We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 1 November 2012

LÂU ĐÀI MA.


     
Mùa Đông năm nay Đại bỗng có ý định thay đỗi không khí bằng cách rời bỏ tiểu bang New York về miền nắng ấm Cali đón Noel một lần cho biết. Bà cô của chàng và cũng là người vú nuôi dưỡng chàng từ tấm bé cho nên chàng thương và kính nể bà chẳng khác gì mẹ ruột của chàng. Đã lâu lắm rồi, chắc cũng có đến 4 năm rồi chàng chưa gặp lại bà kể từ khi hai vợ chồng bà dời về San Jose ở với con gái. Để dành cho bà một sự ngạc nhiên bất ngờ, chàng không báo trước mà chỉ nhờ mẹ điện thoại dò hỏi khéo léo để biết chắc bà có ở nhà vào dịp Christmas và New Year là được rồi.
Trời San Jose hôm nay mưa mù mịt, máy bay bị “delay” trễ hai tiếng đồng hồ, thay vì 10 giờ rưỡi máy bay đáp xuống thì phải đến quá nửa đêm chàng mới được chui ra khỏi máy bay. Sau khi làm xong thủ tục thuê mướn, Đại lái chiếc Toyota Camry mới toanh đời 2012 ra khỏi phi trường San Jose trực chỉ về hướng đồi núi chùa Kim Sơn. Mưa lớn quá! Đại chẳng nhìn thấy gì hết, khó khăn lắm chàng mới tìm được con đường rẻ vào núi, đường đồi ngoằn nghoèo lượn khúc qua lại. Tuy là đã quá nửa đêm lại đang mưa, nhưng chàng cũng nhận xét được khá giống đường đèo Đà Lạt của VN. Chàng lái xe thật chậm, trên tay cầm lăm lăm tờ giấy hướng dẫn cũ xì do chính tay con gái của bà cô đã vẽ cách đây hơn 4 năm khi hộ tống hai vợ chồng bà cô rời khỏi New York. Nhưng lúc đó chàng đang bận công tác ở ngoài nước Mỹ nên đứa em trai kế phải đích thân làm công việc này.
Đây rồi! Đây rồi! Số 524, may mà bảng số nhà cắm ngay ngoài vệ đường cho nên chỉ cần để ý lanh mắt một chút khi đèn xe hơi quét qua một cái là đọc thấy ngay. Chàng nhanh tay bẻ lái quẹo ngay vào con đường kế bên bảng số nhà. Con đường thật lạ lùng, ngoằn nghoèo tối om, cây cối um tùm như đi vào hang động. Chàng có cảm tưởng con đường này hình như bỏ hoang đã lâu không người qua lại, xe chàng lái tới đâu, bầy dơi bị động vỗ cánh bay lung tung tới đó. Một lát sau chàng dừng lại trước một cánh cổng rào bằng song sắt đen thật cao và rộng như cánh cỗng dinh Độc Lập của nước VN ngày xưa. Cánh cổng không có khoá, tuy trời đất đang nổi cơn thịnh nộ, mưa gió sấm chớp ầm ì cũng không làm nó mở toang hoác, mà chỉ hở ra độ một gang tay đang sập ra khép vào dưới màn đêm mưa lất phất trông thật rùng rợn như những phim kinh dị của “Halloween” vào cuối tháng mười mỗi năm. Ngôi biệt thự trông đồ xộ, to lớn nhưng không được tân thời lắm! Nhìn lối kiến trúc của ngôi nhà, Đại đoán có lẽ được xây cất chắc cũng trên nửa thế kỷ là ít. Ngôi nhà to lớn như thế này mà không có lấy một bóng đèn đường ngoài những tia chớp của thiên lôi trên trời, thỉnh thoảng nhá nhá sáng lên kèm theo những tiếng nổ đùng đùng như dọa nạt hăm he Đại đừng có dại dột mà bước vào.
