We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 27 October 2012

Việt Nam : Con đường phát triển tương lai trong giấc mơ dài của nhóm lãnh đạo Cộng sản.

Thử luận bàn về tương lai Việt Nam :
 
Liệu Việt Nam có khả năng phát triển không ?
từ thực tế tụt hậu ngày nay ta thử nhìn về tương lai :

Phan Văn Song


Đây không phải lần đầu tiên mà Trung ương đảng Cộng sản Hà nội nhìn nhận những sai trái, sai lầm trong chánh sách chỉ đạo ! Nhưng lần nầy Trung ương đảng CS Việt Nam lại “bề hội đồng” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc Thủ tướng phải nhìn nhận ( không thì mất ghế ?) đơn phương những sai lầm của chánh sách quản trị của chánh phủ mình ! Và Thủ tướng nhìn nhận sai lầm ! Và không mất ghế ! Và Trung ương Đảng Cộng sản Hà nội hả hê ra tan hàng…phủi tay, xong việc,… Mission accomplie !...

Vậy là : Huề cả làng ! Vật giá vẫn tăng, lạm phát vẫn tăng, nhơn dân vẫn khổ và Đảng Cộng sản Hà nội ta vẫn cầm quyền,… vẫn villa, nhà lầu và xế hộp hai cầu …

Chánh sách quản trị kinh tế chánh trị Việt Nam là việc làm riêng, một chức năng riêng biệt, một đặc quyền của chánh phủ, của Nhà nước Việt nam do Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo. Người công dân Việt Nam trong nước không có quyền bàn tán dòm ngó, bàn luận hay bình phẩm vì sẽ mang trọng tội “chống chánh quyền” và có thể đi tù. Việc ấy đã đành, thế nhưng, cả người Việt Hải ngoại chúng ta, hầu như chúng ta không ai để ý đến xem những tin tức quan trọng “kinh bang tế thế” ấy như những tin tức “xe cán chó” ! Vì dù có quan tâm đến đâu nữa, thì cũng nhưng “nước đổ lá khoai”, vô ích, vô vọng. Vì vậy, từ lâu lắm chúng tôi không nghĩ đến bàn, hay luận gì về cái quái thai “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa » hay bàn luận gì về “Phát triển kinh tế Việt Nam” !

Sẳn nay Thủ tướng đương nhiệm ( vừa cứu được cái ghế Thủ tướng của mình) nhìn nhận sai trái, và hứa sẽ sửa sai, xin thử đôi lời bàn đến Phát triển Việt Nam.


I - Việt Nam : Con đường phát triển tương lai trong giấc mơ dài của nhóm lãnh đạo Cộng sản.

Từ mùa thu năm 1989, khi nhóm Solidarnosc thắng cuộc tranh cử để cầm quyền tại Ba Lan đến tháng 12/1991. đánh dấu ngày Liên Bang Sô Viết vỡ tung và bức tường Bá Linh sụp đổ. Các nhà nghiên cứu chánh trị thế giới vừa ngạc nhiên vừa vui mừng tin rằng chế độ Cộng Sản sẽ tan rã trên khắp thế giới - và chủ nghĩa cộng sản cũng sẽ không còn lý do để tồn tại nữa !
Hai mươi ba năm trôi qua, thế giới vẫn còn 4 chế độ CS tại Á Châu và tại Cu Ba. Cộng Sản Cu Ba là một chế đội CS vá víu. Còn Cộng Sản Tàu, Bắc Hàn và Hà Nội là loại Mác xít Lê-nin-nít nửa chừng xuân, nhưng có một sức phản kháng khá đặc biệt với tất cả những diễn biến thời cuộc bên ngoài, có lẽ là nhờ một chánh sách làm ăn theo thời cuộc, rất đồng bọn, tự bao che, tự bảo vệ lẫn nhau, vừa làm giàu cá thể, vừa làm giàu đoàn thể và đồng bọn, ăn chia kiểu mafia, dựa trên một hệ thống móc ngoặc, tham nhũng khá tinh vi.

Hãy bỏ qua một bên những câu hỏi về Cộng sản Tàu hay Bắc Hàn, chúng ta nên chỉ chăm chú vào Việt Nam và câu hỏi thường xuyên của các nhà bình luận chánh trị là Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, đang thay hình đổi dạng trên đà suy sụp ? hay chế độ cộng sản Việt Nam đang biền hóa để cải tiến và vượt qua những chướng ngại vật do thời cuộc và sự sống còn bắt buộc ?
Xin trả lời, cả hai. Cộng sản Tàu là tấm gương. Nhìn tương lai Tàu sẽ biết tương lai Ta.

Cộng sản Trung hoa đang sửa soạn thay lãnh đạo, sau một màn đấm đá giành giựt quyền lực phe đảng bè phái suốt cà năm nay, trong một không khí kinh tế đang cần một sự thay đổi gần như 180° : từ một nền kinh tế thương mại nặng về gia công và xuất cảng, Trung hoa Cộng sản phải chuyển về củng cố thị trường nội địa, và tự sản xuất. Dỉ nhiên Trung Cộng sau bao nhiêu năm làm gia công cho thế giới với một chánh sách bóc lột sức lao động rẻ của nhơn dân lao động mình đã thu tóm được một gia tài kim ngạch khổng lồ, ngày nay khả dỉ có thể giúp Trung Cộng vượt qua những chướng ngại vật kinh tế, kỹ thuật hay tài chánh … Chánh sách đối ngoại hung hăng, dựa trên chủ thuyết dân tộc Hán cũng do cái khó khăn gặp phải bởi những đòi hỏi ( chánh đáng hay không ) tự lực cánh sinh và độc lập địa phương của các tỉnh (giấc mơ biến Tàu thành một Liên Bang ? kiểu Mỹ, kiểu Sô Viết ? kiểu Đức ? kiểu Thụy sĩ ? )… Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng hay Trung Quốc thời Chiến quốc ? Tương lai sẽ trả lời chúng ta.

Hãy trở về Việt Nam, Việt Nam muốn giống Tàu, nhưng “mậu lúi”, nghĩa là không có tiền ; bao nhiêu tiền tham nhũng đớp sạch, ngày nay đến cả Ngân hàng Quốc gia cũng không đủ ngoại tệ bằng kim ngạch, phải ra biện pháp kiềm kê và kiểm soát ngoại tệ và vàng.

Rất nhiều những người Việt Nam đang hy vọng hảo huyền, mong chờ một Gorbatchev Việt Nam chụp lấy chánh quyền, để sửa đổi. Nhưng nhóm cầm quyền tại Ba Đình vẫn cố gắng giữ lấy tay lái. Họ nhứt định khư khư không thay đổi hướng đi, nhưng họ không cưỡng lại những sự thay đổi bên ngoài. Một sự thả lỏng chánh trị, bằng những bài trả lời «lưỡi gỗ » bằng những bản « vẹt hót «, ai có nghe hay không nghe mặc kệ ! Nếu cần họ « đè bẹp », « khủng bố » mọi dư luận chống đối chế độ ở trong nước và nếu cần họ có thể chấp nhận đổ máu để đập tan mọi hành động « phản kháng » có tổ chức và nguy hiểm cho sự sống còn của chế độ.
Họ vẫn biết là cái chủ nghĩa của họ ngày nay rỗng tuếch không có một tí gì hy vọng giữ bền vững « chế độ anh hùng chủ nghĩa cộng sản nữa » nhưng họ vẫn cố gắng gỡ gạc dưa vào cái « quá khứ anh hùng kháng chiến chống Pháp chống Mỹ ».
Hồ chí Minh dù là cái xác khô đét được ướp nằm đó, hàng ngày tô son điểm phấn bởi một nhóm văn công gia nô ca bài « Tư tưởng Hồ chí Minh » tiếp tục hướng dẫn hành động của nhóm cầm quyền mà không thấy có một chương trình, một dự án, không thấy một tư tưởng chánh trị Việt Nam có giá trị khả thi để phát triển đất nước. Đối với tuổi trẻ mọi giấc mơ tương lai đều trở thành xa xỉ.
Cái vòng lẩn quẩn « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa » đã không giải quyết được phát triển mà chỉ trói buộc suy nghĩ của nhà cầm quyền CS mà thôi.

Làm sao có thể mở cửa cho đầu tư, cho thương mại theo hướng kinh tế thị trường thật sự mà không bị trói buộc bởi những suy nghĩ định chế sơ cứng của chủ nghĩa cộng sản lỗi thời ?
Làm sao có thể áp dụng một chánh sách kinh tế xã hội mà dung hòa được hai quan niệm « thợ thuyền »và « nông dân » mà không bị mâu thuẩn về bản chất, bởi nông dân còn mang nặng đầu óc về tư hữu ?
Hà Nội đang mơ giấc mơ dài giữa hai hình ảnh « tương lai xán lạn kinh tế thị trường » và « quá khứ anh hùng xã hội chủ nghĩa chống ngoại xâm » . Nhằm đề cao « chánh nghĩa tinh thần dân tộc bằng những cuộc chống Pháp Mỹ (nhưng bỏ quên, hay không dám nói đến, Tàu) » ngõ hầu động viên nội lực dân tộc khắc phục khó khăn, đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao :nếu tăng trưởng kinh tế không đạt được như dự tính, nhà nước lo sợ sức ép của xã hội sẽ có cơ bùng nổ lớn. Thực tế, những hiện tượng chống đối của nhiều giới trong đó có giới trẻ trí thức xuất hiện quan trọng, càng ngày cho thấy càng rõ nét và gây ảnh hưởng sâu rộng thêm.

