We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 16 October 2012

Nghệ An : Chuyện kể của cô Nguyễn Thị An Lành,




Kính thưa quý vị độc giả,

Map of Nghe_anCách đây không lâu, tôi (Nguyễn Thị An Lành -ĐD) đọc báo, thấy có đăng tin về câu chuyện của chị Nguyễn Thị Phương, người phụ nữ nằm liệt giường suốt 9 năm trời, và anh Trương Văn Chín, một người đàn ông khỏe mạnh bình thường, đã vì tình yêu cũng như tình thương sâu sắc mà hy sinh cuộc đời, chấp nhận làm chồng của chị mặc dầu chị bị tật nguyền, không có khả năng tự chăm sóc bản thân.
Hạnh phúc của họ đã đơm hoa kết trái trong một phép lạ không thể tin nổi. Đó là họ có một đứa con được sinh ra từ tình yêu, từ nỗi thống khổ cả về thể xác lẫn tinh thần của người đàn bà bị liệt nửa người, cũng như từ sự hy sinh cao cả của người đàn ông. Có lẽ trời đã thương xót, ban cho họ một thiên thần bé nhỏ để sưởi ấm lòng họ.

Tôi đọc và đã khóc rất nhiều. Tôi nghĩ đến mẹ tôi, người đàn bà có số phận hơi giống chị Phương. Mẹ tôi cũng bị liệt nửa người nhưng cuộc đời mẹ tôi hình như có phần đau đớn hơn, éo le hơn và “ghềnh thác” hơn. Trước đây, tôi thường nghĩ chuyện của mẹ tôi là một câu chuyện kỳ lạ, hi hữu, khó có thể có một chuyện thứ hai tương tự như vậy trên đời. Nhưng té ra, trong cuộc sống vẫn có những chuyện về tình cảm của những con người kỳ lạ, như chuyện anh Trương Văn Chín và chị Nguyễn Thị Phương chẳng hạn.
Câu chuyện của cha mẹ tôi bắt đầu như thế này:

- Cha và mẹ tôi là bạn học cùng lớp suốt 10 năm học. Ở ngoài Bắc trước đây, học sinh học theo hệ thống 10 năm, tức hết lớp 10 là hết trung học. Sau đó mẹ tôi thi đậu vào đại học còn cha tôi thì đậu vào một trường trung cấp, cả hai đều ở ký túc xá của trường mình trên tỉnh.

Mẹ tôi kể rằng chuyện tình cảm của mẹ lúc còn học trung học rất éo le. Ngày ấy, mẹ tôi là bí thư chi đoàn của lớp, vừa học giỏi, vừa hát hay lại vừa xinh đẹp nhất trường. Trong khi đó thì cha tôi là một học sinh tầm thường trong lớp. Điểm nổi bật nhất của cậu học trò này là ít nói, sống khép kín, gần như không được ai biết đến. Oái oăm thay cậu lại thầm yêu mẹ tôi, cô nữ bí thư xuất sắc của lớp. Tuy nhiên, hình ảnh chiếm trọn trái tim mẹ tôi không phải cậu học sinh đó mà là ông thầy dạy môn Văn trong lớp, bí thư đoàn trường, trẻ tuổi, đẹp trai, chưa lập gia đình. Thế nên, dù biết “người câm như hến” mang mối tình si nhưng mẹ tôi vẫn không để ý đến cậu.

Mới học lớp 10, tức cuối cấp III, 16 tuổi nhưng mẹ tôi đã lao vào yêu đương, lén lút vụng trộm như con thiêu thân lao đầu vào lửa với ông thầy đẹp trai, nói hay như gió đó. Yêu thầy, mẹ tôi quyết tâm thi đậu vào Đại học Sư Phạm cũng cùng khoa Văn để được bằng thầy. Trong khi đó thì cậu học sinh “con người ít nói” trong lớp chỉ đậu vào trường Trung cấp Công Nghiệp.


Mẹ tôi đã yêu hết lòng nhưng tình yêu của mẹ không được đáp ứng chung thủy như mẹ tưởng tượng. Khi mẹ từ trường ĐHSP Vinh, vượt 60km về trường cũ ở nơi quê nhà để báo tin cho ông thầy biết là mình có thai, hậu quả của việc đã quá si mê, vượt rào, ăn cơm trước kẻng, thì mẹ choáng váng phát hiện ra có một cô nữ bí thư chi đoàn khác cũng trẻ trung, xinh đẹp như mẹ hai năm về trước, đang quấn quýt với thầy bí thư đoàn trường, người yêu của mẹ.

Mặc dầu choáng váng, điên dại nhưng mẹ tôi vẫn kiên nhẫn chờ cho cuộc hò hẹn giữa thầy với cô học trò trẻ đẹp kết thúc, để gặp và nói chuyện với thầy về cái thai mà mẹ đang mang trong bụng. Bản chất của vị bí thư đoàn trường đẹp trai, thần tượng của bao nhiêu nữ sinh trong trường đã bộc lộ rõ khi thầy thẳng thừng trả lời: “Em bỏ cái thai đó đi! Cuộc sống còn dài, ai biết trước tương lai ra sao mà đã vội nói đến chuyện cưới hỏi, sinh con sinh cái. Anh chưa sẵn sàng cho việc làm chồng làm cha lúc này!”.

