We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 14 October 2012

Trong những trại tù VC sau cùng.



Trên đường về Nam (12/1980) Sau Giáng Sinh, 300 người chúng tôi từ trại Nam Hà B được chuyển về Nam đợt 2, trong đó có tôi. Thật là một điều vui mừng và hạnh phúc (!).

Chúng tôi lên xe từ trại B (Nam Hà), đi ngang qua trại A, qua trại C rồi men theo con đường đất đỏ, nham nhở, vùng Chi Nê, Thanh Liêm, qua thị trấn Phủ Lý rồi đoàn xe dừng lại ở nhà ga Bình Lục. Bấy giờ là nửa đêm và đoàn tàu đã chờ sẵn ở đấy. Chúng tôi lần lượt gồng gánh lên tàu. Một số ngồi dưới sàn, một số ngồi trên ghế. Toa tàu như một phòng giam lưu động. Cửa đóng kín và cài then từ bên ngoài. Theo thủ tục của công an thì bất cứ cuộc di chuyển nào cũng phải còng tay hai người làm một. Không phải còng inox của Mỹ mà là còng nội hóa nhiều cái đã rỉ, không co giãn theo cổ tay lớn nhỏ mà chỉ có một cỡ. Người nào cổ tay lớn thì bị còng siết chặt đau điếng. Tuy thế chúng tôi cũng tìm cách mở ra cho được thoải mái. Khi nào tàu dừng ở đâu, bọn chèo lên kiểm soát thì chúng tôi đưa tay vào còng.

Đoàn tàu bắt đầu khởi hành sau nửa đêm. Ai nấy cũng đều vui mừng, quây quần hút thuốc lào và kể lại chuyện ngày xưa. Chỉ có những anh chàng Bắc kỳ di cư, mới để ý theo dõi phong cảnh chung quanh để tìm lại những nơi chốn cũ. Nhiều người vẫn còn nhớ những nhà ga chính như là Bỉm Sơn, Thanh Hóa, Quỳnh Lưu, Cửa Lò, Vinh, Hà Tĩnh, Đồng Hới... Khi đoàn xe bắt đầu vượt qua Hồ Xá (Vĩnh Linh), lòng chúng tôi bắt đầu xúc động. Như một người bị lưu đày trở về lại quê xưa, lòng ai cũng hồi hộp, đợi chờ. Tàu đã qua cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, tiến vào vùng Gio Linh.

Đây mới là Quê hương của tôi. Đây mới là những vùng đất mà chúng tôi đã đổ máu ra để mà bảo vệ. Đây là căn cứ A2 trên một ngọn đồi cao nhìn xuống vùng Trung Lương nghèo nàn xơ xác đang ở bên trái tôi. Đây là căn cứ pháo binh C1 với những căn hầm đầm ấm mà anh Đễ, anh Cang và những SQ thuộc TĐ9/TQLC tụ họp vui vầy trong những ngày Tết năm 1972. Rồi cây cầu Đông Hà nơi TĐ3/TQLC với những người bạn K22 như Giang Văn Nhân, Nguyễn Kim Chung đã chận đứng được sức tiến quân của VC trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Tôi chạy qua trái rồi qua phải để nhìn những kỷ niệm của mình và của anh em mình. Tôi muốn kể cho họ nghe chiếc cầu đã gãy trên sông Thạch Hãn. Tôi muốn nhắc lại những ngày vui đón bạn bè trở về trong lao tù CS, trong ngày trao trả tù binh sau ngày ngưng bắn 27/1/1973. Chúng tôi đã cầm tay nhau vui mừng khi ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trên cổ thành Quảng Trị đã được tái chiếm bởi những lực lượng hùng mạnh nhất của QL/VNCH là Nhảy Dù và Thuỷ quân lục chiến, Biệt Động Quân, Thiết giáp,...

Tôi muốn kể ngày TQLC tái chiếm cổ thành Quãng Trị (15/9/1972). Nỗi mừng vui biết nói sao cho vừa. Những chiến tích làm sao mà quên được. Trong lòng những người lính miền Nam, ngọn cờ vàng ba sọc đỏ vẫn mãi mãi tung bay:

Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu,
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu..
Ta ôm nhau, mắt lệ nghẹn ngào,
Quỳ hôn đất thân yêu,
Quảng Trị ơi!
Chào quê hương giải phóng.
Hồi sinh rồi, này Mẹ này Em,
Qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời.

Đoàn tàu lặng lẽ đi qua dòng sông Hương, qua cầu Bạch Hổ nhưng vẫn không dừng lại ở ga Huế. Có quá nhiều kỷ niệm trên những đoạn đường đi qua: Phú Lương, Bạch Mã, Lăng Cô, đèo Hải Vân, Nam Ô, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nam,... Rồi đoàn tàu đi qua Đức Phổ, Mộ Đức, Tam Quan, Phù Mỹ, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,...

Trại Hàm Tân (Z30D)

Khi đoàn tàu dừng lại ở ga Diêu Trì (Bình Định), 300 anh em ở những đoàn tàu phía sau xuống ga. Họ được đưa lên những xe Molotova, theo QL19 về trại Gia Trung (Gia Lai, Kontum). Rồi đoàn tàu tiếp tục qua các ga Văn Canh, Tuy Hòa, Vạn Giã, Diên Khánh, Ba Ngòi, Cà Ná, Mường Mán, và cuối cùng dừng lại ở ga Gia Ray (Xuân Lộc). Chúng tôi được đưa lên xe về trại Z30D (Hàm Tân). Đây là căn cứ 5 của quân đội Đồng minh cũ, dọc theo Quốc lộ 1, nằm gần mật khu Mây Tàu, Long Khánh. Một trại giam khá đông đảo tù nhân, hơn 6.000 người, chia làm hai khu: khu cũ và khu mới, ngăn cách nhau bởi hàng rào kẽm gai. Khu mới xây lợp tôn, có bệ nằm bằng ciment, tầng trên bằng ván dày. Phòng vệ sinh tương đối sạch sẽ. Trước đây trại này có một khu dành cho những sĩ quan nữ quân nhân, nhóm tình báo Thiên Nga và một số hình sự. Bây giờ thì không còn nữa.

Đám cán bộ VC ở đây rất hách và cái đám tay sai trật tự cũng làm ra vẻ ta đây có quyền hành. Về đây tôi được nghe kể lại một cái chết đầy thương tâm của Tr/tá HVL, vị cựu tiểu đoàn trưởng TĐ9/TQLC mà có thời gian tôi là Đại đội trưởng của ông. Trong tập truyện “Ở một nơi dễ tìm thấy thiên đàng”, tác giả là anh Huỳnh Văn Phú, người bạn cùng quê, cùng trường với anh L. đã viết:

Không một ai có thể tin rằng L đã vô ý ngã vào chảo nước sôi mà chính anh đã tự chọn cái chết hãi hùng như thế . Suốt 10 năm đói khổ, tuyệt vọng, lê lết trong ngục tù CS, tôi đã từng chứng kiến nhiều cái chết của bạn bè, nhưng không có cái chết nào làm cho lòng tôi tan nát như cái chết của L...

Trong cuộc di tản từ Đà Nẵng về Sài Gòn, anh L là Lữ đoàn phó Lữ đoàn 258 cho Đại tá Nguyễn Năng Bảo. Anh có người vợ rất đẹp, Tây lai, theo lời anh Phú thì,

“vợ L. là một thiếu nữ có nhan sắc tuyệt đẹp của một người mang hai dòng máu Pháp- Việt.”

Họ lấy nhau nhau năm 1970 và có với nhau hai đứa con, nhưng đứa con đầu lòng thuộc loại phát triển không bình thường. Điều này đã gây cho anh không ít sự khổ tâm. Trong suốt 7 năm đi tù ở ngoài Bắc, vợ anh chưa một lần đi thăm và đến năm 1983, trong một lần đi thăm của người chị anh được biết vợ anh đã bỏ anh và để lấy một người đàn ông khác. Thật ra trong hoàn cảnh lúc đó đã có nhiều người vợ bỏ đi lấy chồng khác (Lấy chồng để nuôi chồng, lấy chồng để bảo vệ con) hoặc nhẹ dạ nghe lời tuyên truyền của VC hoặc không thể tự mình đứng vững giữa cuộc đổi thay quá đột ngột và những phũ phàng của cuộc sống. Đã có lần anh cay đắng khi so sánh:

Giữa đàn bà và loài hoa có sự tương đồng. Những loài hoa có màu sắc rực rỡ thường không có hương, mà chỉ có những loài hoa có màu sắc đơn giản như hoa Dạ Lý Hương hay hoa Ngọc Lan mới tỏa hương. Người đàn bà cũng thế, người có nhan sắc tuyệt trần thì thường ít có đức hạnh, nghĩa là ít có cái nết... Tao biết vợ tao đẹp , có sắc nhưng phần đức hạnh e rằng phải xét lại...” (!)

Đó là sự buồn phiền rồi tuyệt vọng đã đưa đến cái chết của anh và cũng là nổi xót xa của những người đàn ông trong những hoàn cảnh tưong tự.

Chúng ta hãy nghe một bài hát thật đau lòng của một người trước khi từ giã cõi đời, anh L. đã viết và đã hát, mặc dầu anh không phải là nhạc sĩ hay ca sĩ:

Chúa nói yêu ta,
Mác nói yêu ta,
Em cũng nói yêu ta
Chúa hứa hẹn một Thiên đàng,
Mác hứa hẹn một vườn hồng,
Em thì hứa yêu ta suốt đời.


Nhưng...
Thiên đàng chưa tới,
Vườn hồng chẳng thấy,
Chỉ có máu, mồ hôi, nước mắt
Những vòng kẽm gai và hận thù.
Còn em thì mãi mãi...
Mãi mãi bỏ ta đi lấy chồng...

Bài hát mang âm điệu của một bài thơ với nỗi niềm xót xa, bi thảm và chán chường

o O o

Nửa tháng sau khi chúng tôi về Nam thì được thăm nuôi. Tôi rất vui mừng gặp lại vợ và hai con. Vợ tôi bây giờ đã khá hơn không còn quá ốm như hồi đi thăm ở ngoài Bắc. Cường đã lên 10 tuổi, còn Thảo thì 8 tuổi. Thảo từ xa đã chạy tới ôm lấy tôi. Con bé thật nhanh nhẹn và xinh đẹp. Cường thì vẫn e dè nhút nhát. Thăm ở đây ít bị kiểm soát hơn nhưng thời gian cũng chẳng có được là bao.

Cuộc nổi dậy phản đối ở trại Z30D (A và B)

Đám chèo ở đây cũng hách dịch hơn. Chúng cho rằng việc chúng tôi được chuyển về Nam là một ân huệ. Mỗi buổi sáng lao động, chúng muốn chúng tôi phải cung cấp bữa ăn sáng và thuốc lá cho đám quản giáo và vệ binh. Hồi ở ngoài Bắc, một số chúng tôi làm điều này để mua lấy sự tự do sinh hoạt tại nơi lao động và tại phòng giam mỗi đêm. Nhờ thế mà chúng tôi tổ chức được những ngày Quốc Khánh 1/11, Ngày Quân lực 19/6, những ngày Giáng Sinh,... Lúc này nhiều người đã sáng tác được những tù khúc rất hay, những bài thơ đấu tranh của Chung Tử Bửu, những giọng hát rất hay của Nguyễn Đức Bông (BĐQ). Nhưng bây giờ thì khác rồi. Chúng tôi rất bất bình và quyết định không làm việc đó nữa. Nếu có sự ức hiếp tại nơi lao động thì chúng tôi đồng loạt phản đối. Sự đoàn kết của chúng tôi bao giờ cũng làm đám chèo ngần ngại.

