We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 26 October 2012

Đánh “Đồng Chí X”; Chơi Mà Thực – Thực Mà Chơi – Nguyễn Quang Duy

 Dưới thể chế độc tài toàn trị khó mà đoán được những chủ đích của tầng lớp cầm quyền. Sự nhượng bộ có thể chỉ là giai đoạn, lời hứa thường không được tôn trọng. Vì thế cái giá của cuộc chơi thường phải trả cao hơn. Nhưng kết quả sẽ giá trị hơn, như trận đánh tham nhũng là trận đánh sống còn giữa đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam. Muốn có dân chủ thì phải tham gia cuộc chơi, càng nhiều người chơi thì cái giá càng giảm cho mỗi người và kết quả càng thể hiện rõ rệt...
*
Lý thuyết trò chơi là một ngành khoa học nghiên cứu các phản ứng chiến thuật giữa các người chơi khi họ chọn những hành động khác nhau để đạt được kết quả tối đa. Khởi đầu lý thuyết được dùng phân tích và dự đoán chiến thuật quân sự và ngoại giao góp phần đánh đổ thể chế cộng sản Âu Châu. Đến nay nó được ứng dụng vào mọi ngành khoa học thực dụng, như việc thiết kế người máy hay vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Sự hữu dụng của lý thuyết đã được chính thức công nhận với 8 học giả đoạt giải Nobel kinh tế và năm nay giải lại vừa được trao cho hai học giả Alvin Roth và Lloyd Shapley. 
Lý thuyết trò chơi thường dựa trên năm yếu tố cơ bản: người chơi (players); giá trị gia tăng (added values); quy tắc hay luật chơi (rules); chiến thuật (tacties) và phạm vi trò chơi (scope). Bài viết xin bám sát 5 yếu tố cơ bản nói trên giúp bạn dễ dàng tham gia cuộc chơi đánh tham nhũng để thấy “Chơi Mà Thực – Thực Mà Chơi”. 
Người Chơi (Players) 
Hai nhân vật khởi đầu cuộc chơi là Nguyễn Tấn DũngTrương Tấn Sang. Cả hai cùng đều là người miền Nam, đều là đàn em của Võ vVăn Kiệt, đều rất thực tế và trước đây cả hai đều nhắm đến cái ghế Thủ Tướng. 
Nguyễn Tấn Dũng được đồn là xuất thân từ một gia đình cộng sản chính gốc, có tầm nhìn và tài lãnh đạo hơn hẳn các lãnh đạo cộng sản khác. Trương Tấn Sang được tiếng là lì đòn, chịu đấm ăn xôi, thường nói xuôi nói ngược chiều lòng người, nhưng lại vướng vào tham nhũng Nam Cam và đông thê nhiều thiếp. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng được Võ Văn Kiệt thu xếp để hai lần làm Phó Thủ Tướng rồi đưa lên Thủ Tướng. 
Đến Đại Hội Đảng lần thứ 11, Trương Tấn Sang muốn giành chức Tổng Bí Thư, nhưng Nguyễn Tấn Dũng tìm mọi cách ngăn cản. Ông Sang ngấm ngầm đưa ra một hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng vừa tham nhũng vừa yếu kém trong việc điều hành quốc gia. Nhờ vậy có lúc dư luận tin rằng Trương Tấn Sang sẽ nắm chức Tổng Bí thư để cân bằng quyền lực ngày càng gia tăng của Nguyễn Tấn Dũng. 
Cuối cùng các phe cánh trong đảng Cộng sản trao chức Tổng Bí Thư cho Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng một nhà khoa bảng nắm lý thuyết cộng sản nhưng xa rời hiện thực. Ông nói như thuộc và trả bài, nói và làm như không hiểu thực tế đảng mà ông đang sinh hoạt, thực tế xã hội và thực tế thế giới mà ông đang sống. Ông xa cách thực tế đến độ không ai hiểu ông ta muốn nói điều gì vì thế bà con Hà Nội đặt ông là Trọng Lú. 
Ông Trọng lại bị bệnh tim và ngay sau Đại Hội 11 có tin đồn ông sẽ chỉ làm nửa Nhiệm kỳ 5 năm, nghĩa là giữa năm 2013 sẽ có người thay thế chức Tổng Bí Thư. Việc đảng Cộng sản thu xếp đưa ông Trọng lên cho thấy cuộc khủng hoảng lãnh đạo bắt đầu. Dấu hiệu Đại Hội 11 là Đại Hội cuối cùng của đảng Cộng sản Việt Nam. 
Trương Tấn Sang thì được thu xếp làm Chủ tịnh nhà nước một chức vụ lễ nghi hình thức. Vì không trực tiếp cầm quyền, không được nắm tài sản của quốc gia nên dễ cho ông Sang tuyên bố tham nhũng như sâu và “một con sâu đã nguy hiểm huống gì một bầy”. Câu tuyên bố nhằm ám chỉ ông Dũng và phe cánh. Nhưng khi tuyên bố như trên ông Sang quên rằng đàn sâu tham nhũng đã được sinh ra và được thể chế chính trị mà ông đang đại diện nuôi dưỡng. 
Tham nhũng theo định nghĩa được nhiều người chấp nhận là những hành vi cố tình không tuân thủ các nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho cá nhân hoặc cho những kẻ có liên quan tới hành vi đó. Bản chất của thể chế toàn trị cộng sản chính là mầm mống phát sinh và nuôi dưỡng tham nhũng. 
Trong thể chế cộng sản Chính Phủ, Quốc Hội, Tư Pháp và tất cả đoàn thể chính trị, các cơ sở kinh tế đều dưới sự kiểm soát và quản lý của đảng Cộng sản. Để xây dựng và củng cố thể chế, đảng Cộng sản cần một tầng lớp cai trị lấy sự trung thành với đảng làm căn bản cho việc phân phối phúc lợi tập thể, quyền lực và tài sản quốc gia. Khi đảng Cộng sản phải chấp nhận kinh tế thị trường thì sự yếu kém về mặt chính trị bộc lộ. Các hoạt động bao che, bè phái, ràng buộc gia đình, dòng họ, bạn bè,... dẫn đến tình trạng tham nhũng xâu xé đất nước như hiện nay. 
Tháng 11-2009, Đại biểu Quốc Hội Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội) chất vấn Nguyễn Tấn Dũng vì sao “các báo cáo của Chính phủ năm 2008 và năm 2009 cho thấy còn trên 250 vụ việc tham nhũng kéo dài đã có ý kiến của Thủ tướng và 380 vụ việc đã có kết luận của các bộ, ngành nhưng chưa được các cơ quan và ủy ban nhân dân các cấp thực hiện”. Ông Dũng bó tay thú nhận họ là người của đảng Cộng sản của hệ thống chính trị và “hơn 3 năm nay làm Thủ tướng tôi cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào, tôi cũng muốn học theo đồng chí Phạm Văn Đồng”. Ông Dũng gián tiếp thú nhận cá nhân và nhà nước do ông đại diện thiếu thực quyền để xử lý cán bộ đảng. 
Nói rõ ra phương cách để giới hạn và kiểm soát tham nhũng phải là tam quyền phân lập, là công khai, minh bạch, là nêu rõ trách nhiệm, là tự do báo chí, là tự do chính trị, là đa nguyên đa đảng. Những điều trên khi khai mạc Hội Nghị lần thứ 5 Nguyễn Phú Trọng đã công khai bác bỏ. Nhưng điều ông Trọng bác bỏ lại chứng tỏ ngay trong guồng máy cầm quyền đã có những người nhận ra bản chất tham nhũng và phương cách kiểm soát tham nhũng. 
Ngược lại Nguyễn Phú Trọng lại tin vào phương cách “phê và tự phê” và muốn lấy Nguyễn Tấn Dũng làm con dê tế thần. Thế cờ đưa ra Hội Nghị 6 với kết quả thê thảm đến độ Nguyễn Phú Trọng tủi thân nức nở xin các đồng chí thứ lỗi. Ông Sang thiếu tâm lý vì nếu ông Dũng bị xử lý thì nhiều người rồi cũng sẽ bị mang ra xét xử. Ông buộc các Ủy viên Trung Ương phải làm một cuộc “đảo chánh cung đình” phủ nhận quyết định của Bộ Chính Trị. 
Trương Tấn Sang thua nhưng không chị bỏ cuộc, ngay sau đó lại xúi cử tri (đảng viên thuộc phe cánh?) đánh “đồng chí X”. Ông Sang tuyên bố nếu không dẹp được “đồng chí X” thì về quê đuổi gà coi vịt. Dấu hiệu cho thấy trò chơi sẽ còn nhiều sôi nổi. 
Việc ông Trọng và ông Sang không dám nêu đích danh ông Dũng trước công chúng cho thấy họ vẫn xem tham nhũng chính là lỗi của ông Dũng và là chuyện nội bộ đảng Cộng sản. Có đảng viên đã lên tiếng kêu gọi triệu tập Đại Hội giữa kỳ gồm các đại biểu tham dự Đại Hội 11. Biết đâu Đại Hội này là để biểu quyết chọn lựa giữa đồng chí X, hai đồng chí Sang Trọng. 
Nguyễn Tấn Dũng quyền biến hơn, trong đảng ông âm thầm thuyết phục trách nhiệm không phải tại riêng ông mà của toàn Bộ Chính Trị và của những người đi trước ông để lại. Ông chỉ là người thừa hành trách nhiệm đảng giao, bản thân ông không muốn xử lý bất cứ ai. Ra ngoài ông còn vượt xa hơn một bước là nghiêm túc nhận trách nhiệm và “...xin nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân” và hứa sẽ khắc phục. Nếu nhìn từ phía những kẻ cầm quyền ông Dũng xứng đáng là người lãnh đạo. 
Về phía người dân ai dám tin khi cũng chính ông Dũng trong lễ nhậm chức Thủ Tướng đã ngẩng cao đầu tuyên bố "Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay." Khủng hoảng lãnh đạo và khủng hoảng niềm tin chính là hiện trạng Việt Nam. 
Tham nhũng không phải chỉ là lỗi mà là tội trước pháp luật và khi tham nhũng cấu kết với ngoại bang là tội phản quốc. Tham nhũng trực tiếp ảnh hưởng đến mọi tầng lớp vì thế nhiều người đã nhập cuộc đấu tranh. Thí dụ như câu chuyện về đồng chí X qua tin đồn đã loan truyền khắp nơi. Người đưa tin người truyền tin chính là những người trực tiếp tham gia cuộc chơi. Việc dư luận đòi ông Dũng từ chức đã thành một sức ép bắt ông Dũng và đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm. 
Trò chơi đã chuyển từ thế tiêu cực chống tham nhũng sang một thế tích cực đánh tham nhũng. Ý thức của người dân không chỉ giới hạn trong việc đánh đồng chí X, mà là đánh đổ tham nhũng, đánh đổ cái thể chế tạo ra và nuôi dưỡng tham nhũng. Như thế trò chơi đánh đồng chí X sẽ là trò chơi cho tất cả mọi người quan tâm đến sự sống còn của dân tộc. 
Có tin cho rằng bạn Nguyễn Phương Uyên vừa bị an ninh bắt vì phân phát truyền đơn “Vì Danh Dự Dân Tộc Chống Giặc Tầu, Vì Tương Lai Đất Nước Chống Tham Nhũng”. Việc đánh tham nhũng của bạn Nguyễn Phương Uyên là tấm gương cho mỗi người chúng ta noi theo học hỏi.
Nguyễn Phương Uyên sinh viên 20 tuổi lên tiếng kêu gọi tham gia đánh tham nhũng. 
Giá trị gia tăng (Added values): 
Khai mạc Hội nghị lần thứ 4, Nguyễn Phú Trọng đã long trọng tuyên bố chỉnh đốn Đảng vì sự sống còn của đảng, của chế độ. Nghĩa là chống tham nhũng là trận chiến sống chết của đảng Cộng sản Việt Nam. 
Việc đập thủy điện Đakrông, Quảng Trị vỡ để lộ ra bê tông xen lẫn đất và gỗ mục. Đập Sông Tranh 2 thì bị rỉ khi chưa hoạt động. Rồi các vụ động đất liên tục xảy ra xung quanh khu vực Trà My - Quảng Nam. Nếu các đập thủy điện bị bể sẽ nhấn chìm hàng triệu sinh mạng trong vùng hạ lưu ba tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Tình trạng cho thấy tham nhũng đã đến mức xem thường mạng sống của hàng triệu con người. Tình trạng này cần dứt khoát không thể tiếp diễn xảy ra. 
Đánh tham nhũng về phía người dân không còn gì để mất. Càng đánh tham nhũng người dân càng ý thức được những gì họ đã bị đảng Cộng sản cướp đi và càng thấy đảng Cộng sản cuống cuồng vừa phải xin lỗi vừa phải lo sợ về sự sống còn. 
Giá trị của cuộc đánh tham nhũng vô cùng to lớn càng tham dự thì càng nhận rõ giá trị trận đánh. “Vì Danh Dự Dân Tộc Chống Giặc Tầu, Vì Tương Lai Đất Nước Chống Tham Nhũng” khẩu hiệu ngắn gọn nhưng nêu rõ giá trị của cuộc đấu tranh sống còn giữa đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam. 
Quy tắc hay luật chơi (Rules) 
Trò chơi nào cũng có luật của nó. Đảng Cộng sản đang độc quyền cai trị vì thế luật đảng được ứng dụng vào cuộc chơi. Khởi đầu Nguyễn Tấn Dũng được mang ra Bộ Chính Trị, rồi mang ra Trung Ương và có thể là Đại Hội giữa kỳ. 
Như đã trình bày bên trên luật chơi của đảng Cộng sản đã có từ lâu nhưng cách hai ông Sang Trọng chơi lại không đúng luật. Như ông Trọng lạm dụng quyền hành gấp rút triệu tập Hội Nghị 6. Hay như ông Sang ngay sau Hội Nghị lại tiếp tục công kích “đồng chí X” và tuyên bố chơi tới cùng. Điểm mạnh của đảng Cộng sản là bí mật nội bộ và kỷ luật sắt. Các điểm mạnh này nay không còn nữa. Chơi không đúng luật chơi là dấu hiệu đổ vỡ từ bên trên đảng Cộng sản Việt Nam. 
Khai mạc Quốc hội 20-10-2012 - Kẻ thắng "hồ hởi" người thua "âu sầu". 
Nguyễn Tấn Dũng biết nắm quyền lực, nắm tâm lý tầng lớp cầm quyền và biết trong đảng không có người thay thế nên dầu biết bị chơi xấu nhưng vẫn chưa thực sự phản đòn. Trên thực chất đây là một cuộc tranh chấp quyền lực giữa đảng và nhà nước nên chiến thuật của ông Dũng là nhắm đến sự tồn tại của thể chế. Chiến thuật của ông có phạm vi rộng hơn sẽ nêu ra ở phần tới. 
Ngoài luật của đảng còn có luật pháp quốc gia. Nhưng luật pháp quốc gia lại chỉ áp dụng cho người dân hay cho cán bộ cấp thấp. Ngay cả khi người dân lên tiếng chống tham nhũng họ phải lãnh một hậu quả khó lường. Nhà báo Hoàng Khương vì dàn cảnh hối lộ mà lãnh 4 năm tù. Hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải cũng bị 4 năm tù vì đưa tin vụ án PMU 18. Khoản 4 điều 101 của dự luật Phòng Chống Tham Nhũng còn quy định: “Cơ quan báo chí, phóng viên đưa tin về hành vi tham nhũng có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền để phục vụ cho việc xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng”. Trong việc chống tham nhũng báo chí vốn đã câm không được nói, nay khoản dự luật sẽ được áp dụng xem như bịt miệng không cho báo chí ú ớ. 
Giới báo chí mà còn bị tù tội nói gì đến người thường. Lấy trường hợp bạn Nguyễn Phương Uyên vừa bị an ninh bắt vì phân phát truyền đơn “Vì Danh Dự Dân Tộc Chống Giặc Tầu, Vì Tương Lai Đất Nước Chống Tham Nhũng” làm một thí dụ điển hình. 
Trên thực tế, ngoài luật đảng và luật pháp, còn có luật tự nhiên. Theo luật tự nhiên điều gì càng bị che giấu thì lại càng được nhiều người muốn biết muốn nghe qua dạng tin đồn. Một đồn thành Mười. Mười đồn thành Trăm... Đồn xong đến Đoán. Đồn Đoán trở thành tin chính thức. Tin chính thức trở thành kỳ vọng. 
Như trong thời gian họp Hội Nghị 6 cả nước đồn rùm Nguyễn Tấn Dũng ít nhất phải từ chức hay phải vào tù... đến lúc Nguyễn Phú Trọng mếu máo loan tin thì kỳ vọng trở thành thất vọng mọi người xoay sang bình luận về tài nghệ của hai ông Trọng Sang... Trong lý thuyết trò chơi tin đồn là luật của tự nhiên. Muốn kiểm soát tin đồn phải xây dựng niềm tin bằng công khai và minh bạch. 
Luật của tin đồn mạnh vô cùng. Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng sụp đổ do tin đồn. Cộng sản tung tin mất tỉnh này tỉnh kia. BBC chụp tin và loan tin mất tỉnh này tỉnh nọ. Thế rồi quân đội phải rút, dân bỏ chạy, cộng sản cứ thế mà tiếp thu. Đến 30 tháng 4 Tổng Thống Dương Văn Minh phải tuyên bố tan hàng. 
Xưa cộng sản chủ động tung tin thì nay trong trận đánh tham nhũng họ hoàn toàn bị động. Nguyễn Tấn Dũng và cả một guồng máy cộng sản phải điên đầu vì không kiểm soát được tin đồn. 
Cuối cùng muốn chơi thì phải biết người và muốn thắng thì phải biết ta. Biết người biết ta trăm trận trăm thắng là quy tắc bất biến. Có biết luật chơi này thì mới có thể phân biệt đối phương và đồng minh cũng như mới nhận ra chiến thuật của những người tham dự. 
Chiến Thuật (Tactics) 
Chiến thuật là phương cách đánh. 
Đến đây bạn có thể thấy Nguyễn Phú Trọng liên tiếp giữ thế công, không để đối phương ngừng nghỉ, và chỉ muốn cuộc chiến thu gọn trong nội bộ đảng Cộng sản. Cả một guồng máy đảng và nhà nước cộng sản đã phải ngừng nghỉ 15 ngày mà không được kết quả gì. Ngược lại nó làm chính ông mệt mỏi và không ít người trong Trung Ương Đảng bất mãn xem thường khả năng lãnh đạo của ông. 
Trong bài “Trương Tấn Sang Qua Vụ Bầu Kiên”, người viết nhận xét ông Sang sử dụng chiến thuật “con lật đật”. Chiến thuật này không có gì là rõ rệt, lúc thì ngã sang bên này lúc ngã sang bên kia, nói nhiều nhưng hành động thì ít. Dường như ông đang đeo đuổi một vai trò hạ hỏa trung gian hơn là thực tâm đánh tham nhũng. Khi còn Nguyễn Phú Trọng để đối chọi Nguyễn Tấn Dũng, thì chiến thuật con lật đật của ông Sang còn có chút giá trị. Nhưng nếu ông Trọng nghỉ chơi không có người khác thay thế ông Sang sẽ phải thay đổi chiến thuật. Xét ra ông Sang muốn mở rộng cuộc chơi vượt ra ngoài phạm vi đảng Cộng sản và sẽ dễ dàng ngả về phe thắng thế. 
Nguyễn Tấn Dũng là người nắm nhà nước, nắm thực quyền nên chiến thuật của ông có phần khác. Lấy thí dụ khi biết rõ kinh tế đang suy giảm và đối thủ muốn mang ông ra làm con vật tế thần, ông cho loan tin tàu Trung cộng cắt cáp tàu Bình Minh để lái dư luận quên đi các thất bại kinh tế và nạn tham nhũng bất trị. Hay khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược hướng về Biển Đông ông cũng gởi những dấu hiệu khá tích cực là ủng hộ lập trường của Hoa Kỳ. Qua bài “Theo Mỹ Cứu Đảng?” người viết đã trình bày các chiến thuật ông Dũng khá chi tiết. Ông Dũng còn nắm được khá nhiều tin tức của các đối thủ chính trị nhưng chưa đem ra sử dụng chứng tỏ ông còn rất sung sức trong cuộc chơi và có khả năng để tung những thế đánh một cách bất ngờ. 
Về phía người dân, số lượng người tham dự càng ngày càng cao, khả năng của các tay chơi càng ngày càng cao. Mặc dù chưa có tổ chức nhưng tính đa dạng, uyển chuyển, thích ứng với tình huống và tự nguyện phân công công tác, tạo cuộc chơi càng ngày càng thuận lợi bắt buộc các phe cánh trong đảng Cộng sản phải thực sự quan tâm. 
Vì chưa có tổ chức và thực lực nên phía dân chủ phải biết người biết ta để phân biệt đối phương và đồng minh cũng như mới nhận ra chiến thuật của những người tham gia. Hiện nay phía dân chủ còn trong thế đỡ hoặc đánh theo để bẻ gãy chiến thuật để bắt đối phương phải thay đổi chiến thuật. Để kết liễu trò chơi, phía dân chủ đang chủ động hơn tung ra các chiến thuật bắt đối phương phải bị động thay đổi chiến thuật. 
Phạm vi của Trò Chơi (Scopes) 
Thật ra trò chơi đánh tham nhũng chỉ là một phần trong trò chơi rộng hơn do Hoa Kỳ chủ động: trò chơi mang dân chủ đến cho mọi dân tộc. 
Thật vậy mọi biến động tại Việt Nam đều có thể trở thành biến động cho Trung cộng. Trung cộng dứt khoát không muốn Việt Nam trở thành một Miến Điện. Trung cộng muốn các bè phái trong đảng Cộng sản tiếp tục đấm đá để họ dễ tạo ảnh hưởng và kiểm soát các tay chơi. Còn Hoa Kỳ thì đã công khai đưa ra chiến lược dân chủ hóa toàn cầu và chiến lược quân sự quay về biển Đông. Các quốc gia khác cũng thế đều quan tâm đến các thay đổi tại Việt Nam để hành động mang lại kết quả tốt nhất cho quốc gia mình. 
Tới đây hy vọng bạn đã nhận ra trò chơi không phải chỉ tóm gọn trong đảng Cộng sản, nó ảnh hưởng đến mọi người Việt Nam, và ảnh hưởng đến toàn thế giới. 
Trên chỉ là 5 yếu tố cơ bản. Bạn có thể thấy các yếu tố này uyển chuyển hỗ tương nhau tạo cho cuộc chơi mỗi lúc một phức tạp hơn. Ngoài ra cuộc chơi còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bất ngờ như Nguyễn Phú Trọng đứng tim chết hay chiến tranh thình lình xảy ra. 
Trò chơi còn đòi hỏi người chơi phải sáng suốt không để lâm vào tình trạng bi thảm. Như tức nước vỡ bờ, người dân đứng dậy, khi ấy người nổi dậy có thể lôi Nguyễn Tấn Dũng ra đường bằm xé hay người xấu có thể thay nhau hành hạ Nguyễn Thanh Phượng con gái ông Dũng. Vì trong trò chơi ông Dũng và cô Phượng là hai nhân vật bị lên án dữ nhất. Cuộc chơi vì thế luôn cần sự sáng suốt từ mọi phía. 
Kết Luận 
Trong thể chế dân chủ tính công khai và tranh luận cởi mở gởi các thông điệp rõ ràng và khả tín về các mục tiêu và thành quả cuộc chơi. Nhưng nếu chúng ta không tham dự, như theo dõi các cuộc tranh luận để chọn người đại diện, nếu chúng ta không tham gia các đảng chính trị thì việc thua thiệt là tại chúng ta. 
Còn dưới thể chế độc tài toàn trị khó mà đoán được những chủ đích của tầng lớp cầm quyền. Sự nhượng bộ có thể chỉ là giai đoạn, lời hứa thường không được tôn trọng. Vì thế cái giá của cuộc chơi thường phải trả cao hơn. Nhưng kết quả sẽ giá trị hơn, như trận đánh tham nhũng là trận đánh sống còn giữa đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam. Muốn có dân chủ thì phải tham gia cuộc chơi, càng nhiều người chơi thì cái giá càng giảm cho mỗi người và kết quả càng thể hiện rõ rệt. 
Bài viết hy vọng đã gợi ý bạn đọc “chơi mà thực thực mà chơi” không chơi thì đừng trông mong có tự do có dân chủ có hòa bình và thịnh vượng. 
25/10/2012 
Melbourne, Úc Đại Lợi 