Mẹ đau khổ, thất thểu đón xe trở về trường đại học, nước mắt hòa với nước mắt.
Khi chuyến xe đò ban đêm chạy đến gần cầu Bến Thủy, cách trường ĐHSP mấy cây số, mẹ kêu cho xe dừng lại. Mẹ xuống xe, tới đầu cầu và tuyệt vọng với ý nghĩ là phải tự tử, phải chết đi để tránh mọi sự phiền phức. Mẹ - một cô gái mới 18 tuổi - thời của mẹ việc phá thai không phải dễ dàng. Mẹ không biết phá ở đâu và phá bằng cách nào. Ngoài ra, có thai trong khi còn đang đi học sẽ bị nhà trường kiểm điểm, kỷ luật, đồng thời cũng là nỗi ô nhục rất lớn cho cả gia đình, họ hàng thân thuộc. Mẹ đã đến bước đường cùng.
Không kịp nghĩ gì nữa, mẹ liều nhắm mắt gieo mình xuống sông trong đêm tăm tối mịt mùng.

Nhưng số phận không cho phép mẹ trốn chạy nỗi khổ đau dễ dàng như vậy. Lúc mẹ còn đang đứng đợi xe đò để trở về trường thì “người bạn ít nói cùng lớp” trước đây cũng có mặt trên chiếc xe đó. Cậu chỉ đậu vào trường Trung cấp Công nghiệp cách trường ĐHSP của mẹ hơn 3 cây số. Thứ bảy tuần nào cậu cũng đến trước cửa ký túc xá của mẹ để “trồng cây si” cho dẫu biết mẹ đã có người yêu là ông thầy dạy Văn, bí thư đoàn trường, trẻ tuổi, đẹp trai, một trời một vực so với cậu. Mẹ cũng đã nói rõ với cậu rằng giữa cậu với mẹ chỉ là bạn cùng lớp, không có gì khác. Mặc, cậu vẫn thầm yêu mẹ, làm như trên đời này ngoài mẹ ra không còn một cô gái nào khác chiếm nổi trái tim cậu. Trên chuyến xe khách ấy, cậu nhìn thấy mẹ lên xe với đôi mắt sưng húp vì khóc nhiều. Nhưng vốn nhút nhát, cậu chỉ lặng lẽ ngồi quan sát từ phía đằng sau. Khi xe chạy đến gần đầu cầu Bến Thủy, thấy mẹ đột ngột kêu xe dừng lại rồi mẹ xuống xe, thậm chí quên cả không xách theo chiếc ba lô nhỏ, hành trang của mình. Cậu rất ngạc nhiên, thoáng suy nghĩ rồi cũng xuống xe, xách hai chiếc ba lô, lẳng lặng đi theo sau.

Thấy mẹ đứng bất động như pho tượng bên cạnh thành cầu, cậu đoán rằng mẹ có chuyện gì buồn lắm nên mới có những cử chỉ lạ lùng như vậy. Trong lúc cậu còn đang chần chừ, chưa biết phải giải quyết thế nào thì mẹ đã gieo mình xuống sông. Cậu kinh hoảng, kêu thét lên và lao tới định níu mẹ lại nhưng không kịp, mẹ đã rơi xuống sông sát với mé cầu.
(H.2: Cầu Bến Thủy cũ ở Nghệ An)

Tiếng hô hoán kêu cứu của chàng thanh niên khiến ông lái đò đang gác mái chèo nằm ngủ trên đò ở gần chân cầu. Ông là người chuyên làm việc từ thiện, đã bao năm nay đi vớt xác người chết đuối hoặc người nhảy xuống sông tự tử. Trong đêm tối, phải khó khăn lắm ông và cậu thanh niên mới tìm thấy “xác” của mẹ đang bị mắc ở gần chân cầu. Cái nhảy xuống sông của mẹ sát với đầu cầu đã làm cho mẹ không bị nước cuốn đi nhưng bị đập đầu vào bãi đá cạn, khiến mẹ bị liệt não một thời gian dài.

Mẹ nằm bệnh viện, bảo lưu kết quả học tập, và người bạn ít nói cùng lớp là kẻ duy nhất ở bên cạnh mẹ khi mẹ đã tới tận cùng của sự khốn khổ. Hôn mê mất hơn một tuần, khi mẹ tỉnh lại thì thấy người bạn cũ ở bên cạnh như người thân yêu nhất. Cậu ký vào mọi giấy tờ thủ tục để bệnh viện làm phẫu thuật cho mẹ, như một người chồng sắp cưới. Cái thai không giữ được vì cú va đập quá mạnh.
Mẹ nằm nhà thương, tương đối đã qua được cơn nguy kịch, qua được ranh giới giữa cái sống và cái chết, bấy giờ cậu mới báo tin cho ông bà ngoại, tức cha mẹ của mẹ ở quê nhà, được biết.

Không thể nói hết nỗi bàng hoàng của ông bà ngoại khi chứng kiến mẹ bị băng bó, nằm bất động trên giường bệnh, đầu tóc cạo trắng xóa do phải mổ cấp cứu trên đầu. Ông bà ngoại bị sốc và quá đau khổ trước tai nạn của con gái. Sau khi nghe bác sĩ thuật lại toàn bộ sự việc: mẹ bị tai nạn ra sao, nhảy cầu tự tử như thế nào, rồi cái thai trong bụng bị sẩy do cú va đập mạnh.
Con gái ông bà có chửa trong khi mới 18 tuổi còn đang đi học? Ông bà ngoại không thể giữ bình tĩnh được nữa, bèn gặp cậu bạn cùng lớp của mẹ để hỏi cho rõ ràng, vì lâu nay ông bà biết hai đứa là bạn học chung một lớp. Không ngờ, cậu bạn cúi đầu, nhận hết mọi tội lỗi về mình và thừa nhận chính mình là tác giả cái bào thai trong bụng con gái ông bà, khiến cô phải nhảy cầu tự tử. Ông bà ngoại không còn sức để đau khổ được nữa. Bà ngoại chỉ vào mặt cậu, chửi mắng cậu thậm tệ, còn ông ngoại thì làm đơn tố cáo lên trường Trung cấp Công Nghiệp, nơi cậu đang học năm thứ hai để nhà trường đuổi học cậu.