Một hôm đi lao động về các đội tập họp trước cổng chờ vào trại. Một tên vệ binh ngồi ở chòi gác trên cao hách dịch ra lịnh cho tất cả bỏ mũ nón khi đi qua trước mặt hắn. Những người đi đầu không làm công việc đó, nên hắn chận lại. Chúng tôi đồng loạt ngồi xuống trước cổng để phản đối. Tên vệ binh rất tức giận và mất bình tĩnh nên bắn một loạt trước những người đi đầu. Sỏi đá văng tứ tung, trúng vào cánh tay của anh Lê Văn Bút,Tr/tá không đoàn trưởng 72. Chúng tôi rất phẩn nộ, cùng la lên dữ dội. Tên trực trại rất kinh hoàng, phải gọi nhiều người cùng can thiệp. Đám chèo lúc đầu cũng hoàn toàn bất ngờ trước những phản ứng mạnh bạo của chúng tôi. Tên trực trại yêu cầu chúng tôi vào trong trại và chúng khóa cổng lại.

Chúng tôi cũng họp ngay ban chỉ huy và ra quyết định. Việc đầu tiên là không vào buồng đêm đó và sau khi cơm nước xong chúng tôi tâp họp toàn bộ ra giữa sân, yêu cầu trại trưởng xuống giải quyết. Dĩ nhiên chúng không thực hiện những điều mà tù yêu cầu. Chúng phải đợi họp chi bộ rồi mới ra quyết định. Đêm đó chúng cùng hát những bản đồng ca, những bài nhạc chính huấn , những bản tù khúc và đọc những bài thơ đấu tranh. Hơn 6.000 người, kể cả gần 600 người sẽ được thả vào ngày hôm sau cũng tham gia vào cuộc tranh đấu của chúng tôi. Hơn 5 năm trong tù CS chúng tôi chưa bao giờ được ca hát những bài ca rất uý kỵ đối với chúng nó. Mọi người đa số đều hào hứng, nhất là những anh em trẻ. Chúng tôi đặt những vọng gác chung quanh để kịp thời báo động. Một toán đi tuần tra chung quanh để kịp thời ngăn chặn những hành động quá khích như đốt trại. Nếu hoạt động quá khích này xảy ra, coi như chúng tôi sẽ bị chúng tiêu diệt ngay. Bên ngoài lực lượng của chúng cũng được điều động và tăng cường. Những ổ súng cộng đồng đặt trên những tháp cao chỉa thẳng vào bên trong. Có tiếng xe tank được chuyển tới...

Buổi sáng chúng tôi vẫn có mặt toàn bộ tại sân bãi, biểu tình ngồi bất bạo động. Trại trưởng, là tên Tr/ tá công an Đoàn Mạnh, không xuất hiện nhưng đám cán bộ trực trại và văn hóa có mặt để tìm hiểu nguyện vọng và yêu cầu. Chúng yêu cầu đề cử những người đại diện nhưng chúng tôi cho đây là một hành động tự ý. Chúng hứa sẽ đưa nguyện vọng lên cấp trên.

Qua một ngày và một đêm, nhiều người có vẽ mệt mỏi, nhất là vào buổi trưa nắng nóng. Nếu tiếp tục cuộc tranh đấu sẽ có những diễn tiến bất lợi. Chúng tôi cùng nhận định trong cuộc chơi không cân bằng, nếu tiếp tục sẽ thất bại và nguy hiểm. Thế này là đủ rồi. Địch cũng biết được một phần nào ý định của chúng tôi. Sau lần yêu cầu của tên trực trại vào buổi chiều, chúng tôi trở về buồng và sinh hoạt bình thường.

Ba ngày sau đám cán bộ chấp pháp xuống mở cuộc điều tra. Đây cũng là dịp để chúng tôi được nói lên toàn bộ, những việc làm láo lếu của những tên cán bộ. Dĩ nhiên trong bất cứ chế độ nào cũng có những nhân sự hành động sai. Và dĩ nhiên chúng tôi cũng biết rất rõ CS khó mà bỏ qua những sự kiện trình bày trong ngày hôm ấy mà chúng sẽ cho đó là những hành động và những lời nói có tính cách phá hoại. Nhưng chẳng thà được nói một cách danh chính ngôn thuận như thế này vẫn hơn. Tên cán bộ chấp pháp ngồi nghe, ghi chép và cuối cùng hắn nói sẽ chuyển những ý kiến này lên cấp trên để giải quyết nghĩa là để có những biện pháp kỷ luật tối đa. Đối với VC những biến cố trong những ngày qua không đơn giản hay đơn thuần là những sự kiện bất bình tự bùng nổ. Chúng muốn tìm những tổ chức thúc đẩy phía sau và những cá nhân lãnh đạo. Khi phát biểu những ý kiến trên chúng tôi cũng đã chấp nhận những hậu quả cho mình. Không phải là một hành động anh hùng cá nhân mà là sự thoát ra từ những dồn nén, căm giận từ lâu.

Nhiều anh em như anh Nguyễn Đăng Tấn, Trung tá Pháo binh SĐ21/BB, anh Huỳnh Văn Hồng, Trung tá, cũng thẳng thắn nói lên những suy nghĩ của mình. Một điều mà chúng tôi biết rất rõ những tên chấp pháp ghi nhận những ý kiến đó không phải để tìm cách sửa sai mà là những là những dữ kiện để chúng chụp mũ chúng tôi. Cũng chẳng sao. Sau bao năm trong những nhà tù VC, chúng tôi vẫn còn giữ vững tinh thần Quốc gia và những lý tưởng đấu tranh của mình. Chúng tôi sẳn sàng chấp nhận tất cả như một người lính. Cũng cần nói thêm cuộc tranh đấu của trại A đã lan tới trại B của Z30D. Và nó cũng lan tới trại Z30A ở căn cứ 4.

Kết quả “những con ma” của trại A, cùng một số ở trại B của Z30D được đưa về kiên giam tại khu xà lim Chí Hòa. Đó là biện pháp kỷ luật đầu tiên...

Xà lim Chí hòa, khu ED

Buổi sáng của một ngày sắp Tết, tất cả tập họp tại sân để chuẩn bị đi lao động. Tên cán bộ trực trại đọc trước một danh sách của những người ở nhà để làm việc. Chúng tôi đều nghĩ cái ngày ấy đã đến rồi. Tất cả đều rất bình tĩnh, chuẩn bị đồ đạc gọn gàng. Vì là mới thăm nuôi nên quà cáp hơi nhiều. Cũng may nếu đến trại mới thì cũng một thời gian nữa mới được thăm. Chúng tôi lại bị còng tay, đưa lên xe bít bùng chở vào buổi trưa 29 Tết. Mười bốn người mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ hết. Gồm có: Vũ Xuân Thông, Hoàng Bá Tất, Nguyễn Nghiêm Tôn, Nguyễn Đăng Tấn, Hoàng Vũ Duyên, Nguyễn Văn Châu, Đổ Đức Thiện, Kiều Công Cự, Nguyễn Hữu Tài,

Huỳnh Văn Hồng, Nguyễn Tiến Linh, Nguyễn Phúc Thọ, và Lê Văn Huỳnh. Tuy ngồi trong xe bít bùng nhưng chúng tôi vẫn theo dõi lộ trình cái trại giam mà mình sẽ tới. Đoạn đường đất từ đây ra đến Quốc lộ I khoảng 3 cây số theo hướng đông tây. Ra tới đường nếu quẹo phải thì ra những trại ở miền Trung còn quẹo trái thì về những trại ở miền Nam. Chúng tôi vẫn ao ước chiếc xe quẹo trái. Mà xe quẹo trái thiệt. Lại bàn tán xôn xao. Về Kà Tum, Tây Ninh hay một trại hắc ám nào đó... cũng được. Anh chàng Huỳnh, gọi là Huỳnh rèn, và Châu- Campuchia, chung một khóa ngồi ở ngoài cùng đã táy máy gở được tấm bạt. Gió nóng từ bên ngoài thổi vào và chúng tôi thấy chiếc xe đang chạy trên xa lộ Biên Hòa. Đang thẳng về hướng Sài Gòn. Long Khánh, Trãng Bom, Hố Nai, Tam Biên, sông Đồng Nai, cầu Sài Gòn, ngã tư Hàng Xanh. Một người nào đó buột miệng kêu lên: Chí Hòa. Tất cả ồ lên một tiếng vui mừng. Rồi chiếc xe chạy qua cầu Phan thanh Giản, qua Chợ Đa Kao, theo đường Hiền Vương rồi quẹo lên đường Lê văn Duyệt. Con đường này rất quen thuộc đối với tôi, con đường về nhà anh Hoàng Bá Tất, anh Tôn và tôi. Gần đến rạp chiếu bóng Thanh Vân chiếc xe quẹo trái đi vào đường Chí Hòa. Đúng là vào trại giam Chí Hòa. Đa số chúng tôi đều có nhà ở gần đây thôi.

Trại Chí hòa được xây dựng từ thời Nhật, nằm ngay trung tâm Sàigòn, có hình bát giác. Người ta còn gọi là Lò bát quái gồm một tầng trệt và ba tầng lầu. Nơi đây dùng để nhốt những tội đại hình, chung thân và tử tội. Những nhân vật quan trọng trong nội các của Chế độ cũ được nhốt ở đây như cựu Thủ tướng Phan Huy Quát, tỷ phú Nguyễn Đình Quát, các ông Bộ trưởng Ngô Khắc Tịnh, Ngô Khắc Tĩnh, Hồ Văn Châm, kể cả Đại tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông... Chúng tôi đến vào buổi trưa nên phải ngồi đợi bọn cán bộ đi ăn về rồi mới bày hàng ra khám xét. Bị mất đi một số đồ vật và thức ăn. Rồi kêu tên từng người dẫn đi. Đa số mỗi người đều nhốt trong một phòng. Tôi cũng vậy, trong một phòng ở lầu 2 thuộc khu ED.

Trong bài viết “Trong bóng tối xà lim Chí hòa (29/1/1981)”, Tôi đã ghi lại rất kỹ. Đời sống xà lim thật là gay go lúc ban đầu. Một ngày 24 tiếng đồng hồ. Thời gian thì quá dài. Ngày và đêm nhiều khi khó phân định. Nhiều khi lấy ngày làm đêm và lấy đêm làm ngày. Cuộc sống không bình thường ít nhất cũng trong vòng một tháng đầu. Một thân một mình trong căn phòng âm u thiếu ánh sáng, lần đầu tiên tôi bị bắt buộc làm người cô đơn. Nội qui không được chuyện trò, không được ca hát. Không gian trống vắng, lòng tôi cũng trống vắng. Trong cái thanh tịnh tuyệt vời tôi để lòng mình lắng xuống để suy nghiệm lại suốt cả cuộc đời mình. Hình ảnh cuộc đời, hình ảnh những người thân yêu trở về đầy ắp trong gian phòng. Niềm tin tôn giáo là một sức mạnh vô biên. Chúa đã ở cùng tôi.

