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần “Du-Nguyệt-Điện” kỳ-diệu của mình. Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm-lịch là do ở điển-tích về sinh-nhật của vua Đường-Minh-Hoàng; từ đó, việc tổ chức trong ngày này đã trở thành phong-tục của dân-gian.

Người Việt-Nam xưa cũng dựa vào màu sắc cùng dáng vẻ của mặt trăng mà đoán trước tương-lai của vận-mệnh đất nước: nếu trăng sáng vằng-vặc thì nông-dân sẽ được bội thu trong mùa vụ. Trăng màu vàng: tằm sẽ nhả nhiều tơ, cả nước sẽ sống trong thái-bình & đức-hạnh. Nếu trăng chuyển sang màu xanh hay màu lam: sẽ có nạn đói. Nếu đêm Trung-Thu ta thấy dường như có một chiếc mũ trên mặt trăng: nhân-gian vui-vẻ, thuận-hòa. Nhưng nếu trăng có chân thì nhà vua sẽ ham mê tửu-sắc. (Nếu đúng như thế thì chắc hẳn những đêm rằm Trung-Thu ở Hoa-Kỳ; từ năm 1995 đến tháng 3, năm 1997 thời ông Bill Clinton làm tổng-thống; mặt trăng ắt phải có chân!...)
Thư của Thương Phế Binh VNCH.
Tết Trung Thu được diễn tả trong Bộ Quốc Sử (Contribution à Ihistoire dAnnam) "Việt Nam Phong Tục" – trích ở Đông-Dương-Tạp-Chí từ số 24 đến số 49 (1913-1914) của tác giả Phan-Kế-Bính đã ghi rằng:

“Rằm tháng 8 là Tết Trung Thu… Thường gọi là Tết trẻ con… Ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Ðầu cỗ là bánh mặt giăng (người Bắc phát-âm mặt trăng là mặt giăng), và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp...


Trẻ con tối hôm ấy, dắt díu nhau từng đàn từng lũ đám thì nhảy vô, đám thì kéo co, đám thì bắt cái hồ khoan, đám thì rước đèn, rước sư-tử, trống, thanh la đánh vang cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa rầm rĩ. Lại nơi nọ hát trống quân, nơi kia hát trống quít, tổng chỉ gọi là cách Trung Thu thưởng nguyệt…


Rước đèn thì do tự đời nhà Tống.Vì tục truyền rằng: trong đời vua Nhân-Tôn, có con cá chép thành yêu, cứ đêm giăng hiện lên là con gái mà đi hại người.Bấy giờ ông Bao-Công mới sức cho dân gian làm đèn con cá giống như hình nó mà đem giong chơi ngoài đường,để cho nó sợ mà không dám hại người nữa.Lời ấy huyền hoặc lắm, vị tất đã thật.


Tục hát trống quân thì do từ đời Nguyễn-Huệ bên ta mới bày ra. Nguyên khi ông đem quân ra Bắc. Quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà. Ông ấy mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái, hát đối đáp với nhau để cho quân sĩ vui lòng mà đỡ nhớ nhà. Có đánh trống làm nhịp, cho nên gọi là trống quân”. (Ngưng trích.)


Theo "Tang Thương Ngẫu Lục", tác-phẩm chữ Hán của hai nhà văn Phạm-Đình-Hổ và Nguyễn- Án viết khoảng cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19, thời vua Lê chúa Trịnh, Tết Trung-Thu được tổ-chức vô cùng xa-hoa trong phủ Chúa.


Còn theo sách “Thái Bình Hoàn Vũ Ký” thì cho rằng: “Người Lạc-Việt cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao-duyên, ưng ý thì lấy nhau”. Như vậy, mùa thu là mùa của thành-hôn.


Riêng học-giả người Pháp: P. Giran cũng từng viết trong “Magie et Religions Annamites, Paris: Challamet, 1912" về Tết Trung-Thu: “… Từ xa xưa, ở Á-Đông người ta đã coi trọng mặt Trăng và mặt Trời, giống như một cặp vợ chồng.Họ quan niệm mặt Trăng chỉ sum họp với mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng).Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng Trăng mãn- nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu-kỳ mới. Do vậy, Trăng là âm tính, chỉ về phái nữ trong đời sống vợ chồng.Trong ngày rằm tháng tám, nàng Trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng Trăng. (Ngưng trích.)

Có những nhân vật trên mặt trăng như Chị Hằng, chú Cuội; đã được nhiều nhạc-sĩ đưa vào âm-nhạc Việt-Nam; trong đó có tác-giả Lê-Thương với bài “Bóng Trăng Trắng Ngà” (…. Có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ…)


Hằng Nga được dân-gian coi là vị thần mặt trăng (nguyệt thần) tức Thái-Âm-Tinh- Quân, một danh-hiệu khác rất dài dành cho chị Hằng trên “Cung-Quản-Hàn” là: “Nguyệt-Cung-Hoàng-Hoa-Tố-Diệu-Nguyên- Tinh-Thánh-Hậu-Thái-Âm-Nguyên-Quân”, hoặc: “Nguyệt-Cung-Thái-Âm-Hoàng- Quân-Hiếu-Đạo-Minh-Vương”.


Hình-ảnh chú Cuội chăn trâu trong các truyền-thuyết được người Việt-Nam đưa lên mặt trăng ngồi gốc cây đa; nhằm chuộc lại những tội đã nói dối dưới gian-trần. Theo giáo-sư ngôn-ngữ-học Việt-Nam: Lê-Ngọc-Trụ, cho rằng chữ "Cuội" có gốc Hán-Việt là chữ "Quải". Chữ "Quải" (từ-điển Thiều-Chửu) hoặc "Quảy" (từ-điển của Đào-Duy-Anh) có nghĩa là "lừa dối, dụ dỗ người khác mua hàng" hoặc "bắt con nít đem bán” (mẹ mìn).


Khi ngắm thăng thu, dân-gian cũng thường tưởng-tượng ra hình ảnh Thỏ-Ngọc; đạo Phật coi đây là biểu tượng của con người lương-thiện, từ-bi.Có người lại cho rằng những con Thỏ này thụ-thai trong khi ngắm trăng. Vì vậy người ta căn cứ vào ánh trăng thu sáng như thế nào thì Thỏ sẽ đẻ con nhiều chừng ấy!Như vậy Thỏ trở nên biểu-tượng cho khả năng đa sinh-sản.


Một hoạt động không thể thiếu được trong phần hội của rằm tháng Tám đó là múa Sư-tử (thực ra là múa Lân vì Sư-tử không có sừng).Người Việt dùng múa Sư-tử trong nhiều lễ hội với những ý nghĩa biểu-trưng khác nhau. Trong cơ-cấu của đội múa gồm có 3 nhân vật: Sư-tử, Tráng-sĩ và ông Địa.Sư-tử là biểu-trưng của Trời: “Thiên”, Tráng-sĩ là Người: “Nhân”, còn ông “Địa” là Đất.Ba nhân-vật không đối kháng mà luôn tạo ra sự phối-hợp: “Thiên-Địa-Nhân”.Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa: đó chính là ước vọng sâu-xa của cư-dân lúa nước Việt-Nam.


Với những người cho là múa Lân thì lại có sự giải-thích khác.Tục truyền, Lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được.Con Lân chỉ xuất hiện khi Thánh-nhân ra đời hoặc thời thịnh-trị. Cho nên, múa Lân trong ngày tết Trung-Thu là cầu mong cho vua sáng, tôi hiền, đất nước thái-bình, hưng-thịnh.Nó chẳng những thể hiện ở ý-thức mà ngay cả trong hành động của dân làng.Lân còn gọi là Kỳ-Lân. Kỳ là tên con đực, Lân là tên con cái.Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: Long (Rồng), Lân, Qui (Rùa), Phụng (Phượng-Hoàng), dân-gian xem Lân là con vật thần-thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng.


Vào lúc xẩm tối rằm tháng tám, tiếng trống múa Sư-tử (múa Lân) náo động các phố-phường, làng xóm.Mỗi đám rước Sư-tử có khoảng mươi - mười lăm người, quần áo một màu đen tuyền, thắt bao lưng xanh đỏ.Ba anh đảm nhận việc đội đầu, cầm đuôi Sư-tử và đánh côn.Mấy người này ít nhiều phải nắm được võ-thuật.Hai người khiêng trống cái, một người cầm chũm-chọe.Những người còn lại đi song hàng hai bên giữ trật-tự, bảo-vệ an-toàn cho đoàn.


Sau khi tuần-hành qua các đường chính, vào lúc trăng sắp lên giữa đỉnh đầu, các phường Sư-tử chia nhau rẽ vào các phố buôn bán giàu có, tìm đến nơi nhà cao cửa rộng. Chọn được gia-chủ có của nổi của chìm, đám rước dừng lại trước cửa để biểu-diễn. Bắt đầu là điệu chào của Sư-tử, tiến thoái đúng lễ-nghi kính-cẩn. Chiếc côn được nâng cả bằng hai tay lễ-phép. Tiếng trống, tiếng chũm-chọe thôi-thúc mạnh-mẽ hơn. Đám rước Sư-tử trổ hết ngón nghề của mình.Trước tấm ''thịnh-tình'' của Sư-tử, gia-chủ đành mở rộng cửa nghênh tiếp. Vợ chồng, con cái, thân thuộc bắc ghế thưởng-ngoạn. Cuối cùng là phần lĩnh tiền thưởng, chấm dứt trò múa chúc tụng đêm rằm. Đôi khi tiền thưởng rất nhiều, nhưng gia-chủ không phát tận tay. Họ dùng một vuông vải đỏ hoặc một tờ giấy hồng điều gói tiền lại rồi treo lên xà nhà. Phường Sư-tử phải công-kênh nhau hai ba người mới trèo lên lấy nổi.