Đại ngồi trong xe đưa mắt quan sát cảnh vật chung quanh có đến hai phút rồi mới tắt máy xe. Chàng ngần ngại vô cùng khi phải bước xuống xe, lội bộ sâu vào sau cánh cổng sắt đen một khúc nữa mới tới được chính điện của ngôi biệt thự tối om, nằm chênh vênh trên cao trước mặt chàng trông lạnh lùng đến rợn người dưới trời vừa mưa vừa gió như thế này. Nhưng chẳng lẽ đã đến nơi rồi mà không vào? Thật ra chàng cũng có thể tự đẩy cánh cổng sắt sang một bên vì cổng không có gài rồi lái xe vào ngay trước cửa nhà mới bước xuống cũng được, nhưng đã tính làm “surprise” cho bà cô nên chàng không muốn ồn ào, đành phải bước xuống xe đi bộ đến gõ cửa vậy.
Cánh cổng sắt nặng nề rít lên ken két khi Đại đẩy nó lớn hơn một chút để lách mình vào trong. Cho Đại có cái cảm tưởng hình như đã từ lâu nó không được xử dụng mở ra khép vào cho nên mới nặng nề và rỉ sét đến như vậy, hay là còn có một lối đi nào khác mà Đại không biết? Còn đang suy nghĩ vẩn vơ, một đàn dơi không hiểu ở đâu kêu lên en ét bay sà ngay trên đầu Đại, hốt hoảng Đại ngồi sụp xuống buông rơi cái túi xách cá nhân, kéo cao cổ áo che lấy đầu. Đàn dơi xà quần ồn ào một lúc rồi bay lên cao mất hút vào đêm tối, trả lại sự yên tĩnh như lúc đầu. Mưa không lớn lắm! Chỉ còn lại tiếng gió rít quật vùn vụt ngả nghiêng trên đầu cây ngọn cỏ khiến cảnh vật càng thêm ma quái. Đại đứng dậy, kéo cao cổ áo lên, đeo cái túi xách lên vai, thọc sâu hai tay vào túi áo “manteau” chạy nhanh về phía ngôi biệt thự, đầu óc chàng thật là hoang mang không hiểu tại sao con gái bà cô lại có thể ở chỗ hoang dã, kinh dị đến như vầy?
Gõ cửa chán rồi đến nhấn chuông cũng chẳng có động tịnh gì, bên trong lại tối om khiến Đại không thể đoán được chuyện gì. Còn đang tiến thoái lưỡng nan, Đại có cảm tưởng có một luồng ánh sáng đang lớn dần phía sau lưng chàng. Đại quay lại chờ đợi, thì ra luồng ánh sáng từ phía bên hông nhà quẹo ra phiá trước rồi từ từ dừng lại trước mặt chàng. Hình như là một bà lão, tay cầm một ngọn đèn bão, có lẽ chạy bằng pin. Bởi ánh sáng không đủ để cho chàng nhận diện được già hay trẻ, chàng đoán được nhờ cách ăn mặc, dáng đi lom khom chậm chạp, và giọng nói đàn bà mà thôi. Không đợi cho chàng lên tiếng hỏi, người đàn bà nói:
- Đi theo tôi.
Đại líu ríu theo sau lưng người đàn bà vừa đi vừa liếc ngang liếc dọc lung tung để quan sát. Quái lạ! Nhà có người ở mà như nhà bỏ hoang không người chăm sóc, cây thì trơ cành trụi lá bởi mùa Thu lá rụng không nói làm gì, nhưng lối đi xung quanh nhà lại xào xạc những lá khô như chẳng bao giờ quét dọn. Người đàn bà dừng lại trước cánh cửa gỗ ở phiá sau của căn biệt thự, đưa tay vặn quả nắm bước vào, chàng nhanh nhẹn lách mình bước vào theo. Thì ra đây là nhà bếp và phòng ăn, điểm đặc biệt đầu tiên đập vào mắt Đại là những ngọn nến leo lét đặt khắp nơi và mùi ẩm mốc như đã từ lâu không người sinh hoạt thốc thẳng vào mũi chàng. Người đàn bà tắt cái đèn bão đặt lên bàn, đổi lấy cái đèn ba ngọn nến đang cháy leo lét dẫn Đại lên cầu thang. Đại lặng lẽ quan sát, dường như hiểu ý Đại, người đàn bà lên tiếng:
- Nhà này đã lâu không sài điện nữa rồi, ba ngọn nến này sẽ để lại phòng của cậu, tôi sẽ dẫn cậu đến phòng tạm ngủ, đừng làm ồn đánh thức cô Tư.