Tôi không còn cô đơn trong căn phòng tăm tối này nữa. Tôi đã đứng dậy bước đi như tên tù Papillon của Henri Charrière. Tôi đã ngồi tham bích diện tường như một nhà sư Thiếu lâm thực sự để tìm sự bình an mà Chúa đã ban cho tôi, để thấy Ngài đã gìn giữ tôi trong suốt cuộc đời chinh chiến, cũng như suốt trong những ngày lao tù. Tôi cũng cầu nguyện để Người ban cho tôi trái tim không còn hận thù, căm giận. Nhưng tôi bìết điều này không phải là dể dàng.

Những ngày sau đó rôi cũng quen đi trong cái không khí âm u tăm tối này. Chúng tôi đã tìm cách liên lạc với nhau, để biết người bên phải bên trái mình là ai. Nhờ những đường ống dẫn nước mà tôi liên lạc hàng ngang bên trái mình là anh Nguyễn Đăng Tấn, bên phải mình là Hoàng – thánh –giá. Nhờ đường cống cầu tiêu mà tôi biết người đang ở trên đầu tôi là Hoàng Vũ Duyên. Chúng tôi không còn cô đơn nữa. Bọn cán bộ tìm mọi cách để rình rập và nghe lén. Có lần tôi bị còng hai chân trong vòng 10 ngày vì hát một mình trong phòng. Cũng có nhiều biến cố xảy ra ở đây mà tôi đã ghi lại trong bài viết đã nói ở trên.

Khẩu phần hằng ngày là một chén cơm trộn một chén bắp và một chén nước canh. Cơ thể thiếu muối trầm trọng. Bên ngoài vợ tôi rất lo lắng vì sự chuyển trại của tôi. Tin lành thì ít mà tin dữ thì nhiều. Nhiều người nói là chúng tôi bị đem đi thủ tiêu sau cái đêm chống đối. Sau đó nhờ móc nối với một tên cán bộ văn hóa của trại Chí hòa mà vợ tôi đã biết tin tức của tôi. Gần một năm sau chúng tôi được nhận quà của gia đình nhưng không được thăm gặp. Sau khi nhận quà lần thứ hai chúng tôi chuyển trại sau 16 tháng ở xà lim Chí Hòa.

Trại Xuân phước (Z20A Phú khánh)

Trại A

Tháng 5/1983, chúng tôi được chuyển từ trại kiên giam Chí Hòa về trại kỷ luật Xuân Phước (Phú Khánh) thuộc huyện Củng Sơn, Tuy Hòa. Trại này còn gọi là A20. Cùng đợt chuyển trại có những nhân vật đặc biệt như các ông cựu bộ trưởng tin tức chiêu hồi Hồ Văn Châm, BT tư pháp Ngô Khắc Tịnh, BT giáo dục Ngô Khắc Tĩnh, Ông Bùi Văn Hải, cựu chánh văn phòng TT Ngô Đình Diệm, cựu Thiếu tướng Cao đài Lê Văn Tất,... và nhiều nhân vật quan trọng khác, trong đó có Hoàng –thánh –giá. Tôi không biết rõ anh chàng này là ngưòi như thế nào, nghe đâu hắn là người chủ chốt trong vụ chống đối ở nhà thờ Vinh Sơn trên đường Trần Quốc Toản. Ra đến trại Xuân Phước, Hoàng bị đưa ngay vào trại kỷ luật, 6 tháng sau mới được đưa ra sinh hoạt chung... Riêng đối với 32 anh em quân đội và cảnh sát chúng tôi từ các trại Z30D và Z30A, chúng gom lại một đội và gọi là Đội Sĩ quan chống đối và do anh Th/tá Nguyễn Văn Dũng, gọi là Dũng răng vàng, Khóa 17 Đà Lạt, làm Đội trưởng.

Trại Xuân Phước được gọi là trại giam trung ương, dưới sự điều động trực tiếp của Bộ Nội vụ. Trại chuyên nhốt tù chính trị chung thân, tù hình sự có án từ 10 năm trở lên. Trại đang giữ một số tay anh chị từ chế độ cũ từ Phú Quốc và vùng kinh Năm (U Minh), một số sĩ quan nổi dậy trong trại Suối Máu trong đêm Giáng sinh năm 1978, và lâu nhất là số người còn sót lại từ vụ tàu Việt nam thương tín trở về từ đảo Guam năm 1975. Ở đây, cũng có một số nhân vật đặc biệt như Chưởng môn Vovinam Lê Sáng, Chủ nhân hãng Alpha phim, nhiều tên chủ nhân Nhà hàng, Khách sạn ba Tàu ở Chợ Lớn., rất nhiều sĩ quan Tuyên úy Thiên Chúa,Tin Lành, Phật Giáo,... Nói chung đây là một trại giam những thành phần đặc biệt.Trại gồm ba trại nhỏ A, B, C.

Chúng tôi đến Xuân Phước vào khoảng tháng Năm, khi miền nam trung bộ nắng như đổ lửa. Tù nhân đi làm không được mang giày dép. Đôi chân trần trên những đoạn đường đá sỏi và nóng hừng hực. Chúng tôi nhất quyết tranh đấu để toàn trại đi làm được mang giày dép. Chính vì vậy mà hơn một tháng sau, chúng tôi được chuyển vào trại B.

Trại B

Trại được thành lập ở dưới một cái trũng thấp, chung quanh là núi. Một con suối rộng chảy dưới chân những ngọn đồi. Vào tháng Mười nước từ các triền đồi đổ xuống gây cảnh lụt lội. Con suối mùa này trông rộng như một con sông. Những người đi thăm nuôi thường mướn những người dân địa phương chở qua bằng ghe nhỏ. Nhà thăm nuôi ở trên một đồi cao, chung quanh trồng khoai mì. Trại này chuyên trồng mía và nấu đường. So với những ngày ở trong xà lim Chí Hòa thì ở đây hạnh phúc hơn nhiều. Tôi được thăm gặp nhiều lần. Vợ tôi dẫn Cường Thảo ra thăm. Chị Ba tôi với anh Trì, anh Lang về năm 1982, cũng ra thăm. Đời sống tương đối dễ chịu. Đối với những sĩ quan chúng tôi, trại có vẻ tôn trọng hơn. Hơn hai mươi người chúng tôi được đưa xuống nhà bếp thế cho đám hình sự. Tôi được chỉ định làm Đội trưởng. Tuy nhiên người quản lý kho lại là một người tù hình sự.

Hắn có tên là Huỳnh Văn Thơm, khoảng 60 tuổi, người miền Nam, tánh tình xuề xoà Cấp bực trong quân đội VC của hắn là trung tá. Sau 30/4/1975 đơn vị hắn tiếp quản Saìgòn, và là đàn em của Trần Văn Trà nên được làm chủ tịch quận 5. Năm 1976 trong chiến dịch đánh tư sản hắn ẫm được một số vàng khá lớn, khoảng trên 500 cây, theo lời hắn kể, đem về quê ở Mỏ Cày cất kỹ. Có lẽ ăn chia không đồng đều, hắn bị tố, bị nhốt ở tổng nha Cảnh sát, rồi bị đưa ra tòa kêu án 12 năm. Tính đến nay hắn tù được hơn năm năm. Nhờ có 40 tuổi đảng nên năm nào hắn cũng được giảm án. Hắn rất bằng lòng công việc làm của mình và thường tâm sự rất tách bạch không dấu diếm: “Mình đi theo “cách mạng” hơn 40 năm từ hồi còn đi chăn trâu, rồi giác ngộ đi bộ đội, chẳng được cái con mẹ gì hết. Bây giờ có cơ hội kiếm chút đỉnh dưỡng già. Mình có ăn cắp của ai đâu. Ở tù sướng chán còn hơn ở trong rừng, trong rú...”

Tôi ở trại này được hơn hai năm. Những ngày sau cùng chứng kiến hai cái chết thật tội: T/tá Nguyễn Ngọc Chất và T/tá Nguyễn Văn Châu. Ông Chất ở trong đội nhà bếp. Ông nhỏ con nhưng rất lanh lẹn và khỏe mạnh. Tánh tình cuả ông cương trực hay giúp đỡ những người gặp khó khăn. Mỗi lần đi lãnh gạo ông đều tình nguyện đi theo. Ông nói đi ra ngoài thoáng hơn. Thường một tháng đi lãnh gạo một lần. Tôi cắt cử 6 người đi theo Sáu Thơm. Đáng lẽ Sáu Thơm đi theo để cân, nhưng hắn làm biếng nên nhờ tôi đi giùm. Đến kho tôi nắm bàn cân còn 6 người còn lại vào khiêng gạo bỏ lên mâm. Đang làm ông Chất bảo tôi sao thấy chóng mặt quá, nên tôi bảo ông lại chỗ khác ngồi nghỉ. Xong xuôi tôi thế ông đẩy xe với Hoàng quẹo. Ông Chất lẽo đẽo theo sau nhưng dáng điệu rất mệt. Chúng tôi bàn nhau san bớt gạo qua hai xe, rồi để ông lên ngồi xe ít hơn. Ông Chất nhỏ con và trọng lượng khoảng 40 kg. Về đến trại chúng tôi chở thẳng ông xuống trạm xá. Nửa giờ sau người trạm xá lên lãnh cơm báo là ông Chất đã chết vì động tim. Cái chết đến thật mau mắn và nhẹ nhàng. Ông đã được chôn trên đồi khoai mì phía sau trại cùng với những người bạn đã nằm xuống.

Người thứ hai là Nguyễn Văn Châu, T/tá, trưởng phòng 2 SĐ/TQLC, dân Mỹ Tho, nước da ngăm ngăm, có biệt danh là Châu Campuchia. Lập trường Quốc gia rất vững chắc và rất căm ghét CS. Nhiều khi bộc lộ một cách quyết liệt, mạnh bạo trước đám chèo. Châu là người bạn cùng tranh đấu với tôi từ trại Nam Hà, rồi về Hàm Tân và xà lim Chí Hòa, rồi ra Xuân Phước cùng ngày. Vì cùng binh chủng cho nên chúng tôi rất thân nhau. Trước 30/4/1975 Châu là một sĩ quan có năng lực, có chuyên môn cao, tánh tình thẳng thắn, trung thực. Vào tù anh luôn cất cao đầu, không mặc cảm, không tự hạ mình trước kẻ thù. Thái độ của Châu nhiều khi làm cho bọn cán bộ rất bực mình. Trong cuộc tranh đấu tại trại Hàm Tân, Châu đã chứng tỏ cho bọn chấp pháp thấy được sự kiên cường bất khuất của một SQ/QLVNCH. Cũng cần viết thêm, trong trại tù CS đã có những SQ/TQLC rất đáng được tôn trọng và vinh danh như: Mai Văn Tấn, Phạm Cang, Lê Quang Liễn, Trần Văn Loan, Vỏ Đằng Phương, Nguyễn Kim Chung,...