Múa Sư-tử (Lân) đòi hỏi nhiều sức-lực, biết xử-dụng vũ-thuật khéo-léo. Thêm vào đó là đức tính kiên- trì, dũng-cảm, nhanh-nhẹn, tháo-vát.Phải chăng, ở một góc độ nào đó, múa Sư-tử (Lân) đã thể-hiện được tinh-thần thượng-võ của dân-tộc ta lúc hội hè, khi tết nhất?


Theo phong-tục Việt-Nam, vào dịp Tết Trung-Thu, cha mẹ mua hoặc làm đủ các loại đèn lồng thắp bằng nến treo trong nhà rồi cho các con mang đi rước đèn cùng bè bạn. Cỗ bàn gồm: kẹo, đủ loại, trái cây và không thể thiếu: bánh dẻo & bánh nướng... Người Mỹ gọi bánh Trung-Thu là “Mooncake” (bánh Mặt Trăng).


Chúng tôi vừa lược sơ-qua về lịch-sử, phong tục của ngày Rằm tháng Tám.Tháng 9 vừa qua; gia-đình “Chân-Quê” lại có cơ-hội trở về Việt-Nam, tiếp-tục bước đường chia xẻ tình-thương, chuẩn bị trước cho các em bé mồ-côi, hoàn cảnh khó nghèo ở miền Bắc xa-xôi được có cơ-hội mừng tết Trung-Thu 2012. Phát học-bổng và tặng quà cho 40 bé học-sinh nghèo tỉnh Bà-Rịa, Vũng-Tàu (quê nhà của nhạc-sĩ Thái-Nguyên).Thăm nom những người già yếu, bệnh-hoạn dưới sự điều-hành của các Soeur dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái” (Daughters of Charity).


Cảm-động nhất là gia-đình “Chân-Quê” được gặp lại các anh đại-diện của nhiều gia-đình Thương-Phế-Binh Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa đang sống ở Saigon cùng những vùng phụ-cận. Đặc-biệt trong lần này; danh-ca Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế và ca-sĩ Thanh-Hằng cũng góp một bàn tay đến các anh; trong ân-tình chia xẻ nhỏ-nhoi nhằm thắp sáng tình-thương trên những mảnh đời khốn-khó, đang còn phải vất-vả mưu sinh từng tháng, từng ngày bên quê nhà Việt-Nam hôm nay.


Tưởng cũng nên nhắc lại: hơn mười năm qua, Diamond Bích-Ngọc là người được vinh-dự lo cho chuyện “hậu-sự” của các anh lính TPB/VNCH bên nhà. Lo việc tang-chế, mua hòm và đôi khi xây cả bia mộ cho họ. (Chúng tôi không hề kêu gọi quyên góp từ bất-cứ một ai).


Trên đường bay quốc-tế từ Đài-Loan trở về San Francisco, chúng-tôi tìm đọc được trong tạp-chí “Dynasty” – The Inflight Magazine of China Airline số tháng 9, 2012 trang số 15; có đoạn văn với nhan đề “Zhu Yuanzhang and the Mooncake Uprising”. Tạm dịch là: “Thời Chu-Nguyên-Chương và cuộc nổi dậy bằng chiếc bánh Trung-Thu”. Tương-tự như trang báo điện tử “History Cultural of China” hoặc “English Peoples Daily Online” đã nói về “Những Thông-Điệp Bí-Mật Của Bánh Trung-Thu”; cũng là nhan-đề của bài viết này. Xin được tóm dịch như sau:


“Tục lệ ăn bánh Trung thu được cho là bắt đầu vào cuối thời nhà Nguyên “Yuan Dynasty” (1271-1368). Vào thời điểm đó, đa phần dân-chúng phải đối mặt với sự cầm quyền độc-ác, hung-bạo. Vì không thể chịu nổi, nên những nhà làm cách-mạng; trong nỗ-lực hoạt-động gián-điệp đã dùng bánh Trung-Thu như một phương-tiện để phân-phối “bí-mật-thư” nhằm lật đổ quân Mông-Cổ cai trị của Trung Quốc trong triều-đại nhà Nguyên (Yuan) lúc bấy giờ.


Chu-Nguyên-Chương (Zhu Yuanzhang) vị hoàng-đế đầu tiên của Nhà Minh “Ming Dynasty” (1368-1644) và cố-vấn của ông là Liu Bowen, đã tung ra một tin đồn rằng sẽ có một bệnh dịch chết người sắp lây lan nhanh chóng và cách duy-nhất để ngăn chặn nó là phải ăn bánh Trung-Thu đặc-biệt này; (những chiếc bánh có thông-điệp bí mật nhét trong nhân).


Tuy nhiên, vì sự hiện diện áp-bức của các quan-chức chính-phủ (thường xuyên khám xét dân chúng và tài-sản của họ) đã chính là nguyên-nhân vô cùng khó-khăn để gửi các tin nhắn đi. Một ngày nọ, cố-vấn quân sự của Zhu, là Liu Bowen đi đến một ý-tưởng và ra lệnh cho cấp dưới của mình để ẩn-phiếu bằng giấy với hàng chữ: "Cuộc Khởi Nghĩa 15 tháng 8" vào trong nhân bánh. Sau đó, bánh được phân-phối giữa các đội quân cách-mạng ở những nơi khác nhau, yêu-cầu họ ủng-hộ cuộc nổi dậy vào đúng đêm 15 tháng 8, âm-lịch năm ấy. Khi ngày đó đến, được sự hưởng-ứng khắp mọi nơi; thủ-đô Dadu (Bắc Kinh) của triều-đại nhà Nguyên đã bị hoàn-toàn thất-thủ.


Sau chiến thắng, Chu-Nguyên-Chương “Zhu Yuanzhang” đã rất vui mừng. Ông cho phép lính tráng và dân-chúng có thông-lệ ăn mừng Tết Trung-Thu. Kể từ đó, bánh này ngày càng được thực hiện một cách tinh-tế hơn, tục ăn bánh Trung-Thu trong ngày rằm tháng 8 âm-lịch được lưu-truyền từ đó đến nay.


Một phương-pháp khác cũng nhằm ẩn các tin nhắn là họ dùng những chữ được in trên bề mặt của bánh Trung-Thu; như một trò chơi ghép hình, ghép chữ (puzzle) . Muốn đọc tin này phải được giải mã bằng cách: mỗi trong 4 bánh Trung- Thu của một hộp đóng gói phải được cắt thành 4 phần; tổng cộng là 16 miếng, sau đó phải được ráp lại với nhau để có thể đọc ra các tin nhắn bí-mật. Các mảnh của bánh Trung-Thu phải được ăn liền ngay sau khi đã đọc xong; nhằm để hủy-diệt các thông-điệp này”.


Ngày nay, bánh Trung-Thu được đúc ra từ các loại khuôn có nhiều hình dạng hoa văn đẹp mắt, tinh-xảo. Người ta cũng thấy trên mặt bánh có những chữ mang thông điệp tốt lành hay tên của cơ-sở sản-xuất. Ngoài ra, họ còn đóng dấu vào đó hình một mặt trăng, hoa lá, Hằng Nga hoặc Thỏ Ngọc...


Hy-vọng những ai có cơ may được ngắm trăng, uống trà trong đêm Chúa-Nhật 30 tháng 9, 2012; chính là Rằm tháng Tám âm-lịch năm nay, sẽ cảm nhận được những thông-điệp yêu-thương trong từng miếng bánh Trung-Thu ngọt-ngào với gia-đình cùng bạn-hữu thân quen.


Để kết-thúc bài viết này, xin gửi tặng quý đọc-giả trên khắp năm châu bốn câu thơ về “Trăng” của Từ-Lộ, tức Từ-Đạo-Hạnh (mất năm 1117); là nhà sư thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam-Phương, tu ở chùa Thiên-Phúc trên núi Phật-Tích, châu Quốc-Oai, nay là huyện Quốc-Oai, Hà-Tây. Bắc phần – Việt-Nam.


“Có từ hạt bụi nhỏ.

Không, cái gì cũng không.
Như hình trăng dưới nước,
Có, mà thực tình không”.


Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên-soạn mừng Trung-Thu 2012 – California).www.diamondbichngoc.com

Thú đi Chợ Trời

Nói chung, Chợ Trời thật hấp dẫn cả ông bà cụ già lẫn trẻ con.
Vào những ngày cuối tuần, nhân ngày nghỉ nhiều người đã đi Chợ Trời dạo chơi và mua sắm, dù thời tiết lạnh hay nóng, như trong tuần qua thời tiết lên hơn 90 độ, các Chợ Trời tại Quận Cam vẫn đông người.
Ðây là thú vui của nhiều gia đình, một lối shopping rẻ tiền, được ra ngoài trời thoáng mát, được đi bộ vài tiếng đồng hồ. Nhiều gia đình gồm cả ba thế hệ, ông bà ngoại, cha mẹ và cháu bé ngồi trên xe đẩy. Khách đi Chợ Trời nhiều lúc cần một vài món cho gia đình nhưng cũng có nhiều người đi chợ không mục đích, thấy món gì rẻ đẹp thì mua, mà đi suốt buổi không mua gì cũng chẳng sao!
Quận Cam có nhiều Chợ Trời, nhưng Golden West là một chợ nổi tiếng nhất và có đông người Việt tham gia. Chợ thuê bãi đậu xe của Golden West College ở góc đường Edinger & Golden West thuộc thành phố Hungtington Beach. Khách đi chợ có thể vào hai ngõ phía Edinger hay Golden West. Chợ mở cửa suốt năm vào hai ngày cuối tuần từ 8:00 sáng cho đến khoảng 3:00 chiều, và xin quý vị đi Chợ Trời nhớ mang theo tiền mặt vì ở đây các quán hàng không nhận thẻ tín dụng (credit card). Ði Chợ Trời là một cái thú “dã ngoại” ít tốn kém nhất.
Ai đi Chợ Trời và Chợ Trời bán gì?
Nếu chỉ tình cờ, không có chủ đích đi tìm gặp mua vài món đồ cần dùng, cũng thích. Tôi gặp anh Nguyễn Lữ, một cựu quân nhân ở Garden Grove mua được một cái ghế bố nhà binh Mỹ, sườn nhôm và vải bố còn mới mà giá chỉ có $35.00. Nhà binh mà gặp cái ghế bố này cũng như gặp lại cố nhân. Nhà chật có khách, nghỉ trên cái ghế bố này trông còn tươm tất hơn trên sofa ở phòng khách.
Gian hàng đông khách nhất: Áo quần cũ 50 cents một cái.
Ông Nguyễn Thương, ở Westminster hầu như mỗi tháng vài ba lần, đi Chợ Trời là một “cái bệnh”. Không có hôm nào ông về tay không, không có món này thì món nọ. Khi thì cái bình trà cổ, khi thì bức tượng đồng, khi thì bức tranh vẽ mấy con ngựa. Ðây là những món hoàn toàn không cần thiết, thích thì mua đem về. Nhà chật, tha lâu cũng đầy tổ, mỗi năm lại đem vứt bớt hay cho lại bạn bè, nhưng vài ba tuần không đi Chợ Trời thì thấy... nhớ!
Bà Phan ở Irvine thì hay vào các hàng cây cảnh, thấy gì thích thì mua. Một chậu hoa sói chỉ có $15.00, một chậu lan $10.00, mặc dầu ở nhà đã có đủ. Hai vợ chồng một gia đình ở Anaheim, tình cờ thấy cái xe đạp rẻ thì mua cho con đi học, mà lúc mới vào chợ, ông bà chưa có ý định là sẽ mua gì.
Móc túi trả tiền cho một cái xe đạp cũ $45.00.
Vợ chồng anh Nguyễn Minh, một công nhân ở Westminter, đem cả hai con, một lên 5 tuổi, một còn nằm trong xe nôi, sáng nay cũng có mặt ở Chợ Trời. Anh cho biết nhân ngày Chủ Nhật đẹp trời, hai vợ chồng đem con đi ra ngoài một vòng, không có chủ đích mua gì nhưng nếu thấy có gì hay thì mua. Anh cho biết suốt tuần đã nhờ ông bà nội trông coi hai cháu trong nhà không có ánh mặt trời, ngày nghỉ đem con đi chơi cho có chút nắng và để cho cha mẹ thong thả.
Nói chung, Chợ Trời thật hấp dẫn cả ông bà cụ già lẫn trẻ con. “Thượng vàng hạ cám,” nhưng thượng vàng thì ít mà hạ cám thì nhiều. Cái kẹp tóc $0.25, một cái áo hay quần cũ chất đống, loại đồ “viện trợ” mà ở Việt Nam người ta thường gọi là “đồ sida” chỉ có $0.50 tha hồ mà lựa. 5 cái “nịt ngực” chỉ có $10.00. Ðương nhiên đây là sản phẩm dành cho người nghèo, phụ nữ có tiền không ai đi Chợ Trời để mua đồ lót hay nữ trang, nhưng có người có nhu cầu mua thì cũng có nơi bán. Cái điện thoại, cái laptop, cái đồng hồ, bức tranh, bộ bàn ăn là đồ cũ đã qua tay, “cũ người mới ta,” cần hay thấy hay hay thì mua vì cũng chẳng tốn kém bao nhiêu. Chợ Trời cũng nhiều thứ mới là áo quần, đồ nhà bếp, dụng cụ làm vườn, mỹ phẩm, đồ trang sức, giày dép, nón rẻ tiền được mua trừ các cửa háng bán sỉ ở Los Angeles, phần lớn là phát xuất từ Trung Cộng. Cây cảnh và trái cây thì từ các nông trại ở San Diego, Riverside hay Santa Barbara.
Khách hàng của Chợ Trời phần lớn là người Mễ, nếu ngày nghỉ không đem cả gia đình ra park hóng nắng thì cũng đem nhau đi Chợ Trời, ít có gia đình nào là không đem theo trẻ con. Sau khi đi dạo vài vòng, họ ngồi nghỉ mệt trên những bãi cỏ có bóng im hay sắp hàng trước những xe bán thức ăn Nam Mỹ. Người Việt trái lại, rất ít dừng chân giải khát hay mua thức ăn tại Chợ Trời như những sắc dân khác.
“Victoria Seceret” Chợ Trời Golden West, mỗi món chỉ $2.00.
Khách hàng Chợ Trời cũng tương tự như khách của các tiệm buffet bình dân “All You Can Eat” tại địa phương, phần đông là người Mễ và Việt Nam mà ít thấy người Mỹ.
Chợ Trời cũng là nơi khởi đầu cho những người Việt mới định cư đang khó khăn. Phụ việc tại Chợ Trời là một công việc khá vất vả, mỗi ngày cuối tuần từ 5 giờ sáng đến 5 giờ chiều với những công việc dựng lều, xếp hàng và đứng bán hàng được trả lương mỗi ngày $50.00. Ngày nay những người này đã có cuộc sống ổn định, có gia đình nên công việc này lại có những người mới sang đảm trách. Không thiếu những sinh viên dành những ngày cuối tuần ra đứng bán Chợ Trời để kiếm thêm tiền chi dùng.

Còn ai mơ hồ gì về nhà nước cộng sản VN nữa hay không?

Dù biết rằng không có chút hy vọng gì vào sự hồi tỉnh, biết e sợ dư luận mạnh mẽ từ trong và ngoài nước của nhà cầm quyền trước phiên tòa xử 3 người công dân yêu nước Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Phan Thanh Hải (blogger Anh Ba SG), Tạ Phong Tần (blogger Công lý và Sự Thật), nhưng thú thật, bản án quá nặng nề mà nhà cầm quyền dành cho họ vẫn làm tôi bàng hoàng, phẫn nộ.
Và tôi biết chắc rằng rất nhiều người VN và người nước ngoài khác, khi được nghe về bản án này, cũng sẽ bàng hoàng, phẫn nộ như tôi.
Kể cả những người không hề biết Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần là ai.
Kể cả những người luôn cố gắng để “không quan tâm, không dính dáng đến chính trị”.
Kể cả những người lâu nay vẫn còn cố bào chữa, bênh vực cho chế độ, cho cái nhà nước này.
Với việc kết án tổng cộng 26 năm tù cộng với nhiều năm quản thúc sau khi ra tù dành cho ba con người chỉ vì họ đã thực thi quyền tự do ngôn luận đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam cũng như được chính nhà nước Việt Nam ký kết với quốc tế, nhà nước Việt Nam một lần nữa đã phơi bày tất cả bản chất độc tài ngu muội và man rợ của họ.
Và hơn thế nữa, phiên tòa ngày 24 tháng Chín này đã là một câu trả lời rõ ràng nhất cho nhân dân VN và mọi tổ chức nhân quyền quốc tế, mọi quốc gia khác trên thế giới rằng NHÀ CẦM QUYỀN VN KHÔNG VÀ KHÔNG HỀ CÓ Ý ĐỊNH THAY ĐỔI, CẢI CÁCH VỀ CHÍNH TRỊ.
Không những thế, họ đã từng/đang từng/và sẽ luôn luôn bất chấp dư luận trong và ngoài nước, bất chấp mọi ảnh hưởng xấu đi về ngoại giao, kinh tế hay chính trị có thể xảy ra cho họ. Bất chấp lòng căm phẫn ngày cảng tích tụ, dâng cao trong lòng nhân dân và hình ảnh ngày càng tệ hại trước cái nhìn của quốc tế.
Họ chỉ quan tâm duy nhất một điều: làm sao dập tắt mọi sự lời chỉ trích, mọi biểu hiện chống đối dù ôn hòa, làm sao trừng phạt nặng nề mọi hành vi kháng cự dù nhỏ nhất có thể, để mọi người hoảng sợ và lùi bước. Và như thế, họ nghĩ rằng họ sẽ tiếp tục kéo dài sự tồn tại của chế độ bằng vào bạo lực và sự sợ hãi.
Liệu những kẻ đang quyết định số phận những người yêu nước hôm nay, và tập đoàn lãnh đạo cao nhất của nhà nước cộng sản VN, có thực sự tin rằng chế độ của họ sẽ tồn tại 12 năm nữa khi kết án blogger Điếu Cày, hay 16 năm khi kết án Trần Huỳnh Duy Thức?
Và khi chế độ sụp đổ, họ sẽ chạy đi đâu, trốn ở đâu để thoát khòi sự truy lùng của nhân dân về những tội ác suốt mấy chục năm cầm quyền của đảng cộng sản VN, trong đó nặng nhất là tội bán nước, bao gồm cả dâng hiến đất đai, biển đảo cho kẻ thù và kết án những người yêu nước?
Họ có nghĩ tới những điều đó không?
Tôi cho rằng không.
Riêng với phiên tòa xử thật nặng 3 blogger này, thêm một lý do nữa khiến những người lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản không chùn tay, đó là làm vui lòng Trung Nam Hải, là món quà chứng tỏ sự trung thành, quy phục với Trung Nam Hải. Bởi cả 3 blogger đều là những người thể hiện mạnh mẽ lòng yêu nước, ý thức cảnh báo trước họa xâm lăng từ phương Bắc, bằng cả những bài viết và hành động xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Trường Sa Hoàng Sa.
Một lần nữa, họ đã khẳng định với 90 triệu người dân VN và quốc tế rằng ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ CHỌN LỰA DỨT KHOÁT THÀ MẤT NƯỚC CÒN HƠN MẤT ĐẢNG, ĐỨNG VỀ PHÍA TRUNG QUỐC TRÊN BÀN CỜ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI.
Câu trả lời không còn gì rõ ràng hơn nữa.
Tất cả những ai đã từng hy vọng vào nhà cầm quyền VN-không phải vào lương tâm của họ, bởi họ làm gì có lương tâm, nhưng vào sự thức thời, tầm nhìn xa vào tương lai chính trị của thế giới để từ đó có sự chọn lựa đúng đắn cho đất nước, cũng là biết nghĩ tới đường hạ cánh an toàn cho bản thân và gia đình, tránh được sự nổi giận, trả thù của nhân dân khi chế độ sụp đồ…Tất cả những ai vẫn còn mong manh có chút hy vọng nào như thế, thì đây, thêm một gáo nước lạnh dội thẳng vào ngọn lửa hy vọng leo lét đó từ phía nhà cầm quyền: bản án phi nhân dành cho ba blogger hôm nay.
Như họ đã từng tàn ác, phi nhân với đất nước này, dân tộc này hàng triệu triệu lần.
Và họ sẽ còn làm như thế nữa. Cho đến khi người Việt thức tỉnh và đứng dậy.
Nhưng sẽ mất bao nhiêu người phải vào tù oan uổng nữa? Bao nhiêu người nữa phải trả giá cho cuộc sống ấm êm bằng những năm tù dài đằng đẵng chỉ vì muốn nói lên sự thật, muốn một sự thay đổi tốt đẹp hơn cho đất nước?
Cũng như bao nhiêu người nông dân nữa mất đất uất ức kêu trời, bao nhiêu người công nhân tiếp tục kiệt sức trong những điều kiện lao động khắc nghiệt và đồng lương chết đói? Bao nhiêu người vô tội phải chết oan dưới tay bọn công an lộng quyền, những người khác phải đem thân đi làm thuê làm mướn ở nước người-thực chất là nô lệ thời đại mới, và không ít người chỉ trở về bằng chút tro tàn còn lại như những người công nhân bị chết cháy trong nhà máy ở Nga vừa qua? Những người con gái trẻ trung phải tiếp tục bỏ xứ đi lấy chồng xa mong tìm một lối thoát cho mình và cũng có những người chết thảm ở xứ lạ v.v...và v.v... Bao nhiêu và bao nhiêu mạng người nữa, cho một dân tộc chỉ riêng trong thế kỷ XX và XXI đã phải mất đi hàng triệu sinh mạng cho những cuộc chiến tranh vô nghĩa và những sai lầm của nhà cầm quyền?
Vâng, phải bao nhiêu sự hy sinh nữa thì người Việt mới thức tỉnh?
Nhưng liệu lúc đó có còn một nước VN cho chúng ta giành lại và bắt đầu lại từ đầu hay đã quá trễ?
 