26-10-1956 -Nhân Dân Miền Nam Việt Nam Tri Ân Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM TRI ÂN
CÁC CHẾ ĐỘ VNCH & CÁC CHIẾN SĨ QL.VNCH
ĐÃ TẬN TÂM TẬN LỰC
HY SINH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC & GIỮ GÌN AN NINH LÃNH THỔ
TRONG HOÀN CẢNH CHIẾN TRANH KHỐC LIỆT
NHẤT LÀ TRONG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG CỦA LỊCH SỬ MIỀN NAM VIỆT NAM.
MỘT NÉN TÂM HƯƠNG KÍNH TRI ÂN NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA CHẾ ĐỘ VNCH 1 (26-10-1956)
ĐÃ LÀM CHO NHÂN DÂN & QUỐC GIA - NHẤT LÀ LÃNH VỰC GIÁO DỤC (THÀNH LẬP VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ 1957)
MỘT NGỌN NẾN THẮP SÁNG LƯƠNG TÂM CỦA TẤT CẢ NGƯỜI DÂN CÙNG TỔ QUỐC VIỆT NAM
VP.PHTQ.CANADA

---------
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Trong lịch sử Việt Nam cận đại, các sử gia đã đặc biệt quan tâm đến một con người, một nhà ái quốc, đúng hơn là một nhà cách mạng mà cụ Phan Bội Châu đã hết lời ca tụng nghĩa cử dũng lược từ quan, lúc Người mới hơn 30 tuổi đã dám thách thức quyền lực của cả nước Pháp: Đó là Chí Sĩ Ngô Đình Diệm.