Cuộc sống của Nguyễn Văn Châu đang bình thường thì cơn bịnh sơ gan cổ chướng bộc phát và đã đến thời kỳ trầm trọng. Chỉ trong vài ngày mà những mà những triệu chứng lộ hẳn ra bên ngoài như nước da vàng bệch, lòng trắng của mắt biến thành màu vàng bệch, nước tiểu cũng vàng. Anh em trong trại gom toàn bộ trụ sinh cho Châu nhưng đã trễ quá rồi. Châu được khiêng lên bịnh xá của liên trại và sau đó được chuyển ra bịnh viện Phú Khánh. Châu đã mất ở đây. Lần đầu tiên tôi nghe thấy bọn chúng cho phép thân nhân đem xác Châu về chôn ở Mỹ Tho.

Những ngày sau cùng trong tù CS Những ngày đầu năm 1985 tại trại B Xuân phước. Đội nhà bếp chúng tôi thường xuống đi làm khi trực trại vừa mở cửa vào buổi sáng. Sau khi phát phần ăn sáng cho trại, kể cả những người ở khu kiên giam, thì tên quản giáo vào sớm và cho lịnh: nhà bếp chỉ để lại một người ở lại nấu nước còn bao nhiêu tập họp lên Hội trường.

Cả trại được lịnh tập trung lên hội trường trong khu trung tâm của trại. Đám cán bộ và vệ binh cũng có mặt đầy đủ. Tôi linh cảm như có một cái gì đó bất thường. Sau khi mọi người ổn định vị trí, tên trại trưởng đọc một bài diễn văn muôn thuở về đường lối của đảng và nhà nước, rồi hắn ngừng một lát, đưa mắt nhìn mọi người rồi đi thẳng vào vấn đề:

- Hôm nay tôi sẽ đọc ba danh sách: Những người được chuyển trại, những người tiếp tục học tập cải tạo tại trại, và những người được tha... Những người có tên trong danh sách nào thì lo thu dọn đồ đạc và ra xe...

Cái tiếng được tha làm mọi người xôn xao lo lắng. Mình đang ở trong danh sách nào đây. Tôi cố gắng trấn tĩnh, nhưng không dấu được những hồi hộp lo âu. Miệng thấy lạt lẽo và thèm một hơi thuốc. Tôi móc bọc thuốc rê và giấy ra để quấn. Hai bàn tay rung lên nhè nhẹ. Gần 10 năm rồi. Không biết đã đủ chưa? Cả hội trường cũng im lặng chờ đợi tên của mình. Những người được gọi tên trong danh sách chuyển trại tỏ vẻ thất vọng. Họ đứng dậy nói lời từ giã bạn bè rồi lặng lẽ bước đi.

Đợi cho đoàn xe chạy rồi tên trại trưởng bắt dầu đọc danh sách thứ hai, nhưng lần này hắn đổi lại đọc danh sách những người được tha. Mọi người ồ lên một tiếng vui mừng và hy vọng. Điếu thuốc trên tay tôi vấn vẫn chưa xong thì tên tôi được đọc lên. Tôi thẩn thờ đứng dậy. Lòng xúc động muốn khóc hết sức. Người bạn ngồi bên cũng có tên. Nó kéo tay tôi đi. Tôi đưa bọc thuốc rê cho một người nào đó mà bây giờ tôi vẫn không nhớ ra. Trong danh sách có Nguyễn Phú Tài, Hoàng Vũ Duyên, Trần Văn Châu, Hoàng Bá Tất, Vũ Xuân Thông, Nguyễn Đăng Tấn, cả các ông Hồ Văn Châm, Ngô Khắc Tịnh, Ngô Khắc Tỉnh, Lê Văn Tất, kể cả anh Đội trưởng răng vàng Nguyễn Văn Dũng.. ..

Cái Đội gồm những sĩ quan chống đối từ xà lim Chí Hòa về đây, đa số đều được về... Chúng tôi trở về láng trại, thu dọn đồ đạc. Thật ra tôi chỉ lấy bộ quần áo dân sự mà hôm trước thăm nuôi vợ tôi đã đem ra, một vài món cá nhân. Còn bao nhiêu đồ ăn, quà cáp để lại cho bạn bè. Tất cả được đưa lên một chiếc xe molotova để ra trại A cũng là cơ quan của tổng trại để nhận giấy ra trại và tiền đi đường. Gần 2 giờ chiều thủ tục mới xong xuôi. Chúng tôi được chở ra Tuy Hòa và xuống xe ở một nhà ga xe lửa gần nhất. Nhiều người lên một chuyến tàu chợ sau cùng để về Nam. Tôi theo một số người đi ngược về Đà Nẵng. Tôi muốn về thăm Mẹ và hai Chị tôi trước khi về Sài Gòn cùng với gia đình nhưng phải chờ đến sáng mai mới có chuyến tàu ngược bắc. Nhiều người nóng lòng quá giang xe đò, xe tải...

Đêm nay trăng thật sáng, ánh trăng chảy tràn đầy trên muôn vật, cũng như trên tấm lòng thật hạnh phúc của chúng tôi lúc bấy giờ. Có 3 người tù vừa mới được ra trại đang chờ tàu. Những người dân ở đây nhìn vào là biết ngay chúng tôi là ai. Họ hỏi chúng tôi tối nay định ngủ lại ở đâu? Tôi nghĩ chắc ở ngay trên sân ga này chứ còn ở đâu. Một người đàn ông trung niên bảo về nhà ông ấy mà ngủ. Cũng chẳng có gì để làm phiền người ta, với lại đêm nay chắc khó ngủ, chúng tôi cám ơn rồi rủ nhau đi tìm một cái quán ăn tối. Tô bún bò Huế thật ngon với một ly trà đá. Chủ quán nhất định không lấy tiền lại còn tặng mỗi người một gói thuốc lá.

Người dân miền Nam vẫn còn nhớ đến những người lính chiến năm nào. Mặc dầu bây giờ đã sa cơ thất thế nhưng cái phong thái, cái tư cách của một người lính của Quân lực VNCH năm xưa vẫn còn đó. Chúng tôi trở lại nhà ga. Không có một ai. Tất cả đều vắng vẻ. Tôi đến ngồi bên tam cấp nhìn trăng sáng lung linh. Tôi nghĩ đến những ngày tháng trong tù. Tôi bước vào tù ở cái tuổi 33, cái tuổi sung sức nhất. Tôi ra tù ở cái tuổi 43. Kể cũng còn đủ ý chí và sức lực để làm lại một cái gì. Thế là tôi đã trải qua 9 năm 6 tháng 10 ngày trong 13 trại tù của VC mà chúng gọi là những trại “học tập cải tạo”. Thật ra tôi không muốn tranh luận về 4 tiếng vô nghĩa đó. Chỉ có một điều khó tin nhưng có thật là hằng trăm ngàn Sĩ quan và Viên chức của VNCH đã tự động hay tình nguyện đi vào cái bẩy sập của VC. Những người miền Nam còn quá nhiều thơ ngây đối với bọn cáo già hay là chúng tôi không còn con đường lựa chọn nào khác?

Cũng có nhiều người bỏ nước ra đi, cũng có nhiều người tìm cách chống lại, nhưng tất cả đều vô vọng, chỉ làm cho chiếc còng số 8 càng siết chặt thêm. Còn đường lối và chủ trương của VC thì đã có sẳn theo đúng lý thuyết của bọn chúng và đã được tên cán bộ cao cấp Phạm Văn Đồng nhắc lại trong một cuộc họp nội bộ: “Đối với những viên chức và Sĩ quan của “Ngụy quân và Ngụy quyền”, chúng ta không nên giết ngay để mang tiếng với thế giới. Chúng ta chỉ cần cho chúng ăn thật ít và bắt làm việc thật nhiều. Như thế cũng đủ giết chúng một cách thê thảm rồi.”

Trên thực tế, những điều này đã được áp dụng một cách triệt để bằng những hình thức đày ải đến những vùng lam sơn chướng khí, giam cầm tra tấn trong những phòng giam tăm tối và lâu dài, bắt lao động khổ sai, hạ nhục, đánh đập, kể cả việc bắn giết, thủ tiêu rất tùy tiện...

Tất cả chỉ nhằm một mục đích là,

- tiêu diệt những thành phần đối nghịch bằng những phương tiện dã man và hiểm độc nhất. Nhưng anh em chúng ta đã không chết và sẵn sàng làm nhân chứng để nói lên cho cả thế giới cái bản chất của một

- chủ nghĩa độc tài, gian manh và độc ác. Một chủ nghĩa chỉ biết áp đặt và bạo lực. Một quái thai của thời đại.

Những người bước ra khỏi trại tù VC đều nhận thấy rõ một điều:

Dầu bị phủ nhận, cấm đoán, và bôi bẩn, Chính nghĩa Quốc gia cuả chúng ta vẫn cao quí và trong sáng. Chúng ta đã tỏ rõ lập trường chính trị của mình vững vàng hơn bao giờ hết để từ đó đưa đến một thái độ dứt khoát là Không chấp nhận, không sống chung với cộng sản.

1. Bao nhiêu năm sống trong những trại tù CS cho chúng ta nhận diện được cái bản chất hung tàn của chế độ, một tâm địa dối trá, lọc lừa của đám lãnh đạo, và tính cách vô luân, hèn hạ của những con người thừa hành. Đó là những tên công an mang nhiều tính chất thú vật hơn là con người.

2. Đúng là “Ở trong chăn mới biết chăn có rận” như ông bà ta đã nói, hay “Chỉ có những người ăn chung một cái bát với chúng ta mới hiểu được chúng ta”. Cho nên VC chỉ lường gạt được những người nhẹ dạ, cả tin, những người chưa sống qua một ngày trong những nhà tù của chúng.

Sống là tìm kiếm một mục tiêu cao cả để tôn thờ, để lựa chọn những cách và phương tiện tranh đấu, và sẵn sàng đương đầu với mọi trở ngại, khó khăn để thực hiện cho kỳ được Lý Tưởng của mình. Chúng ta đã sống qua những đoạn đường khó khăn nhất của cuộc đời mình một cách trọn vẹn và trong sáng. Chúng ta vẫn có quyền hãnh diện là một người lính VNCH, và có quyền xác nhận chế độ CS sẽ có ngày cáo chung trên toàn thế giới.
Kiều công Cự, TQLC
Anaheim ngày 7/7/2012

Nỗi Khổ Sống Già :Mai mốt tốt nhất đừng có chúc ông bà sống lâu trăm tuổi

Nỗi khổ sống già

Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lão nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không?... Tới mừng thôi nôi cháu ngoại Bích Ngọc, không thấy Quế Hương, bạn cố tri của Ngọc, tôi hỏi:
- Sao bữa nay không thấy Quế Hương tới dự thôi nôi cháu bà vậy?
- Dự sao được, mấy bữa nay bả te tua rồi?
- Sao vậy?
- Ừa, thì mấy bữa nay ông già bệnh. Chắc cũng sắp đi rồi.
- Thì trên trăm tuổi rồi. Ông đã như thân cây mục, cũng nên để ông thay đổi hình hài khác đi chứ. Nhưng còn anh cả đâu? Nghe đâu anh cả chăm ông cụ mà.
- Ổng xụm luôn rồi. Mà nói tới ông anh cả của bả mới tội, ổng gần tám mươi rồi mà không được hưởng tuổi già, được sống gần con cái ở Quy nhơn mà phải ở đây lo cho ông già hơn trăm tuổi mới khổ chứ.
- Nhà Quế hương đông mà, sao lại bắt ông già trẻ chăm ông già già?
- Thì tại vì ổng là anh cả với lại mấy người kia ở nước ngoài hết rồi. Phần cũng tại ổng nghèo nhất, không có tiền lo cho cha thì phải lãnh phần chăm sóc ông cụ chứ. Mấy người kia chu cấp tài chánh. Đứa bỏ công, người bỏ của mà.
Nói tới anh em ở nước ngoài của Quế Hương tôi mới nhớ là lâu lâu ông cụ làm mệt, Quế Hương gọi các anh chị mình về. Khi về tới nơi thì ông cụ khỏe lại. Cứ thế trong hai năm các anh chị của Quế Hương phải tức tốc về tới bốn lần mà ông cụ cũng chưa đi. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, có hai người anh của Quế Hương lại dám bỏ việc hoài nên bị mất việc luôn, nhưng bổn phận làm con mà, biết sao giờ?