 Mon, 09/24/2012
Song Chi.

Thông Báo: Cửa khẩu Để Vào Nước XHNVN Người Việt HN Nên Biết

Một Cách Giữ Nguời Kiểu Mới Của Cộng sản Việt Nam

Bài này được viết với lý do thông báo cho người Việt, khi về VN nếu có xảy ra nhũng sự việc tương tự thì chúng ta biết cách sử trí.

Sau tin tức của đài RFA ngày 13 tháng 8 năm 2012 về việc một Việt kiều Đức về Việt Nam đã bị chặn ở cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất mặc dù anh ta đã có Visa, tôi đã liên lạc được với anh và được anh cho biết sự thật như sau:

Vào ngày 9 tháng 8 năm 2012 anh Vương Trí Tín đã đáp chuyến máy bay của hãng hàng không Emirates đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 19:30 giờ, sau khi nhận Visa tại phi trường thì anh ta đến cửa khẩu để vào nước. ở đây họ không cho anh vào và nói là Visa bị trục trặc và yêu cầu anh quay trở lại văn phòng nơi đã cấp Visa để hỏi nguyên nhân. Tại nơi đây Công An cục xuất nhập cảnh đã mời anh vào phòng "làm việc". Sau nhiều cuộc thẩm tra với những câu hỏi được lập đi lập lại nhiều lần như:

"Anh tên gì? "

"Sinh năm bao nhiêu?"

"Về Việt Nam có chuyện gì và dự định ở bao lâu?"

"Anh về Việt Nam đã bao nhiêu lần rồi?" và "Anh về VN sẽ ở đâu?"

Mặc dù những câu hỏi này hành khách vào VN đã phải khai khi xin Visa, nhưng họ vẫn hỏi đi hỏi lại, điều này sẽ làm cho người bị hỏi bị khủng hoảng tinh thần. Vì khi một người cứ phải trả lời những câu hỏi giống nhau thì sau một vài lần là họ bị nervous. Đây là một thủ đoạn của CSVN vẫn thường áp dụng để khống chế tinh thần người bị hỏi cung.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ cứ lập đi lập lại những câu hỏi như thế qua nhiều người (tổng cộng là 4 nhần viên, họ lần lượt thay nhau ra hỏi cung). Trong thời gian này thì anh Tín đã điện thoại ra bên ngoài báo cho gia đình biết là Visa bị trục trặc còn đang chờ đợi để được giải quyết. Đến lượt người nhân viên thứ tư của CACK (công an cửa khẩu) sau khi hỏi những câu như thế ngoài ra ông này đã hỏi mượn điện thoại di động của anh T. Vì nghĩ là họ đang giải quyết thủ tục Visa cho mình vào, nên nếu họ hỏi mượn điện thoại mà mình không đưa họ mượn, thì đây có thể cũng là 1 cái cớ để họ kiếm chuyện, do đó anh T. đã đưa điện thoại của anh cho tên này. Sau khi cầm điện thoại của anh T. thì hắn mới nói:

"Xin thông báo cho anh được biết là, nhà nước VN không hoanh nghênh anh vào VN."

Anh T. mới hỏi: "Với lý do gì mà tôi không được vào?"

Tên (công an cửa khẩu) CACK này trả lời: "Không có lý do !"

Anh T. "Vậy anh đưa lại điện thoại cho tôi để tôi thông báo cho gia đình tôi biết."

CACK: "Không, anh không được sử dụng điện thoại."

Anh T.:"Ở VN cấm xài điện thoại hay sao?"

CACK: "Việt Nam không cấm xài điện thoại, nhưng trường hợp của anh đặc biệt."

Anh T.:"Nhưng anh phải trả lại điện thoại cho tôi để tôi báo gia đình chứ để họ đợi cả đêm hay sao."

CACK: "Anh không cần phải lo, gia đình anh sẽ được thông báo."

Anh T.:"Nhưng tôi phải thông báo cho toà Đại Sứ Đức của tôi."

CACK: "Anh không được dùng điện thoại."

Anh T.:"Nếu anh giữ điện thoại của tôi thì anh phải làm giấy biên nhận cho tôi."

CACK: "Tôi đâu có giữ điện thoại anh làm gì, tôi chỉ mượn tạm thời, sau khi thủ tục giấy tờ của anh xong tôi sẽ trả lại."

Sau đó thì tên CACK dẫn anh T. ra lại phía bên ngoài nơi có dãy ghế để khách xin Visa ngồi đợi và hắn dặn một nữ CA canh chừng không cho anh T. lien lạc với một ai để mượn điện thoại hoặc nhờ họ điện thoại dùm.

Nhưng sau nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc thì anh T. đã gặp hai anh chị ở Mỹ về chơi cũng nhận Visa tại phi trường, nên họ ngồi đợi nơi dãy ghế đó. Được biết là anh chị này sống ở Philadelphia, họ đã nhắn tin đến với gia đình anh T.

Tên CACK sau khi đi vào văn phòng khoảng nửa tiếng sau đó thì quay ra với bản quyết định không cho nhập cảnh, văn bản này được viết bằng hai thứ tiếng (Việt và Anh), nhưng được biết là bản bằng tiếng Việt có những điều không đúng với bản tiếng Anh nên anh T. không đồng ý ký tên. Họ cũng không đưa cho anh giữ một bản phụ nào, mặc dù trước đó anh T. có hỏi thì nhận được trả lời là: "Dĩ nhiên chúng tôi sẽ đưa anh giữ một bản."

Một điều rất oái oăm nữa là, họ bắt giam anh T. và bắt anh phải trả 90 US Dollar, với lý do sử dụng phòng nghỉ. Ban đầu thì anh T. không chấp nhận điều này và nói sẽ ngồi lại ở dãy ghế nơi hành khách ngồi đợi Visa, đến lúc quay về Đức. Nhưng họ lại nói với anh rằng:

"Anh lên phòng nghỉ ngơi cho khoẻ, ở đó có điện thoại, anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại đặt người ta sẽ đem tới cho anh."