Bà lặng lẽ đi trước, Đại cũng âm thầm theo sau, hai cái bóng chập chờn in trên vách bởi ngọn lửa nến ngả nghiêng qua lại trông như bóng ma trơi. Người đàn bà dẫn Đại đi qua một dãy hành lang dài hun hút ở lầu một (dãy hành lang này nằm bên trong tòa lâu đài, hình như được trải thảm đỏ). Tất cả những hàng rào và tay nắm của lan can đều làm bằng đồng hay mạ vàng gì đó Đại không rõ, được chạm trổ rất tinh vi. Đại không ngờ gia đình con gái bà cô lại giàu và “xưa” đến như vậy, nếu không ở vào đêm tối với nhửng ánh sáng thấy mà ghê như thế này thì Đại có cảm tưởng như đang được chiêm ngưỡng những tòa castle của Pháp mà chàng đã có dịp viếng thăm qua một lần. Người đàn bà dẫn chàng quẹo sang một dãy hành lang khác, đến căn phòng cuối cùng, bà mở cửa trao cây đèn cầy ba ngọn cho chàng và nói vắn tắt:
- Bên trong có đầy đủ tiện nghi, khuya rồi! Đừng đi lộn xộn, ngủ ngon.
Đại cầm lấy ngọn đèn cầy lí nhí:
- Cám ơn.
Chàng đóng cửa phòng lại, đứng dựa lưng vào cửa đưa cao ba ngọn nến lia qua lia lại trước mặt quan sát. Căn phòng cũng khá rộng, cách bày trí hơi giống cung điện vua chúa thời xưa, đồ đạc trong phòng từ giường tủ, bàn ghế đều là đồ cổ xưa loại quí, tốt, ngoại trừ cây đàn dương cầm loại Baby Grand thì có vẻ hơi tân thời một chút. Phiá bên tay trái của Đại là cái cửa ra vào hai cánh hình vòng cung, một nửa dưới là gỗ, một nửa trên được gắn bằng kiếng với những ô hình quả trám. Tuy ánh sáng lờ mờ trong phòng chỉ là ba ngọn nến, nhưng Đại cũng đoán được đó là loại kiếng màu giống mấy tấm kiếng của nhà thờ tây phương thời xưa. Cánh cửa được ăn thông ra ngoài balconny nhìn xuống sân biệt thự, nhưng bố bảo chàng cũng không dám mở cửa bước ra mặc dù chàng chẳng nhìn thấy gì ngoài những lằn chớp sáng thỉnh thoảng loé lên bên ngoài, cho chàng được thấy thêm tấm kiếng cửa ô quả trám có nhiều màu xanh, đỏ, vàng, tím. Tiếng gió hú liên hồi rít qua khe cửa nghe rởn tóc gáy, thêm ánh sáng quái lạ bên trong ngôi biệt thự và sự tiếp rước của bà già không biết là địa vị gì trong nhà này đã làm cho chàng phải e dè hồi họp nếu không muốn nói là sợ sệt. Chàng thoáng có chút hối hận đã không gọi báo trước cho bà cô biết để bây giờ nửa đêm nửa hôm chàng chẳng cục cựa gì được cả. Chẳng lẽ lồng lên đòi đánh thức bà cô dậy hay sao? Chính chàng đã muốn dành sự ngạc nhiên cho bà cô mà! Bây giờ có lẽ sự ngạc nhiên không phải dành cho bà cô nữa mà cho chàng mới phải.
Còn đang miên man suy nghĩ , Đại nghe thoang thoảng tiếng hát nho nhỏ của con gái:
- Đừng bỏ em một mình!... Đừng bỏ em một mình!... Trời lạnh quá! Trời lạnh quá!... Sao đành bỏ em một mình...