II - Những khó khăn phải vượt qua :

Muốn phát triển Việt Nam, phải có một chương trình đầy đủ khả năng vượt những khó khăn sau đây :
- giữ vững một chỉ số tăng trưởng của Tổng sản lượng hàng năm vào 7% là tối thiểu. Chỉ ở chỉ số này, mới hy vọng tạo đủ công ăn việc làm cho những công nhơn mới hằng năm bước vào thị trường lao động : giới trẻ và những nông dân trên đà đô thị hóa. Nhưng chỉ số 7% không đủ sức để giảm những bất công xã hội chớ chưa nói đến hy vọng bắt kịp những phát triển của những nước trong khối ASEAN, Thái Lan hoặc Mã Lai Á trong một tương lai dài.

- Cố gắng giải quyết những thiếu sót trong những chương trình nông nghiệp, hiện nay chỉ số phát triển chỉ ở độ mức 4,5%, rất xa với cái 7% lý tưởng : năng suất thu hoạch của nông nghiệp kém, giá cả thị trường nông nghiệp càng ngày càng hạ thấp, những thông tin, hiểu biết về những thị trường nông nghiệp thay thế kém hay không được cập nhật hóa, chương trình tín dụng các ngân hàng nông nghiệp không ứng dụng đúng với tình trạng nông nghiệp hay nhu cầu nông nghiệp nên biến lợi tức của nông dân mỗi ngày mỗi kém cỏi : kết quả họ bỏ ruộng lên thành thị tìm sống qua ngày. Và ngày mai ? làm sao cân bằng nông nghiệp, nông nghiệp thực phẩm, nông nghiệp kỹ nghệ, và công nghiệp, chuyển nông nghiệp sang công nghiệp thủy sản, chế biến thủy sản, vân vân , … với tình trạng thiếu nước ngọt trong tương lai (do khai thác quá mức các đâp thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông phía Tàu ) và Đồng bằng Sông Cửu Long đang đà nhiễm mặn.
- Làm sao giải quyết được hai tệ nạn đang làm « bế tắc » mọi phát triển của thị trường « Khu vực thứ hai ».
a. - Hàng hóa thứ rẻ tiền của Tàu sang tràn ngập vào thị trường tiêu thụ Việt Nam ? Nhập cảng bình thường và nhập cảng lậu, nghĩa là trốn thuế doanh nghiệp.
b.- Một loại kinh tế gia đình không giấy tờ, không cơ sở doanh nghiệp, chui lòn, trốn thuế, trốn nhiệm vụ xã hội nhưng vẫn sản xuất, vẫn trao đổi doanh thương, nửa lậu, nửa thật chỉ làm lợi cho người buôn và các nhân viên cầm quyền hủ hóa tham nhũng.

- Làm sao chống tham nhũng hữu hiệu, chống cửa quan cửa quyền làm khó khăn mọi thủ tục hành chánh. Phần sau tạo thiên vị và bất công để phần trước sanh sôi nảy nở.

- Có dám đóng cửa các cơ sở quốc doanh và nâng cao số cơ sở tư doanh không ? Làm sao biến các công thương quốc doanh làm ăn có lời có lãi, có hữu hiệu ?

- Có dám có những chương trình tín dụng ra lệnh những ngân hàng chỉ cho vay những dự án làm ăn có lời. Với những bản chiết tính chi thu rõ ràng ?

- Lập lại hệ thống ngân hàng, xóa những nợ khó đòi, lập một chương trình đầu tư, và tín dụng với những chương trình phát triển dài hạn có lời, những chương trình xem xét, kiểm tra rõ ràng hằng năm cập nhật hóa lời lỗ.

- Cải tổ toàn bộ lại chương trình giáo dục từ tiểu học đến đại học, cải tổ lại ngành y tế, cải tổ chương trình giảng huấn cán bộ cấp Đại Học, cải tổ và mở mang mạng lưới giao thông và thông tin.

III - Những yếu tố tốt :

Hình ảnh bi quan ấy chúng ta có thể vượt qua được nếu chúng ta và đặc biệt nếu nhà nước Việt Nam chấp nhận một vài cải tổ về mặt suy nghĩ và tư tưởng như :

- Áp dụng một nền dân chủ pháp trị,
- Tôn trọng nhơn quyền và tôn trọng những quyền tự do cho một công dân, một con người.
- Chấp nhận những hoạt động chánh trị của các đoàn thể, đảng phái...ngoài đảng cộng sản trong thế đối lập xây dựng
- Chấp nhận đối thoại với những đoàn thể đảng phái trong hay ngoài nước ; với các nước liến hệ bang giao trong tình xây dựng kinh tế, trong dân chủ, trong công bằng với những luật lệ chiếu theo những luật lệ quốc tế về nhơn quyền, về xã hội, về lao động, về y tế, giáo dục, vân vân...

Việt Nam trong thực tế chỉ vì bi quan ấy có thể có một chương trình xây dựng phát triển dựa trên những yếu điểm sau đây :

- Tài nguyên thiên nhiên dồi dào và đặc biệt về dầu khí.

- Tài tháo vát của người Việt Nam trong những lãnh vực làm ăn « ít vốn » : doanh nghiệp, thủ công nghiệp, công việc làm ăn kiểu phường xóm, láng giềng , xây dựng (nhơn công)...

- Việt Nam vẫn là nơi đầu tư ngoại quốc thích vào : mặc dù hiện nay họ đang ở thế chờ đợi một sự « tháo khoán tư tưởng của các nhà cầm quyền cộng sản vẫn còn đỏ » :

- Vì Việt Nam có một sức lao động rẻ tiền, lanh lợi, khôn ngoan, khéo léo, và đặc biệt là một sức lao động trẻ.

- Khu vực tư doanh phải được khuyến khích phát triển và đã có một tiềm lực doanh nhơn đáng kể ( do những số tiền dành dụm tiết kiệm đàng hoàng hay chui). Một cộng đồng Việt Nam hải ngoại giàu chất xám, giàu tài năng, giàu tài chánh và có một khả năng thương mại và quản trị cao ssửa sàng « trở về » nếu có một chánh sách khả dỉ, đàng hoàng, khuyến khích. .

- Địa lý chánh trị của Việt Nam là một địa lý lý tưởng. Nằm trên biển Nam Thái Bình Dương ngó ra hải đạo Nam Bắc Nhật Bản- Malacca.

- ASEAN và tương lai thị trường chung ASEAN sẽ làm đòn bẩy cho sự phát triển.

IV - Kết luận :

1/ Những quyết định can đảm vì đất nước :

Việt Nam phải có một nền chánh trị và một thể chế pháp lý dựa trên một nền dân chủ pháp trị đúng mức, nghiêm chỉnh.

Một nền chánh trị đối ngoại dựa trên một sự giao hảo hữu nghị với các cường quốc và các quốc gia láng giềng khu vực (ASEAN, Đông Á) để thoát khỏi vòng phong tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc.

Hãy suy nghĩ lại và làm lại một chương trình phát triển mới.

Hãy cố quên đi « quá khứ anh hùng chống ngoại xâm » một vài giây đi và cố gắng bỏ đi giọng nói trịnh thượng của người chiến thắng đi « xin tiền » các kẻ thù nay đã thua trận.

Hãy mạnh dạn có những suy nghĩ thực tiễn để tìm một hướng đi sáng tạo khai triển các tinh túy của tinh chất « Việt ». Quá khứ của dân tộc Việt, văn hóa của dân tộc Việt, thành tựu của nhóm người Việt tỵ nạn tại những quốc gia tư bản đã chứng minh rằng Việt Nam có một tiềm lực nếu được và nên sử dụng đúng đắn. Với một chế độ chánh trị và một phương trình chánh trị đúng đắn sẽ đưa Việt Nam nhanh chóng bước vào một kỷ nguyên phát triển thật sự. Chương trình ấy phải được dựa trên một sự tiếp nối những cái hay mới của thế giới văn minh ngày nay và nếu có hoàn cảnh thuận lợi đặc biệt cho phép, sẽ đem Phồn vinh và Phát triển lại cho Việt Nam trong một thời gian rất ngắn.

Thật vậy, Việt Nam đã học hỏi trong sự đớn đau những hệ thống kinh tế, suy nghĩ, tư tưởng chánh trị khác nhau. Việt Nam là một trong một số nước nhỏ trên thế giới nhận được sự góp nhặt vô cùng quí báu ấy. Đó là nhờ vị trí địa lý thuận lợi. Việt Nam sẽ không ngại làm « đứa con lai giống kinh tế » ấy ; Việt Nam sẽ có những yếu tố để phát triển trong những ngày tới khi Việt Nam đã hồi phục được dân chủ dân bản pháp trị.