Họ giải thích: „90 Dollar là tiền để trả cho hai nhân viên phục vụ, mỗi giờ 9 Dollar, nếu ở chỉ 3 tiếng cũng phải trả 90, mà nếu ở đến 24 tiếng cũng trả 90 Dollar.“

Vì đang cần điện thoại để nhắn tin gia đình nên anh T. bằng lòng trả tiền để lên phòng. Ba nhân viên An Ninh có đeo súng đem anh T lên phòng và sau đó khoá cửa lại, trong phòng dĩ nhiên không có điện thoại như họ đã nói. Trong hơn 24 tiếng đồng hồ họ thay tất cả 5 ca gác, mỗi ca hai nhân viên An Ninh.

Nơi phòng giam có tất cả 6 giường, có một Menu để khách bị giam có thể đặt đồ ăn, nếu muốn ăn thì nhân viên AN sẽ gọi phone đặt. Anh T. cho biết là thực đơn ở đây đựơc tính bằng US Dollar, so ra mắc hơn cả đi ăn ở nhà hàng ngay Saigon, điều này nhân viên AN ở đó cũng xác nhận.

 
Trong thời gian CACK ở phi trường Tân Sơn Nhất giam giữ anh T. thì gia đình anh đã thông báo cho những người bạn Đức của anh để nhờ họ liên lạc với Toà lãnh sự Đức ở Saigon. Ở đây nhân viên Lãnh sự quán Đức đã nhiều lần liên hệ với các cấp thẩm quyền, nhưng họ trả lời là không có giữ ai tại phi trường với tên họ như thế. Những người bạn Đức của anh T. nhận được trả lời cùa LS Đức từ Saigon như thế thì họ quả quyết:

"Gia đình của ông T đã hơn 10 tiếng đồng hồ không liên lạc được với ông ta, chúng tôi cũng thế."

LSQ Đức: "Việt Nam họ chỉ luôn luôn nói một nửa sự thật. Nhưng các ông yên tâm, đến ngày mai mà các ông cũng như gia đình ông ta vẫn chưa có tin thì chúng tôi sẽ làm việc trực tiếp với chính quyền VN."

Trong thời gian bị giam giữ CACK đã giữ Vali của anh cũng như Passport, vé máy bay và điện thoại. Đến lúc ra phi cơ để bay trở về nước thì nhân viên An Ninh dẫn ra và giao anh cho nhân viên hãng hàng không Emirates, chuyến bay dừng ở Dubai trước khi về Đức tại đây cũng có nhân viên ra dẫn anh T về một nơi và dặn là không được đi đâu chỉ ngồi tại đó đợi đến giờ máy bay gần bay sẽ có người đến dẫn đi. Tại phi trường Frankfurt thì họ mới giao Passport, vé máy bay (thì mới lấy hành lý được)... điều này cho chúng ta thấy anh bị canh giữ như một tội phạm nguy hiểm.

Qua câu chuyện trên của anh Tín thì chúng ta thấy CSVN vẫn luôn gian xảo, lừa lọc và thủ đoạn mọi thứ, họ cứ cho người bị nạn hy vọng, nên vào bẫy lúc nào không biết.

- Trước khi tuyên bố không cho nhập cảnh thì lấy cớ là mượn điện thoại, sau khi nắm lấy được phương tiện liên lạc của người bị nạn thì lúc đó mới tuyên bố không cho nhập cảnh.

- Không có lệnh bắt giam mà lại thu giữ đồ dùng cá nhân (điện thoại di động cũng như Passport, vé máy bay, giấy tờ tuỳ thân) và cắt đứt liên lạc với người thân.

- Giam giữ người trái phép không có lệnh giam, với lý do là đễ phục vụ canh giữ anh ninh cho khách.

- Và vì nhân viên An Ninh phải bảo vệ an ninh cho "khách" nên "khách phải trả tiền phòng (phòng giam)

- Cho thông tin không đúng khi nhân viên Lãnh sự điện thoại hỏi. Theo luật Quốc Tế nếu giam trên 24 tiếng đồng hồ phải báo cho Lãnh sự quán, nếu giữ công dân của họ. Ở đây nhân viên Lãnh sự đã điện hỏi, nhưng họ lại đưa thông tin sai.

Trong lúc bị giam giữ anh T. đã được nhân viên AN cho biết là trong thời gian gần đây do ở Việt Nam tình hình không được ổn định (vì có nhiều cuộc biểu tình), nên những ai hay thường về Việt Nam hoặc mới về sẽ bị đặt nghi vấn, và nếu họ nghi thì sẽ không cho nhập cảnh VN và trục xuất về nước. Như thế thì qua điều này cho chúng ta biết được là tình hình đấu tranh trong nước đã có biến chuyển.

Trên đây là mẫu chuyện thật của anh Tín đã kể lại, khi tôi liên lạc với anh. Còn một điều rất đáng buồn khi nghe anh kể lại, sau khi trở về Đức và liên lạc với gia đình ở VN thì được biết bà mẹ của anh ta khi nghe con mình về thăm ngày hôm trước bà khoẻ và vui hẳn ra, đến hôm anh tới VN thì bà đòi đi đón con mình mặc dù bà bệnh nằm liệt giường cả hơn nửa năm nay, nhà anh phải chiều ý bà và bế bà cụ xuống duới nhà để chờ con, nhưng người con đã không được vào VN để về thăm mẹ mình. Xin cầu đấng thiêng liêng cho cụ có sức khoẻ để đợi ngày đứa con mình về thăm, ngày ấy không còn xa đối với anh cũng như đối với người Việt yêu chuộng Tư Do.


Việt Hoàng

-----
Cái Thủ Tục Đầu Tiên:  WECOME DOLA
--
 Người phụ nữ đáng phục

Người phụ nữ đáng phục
Tôi có về VN đôi lần. Vài người bạn khuyên tôi kẹp vài tờ vào pastport nếu muốn nhanh chóng thủ tục. Tôi theo lời và quả nhiên công việc thông suốt sau vài câu hỏi xã giao. Một lần tôi thấy một thanh niên Việt kiều rất trẻ, chừng 20 thôi, với tuổi đó có lẽ anh sinh ra sau khi gia đình rời VN và trưởng thành ở nước ngoài. Anh ấy đến quầy làm thủ tục bên cạnh trước tôi. Anh ta đi một mình, có lẽ lần đầu về thăm quê hương.Tôi thấy hành lý xách tay của anh ta chỉ là một ba-lô nhỏ. Không biết có gì trở ngại, anh ta làm thủ tục khá lâu, lại còn phải đứng qua một bên chờ, nhường chỗ cho người kế tiếp. Còn tôi thì rất nhanh chóng để tiếp tục ra khu vực nhận hành lý. Một lúc sau tôi cũng thấy anh ta ra và nhận hành lý chỉ là một vali không nặng lắm, trong khi nhiều người khác, như tôi, 2 vali to nhét phồng. Kể chuyện lại với ông bạn già, ông bạn chép miệng : ” Tội nghiệp thằng nhỏ. Chắc không biết thủ tục đầu tiên ! “.
Tôi cứ phân vân. Anh ta có lẽ biết chứ, nhưng tuổi trẻ, sinh ra và học hành ở một nước được giáo dục về lòng tự trọng, anh ta thấy mắc cỡ khi làm cái thủ tục đầu tiên, do đó dù biết, anh ta vẫn đã không làm! Còn tôi, ở “tuổi nhi nhĩ thuận”, dù học và hiểu, nhưng đã quen sống trong một xã hội thay đổi, vì lương tâm đã bị mòn răng, thậm chí bị bẻ răng, nên đành theo thời để cầu an. Tôi cảm thấy mắc cỡ và mong tuổi trẻ luôn giữ được sự tự trọng, cứng cỏi vào đời.