Sau tai nạn, mẹ bị liệt hai chân, tinh thần dao động nặng. Trước sự oan trái của người bạn cũ, mẹ chỉ biết khóc. Mẹ không thể học tiếp Đại học Sư Phạm được nữa. Giấc mơ tình yêu và ước vọng trở thành cô giáo dạy văn cấp III của mẹ đã bị dập tắt phũ phàng. Mẹ đối diện với thực tế bi thảm, không niềm tin, không tương lai và quá đau đớn về sự bội bạc của người yêu, cũng như tuyệt vọng về tình trạng sức khỏe của mình. Mẹ giờ đây trở thành con người tàn phế, phải rời giảng đường đại học để được cha mẹ thuê xe chở đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác với hy vọng phục hồi được chức năng đôi chân.

Mặc dầu ông bà ngoại đã gặp ban giám hiệu trường ĐHSP trình bày hoàn cảnh và xin bảo lưu kết quả học tập của mẹ trong hai năm qua, nhưng mẹ nhất quyết không nghĩ đến việc trở lại giảng đường để tiếp tục giấc mơ trở thành giáo viên cấp III của mình nữa. Mẹ nằm trong bệnh viện, trong những cơn đau đớn cả về thể xác cũng như tinh thần.

Từ một cô gái sôi nổi, vui tính và nhiều ước mơ, mẹ biến thành một người bị tự ti mặc cảm, luôn luôn nghĩ đến cái chết. Mẹ bám riết lấy ý nghĩ sẽ tìm cách tự tử để kết thúc tình trạng chán chường và bi đát đó.

Khi tất cả bạn bè, người thân của mẹ không còn năng lui tới, thăm hỏi, an ủi mẹ được nữa vì họ phải trở về với công việc học hành hay với đời sống riêng tư, thì người duy nhất còn lại gần gũi với mẹ chỉ là người bạn ít nói ngày xưa. Cậu đã bị đuổi học nên quyết định đi học nghề sửa xe gắn máy. Những lúc rảnh rang, cậu lén đến bệnh viện thăm nom và khuyến khích mẹ, khuyên nhủ mẹ hãy có can đảm vượt qua số phận. Ông bà ngoại vẫn căm ghét cậu, không tha thứ tội lỗi của cậu nên không chấp nhận cho cậu đến chăm sóc mẹ.

Thấy cậu oan uổng quá, đến lúc này mẹ mới nói với ông bà ngoại tất cả sự thật. Ông bà ngoại lặng người, bàng hoàng trước sự thú nhận của con gái. Nghe xong, ông ngoại khóc và nói với mẹ: “Con ơi, con nợ người ta món nợ quá lớn rồi. Còn cái tội của cha mẹ thì không thể nào rửa sạch được!”. Rồi ông ngoại lại khóc, ông đi tìm cậu thanh niên, quỳ xuống trước mặt cậu - một người chỉ đáng tuổi con của ông - để xin cậu tha thứ cho sự hiểu lầm và những thiệt thòi ông đã gây ra cho cậu. Cậu cuống quít đỡ ông dậy, rồi cả hai cùng khóc. Vốn tính ít lời, cậu chỉ vắn tắt nói với ông ngoại: “Xin cha cho phép con trông nom HT. Con yêu cô ấy lắm!”. Cậu chỉ nói được có vậy và ông ngoại lại khóc nức nở.

Cậu vừa học nghề vừa làm thêm ở trung tâm sửa chữa xe gắn máy. Cuối ngày, cậu lại vào bệnh viện với mẹ, chăm sóc tận tình và chu đáo như một người chồng, đó là điều mà cả mẹ lẫn ông bà ngoại cùng mọi người chung quanh đều rất ngạc nhiên, không thể giải thích được. Một thanh niên lành lặn, đầy sức sống, còn độc thân cũng như chưa từng có người yêu theo đúng nghĩa của nó, lại quyết tâm dành hết tình yêu cho một cô gái đã tàn phế cả tinh thần lẫn thể xác? Những vết thương lòng của cô đối với người “thầy” tệ bạc trước đây có thể lành được không? Không ai hiểu nổi tại sao cậu lại quyết định gắn bó cuộc đời mình với người con gái đã yêu người khác như thế.
Cha mẹ cậu khi biết chuyện này đã phản đối kịch liệt. Ông bà đến tận bệnh viện gặp ông bà ngoại và nói: “Ông bà đau khổ như thế nào về tai nạn của cháu HT thì đừng bắt chúng tôi phải đau khổ như vậy khi thấy con trai chúng tôi quá mê muội, suốt đời sẽ phải gánh cái gánh nặng vì cháu HT”.

Mặc cho cha mẹ mình khóc lóc van xin, thậm chí đe dọa sẽ từ bỏ nếu con trai cứ nhất định gắn bó với đứa con gái tật nguyền trên chiếc xe lăn, cậu vẫn một lòng, không hề suy suyển.