2/ Những giá trị truyền thống cần đổi mới và khai triển :

• Một quan niệm nông dân, và văn minh nông dân đặc biệt với hệ thống văn minh “ lũy tre “ “lệ làng “ giúp đỡ nhiều cho sự phát triển nông nghiệp và đời sống xã hội cộng đồng.
• Những sự bất công xã hội mà các tiền bối của chúng ta đã vấp phải và đã có chánh sách giải quyết thỏa đáng, nếp sống phong kiến của quan lại vua chúa, tôn giáo.v.v...
• Văn hóa Trung Hoa cổ xưa, đặc biệt tư tưởng của Khổng Tử, những tư tưởng Tống Nho cổ hủ ở Việt Nam, những sai lầm cũ và mới của Trung Hoa do một lớp quan lại Tống Nho vì đặc quyền đặc lợi cố tình bảo thủ để giữ quyền lực đã tác hại xã hội không ít mở đường cho thực dân cộng sản ngày nay.
• Tánh Nhơn Bản của Tam giáo
• Bản chất của Việt Nam là lấy con người và tình thương làm gốc xây dựng xã hội.
• Duy lý (cartesianisme) của các nhà cầm quyền Pháp.
• Sự thực tiễn chất Business, và quản lý của người Mỹ.

3/ Những ảnh hưởng thời đại cần phải tránh :

Ảo tưởng của ý thức cộng sản đã lường gạt cả tình lẫn lý nên dứt khoát loại bỏ
• Những sự thái quá do những sự đầu cơ và những sự phá điều lệ (dérégulation) tài chánh của các thị trường chứng khoán và đặc biệt thị trường chứng khoán á châu. vânvân..và...v..v.

Trong không khí thiếu điều chỉnh, thiếu tổ chức, trong không khí đấu tranh giành ảnh hưởng của những “ tư tưởng kinh tế “, Việt Nam như một con thuyền dập dờn trôi theo những dòng nước ngược chiều nhau giữa DAVOS và Porto Alegre.


4/ Đào sâu và phát triển phổ biến :

Vào những ngày 20/3 va 10/4 năm 2002, tại Washington DC, thủ đô xứ Huê Kỳ, một nhóm nhà nghiên cứu Việt Nam và một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cùng nhau làm việc, cùng trao đổi những suy nghĩ về các vấn đề chính trị, kinh tế sau 15 năm đổi mới, quân sự và vị trí chiến lược của Việt Nam trong vùng Thái Bình Dương.

Sau nhiều ngày làm việc cả hai nhóm đều chấp nhận một bản nhận định tổng quát về tình hình Việt Nam và đưa ra một Bản Lộ Đồ Thư để giúp chính phủ Huê Kỳ có những suy nghĩ và chọn lựa khi cần đề cập đến vấn đề Việt Nam trong chánh sách đối ngoại của Huê Kỳ vào những ngày tới. Dĩ nhiên Bản Lộ Đồ Thư cũng được gởi về phía Việt Nam, chánh quyền Hà Nội cũng có thể sử dụng Bản Lộ Đồ Thư này như bức cẩm nang để đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện tại, chẳng những đem lại Việt Nam một chế độ dân chủ tự do để phát triển, nâng Việt Nam vươn lên tầm vóc các nước láng giềng trong vùng mà còn có khả năng bảo vệ Việt Nam trước những hiểm họa bành trướng của phương Bắc.

Từ những ngày ấy, 10 năm đã qua, Bản Lộ Đồ Thư vẫn còn đó, tình hình thế giới tuy có thay đổi, nhưng những phân tích, những lý luận của của Bản Lộ Đồ Thư vẫn còn giá trị, hiểm họa bành trướng phương Bắc, lúc ấy chỉ là một lý thuyết nghiên cứu, nay đã thành sự thật !

Thực hiện Bản Lộ Độ Thư là chuyển hóa Việt Nam về mặt một tình trạng hiện tại vô cùng xấu, cực kỳ bất lợi cho dân tộc, để tiến lên một tình trạng tốt đẹp hơn, đem lại phúc lợi cho toàn dân, chớ hoàn toàn không nhằm lật đổ, hay gây xáo trộn bất ổn vô ích cho Việt Nam.

Nếu Hà Nội vẫn cương quyết giữ mãi con đường xã hội chủ nghĩa, thì làm sao Hà Nội có thể ở trong nước, xây dựng một sự phát triển hài hòa với các sắc tộc, với các tôn giáo, với những phần tử ly khai, với những người không cộng sản hay cựu cộng sản đang và đã đấu tranh cho dân chủ trong ôn hòa, hay ở ngoài nước đòi hỏi một sự hợp tác ?

Hãy chấp nhận đối thoại, mở cửa, phải chấp nhận xét lại toàn bộ tư tưởng của mình.

Hãy mạnh dạn dứt bỏ mô hình cũ để bước vào một mô hình mới.

Đừng quên Việt Nam có ba yếu tố quyết định quan trọng để tiến lên hàng một nước phát triển ngày mai này :

Sự khát vọng tự do và dân chủ
• Tuổi trẻ từ 17-25 tuổi chiếm 70% dân số
• Địa lý trên bản đồ Đông Nam Á.

Mong lắm thay !
Giữa mùa Thu 2012
Phan Văn Song

Nước Mắt Anh Hùng Lau Chả Ráo: Nguyễn Trung Trực 1839-10/27/68


Tôi đến vàm Nhựt Tảo thuộc tỉnh Long An vào một ngày tháng chạp. Từ Sài Gòn, tôi chạy xe máy xuống Tân An (thủ phủ của Long An) mất gần hai tiếng dù đoạn đường chỉ hơn 50 cây số. Tân An là điểm đầu tiên cho mọi tuyến xe từ Sài Gòn xuống miền Tây, tôi đã qua đây không biết bao nhiêu lần nhưng đây là lần đầu lon ton chạy honda vào thị xã. Đường phố sạch và khá rộng, cứ thấy đường là chạy chứ chẳng biết phương hướng gì, thời may chạy tới một ngã tư thì thấy một quán cà phê vườn rất lớn, trước quán có một cây sung sai trái và một bụi tre la ngà màu vàng. Thật mát mẻ và lý tưởng để nghỉ chân vì lúc đó đã gần giữa trưa.

Trong cuốn du ký Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Nguyễn Hiến Lê mô tả Tân An là một châu thành sầm uất, một trong các điểm giáp ranh của Đồng Tháp Mười, gồm các địa danh Mộc Hóa (cũng thuộc Long An), Hồng Ngự và Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Cái Bè (Tiền Giang). Tôi học thuộc lòng tấm bản đồ vẽ tay trong cuốn sách của ông, so sánh bản đồ hiện nay thì không khác mấy, và dự tính sẽ chạy xe theo lộ trình mà Nguyễn Hiến Lê đã đi từ 70 năm trước.


Theo chỉ dẫn tìm trên mạng, ở Long An có một khu bảo tồn vùng trũng Đồng Tháp Mười là Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa, cách Tân An khoảng 60 cây số. Trung Tâm này có trên 800 ha rừng nguyên sinh. Theo quốc lộ 62 từ Tân An lên Mộc Hóa, ngang cầu Quảng Dài thì xuống ghe đi chừng 45 phút nữa sẽ tới Trung Tâm. Cách mô tả rất hấp dẫn, hứa hẹn một chút gì sót lại từ vùng đất hoang sơ vào thời Nguyễn Hiến Lê du khảo Đồng Tháp Mười.

Chân dung cụ Nguyễn Trung Trực.
Ra khỏi Tân An trên 10 cây số, hai bên đường đã khá thưa vắng, các hàng cây bạch đàn thẳng tắp xì xạc trong tiết trời mát dịu của những ngày áp xuân. Thỉnh thoảng những vùng nước trũng hiện ra phấp phới, những đám hoa rau muống tươi trắng, hoa lục bình (bèo) tím lơ, hoa lau trắng lắt lơ, hoa phượng vàng mơ và không khí thoang thoảng hương thơm. Đến cầu Quảng Dài như chỉ dẫn hỏi nhà dân nhưng không ai biết đường vào Trung Tâm, chạy thêm một khúc nữa thì qua cầu Quảng Cụt, thêm 10 cây số nữa đến Mộc Hóa, đánh một vào huyện lỵ buồn tênh giữa trưa vắng, hỏi các ông xe ôm thì họ chỉ ngược lại đoạn đường mới đi qua. Tôi chạy trở lui, ghé vào hai bến đò nhưng không ai biết. Thế là mất hy vọng ngủ đêm giữa Đồng Tháp Mười, hết hy vọng qua một đêm giữa rừng trên quê hương Nguyễn Trung Trực, nơi ông từng ngang dọc đánh Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, trên vàm Nhựt Tảo, và chắc còn nhiều chỗ khác mà chính sử không ghi.

Chiều hôm sau, lúc đó đã gần 5 giờ, tôi hỏi đường lên vàm Nhựt Tảo và “cái tàu ông Nguyễn Trung Trực đốt của tụi Tây”. Bác xe ôm ở một góc đường thị xã Tân An có vẻ rành, bác chỉ qua cầu Tân An (bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây), qua cầu Bến Lức (sông Vàm Cỏ Đông), đến ngã tư Tân Trụ rẻ phải rồi “cứ vừa đi vừa hỏi”.


Theo hướng bác chỉ đến ngã tư Tân Trụ rẻ phải, chạy thêm chừng năm cây số thì gặp một ngả ba đường đất đỏ. Không biết đường mà gặp ngả ba thường rất là phiền. Thôi cứ liều chạy thẳng. Đường xấu và bụi, nhưng rồi nhà dân dần thưa thớt, hai bên đồng ruộng không bát ngát lắm nhưng đủ để phóng tầm mắt một cách thoải mái, màu xanh của lúa rủ hết bụi bặm đô thành.