Người Phụ Nữ mảnh mai và những Cán Bộ Hải Quan hống hách.
Bánh máy bay vừa chạm phi đạo, không khí nhốn nháo hẳn lên. Dù đã được nhắc nhở là ngồi yên cho tới khi máy bay ngừng hẳn, những tiếng lách cách mở khoá bụng cũng vẫn vang lên đâu đó. Và trong khi máy bay còn từ từ lăn bánh vào trạm, nhìều người đã đứng bật dậy, kêu gọi nhau, lôi kéo vali trên cao xuống để chuẩn bị sẵn sàng. Đa số đều lộ vẻ nôn nóng.
Cửa máy bay vừa mở là đoàn người đã chen chúc nhau đi xuống, bước vội lên xe bus để được đưa vào nhà ga. Và rồi tất cả đều phải ngừng lại, xếp hàng dài rồng rắn trước các trạm hải quan. Chẳng ai bảo ai mà không khí bỗng dưng yên lặng một cách bất ngờ. Có lẽ mọi người đều mang tâm trạng hồi hộp chờ tới phiên mình. Chợt một giọng phụ nữ cất lên không lớn lắm nhưng cũng đủ lớn như cố tình cho nhiều người chung quanh đều nghe thấy “Phi trường quốc tế ở đâu cũng mát mẻ, có mỗi Tân Sơn Nhất của mình là nóng quá !”. Không chỉ tôi, mà mọi người đều giật mình quay nhìn người vừa phát biểu. Một người khuyên can nho nhỏ “Chị đừng nói lớn quá, coì chừng cán bộ họ nghe thấy”. Không ngờ chị lại trả lời tỉnh bơ ” Trời ơi, tôi thấy nóng thì tôi nói nóng, có gì đâu mà sợ !”
Thế rồi tới phiên chị bước lên. Vừa đưa giấy tờ, chị vừa nửa cười nửa nghiêm nói “Ồ, đâu cũng nóng, chỉ có chỗ cán bộ ngồi là mát quá !” Biết bị châm chích vì cái máy lạnh dưới chân, nhưng tên cán bộ trẻ tuổi không biết nên phản ứng thế nào, chỉ nhìn chị một chút rồi trả lại giấy tờ, cho qua.
Đến quầy soát hành lý, chị cùng người nhà lôi kéo, đẩy theo khá nhiều vali , thùng, bọc lỉnh kỉnh, tổng cộng cũng đến mười món, từ từ chất lên quầy… đi qua máy kiểm soát. Trong khi tên cán bộ phụ trách đang theo dõi qua máy thì một nữ cán bộ đứng đằng sau bước ra lớn tiếng ra lệnh cho tên cán bộ tiếp nhận:
- Đẩy tất cả các thùng này vào kho !
Mọi người đều quay lại nhìn, không ngờ chị cũng lớn tiếng lại :
- Chị nói gì nói lại coi ? Tôi cấm chị không được đẩy hành lý của tôi đi đâu.
Tuy bị bất ngờ với phản kháng mạnh mẽ, cô nàng cán bộ vẫn nói cứng :
- Tôi nghi ngờ nên cần đem những thùng này vào kho để kiểm soát.
Chị bình tĩnh chỉ vào cái máy dò hành lý hỏi :
- Cái máy này có làm việc không ?
- Đương nhiên là có.
- Tôi tưởng nó không làm việc thì vứt nó đi cho rồi. Thế nãy giờ chị có làm việc không ?
- Đương nhiên là tôi cũng đang làm việc.
- Nếu làm việc thì chị có nhìn vào máy không ? Nếu nhìn thì chị cũng đã biết hành lý tôi chứa đựng những gì. Tại sao chị dám đòi đẩy hành lý của tôi vào kho của chị. Chị định tịch thu hành lý của tôi hả ?
Câu chuyện trở nên gay cấn, mọi người hình như đều đổ dồn mắt, lắng tai nghe cuộc đối thoại giữa hai “nữ hổ”. Tôi tò mò quan sát chị kỹ hơn. Trông chị còn khá trẻ, có lẽ chưa tới 40, dáng người nhỏ nhắn, xem chừng không hơn 100 pounds. Mắt to, mũi cao, da trắng, phải công nhận là chị thuộc loại “người đẹp”, giọng nói miền Trung lai Nam dễ nghe, nhỏ nhẹ nhưng cứng cỏi, biểu lộ người có học và có bản lãnh, chẳng dễ gì bắt nạt…
Bị hỏi dồn liên tục, cô nàng cán bộ lộ rõ vẻ bất ngờ, mặt biến sắc… chống chế:
- Tôi không có ý tịch thu hành lý của chị, tôi bảo đẩy vào kho của nhà nước để kiểm soát chứ không phải kho của tôi.
Trong khi nữ cán bộ dịu giọng lại, thì chị càng cương quyết hơn:
-Chị không được đẩy hành lý của tôi đi đâu hết ! Chị muốn kiểm soát thì cứ việc mở ra ngay tại đây. Tôi cấm chị đem hành lý của tôi đi chỗ khác. Chính sách nhà nước kêu gọi Việt kiều về quê, giúp xóa đói giảm nghèo, tôi tốn bao nhiêu tiền mua quần áo về tặng cho người nghèo mà chị lại muốn lám khó dễ. Chị muốn đi ngược lại chánh sách của nhà nước à ?
Bất ngờ bị dồn cho một thôi một hồi bằng những lời lẽ quá “nặng ký” trước bao con mắt chăm chú theo dõi, nữ cán bộ mặt tái xám, lúng túng chưa biết trả lời thế nào… thì vừa lúc một tên cán bộ khác từ đâu bước vội đến nói nhỏ vào tai nàng cán bộ ta vài câu… rồi quay qua dịu giọng dàn xếp:
-Thôi được rồi, chị cứ đem hành lý đi đi..
Vừa nói vừa ra lệnh cho mấy tên trẻ tuổi quanh đó giúp đẩy hành lý chị nhanh ra cổng. Những người đi sau tự nhiên được hưởng mọi sự dễ dàng, được cho đi qua nhanh chóng, chẳng bị hỏi han chi. Aì nấy đều cảm thấy nhẹ nhõm, thú vị và không khỏi thầm cám ơn người phụ nữ thông minh, can đảm.
**
Thời gian qua mau, lại đến ngày trở về Mỹ. Đề phòng mọi bất trắc, gia đình tôi ra phi trường sớm hơn 2 tiếng đồng hồ. Đến sớm nên làm thủ tục giấy tờ, gửi hành lý khá nhanh chóng. Lên đến phòng đợi vẫn còn hơn cả tiếng. Khoảng 20 phút trước giờ lên phi cơ thì bỗng dưng nghe loa phóng thanh gọi lớn tên 5 người đến quầy kiểm soát gấp, 2 vợ chồng tôi đều có tên trong số đó. Đến nơi thì cô cán bộ lạnh lùng nói:
- Hành lý quý vị có vấn đề nên cần xuống gặp hải quan.
Rồi cô ta bảo tụi tôi đi theo một cán bộ mặc sắc phục.
Một ông trung niên đi trước tôi bực bội la toáng lên:
-Hải quan Việt Nam lộn xộn quá ! Tôi đi khắp nơi chẳng bao giờ gặp phiền phức như thế này. Về đến Mỹ cũng rất dễ dàng. Tại sao cứ về đến Việt Nam thì bị khó dễ ?
Anh chàng cán bộ dẫn đường mặt mũi khá trẻ vội phân trần:
- Chú ơi, tụi cháu cũng rất khổ vì mấy vụ này. Cháu chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn mọi người xuống hải quan, nhưng cứ bị đổ trút mọi giận dữ lên đầu !
Thật ngạc nhiên… vì lần đầu tiên nghe được lời nhỏ nhẹ phân trần từ một cán bộ mặc sắc phục, tôi đề nghị với tất cả:
- Được rồi, mình cứ bình tĩnh xuống đó coi họ làm gì. Chúng ta cứ đồng lòng, nhất định không để họ làm khó dễ, đòi ăn hối lộ.
Trên đường đi, cô vợ nhát gan của tôi lo lắng nói nhỏ “Anh ơi, chết rồi, mình có mấy chai mắm tôm chua với một số DVD cô Thúy gửi mua, thế nào cũng bị khó dễ. Hay là cho tụi nó ít tiền cho rồi”. Tôi bực mình nói liền “Không ! Nhất định không cho một đồng nào hết ! Mấy thứ đó có phải đồ quốc cấm đâu mà sợ !”. Vợ tôi vẫn lo lắng “Thế lỡ tụi nó cứ đòi tịch thu thì sao ?” “Giỡn hoài, muốn tịch thu của anh đâu phải dễ. Anh sẽ đấu lý tới cùng. Anh sẽ đòi hỏi phải trưng ra giấy tờ chỉ rõ những món nào không được đem ra khỏi Việt Nam chớ. Không có giấy tờ, văn bản, thì làm sao tịch thu của mình được. Mỹ không cấm đem mắm vào.. mà Việt Nam lại cấm mang mắm đi.. thì thật là vô lý !”
Dọc đường, lại phải đi qua một trạm kiểm soát giấy tờ nữa. Không hiểu sao, sau khi xem giấy tờ của cả nhóm thì cán bộ trạm này lại bảo rằng hải quan vừa gọi lên cho biết 4 người trong nhóm có thể trở về phòng đợi, chỉ còn lại một cô gái khoảng 18 tuổi phải tiếp tục theo cán bộ xuống hải quan..
Bị trơ trọi, cô bé lo sợ.. quay qua hỏi ý kiến, cầu cứu vợ tôi. Sau vài câu hỏi han mới biết đây là một cô học trò người Việt đi một mình và không hiểu nhiều tiếng Việt. Cô nói trong hành lý cũng có một số DVD. Vợ tôi trấn an là không sao đâu, họ chỉ muốn “làm tiền” thôi. Cô bé càng sợ, cho biết là vì cô không còn tiền Việt Nam . Vợ tôi dúi vội tờ 20 ngàn vào tay cô bé trước khi bước đi.
Nghe kể lại, tôi bực mình:
- Anh đã bảo không muốn hối lộ mà sao em còn dạy cô bé hối lộ ?
- Tại em thấy tôi nghiệp, cô ta không biết tiếng Việt thì làm sao cãi lý với tụi cán bộ.
- Thì tụi cán bộ cũng đâu biết tiếng Anh, làm sao mà khó dễ cô bé được ?
Khi chúng tôi đi trở lại phòng đợi thì mọi người đã lên phi cơ gần hết và loa phóng thanh đang đọc tên 3 hành khách khác “yêu cầu đến quầy kiểm soát gấp vì phi cơ sắp khởi hành”. Từ xa, 3 người đang đi nhanh lại. Tôi quay nhìn thì ngạc nhiên khi thấy đi đầu chính là người phụ nữ mảnh mai đầy can đảm hôm nọ. Tò mò, tôi nán lại chờ xem có màn gì “vui” không. Chị bước nhanh nhưng vẻ mặt bình thản đưa boarding pass cho cán bộ kiểm soát. Anh ta nhìn chị một chút rồi lạnh lùng ra lệnh:
- Yêu cầu chị bỏ mũ ra.
Chị tỉnh bơ trả lời:
-Tôi thấy không có luật nào buộc hành khách phải bỏ mũ trước khi lên phi cơ hết !
Nói xong chị vẫn đứng yên. Chuyện bỏ mũ ra cũng không có gì quan trọng, nhưng có lẽ vì thái độ hống hách, bất lịch sự của tên cán bộ.. khiến chị bực mình, không chịu thua. Tên này cũng tỏ vẻ nóng mặt, gằn giọng nhắc lại:
- Tôi yêu cầu chị bỏ mũ ra.
Chị cười trả lời:
- Tôi chỉ sợ lấy mũ ra, thấy tóc đẹp quá.. anh té xỉu thôi !
Vừa nói chị vừa nâng cao chiếc mũ nhỏ nhắn khỏi đầu rồi lại bỏ xuống ngay chứ không lấy hẳn mũ ra, vừa để chứng tỏ chị không có gì trong tóc và cũng vừa để biểu lộ thái độ không chịu thua.
Tên cán bộ càng tức giận hơn:
- Vậy yêu cầu chị đứng qua một bên để tôi kiểm vé mấy người kia, rồi sẽ giải quyết với chị sau.
Không ngờ chị cũng chẳng vừa:
- Tôi không bước đi đâu hết. Tôi đến trước thì anh phải giải quyết với tôi trước. Chừng nào xong thì mới tới những người khác.
Mọi người chung quanh đều giật mình khi thấy câu chuyện chẳng có gì mà bỗng dưng trở nên căng thẳng, bế tắc. Ai cũng tò mò, hồi hộp không biết chuyện gì sẽ tiếp theo đây khi mà đã tới giờ máy bay sắp sửa cất cánh.
Tên cán bộ mặt đanh lại, rất tức giận, suy nghĩ vài giây. Có lẽ hắn cũng nhận ra rằng chẳng thể làm gì được người phụ nữ cương cường nhưng hữu lý này, nên cuối cùng đành phải hầm hầm thảy giấy tờ lại cho chị và để chị bước qua.
Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, lần lượt đưa giấy tờ và bước cả vào phi cơ.
Vào trong, dò tìm chỗ ngồi thì tôi chợt ngạc nhiên thích thú khi thấy chị đang ngồi xuống ngay cùng hàng ghế với tụi tôi. Vừa ngồi, tôi vừa cười, mở lời làm quen:
- Xin chào người phụ nữ vô cùng can đảm !
Chị hơi ngạc nhiên nhìn tôi rồi cũng cười trả lời:
- Can đảm gì đâu anh, khó ưa thì có !
Tôi cười nói nhỏ:
- Có lẽ chỉ khó ưa với Việt cộng thôi, còn đám “Việt kiều” tụi tôi thì thấy chị rất cam đảm và dễ ưa.
- Trời đất, em tưởng anh thấy em dữ như vậy thì cần tránh xa chứ.
- Ồ, không đâu, tôi càng thấy vui được ngồi gần chị để hỏi han thêm nhiều chuyện.
Chị bật cười, tinh nghịch trả lời:
- Bộ bây giờ đến phiên anh muốn làm công an thẩm vấn hả ?
- Không có đâu. Tôi thấy công an là sợ gần chết, làm sao dám đóng vai công an. Vả lại, tôi mà là công an thật, thì thấy chị là chạy xa chứ làm gì dám hỏi han.
- Anh nói quá, làm như em là “cọp cái” không bằng !
- Không phải vậy. Tại chị không biết đó thôi. Tôi may mắn về chơi cùng thời gian với chị nên đã được chứng kiến cả hai lần chị đối đầu với cán bộ hải quan và lần nào cũng thắng.
Chị ngạc nhiên, trố mắt nhìn tôi, rồi lấy hai tay bụm mặt, duyên dáng cười nói:
- Chết rồi, lần nào gặp anh cũng thấy em như “bà Chằng Lửa”, mắc cở quá !
Nói chuyện xã giao một chút, khi bớt khoảng cách, chị chợt đề nghị:
- Nãy giờ anh cứ gọi em bằng “chị” nghe xấu hổ lắm. Thôi anh gọi bằng “em” hay bằng tên đi.
Tôi cười nói đùa:
- Ý chị muốn nói tôi già phải không ?
Chị nhìn tôi một chút rồi bật cười:
- Anh hỏi cắc cớ quá, thật còn khó trả lời hơn khi nói chuyện với công an nữa.
Tôi cũng bật cười theo:
- Ok, vậy tên chị là gì.. nào.. để tôi gọi.
- Mai Linh.
- Ủa, vậy Mai Linh cùng họ Mai với tôi à?
Cô cười tinh nghịch:
- Không, em là họ nhà vua, tên là Mai Linh chứ không phải cùng họ Mai với anh.
- Thì họ Mai tôi cũng có thời làm vua chứ bộ.
Sau một lúc chuyện trò vui vẻ, tôi mới từ từ hỏi:
- Mai Linh qua Mỹ lâu chưa ?
- Dạ, cũng chưa lâu lắm.
- Vậy là Mai Linh đã từng sống với cộng sản ?
- Đúng rồi, hồi cộng sản vô… gia đình em kẹt lại, ba em bị bắt đi tù cải tạo. Còn lại mẹ và mấy chị em, thật khổ vô cùng ! Đi học cũng không được, đi làm cũng không xong. Gia đình phải cố bươn chải mà sống qua ngày.
- Thế gia đình Mai Linh sinh sống bằng cách nào ?
- Thì làm đủ thứ nghề, thượng vàng, hạ cám, cái gì ra tiền đều phải làm.
- Có lúc nào khá không ?
- Cũng có. Mới đầu thì khổ lắm, nhưng từ từ học khôn. Có thời gian gia đình em mở quán ăn ở Vũng Tàu, ngay bãi trước. Lúc đó đã có một quán phở của một bà Bắc kỳ Hà Nội, tụi em mở quán bán cả phở lẫn bún ngay bên cạnh. Mỗi khi xe đò các nơi đến, thấy mấy chị em chào đón vui vẻ thì đều qua bên quán tụi em hết.
- Vậy mà bà ta để yên cho Mai Linh à ?
- Đâu có, bà ta dữ lắm, cứ chạy ra ngoài đứng chửi tục tỉu hoài.
Tôi cười trêu:
- Chửi nhau là bà ta thua chắc rồi. Một mình Mai Linh… bà ta cũng đủ chết, huống chi cả mấy chị em cùng hè nhau chửi… thì bà ta chạy có cờ !
Mai Linh cười hiền đáp:
- Đâu có anh. Dại gì mà chửi nhau với họ, mà muốn chửi cũng không lại mấy bà Bắc kỳ đó đâu !
- Thế rồi gia đình Mai Linh làm sao ?
-Mấy chị em đặt một máy phát thanh hát nhạc thật lớn.. chĩa qua phía bà ta. Thành ra bả chửi gì… tụi em đâu có nghe mà chỉ có gia đình bả nghe thôi.
Được dịp , tôi hỏi qua chuyện mà tôi vẫn thắc mắc:
- Có phải vì thế mà Mai Linh ghét cộng sản không ?
- Sao anh hỏi vậy ?
- Tôi thấy thường người ta ngán, tránh có chuyện với tụi cán bộ hải quan, nhưng Mai Linh thì ngược lại, hình như Mai Linh thích “kiếm chuyện” với tụi nó phải không ?
Suy nghĩ một chút, Mai Linh trả lời:
- Anh nói có phần đúng. Em rất ghét thái độ hống hách, muốn “làm tiền” của tụi nó. Em về nhiều lần rồi chứ. Lần nào em cũng mong đụng độ với tụi nó và lần nào em cũng thắng 100 phần trăm.
- Bộ Mai Linh không sợ bị tụi nó làm khó sao ?
- Có gì mà phải sợ chứ. Mình về tiêu xài, nói chung là làm lợi cho dân, có mang đồ quốc cấm về đâu mà phải sợ, phải để cho tụi nó bắt nạt.
- Nhưng nhiều người vẫn sợ, vẫn cứ hối lộ.
- Thì tại họ dại, họ nối giáo cho giặc. Em nói thật, chỉ cần 100 người làm như em là sẽ hết sạch cái vụ tham nhũng, hối lộ tại phi trường !
- Thế có bao giờ Mai Linh bị làm tiền ở hải quan chưa ?
- Có chứ. Một lần em cũng mang nhiều hành lý về, tụi nó cũng đòi mở ra khám. Em cự thì một đứa nói nhỏ “Chị bồi dưỡng cho một chút đi !”. Em tức mình nói lớn “Tôi không hối lộ” rồi chỉ cái bảng treo trên tường “Anh không thấy bảng nói cấm hối lộ sao ? Lẽ ra anh thấy ai hối lộ còn phải bắt họ vì tội phạm pháp nữa, chứ sao lại đòi hối lộ ?” Tụi nó sợ quá, đẩy em đi cho mau.
- Trời đất, khó có ai mà gan lỳ như Mai Linh. Thường thì mọi người đều e dè khi nói chuyện với tụi nó.
- Không phải lỳ mà là hiểu luật, hiểu tâm lý tụi nó. Tụi nó đòi hối lộ là tụi nó gian, tụi nó phải sợ mình là người ngay, chứ sao lại có chuyện người ngay đi sợ kẻ gian. Chính vì sự sợ hãi vô lý của nhiều người mới tạo ra cái thói hống hách, coi thường người dân của đám công an, cán bộ VC. Anh nghĩ có phi lý không… chứ khi mà mình làm việc quần quật, đổ mồ hôi để có tiền, rồi tự dưng phải dâng cho tụi nó ăn ? Đã thế, chúng không cám ơn, mà ngược lại chính mình lại còn phải khúm núm trước chúng nữa. Tại sao nhiều người không nghĩ ra như vậy ?
Càng nói chuyện tôi càng thấy mến phục Mai Linh. Con người bình thường nói chuyện rất vui vẻ, nhỏ nhẹ, nhưng khi “đụng trận” thì thật cứng cỏi, quyết liệt, và khi lý luận thì thật sắc bén, thâm trầm.
Tôi chợt cảm thấy mình may mắn, chuyến đi này đã được gặp một nữ anh thư, một con cháu đích thực của Bà Trưng, Bà Triệu. Mong rằng chị làm ăn khấm khá để có thêm nhiều dịp qua lại các phi trường Việt Nam. /.
Chú thích: Không Nhớ Tác Giả Viết Bài Này!