Có những người chết đi nhưng thế giới không bao giờ quên được họ, vì đời sống họ đã ảnh hưởng tới xã hội này nhiều quá. Sự nghiệp họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhưng không bao giờ bớt phần vinh quang rực rỡ. Tư tưởng và hành động của họ vẫn được người đời coi như khuôn vàng thước ngọc để noi theo bắt chước. Họ là ai? Xin thưa đó là các vị Anh Hùng của Dân Tộc.

Trong dòng lịch sử bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt, trải qua các triều đại Ngô Đinh Lê Lý Trần Lê Nguyễn, người ta thấy trên giang sơn gấm vóc thân yêu của chúng ta đã phát sinh nhiều vị Anh Hùng Dân Tộc, mà ngày nay chúng ta là con cháu luôn ngưỡng mộ và tri ân. Mỗi thời đại đều xuất hiện những vị Anh Hùng khác nhau để Kiến Quốc và Cứu Quốc. Nếu sau thời đại các vị Vua Hùng, chúng ta thấy có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh thì trong thời đại kế tiếp, chúng ta có Lê Lợi, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và trong thời cận đại, chúng ta có Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Trường Tộ v.v...

Trong lịch sử Việt Nam cận đại, các sử gia đã đặc biệt quan tâm đến một con người, một nhà ái quốc, đúng hơn là một nhà cách mạng mà cụ Phan Bội Châu đã hết lời ca tụng nghĩa cử dũng lược từ quan, lúc Người mới hơn 30 tuổi đã dám thách thức quyền lực của cả nước Pháp: Đó là Chí Sĩ Ngô Đình Diệm.

Hôm nay nhân kỷ niệm 50 năm, Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thiết lập thể chế Tự Do Dân Chủ lần đầu tiên tại Việt Nam, qua biến cố lịch sử Trưng Cầu Dân Ý ngày 23 tháng 10 năm 1955, Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia tổ chức Thánh Lễ Giỗ Năm Thứ 42 cầu nguyện cho Cố Tổng Thống và các Quân Dân Cán Chính đã hy sinh vì Tổ Quốc và tất cả đồng bào đã bỏ mình trên đường đi tìm Tự Do trong hai biến cố lịch sử năm 1954 và 1975, với tư cách là một người Việt quốc gia, chúng tôi xin được trình bày vài nét về Chân Dung Cố Tổng Thống với những Bài Học Lịch Sử mà Người đã để lại cho chúng ta.

Theo thiển ý của chúng tôi, sau nửa thế kỷ Thể Chế Tự Do Dân Chủ được thiết lập trên quê hương, đàng khác chúng ta còn là những người đang chứng kiến những đổi thay khốc liệt đang nhận chìm đất nước trong đói nghèo, khổ đau, lạc hậu, nhân quyền bị chà đạp, thì đây chính là thời điểm quyết định để chúng ta đối diện với Lịch Sử Việt Nam, đối diện với vai trò đặc biệt của người Việt Hải Ngoại trong sứ mệnh định hướng dòng lịch sử đó. - Hiện nay, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, đã bị loại bỏ trên chính trường thế giới, đã đến lúc chín muồi để chúng ta thẩm định Nhân Vật Chống Cộng cương quyết này, trên bình diện đời sống cũng như bình diện tư tuởng. Điều gì chúng ta có thể học được từ cuộc sống của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, khi chúng ta nghĩ về thảm trạng đau buồn của Quê Hương và hướng nhìn về tương lai của đất nước thân yêu này.

VÀI NÉT CHÂN DUNG NGÔ TỔNG THỐNG


Theo các tài liệu lịch sử đã được công bố, Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đình công giáo danh vọng bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là cụ ông Ngô Đình Khả và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Thân, nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Trung Phần Việt Nam. Cụ Ngô Đình Khả là Thượng Thư triều đình Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.

Gia đình ông bà cụ cố Ngô Đình Khả có tất cả 9 người con: 6 người con trai và 3 người con gái. - Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đình Khôi đã bị cộng sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đình Huân; Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục; Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người con trai thứ ba; ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao, tức bà Thừa Tùng; bà Ngô Đình Thị Hiệp, tức bà Cả Ấm, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng, tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu nghị sĩ Trần Trung Dung, tiếp theo là ba người con trai: Cố vấn Ngô Đình Nhu, Cố vấn Ngô Đình Cẩn và đại sứ Ngô Đình Luyện, người con út trong gia đình.

Cụ Cố Ngô Đình Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó, tại Việt Nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và Tây như Cụ. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau đó vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang đại chủng viện Penang để học Triết học và Thần học Tây Phương bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng vì không có ơn gọi để trở thành linh mục, Cụ đã xin trở về cuộc sống thế tục. - Cụ Cố Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. - Thành tích đáng kể nhất của cụ cố Ngô Đình Khả là nỗ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính Cụ là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân Pháp phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong, sau đó Cụ đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.

Lúc thiếu thời, cậu Diệm còn đuợc theo học dưới sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và lòng yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích ngưỡng mộ nên đã có phương ngôn: "Đày vua không Khả. Đào mả không Bài". - Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, cậu Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đày lòng bác ái, vị tha và công chính.

Về giáo dục học đường, từ nhỏ cậu Diệm theo học trường Trung Học Pellerin. Năm 12 tuổi (1913), ông thi vào trường Quốc Học Huế dạy theo chương trình tổng hợp bằng Việt Ngữ và Pháp Ngữ. Đến năm 1917, lúc 16 tuổi, ông đỗ hạng nhì kỳ thi tốt nghiệp Trung Học. - Vì số tuổi qúa trẻ lại đạt thành tích xuất sắc, chính quyền thực dân Pháp đề nghị cấp học bổng sang Pháp du học nhưng ông đã từ chối. Năm 1918, lúc 17 tuổi, ông được mời làm giáo sư Trường Quốc Tử Giám, một trường dành riêng cho con cháu các quan triều đình. Đến năm 1919, lúc 18 tuổi, ông đủ tuổi để vào học trường Hậu Bổ, một trường tương tự như trường Quốc Gia Hành Chánh sau này. Suốt ba năm học, ông luôn luôn chứng tỏ là một sinh viên xuất sắc trong các ngành hành chánh, chính trị, luật pháp, do đó ông đã tốt nghiệp thủ khoa. Năm 1923, lúc 22 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tri Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên rồi Tri Phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Năm 1930, lúc 29 tuổi, với thành tích tận tụy phục vụ đồng bào, ông được đề cử làm Tuần Vũ tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết.

Năm 1932, Hoàng Tử Vĩnh Thụy sau thời gian du học tại Pháp đã trở về nước lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu Bảo Đại. Để thực hiện một cuộc cải tổ sâu rộng, nhà vua đã mời ông Ngô Đình Diệm, lúc đó mới 31 tuổi, đang làm Tuần Vũ Phan Thiết đảm nhận chức vụ Thượng Thư Bộ Lại. Với chức vụ quan trọng này, ông Diệm đề nghị thi hành các kế hoạch canh tân xứ sở, nhưng Toàn Quyền Pasquier đã bác bỏ. Vì không muốn Pháp lợi dụng danh nghiã và uy tín của mình để lừa phỉnh dân chúng, ông đã nhất quyết từ bỏ chức vụ ra đi ngày 1 tháng 9 năm 1933. Sau khi dứt khoát từ bỏ quan trường, ông Diệm lui về nhà làm dân thường và đi dạy học truờng Thiên Hựu (Providence). Việc từ quan của Chí Sĩ Ngô Đình Diệm đã làm chấn động Triều Đình Huế và Chính Phủ Pháp thời đó.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á. Đối phó với tình hình mới, nhà vua lại mời ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ Tướng nhưng vì không muốn làm vật hy sinh, ông đã từ chối và nhà vua đã mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành lập nội các. - Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến hoang mang của quần chúng, đã tổ chức cướp chính quyền trong một cuộc biểu tình ngày 18 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng tuyên bố thoái vị. Còn ông Diệm trên đường từ Sàigòn về Huế đã bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và biệt giam tại Quảng Ngãi. Để củng cố địa vị, Hồ Chí Minh đã mời ông Diệm hợp tác với chính phủ nhưng ông đã cương quyết từ chối. Khi bị giam tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội, nhưng ông đã được ông Nhu lúc đó đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội tìm cách cứu thoát. Đến năm 1948, một lần nữa ông Ngô Đình Diệm từ chối lời mời của Cựu Hoàng thành lập chính phủ trong Liên Hiệp Pháp. Từ đó ông xuất ngoại, đi vận động ngoại giao tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Pháp, Bỉ và được Đức Giáo Hoàng Piô XII tiếp kiến tại La Mã.

Vì tình hình chiến sự suy sụp mau chóng sau khi thất thủ tại Điện Biên Phủ, Chính Quyền Pháp muốn rút lui trong danh dự nên đồng ý trao trả độc lập thực sự cho Việt Nam. Trước tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị cắt làm đôi, Cựu Hoàng Bảo Đại đã kêu gọi lòng ái quốc và trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, đã yêu cầu ông Diệm nhận lãnh sứ mạng. Vì nghĩ rằng đây là cơ hội cuối cùng, ông có thể đứng ra lập chính phủ để cứu nước nên ông đã nhận lời, bất chấp sự can ngăn của các chính khách thân hữu. Sự kiện lịch sử này xảy ra ngày 19. 06. 1954, trước khi Hiệp Định Genève chia cắt hai miền Nam Bắc đất nước theo sông Bến Hải ngày 20. 07. 1954 đúng sau 31 ngày. Ngày 24 tháng 06 năm 1954 Thủ Tướng Diệm dời Ba Lê về nước thành lập chính phủ. Sau đó cuộc Trưng Cầu Dân Ý được tổ chức ngày 23 tháng 10 năm 1955 và Đệ Nhất Cộng Hoà được thiết lập ngày 26 tháng 10 năm 1955 khởi đầu cho Thể Chế Tự Do Dân Chủ đầu tiên trên quê hương Việt Nam.

NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ VỚI CHÚNG TA

Trên đây chúng tôi đã ghi lại vài nét đại cương về Chân Dung Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhiều sách báo và sử liệu cũng đã nói về cuộc đời chính trị cũng như đời sống riêng tư của ông, một lãnh tụ cương trực, khí khái và chống cộng quyết liệt. Ông cũng là một nhà lãnh đạo bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ. Tuy nhiên Tổng Thống có cái uy riêng phát xuất từ một khuôn mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Phong cách của ông khiến cho những ai có dịp tiếp xúc với ông đều phải kính nể.

Tổng Thống Diệm dáng người thấp, mái tóc đen, chân đi hai hàng nhưng mau lẹ. Ông ăn uống thanh đạm, thường dùng bữa ngay tại phòng ngủ, do ông già Ân hoặc đại úy Bằng phục dịch. Thực đơn ít khi thay đổi gồm cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Ông thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường gỗ nhỏ, một bàn tròn và ba ghế da. Tổng Thống là một người công giáo rất sùng đạo, dâng thánh lễ mỗi buổi sáng tại nhà nguyện trong dinh Độc Lập hay nguyện đường Dòng Chúa Cứu Thế. Tổng Thống sống rất nặng về Lý Tưởng. Con người Khổng Giáo nghiêm khắc và một giáo dân khổ hạnh. Ông thích cưỡi ngựa, sưu tập máy ảnh, thích chụp hình. Tiền bạc riêng thì giao trọn cho Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải, vì không có nhu cầu tiêu xài riêng. - Tổng Thống sống độc thân và theo bà Ngô Đình Thị Hiệp, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, ông đã tự nguyện khấn theo nếp sống của một tu sĩ công giáo trong thời gian lưu trú tại tu viện Maryknoll ở Lakewood, tiểu bang New Jersey. Phải chăng những đức tính trên đây của vị Tổng Thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà là một bài học lịch sử đáng cho ta suy nghĩ, ngưỡng mộ và bắt chước.

Bài học lịch sử quan trọng và thiết thân nhất mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã để lại cho chúng ta: Đó là lập trường cương quyết Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia. Tổng Thống Diệm là con người đã hy sinh cả cuộc đời để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền quốc gia. Đối với ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác với bất cứ điều gì. Với ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, thì chủ quyền quốc gia sẽ bị xâm phạm, chính nghĩa cuộc tranh đấu chống cộng cũng mất. - Trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam ngày 9 tháng 5 năm 1961, Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đã đề nghị việc gửi Quân Đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Tổng Thống Diệm đã bày tỏ quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng với việc gửi Quân Đội Mỹ đến Việt Nam ông đã cương quyết từ chối và nói: "Nếu Quý Vị mang Quân Đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân Đội Viễn Chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân Đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghiã ". Và như chúng ta đã biết thái độ cương quyết từ chối này đã là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 của một nhóm tướng lãnh phản loạn và cái chết thê thảm của chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Bài học lịch sử thật đắt giá, dã man và tàn bạo!!

Sự vĩnh viễn ra đi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gây xúc động sâu xa và niềm thương cảm lớn lao nơi các lãnh tụ Á Châu thời đó. Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã than thở: "Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp. Tôi khâm phục ông Diệm. Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất 100 năm nữa mới tìm được một nhà lãnh tụ cao qúy như vậy". - Hơn nữa, cái chết của Cố Tổng Thống Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ phải giật mình và đặt vấn đề. Chính Tổng Thống Hồi Quốc, Ayub Khan, đã nói thẳng với Tổng Thống Nixon: "Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ".

Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể đã phạm một số sai lầm khi cầm quyền. Điều này lịch sử sẽ phê phán công hay tội. Nhưng bất cứ người nào, dù là đồng minh như Hoa Kỳ hoặc đối thủ như Hồ Chí Minh, cũng phải công nhận rằng Tổng Thống Diệm là một nhà lãnh tụ nhiệt tình yêu nước, thương dân, trong sạch, khí phách và không làm cho người dân Việt phải hổ thẹn, vì ông đã cố bảo vệ đến cùng thể diện và uy quyền quốc gia. Không một gia đình Việt Nam nào đã phải hy sinh quá nặng nề như thế cho Dân Tộc, mất một lần bốn người con ưu tú: một vì tay cộng sản và ba vì tay quốc gia!! Trên 42 năm qua, hai nấm mồ khiêm tốn của Tổng Thống và ông Cố Vấn nằm quạnh hiu nơi nghĩa trang giáo xứ Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương là một bài học lịch sử qúy giá cho thân phận nước nhược tiểu đứng lên chống đế quốc. Nhưng chắc chắn mãi mãi vẫn là của lễ vô giá dâng trên bàn thờ Thiên Chúa và Tổ Quốc.

 -----
 Việtlyhuơng.net
 Xin thứ lỗi không biết tên tác giả
---
 
LONG TRỌNG TUYÊN CÁO:
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc
Từ vài ngàn năm qua, kể từ thời Hai Vua Trưng, tại mảnh đất hình chữ S Việt Nam, chưa từng có chế độ chính trị nào đem lại cho nhân dân cơm no áo ấm, Dân chủ, Tự Do, Dân quyền như 9 năm
sáng lạn (1954-1963) dưới sự lãnh đạo sáng suốt và nhân ái, thương dân như con của Tổng Thống Ngô đình Diệm, một Chí sĩ yêu nước suốt đời hi sinh cho Dân tộc.
Là một trong hơn 1 triệu người từ Bắc di cư vào Nam tránh nạn quỷ Đỏ độc tài toàn trị Cộng sản bán nước, tôi muốn nói lên Sự Thật ấy cho nhân dân trong nước cũng như Quốc tế biết.
Người Mỹ đã hoàn toàn sai lầm và vì một chút lợi nhỏ, muốn có tay sai dễ bảo hơn là có Đồng Minh kiên cường, đã bật đèn xanh, cho tiền, hứa hẹn chức tước, để một đám tướng tá nguyên là khố xanh khố đỏ, trong tay nắm Quân đội, dù anh em cụ TT Ngô đình Diệm đã sẵn sàng trao quyền cho họ, thảm sát cụ trên đường cụ từ Chợ lớn về Bộ Tổng Tham Mưu để nhượng quyền, tránh xương máu nhân dân đổ ra vô ích.
Người Mỹ ngu dốt và lũ tướng tá chó đẻ này, đứng đầu là tên mặt thịt ngu đần Dương văn Minh, hỗ trợ có Trần văn Đôn, Trần thiện Khiêm, Tôn thất Đính, Lê văn Kim, Nguyễn Khánh, cả Nguyễn văn Thiệu, sẽ bị búa rìu dư luận và là bọn tồi tệ ngu dốt, dã man nhất trong Lịch sử Dân tộc sau này. Âm mưu chính trị bỉ ổi phải kể tên VGCS nằm vùng đội lốt sư Thích Trí Quang đầu sỏ, một đám sư ni Ấn quang và bọn SV, GS, trí thức miền Nam tay sai VGCS xúi giục biểu tình và mang bàn thờ Phật bày ra đường cản trở lưu thông của dân chúng cũng như xe của Quân đội đi dẹp bọn phản loạn, vỗ an bá tánh.
Biến cố 2-11-1963 đưa dân tộc VN vào cửa tử vì từ đó phát sinh ra ngày 30-4-1975, ngày toàn nước VN bị VGCS khoác cái tròng nô lệ vào cổ, 10 triệu người đã chết, cả triệu bị tù đày và đất nước phá sản xuống tới đáy sình như ngày nay. Chệt Tàu ở khắp nơi, coi nước VN là của chúng. Cái họa nô vong 1000 năm nô lệ giặc Tàu hầu như khó tránh bởi kẻ cầm quyền đồng thời là kẻ nhẫn tâm bán nước, dâng nước, dâng biển đảo, tay sai cho giặc.
Xin các đấng Anh hùng, Liệt nữ VN cùng Hồn thiêng sông núi chứng giám cho tiếng kêu cứu của Nhân dân mà tôi là kẻ thay mặt, phát biểu như trên. Và cũng xin chỉ bảo cách nào để chúng tôi muôn người như một đồng lòng vùng dậy đuổi giặc, lấy lại quyền Dân để xây dựng một nước VN không CS, mưu cầu cơm no áo ấm, Dân chủ, tự do, hạnh phúc cho toàn dân, sống xứng đáng với Nhân phẩm con người và cũng xứng đáng với lòng mong mỏi của Tiền nhân đã dựng Nước và giữ Nước hơn 4000 năm.
Ngày 26-10-2012
Để kỷ niệm ngày 26-10-1956, ngày ban hành Hiến Pháp VNCH
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc
Cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH 1971-1975
Cựu Sĩ quan QLVNCH

Cộng Đồng Úc Châu:VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP NGHĨA TRANG QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP NGHĨA TRANG

QUÂN CÁN CHÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA – ÚC CHÂU


Ngày xưa, trong thời chiến tranh, tất cả các tử sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được chôn cất trong hơn 50 nghĩa trang trải dài trên khắp bốn vùng chiến thuật, các tỉểu khu . . . Thời gian từ 1956 cho tới 1963, chiến tranh chưa lan rộng, số tử sĩ không nhiều, nên các nghĩa trang có đủ năng lực cung cấp nơi yên nghỉ cuối cùng cho các tử sĩ. Tại Quân khu III chiến thuật, đa số các tử sĩ đều được đưa về an nghỉ tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi và Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây Gò Vấp.

Kể từ năm 1965, cuộc chiến Quốc – Cộng đã trở nên sôi động hơn, nhu cầu mở thêm nghĩa trang trở nên cấp bách, đồng thời đơn vị Chung Sự, chuyên lo hậu sự của những chiến sĩ đã nằm xuống, cũng có nhu cầu về cơ sở để hoạt động. Bộ Tổng tham mưu QLVNCH quyết định xây cất thêm nhiều nghĩa trang nữa.Kiến nghị được trình lên cấp trên, thông qua hệ thống Cục Quân Nhu, Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận . . . rồi lên tới Phủ Tổng Thống. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khi duyệt xét bản đề nghị này, đã có sáng kiến xây dựng một nghĩa trang cho tất cả các quân nhân, từ Tướng Lãnh cho tới các cấp Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ. Các sĩ quan Quân Nhu, Công Binh, Ðịa Ốc Tổng Tham Mưu bay trực thăng trên không phận Thủ Ðức, Bình Dương, Biên Hòa, tay cầm bản đồ nghiên cứu địa thế thật đẹp dành làm nơi an nghỉ nhìn thu cho chiến hữu. Cuối cùng, khu đất rộng 125 mẫu, bên tay trái Xa Lộ Biên Hòa, đã được lựa chọn để xây dự án “Nghĩa Trang Quân Đội”.
(Ghi chú: Tên gọi đầu tiên của nghĩa trang là: Nghĩa Trang Quân Ðội; về sau được đổi lại là “Nghĩa trang Quốc Gia”. Nơi đây chôn cất không riêng tướng lãnh, sĩ quan và chiến binh mà dành làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ hành pháp, lập pháp và tư pháp . . .)

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ.
Từ chân Nghĩa Dũng Ðài, lưng ong chia làm hình nan quạt hướng ra 4 phía và làm thành lưới nhện. Phần đuôi ong hẹp, phần dưới dài ra như quả trứng.Các ngôi mộ giống nhau chia thành từng khu.Khu quốc gia dành cho các vị lãnh đạo, khu tướng lãnh, khu cấp tá, cấp úy và binh sĩ.Nghĩa trang được khởi công vào đầu năm 1965, trong tình trạng chiến tranh của đất nước, với sự phối hợp giữa Quân Nhu và Công Binh. Công Binh tiếp tục làm đường, phân lô, xây Cổng Tam Quan, xây Ðền Liệt Sĩ, đúc các tấm ciment và làm mộ bia.
Liên Ðoàn 30 Công Binh Kiến Tạo được giao nhiệm vụ xây cất nghĩa trang. Chiếc xe ủi đất đầu tiên của Tiểu Ðoàn 54 Công Binh bắt đầu công tác dọn sạch khu vực để xây Nghĩa Dũng Đài.Trên nền đất phẳng, Công Binh cho đổ 10,000 thước khối đất làm thành một ngọn đồi nhân tạo.
Trên ngọn đồi nhỏ này, Công Binh xây bệ tròn, chính giữa là ngọn kiếm hướng mũi lên trời.Cây kiếm có thân bốn cánh hình chữ thập cao 43 thước. Chân của chữ thập đường kính 6 thước rưỡi và trên mũi nhọn là ba thước rưỡi, có bậc thang để leo lên đỉnh và đứng trên này sẽ nhìn thấy thành phố Sài Gòn.
Rồi doanh trại của Liên Ðội Chung Sự và khu nhà xác được thiết dựng năm 1966 để nhận những di hài tử sĩ đầu tiên.

Để tượng trưng cho nơi phần mộ trang nghiêm này, Tổng thống Thiệu đã có ý định là đặt tượng của một người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà ở ngay cổng vào.Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu (Thiếu Tá Công Binh) đã được mời tạo dựng bức tượng này.
Khi đuợc phỏng vấn, Thiếu tá Thu đã nhắc lại lời nói của Tổng thống Thiệu nói với ông khi gặp mặt:
“Những người Chiến Sĩ Việt Nam Công Hòa đã vì Lý Tưởng Tự Do mà hy sinh đời mình, thì những người ở hậu phương như chúng ta phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”.
Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT.Thiệu thì hết sáu ngày, ĐKG.Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phát họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghĩ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.
Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, Điêu khắc gia Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia.
Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân quắc mắt tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết.Thái độ này làm ông lúng túng.
Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi.Vì tò mò, ông mở bóp ra coi.Trong bóp, ông thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp Tổng thống Thiệu.
Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.
Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp Tổng thống Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, Đại tá Võ văn Cầm, Chánh Văn Phòng, cho biết, Tổng thống Thiệu đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phác họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không, ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài, dùng mặt trong của bao thuốc lá phác họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.
Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp Tổng thống Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước và giới thiệu bản vẽ mà ông vừa mới hoàn thành. Ông Thu đã giải thích cho Tổng thống nghe về trường hợp củaVõ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Tổng thống Thiệu đã chọn tấm hình này, và hỏi ông đã đặt tên cho bức hình này chưa?Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khoát, dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như:
Tình đồng đội – Khóc bạn – Nhớ nhung – Thương tiếc – Tiếc thương.
Cuối cùng Điêu khắc gia Nguyễn thanh Thu và Tổng thống Thiệu đồng ý chọn tên “Thương Tiếc” cho bức tượng. Được sự đồng ý rồi, ông vội vàng ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá.Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen.ÔngThu đã xin Tổng thống Thiệu ký tên vào bức họa đó. Tổng thống Thiệu đồng ý và đã viết thêm dòng chữ:
“Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, ngày 14 /8/1966 ”.
Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thuđãbắt tay ngay vào công việc để kịp cho ngày khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, đúng vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 như đã dự định trước đây.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.