Người miền quê có một khái niệm về đường dài rất… nhà quê. Theo kinh nghiệm hỏi đường thì khi họ nói “chút nữa là tới” thì có nghĩa phải đi cả năm hay bảy cây số nữa cũng chưa biết chừng. Tôi vừa chạy vừa hỏi, không ai biết con tàu bị đắm nhưng Nhựt Tảo thì họ biết. Có một chị dắt con đi nói “đằng kia kìa kia kìa chốc nữa là có bến đò đó”.

Miếu Ngũ Hành ở Tân An, nơi có để hình thờ (ké) của cụ Nguyễn Trung Trực.(Ảnh Từ Khanh)
Con đường đất đỏ có đoạn ôm tròn một vòng cung ruộng lúa xanh rì rất đỗi thanh bình trong ánh chiều tà. Lại đến một ngả ba. Ở đây người ta cắm một cái bảng lớn vẽ các khu vực qui hoạch, nhìn kỹ không thấy có sân golf trên đó (thật may, tưởng tượng đồng ruộng lần lượt nhường chỗ cho sân gôn thì nông dân biết về đâu).

Lại chạy tiếp, đường càng lúc càng xấu và bắt đầu thấy nản. Nhưng khi chạy ngang một cái cầu trên trên con sông nhỏ thì chợt nhìn bên trái, tôi thấy một ngôi đền đang xây dựng dở dang khuất sau những đám sậy, linh tính báo tôi quay lại, dựng xe, hỏi một chị đang chờ phà.

- Chị ơi vàm Nhựt Tảo ở đâu vậy?

- Đây này! Cô gái chỉ ngay dòng sông trước mặt.

- Vậy cái phà này đi đâu?

- Đi qua Cần Đước.

Mon men hỏi một người đàn ông trung niên đang ngồi tựa ở dốc cầu treo, ông nói khá rành rọt. Ông nội của ông năm nay 100 tuổi có kể rằng thời còn trẻ có thấy một ống khói tàu nằm ở ngả ba sông kia kìa (người đàn ông đưa tay chỉ ra ngả ba sông), nhưng bây giờ thì không có gì, có thời người ta lặn xuống đáy sông mò được một vài món đồ cổ gì đó.

Vậy ra là tôi đang đứng ngay ngả ba sông, nơi Nguyễn Trung Trực đánh đắm chiến thuyền Espérance của Pháp năm 1861. Trong Tập san Sử Địa số 12 (1968) xuất bản ở Sài Gòn để kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Trung Trực, có ghi lại trận đánh này theo tài liệu của Pháp, như sau:

“Ấy là ngày 10 tháng 12 năm 1861 (thứ Ba mồng 9 tháng 11 Tân Dậu).

“Hồi ấy lúc 12 giờ trưa, sĩ quan chỉ huy chiếc lorcha lEspérance đi lên bờ theo đuổi một lũ đầu trộm đuôi cướp cách tàu lối hai dặm. Bốn hay năm chiếc ghe có mui thả theo bìa tàu; thủy thủ đoàn đang nghỉ từng trên của tàu không hề nghi kỵ chi hết; viên hạ sĩ quan đóng vai tuồng trưởng-phó nghiêng mình ra khỏi cửa sổ tàu tưởng là người buôn bán muốn ghé xin nhận giấy phép lưu thông, viên hạ sĩ quan vô phước kia bị một mũi giáo vô ngực và một đám đông người từ các mui ghe của tên công kích tàu và la thật lớn.

Trong vài sao đồng hồ, hơn một trăm năm mươi người An nam tay cầm giáo, cầm gươm và cầm đuốc, tràn ngập cả từng trên tàu và một cuộc xáp-lá-cà không tương xứng xảy ra. Trong vài phút đồng hồ sau, lửa táp vào nóc lá của tàu và cháy mau lẹ. Bị nóng quá, đôi bên nhảy đùng xuống sông hay tuột xuống ghe.

Năm thủy thủ trong số đó có hai Pháp và ba Tagals (người bổn xứ ở Ma-Ni) phóng xuống một ghe nhỏ, không súng ống chi cả và ràng sức chèo. Ở xa, năm thủy thủ này thấy chiếc lEspérance nổ tung, các mảnh tàu văng xa đến hai bờ sông, mười bảy người Pháp hay Ma-Ni đều chết đắm trong cuộc tai biến này.”

Cũng theo tài liệu của Pháp sau đó “[N]hững thường dân ở làng Nhựt Tảo hùa theo những kẻ đốt tàu đều bị đốt nhà hết vì tàu đậu ngay làng ấy.”

Tôi đi loanh quanh trên con đường đất nhỏ, nơi mà gần một thế kỷ rưỡi trước nhà cửa bị Tây đốt sạch. Đi sâu vào trong khuôn viên ngôi đền Nguyễn Trung Trực đang xây dựng chỉ thấy cỏ lau um tùm, không biết có phải vì đã chiều nên công nhân về hết hay công trình đang bị bỏ dở, chỉ thấy trong khuôn viên ngay ngả ba sông một màu hoang vắng, dăm ba đứa con nít đang chơi đá banh trên bãi đất trống, lau sậy um sùm từng bụi che khuất đó đây, ngôi đền lớn đang xây nằm chính giữa khu đất (xem hình 1) có một vẻ uy nghi nhưng cô độc. Tôi băng qua sân rộng đến sát mép sông, thấy một cái miếu nhỏ bé, cửa miếu hướng ra bờ sông. Vòng ra mặt trước miếu nhìn vào mới biết đó là miếu ngũ hành, cả gian miếu âm u chập chờn. Tôi bước vào miếu, tự dưng xương sống lạnh buốt như đang bước vào một nơi nhiều âm khí dù trời chưa tối hẵn. Không gian trong ngôi miếu nhỏ tịch mịch quá, tưởng như nghe được tiếng sông chảy bên ngoài. Bên góc phải bàn thờ ngũ hành có một hộc bàn thấp lè tè, trên để tấm hình Nguyễn Trung Trực chít khăn đen, bên dưới ghi:

ANH HÙNG DÂN TỘC
NGUYỄN TRUNG TRỰC
(1838-1868)

Nguyễn Đình Chiểu viết “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.” Thật là nao lòng quá. Một dũng tướng ngang dọc từ Tân An đến Rạch Giá, lập những chiến công “oanh thiên địa” và “khấp quỷ thần” trong lứa tuổi 20, ngay nơi chiến tích của ông cách đây 146 năm, nay chỉ có một ngôi đền xây dang dở, và một bức hình nhỏ trên một bệ thờ thấp, nằm ké trong cái miếu ngũ hành tàn tạ âm u vôi lở sơn tróc hương tàn bàn lạnh.

Đôi mắt ông thao thiết nhìn ra sông, rất lặng lẽ. Trong Tập san Sử Địa số đã dẫn, nhà biên khảo Trương Bá Phát có thuật lại chuyện ông gặp nhà văn Sơn Nam ở thư viện S.E.I trong Sở Thú khi đi tìm tài liệu về Nguyễn Trung Trực. Ông Sơn Nam kể: “Trên Sài Gòn đây, chúng ta thấy toàn là ghe có cặp mắt tròn dài, tròng trắng ở ngoài, tròng đen ở giữa, còn ghe Rạch Giá có cặp mắt tròn vo, vành ngoài sơn xanh, màu đen ở trong. Người ta nói hồi 1868, sau khi rút lui khỏi Rạch Giá, Trực ra đảo Phú Quốc. Muốn đi biển Trực ngồi trước mũi ghe, gặp sóng lớn Trực trợn cặp mắt là sóng bớt ngay. Dân đi ghe bắt chước theo cặp mắt Trực, sơn hai bên mũi ghe, hai con mắt in như cặp nhãn của Trực vậy.”

Miếu Ngũ Hành ở Tân An, nơi có để hình thờ (ké) của cụ Nguyễn Trung Trực.

(Ảnh Từ Khanh)

Tôi ra đứng trước cửa miếu nhìn ngả ba sông Nhựt Tảo qua những cây hoang um sùm. Dòng sông trong vắt và êm đềm, thỉnh thoảng một chiếc phà nhỏ chở khách ngang qua. Trời đã chập choạng và một tiếng chim chợt kêu. Ở quán nước sát mé sông, tôi hỏi bà chủ quán:

- Chị ạ, chắc tấm hình ông Nguyễn Trung Trực người ta thờ tạm hả chị, chờ khi cái đền lớn xây xong?

- Đâu có, cái miếu nhỏ đó hổng phải thờ ông Nguyễn Trung Trực. Mấy bữa trước có một bà dưới Rạch Giá đem hình ổng lên để thờ ké trong miếu đó!

Người ở rạch Giá đem ảnh lên thì đúng rồi. Ở Rạch Giá, đền ông Nguyễn rất trang nghiêm (người dân kiêng tên, chỉ gọi là ông Nguyễn). Từ đền ông Nguyễn trên đường Nguyễn Công Trứ thuộc thành phố Rạch Giá nhìn ra có mặt sông, phía phải là cửa biển có rất nhiều tàu đánh cá neo đậu. Trước sân đền có tượng ông đang tuốt kiếm. (Trước đây pho tượng này màu đen, bằng đồng, trước đây dựng trước chợ Rạch Giá, không hiểu sao bây giờ người ta trùng tu thành màu đỏ nâu.)