Mẹ tôi không chịu nổi sự đàm tiếu của dư luận cũng như phản ứng của phía bên gia đình người con trai, hơn nữa lại bị mặc cảm về sự tàn tật, nên bèn bí mật bỏ nhà ra đi với chiếc xe lăn.

Không ai có thể hình dung được mẹ đã ra đi với tình trạng cơ thể như vậy. Mẹ bỏ đi đâu với hai bàn tay trắng và đôi chân tật nguyền, ngay cả vấn đề vệ sinh cá nhân cũng không tự mình lo được?

Cả nhà bổ đi tìm. Cha tôi - bây giờ tôi dùng tiếng “cha” thay vì tiếng “cậu” hay tiếng “người thanh niên ấy” xa lạ trước đây - tất tưởi trên những chiếc xe Bắc-Nam để đi tìm mẹ. Tuyệt nhiên không thấy tăm hơi. Cả nhà đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất là có thể mẹ đã nhảy xuống con sông nào đó tự tử. Ông bà ngoại tôi đi báo với công an về sự mất tích của mẹ. Cha tôi ngược xuôi sông ngòi và những nơi cha đoán có thể mẹ đã tìm đến cái chết; cũng không loại trừ khả năng mẹ tá túc ở đâu đó để sống cuộc sống ẩn dật, trốn tránh tình cảm của cha cũng như những lời bình phẩm của thiên hạ và trốn tránh những dằn vặt trong lòng.

Không ai biết được rằng, mẹ đã quen biết một cô cùng cảnh ngộ, đã từng nằm điều trị trong bệnh viện với mẹ, nhờ cô khi về thì liên hệ giùm với trung tâm khuyết tật ở tận Ban Mê Thuột thuộc tỉnh Đắc Lắc. Khi đã biết rõ tình hình, mẹ nhờ cô mua vé xe, đưa mẹ lên xe tuyến Bắc-Nam để vào trung tâm dành cho người khuyết tật này. Mẹ muốn đi thật xa để xóa bỏ quá khứ đau buồn đồng thời để cha có cơ hội lập gia đình với người con gái khác, sẽ sống hạnh phúc hơn là sống với mẹ. Mẹ không muốn suốt đời cha phải gánh chịu bất công vì mẹ.

Nhưng mẹ đã lầm. Tình yêu của cha lớn và kỳ lạ hơn mẹ tưởng tượng. Cha đã tìm mẹ ròng rã suốt hai năm trời. Cứ mấy tháng một lần, khi nào dành dụm được chút tiền lương từ trung tâm sửa chữa xe gắn máy, cha lại xin nghỉ ít lâu để đi tìm mẹ. Cũng may công việc sửa xe gắn máy của cha rất thịnh hành và có thu nhập cao. Cha khéo tay, giỏi nghề nên ngoài việc làm ở trung tâm, cha còn có các khách hàng đem xe tới nhà nhờ sửa, nên tiền kiếm được không phải là ít. Tuy nhiên, suốt 2 năm trời, bao nhiêu tiền kiếm được cha tiêu xài vào việc đi tìm mẹ.

Không ai giải thích nổi tình yêu của cha. Trong trái tim cha chỉ có hình bóng của mẹ. Dù hai chân mẹ đã tàn phế, tâm hồn mẹ đã nhàu nát vì đã trao lầm tình cảm cho kẻ bội bạc, nhưng cha vẫn yêu mẹ và chỉ có một hình bóng của mẹ mà thôi. Không một trung tâm khuyết tật nào mà cha không tới, hoặc liên lạc bằng thư từ, hay bằng điện thoại, về người con gái bị liệt hai chân tên là HT với địa chỉ, quê quán cụ thể.
Cuối cùng, có lẽ trời phật cũng thương xót tấm lòng của cha dành cho mẹ nên đã cho cha gặp được mẹ. Nghe tin mẹ ở trung tâm khuyết tật Ban Mê Thuột, lập tức cha thu xếp vào ngay trong đó.

Lần đầu tiên sau 2 năm bỏ nhà ra đi, trông thấy cha, mẹ oà lên khóc và gục đầu vào ngực cha. Mẹ không thể hiểu tại sao một con người đã bị tật nguyền vì lầm lẫn như mẹ lại được hưởng tình yêu hiện tại. Người con trai ấy mặc dầu ít nói nhưng đã có mặt bên cạnh mẹ những lúc mẹ đau khổ nhất, tuyệt vọng nhất và khốn quẫn nhất.

Cha và mẹ đã có nhau trong hoàn cảnh như vậy sau bao cố gắng tìm kiếm của cha. Để mẹ đỡ bị tự ti, cha trở về nhà thu xếp rồi vào lập nghiệp ở Ban Mê Thuột. Cha xin với trung tâm khuyết tật cho mình mở một cửa tiệm sửa xe nho nhỏ ngay trước cổng trung tâm gần bên lề đường, vừa để kiếm tiền nuôi mẹ vừa để dạy miễn phí nghề sửa xe cho những người trong trung tâm tương đối còn khá lành lặn, có thể học được. Việc làm ăn dần dần khấm khá, các cô chú trong trung tâm rất quý mến, coi cha như người thân thiết cùng trong trung tâm mặc dầu cha là “người ngoài”, không bị khuyết tật.