Khi súng đạn kết hợp với sợ hãi và ngu xuẩn

Blogger Điếu Cày trong phiên toà ngày 24/9/2012

“Không thể nô lệ hóa một con người tự do, bởi vì tư tưởng của con người tự do vẫn tự do ngay cả trong nhà tù” (Platon, triết gia Hy Lạp).
Ngay sau khi phiên toà ngày 24/9 kết án hết sức nặng nề ba nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải: 12 năm tù, 3 năm quảnchế; Tạ Phong Tần – 10 năm tù, 5 năm quản chế; Phan Thanh Hải – 4 năm tù, 3 năm quản chế, trong sự thất vọng đến bàng hoàng và phẫn nộ của dư luận, nhà văn, biên kịch điện ảnh Thuỳ Linh (hiện sống ở Hà Nội), trong bài “Sự trả tù mất trí“, viết:
Bản án tự kết án cho chế độ được tạo ra từ những nghịch lý: Ảo tưởng, Bất tin, Bất tín, Căm hận, Chán ngán… Và người xưa đã đúc kết: “bạo phát, bạo tàn”. Nếu chính phủ tiếp tục phát hành những “trái phiếu độc đoán, chuyên chế” thì họ sẽ gặt về dự án Sụp đổ như đã từng trước đây với những Vinashin, Vinalines… Bởi nhân dân không còn gì để thế chấp, không còn gì để họ có thể cướp bóc, đàn áp ngoài sự oán thán, căm hận – những cái mà chính quyền không hề muốn nhận về“.
Richard Kapuściński, nhà báo Ba Lan nổi tiếng, đoạt nhiều giải thưởng báo chí của các nước, được xem là “hoàng đế phóng sự”, từ trải nghiệm thời cộng sản của Ba Lan đã đưa ra nhận định:
Không có sự tồi tệ nào hơn bằng kết hợp sử dụng súng đạn với sự ngu dốt và sợ hãi. Nó sẽ xảy ra tất cả những gì tệ hại nhất mà bạn có thể nhìn thấy“.
Còn Oscar Wilde, hiệp sĩ, nhà văn nổi tiếng của Ireland (1854-1900) nói rằng “không ai gây tội ác mà không cùng lúc thực hiện sự ngu dốt“.
Những đúc kết trên đây rất chính xác cho phiên toà ngày 24/9 của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (CSVN). Họ có đầy đủ cả ba thứ: Súng đạn, ngu dốt và sợ hãi.
Trong bài viết “Những dự đoán về phiên toà xét xử các Bloggers Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn và chị Tạ Phong Tần“, nhắc lại lời của giáo sư Ngô Bảo Châu khi nói về “phiên toà ô nhục” xét xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong năm 2011 rằng, “không thể lấy sự cẩu thả và sợ hãi làm phương pháp bảo vẹ chế độ”, tôi đã ý thức trước rằng nó sẽ tái diễn. Nhưng tôi không ngờ, nó được thực thi không những bằng sự cẩu thả, sợ hãi, mà cả sự ngu dốt ngoài sức tưởng tượng trong bối cảnh dư luận xã hội và quốc tế quan tâm rộng lớn chưa từng thấy trước đó đối với những phiên toà chính trị tương tự.
Thiết nghĩ, một bộ máy khổng lồ đào tạo công chức chuyên ngành pháp lý, cung cấp kiến thức lý luận và trao dồi tư tưởng từ các trường đại học luật, chính trị, được hỗ trợ thêm bởi ban tuyên giáo, ban văn hoá tư tưởng… và thời gian giam hãm dài và trì hoãn mấy lần để toan tính, nhà cầm quyền CSVN lẽ ra có thể đẻ ra được một ban bệ/hội đồng xét xử đủ khả năng thực hiện một tiến trình tố tụng nghiêm túc, trong một “phiên toà xét xử công khai”.
Thậm chí nếu thiếu tự tin, tự thấy mình kém cỏi, không đủ khả năng đối diện, tranh tụng, thì vẫn có thể để phiên toà diễn ra bình thường với những tiêu chuẩn văn minh tối thiểu. Quyền lực tuyệt đối nằm trong tay, nhà cầm quyền CSVN vẫn hoàn toàn có thể đạo diễn và đưa ra những bản án nặng nhất theo ý muốn, mà chẳng ai có thể làm gì được. Đúng không?
Không! Họ không dám! Bởi vì đơn giản là họ quá dốt nát và hèn nhát. Những “súc thịt thắt cà vạt” (chữ của nhà văn Dương Thu Hương) với bộ não và ruột già có cùng chức năng giống nhau. Ngoài ra, lương tâm của họ bao trùm sự sợ hãi. Họ sợ sự thật! Sợ bị phanh phui những điều xấu xa, bất lương và những mưu toan hèn hạ bán rẻ lợi ich và chủ quyền của Tổ quốc cho bành trướng Bắc Kinh, trước con mắt của dư luận.
Vì thế,
Ở vòng ngoài, từ rất xa khu vực của toà án, trước và trong khi phiên toà diễn ra, công an chìm nổi dày đặc đã thẳng tay trấn áp, đánh đập tàn nhẫn và bắt giữ những người có nguyện vọng đến toà theo dõi phiên xử “công khai”. Thậm chí thân nhân của anh Điếu Cày, chị Dương Thị Tân và con trai, nhũng người có đủ quyền lợi và nghĩa vụ tham gia phiên toà, đã bị bắt, bị hành hung và Vũ Văn Hiển, trung tá công an phuờng 6, quận 3, TP HCM, đã thằng thừng đe doạ bạo lực bằng thái độ vô học, hạ cấp, ngay tại trụ sở, trước mặt nhiều người.
Ở vòng trong, phiên toà diễn ra nhanh đến kinh ngạc, ngỡ ngàng. Xét xử ba người bị quy kết phạm tội nghiệm trọng mà chỉ trong mấy tiếng đồng hồ! Trong khi các nhân chứng không được triệu tập đầy đủ (chỉ 3/9 người). Luật sư và những người bị quy kết tội phạm không có cơ hội và thời gian để trình bày, phản biện, đối chất với các nhân chứng. Tóm lại tệ hơn cả các phiên toà trong thời thực dân Pháp hay của phát xít Đức. Vụng về. Lấy thịt đè người hèn hạ, bỉ ổi.
Nói như luật sư Gerard Staberock, Tổng thư ký của Đài Quan sát Bảo vệ các Nhà đấu tranh Bảo vệ Nhân quyền, “phiên xử này là trò hề công lý“, là quá nhẹ. Bởi vì trò hề ít ra còn có thể mua vui cho thiên hạ, còn phiên toà này không những không gây cười cho ai, mà tạo ra sự khinh bỉ, tởm lợm và lòng căm phẫn trước một nhà nước vô luân, đểu cáng, những súc thịt với bàn tay của ác quỷ, coi thường và thách thức trâng tráo tiếng nói lương tâm của hàng triệu người Việt, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí và nhân quyền quốc tế, các đoàn ngoại giao và cả lời kêu gọi của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.
Toàn bộ lực lựợng tập trung phục vụ cho phiên toà, từ trên xuống dưới, đã chứng tỏ bao gồm những kẻ bị mất trí trong cơn hoảng loạn của quyền lực bị tha hoá, suy đồi, mất hết niềm tin của xã hội, đã điên rồ như con thú dữ bị thương, nổi khùng trước lúc chết.
Trên Facebook, Bùi Thanh Hiếu, tức blogger Người Buôn Gió viết: “Chuyển nghề đi cho nó lành… Viết blog mà án tù hơn công an giết người. Thế này tao đi giết những thằng tao ghét hơn là viết chửi nó, đằng nào chả thế”.
Hàng triệu người đã chết trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vì tiếng gọi của Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập và tự do“. Cái tự do mà ông Hồ và đảng của ông ta quảng cáo, lừa mị, để ban cho nhân dân Việt Nam hôm nay tròn méo ra sao? Không gì chuẩn xác hơn bằng cách lột tả của Vũ Văn Hiển, trong sắc phục đại diện cho pháp luật và biểu tượng của “công an còn đảng còn mình”, bằng câu nói ngay giữa chốn công quyền: “Tự do cái con c…” .
Vâng, “Tự do cái con c…“ – là ngôn từ riêng “bất hủ” trong toàn bộ di sản của tập đoàn cai trị CSVN được định nghĩa trong phiên toà xử tội yêu nước ngày 24/9/2012.
Chế độ độc tài CSVN có thể giam giữ tự do của những người yêu nước, nhưng tư tưởng tự do của họ không một ai có thể tước đoạt được. Tư tưởng tự do, khí tiết tranh đấu và tinh thần yêu nước của họ sẽ lan toả, vượt ra khỏi bốn bức tường của nhà tù, truyền cảm hứng cho hàng triệu người yêu nước khác.
“Không thể nô lệ hóa một con người tự do, bởi vì tư tưởng của con người tự do vẫn tự do ngay cả trong nhà tù” – (Platon, triết gia Hy Lạp).
Ngày 24/09/2012
© Lê Diễn Đức – RFA Blog

Bài Xem Nhiều