MỘ PHẦN TỬ SĨ.
Cho đến tháng 4 năm 1975, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ. Ða số là các chiến sĩ hy sinh thuộc các đơn vị Tổng trừ bị, Không quân, Hải quân, Quân đoàn III, Biệt khu thủ đô, Tiểu khu Gia Ðịnh. Phần lớn tổn thất nhiều trong các chiến dịch Mậu thân 68, Mùa hè 72, Hành quân vượt biên Cam bốt và Lào.
Nếu không có ngày đau thương 30 tháng 4 năm 1975, thì Bộ Tổng tham mưu dự trù sẽ hoàn tất toàn bộ nghĩa trang và khánh thành vào ngày 19 tháng 6 năm 1975, cũng là “Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”.
Nhưng, tiếc thay, việc này đã không thực hiện được.
NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ SAU 30 04 1975.
Ðã có trên 10 tướng lãnh nằm tại nghĩa trang Biên Hòa kể cả các vị đại tá vinh thăng sau khi tử trận.Người có cấp bậc cao cấp nhất là cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí.Hiện nay ngôi mộ này đã được gia đình cải táng nhưng vị trí cũ vẫn còn di tích.
Chiến hữu Lương An Cảnh, trong bài viết

“Thăm Lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”, đã mô tả lại như sau:
“Tại Nghĩa Trang Quân đội, giờ đây chỉ còn lại hai ngôi mộ của Tướng Nguyễn Văn Phước và Nguyễn Huy Ánh.Những ngôi mộ cấp Tướng khác chỉ còn lại nền và cột xi măng. Tôi hỏi khu cấp Tướng trước kia có bao nhiêu ngôi mộ, anh cho biết có sáu. Nhìn bia mộ của hai vị Tướng Phước và Tướng Ánh chỉ ghi ngày sinh và ngày chết, không còn ghi cấp bậc, dấu xi măng chung quanh tấm bia trám lại rất thô sơ. Có thể bia đã bị đập phá, hay việt cộng ra lệnh cho thân nhân làm lại như hiện nay.
Tại nơi này, trước kia Ban Quân Nhạc chúng tôi cùng toán chào kính của Tiểu
Đoàn Danh Dự Liên Quân đã đưa tiễn người đầu tiên là Tướng Đỗ Cao Trí và người
cuối cùng là Tướng Nguyễn Văn Hiếu. Riêng Tướng Hiếu bị chết một cách mờ ám
không bao lâu trước ngày miền Nam bị cưỡng chiếm.
Theo lời người trong gia đình cho biết, khi còn sống Tướng Trí thường nói:
‘’Lúc sống, ông cùng anh em binh sĩ luôn luôn sát cánh, sống chết có nhau nơi chiến
trường, vì thế khi chết ông muốn cùng nằm bên cạnh anh em binh sĩ’’.
PHÁ HOẠI NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ.
Ngay sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, bọn Việt cộng đã phá xập bức tượng “Thương Tiếc”, đem lính của chúng vào chiếm nghĩa trang, biến nơi này thành khu vực cấm ra vào. Sauk hi bọn bộ đội rút đi, chúng đã cho xây lên những hãng, xưởng, nhà máy để xoá bỏ toàn thể nghĩa trang này. Để cô lập nghĩa trang, Cộng sản đã cho xây hai bức tường lớn, một tại phía Nam nghĩa trang, vào năm 1990, và mới xây ở phía Bắc, vào năm 2007. Nghĩa trang trước đây có 125 mẫu, nay thu hẹp trong phạm vi có mộ phần chỉ còn 52 mẫu.
Tại Nghĩa Dũng Đài: Vào năm 2004, bọn bộ đội Cộng sản đã phá hủy 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng Ðài, hạ thấp xuống để làm một trạm gác. Khi bộ đội rút đi, thì trạm gác này không còn nữa.
Tại Ðền tử sĩ: Trước đây có lính Cộng sản tạm trú, nay bỏ trống được dọn sạch nhưng rất xác xơ.Ở giữa có kê một bàn thờ để khách thăm viếng thắp hương cúng bái. Nhiều du khách về thăm quê hương đã ghé thăm chụp hình.
XÂY DỰNG NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA TẠI HẢI NGOẠI.
Sau ngày 30 04 1975, vì không thể chịu đựng chính sách trả thù, khủng bố, giết chóc của bọn Việt cộng, người dân Miền Nam Việt Nam đã phải bỏ nước ra đi tìm tự do ở những quốc gia khác. Vì nhu cầu mưu sinh, và cũng vì tuổi đời lúc đó còn đang xuân, Người Việt Tỵ Nạn chỉ lo đi làm kiếm tiền nuôi gia đình, chưa ai có ý định tạo dựng lại Nghĩa Trang Quân Đội ngày xưa cả.
Khi cuộc sống của người Việt Tỵ Nạn đã ổn định, cũng là lúc mà chúng ta nghĩ đến tuổi già, nghĩ đến hậu sự. Một số các chiến hữu của chúng ta đã ra đi, được gia đình và các bạn đồng ngũ lo chon cất, mai táng ở những nghĩa trang tư nhân, tôn giáo . . . Cũng có một số anh em có nguyện vọng hoả thiêu thân xác để đem tro tàn về rải tại những nơi mà anh em đã chiến đấu cho một Nước Việt Nam Cộng Hoà cho đến giờ phút cuối cùng.
Chợt nhớ lại ngày xưa, khi còn chiến đấu, lúc nào cũng ở bên nhau, mà nay khi nằm xuống, tại sao lại không được ở cạnh bên nhau? Một số anh em quân nhân mới tụ họp lại với nhau để tìm ra một nơi có thể tái lập lại một Nghĩa Trang Quân Đội để cho lần cuối cùng trong cuộc đời lính chiến, anh em có dịp nằm xuống yên nghĩ vĩnh viễn bên nhau. Vào năm 2007, Y Sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến Huỳnh Văn Chỉnh (Ca sĩ Trung Chỉnh) đã cùng với một số chiến hữu và đồng hương lập nên một “Ban Vận Động Thành Lập Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại”để xây lên một nghĩa trang cho tất cả các Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà ở Hải Ngoại (Hoa Kỳ).
Trong một bức tâm thư gởi cho đồng huong, Bác sĩ Chỉnh đã viết như sau:
“Hẵn quí vị đã biết được qua báo chí và truyền thông, Nghĩa trang Quân Đội tại Biên Hòa đã bị bỏ quên, trở nên hoang tàn đổ nát trong khi đó nghĩa trang bộ đội Cộng Sản thì đẹp đẽ bề thế. Chính quyền cộng sản VN cố tình xoá bỏ những vết tích của những người chiến sĩ hào hùng của Miền Nam Tự Do, để không còn ai nhắc nhở đến một quân đội trong một thời ngang dọc khắp bốn vùng chiến thuật.
Chúng tôi, một nhóm các anh em Cựu Chiến Sĩ thiện chí của Quận Lực VNCH, mang một TÂM NGUYỆN thực hiện một NGHĨA TRANG QUÂN CÁN CHÍNH tại CALIFORNIA. Đây là một dự án “Đội Đá Vá Trời” vì rất nhiều khó khăn từ tài chánh cho đến việc tìm kiếm một địa điểm thích hợp. Tuy nhiên chúng tôi tin tưởng rằng nếu chúng ta có quyết tâm, được toàn thể đồng hương ủng hộ và được trợ giúp của chính quyền, chúng ta sẽ có một nghĩa trang miễn phí cho tất cả Cựu Quân Cán Chính VNCH và gia đình của họ. Chúng tôi chân thành xin quý vị ủng hộ dự án này. Chúng tôi cũng xin quý vị đại diện dân cử giúp đề đạt nguyện vọng này đến chính quyền California để cộng đồng người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản có riêng một nghĩa trang của mình để các Cựu Chiến Hữu đã một thời sát cánh bên nhau, rồi đây sẽ được nằm cạnh bên nhau và sẽ nở một nụ cười mãn nguyện ở bên kia thế giới chí tình HUYNH ĐỆ CHI BINH . . . “
Nói được là làm được, Ủy Ban Vận Động Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính đã từng bước từng bước thầm, với sự hợp tác của một số ca sĩ, nhạc sĩ và những mạnh thường quân, đã tổ chức gây quỹ nhiều lần và để dành được một số tiền đáng kể là $70,000 để vào lúc 3 giờ 30 chiếu Thứ Sáu ngày 12 tháng 10 năm 2012 vừa qua, tại hội trường Hội Đền Hùng, Ủy Ban Vận Động Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa chính thức ký giấy tờ mua đất giữa chủ đất là Ông Bà Ming&Ying Hsieh, Ông Kevin Bùi Hà Escrow office và Bác Sĩ Huỳnh Văn Chỉnh Chủ Tịch Ủy Ban cùng các thành viên trong Ủy Ban gồm Ông Nguyễn Ngọc Chiểu, Phạm Văn Hiền.. . và qúy vị cố vấn có Cựu Dân Biểu VNCH Bùi Văn Nhân, Ông Phan Kỳ Nhơn…
Bác Sĩ Chỉnh cho biết khu đất rộng 55 mẩu với giá tiền là $ 250,000.00. Ủy ban đã trả trước là $70,000.00, số tiền còn lại sẽ trả trong vòng 4 năm, cứ mỗi 6 tháng trả một lần, số tiền lời là 3%. Khu đất tọa lạc tại Thành Phố Adelanto cách Thiền Viện Chân Nguyên khoảng 18 mile. Sau khi ký giấy tờ xong 2 bên chủ đất và Ủy Ban Xây Dựng Nghĩa Trang cùng các thành viên tham dự chụp hình lưu niệm.
Ký hợp đồng mua đất xây Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà.Trong hình hàng ngồi từ trái sang người thứ 2 & 3 ông bà Ming&Ying Hsieh, Kevin Bùi Hà, Bác Sĩ Huỳnh Văn Chỉnh, Ông Nguyễn Ngọc Chiểu, Phạm Văn Hiền.
Ban vận động xây Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà đã thành công trong giai đoạn đầu là mua đất, giai đoạn kế tiếp của họ là tiếp tục gây quỹ để trả hết nợ và bắt đầu công việc xây dựng nghĩa trang. Sơ đồ của nghĩa trang được mô phỏng theo thiết kế của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà ngày xưa:
Mô hình Nghĩa Trang Quân Cán Chính VNCH.
Chúc mừng cho Ban Vận Động đã làm một công việc cần phải làm.Chúc mừng cho đại gia đình Quân Dân Cán Chính của Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Kỳ.
Còn ở Úc chúng ta, chúng ta có nhu cầu xây dựng một Nghĩa Trang Quân Dân Cán Chính cho Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn của chúng ta hay không?
Chắc chắn là có.
Không những là chỉ tạo nên một nghĩa trang cho Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà mà thôi, chúng ta còn có nguyện vọng tạo một nghĩa trang cho cả các chiến sĩ ÚC đồng minh, đã cùng với chúng ta “Side By Side” chiến đấu chống lại quân xâm lược Cộng sản.
Câu trả lời là như vậy, nhưng liệu chúng ta có làm nổi hay không?
Có người sẽ cho rằng, bên Hoa kỳ họ làm được, là vì dân Việt Nam ở bên đó đông hơn ở bên Úc chúng ta,rồi ông Trung Chỉnh, vừa là bác sĩ, lại vừa là ca sĩ nữa, nên ông ta vận động được các ca sĩ khác giúp đỡ, nên mới có khả năng gây quỹ.
Không phải như vậy, bên đó họ làm được là tại vì họ có tấm lòng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta sẽ làm được, và còn có thể làm hay hơn nữa, vì chúng ta đã có người đi trước dẫn đường chi lối rồi.
Hiện tại, ở bên Úc đã có rất nhiều Hội Tương Tế mà mục đích chính là để giúp các chiến hữu và gia đình của họ có phương tiện làm đám tang cho thân nhân khi họ qua đời (ở Victoria, chúng ta đã có Hội Tương Tế Cựu Quân Nhân và Bằng Hữu). Những hội đoàn này đều đã có để dành được một số vốn nào đó.Nếu các hội tương tế này kết hợp lại với nhau để mua đất cho hội viên, chắc chắn là sẽ mua được và làm được.
Dân số người Úc gốc Việt của chúng ta là khoảng 300 ngàn người, đủ để chúng ta xây một nghĩa trang cho Người Việt Tỵ Nạn.
Người Việt chúng ta coi trọng gia đình và có truyền thống sống chung với nhau.Khi còn nhỏ, chúng ta lo nuôi dậy con cái, đến khi về già, con cái lại quay lại săn sóc cho cha mẹ. Do đó, vấn đề tang gia của các bậc cha mẹ đều được con cái chu toàn. Người Úc da trắng thì lại có lối sống khác với chúng ta, con cái khi lớn lên là ra ở riêng, có khi không có thời gian về thăm cha mẹ. Cha mẹ đến tuổi già cứ sống cô đơn một mình. Đã có những trường hợp cha mẹ chết không ai hay, hàng xóm cũng không biết, cho đến vài tháng, vài năm sau mới tìm ra người chết. Và cũng đã có trường hợp một cựu quân nhân Úc đã từng tham chiến ở Việt Nam, khi về già, sống một mình, ông chết không ai chôn cất, khi được các đồng đội làm lễ hoả táng, cũng chẳng biết gởi tro tàn của ông ở đâu. Nếu chúng ta lập được một Nghĩa Trang, chắc chắn chúng ta sẽ giúp những người lính đồng minh này được mồ yên mả đẹp.
Úc là một quốc gia đất rộng người thưa, nếu chúng ta có ý định tạo dựng một Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được một miếng đất thích hợp.
Nên lắm thay.
Xin qúy độc giả, quý chiến hữu, quý đồng hương đóng góp ý kiến.
NGUYỄN KHẮP NƠI