Quý vị ơi, kể đến đây tôi lại bật khóc. Tôi xúc động như vậy không hiểu quý vị có cho là mau nước mắt hay không? Nhưng sự thật tôi rất kính mến cha tôi. Tôi thường hãnh diện với ý nghĩ rằng dù mẹ tôi có lầm lẫn trong thời tuổi trẻ nhưng trời phật đã thương xót, ban cho chúng tôi có một người cha như vậy. Cha mẹ tôi sinh ra tôi và một đứa em trai nữa. Hạnh phúc đã đến với mẹ tôi khi sinh được hai đứa con, một trai một gái. Mặc dầu bị liệt nửa người nhưng khả năng sinh nở của mẹ vẫn bình thường. Có thể là do ông trời đã nhón tay làm phúc cho mẹ, để mẹ có được thiên chức của người vợ là sinh được con để bù lại cho tình yêu kỳ lạ hết sức rộng lớn của cha. Mẹ không đi lại được, mọi việc vệ sinh cá nhân, rồi mang thai, rồi sinh nở, tất cả đều do cha lo. Chúng tôi sinh ra trong trạm y tế nhưng sau đó cha chăm sóc từ lúc còn đỏ hỏn cho đến khi trưởng thành.

Tuy nhiên, cuộc đời của mẹ chưa hết những phép mầu. Khi tôi lên 5 tuổi, có hai cha con ông cụ lang thuốc người dân tộc thiểu số, tình cờ chở nhau đi ngang qua thì xe bị hỏng, bèn ghé vào cửa hàng của cha để nhờ sửa chữa. Thấy mẹ ngồi trên xe lăn, trong khi chờ đợi, thầy lang bắt mạch giùm rồi nói rằng có thể chữa cho mẹ đi lại được nhưng phải thật kiên trì.

Cha không hy vọng nhiều song vẫn theo cụ vào bản lấy thuốc cho mẹ uống. Sau một năm trời ròng rã được cụ chữa chạy, mẹ tôi đã đứng dậy và đi lại được, tự làm những việc lặt vặt như vệ sinh cá nhân và đi lại trong nhà. Tuy nhiên, do bị liệt khá lâu nên hai chân của mẹ còn yếu, chỉ mới đi lại được khoảng ngắn, nhưng đó cũng là một điều may mắn quá sức tưởng tượng, không còn phải lệ thuộc vào chiếc xe lăn nữa. Mẹ rất sung sướng và càng biết ơn cha hơn. Mẹ thường nói cái ơn của cha kiếp này mẹ không trả được.

Cha mẹ tôi đã sống hạnh phúc bên nhau gần 25 năm nay. Hai chị em tôi đều đã lớn và có công ăn việc làm. Năm nào tết đến, chúng tôi cũng theo cha mẹ về quê ăn tết. Ông bà nội, ông bà ngoại hai bên đã hết phân vân về cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi và rất tự hào về sự yêu thương, chăm sóc của cha tôi đối với mẹ tôi.

Vậy đó, tình yêu kỳ lạ của cha tôi là như vậy. Rất nhiều lần tôi tự hỏi trên đời này có bao nhiêu người đàn ông có tấm lòng rộng mở như cha tôi. Thế nhưng, càng lớn lên, đi làm và tiếp xúc nhiều, tôi hiểu ra rằng trên đời có vô vàn những người tốt. Lòng tốt ấy có thể bị coi là bất bình thường, thậm chí bị chê trách là trái tự nhiên, song nó vẫn xảy ra, và như một phép mầu kỳ diệu, nó mang hạnh phúc đến cho những người kém may mắn, phải không thưa quý vị?

-Nguyễn Thị An Lành

 Đoàn Dự ghi chép


Tình Cha

LỜI NGƯỜI LÍNH VNCH GỞI CÁC CHIẾN HỮU ĐỔI MÀU.