Đại nghe ớn lạnh xương sống dựng cả tóc gáy có cảm tưởng như lạc vào tòa lâu đài ma. Tiếng hát càng lúc nghe càng lồng lộng thê lương giữa đêm hôm thanh vắng, rõ mồn một như tiếng oan hồn khóc than từ mộ sâu vọng về. Tiếng hát dường như nhỏ dần và ngừng hẳn lại khi đi ngang qua cửa phòng chàng. Rồi như nghe ngóng một hồi, tiếng hát lại rên lên nho nhỏ: “Đừng bỏ em một mình...”. Chịu hết nổi Đại nạt lớn:
- Ai?
Tiếng hát ngưng bặt, Đại cũng im ru không dám nhúc nhích, mệt mỏi và căng thẳng quá độ, nếu trời không mưa gió chắc Đại đã tông cửa chạy ra xe đi ngủ khách sạn cho rồi. Chàng chán nản đặt cây đèn nến lên bàn, chẳng buồn làm vệ sinh cá nhân, để nguyên cả áo “manteau” chàng toan buông mình nằm đại xuống giường nghỉ đỡ cho khoẻ sáng mai rồi tính thì ngoài cửa lại vang lên... lần này không phải là tiếng hát nữa! Mà là tiếng khóc thút thít, tức tưởi của con gái. Đại thở dài, hai tay bưng lấy đầu khe khẽ kêu lên: “Trời ơi!”. Bên ngoài tiếng khóc vẫn dai dẳng, nức nở từng hồi. Coi bộ không ra là không được, Đại lại cầm lấy cây đèn nến mở cửa bước ra. Tiếng khóc phát ra từ một người con gái xõa tóc dài rũ rượi mặc bộ đồ ngủ trắng, khoác áo choàng trắng, đang ngồi bó gối ngoài hành lang gục mặt thổn thức cách cửa phòng chàng độ 5 bước chân. Chàng bước lại gần cho ngọn nến rọi sáng cô gái hơn một chút rồi hỏi:
- Khuya rồi! Sao cô không về phòng ngủ mà lại ngồi đây khóc?
Cô gái không thèm ngước mặt lên, cũng chẳng nói chẳng rằng, đôi vai cô run lên từng hồi theo nhịp thổn thức của tiếng khóc. Đại quỳ xuống một bên nói nhỏ:
- Cô không muốn ngủ cũng phải để cho người khác nghỉ ngơi chớ!
Cô gái ngẩng mặt lên, nước mắt đầm đìa, nói qua tiếng nấc:
- Mặc kệ tôi! Can gì đến ông. Rồi cô lại gục xuống tiếp tục nức nở.
Đại ngẩn người, cô gái rất đẹp lại rất trẻ, chỉ độ mười tám, mười chín là cùng. Thấy cô có vẻ đau khổ, chàng thương hại hỏi:
- Cô có chuyện gì buồn mà khóc dữ vậy? Có cần tôi giúp gì không?
Cô gái trả lời như hờn dỗi:
- Không cần!.
Đại đẩy cây nến ra xa một chút rồi ngồi xuống bên cô gái:
- Cô cứ ti tỉ khóc trước cửa phòng tôi như thế này làm sao tôi ngủ được?
Cô gái ngẩng đầu lên, vừa quệt nước mắt vừa hỏi:
- Ông mới tới hở?
Đại gật đầu:
- Đáng lý ra tôi đến từ sớm kìa! Nhưng vì máy bay bị trể cho nên vừa mới đến tức thì. Xin lỗi! Có lẽ sự trễ muộn của tôi làm cô thức giấc?
Cô gái nhìn vào xa xăm:
- Ông đến sớm hay muộn ăn nhằm gì đến tôi. Tối nào tôi chả hát và khóc như vậy, đã bao nhiêu năm nay rồi mà có ai thèm để ý đâu? Rồi đột nhiên cô quay hẳn sang Đại, nhìn chàng với cặp mắt long lanh kỳ lạ nói:
- Nhà này đã lâu không hề có khách viếng bao giờ, ông là người đầu tiên. Ông là ai? Tại sao lại đến đây? Ông không sợ à? Ông có biết tôi và bà già ban nãy dắt ông vào đây là ai không?