Tôi chưa từng thấy một ngôi đền nào thờ phụng trang nghiêm như ngồi đền này. Điện chính gồm năm gian, mỗi gian có hình và hương án, các hàng giá dựng cờ và gươm giáo, hai bên đều có lộng đỏ, hạc chầu, và câu đối thếp vàng bằng chữ Hán, riêng gian trong cùng có ảnh thờ lớn nhất, hai bên có hai cây đèn cầy cao 3.25 mét, nặng 360 ký. Hương đèn thắp sáng dù không phải ngày lễ, không khí toát lên một vẻ trang nghiêm kính cẩn.

Thờ ké trong miếu! Phải, cái bàn thờ ông thấp và bé hơn bàn thờ năm tượng ngũ hành nhiều lần, bên di ảnh ông có một chai nhựa khô nước (hay rượu), trước có một con ngựa nhỏ màu trắng. Có lẽ cái bệ thờ này để thờ bạch mã – như trong nhiều miếu ở miền quê thường có thờ “Bạch Mã Thái Giám” tức con ngựa trắng để đỡ chân cho thành hoàng của làng xã – rồi người đàn bà Rạch Giá tội nghiệp kia đem hình ông lên không biết đặt đâu nên để ké vào bệ thờ con ngựa trắng, trước hình ông là một bình hoa giả, hai chén nước nhỏ, một bát nhang lạnh.

Vậy thôi!

Đúng một trăm bốn mươi năm trước Nguyễn Trung Trực đánh trận cuối, đuổi sạch Tây ra khỏi Rạch Giá. Và cũng 140 năm trước ông bị Tây xử chém ở chợ Rạch Giá. Lúc đó ông 30 tuổi.

Chiều đã vàng rịm, trên ngã ba sông có một cánh bèo trôi lẳng lạnh.

Ba tuần sau tôi lại đi Nhật Tảo. Lần trước là tháng Chạp trước tết, lần này là mồng 5 tết Kỷ Sửu. Sáng sớm rủ một người bạn ở nước ngoài về “xuống Long An uống cà phê rồi trưa về”, thì nhận được tin nhắn một chữ ngắn ngủi: “mèn”. Coi như là một lời từ chối ớn lạnh, thôi thì xách xe lên đường solo.

Tới ngã tư Tân Trụ cách Sài Gòn non 50 cây số, thay vì rẻ trái vô Nhật Tảo tôi rẻ phải theo bảng chỉ đường đi hướng Thủ Thừa. Trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười, ông Nguyễn Hiến Lê vẽ bản đồ giải thích thủy triều lên xuống ở miền Tây khác ngoài Bắc như thế nào, rồi phán: “Thủy triều ở biển tiến vào sông Vàm Cỏ Lớn rồi chia làm hai luồng vào hai sông Vàm Cỏ Đông và Tây, sau cùng một mặt đổ vào Kinh Mới, một mặt đổ vào Thủ Thừa: Thủ Thừa thành một chỗ giáp nước.”

Theo ông chỗ giáp nước là nơi ghe thuyền neo đậu chờ đổi con nước nên thường có chợ. Cái khám phá này thực thú vị nên khi chạy về hướng Thủ Thừa, tôi cứ tẩn mẩn nghĩ không biết con đường trơn láng này ngày xưa Nguyễn Hiến Lê đã đi qua chưa. Ai dè con đường láng này chỉ có cái bề ngoài, mới chạy một khúc thì hết đường nhựa mà toàn đường đất bụi mù mịt. Nhìn con đường lồi lõm thấy rất nản, hai bên lúa vừa lên nhưng đường đi càng lúc càng nhỏ và xấu.

Nông dân kéo ống nước từ ruộng này băng qua đường đến ruộng kìa đổ tèm lem cả mặt khúc đường, xe chạy ngang nước văng lên ướt tới mông. Chạy riết cũng không thấy gì cả trừ đất bụi mù mịt. Không dám mạo hiểm vì xăng sắp hết, tôi quay ngược chạy về hướng Nhật Tảo sau khi đã vào một quán cốc bên đường làm một ly cà phê đá ngon tuyệt trần ai. (Điềm) may hơn nữa là đang ngồi thì một trái sung rơi vô túi áo, đầu năm xuất hành mà được sung rụng kiểu này chắc năm này khấm khá rồi.

Con đường đất nhỏ cũng như ba tuần trước, chỉ khác bây giờ đã gần trưa. Tôi chạy một vèo tới Vàm Nhật Tảo, vô thẳng ngôi đền ông Nguyễn Trung Trực đang xây cất dở dang, chụp một vài tấm hình (lần trước không đem theo máy), xong chạy ra cầu treo chờ phà qua Cần Đước.

Đứng trên phà nhìn ngược lên mỏn đất cất đền rất đã vì có thể hình dung nghĩa quân núp trên bờ tràn ngập lau sậy, giữa sông chiếc Espérance neo đậu. Rồi một chiếc ghe đám cưới rề tới trình việc đi rước dâu cho quan Tây. Chú rể khúm núm dâng lễ vật cho quan Tây rồi bất thần, chú rể chính – Nguyễn Trung Trực – rút búa xán lên đầu viên xếp, mọi người hô to “Xáp chiến”!

Đó là buổi trưa 148 năm trước. Nhưng đúng lúc chiếc phà ra giữa sông thì từ hướng Tây, một con tàu sắt nước ngoài rất lớn tiến lại. Chiếc phà đi chậm mà tàu sắt tuy thấy chạy chậm nhưng phút chốc đã sát bên hông, nó né chiếc phà nhỏ và ngẫu nhiên cái mũi tàu khồng lồ của nó in hình song song với ngôi đền ông Nguyễn Trung Trực ở bờ bên kia. Bên hông tàu có hàng chữ Vitamin Gas, còn trước bong tàu có một hàng chữ Trung Hoa. Ngày xưa là tàu Espérance (Hy Vọng), bây giờ là Vitamin Gas (trên tàu chở một thùng phuy khí hóa lỏng (LPG) rất to). Nói có bến phà làm chứng lỡ dại mà con tàu này… tự nhiên bốc cháy thì cũng đã lắm chứ chẳng phải chơi!
 Từ Khanh

Việt Nam Cộng Hoà :Thấm thoát mà đã 56 năm(1956-2012)

Nhân ngày ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 26-10-1956 nghĩ về:
Tập tin:Huy hiệu Tổng thống Ngô Đình Diệm.png
SỰ HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HOÀ VÀ CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI VIỆT NAM
Thiện Ý
· Thấm thoát mà đã 56 năm(1956-2012), nền cộng hoà được thiết lập tại Việt Nam với bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956 tại Miền Nam Việt Nam, đối kháng với chế độ độc tài toàn trị cộng sản Bắc Việt mang bảng hiệu giả mạo“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, bảng hiệu mà Hồ Chí Minh đã dựng lên sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 cướp được chính quyền bằng xảo thuật.
· Giảmạo về một nền dân chủ cộng hoà, vì trước sau đều chỉ nhằm mục đích lừa bịp công luận thế giới để tìm hậu thuẫn quốc tế, ru ngủ nhân dân, trong khi thực chất cũng như thực tế vẫn là độc tài cộng sản phản dân chủ.
· Và vì vậy, có thể nói nền cộng hoà thực sự đã chỉ được thiết lập và thực hiện tại Việt Nam kể khi Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà được ban hành ngày 26-10-1956. Vì nền cộng hoà ấy đã là nền tảng cho một chế độ chính trị chủquyền thuộc về toàn dân, một chế độ dân chủ cả hình thức lẫn nội dung, dù phôi thai còn nhiều khuyết tật, song đã phản ánh đúng ý nghĩa của từ ngữ Cộng Hòa và ý nguyện của toàn dân Việt Nam.

Tập tin:Quốc huy Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam.gif
Hôm nay, nhân ngày 26-10- 2010, nghĩ về Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956, chúng tôi muốn gửi bài viết này đến quý độc giả người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, đề cùng tự hào với quá khứ rằng chúng ta đã chọn đúng nền tảng một chế độ chính trị phù hợp với ý nguyện của toàn dân và tin tưởng mãnh liệt ở tương lại, rằng nhất định chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng hoà đã được xác lập 56 năm qua tại Việt Nam.Nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
1.- Bối cảnh hình thành Nền Cộng Hòa tại Việt Nam.
2.- Nền Cộng Hòa và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
3.- Nền Cộng Hòa và các bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa.
4.- Nền Cộng Hòa và các chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Đệ nhất và Đệ Nhị VNCH)