Hiến Pháp 26.10.1956 và Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam



Trước đây, hơn 50 năm, vào đầu năm 1954, Việt Nam đã thực sự đứng trên bờ vực thẳm của một sự phá sản toàn diện. Thật vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không những gây nên một không khí bi quan tột cùng tại Việt Nam, mà còn kéo theo một cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị trường Ba Lê, khiến chính phủ Laniel bị sụp đổ. Mandes France được quốc hội tín nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn sẽ giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương trong vòng 30 ngày, nghĩa là phải chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. Còn Hoa Kỳ, dù trước đó, được Pháp khẩn khoản yêu cầu can thiệp, Tổng Thống Eisenhower do dự, không dám quyết định, sợ mất uy tín vì viễn tượng vô cùng mờ mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt Nam.
Trước tình thế hầu như tuyệt vọng đó, Ông Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không một quan sát viên quốc tế nào vào thời đó, dù lạc quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ Diệm có thể tồn tại hơn 6 tháng. Nhưng như một phép mầu, Ông Diệm đã vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã, cùng những âm mưu thâm độc đang vây hãm, muốn nhận chìm chính phủ của Ông từ trong trứng nước.
Thật vậy, nhờ một ý chí quật cường, một năng lực vô song, tài lãnh đạo sáng suốt, cùng một cuộc sống đạo đức cá nhân trong sáng, thánh thiện và một thành tích chống Pháp và chống Cộng không tì vết … đã giúp Ông Diệm thống hợp được ý chí dũng mãnh phi thường của toàn dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước dành độc lập và tự do cho tổ quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện được nhưng thành tưu đáng kể như sau:
Biến một quân đội lệ thuộc ngoại bang và tình trạng nhiều quận đội trong một quân đội, thành một quân đội quốc gia độc lập và thống nhất, có tổ chức qui củ, có kỷ luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Biến tình trạng nhiều quốc gia trong một quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi nhóm một phương thành một quốc gia thống nhất, với một cơ chế chính quyền trung ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động mọi tiềm năng quốc gia vào công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xã hội và kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ trong ổn định và thanh bình.
Thay đổi một cơ chế chính trị mơ hồ bằng một định chế chính trị dân chủ tiến bộ, với một bản hiến pháp, phù hợp với trào lưu chính trị thế giới, vừa đảm bảo được những quyền tự do cơ bản của mọi công dân, nhưng cũng vừa đủ mạnh để duy trì uy quyền quốc gia, nhằm đối phó với cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng. Đồng thời, tạo cơ hội để huy động mọi năng lực để tái thiết đất nước và xây dựng kinh tế thoát khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu của một quốc gia bị đô hộ mới thu hồi độc lập.
Nhưng trong tất cả thành quả kể trên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã coi trọng và rất tự hào về việc ban hành Hiến Pháp 26.10.1956, vì theo Tổng Thống, các quốc gia láng giềng Á Châu, đã mất ít nhất một vài ba năm mới có thể kiện toàn cơ chế căn bản của nền dân chủ của họ, còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần một năm đã ban hành được một bản Hiến Pháp dân chủ và tiến bộ, đồng thời đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đất nước về mọi phương diện.
Hình Thành Hiến Pháp 26.10.1956.
Nếu cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 23.10.1955 là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do Ủy Ban Cách Mạng Quốc Gai gồm 18 chính đảng và đoàn thể cùng 29 nhân sĩ có uy tin của miền Nam lúc đó thực hiện (xem Nhị Lang, trang 287-297) thì việc hình thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế Cộng Hòa Việt Nam lại là thành quả một cuộc tranh đấu lâu dài của chính vị nguyên thủ quốc gia thời đó. Điều nầy được chính Ông Diệm xác nhận:
“Cách đây 22 năm, khi tôi có trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, tôi đã đòi hỏi thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng người và hoàn cảnh hồi đó chống lại ý muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền. Ấy vậy, khai nguyên một chế độ dân chủ, chẳng phải vì tình thế, mà cũng là việc tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956, tr17)
Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã quan tâm rất nhiều đến tie^'n trình dự thảo Hiến Pháp 26.10.1956. Trong thực tế, bản văn pha'p lý căn bản nầy không chỉ là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập Hiến thời đó, mà còn có sự tham gia chỉ đạo rất tích cực của Tổng Thống Diệm nữa. Điều nầy đã thể hiện trong thông điệp của Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến trong ngày khai mạc 17.4.1956:
Việt Nam là một nước Cộng Hòa độc lập, thống nhất và bất khả phân.
Mỗi người công dân được sinh ra, đều được tự do và bình đẳng trước pháp luật. quốc gia phải bảo đảm cho họ những điều kiện đồng đều để họ hành xử quyền lợi của mình và hoàn thành các nhiệm vụ đã được giao phó. Chính phủ có bổn phận giúp đở và bảo vệ gia đình họ, để họ có thể phát phát triển một cuộc sống gia đình thuận hòa. Tất cả các công dân đều có quyền được hưởng một cuộc sống an bình, với mục tiêu duy nhứt là được làm việc với đồng lương xứng đáng để có thể tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống đầy nhân phẩm và tự do, bảo đảm cho mình những quyền tự do dân chủ, và tạo cho mình cơ hội được phát triển đầy đủ bản chất riêng mình. Vì phúc lợi chung và vì ne^`n Cộng Hòa, chống lại những kẻ phá hoại nền tảng của cuộc sống cộng đồng và của Hiến Pháp.
Chủ quyền quốc gia thuộc vê Quốc Dân.
Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ lập pháp.
Tổng Thống của nên Cộng Hòa được bầu ra bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín, sẽ được ủy thác trách nhiệm hành pháp.
Tòa án phải được hoàn toàn ddộc lập để có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ được chế độ cộng hòa, trật tự, tự do và nền dân chủ.
Một Viện Bảo Hiến cũng phải được thành lập để có thể giải quyết những tranh chấp có lien quan đến các luật lệ hiến định.
Các lựu lượng kinh tế phải lien kết với nhau để hành xử quyền hành của họ bằng cách thiết lập nên một Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia (Ibid)
Thực tại chính trị Việt Nam.
Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó chỉ là một văn kiện pháp lý, không thể mang lại tự do dân chủ cho người dân, nếu chính quyền không thực tâm thi hành những điều khoản đã được long trọng công bố trong đó. Điều nầy thể hiện rõ nét trong thực tại chính trị tại các quốc gia cộng sản. Thực vậy, các quốc gia cộng sản cũng có những bản hiến pháp rất tiến bộ, qui định rất rõ rệt những quyền tự do căn bản của mọi công dân. Nhưng trong thực tế, đó là những chế độ độc tài toàn trị, chính quyền đã thâu tóm mọi quyền hành và những điều khoản căn bản mà Hiến Pháp đã dành cho người dân đều bị chính quyền chà đạp một cách thô bạo.
Từ ý nghĩ đó, người viết muốn tìm hiểu một cách khách quan vô tư về thực tại chính trị Việt Nam trong việc thực thi văn kiện văn kiện pháp lý căn bản của chế độ. Đồng thời, cũng xin minh xác ở đây, trong bài nầy sẽ không đề cập đến nội dung của Hiến Pháp 26.10.1956, vì luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc Hội Lập Hiến và cũng là thành viên trong Ủy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đã trình bày khá đầy đủ trong quyển Kỷ Yếu Ghi Ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xuất bản tại California, 2005, dưới nhan đề Quốc Hội Lập Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa, tr 31-44.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm độc tài?
Phần lớn những chính trị gia đối lập với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, mà người viết được tiếp xúc, đều cho là Tổng Thống Ngộ Đình Diệm là một người độc tài, không chấp nhận đối lập, không biết liên kết với đảng phái quốc gia để tạo thành những liên minh chính trị có qui mộ lớn để động viên sự ủng hộ của toàn dân, nhằm chống cộng sản hữu hiệu, như Bs Nguyễn tôn Hoan, một lãnh tụ Đảng Đại Việt, hệ phái Miến nam đã phê bình Ông Diệm:
Ông Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng thật sự và đạo đức, tôi đã cộng tác với Ông trong những thời gian đầu của thập nên 1950. Nhưng đến khi Ông Diệm về nước cầm quyền 1954, Ông càng ngày càng tỏ ra độc tài không còn muốn nghe lời ai nữa, Ông không muốn chia xẽ quyền hành với các đảng phái quốc gia khác. Tôi không đồng ý với quan niệm đó và đã rời Việt Nam để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn Hoàn trả lời phỏng vấn của tác giả, tại San Jose, tháng 7,1986)
Trước đó nhiều năm, khi còn giảng sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại Viện Đại Học Đalat, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với ông Võ Văn Hải, bí thư của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và từ năm 1967-1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục nầy. Khi tôi hỏi về thái độ của Tổng Thống Ngộ đình Diệm đối với các chính khách đối lập, ông Hải tiết lộ:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho rằng phần lớn các chính khách Việt Nam không có một kiến thức chính trị thực tiển và không hiểu thực tại chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia chậm tiến mới thu hồi độc lập như Việt Nam, Việt Nam lúc ấy phải đối đầu với hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong đó mọi hạ tầng cơ sở bị tiêu hủy hoàn toàn, cầu cống, đường sá, hệ thống viễn thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ thống ngân hàng sụp đỗ toàn diện vì không ai tin tưởng nữa. Từ đó kinh tế quốc gia đi vào ngỏ cụt đầy tăm tối … Chính trị thì vô cùng hỗn loạn, các giáo phái hùng cứ mỗi người một phương. Ngay tại đô thành Sàigon, lực lượng công an cảnh sát do Bình Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ chính của họ không phải bảo vệ an ninh trậ tự cho dân chúng, mà để duy trì và củng cố mức thu nhập tài chánh cho các sòng bạc (Casino), các ổ điếm và các trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn. Quân đội do các sĩ quan Pháp nắm giữ, lúc nào cũng sẳn sàng thách thức quyền lực chính phủ, để bảo vệ quyền lợi của thực dân và tài phiệt Pháp. Thêm vào đó, đất nước bị chia đôi, chính quyền phải định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào Nam. Mặc dù, theo hiệp định Genève, cuộc chiến đã kết thúc và cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế họ đã gài người ở lại để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo mới. Thực dân Pháp, dù tuyên bố trao trả chủ quyền cho Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn còn có nhiều ý đồ đen tối để duy trì đặc quyền, đặc lợi của giới tài phiệt Pháp tại đây … đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân chúng còn bỡ ngỡ trước quan niệm tự do dân chủ, dân chúng còn ngheo đói, không đủ ăn đủ mặc. Nếu đem áp dụng những quan niệm dân chủ lý tưởng của Tây Phương chắc chắn sẽ đưa đến hỗn loạn.
Trong hoàn cảnh đó, mà Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Ks Phan Khắc Sữu.. đòi phải áp dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng Hòa Pháp Quốc, để đem hứng khởi lại cho người dân và cổ vũ cho mọi chính đảng tham gia vào mặt trận chính trị quốc gia nhằm đối đầu với cộng sản và thực dân …
Theo Ông Diệm, các cụ không theo dõi những biến chuyển chính trị trên thế giới, đặc biệt các quốc gia Á Phi, sau khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một chính quyền mạnh để có thể thực hiện các cuộc canh tân khẩn cấp về chính trị và kinh tế, để có thể bắt kịp đà tiến hóa của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm trong sự chậm tiến dưới chế độ thực dân đô hộ. Và ngay quan niệm Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng hòa Pháp Quốc, đã lỗi thời ngay cả ở nước Pháp, một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất thế giới nầy, vì nó gây nên quá nhiều bất ổn chính trị, có khi trong một tháng mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có khi chính phủ tồn tại có 3 ngày là sụp đỗ … thử hỏi, một người có chút công tâm, một chút nhận thức về thực tế chính trị đất nước và chiều hướng phát triển kinh tế chính trị tại các quốc gia Á Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp nhận quan điểm dân chủ của cụ Hoàn, cụ Sữu … không?
Ông Diệm khẳng định, vì quyền lợi tối thượng của quốc dân và tổ quốc, Ông không thể chấp nhận quan điểm nầy.
Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng Thống Ngô Đình Diệm và có thể cho toàn thể miền Nam không ngừng ở đó. Ngày 27.1.1960, Cộng sản lợi dụng dịp Tết Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào Trãng Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Miên, với quân số cấp trung đoàn. Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập, phá hoại và khuynh đảo của cộng sản Bắc Việt đã đến độ nguy hiểm cho sự tồn vong của Việt Nam Cộng Hòa.
Trong chính tình hình đó, thật là khó hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm 1960, 18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn Caravelle, đưa ra một kiến nghị đòi Tổng Thống Diệm mở rộng chính phủ, thực thi những quyền tự do căn bản trong Hiến Pháp như quyền tự do báo chí, tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi đát nước đang ở trong tình trạng khẩn trương của chiến tranh, các cụ lại đi đòi hỏi thực thi những điều tự do quá lý tưởng và không thực tế nầy. Đến nỗi, một nhà bình luận người Anh có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam, Ducanson đã nhận xét mà người viết có thể tóm lược như sau:
"Nếu bản kiến nghị nầy được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một miền Nam không bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu diệt, thì đó là yêu sách đáng được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất, là khi cộng quân đã tấn công cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày, thì đó là những yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẫn, thì ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan." (Ducanson, Denis J. Government and Revolution in Vietnam, 1968)
Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi được nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết những bài tường thuật trên báo Le Monde tại Paris đã kết án chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là độc tài, không thực thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không được sự ủng hộ của đa số chính khách đối lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ đạo cuộc chiến tranh chống Cọng tại Việt Nam. Điều nầy đã làm xấu đi hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại chính trường Hoa Thịnh Đốn.
Tiếp đến, một biến cố quân sự khác, đó là cuộc đảo chánh 11-11-1960 do Trung Tá Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là một sĩ quan thân Pháp, bất mãn với chính quyền Ông Diệm, kết hợp với một số sĩ quan gốc Bắc cũng bất mãn như ông, vì cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị địa phương, chỉ thích sử dụng người miền Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm luận với tác giả tại California, 7-1986). Do đó, các sĩ quan nầy chủ động một cuộc đảo chánh quân sự một cách vội vã và thiếu tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn chính trị nào đáng kể. Về phương diện chính trị, ông Đông có liên lạc với luật sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng với ông, như là người phụ trách bộ phận chính trị của cuộc đảo chánh, nhưng ông Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc được sự ủng hộ của một chính đảng nào. (xem Vương Văn Đông, Binh Biến 11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia, số 106 tháng 11/1992, tr 41-42). Chỉ khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn Nguyễn Tường Tam, kỷ sư Phan Khắc Sữu, vì không nắm vững tình thế lúc đó, nên các cụ ủng hộ cuộc đảo chánh vào giờ chót, và sau này, các cụ đã gặp khá nhiều hệ lụy phiền phức với chính quyền. Trong khi luật sư Thụy, vì được CIA móc nối và khuyến khích thực hiện cuộc binh biến nầy từ trước, nên sau khi sự việc bất thành, CIA đã đưa vị luật sư nầy rời khỏi Việt Nam một cách an toàn.
Rồi ngày 20.12.1960, Cộng sản Bắc Việt chính thức khai sinh Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam để phát động cuộc xâm lăng võ lực thôn tính Miền Nam.
Ba sự kiện trên đây, đối với người viết, xảy ra hoàn toàn riêng rẽ, không có một liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lý nào với nhau. Nhưng đối với dư luận, nhất là tại Hoa Kỳ, họ cho rằng ba biến cố nầy đã có một liên hệ nhân quả mật thiết, nghĩa là chính quyền Diệm độc tài, đàn áp đối lập, hạn chế những quyền tự do căn bản …, xa rời quần chúng, khiến đa số chán ghét chế dộ Diệm nên đã có những thành phần trí thức bất mãn như nhóm Caravelle đòi hỏi cải cách chính trị, nhóm sĩ quan nhảy dù thực hiện đảo chánh quân sự và sau khi những nỗ lực nầy thất bại, những thành phần đối lập nầy, không còn phương cách nào khác hơn, đã phải nối kết lại với nhau dựng nên Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn độc lập với Hà Nội, xử dụng võ lực để chống lại chính phủ Miền Nam. Điều thiếu may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho Miền Nam, là quan điểm nầy lại được một chuyên gia rất có uy tín về Việt nam là G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng Cornell và cũng là cố vấn của Tổng Thống Kennedy về Việt Nam sau nầy nhiệt tình ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention, 1986). Từ những nguyên nhân sau xa đó, uy tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đến nổi, cuối năm 1961, những nhà làm chính sách tại tòa Bạch Ốc đã có lúc nghĩ đến việc ám sát Tổng Thống Ngô Đình diệm, nhằm thay đổi cơ chế lãnh đạo của Miền Nam.
Trong thời gian đó, chỉ có chính quyền Úc có một cái nhìn sâu sắc và thực tiển hơn về vấn đề xây dựng dân chủ và đường lối chính trị cứng rắn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chủ trương theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng, Ngoại Trưởng R. G. Casey của Úc đã nhận xét:
"Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích chính quyền Việt Nam. Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh. Chính phủ quốc gia đó, không thể để một khe hở nào cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào cũng sẽ cựuc kỳ nguy hiểm, không những cho Việt nam mà còn cho cả tự do của Đông Nam A` Châu nữa. Thứ hai, sự thực hiện dân chủ trên bình diện quốc gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam và cần phải có thời gian để phát triển các định chế, các truyền thống, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường hướng xây dựng và có trách nhiệm". (Richard Lindhelm, Vietnam, the First five years Ann Arbor, Michigan, 1959, tr 344)
Quan Niệm Dân Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ.
Sai Lầm của Mỹ
Điều khá khôi hài, khi quan niệm dân chủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và của Tổng Thống Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ T. Đó là Dân Chủ Thành và Tín của Ông Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là dân chủ thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm luôn luôn chủ trương rằng đời sống dân chủ nói cho cùng … chính là việc đem áp dụng các giá trị thành và tín vào cuộc sống hằng ngày một cách thật hoàn hảo. Trong khi đó, các giới chức của chính quyền Hoa Kỳ chủ trương dân chủ thực tiển, nghĩa là dân chủ phải thực tế, từ ngữ tự do dân chủ, chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, chỉ một ý nghĩa vô cùng tương đối và tùy tiện, nhắm pphuc5 vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ thời đó đã khẳng định rằng, vì quyền lợi của nước Mỹ, không những họ có quyền mà còn có trách nhiệm để thay đổi cơ chế lãnh đạo Miền Nam lúc bấy giờ. Cũng như ngày nay, Hoa Kỳ chỉ đặt nhân quyền, tự do tôn giáo … với chính quyền Hà Nội, khi người Mỹ còn muốn mặc cả về những điều kiện kinh tế và thương mại cho giới tư bản Mỹ, nhưng khi những yêu sách nầy của Mỹ được Hà Nội thỏa mãn, thì những vấn đề nhân quyền … của Việt Nam chắc chắn sẽ không còn được chính quyền Hoa Kỳ đề cập đến nữa. Đó là những thực tại chính trị khá phủ phàng nhưng rất thực tế của nước Mỹ và cũng là nan đề trong việc thực thi dân chủ tại Miền Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà người viết sẽ trình bày một cách chi tiết trong phần dưới đây.
Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị, ‘Chia để Trị’
Tổng Thống Ngộ đình Diệm thường tâm sự với các cộng sự viên thân tín:
Người Mỹ không có khả năng phân biệt được thế nào là uy quyền quốc gia và chủ quyền dân tộc với lối cai trị độc tài … Vì truyền thống xã hội Việt Nam, bối cảnh chính trị và lịch sử của đất nước, đòi buộc các nhà lãnh đạo Việt Namphai3 chú trọng đến việc nâng cao chủ quyền quốc gia (Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba Lê, tháng 9,1986).
Thật vậy, xuyên qua lịch sử Việt Nam, quốc gia nầy đã bị người Trung Hoa cai trị gần một ngàn năm và hơn 80 năm bị người Pháp đô hộ. Những người thống trị ngoại bang nầy đã áp dụng một chính sách chia để trị nhằm chia rẽ Việt Nam và kiềm hảm quần chúng trong cảnh thất học, nghèo đói và chậm tiến. Cũng theo Tổng Thống Ngô đình Diệm, chính sách nầy đã để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau:
Trước hết là tình trạng phân hóa. Điều nầy thể hiện khá rõ rệt trong lịch sử đất nước chúng ta. Sauk hi Ngô Quyền dành độc lập cho tổ quốc và chấm dứt thời kỳ lệ thuộc vào phương Bắc, đất nước chúng ta đã phải trãi qua thời kỳ Thập Nhị sứ quân. Và đến thế kỷ thứ 15, dân tộc nầy phải sống trong cảnh Nam Bắc Phân Tranh gần 100 năm. Dưới thời Pháp đô hộ, chính quyền thức dân đã chia Việt Nam thành 3 miền khác nhau: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ và được đặt dưới những chế độ chính trị khác nhau:
Thật vậy, trên nguyên tắc, Bắc Kỳ và Trung Kỳ được đặt dưới chế độ Bảo Hộ (Protectorate), nhưng trong thực tế, cách thức cai trị ở Bắc kỳ và Trung Kỳ cũng khác nhau. Ở Bắc Kỳ, người Pháp đòi buộc Triều Đình Huế ủy quyền cho một viên chức Pháp gọi là Thống Sứ để đại diện Hoàng Đế Việt Nam điều hành công việc hành chánh tại miền đất nầy. Trong khi Trung Kỳ thuộc thẩm quyền của các Vua Triều Nguyễn, cai trị dân chúng dưới sự chỉ đạo của Khâm Sứ Pháp tại Huế. Còn Nam Kỳ được đặt dưới chế độ thuộc đia (colony) hoàn toàn do người Pháp cai trị. Người dân sống từ vùng nầy sang vùng khác; ví dụ như Bắc Kỳ vào Nam Kỳ, phải xin giấy thông hành (passport) giống như người từ quốc gia sang quốc gia khác vậy. Rồi vào thập niên 1950, người Pháp đặt Cao Nguyên Trung Phần dưới một thể chế cai trị đặc biệt được mênh danh là Hoàng Triều Cương Thổ. Và tiếp theo, người Pháp cũng cắt một số tỉnh miền Dông và miền Tây Nam Kỳ đặt dưới quyền cai trị riêng của hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo.
Áp dụng biện pháp cai trị đó, người Pháp nhằm mục đích tạo tình trạng phân hóa giữa người Việt và làm ung thối tiềm năng đấu tranh dành độc lập của dân tộc. Theo ông Ngô Đình Luyện, khi về nước cầm quyền, Ông Diệm đã phải đối dầu với tình trang chia rẽ trầm trọng. Do đó, chính phủ không còn cách nào khác hơn là tập trung quyền hành để thống nhất uy quyền quốc gia, nhằm xây dựng độc lập cho dân tộc, phát triển kinh tế, cải tạo xã hội và ngăn cản âm mưu khuynh đảo của cộng sản.
Ngoài ra, để dễ dàng duy trì chế độ thực dân, người Pháp đã kiềm chế dân tộc Việt Nam trong cảnh thất học. Họ đã hạn chế việc xuất bản sách báo và kiểm soát gắt gao việc mở trường dạy học. Trong thực tế, chính quyền thực dân chỉ mở một số ít các trường học nhằm đào tạo một số công chức cấp thấp để phục vụ cho guống máy cai trị của họ tại Đông dương. Chủ ý của họ là tạo nên một giới thư ali5 thụ động, thiếu trách nhiệm, chỉ biết vâng lệnh và không biết tự tìm cách giải quyết các vấn đề. Do đó, khi thu hồi độc lập, chính quyền trung ương đã phải giải quyết tất cả mọi vấn đề trên toàn quốc. Theo ông Ngộ Đình Luyện, trong nội các của Ông Diệm năm 1955, chỉ có 2 đến 3 tổng trưởng là dám nhận lãnh trách nhiệm để điều hành các công việc thuộc phạm vi quyền hạn của họ. Còn những người còn lại, vì sợ trách nhiệm hoặc không đủ hiểu biết chuyên môn để giải quyết các vấn đề khó khăn; do đó, đã tìm mọi cách để tránh né và chuyển gánh nặng hành chánh của họ lên vai Tổng Thống Diệm. Chính vì tình trạng nầy, vào những năm sau cùng của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Diệm đã phải gởi hang núi hồ sơ cho ông Ngô đình Nhu, người cố vấn thân tín nhất của Tổng Thống để giải quyết. Đó là lý do giải thích tại sao hằng ngày Tổng Thống Diệm đã phải làm việc hết sức cực nhọc từ 5 giờ sáng đến nửa khuya và đôi khi đến 1 hy 2 giờ sáng ngày hôm sau.
Như điều tai hại cho Tổng Thống Diệm, là những người cộng sự viên thiếu tinh thần trách nhiệm nầy, thường bí mật phàn nàn với cố vấn Mỹ, là Tổng Thống Diệm không biết ủy quyền cho các thuộc cấp, muốn tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, cho nên đã tạo nên nhiều sai lầm nghiêm trọng. (Theo Ngô Đình Luyện, đàm luận với tác giả). Chính vì vậy, mà Hilsman, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Đặc Trách Viễn Đông Sự Vụ, khi quan sát tình hình Việt Nam vào đầu năm 1963, đã kết luận:
Dù có biện hộ hay né` tránh thế nào đi nữa, vấn đề cuối cùng vẫn là nơi Ông Diệm.
(Xem Hilsman, To Move A Nation, tr 460)