    Tôi rất ngại, không biết phải xưng hô thế nào với các bạn, trước đây tôi và các bạn đứng dưới lá Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, nay có một số đã chấp nhận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ mà trong cuộc chiến bảo vệ Tự do, chúng ta không bao giờ chấp nhận và truy lùng trong những cuộc hành quân, cũng như hạ xuống tại những vùng nông thôn kẻo lánh để thay vào bằng lá Cờ Vàng ba sọc đỏ.
    Đau lòng là ngày nay, các anh không còn thích chào Cờ nầy khi về Việt Nam, phải đứng trước lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Hồ chí Minh, thậm chí khi trở sang nước tạm dung, các anh tỏ ra khiếp sợ một cách hèn nhát, ít khi dám tham dự các sinh hoạt có lá Cờ Vàng, nhất là không dám chụp những tấm ảnh có những thứ mà chế độ Cộng sản thù ghét, đã sống tại các nước Dân chủ, nhưng các anh vẫn còn sợ hãi đảng Cộng sản, thì làm sao giải trừ được chế độ phi nhân, mang lại Tự do cho đồng bào Việt Nam.
    Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi gọi các anh là chiến hữu, các anh đã thực sự đổi màu, trở thành đồng chí với cán binh Cộng sản khi về đấy vui chơi hay với nhiều lý do khác. Nhớ thuở xưa, quân nhân chúng mình đã thề trung thành với Tổ Quốc, đứng dưới lá Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngày nay các anh đã quên tất cả và đổi màu -chỉ sau lần về Việt Nam và sau đó là những chuyến hồi hương, càng thắt chặt tình đồng chí với cán bộ, công an, bộ đội để kết bạn tâm giao, mua sự an toàn bằng những tiệc tùng do chính các anh xuất tiền chiêu đãi.
    Những năm-tháng chiến đấu chống lại kẻ thù Cộng sản, tay sai của khối Cộng sản Quốc tế, những năm tù đày tưởng như không sống sót sau khi miền Nam thất thủ. Một số các anh may mắn di tản trong giờ phút sau cùng của cuộc chiến và nay, một số các anh đã quay về, không còn như bài ca: Người Di Tản Buồn, một thời làm xúc động trái tim của những người xa Tổ Quốc, khi quê hương lọt vào tay quân thù. Những người di tản buồn ấy tiêu biểu như thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và gia đình với con gái Kỳ Duyên, vợ là Tuyết Mai, đã quay về, sánh vai cùng những kẻ mạt sát mình là bọn phản động nước ngoài, đĩ điếm du côn...
    Chắc chắn là những người di tản buồn ấy đã mất hết tâm hồn, trở thành công cụ tuyên truyền cho chế độ phi nhân. Những bạn lính may mắn khác, vượt biển, đi bằng đường bộ thành công, đến bến bờ Tự do. Sau bao năm lăn lóc nơi xứ người, thành công trên nhiều lãnh vực, bỗng trở về, mang tiền về giúp đảng Cộng sản từ nhiều năm qua, họ trở thành khách cung cấp tiền thường trực hàng năm cho chế độ Cộng sản, giúp đảng vượt qua những khó khăn kinh tế, nợ nần lút đầu, nên tránh được sụp đổ từ lâu, khi cạn kiệt tài chánh, là bài toán chung cho sự sụp đổ các chính quyền trên thế giới.
     Một số Tù cải tạo sống sót, được Hoa Kỳ cứu vớt theo Chương trình O.D.P, sau thời gian định cư, quay về, kết bạn với những kẻ đã từng hành hạ, mạt sát trong các nhà tù, lương tri của con người không nằm trong ấy, ngay cả thú vật cũng không quên -sau vài lần đánh đập nó, nhưng các anh quân nhân H.O trở về, kết bạn mới với cán bộ, trở thành đồng chí, kiêm mạnh thường quân trong các tiệc, sáng nhậu với ủy ban nhân dân, chiều công an đãi tiệc... đó là những đồng tiền hưu dưỡng được Chính phủ Mỹ chu cấp để sinh sống...
    Hay những món tiền hưu sau nhiều năm làm việc, thay vì chi cho gia đình, giúp cho các bệnh viện sở tại để chữa trị, trong đó có phúc lợi gia đình và cá nhân mình.... thì các anh lại tiêu xài cho cán bộ Cộng sản -để mua sự an toàn trong thời gian lưu lại, với nhiều ly do như thăm gia đình, hú hý với gái tơ, du lịch... Những quân nhân như Phạm Tín An Ninh, sau 9 năm tù, quay về để làm quen với những kẻ hành hạ trước đây, còn viết sách ca tụng quản giáo và giúp đỡ cả con quản giáo nữa.
    Một số bạn bè của tôi cho biết ở nước Úc, Chính phủ ưu ái dành cho Quân nhân Đồng minh quyền lợi, được cấp hưu dưỡng từ Bộ Cựu Chiến Binh, nhưng đã có nhiều anh đã dùng 11 tháng trong năm -số tiền cấp dưỡng để sống tại Việt Nam, đó là tiền đóng thuế của dân Úc, lại được các anh nuôi chế độ Cộng sản. Theo nhiều người biết, nhiều quân nhân đã quay về, mua nhà, chỉ sang Úc 1 tháng cho hợp chính sách và trở về sống 11 tháng còn lại trong năm, các anh ấy là đồng chí, chứ không còn là chiến hữu nữa !.
    Tại sao những quân nhân ở đây không báo cho Chính phủ Úc biết -những người như thế ? Một số quân nhân quay về Việt Nam thường viện lý do là có quan hệ bang giao, các cựu chiến binh đồng minh ở Hoa Kỳ, Úc... trở về Việt Nam du lịch, vì họ có nguồn gốc khác với các quân nhân VNCH... Chúng ta ra đi vì chế độ Cộng sản, nay không thể viện lý do bang giao, là quốc tịch được ban cấp để trở về nơi mà chúng ta cho là nguy hiểm, không thể quay về.... đó là trường hợp một giàn dây leo có cây mướp, bầu, khổ qua... chung một giàn, nhưng khác giống !.
    Những người tỵ nạn Cộng sản năm nay, trở về an toàn thì đã tự mình xé bỏ Căn cước Tỵ nạn Chính trị, Chính phủ các nước ban cấp quyền công dân, nhưng họ cũng có quyền thu hồi khi cần và xét thấy những người được cấp vi phạm luật, giống như thu hồi Giấy phép Thương nghiệp, hành nghề Luật sư, Bác sĩ... của những kẻ vi phạm luật. Kẻ thù Cộng sản đã đạt thắng lợi lần nữa -sau cuộc chiến Việt Nam, không phải chúng tài giỏi, nhưng là do trong hàng ngũ Quốc gia, có một số người ''đón gió trở cờ'', đặt cá nhân trên Tổ Quốc, trở thành những kẻ Phản bội.
    Trước năm 1975, Chính sách Chiêu hồi của Chính phủ miền Nam đã cải hóa -hàng chục ngàn cán binh trở về với Chính nghĩa Quốc Gia. Nhưng phía Cộng sản cũng có cái gọi là: -trở về với nhân dân và cách mạng, thực tế là con số người tỉnh ngộ cách mạng không nhiều, đa số là những kẻ nằm vùng trong hàng ngũ Quân đội, Chính quyền, bị lộ nên phải bỏ vào bưng để an toàn, hay những tên gây tội phạm hình sự, sợ bị Pháp luật chế tài, nên vào rừng để trốn tránh.
    Vào những ngày gần cuối cuộc chiến, có một số Quân nhân phản bội, nằm vùng như Nguyễn Thành Trung -quay súng làm phản, được Cộng sản cấp giấy "Tiền Khởi Nghĩa", số người nầy đa số là gia đình cán bộ Cộng sản, được móc nối bỏ hàng ngũ để sau nầy được an toàn... Ngày nay, sau cuộc chiến, các quân nhân may mắn thoát khỏi tay kẻ thù, nay trở thành "Tiền khởi nghĩa", trở về làm đồng chí của những kẻ chiến thắng thời cơ, mang tiền về đóng góp cho bọn Tư bản đỏ tại Việt Nam và đã thành kẻ phản bội.
    Đây là những tâm tình của một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhắn gởi những ai còn lương tri và đồng thời -xác định lập trường, bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia. Từ nay những kẻ phản bội, trở cờ không còn là chiến hữu nữa.../.
    ĐỖ VĂN XUÂN
-----------
   Người lính chưa nhận Chứng chỉ Giải ngũ