Không có Quế Hương tôi mất bạn tung hứng nên truy Ngọc:
- Nhưng sao tự nhiên Quế Hương lại te tua?
- Thì ông già hơn tám mươi phải chăm ông già hơn một trăm, nên ông già già chưa khỏe thì ông già trẻ đã sụm rồi. Vậy nên bây giờ Quế Hương phải chăm cả hai ông chứ sao.
Tự nhiên Bích Ngọc cười khùng khục:
- Nhớ bữa hổm ông anh cả than với tui, ổng nói : "Trời ơi, hỏng biết chừng nào ông già chết cho tui khỏe vài năm trước khi theo ông bà tổ tiên đây!”
- Nói gì thảm vậy?
- Bà nói “thảm” là ai thảm?
- Thảm cho cả hai. Bởi vậy mai mốt tốt nhất đừng có chúc ông bà sống lâu trăm tuổi rồi rên nha.

Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lão nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không? Tuổi già lú lẫn, hình hài nhăn nhúm, sức khỏe suy giảm. Tôi nhớ khi còn nhỏ, dù được cả nhà dạy phải biết kính yêu bà cố nhưng đứa cháu nhỏ của tôi dứt khoát không thấy thoải mái với bà. Có lẽ khi nó có ý thức chút thì bà đã nhăn nheo xấu xí quá rồi, hình ảnh của bà không giống với bà tiên trong truyện cổ tích nữa. Khi đó, bản thân bà không tự chăm sóc được nên bao người lớn quanh nó phải dành sự chăm sóc cho bà nhiều hơn cho nó và nó thì luôn bị mắng mỏ vì ồn ào, vì phá phách làm bà không nghỉ ngơi được. Dạy dỗ gì thì nó cũng thấy mình thiệt thòi vì bà nên nó cứ mơ hồ, miễn cưỡng ghi nhận công lao dưỡng dục xa xưa của bà… Thế nên gia đình dòng họ cứ trách móc nó không ngoan, không biết ông bà, bây giờ nó là đứa cháu vô tình, không biết cội nguồn mai mốt chắc là đứa con bất hiếu.

Tôi nhớ có lần đến tiệm làm tóc, con bé làm móng cho tôi khoe:
- Bà cố của con năm nay 115 tuổi rồi, bà được cả chủ tịch tỉnh đến thăm đó cô.
- Bà con thọ quá há. Vậy bây giờ ai lo cho bà?
- Dạ, ông ngoại tám của con nuôi.
- Vậy ai nuôi ông ngoại?
- Dạ mấy cậu mấy dì nuôi.
- Mấy cậu mấy dì khá không?
- Dạ nghèo lắm.
- Có bà thọ đến vậy chắc thích lắm hả?
Nó trầm ngâm một hồi rồi nói:
- Dạ thích chứ cô. Dòng họ con ai cũng thích bà thọ để khoe, chỉ có ông ngoại tám của con thì không thích lắm. Ông nói: ”Phụ tiền bạc chăm lo cho ông bà là chuyện dễ, trực tiếp chăm lo bệnh hoạn, chịu đựng tính khí của người già mới là khó”.

Câu chuyện của con bé làm móng làm tôi nhớ tới câu chuyện buổi sáng khi tôi đi bộ cùng các bạn trong cùng khu phố, đề tài vô tình nói về tuổi già và về việc phụng dưỡng cha mẹ già. Chị Xuân nói:
- Dì của em năm nay tám mươi sáu tuổi rồi mà còn làm dâu đó.
- Vậy bà mẹ chồng chắc thọ lắm.
- Bà đã hơn trăm tuổi. Mấy chục năm trước khi chú em đi bộ đội về hưu, thấy bà đã hơn tám mươi bèn quyết đem bà về nuôi, nghĩ mẹ chắc cũng không còn sống bao lâu nữa, ráng gần gũi phụng dưỡng mẹ vài năm nhưng tới giờ đã gần hai mươi năm bà vẫn ăn khỏe và vẫn đòi hỏi cơm dâng nước hầu, trà thuốc mỗi ngày làm dì em oải muốn chết.
- Nhưng cha mẹ già thì mình phải phụng dưỡng chứ sao!
- Thì đó là bổn phận mà, có điều dì của em cũng đã hơn tám mươi, con dâu dì thuộc thế hệ mới, nó không chịu hầu dì mà dì thì không dám không hầu mẹ chồng.
- Đó là bất hạnh thế hệ của dì đó. Người ta gọi thế hệ 5X là thế hệ trắng tay, hồi nhỏ thì sợ cha mẹ, khi cha mẹ lớn tuổi thì tự cho mình có bổn phận phải phụng dưỡng. Đối với con cái thì không dám uy quyền, nếu không nói là dốc hết sức mà lo cho con nhưng lại không dám mong con cái lớn lên sẽ chăm lo cho mình, sợ làm phiền nó…

Câu chuyện của chị Xuân làm tôi nhớ tới có lần tôi gặp hai bà lão ở New Jersey. Bà lão người Việt cứ theo nài nỉ tôi nhờ tôi nói giúp với cha xứ mà tôi thân, để cha nói với con cái bà cho bà được vào Viện dưỡng lão người Việt. Lý do là vào ngày thường, con cháu bà đứa đi học, đứa đi làm. Tối về thì đứa nào về phòng đó. Suốt ngày bà ở nhà một mình buồn quá, bà ước ao có tiếng nói đồng hương hay tiếng nói của con người cho đỡ cô quạnh. Tôi nói lời thỉnh nguyện của bà với cha xứ, cha xứ nói đó là chuyện riêng của gia đình con chiên, cha không muốn can thiệp.

Rồi cũng trong những ngày đó, cũng tại khu phố đó, tôi lại tiếp xúc với một bà lão gần tám mươi người Mỹ, chân cũng đã run, mắt cũng đã mờ rồi mà lại sống một mình. Bà ham chuyện lắm nhưng khi hỏi bà ở một mình có buồn không, sao không ở chung với con cháu cho vui. Bà nói dứt khoát:
- Con tôi nó có cuộc đời của nó. Tôi không muốn và không thể trói buộc cuộc đời nó vào cuộc đời tôi vì tôi sống già.
- Nhưng đó là bổn phận của con cái đối với cha mẹ lúc về chiều mà.
- Giáng sinh, sinh nhật tôi có khi nó dẫn vợ con về thăm. Vậy là đủ. Còn bình thường mỗi năm nó chỉ có một số ngày phép, tôi không cho phép mình bắt nó về thăm hoài mà để nó thoải mái đưa gia đình đi đây đi đó. Đòi hỏi ở con là ích kỷ.
Đúng là Tây Ta có khác. Tây nuôi con, khi con vừa lớn đủ, Tây thả cho con vào đời, mong con như cánh chim trời, có sức bay càng xa càng tốt. Tây vui khi dõi theo cánh chim bay. Ta nuôi con, ngày nào còn khả năng, ta vẫn còn muốn giang đôi cánh ra để ấp ủ chăm lo cho con dù cho con có lớn đến bao nhiêu tuổi. Rồi cũng vì cách nuôi dưỡng yêu thương không bờ bến đó, khi già, ta mong con cũng quay lại dòm ngó đến ta dù chỉ bằng một phần nào tình yêu thương mà ta đã cho. Ta nắm níu nhau qua lại, ta làm ấm lòng nhau cũng có mà phiền lụy nhau cũng nhiều.

Trở lại chuyện con bé làm móng, tôi hỏi:
- Bà con đẹp lão không, hôm nào cô đưa chú tới chụp hình bà nhá.
- Dạ bà không khỏe lắm đâu cô, bà của con lòa rồi, chỉ nằm một chỗ thôi.

Nghe con nhỏ trả lời tôi lại nhớ tới một bà lão người dân tộc ở Bảo Lộc đã 103 tuổi, da bà đen nhẻm, từng centimet da thịt hiện lên những nếp thời gian trông hay ho và đẹp đẽ lạ lùng. Toàn thể con người trần trụi của bà như một món đồ cổ xưa. Ánh mắt của bà trắng dại đưa ta ngược về cả thế kỷ trước. Nói chuyện với con cháu bà lão mới thấy họ kính yêu và quan tâm đến bà vô cùng, nó nói:
- Hôm trước bà con bệnh, cả nhà con bỏ hết nương rẫy về chăm bà.

Nghe con nhỏ nói về bà với cái giọng thiết tha làm tôi thầm cảm mến em, người dân tộc không cần học Khổng Mạnh cũng biết kính yêu ông bà. Em khoe tiếp:
- Bà em nuôi cả nhà đó cô.
- Nuôi cả nhà? Bà già vậy thì có sức đâu mà làm nuôi cả nhà?
- Dạ, tại cô không biết, già thiệt già thì không cần làm gì cũng có tiền mà cô. Nhà nước cho mỗi tháng vài trăm ngàn. Lâu lâu mấy cô chú vô chụp ảnh chừng vài giờ cũng được cả trăm ngàn. Chưa kể khách nước ngoài đến chụp ảnh thì còn cho cả giấy xanh, bán được nhiều tiền lắm. Cả nhà con kiếm tiền không bằng một mình bà đâu.
- Vậy nếu bà không kiếm được nhiều tiền thì có yêu quí bà không?
- Có chứ cô. Vẫn yêu quí bà chớ nhưng nếu bà bệnh tốn tiền quá thì không mong bà sống lâu đâu. Bà sống đủ rồi thì thôi, để dành ngô khoai nuôi trẻ nhỏ.

Lời con bé người dân tộc làm tôi ngẫm nghĩ hoài "Sống đủ rồi…”. Thế nào là sống đủ, ai có quyền định cái chữ đủ ở đây. Phải chăng sống khỏe như bà lão người dân tộc thì sống hoài vẫn chưa đủ, còn sống mù lòa yếu đuối như bà cố của con bé làm móng là quá đủ. Nhưng đủ hay không đủ thì ai có quyền quyết định, kể cả bản thân của người đó.