I/- BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HÒA TẠI VIỆT NAM.
Như quý độc giả đã biết, sau Thế Chiến Hai, chủ nghĩa thực dân cũ đã buớc vào thời kỳ suy tàn,xu thế giải thực đã buộc các đế quốc từng có nhiều thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ….. đã phải lần lược trao trả độc lập cho các nước bị trị. Điển hình là một số nước trong vùng như Ấn Độ và Hồi Quốc được Đế Quốc Anh trao trả độc lập năm 1947; Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949; Triều Tiên được Nhật trao trả độc lập năm 1945; Lào và Cao Miên Pháp trao trả độc lập năm 1953. . . Do đó, theo nhận định của nhiều sử gia và học giả nghiên cứu chính trị và lịch sử, thì chẳng cần cuộc kháng chiến gian khổ 10 năm do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) phát động và chủ đạo tiến hành (1945- 1954) làm hao tổn nhiều xương máu nhân dân, tàn phá tài nguyên đất nước vô ích, để có được cái gọi là “Chiến thắng Điện Biên lịch sử”(7-5-1954), thì thực dân Pháp sớm muộn cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam cũng nhưnhiều thuộc địa khác. Chẳng qua Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh này, chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, dùng chiêu bài độc lập dân tộc để chiếm quyền thống trị đất nước, để áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS, theo chủ trương bành trướng lãnh thổ, nhuộm đỏ tòan cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốcĐỏ Nga – Tầu
Thật vậy, trên thực tế, trước áp lực của xu thế giải thực, thực dân Pháp đã phải lùi từng bước, trao trả độc lập từng phần cho Việt Nam, qua các Hiệp Định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948,“đề cử” hòang đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng, và Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sựlãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại như là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 Tổng Thống Pháp Vicent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại đã ký “Thỏa Ước Elysée”.Theo đó, Pháp hứa sẽ xây dựng cho Việt Nam một quân đội quốc gia chống cộng. Đây là khởi điểm của sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, gốm có các binh lính và sĩ quan “Khố Xanh Khố Đỏ”của Pháp chuyển qua. Chính những sĩ quan có xuất thân này, đã nắm vận mệnh quốc gia sau khi đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, cho đến ngày Miền Nam mất vào tay cộng sản (30-4-1975).
Thề rồi, cuối cùng thực dân Pháp cũng đã phải trao trả độc lập hòan tòan cho Việt Nam. NhưngViệt Nam có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của một chiến lược quốc tếmới, với cuộc chiến tranh ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa), nên đất nước bị qua phân theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, do sự áp đặt của các cường quốc, trái với nguyện vọng quốc dân Việt Nam.
Hệ quả là một nửa nước Miền Bắc rơi vào tay đảng Cộng sản Việt Nam, thiết lập “Nền Chuyên Chính Vô Sản” , trên đó xây dựng chế độ độc tài tòan trịcộng sản, với quyền thống trị độc tôn, độc quyền của đảng CSVN, một công cụchiến lược của hai tân đế quốc đỏ Nga-Tầu . Nửa nước Miền Nam Việt Namđược trao trả cho chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam, thiết lập nền Cộng Hòa trên đó xây dựng chế độ tự do dân chủ, tức Việt Nam Cộng Hòa, với sự hổ trợcủa Hoa Kỳ và các đồng minh Thế Giới Tự Do trên nguyên tắc, song trên thực tế đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ chiến lược của mình, một công cụ ngay tình khác với công cụ tri tình cho Nga- Tầu của Cộng đảng VN và chế độ Cộng sản Bắc Việt. Vì đảng Cộng sản Việt Nam vốn là một công cụ bành trướng của cộng sản quốc tế,đứng đầu là Nga Tầu lúc đó, nên đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn để thôn tính Miền Nam Việt Nam.
Chính quyền chính thống quốc gia và nhân dân Miền Nam,trong thế chẳng đặng đừng đã phải làm tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ và Thếgiới tự do, buộc lòng phải thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược đó của Cộng sản Bắc Việt, để bảo vệ phần đất tựdo Miền Nam, trong ý hướng giữ vững độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc, để vừa chiến đấu chống cuộc xâm lăng của CSBV, vừa nỗ lực xây dựng thành công chế độdân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, tiến tới thống nhất đất nước, không phải bằng bạo lực quân sự, mà bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và nền kinh tế phát triển phồn vinh ở Miền Nam, trên chế độ độc tài tòan trị CS và nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở Miền Bắc . Nghĩa là Việt quốc chúng ta, muốn tiến tới tình trạng như Nam Bắc Hàn hiện nay, mà sự thống nhất Hàn Quốc một cách hòa bình, với sự ưu thắng của Nam Hàn dân chủ phồn vinh trên Bắc Hàn độc tài cộng sản nghèo đói và lạc hậu, chỉ còn là vấn đề thời gian.
Chính vì mục tiêu và lý tưởng vừa nêu, Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, trên đó xây dựng chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa thay thếcho chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại nhiều thế kỷ trước đó tại Việt Nam.
II/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM:
Theo tự điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh, Cộng Hòa (Republic:Cộng đồng, dân chúng)có ý nghĩa như là nền tảng cho một chế độ dân chủ, “Chế độ Cộng Hòa”(Repubican Regime)với “Chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm được coi là người khai sáng Nền Cộng Hòa như thế tại Việt Nam.
Sử liệu cận đại Việt Nam ghi nhận các sự kiện có ý nghĩa sau đây: ngày 7 tháng 7 năm 1954, chí sĩ Ngô Đình Diệm đang sống lưu vong ở hải ngọai đã về nước chấp chánh theo sự ủy thác của Vua Bảo Đại trong ngôi vị Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, để chống cộng và nếu cần chống cả thực dân và phong kiến để bảo vệ tổ quốc (Như hồi ký của cựu hòang Bảo Đại đã viết). Vì xu thế thời đại, Thủ Tướng Diệm không thể duy trì thể chế quân chủ chuyên chế, nên với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đứng đầu phe Thế giới tự do (Thời kỳ chiến tranh ý thức hệ) 18đòan thể chính trị (Hội Đồng Cách Mạng Quốc gia), họp tại Dinh Độc Lập đã quyết định thiết lập chế độ Cộng Hòa, theo xu thế thời đại, đáp ứng ý nguyện của quốc dân, qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nền quân chủ chuyên chế Việt Nam thiết lập nhiều thế kỷ trước đó, tôn vinh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Để có căn bản pháp lý, ngày 26-10-1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành HiếnƯớc Tạm Thời Số 1, và ngày 23 tháng 1 năm 1956 đã ký ban hành Dụ Số 8 thiết lập Quốc Hội Lập Hiếnđịnh hướng cho chế độ Cộng Hòa sẽ được xác lập. Trên căn bản các văn kiện pháp lý hành chánh này, nhân dân Miền Nam lần đầu tiên được cầm lá phiếu với tư cách là người dân một nước độc lập, bầu người đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến để thay mặt mình sọan thảo ra một bản hiến pháp dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa đầu tiên. Trong vòng 9 tháng sau, Quốc hội do dân bầu này đã hòan thành bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa và ngày 26 tháng 10 năm 1956,Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ký ban hành bản hiến pháp đầu tiên làm căn bản thíêt lập các định chế quốc gia, với tam quyền phân lập và cơ cấu của một chính quyền cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân.
III/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Như trên đã trình bầy Nền Cộng Hòa là nền tảng của một chế độ chính trị với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, tương tự quan niệm dân chủ PhươngĐông “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đều lấy “Dân làm gốc”. Tiếc rằng, quan niệm dân chủ này chỉ có trong sách vở trong chế độ “Quân chủ chuyên chế”, thực tế Vua vẫn là tối thượng, chủ quyền quốc gia thuộc về vua, chứ không phải của tòan dân. Cũng như trong “nền chuyên chính vô sản” chủ quyền quốc gia thuộc về đảng cộng sản, quyền “Làm chủ của nhân dân” chì là bánh vẽ.
Vì vậy muốn chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, cần xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa. Để thiếtđịnh chế độ Dân Chủ Cộng Hòa này, cẩn có một bản Hiến Pháp, một văn kiện pháp lý căn bản qui định rõ quyền lợi nghĩa vụ người dân và chính quyền, trong tương quan với các cơ quan công quyền, với các viên chức được người dân ủy quyền qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử tự do, cử người đại diện cho dân, làm nhiệm vụcông bộc ăn lương của nhân dân, điều hành guồng máy công quyền quốc gia, từthượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, theo ý nguyện của người dân, sao cho xã hội ổn định, phát triển, quốc gia phú cường, mọi tầng lớp nhân dân có điều kiện phát triển đồng đều, “cộng đồng đồng tiến”, có đời sống sống ấm no, tựdo mưu cầu hạnh phuc riêng (cá nhân) cũng như chung (tập thể).