 
    Kính các Chiến Hữu trong các Hội Đoàn Quân Đội tỵ nạn tại Houston,
    Sau khi tôi nhận đọc được bài: Lời Người Lính VNCH Gởi Các Chiến Hữu Đổi Màu, tôi vô cùng tâm đắc và hoàn toàn hợp ý -về những phân tích rất có tính lý của Ông Đỗ Văn Xuân. Tôi không thể hiểu nỗi -tại sao lại có những cựu Quân Nhân, Viên Chức đã phục vụ trong Quân Lực VNCH, trong Chính quyền Miền Nam Việt Nam trước đây...
    Họ đã từng chiến đấu chống bọn giặc cộng xâm lược, trên khắp bốn vùng chiến thuật, hay ngay tại hậu phương và  sau khi miền Nam lọt vào tay giặc, thì một số họ đã bị bắt bớ, giam cầm, tù đày khổ sai trong các Trại tù cải tạo -ở các vùng rừng núi Việt Bắc, chí ít phải từ 5 đến 20 năm, gia đình ly tán, vợ con phải chịu lưu đày đến các vùng Kinh tế mới khắc nghiệt, trầm luân, số khác thì phải băng rừng, vượt biển, tìm đường trốn chạy bọn Cọng sản mà đã bỏ mạng trong rừng hoang, hay xác thân đã làm mồi cho cá ngoài biển cả -để tìm đến bến bờ Tự do.
   Vậy mà, chính bọn người này sau thời gian dài sống tại Hải ngoại, no cơm ấm cật, có dư dã chút đỉnh đồng tiền là đã quay phắt 360 độ, bọn chúng bắt đầu trở về đầu thú lũ giặc cộng, cúi rạp đầu -chun qua dưới lá cờ máu, búa liềm, với những chiêu bài: -thăm viếng Cha-Mẹ già, di dời, xây dựng mồ mả Cha-Ông, v.v... Nhưng thực chất (theo lời bọn chúng phát biểu): -là để “trả thù dân tộc”, hưởng lạc gái tơ và oái ăm, tồi tệ hơn là xây dựng nhà cửa, cơ sở vật chất, rồi móc ngoặc, cấu kết, cộng tác đầu tư với những thành phần Tư sản đỏ tại địa phương để môi giới, giao dịch làm ăn...
    Và cứ thế, hàng năm bọn họ lại thi nhau đi về Việt Nam, tiếp tay cùng bọn Cộng phỉ để thâu lượm những đồng tiền bất chính, bằng sự bốc lột lươn lẹo, tàn nhẫn trên mồ hôi, trên quá tải lao động của các trẻ thơ, các đồng bào nghèo khổ, dưới bàn tay thống trị vô luật pháp của bọn này, tại Quê Hương Việt Nam. Điển hình cho những bọn người chối bỏ Căn cước Tỵ nạn, các chiến hữu đổi màu mà tôi đã được diện kiến tại bàn tiệc của Hội Ái Hữu Hải Quân, ở  Nhà hàng Ocean Palace -cách đây hơn ba tuần lễ, đó chính là Hội trưởng Hội 81 Biệt Kích dù & Lực Lượng Đặc biệt Nguyễn Văn Đại.
   Tôi không vu khống, chụp mủ mà nói có sách, mách có chứng, rõ như ban ngày, không thể chối cải được, vì lúc đó ngoài tôi ra còn có rất nhiều người nghe. Ông Đại -với giọng miền Bắc-Trung phần- khoe khoang sống sượng và có vẻ tự hào là vừa về Việt Nam trong tháng qua, để xây nhà cửa và mở cơ sở giao dịch làm ăn. Ông ta nói rất bô bô -với bộ mặt đầy tự đắc, mãn nguyện, xem đây như là một chuyện bình thường. Thật sự mà nói, sau khi nghe những lời thốt ra từ miệng Hội trưởng của một Hội Đoàn -nổi danh trong Quân Đội chế độ cũ, tôi quá kinh hoàng, lờm tởm và tỏ ra khinh bỉ ông ta.
    Chẳng lẽ ông ta đã quên -ông ta là một quân nhân Biệt Kích dù, đã bị Việt cộng tù đày và đã được Chính phủ Mỹ cứu vớt, mang qua đây cho Tỵ nạn ? Giờ này ông ta trở về đầu thú với kẻ địch để làm ăn, ông đã phản lại Đồng đội và lời thề trong Hồ sơ Tỵ nạn -khi đặt chân đến đất Mỹ. Vậy thì ngay bây giờ, sao ông ta không về ở hẳn bên đó, mà còn Tỵ nạn bên này làm gì nữa ? Đúng là bọn người vong ơn, bọn đổi màu, bọn chối bỏ Căn cước Tỵ nạn. Bọn người này có còn xứng đáng để đứng chung trong hàng ngũ cựu Quân nhân Quân Lực VNCH và trong Cộng đồng người Việt Tỵ nạn  tại Houston, Texas này hay không ?