Tôi có quen biết một đôi vợ chồng nay đã ngoài bốn mươi rồi mà không dám có con cái gì, ở vậy nuôi chó và chăm hai bà mẹ hai bên với một người giúp việc.
Bà mẹ bên vợ bị bệnh tiểu đường nằm bẹp trên giường không tự lo cho bản thân được. Đã vậy bà lại còn mất trí nhớ, bà chẳng còn nhớ được ai trừ con chó nhỏ vẫn quấn quít bên bà và đứa con gái đang ngày đêm chăm lo. Khi bức bối là bà la hét. Mỗi đêm hai vợ chồng phải thức dậy giúp bà tiểu tiện và tiêm thuốc cho bà. Bà mẹ bên chồng vẫn còn đi lại được nhưng cũng đã đã ngoài tám mươi. Tôi đã chính mắt thấy anh chồng đút cơm cho mẹ mình với một đôi mắt yêu thương. Hai vợ chồng này chưa hề biết đi đâu chơi xa là gì. Đến ngày tết, ngày lễ còn thê thảm hơn vì người làm nghỉ hết, hai vợ chồng phải đích thân lo toan mọi bề cho hai bà mẹ. Tôi nhìn tình cảnh của họ mà cảm kích, thương cho sự hiếu thảo hiếm hoi còn sót lại trong thời buổi này. Tôi nhớ có một người bạn thấy xót cho sự thiệt thòi cực khổ của đôi vợ chồng trẻ bèn xúi dại người chồng:

- Bà mẹ vợ của mầy sống đời thực vật lại không còn nhận biết ai nữa. Để bà sống thì khổ bà mà khổ luôn tụi bây, mầy để bà đi cho rồi…
- Người ngoài bao giờ cũng thấy khác, cảm khác, còn người thân trong cuộc thì không thể dứt ruột ra mà làm vậy được đâu.

Trông người lại nghĩ đến mình. Giờ bản thân cũng đã nghỉ hưu, đã xếp vào hàng “bà bà” rồi, cái ngày mình già nua yếu đuối lẩm cẩm đang sầm sầm bước tới, không biết sức khoẻ mình rồi sẽ ra sao, con cái sẽ đối xử thế nào. Nữa đây khi đã già, đã yếu, đã chết được rồi mà trời chưa cho đi thì có dám tự xử không hay lại kéo lầy nhầy những ngày tàn héo úa.

Đọc báo thấy tổ chức Y tế cứ nói hoài những bệnh của người già, quỹ hỗ trợ người già, nước này đang già, nước ta cũng sắp già rồi... tưởng tượng nếu mai này ra đường thấy ai cũng nhăn nheo, đi đứng chậm chạp, nói năng lập cập mà sống hoài không chịu đi… thì loài người có nên tiếp tục nghiên cứu để con người trường sinh bất tử chăng?

Văn Mỹ Lan

Việt kiều lãnh họa : công nghệ phẫu thuật thẩm mỹ

Việt kiều lãnh họa sau khi về nước tìm dịch vụ thẩm mỹ rẻ tiền

HUYET-HOA 2012/10/14
Hiện nay, công nghệ phẫu thuật thẩm mỹ với đủ các “chiêu trò” đã trở nên khá quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Từ hàm răng, mái tóc…đến những bộ phận “nhạy cảm” nhất của con người đều có thể phẫu thuật thẩm mỹ để biến đổi như ý muốn. Bên cạnh mặt tích cực, không ít người thiếu may mắn đã phải sống dở, chết dở vì những tai nạn hi hữu khi làm đẹp.

Rước họa vì đi thẩm mỹ

Người xưa có câu “hàm răng mái tóc là góc con người” nên việc người dân sẵn sàng chi tiền đi thẩm mỹ để có một hàm răng như ý không còn là điều hiếm gặp. Người chi ít thì từ vài triệu đồng, người chi nhiều thì con số có thể lên tới cả trăm triệu đồng, bù lại nếu thành công thì kết quả sẽ được như…mơ.

Phiên tòa xét xử vụ kiện giữa nguyên đơn là anh Đàm Thảo (42 tuổi, Việt kiều Mỹ) và bị đơn là một bác sĩ nha khoa liên quan đến việc đòi bồi thường 28 cái răng bọc sứ diễn ra cách đây khá lâu, dù vậy mỗi khi nhắc đến người nghe đều không thể quên được bức xúc của anh với những tình huống bi hài.
Đầu năm 2011, anh Thảo từ Mỹ trở về nước với ý định tìm bác sĩ nha khoa có uy tín để chữa răng cho mình, do ở trong nước có nhiều cơ sở có uy tín mà giá thành lại rẻ hơn so với ở nước ngoài.

Anh Đàm Thảo bức xúc trình bày sau phiên tòa.
Anh cho biết, ngày 12/2/2011, anh đến phòng khám của bác sĩ Trần Xuân Thắng. Tại đây, hai bên thỏa thuận bác sĩ Thắng sẽ chữa trị bọc sứ 28 cái răng cho anh trong vòng 7 ngày với số tiền tổng cộng là 80 triệu đồng.
Hai bên thỏa thuận xong, anh đã giao tiền nhưng sau đó bác sĩ Thắng không trực tiếp chữa trị mà giao cho nhân viên của phòng khám.

Gần một tháng trôi qua, người nhân viên phòng khám mới chỉ bọc cho anh được 20 cái răng bằng sứ nhưng số răng này cũng không khớp với kích cỡ chân răng của anh nên gây ra đau nhức. Không chịu nổi những cơn đau, anh yêu cầu người nhân viên tháo ra hết sau đó mới gắn lại toàn bộ 28 cái.
Thật oái oăm khi vừa gắn xong 28 cái răng lần thứ hai thì đâu lại vào đó, những cơn đau buốt khủng khiếp khắp vùng đầu, vùng mặt lại xuất hiện.

Sau nhiều lần quay lại phòng khám đề nghị chỉnh sửa nhưng không gặp được bác sĩ Thắng nên anh buộc phải đến một phòng khám nha khác để chỉnh sửa để chấm dứt những cơn đau. Bức xúc vì mất cả trăm triệu đồng mà không được như ý, lại phải chịu đau đớn, anh đã làm đơn khởi kiện bác sĩ ra tòa đòi bồi thường.

Nâng ngực mất luôn núm vú

Trường hợp của anh Thảo không phải ngoại lệ. Cũng là nạn nhân do phẫu thuật thẩm mỹ, chị L. (Việt kiều Mỹ) còn phải trải qua cả sự đau đớn về thể xác lẫn tinh thần.
Cuối năm 2007, do có nhu cầu thẩm mỹ ngực, chị lên mạng tìm kiếm bác sĩ thẩm mỹ thì bắt gặp trang web của mỹ viện do bác sĩ H. làm chủ quảng cáo bác sĩ này có chuyên môn cao, trên 25 năm kinh nghiệm.
Phẫu thuật thẩm mỹ, bệnh nhân phải trải qua những đau đớn nhưng không phải ca phẫu thuật nào cũng thành công như ý muốn.
Ngay lập tức, chị L. liên hệ trình bày nguyện vọng muốn bác sĩ H. phẫu thuật, mổ lấy túi ngực cũ ra, thu nhỏ ngực lại sau đó bỏ túi nhỏ vào, không được đụng chạm đến núm vú.
Bác sĩ H. đồng ý với khoản chi phí 2.000 USD, chưa kể khoản bồi dưỡng cho nhân viên phụ mổ. Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật ít ngày, chị L. không thấy bộ ngực mình đẹp hơn trước mà còn tệ hơn rất nhiều, núm vú bên phải sưng tấy và đen như mực.

Gần nửa tháng trôi qua vết mổ không lành mà trở nên bung bét, hở hết phần vừa cắt chỉ, thậm chí nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong.
Sau khi mổ lại lần hai, vết mổ vẫn hở và chảy nước nên đành phải lấy túi nước ra. Sau thời gian dài nằm viện, chị L. trở lại Mỹ với bộ ngực phẳng lỳ, chằng chịt những vết sẹo, núm vú bên phải tự rơi ra, xếp loại tỷ lệ thương tật 16%.

Quá phẫn nộ trước sự thất bại của ca phẫu thuật dẫn đến những thiệt thòi về thể chất và đời sống tinh thần của mình, cuối năm 2008, chị L. quay lại Việt Nam đề nghị bác sĩ H. bồi thường.
Không được chấp nhận nên sau đó chị khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường 330 triệu đồng gồm tiền thuốc men điều trị, tổn thất tinh thần, chi phí đi lại...

Người cộng sản - cộng sinh hay ký sinh?


- Họ đi lại bằng các loại xe hơi đắt tiền, mỗi bữa tiệc tùng của họ có thể lên đến hàng trăm triệu đồng, với những con cua Hoàng Đế giá 10.000.000 triệu mỗi con, mỗi con tôm hùm giá 2.000.000 triệu đồng mỗi con, về lý thuyết đó là tiền ngân sách để tiếp khách, nhưng trên thực tế tiền ngân sách cũng đến từ nguồn thuế thu từ trong dân, để vừa trả lương thưởng, bổng lộc cho quan chức chính phủ để họ xây nhà mua xe và ăn nhậu nhưng đối lại, lãnh đạo đảng và nhà nước có mang đến nguồn lợi ích nào cho dân chúng theo quan hệ cộng sinh hay không?

*

Từ ngàn xưa, khi người phụ nữ còn bị xem là công dân hạng hai trong xã hội, bởi quan niệm trọng nam, khinh nữ, người phụ nữ chưa được tham gia vào các công việc như những đấng mày râu mà chỉ chủ yếu làm công việc nội trợ và sinh đẻ, thì mối quan hệ trong gia đình cũng được mặc nhận là mối quan hệ cộng sinh, vì dẫu công việc nội trợ là công việc không tên, và không hề tạo ra của cải cho gia đình, nhưng người ta vẫn thừa nhận là quan trọng để ổn định cuộc sống gia đình, nhất là vai trò của người phụ nữ trọng việc chăm sóc, nuôi dạy con cái nên người, để đức “lang quân” yên tâm mà làm công việc ngoài xã hội, do vậy mà sự đảm đang của người phụ nữ trong vai trò nội trợ không phải là không quan trọng đối với sự thành đạt, sự thăng tiến của chồng. Người ta đã nhìn nhận rằng: “Đằng sau sự thành đạt của người đàn ông, có bóng dáng của người phụ nữ”.

Gia đình vốn được xem là một xã hội thu nhỏ, cho nên cũng tương tự như mối quan hệ gia đình vậy, mối quan hệ xã hội, tức là mối quan hệ giữa các quan chức trong chính phủ, là những người không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, dù không như những công nhân, nông dân những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chật cho xã hội, cũng được mặc nhận là mối quan hệ cộng sinh. Bởi dẫu không trực tiếp làm ra của cải vật chất như những nông dân, công nhân lao động chân tay, nhưng các viên chức chính phủ, các nhân sự ở các cơ quan hành chánh công quyền của nhà nước đóng một phần rất quan trọng trong việc tạo sự ổn định xã hội bằng cách hoạch định và thực thi các chính sách đối nội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, để những người lao động sản xuất có được một môi trường làm việc tốt nhất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Tuy nhiên, gần đây nhiều người đặt vấn đề xem xét lại mối quan hệ trong xã hội cộng sản Việt Nam hiện nay là mối quan hệ gì, cộng sinh hay ký sinh, bởi theo nhiều người thì hình thái xã hội Việt Nam đã hoàn toàn thay đổi từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi một thể chế chính trị mới, một nền cai trị đất nước mới được áp đặt vào xã hội, thì những mối quan hệ xã hội cũng đã dần thay đổi: Các lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, các quan chức nhà nước không còn duy trì mối quan hệ cộng sinh với xã hội, với tầng lớp lao động nữa, mà họ đã trở thành những loài ký sinh, sống bám hoàn toàn vào xã hội, vào nhân dân lao động.