Phương Cách Thực Thi Dân Chủ.
Đối với Tổng Thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ là một sản phẩm xa xỉ hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia chậm tiến như Việt Nam. Cũng theo Ông, xã hội Việt Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống ở thôn quê, còn đói nghèo, thất học, không có an ninh, luôn bị du kích Cộng sản đe dọa; thì những tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử chẳng có ý nghĩa gì cả đối với họ. Điều mà dân chúng ở nông thôn mong muốn là một chính quyền mạnh mẽ, đủ để bảo đảm an ninh cho họ chống lại sự khủng bố của Việt Cộng. Hằng đếm, du kích Cộng sản dùng sung hăm dọa để thu thóc gạo, cưởng bách con em họ phải tham gia hang ngũ cán binh Việt Cộng. Ngoài ra, dân quê cần chính quyền tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc chống lại sự bóc lột của chủ đất, và của một thiểu số có thế lực và giàu có. Rồi từ đó, họ có đủ phương tiện gởi con em họ đến trường học, hấp thụ được một nền giáo dục căn bản, đủ kiến thức chính trị cần thiết. Lúc đó, người dân quê sẽ biết xử dụng quyền tự do căn bản của họ, để thực sự tham gia các cuộc bầu cử và ứng cử nhằm ngăn chận những người địa chủ và một thiểu số giàu có, lợi dụng sự nghèo đói và thất học của họ đã khai thác và bóc lột họ.
Lý thuyết của Tổng Thống Diệm đã được áp dụng vào thực tế qua những chương trình sau đây:
Chương trình cải cách ruộng đất, được mệnh danh là chương Trình Người Cày Có Ruộng trong đó chính phủ mua đất của các địa chủ phát cho người nghèo.
Chương Trình Dinh Điề, chính phủ đã thực hiện một công cuộc di dân từ các làng xã dân cư đông đúc và nghèo khổ; ở đó dân không đủ đất để cày hoặc đất đai quá cằn cổi, đến những vùng đất đai trù phú hơn ở Cao Nguyên để khẩn hoang lập nghiệp. Trong thời gian đầu, chính phủ giúp cho dân chúng đầy đủ các vật dụng để xây cất nhà cửa, các nông cụ canh tác. Đồng thời, chính phủ cũng cung cấp đầy đủ lương thực và quần áo để sống trong vòng 6 tháng đầu tiên để chờ đợi mùa màng sinh hoa lợi.
Chương trình Khu Trù Mật, chính phủ đã chọn một số địa điểm ở thôn quê, để xây dựng các cơ sở với những tiện nghi của thành phố như lập nhà máy điện, đào gieng61 nước được trang bị máy bom tối tân, xây bệnh viện, trường học.. để dân chúng nông thôn hưởng thụ những tiện ích của đời sống văn minh.
Chương trình Ấp Chiến Lược. Đây là chương trình rất quan trọng nằm trong sách lược của quốc gia nhằm chống lại cuộc chiến tranh khuynh đảo do chính quyền Hà Nội chủ xướng.
Qua chương trình nầy, chính quyền địa phương đã thực hiện một cuộc thanh lọc để loại trừ những thành phần cộng sản nằm vùng ra khỏi dân chúng. Sau đó, chính quyen62 đoàn ngũ hóa dân chúng thành những tổ chức chiến đấu để chống lại sự khủng bố của cộng sản. (…)
Về phương diện kinh tế, mỗi ấp đã trở thành một đơn vị phát triển kinh tế tự túc. Thật vậy, lúc đầu với một máy sản xuất gạch ngói có tính cách tiểu công nghệ do chính phủ giúp đở, với lối làm việc vầnn công và đổi công, chẳng bao lâu trong ấp, tất cả các nhà tranh được thay thế bằng các nhà gạch với mái ngói khang trang với vườn cây ăn trái tốt tươi và xinh đẹp.
Về phương diện chính trị, mỗi ấp tự bầu lên một ban trị sự để điều hành mọi công việc trong ấp. đây là phương cách hữu hiệu và thực tiễn để người dân quê có thể tiếp tục xử dụng những quyền tự do dân chủ căn bản để bầu người đại diện của mình vào cơ cấu hành chánh xã ấp.
Theo Tổng Thống Diệm, đây là cách thực hiện dân chủ hiệu quả nhất của một quốc gia chậm tiến đang phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại và khủng bố do Cộng sản điều động từ bên ngoài. Nói một cách khác, đây là cách phát triển dân chủ từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc của quốc Gia. Chỉ trong cơ cấu nầy, người dân quê cô thế và thất học mới thật sự được thụ hưởng những quyên tự do căn bản của con người. Cũng theo Tổng Thống Diệm, phương cách chính trị phù hợp với truyền thống dân chủ ngàn xưa của dân tộc Việt. Đó là người dân được quyến quyết định mọi việc trong làng, phép vua thua lệ làng. Và thượng tầng, vẫn được duy trì được uy quyền tối thượng của quốc Gia.
Tổng Thống Diệm cũng thường nói với cộng sự viên thân tín như sau:
Nếu đem áp dụng một cách cứng ngắt kiểu dân chủ Mỹ vào Việt Nam, không những không đem lại lợi ích cho Quốc Gia, mà còn tạo thêm cho một thiểu số giàu có bóc lột những người dân nghèo thất học, giúp phương tiện cho những chính trị gia cơ hội, xu thời và những thành phần thân Cộng ở các thành phố dùng các phương tiện truyền thông để chỉ trích chính phủ, gây thêm rối loạn trong một quốc gia cần sự ổn định, để theo đuổi cuộc chiến tranh sống còn chống lại âm mưu khuynh đảo của Cộng sản. (Võ Văn Hải, đàm luận với tác giả, tại Đalat, 1973)
(còn tiếp)
- Sai Lầm của Mỹ
- Dân Chủ Theo Lối Mỹ
- Nhầm Lẫn Chết Người
Trong khi đó, những nhân vật trí thức cấp tiến của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Harriman, Hilsman, đã không hiểu được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam nên đã có những nhận định và chính sách sai lầm khi theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng. Sau nầy, Tổng Thống Nixon đã phân tích điều đó trong tác phẩm No More Vietnam của ông. Ông cho rằng các chuyên gia của chính quyền Kennedy thời đó đã lầm lẫn cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh cách mạng. Trong khi đó, thực tế, đó là cuộc chiến tranh du kích, phá hoại, khủng bố, đột nhập từ bên ngoài do Cộng sản Hà Nội điều động.
Chính vì vậy, những chuyên gia nầy luôn luôn đòi hỏi phải mở rộng tự do báo chí, tự do hội họp và lập các đoàn thể, tạo điều kiện cho các chính trị gia đối lập tham gia vào nội các để có thêm hậu thuẩn trong quần chúng. (xem Nixon, op.cit., 1982)
Đây là những điề kiện mà theo Tướng Taylor của Mỹ nhận xét, ngay chính nước Mỹ cũng không thể áp dụng được trong thời chiến tranh như Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn. Và ngày nay, sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt, thực tế càng cho thấy một cách rõ ràng hơn của các cố vấn chính trị của Tổng Thống Kennedy. Thật vậy, Miền Nam đã mất, không phải vì Cộng sản thành công trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền như sách lược khuynh đảo trong chiến tranh cách mạng do cộng sản chủ xướng. Nhưng thực tế, Miền Nam đã sụp đổ vì Cộng sản đã xử dụng thiết giáp, chiến xa, đại pháo và quân đội chính quy tiến vào Dinh Độc Lập, nghĩa là những phương tiện của một cuộc chiến tranh qui ước đột nhập từ ngoài vào, phối hợp với những hoạt động du kích phá hoại từ bên trong.
Chính vì thế, Tổng Thống Diệm đã than thở:
Chúng ta có một người bạn quí giúp đở tiền bạc nhưng không hiểu chi cả về chuyện Việt nam.
(Nguyễn Văn Châu, 1989, tr.228)
Trong khi đó, ông Nhu cũng thường tâm sự với cộng sự viên thân cận của ông như sau:
Mỹ có thói quen bắt buộc các đồng minh phải rập khuôn như họ … nhưng ở Mỹ khác, ở Á Châu nầy khác … Trong một quốc gia hòa bình thì lại hoàn toàn khác với một quốc gia đang có chiến tranh. Tổng Thống kennedy khuyến cáo Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là phỏng theo phong cách sinh hoạt chính trị xã hội Mỹ... Ông cha chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm chia rẽ, nạn kỳ thị và phe phái … Nếu ở Việt Nam áp dụng dân chủ như Mỹ thì chỉ đi đến tình trạng hổn loạn. Mà Việt Nam thì không thể chấp nhận được tình trạng hổn loạn giữa lúc đang có chiến tranh. (Bs trần Kim Tuyến, đàm luận với tác giả, Cambridge, tháng 9, 1986)
Có lẽ một cách tổng quát phải nói rằng, đối với quan niệm Dân Chủ Tây Phương và tinh thần quản trị khoa học của Mỹ, lề lối làm việc của Tổng Thống Diệm không thể chấp nhận được và Tổng Thống Diệm quả là nhà độc tài vì Ông ta không biết cách ủy nhiệm quyền hành và phân quyền trong guồng máy cai trị quốc gia.
Tuy nhiên, trong thực tại chính trị Việt Nam, có lẽ cũng là một sai lầm nếu nghĩ rằng những phương pháp đem lại kết quả tốt ở Phương Tây, nó cũng sẽ đạt được những thành tích như vậy, khi đem áp dụng ở Phương Đông. Và những nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn càng không thể tránh được những lỗi lầm nghiêm trọng, khi họ quá tự phụ về những hiểu biết của họ, nhưng trong thực tế, họ rất nghèo nàn trong kiến thức về văn minh và lịch sử Việt nam.
Dân Chủ Theo Lối Mỹ
Có một sự thật hết sức mĩa mai, các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn đòi hỏi Tổng Thống mở rộng tự do, đề cao dân chủ pháp trị cho phép những đảng phái tham gia vào nội các, nhằm lôi cuốn sự ủng hộ của quần chúng về phía chính quyền. Đồng thời, chính họ lại là những người bất chấp cả những nguyên tắc căn bản của công pháp quốc tế, bí mật xử dụng quyền lực của Mỹ để lật đổ chính quyền Ông Diệm.
Thật vậy, từ năm 1954, những nhà làm chính sách của Mỹ tại Bộ Ngoại Giao nghĩ rằng họ có quyền thay đổi chính phủ Việt nam, nếu quyền lợi của nước Mỹ đòi hỏi như vậy. William C.Gibbons đã phân tích chính sách đó như sau:
Từ lúc khai sinh ra chính quyền Diệm vào năm 1954, nhiều nhà làm chính sách Mỹ đã cho rằng, trong những trường hợp nhất định nào đó, Mỹ quốc không những có quyền mà còn có trách nhiệm đem đến một sự thay đổi tại Việt nam. Đường lối nầy cũng khá phổ biến trong việc bang giao cũa Mỹ đối với chính quyền của những quốc gia khác trên thế giới, mà ở đó quyền lợi của Hoa Kỳ đòi hỏi những hành động như thế. Và để theo đuổi triết lý nầy, Hoa Kỳ đã sắp đặt và hổ trợ những cuộc đảo chánh tại Ba Tư và Guatamala để thay thế những nhà lãnh đạo của những chính phủ của các nước đó, bằng những người lãnh đạo do Hoa Kỳ chọn lựa.
(xem William C.Gibbons, quyển II, 1961-1964, tr 140-141)
Một sự thật khác cũng khá ngộ nghĩnh, các viên chức dân sự có học thức tại Bộ Ngoại Giao Mỹ thường tỏ ra thái độ bảo thủ, thực dân, khinh thường chủ quyền của các dân tộc khác. Trong khi đó, các tướng lãnh và các nhà quân sự tại Bộ Quốc Phòng lại là những người có đầu óc tiến bộ, ôn hòa, biết kính trọng chủ quyền cùa các quốc gia khác và lại am hiểu tình hình Việt Nam một cách sâu rộng hơn. Thật vậy, khi điều trần trước quốc Hội Mỹ, Thượng Nghị Sị Church đặt câu hỏi, liệu Mỹ có thể xử dụng áp lực buộc Ông Diệm phải thay đổi chính sách không? Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ MacNamara trả lời:
Vâng, việc xử dụng áp lực nằm trong khả năng của chúng ta. Nhưng việc bảo đảm để [Diệm] hành động phù hợp với những điều khuyến cáo của chúng ta, nó vượt ra ngoài khả năng của chúng ta. Đây là một chính quyền độc lập và tôi nghĩ rằng thật không thích hợp để chúng ta cho rằng, đó là một thuộc địa [của chúng ta]. (xem Gibbons, op.ct., tr.192)
Trong khi đó Tướng Taylor cũng đã xét một cách chính xác về tài lãnh đạo của Tổng Thống Diệm, khi ông phát biểu trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thương Viện Mỹ vào ngày 8.10.1963:
Chúng ta cần một người cứng rắn để lãnh đạo quốc gia nầy, chúng ta cần một nhà độc tài trong thời gian chiến tranh và chúng ta đang có nhân vật đó. Quốc gia nầy đang trải qua một cuộc nội chiến và tôi nghĩ rằng cố gắng áp đặt những điều mà chúng ta gọi là những tiêu chuẩn dân chủ bình thường đối với chính quyền nầy là một điều không thực tế. (Ibid.)
Nhầm lẫn chết người
Nhưng sự khác biệt quan trọng hơn hết là những lý do thầm kín bắt nguồn từ quyền lợi của hai quốc gia. Đối với Tổng Thống Diệm, con người đã hy sinh cả cuộc đời của Ông để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền của Quốc Gia. Đối với Ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác bất cứ điều gì. Đối với Ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, thì chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, chính nghĩa của cuộc tranh đấu chống Cộng cũng mất Do đó, dù có nhận bao nhiêu viện trợ của Mỹ đi nữa Miền Nam sẽ thua Cộng sản. Bài học của thực dân Pháp tại Việt Nam 1946-1954 đã cho thấy điều đó. Ông Diệm đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm đó cho Đại Sứ Nolthing biết:
Việt Nam không muốn trở thành một xứ bảo hộ [của Mỹ] (Viet Nam does not want to be a protectorate)
Xa hơn nữa, một nhà nho như Ông Diệm được đào tạo theo một hệ thống giáo dục đặt nặng trên những giá trị đạo đức cá nhân và gia đình theo quan niệm của Khổng Tử và Ông cũng hấp thụ quan niệm dân chủ cổ điển và lý tưởng Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau … từ thế kỷ 19 của Pháp. Do đó, Ông Diệm rất khó hiểu được thực tế chính trị văn minh nước Mỹ, một nên văn minh chú trọng đến những quyền lợi kinh tế vật chất và thực tiễn của đời sống. Tổng Thống Diệm đã lầm lẫn khi nghĩ rằng dù có những bất đồng quan điểm với những nhà làm chính sách Mỹ, nhưng vì sự nghiệp đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ và chống Cộng chung của hai Quốc Gia, Hoa Kỳ là đồng minh mà Ông có thể dựa vào lúc chung cuộc.