   Xin chờ đợi ý kiến của các Chiến Hữu, các Hội Đoàn Quân Đội đang sinh hoạt tại Houston, Texas.
   Chiến Sĩ NG.LINH GIA
     25.07.2012
-----------
    Kính thưa các Chiến hữu,
    Tôi vô cùng cảm phục chiến hữu Đỗ Văn Xuân, với bài viết  LỜI NGƯỜI LÍNH VNCH GỞI CÁC CHIẾN HỮU ĐỔI MÀU và đóng góp của chiến sĩ NG.LINH GIA. Những nhận định của hai Chiến hữu về thái độ "đổi màu" của một số cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, thật là chính xác. Chính mắt tôi thấy và chính tai tôi đã nghe -chung quanh vùng tôi sinh sống. Rất tiếc là sự việc đã xảy ra như vậy.
    Những năm-tháng đầu mới đến tỵ nạn , anh em  tỏ ra khí tiết lắm. Khi thấy người nào đi về Việt Nam, không chịu đi biểu tình chống Cộng, không đi biểu tình ngày Quốc Hận, không cầm Cờ Vàng... hay Tổ chức nào không treo Cờ Vàng... thì lên tiếng trách móc rất hăng say. Nhưng nay dần dần theo thời gian, theo nhu cầu quyền lợi riêng tư đã có một số chiến hữu riu ríu về Việt Nam, viện lý do này, lý do nọ. Rồi dần dà vắng mặt trong các cuộc biểu tình chống Việt cộng, viện lý do vì Đoàn thể này Tổ chức, vì Nhóm kia lãnh đạo... 
    Còn có nhiều chiến hữu lặng thinh, đồng tình, không lên tiếng phản đối... khi đến tham dự ngày Tết, phiên họp mà Ban tổ chức không treo Quốc Kỳ và không hát Quốc Ca. Xa hơn nữa, còn có một vài người rất sợ cầm Cờ Vàng -nếu có đi biểu tình. Và nếu kẹt quá phải cầm Cờ Vàng thì sợ bị chụp hình, sợ bị đưa hình lên NET, sợ Việt cộng thấy... sẽ không cho về Việt Nam du hí, ngậm cỏ non, cập bồ, cập bịch làm tan hoang gia đình. Tệ thế đó.
    Còn tệ hơn nữa, khi thấy có Nhóm người nào Cầm Cờ Vàng đi sinh hoạt trong các dịp nào đó, thì vì ganh tỵ, hoặc vì nghe lời xúi giục của nhóm thân Cộng, nói xấu ra, nói xấu vô, rỉ tại người này người nọ, đánh phá  những ai Cầm Cờ Vàng. Để cho việc đánh phá có hệ thống, họ còn kéo theo bè này, cánh nọ, nhất là các tổ chức, các cá nhân... có mục đích sinh hoạt chung chung như "làm văn hóa, văn nghệ", "không mang tính chính trị", "làm từ thiện"... Thật là nhục !. 
    Ngày nào mang trên mình chiếc áo trận, hiên ngang giết quân Cộng sản, ngày nào uy nghi nghiêm chỉnh trước hàng Cờ Vàng Vinh Quang Tổ Quốc, nay chỉ vì quyền lợi nhỏ bé, vì miếng ăn, vì sợ Việt cộng biết, vì muốn được Việt cộng để cho yên thân về Việt Nam ăn chơi, bố nhí... mà đem chôn cả Danh dự của mình, của Quân Đội mà mình phục vụ, cả Chính thể mà mình đã chiến đấu để bảo vệ...  
    Hỡi các chiến hữu đã vì một phút yếu mềm, đã vì một chút bã lợi ích riêng tư mà quên cả Danh dự của một Quân nhân. Mong quý chiến hữu hãy nghĩ lại, mong quý chiến hữu hãy hồi tâm. Chúng ta còn có đủ thì giờ. Tôi cầu chúc  quý chiến hữu có nhiều can đảm, nhiều nghị lực để kịp thời thay đổi "thái độ đổi màu" và dứt khoát -từ bỏ quyền lợi riêng tư, từ bỏ ăn chơi. 
    Hãy trở lại mái ấm gia đình riêng tư, hãy trở lại mái ấm đại gia đình của Tập Thể Quân Nhân -thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Kính chào.
    Phạm Đình Cần
    Đại Đội 10/7/SĐ5/K25 SQTB/TD
     Không Nói, Không Viết, Không Làm những gì có lợi cho Cộng sản.

Bài Xem Nhiều