Để xác nhận mối quan hệ mới trong xã hội Việt Nam đương đại, cũng như nhận đinh mới của nhân dân đối với quan chức nhà nước như vậy, tưởng cũng cần tìm hiểu thế nào là cộng sinh, thế nào là ký sinh.

Theo định nghĩa của các nhà sinh học thì cộng sinh là mối quan hệ hỗ trợ cần thiết và chặt chẽ giữa 2 hay nhiều loài trong đó các loài đều có lợi. Nghĩa là mỗi loài hay mỗi cá thể trong mối quan hệ này đều là đối tượng hưởng lợi từ mối quan hệ này, không có loài nào gây hại cho bất cứ loài hay cá thể nào trong quan hệ.

Còn ký sinh là sống bám, sống gửi vào những sinh vật khác và chiếm sinh chất của các sinh vật khác đang sống để tồn tại và phát triển. Trong quan hệ ký sinh thì vật chủ là những sinh vật, những cá thể bị ký sinh, tức là bị ký sinh trùng chiếm sinh chất, vật chủ là đối tượng bị thiệt hại, vật ký sinh là vật gây hai, ví dụ khi người bị nhiễm giun, sán ký sinh vào người hoặc các động vật khác là vật chủ, không chỉ tồn tại bằng cách hút máu hay các chất dinh dưỡng từ vật chủ mà còn gây hại cho vật chủ với nhiều loại tật bệnh nguy hiểm có dẫn đến tử vong.

Trong quan hệ giữa giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam với quần chúng nhân dân lao động Việt Nam cũng có mối tương đồng về những họa hại mà lãnh đạo đảng và nhà nước, là những người không làm ra của cải vật chất, phải sống nhờ vào mồ hôi nước mắt của tầng lớp lao động trong xã hội, tạo ra cho quần chúng nhân dân Việt Nam là tầng lớp đã nuôi sống họ bằng mồ hôi nước mắt và có khi là cả sinh mạng của mình.

Những người lãnh đạo đất nước không chỉ sống nhờ vào nguồn lương thực thực phẩm do nông dân, công nhân tạo ra, mà nhà cửa, xe cộ và những nhu cầu xa xỉ khác của cuộc sống họ cũng được cung cấp từ nguồn thuế đánh vào từng đầu công nhân và nông dân. Lãnh đạo đảng và nhà nước sống trong các biệt thự sang trọng với đầy đủ trang thiết bị gia dụng cao cấp đắt tiền. Họ đi lại bằng các loại xe hơi đắt tiền, mỗi bữa tiệc tùng của họ có thể lên đến hàng trăm triệu đồng, với những con cua Hoàng Đế giá 10.000.000 triệu mỗi con, mỗi con tôm hùm giá 2.000.000 triệu đồng mỗi con, về lý thuyết đó là tiền ngân sách để tiếp khách, nhưng trên thực tế tiền ngân sách cũng đến từ nguồn thuế thu từ trong dân, để vừa trả lương thưởng, bổng lộc cho quan chức chính phủ để họ xây nhà mua xe và ăn nhậu nhưng đối lại, lãnh đạo đảng và nhà nước có mang đến nguồn lợi ích nào cho dân chúng theo quan hệ cộng sinh hay không?

Có thể nói rằng vụ đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền bắc Việt Nam từ năm 1953 đến năm 1956 là lần đầu tiên những kẻ sống nhờ sinh chất của vật chủ mang họa hại đến cho vật chủ kể từ khi những người cộng sản lên nắm chính quyền với có số 172.008 bị quy thành địa chủ phú nông, bị tịch thu hết gia sản, với 15.000 người bị hành quyết tại chỗ, số còn lại bị giam hãm cho chết đói, hoặc bị đầy đi lao động khổ khai ở các trại cải tạo và cũng đã chết ở đó và gia đình vợ con của họ cũng tan nát do bị cô lập bị kỳ thị.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 với chính sách cải tạo công thương nghiệp tư doanh, với chiêu bài đem lại công bằng xã hội thông qua việc tôn vinh công nhân và nông dân, tiêu diệt tư sản, tiểu tư sản, hàng chục ngàn tư sản, tiểu tư sản là chủ sở hữu các nhà máy, công ty, xí nghiệp hay các hiệu buôn ở các đô thị miền Nam bị tập trung vào các trại cải tạo lao động để được đào tạo thành những con người mới XHCN, kết quả là hàng ngàn người đã vĩnh viễn nằm lại tại các trại cải tạo ở những vùng rừng núi bới bệnh tật, vì sương lam chướng khí, vì đói khát và vì bị tra tấn nhục hình, bên cạnh những người bị hành quyết trực tiếp vì bị kết tội bóc lột: Đây có thể xem là lần thứ hai lãnh đạo đảng và nhà nước, những con người sống nhờ nguồn lương thực của nhân dân đã tàn sát chính những người đã trực tiếp nuôi sống mình.

Chủ trương của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam là tôn vinh giai cấp công nông là “thành phần nòng cốt của đảng tiên phong” nhưng thực tế có như vậy không khi đảng và nhà nước liên tục trấn cướp đất đai, ruộng vườn nhà cửa của nông dân để quy hoạch thành những khu đô thị cao cấp cho các doanh gia ngoại quốc thuê mướn, hay biến thành những sân golf phục vụ những nhu cầu vui chơi giải trí cho các quan chức nhà nước, những việc đó đã tạo ra một thành phần mới trong xã hội là thành phần dân oan khiếu kiện vì mất cửa mất nhà mất đất đai vườn ruộng, và đây là cái bẫy đưa họ vào vòng lao lý, tù đày vì những phản kháng của họ trước hành vi cưỡng chiếm đất đai ruộng vườn của cơ quan nhà nước thường bị kết tội “chống người thi hành công vụ”. Điển hình nhất cho chính sách cưỡng chiếm đất đai và đàn áp nông dân là vụ việc ngày 05 tháng 01 năm 2012 khi hơn 100 công an, bộ đội được trang bị đầy đủ vũ khí các loại đã tấn công cưỡng chế gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn để cướp đất, ao đầm mà gia đình anh Vươn đã đổ mồ hôi, nước mắt và máu để quai đê lấn biển suốt nhiều năm qua. Và chỉ một ngày sau thì cả cơ ngơi của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn chỉ còn lại một đóng gạch vụn, rồi 5 ngày sau đó, vào ngày 10 tháng 1, bốn nông dân Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sinh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội Chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú. Lại một lần nữa nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam mang họa hại đến cho những người đã cung cấp cho họ nguồn “sinh chất”.

Cũng trong thời gian gần đây, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, những con người sống nhờ nguồn thuế của mọi tầng lớp nhân dân đóng góp, lại mở những phiên tòa xét xử nhân dân và con em của họ là những người yêu nước, những người khẳng định chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ của quốc gia, tức là những người ý thức được rằng “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” mà sát cánh cùng chính quyền trong việc gìn giữ đất nước, với những mức án tù đày rất năng nề khắc nghiệt, dù những người yêu nước chỉ thể hiện lòng yêu nước, phản đối sự xâm lăng, cướp giết đồng bào của giặc ngoại xâm bằng những việc xuống đường biểu tình một cách ôn hòa hay chỉ tọa kháng tại nhà. Đây, một lần nữa những kẻ sống bám như loài đỉa, loài muỗi hút máu của vật chủ lại mang họa hại đến cho vậy chủ bằng ngần ấy bản án tù đày và quản thúc!

Hơn bao giờ hết, những bản án gần đây mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tuyên phạt những nhà hoạt động nhân quyền như Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương hay những nhà hoạt động xã hội như 17 thanh niên Công Giáo hay bản án phi nhân mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam dành cho 3 thành viên của Câu Lạc Bộ nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải vì đã có những bài viết trên trang Nhật Ký Cá Nhân về sự phẫn nộ của bản thân trước những hành động “mãi quốc cầu vinh” của một số quan chức chính phủ hay bản án mà đảng và nhà nước dành cho nhà báo Hoàng Khương vì đã viết những bài báo phanh phui nạn mãi lộ của ngành cảnh sát giao thông... là những hành vi phản trắc, bội bạc của những loài ký sinh trùng, sống nhờ vào sinh chất của vật chủ mà còn quay lại tiết những độc tố để gây hại cho vật chủ.

Một nhà nước mà không phải của dân, không do dân, không vì dân mà chỉ là những ký sinh trùng, chỉ là những loài sán lãi, đĩa, vắt, muỗi... sống bám vào nhân dân rồi lại mang họa hại cho nhân dân nữa thì còn lý do gì nữa để tồn tại?

Ngày 12 tháng 10 năm 2012


Nguyễn Thu Trâm

Sự tích khăn tang



Chúng ta đã nhiều lần dự các đám ma của người thân bạn bè hoặc chịu tang Ông Bà cha mẹ anh chị em họ hàng, hình ảnh chiếc khăn tang là rất phổ biến và quen thuộc trong các gia đình có tang chế, nhưng mấy ai hiểu được tại sao có chiếc khăn đó. Mẫu chuyện sau đây nói lên đạo lý và sự tích chiếc khăn tang đó. Kính mời quý vị và các bạn cùng suy nghiệm.

Ngày xưa, có vợ chồng nhà phú hộ nọ sinh được năm người con gái. Nhà giàu nhưng lại không con trai, nên bao nhiêu t́ình thương họ đều dồn vào những cô con gái. Lần lượt năm cô lớn lên, ai nấy đều lập gia đình và đi ở riêng.

Vì các cô lấy chồng xa, nên hai ông bà phú hộ cảm thấy nhớ con quá. Một hôm bà bảo chồng:

- Sắp tới, ông chịu khó trông nhà cửa cho tôi đi thăm chúng một lượt, sau đó tôi lại về trông để ông đi...

- Phải đó - ông đáp - nhưng bà phải đi nhanh nhanh lên mới được, đừng bắt tôi đợi lâu!

- Không được đâu, tôi tính ở lại với các con đứa nào ít nhất cũng một tháng, năm đứa vị chi là năm tháng, c̣òn đi đường tổng cộng độ vài ba chục ngày, như vậy cũng mất ngót nửa năm rồi ông ạ!

- Thôi được, thế thì bà nó đi đi, bà nhớ đừng để cho đứa nào quấn quýt quá rồi ăn dầm nằm dề ở đó làm cho tôi mỏi ṃòn trông đợi.

Rồi người vợ cùng con hầu ra đi. Nhưng chỉ được vài tháng đă thấy bà trở về, vẻ mặt buồn xo. Thấy thế, ông liền hỏi dồn:

- Cơn cớ làm sao mà bà về nhanh như vậy? Có gặp điều gì khó khăn dọc đường hay không mà vẻ mặt bà không được vui?

Bà phú hộ đáp:

- Chẳng có gì hết, tôi vẫn bình yên, chúng nó đều mạnh khỏe cả. Tôi về sớm là vì tôi muốn ông khỏi trông. Ông cứ đi một lần cho biết.