Trong ý hướng trên, bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên được sọan thảo và ban hành ngày 26-10-1956 và bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa thứ hai đuơc ban hành ngày 1-4-1967. Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956 được sọan thảo dựa trên hai nền tảng triết lý và chính trị.Nền tảng triết lý là triết học duy tâm, lấy con nguời là trung tâm, là chủ thểxã hội và là đối tuợng phục vụ của xã hội.Nền tảng chính trị là chủ nghĩa nhân vị, trên đó thiệt lập chế độ cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân,các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ . Chủ đích của các nhà lập hiến khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nề tảng cho chế độ Cộng Hòa để soạn thảo ra Hiến Pháp hữu thần Việt Nam Cộng Hòa là để đối kháng với triết học duy vật và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, là nền tảng hiến pháp của chế độ vô thần Cộng sản Bắc Việt, vốn coi con nguời là sản phẩm, là công cụ của xã hội, cá nhân phải phục vụ xã hội và quyền lợi cá nhân phải hy sinh cho quyền lợi tập thể (thực chất cũng như thực tế là hy sinh cho quyền lợi của một tập đòan thống trị là Đảng CSVN), trong một xã hội mà những nguời cộng sản muốn thiết lập, đó là xã hội “Xã hội chủ nghia”, giai đọan đầu của xã hội cộng sản.
Tham vọng của các nhà lập hiến Việt Nam khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa đối kháng với chủ nghĩa cộng sản Bắc Việt làm nền tảng cho chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (giảhiệu) như là một võ khí lý luận để đánh bại đối phương về mặt ý thức hệ,song song với nỗ lực quân sự đập tan cuồng vọng xâm lăng Miền Nam của Cộng sản Bắc Việt lúc bấy giờ, và nỗ lực xây dựng phát triển chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn hóa, xã hội để chứng tỏ tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa dân chủ ở Miền Nam trên chế độ độc tài đảng trị cộng sản ở Miền Bắc.
Với võ khí lý luận là chủ nghĩa Nhân Vị và chế độ Cộng Hòa, các nhà lập hiến Việt Nam Cộng Hòa tin rằng, nguời dân sẽ thấy đuợc hai con đuờng “Nhân vị chủ nghĩa” “Cộng sản chủ nghia” dẫn đến mục tiếu tối hậu hòan tòan trái nguợc: Chủ nghia nhân vị Xây dựng một xã hội vì con nguời,tôn trọng phẩm giá con nguời và xã hội phải phục vụ lợi íchtối thuợng của con nguời”. Trong khi chủ nghĩa cộng sảnxây dựng một xã hội Vì đảng cộng sản, nô dịch và xã hội hóa con nguời, biến con nguời thành công cụ phục vụ xã hội(thực chất là phụng vụ giai cấp thống trị), nhân vị bịhạ thấp ngang tầm lòai vật”(theo lý luận và thực hành Duy vật biện chứng của CS).
Đồng thời, chủ nghĩa Nhân Vị sẽ là nền tảng cho chế độ chính trị Cộng Hòa, để bảo đảm được nhân vị và các nhân quyền căn bản của người dân. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống cộng bảo vệ nền Cộng Hòa và chế độ dân chủ VNCH, chủ nghĩa Nhân Vị giúp nguời dân phân biệt đuợc mục tiêu và lý tuởng tranh đấu tối hậu của nguời Việt Quốc gia là thiết lập cho kỳ đuợc một chế độdân chủ cộng hòa là vì nhân vị và phẩm giá con người, vì hạnh phúc của nhân dân, quyền dân chủ dân sinh và nhân quyền được bảo đảm với tam quyền phân lập, trái nguợc với chế độ độc tài tòan trị cộng sản độc tài, độc tôn và độc quyền thống trị của đảng CSVN, vì quyền lợi của giai cấp thống trị là các cán bộ đảng viên CS.
Chính vì vậy mà chủ thuyết nhân vị đuợc xác tín qua phần “Mở Đầu” của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 như sau:
Tin tuởng ở sự truờng tồn của nền văn minh Việt Nam, cần có trên nền tảng duy linh mà tòan dân đều có nhiệm vụ phát huy;
“Tin tuởng ở giá trị siêu việt của con nguời mà sự phát triển tự do. Điều hòa vàđầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi họat động quốc gia. . .”.
Nhưvậy, chính trên nền tảng chủ nghĩa Nhân Vị, Quốc hội Lập Hiến đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam đã sọan ra bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên,(hòan tòan khác với cái gọi là Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng sản Bắc việt “ngụy cộng hòa”),và đã đuợc Thủ Tướng Ngô Đinh Diệm, sau trở thành vị Tổng Thống đầu tiên chế độViệt Nam Cộng Hòa, đã ký ban hành ngày 26-10-1956.
Nội dung Bản Hiến Pháp này,ngòai phần“Mở Đầu”, gồm 10 Thiên và 98 Điều thể hiện rõ Nguyên tắc phân quyền: Thiên thứnhất quy định những “Điều khỏan căn bản”; Thiên Thứ Hai: “Quyền lợi và Nhiệm vụnguời dân”; Thiên thứ ba:“Tổng Thống”; Thiên thứ tư: “Quốc Hội”; Thiên thứ năm“Thẩm Phán”; Thiên Thứ sáu “Đặc biệt Pháp Viện”; Thiên Thứ Bẩy “Hội ĐồngKinh TếQuốc gia”; Thiên thứ tám “Viện Bảo Hiến”; Thiên Thứ Chín “Sửa Đổi Hiến Pháp” và Thiên Thứ muời “Các Điều Khỏan Chung”.
Cuộc đảo chánh quân sự ngày 1-11-1963, với sự trợ giúp của ngọai bang đãđưa đến cái chết thảm thương cho Cố Tổng Thống Ngô Đinh Diệm, nguời có công khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 bị hủy bỏ cùng với sự cáo chung nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.
Sau những năm bất ổn chính trị, xã hội xáo trộn do các phe phái chính trị quân sự tranh giành quyền lực (1963-1967) Bản Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa đã được Quốc Hội Lập Hiến thông quan ngày 18-3-1967 và đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong tư cách Chủ Tịch Ủy Ban LãnhĐạo Quốc gia ban hành ngày 1-4-1967. Cuộc bầu cử ngày 3-9-1967 đãđưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, là vị Tổng Thống thứ hai của nền Cộng Hòa Việt Nam.
Ngày 5-4-1975,truớc áp lực của ngọai bang và biến chuyển của tình thế, Tổng Thống Thiệu đã phải từ chức và trao quyền cho Phó Thổng Thống Trần Văn Hương theo qui định của Hiến Pháp. Chưa đầy một tháng sau, ngày 28-4-1975, Tổng Thống Trần Văn Huong, vị Tổng Thống thứ ba và cũng là vị Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa theo Hiến Pháp, do áp lực của tình thế, đã lại phải từ chức để trao quyền ngoài dự liệu của Hiến Pháp cho Tướng Dương Văn Minh làm nhiệm vụ khai tử chế độ đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa theo sự đạo diễn, sắp xếp của ngọai bang, như ông ta đã từng theo lệnh ngọai bang cầm đầu nhóm đảo chánh phá đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Diệm, người khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam 12 năm trước đó (1963-1975)
Nếu so sánh tổng quát hai bản Hiến Pháp chế đô đệ nhất và đệnhị Việt Nam Cộng Hòa, cả hai có nền tảng chung là Cộng Hòa, cùng vận dụng nguyên tắc phân quyền theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, trong việc thiết lập và điều hành các định chế quốc gia và guống máy công quyền, nhằm thểhiện “Quyền lực quốc gia thuộc về tòan dân” và bảo đảm các nhân quyền và dân quyền cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo vệ và hành xử.
Nhưng khác là Hiến pháp 26-10-1956 dựa trên hai nền tảng chủ nghĩa nhân vị và học thuyết dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa, với nguyên tắc phân quyền,còn bản Hiến Pháp 1-4-1967, chỉ dựa trên nền tảng chủ thuyết chính trị dân chủPhương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa.
Nếu so sánh nội dung thì Hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967 hòan chỉnh hơn Hiến Pháp 26-10- 1956, với các định chế quốc gia và cơ cấu tổ chức chính quyền có nhiều điểm giống Hiến Pháp Hoa Kỳ nên có tính dân chủ cao hơn, như phân định rõ Tổng Thống nắm quyền hành pháp, Quốc Hội lưỡng viện (Thượng viện và Hạ viện)lập pháp và Tối cao Pháp Viện nắm quyền tưpháp, thể hiện rõ quyền lực quân bình của nguyên tắc tam quyền phân lập. Trong khi, Hiến pháp 26-10-1956, chỉ có quyền hành pháp mạnh (Tổng Thống) và lập pháp yếu(Quốc Hội) là thể hiện qua cơ chế, còn tư pháp chỉ quy định như một đòan thể (Thẩm phán đoàn) không có tính cơ cấu mạnh. Thế nhưng, việc vận dụng Hiến Pháp vào thực tế thì có lẽ, Hiến Pháp VNCH 26-10-1956 có thể là phù hợp hơn trong bối cảnh đất nước đang có chíến tranh lúc bấy giờ(cần một hành pháp mạnh), với trình độ ý thức dân chủ người dân chưa cao và đối phương CS có thể lợi dụng quyền dân chủ rộng rãi để lũng đọan chính quyền, quân đội và các lực lương an ninh của VNCH, như thực tế cho thấy.
IV/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Như vậy nền cộng hòa thể hiện rõ mục tiêu chống cộng bấy lâu nay của người Việt Quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản là để nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu là xây dựng một chế độ dân chủ đích thực, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, đánh dấu bằng sự ra đời của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956. Chế độ đó là chế độ đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp nhau (1956-1975).
Ngày 30-4-1975, cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973 , tức vi phạm luật pháp quốc tế, trước sự đồng lõa, phủi tay của đồng minh Hoa kỳ, và sự làm ngơ của quốc tế, cụ thể là các cường quốc đế quốc đóng vai trò trung tâm quyền lực thế giới bảo đảm việc thực thi Hiệp Định Paris, thông qua tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn là công cụ của họ, do họ dựng lên và vì quyền lợi ưu tiên của họ, nhân danh nền hòa bình thế giới áp chế các dân tộc nhược tiểu.
Sau đây là nguyên văn Điều 15, Chương V. “Vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam”(Bản tiếng Việt) của Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973:
Điều 15:Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngòai. Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Trong khi chờ đợi thống nhất:
a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ thuyến thứ mười bẩy chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trongđọan 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư.
b) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽtôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời..
c) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽsớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.
d) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽ khôngtham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngòai có căn cứ quân sự, quân đội, cốvấn
quânsự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một nghìn chínm trăm năm mươi tư về Việt Nam quy định.”
Đọc Điều 15 trên đây, người ta không khỏi liên tưởng đến việc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng, một lãnh tụ Cộng Đảng Việt Nam lúc đó đang làm nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, vào thời điểm Chính quyền Ngô Đình Diệm bị áp lực nặng nề nhất của Hoa Kỳ (62-63), muốn mưu tìm một giải pháp thương lượng hòa bình giữa người Việt (Quốc gia) và người Việt (Cộng sản). Việc làm này có thể chỉlà động tác giả của ông Nhu như môt thủ thuật chính trị nhằm cảnh cáo Hoa Kỳ rằng nếu ép chúng tôi quá, chúng tôi sẽtrực tiếp nói chuyện với đối phương, trên tinh thần người Việt nói chuyện với người Việt để chấm dứt xung đột,(bằng sự duy trì nguyên trang qua phân lãnh thổ tạm thời, với hai chế độ trên hai miền hiệp thương tương tự như quy định của Điều 15 Hiệp Định Paris vừa nêu, chứkhông nhất thiết phải “Dâng Miền Nam cho CSBV” như sự gán ghép chủ quan để kết tội và làm lý cớ lật đổ của một số người có định kiến với cá nhân TT. Diệm và chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa) . Đây có thể coi là một viễn kiến có giá trị thực tiễn, tương tự như ý hướng quy định trên của bản Hiệp Định Geneve 1954. Nhưng việc làm này đã là quá sớm đối với Hoa Kỳ, nên đã bị Hoa Kỳ kết án và làm một trong những lý cớ xúi dục nhóm Tướng tá làm cuộc đảo chánh lật đổ và sát hại Tổng Thống Diệm và bàođệ Ngô Đình Nhu như mọi người đã biết.
Vì lúc đó người Mỹ chưa muốn chấm dứt mà muốn mở rộng và trực tiếp tham chiến và chỉ đạo chiến tranh, để những nhà tưbản quân sự, quốc phòng Mỹ có thêm thời gian tiêu thụ cho hết những vũ khí đạn dược còn tồn đọng sau Chiến tranh Thế Giới II và cần môi trường thử nghiệm thêm các lọai vũ khí mới. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người tha thiết và cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, không muốn chiến tranh lan rộng có hại cho đất nước, không muốn đối phương xuyên tác chính nghĩa chống cộng của chính quyền quốc gia, song đã là bức cản trở mà Hoa Kỳ cần phải lọai trừ bằng mọi cách, với những lý cơ giả tạo, như các tài liệu được giải mât sau này cho thấy.
Như thế là Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bịcưỡng tử về mặt thực tế, song chúng tôi cho rằng vẫn tồn tại về mặt pháp lý căn cứ theo Điều 15 và nhiều điều khỏan khác trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chế độ Việt Nam Công Hòa chỉkhông tồn tại trên đất nước Việt Nam trong tư thế một quốc gia với đầy đủ ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, chính quyền và dân chúng, song vẫn tồn tại về mặt pháp lý, với thực tế là hầu hết bộ phận đầu não chính quyền, và một số khá đông (nay ước chừng 3-4 triệu) các thế hệ quân, dân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã kịp di tản ra nước ngòai trước ngày 30-4-1975, hay chậy trốn chế độ CS sau này, trong thân phận lưu vong, vẫn không bỏ cuộc, đã quy tụ lại tại hải ngọai tiếp tục cuộc chiến đấu chống cộng, với cùng mục tiêu đánh đổ chế độ độc tài cộng sản, thànhđạt mục tiêu tối hậu là tái lập chế độ Dân Chủ trên nền Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam từ năm 1956;và hiện vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam, trong lòng hơn 85 triệu nhân dân Việt Nam với khát vọng tự do dân chủ, vì các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, nhân quyền đã và đang bị “nền chuyên chính vô sản” với chế độ“Độc tài tòan trị cộng sản” cướp đọat và chà đạp. Khát vọng này đã và đang được nhân dân trong nước thể hiện ngày một lan rộng và mạnh mẽ qua các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền, tức đòi tái lập nền Cộng Hòa đã được xác lập trước đây,bởi chính quyền Quốc gia chính danh,kế thừa lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân; trái với chính quyền cộng sản ngụy danh, kếthừa lịch sử bành trướng quyền thống trị thế giới của cộng sản quốc tế, phản dân hại nước, như mọi người đều biết qua việc làm của họ, kề từkhi những môn đồ đầu tiên, đứng đầu là Hồ Chí Minh tình nguyện làm môn đồ của cộng sản quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tụ đảng từ ngày 3-2-1930 làm công cụ thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản để mở mang bờ cõi cho các tân đếquốc đỏ Nga-Tầu, phá họai tòan diện đất nước, để lại hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt, lâu dài cho dân tộc Việt Nam, mà mai hậu sẽ mất nhiều thời gian và công sức dọn dẹp, tái tạo.
KẾT LUẬN:
Tóm lại, như vậy là cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Miền Nam bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại, song chỉ là thất bại tạm thời, có tính giai đọan. Vì sau đó và cho đến nay, cuộc chiến đấu chống cộng sản độc tài để tái lập chế độ cộng hòa trên cả nuớc vẫn đang tiếp diễn. Đây là giai đọan chống cộng cuối cùng vì dân chủ, cho nền cộng hòa Việt Nam của nguời Việt Quốc gia hay là nguời Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngòai nuớc. Thực tế đã và đang ngày một khẳngđịnh chính nghĩa “Cộng Hòa”(Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân) tất thắng ngụy nghĩa “Cộng sản” (Chủ quyền quốc gia thuộc về đảng CSVN)
Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thiết lập đuợc nền “ĐệTam Cộng Hòa” trên tòan cõi Việt Nam trong một tương lai không xa, với một Bản Hiến Pháp Cộng Hòa “thể hiện đuợc nguyện vọng của nhân dân (Việt Nam), từMũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”, như từng đuợc khẳngđịnh trong lời “Mở Đầu” của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa tiên khởi ngày 26-10- 1956.
Năm mươi sáu năm qua, mục tiêu chống cộng để thực hiện lý tướng thiết lập cho kỳ được môt chế độ dân chủ cộng hòa trên quê hương đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta vẫn kiên định. Chúng ta tạm thời thất bại trong giai đọan chiến đấu bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh Quốc-Công vừa qua (1954-1975), song không chỉ có niềm tin mãnh liệt mà cả thực tế đã và đang ngày một khẳng định: Chân lý tất thắng, chính nghĩa quốc gia tất thắng ngụy nghĩa cộng sản. Nền cộng hòa nhất định sẽ thay thế nền độc tài chuyên chính cộng sản hiện nay tạiViệt Nam trong tương lai không xa.
Kỷ niệm 56 năm ngày thành lập nền Cộng Hòa Việt Nam vào thời điểm này, ngòai mục đích tưởng niệm và ghi ơn những người đã có công thiết lập nền cộng hòa Việt Nam, như Cố TổngThống Ngô Đình Diệm và các dân biểu Quốc Hội Lập Hiền đã sọan thảo ra bản Hiến Pháp Việt Nam Công Hòa ngày 26-10-1956, chúng ta còn tưởng nhớ và ghi ơn hai vịTổng Thống kế nhiệm Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương ( dù các vị Tổng Thống ai cũng có những khiếm khuyết sai lầm về lãnh đạo khi còn tại chúc, song đều một lòng thực tâm bảo vệnền Cộng Hòa Việt Nam), cũng như các Tướng lãnh, quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu hy sinh để bảo vệnền Cộng Hòa non trẻ ấy. Đồng thời, cũng là dịp nhắc nhở chúng ta về mục tiếu chống cộng để thành đạt lý tưởng xây dựng môt chế độ dân chủ cộng hòa đích thực trên quê hương Việt Nam hậu cộng sản, chứ không nhằm thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng một chế độ độc tài không cộng sản.
Vì thực tế, đã có những biểu hiện cho thấy một số cá nhân và một số chính đảng quốc gia, đòan thể chống cộng ở Hải ngọai nói chung, Houston nói riêng, dường như đã coi nhẹ mục tiêu tối hậu này của sự nghệp chống cộng. Do đó đã có những chủ trương, họat động và cách ứng xử thiếu khôn ngoan, có tính “Độc tài không cộng sản” với những chiến hữu và đồng hương cùng bè quốc gia dân tộc, phái tự do dân chủ cộng hòa, có chung mục tiêu chống cộng với mình, chỉ vì khác quan điểm và phương thức chống cộng.
Thực tế điều này đã tác hại rất lớn đến sức mạnh đòan kết, niềm tin tất thắng vào “Chính nghĩa Quốc gia” của quần chúng và các lực lượng lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải ngọai cũng như trong nước. Do đó cần phải được chấn chính kịp thời,nếu chúng ta, những cá nhân hay đòan thểmuốn chống cộng vì dân chủ và chống cộng để thắng cộng, chứ không phải chống cộng để lấy tiếng, chống cộng mà chơi, chống cộng chỉ để cho vơi bớt thù hận, dù cộng sản thực tế quả đã gây và để lại quá nhiều thù hận trong lòng mỗi người Việt chúng ta. Nhưng chúng ta không chống cộng vì thù hận mà vì lòng yêu nước muốn đem lại những điều tốt đẹp cho Đất nước, cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự cho quốc dân Việt Nam thế hệ hiện tại cũng như tương lai, và cho sự trường tồn của Dân Tộc Việt.
Thiện Ý
Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2011.
Hiệu đính ngày 26-10-2012

Bài Xem Nhiều