Thấy vợ nói úp úp mở mở, ông phú hộ chẳng hiểu gì nên cuối cùng cũng sắm sửa hành lý ra đi.

Ông ghé nhà người con gái thứ nhất. Chàng rể tiếp đón niềm nở làm ông hài ḷòng, nhưng con gái ông lại không được như thế, nó chỉ chuyện trò giả lả được đôi câu rồi quay vào công việc của nó.

Đến khi chồng nó ra đồng trông coi thợ cày cấy, thì con gái ông lúi húi lo việc bếp núc, cha con chẳng có dịp chuyện trò.

Măi đến gần trưa, ông cảm thấy bụng đói cồn cào, định bảo nó dọn cho mình ăn trước như khi còn ở nhà, nhưng rồi lại nghĩ thầm: “Để xem nó đối đãi với cha nó ra sao cho biết?!”. Ông thấy con gái chờ chồng về mới dọn cơm ra. Chàng rể của ông lúc ấy tuy đã về rồi mà vẫn còn bận một số công việc nên ông phải đợi tiếp. Đến khi thấy quá trưa, con gái ông mới gọi chồng:

- Mình ơi, hãy để đó vào ăn cơm đi, cho ông già ăn với!

Nghe con gái nói thế, ông cảm thấy không được vui. Chiều hôm ấy và liên tiếp những ngày sau cũng vậy. Ông nghiệm ra rằng con gái ông chăm sóc cho chồng nó chứ không phải cho ông: “Thì ra bây giờ nó coi cha nó chẳng ra cái quái gì. Nếu chồng nó không ăn thì có lẽ mình cũng phải ngồi nhịn đói”. Ở chơi được ít ngày, thấy con gái không được vồn vã đằm thắm như xưa, ông liền từ giã vợ chồng nó mà đi đến nhà đứa khác xem sao.

Lần này vừa đi ông vừa lẩm bẩm: “Chắc thế nào những đứa sau cũng phải khác chứ, chẳng lẽ đứa nào cũng như vậy cả sao? Vợ chồng ta trông cậy chúng nó rồi đây sẽ chia nhau về phụng dưỡng một khi bố mẹ tuổi già kia mà!”

Nhưng khi đến nơi, ông thấy đứa thứ hai cũng chẳng khác gì đứa đầu. Nghe bố đến thăm cũng tiếp đãi gọi là cho tròn bổn phận rồi lại loay hoay vào công việc nhà chồng, bỏ mặc ông chẳng chút quan tâm.

Lần lượt ông đi thăm đủ cả năm cô con gái yêu quý nhưng chẳng đứa nào là không say mê với công việc của nó, chẳng đứa nào quan tâm chăm sóc đến ông như lúc còn ở nhà. Sau cùng, ông chép miệng:

- Vậy là con gái một khi bước về nhà chồng thì chẳng c̣òn là con mình nữa. Nó xem chồng trọng hơn bố mẹ nó nhiều.

Nghĩ vậy nên ông quày quả trở về. Ông tính lại thời gian thăm con cả đi lẫn về còn ngắn hơn cả bà.

Khi về, ông gọi vợ lại bàn rằng:

- Thế là mấy đứa con gái có cũng như không, chẳng hy vọng gì vào chúng nó đỡ đần mình tuổi già nữa rồi. Bây giờ bà để tôi đi kiếm một đứa con nuôi đặng mai sau nó săn sóc chúng mình lúc mắt lòa chân chậm. Bà nó nghĩ sao?

Vợ phú hộ trả lời:

- Thôi ông ạ! Đừng có đi mà mất công lại nhọc xác. Con đẻ rứt ruột ra mà chúng không đoái không hoài thì con nuôi có làm được gì ?

Phú ông liền bảo:

- Trên đời này có kẻ tốt người xấu, đâu phải ai cũng như ai, bà đừng ngại.

- Được rồi, ông cứ đi đi, cố tìm một đứa con ngoan phụng dưỡng, mọi việc ở nhà mặc tôi lo liệu.

Phú hộ bèn đóng vai một ông già nghèo khó rồi ra đi từ làng này đến làng khác, đến đâu ông cũng rao:

- Ai mua cha không ? Có ai mua cha thì ra mà mua! Mua ta về làm cha chỉ mất năm quan tiền thôi...

Mọi người nghe ông già rao như vậy thì tưởng ông điên. Có người còn vui miệng nói:

- Mua lăo ấy để về nhà mà hầu ư ? và để rồi đây lão ta trăm tuổi qua đời có được đồng nào còn phải lo tống táng nữa sao ? Thà là nuôi một người đầy tớ còn hơn.

Tuy có nghe nhiều lời mỉa mai cười cợt, phú ông vẫn không nản chí, vẫn đi hết xóm này đến ấp kia, miệng rao không ngớt:

- Có ai mua cha không này?

Bấy giờ ở làng nọ có hai vợ chồng một nông phu nghèo, nghe có người đi bán mình làm cha, chồng bảo vợ:

- Hai vợ chồng mình mồ côi từ thuở bé, chưa bao giờ được hưởng tình cha con, lại chưa có mụn con nào, thật là buồn. Thôi th́ì ta mua ông già này về thủ thỉ với nhau khuya sớm cho vui cửa vui nhà.

Thấy vợ bằng lòng, anh chàng chạy ra đón ông già vào và nói:

- Ông định bán bao nhiêu tiền?

- Năm quan không bớt.

Anh chồng liền thưa:

- Thú thật với ông, nhà tôi nghèo quá, muốn mua ông nhưng không sẵn tiền. Vậy ông ngồi chơi để tôi bảo nhà tôi đi vay xem sao.

Phú hộ ngồi chờ hồi lâu, thấy chị vợ chạy đi một lát rồi lại quay về, nhưng số tiền vay được cùng với tiền nhà gom lại cũng chỉ có hai quan. Anh chồng liền nói:

- Thôi thì ông thông cảm cho, hai ngày nữa mời ông trở lại, chúng tôi sẽ có đủ tiền.

Hai ngày sau, vợ chồng anh nông phu trao tiền cho ông, mời ông vào nhà “cha cha, con con” rất thân tình. Phú hộ thấy đầu tóc người vợ bây giờ biến đi đâu mất liền hỏi:

- Này con ơi, tại sao đầu tóc của vợ con lại cắt cụt đi như vậy?

Anh chồng tần ngần đáp:

- Chẳng giấu gì cha, nhà con quá nghèo không đủ tiền mua, mà nếu không mua thì biết có dịp nào tốt hơn. Vì vậy, vợ con phải cắt tóc đi bán mới có đủ số tiền năm quan đó.

Từ ngày có người cha nuôi, hai vợ chồng nông phu tỏ ra rất niềm nở và chịu khó chăm sóc hầu hạ ông không biết mệt. Phú ông vẫn không cho biết gốc tích quê quán thật của mình, hằng ngày vẫn cứ ăn no ngủ kỹ, đôi lúc lại kêu váng đầu mỏi lưng, bắt họ phải xoa bóp hoặc tìm thầy chạy thuốc.

Mặc dầu vậy, hai vợ chồng vẫn cơm nước săn sóc không bê trễ. Cứ như vậy được vài tháng sau, nhà họ đă nghèo lại càng mạt thêm.

Hai vợ chồng phải cố gắng làm thêm để nuôi cha, có bữa phải nhịn đói để nhường cơm cho ông già.

Tình hình như vậy kéo dài nửa năm, nợ nần của họ chồng chất quá nhiều mà trong nhà gạo tiền đã kiệt. Tuy vậy, họ vẫn không hề lộ vẻ mỏi mệt, cố làm vui lòng cha già.

Một hôm, hai vợ chồng ngủ dậy đã thấy người cha nuôi khăn gói chỉnh tề, ông bảo họ:

- Các con hãy đốt cái nhà này rồi đi theo ta!

Vợ chồng anh nông phu trố mắt nhìn nhau, tưởng ông phát điên, nhưng sau đó lại thấy ông phú hộ giục bảo:

- Làm con thì phải vâng theo cha mẹ, chớ có sai lời. Cha đã bảo các con đi theo cha kiếm ăn thì cứ việc đi, còn cái nhà này ọp ẹp chẳng đáng bao nhiêu đừng tiếc nữa.

Vợ chồng nghe thế thì biết ông nói thật, không dám cãi, đành nhặt nhạnh một vài món đồ buộc thành một gói, rồi châm lửa đốt nhà.

Đi theo ông già, họ thấy ông ban ngày lần hồi xin ăn, tối tối lại vào nhà người xin ngủ nhờ, họ vẫn vâng lời, không chút phân vân.

Ba người đi xin ăn như thế được năm ngày, cuối cùng đến trước một ngôi nhà ngói tường vôi, ông mới vui vẻ bảo họ:

- Các con ơi, đã đến nhà ta rồi!

Bà phú hộ bước ra cổng đón vào, ông tươi cười bảo vợ:

- Bà nó này, đây mới thật là con của chúng ta đấy!

Bấy giờ vợ chồng anh nông phu mới ngớ người ra, biết được cha mẹ nuôi mình là một nhà giàu có.

Phú hộ bảo anh nông phu lấy theo họ mình, và từ đó hai vợ chồng bước vào một cuộc đời sung sướng.

Ít lâu sau, phú hộ lâm bệnh nặng. Biết mình sắp gần đất xa trời, ông bèn làm tờ di chúc để phần lớn gia tài cho đứa con nuôi, đoạn ông gọi vợ đến trối rằng:

- Sau khi tôi chết, bà nhớ đừng cho năm đứa con gái biết tin đấy!

Ông nói tiếp:

- Nếu chúng nó có nghe ai mách mà về đây, chưa biết chừng tôi sẽ “bứt néo” trổi dậy cho mà coi. Việc để tang thì đứa con trai cứ theo cổ tục, cắt tóc, đội mũ, quấn rơm trên đầu để chứng tỏ mình chịu cực chịu khổ với cha mẹ thì thôi cũng được, nhưng đứa con dâu thì bà bảo nó khỏi cắt tóc, vì tôi chưa bao giờ quên được cái việc nó đã hy sinh mái tóc dài của nó để mua cha, vậy nó chỉ cần đội khăn tang là đủ.

Nhưng khi khâm liệm cho chồng xong, bà phú hộ vì nặng lòng nên cũng cho người lén báo tin cho năm đứa con gái biết. Khi chúng về, bà đón ở cổng, thuật lại lời trối của cha cho chúng nghe và bảo chúng đừng có vào nhà, kẻo có sự chẳng lành.

Năm đứa con gái hối hận lắm, nhưng việc đã rồi biết làm sao? Khi đưa linh cữu cha, chúng đòi đi đưa cho bằng được. Khuyên can con mãi không xong, cuối cùng bà buộc lòng phải xé cho chúng ngoài khăn tang ra còn thêm mỗi đứa một vuông vải cho chúng che mặt lại để mong linh hồn bố chúng khỏi biết.

Từ đó, người ta bắt chước để tang theo cách gia đình này đã làm:
“Con trai cắt tóc vành rơm, mũ mấn, dây lưng chuối như cổ tục, con dâu được miễn cắt tóc, chỉ đội khăn tang, lại miễn cả che mặt. Còn con gái ngoài khăn tang còn có thêm một mảnh vải che mặt.”
 Thiện Tâm

Bài Xem Nhiều