Đại trả lời như phân trần:
- Xin lỗi! Tôi không biết, tôi ở New York đến San Jose thăm bà cô tôi. Tôi không báo trước vì định dành sự ngạc nhiên cho bà, không ngờ vì khí hậu thời tiết ảnh hưởng làm chuyến bay bị “delay” quá trễ... chàng bỏ lửng không nói tiếp.
Đầu óc chàng thắc mắc không biết cô bé này là ai, liên hệ thế nào với gia đình bà cô mà sao chàng không hề được gặp và nghe nhắc đến bao giờ. Sự yên lặng kéo dài có đến một phút, đêm tịch mịch, ánh đèn cầy leo lét làm bóng cô gái lung linh tựa sương khói khiến Đại có cảm tưởng như đang ngồi trong nhà quàn thì đúng hơn, chàng lên tiếng phá vỡ bầu không khí ma quái:
- Cô chắc thân thiết với chủ nhà này lắm?
Cô gái nghiêng đầu nét mặt nghinh nghinh nhìn Đại, khuôn mặt không còn rầu rĩ như lúc đầu nữa, cô trả lời với nụ cười có chút tinh nghịch:
- Thân! Thân lắm là đằng khác, ông muốn biết lắm hở? Cô khoác tay: Ngày mai đi! Sáng mai mọi việc sẽ sáng tỏ hết. Rồi cô bắt chuyện: Ông đến đây chơi, có dự tính viếng thăm chùa Kim Sơn không? Gần đây thôi! Ngôi chùa rất đẹp.
Đại gật đầu:
- Tôi có nghe nói. Bởi vậy năm nay tôi mới lấy phép xuống thăm bà cô luôn tiện viếng thăm ngôi chùa mà tôi chỉ được nghe qua miệng mọi người chứ chưa được chính mắt nhìn thấy. Cô ở gần đây chắc thường đi lễ chùa?
Đôi mắt cô gái sụp buồn:
- Đã lâu lắm rồi tôi chưa hề được đạt chân đến cửa chùa. Tôi rất muốn được lên chùa để nghe kinh mà chẳng ai đưa tôi lên cả.
Đại thắc mắc:
- Cô không thể tự một mình đi sao?
Cô gái không trả lời vào câu hỏi mà ngập ngừng hỏi Đại:
- Ông... có lẽ sùng đạo Phật lắm phải không?
- Tại sao cô hỏi vậy?
Cô gái đưa tay chỉ vào ngực Đại:
- Tôi thấy ông đeo tượng Phật.
Đại cúi xuống nhìn, thì ra ban nãy ở trong phòng cảm thấy ... ghê ghê cái không khí quái đản của căn nhà này, phản ứng tự nhiên chàng đã luồn tay vào ngực kéo sợi dây chuyền tượng Phật lộ ra ngoài áo để tự trấn an mình. Đại cười ngượng ngập:
- Thật ra tại tôi thần hồn nhát thần tính... nhưng mà hỏi cô chứ giữa đêm hôm khuya khoắt, tại sao cô không ngủ mà lại đi lang thang giữa một tòa nhà rộng thênh thang như thế này? Lại còn hát lên những lời nghe... Đại lắc đầu không nói tiếp.
Cô gái che miệng cười nói tiếp lời Đại bỏ dở nửa chừng:
- Không lọt lỗ tai chút nào phải không? Ông sợ hả?
- Nếu là cô, cô có sợ không?
Cô gái gật gù:
- Kể ra ông cũng thành thật, bây giờ nhìn thấy tôi ông có còn sợ không?
- Nếu cứ ở trong phòng mà tưởng tượng thì sợ thật. Rồi Đại tự giới thiệu: Tôi tên Đại, xin lỗi cô tên gì? Ngày mai chúng ta có thể cùng đi chùa Kim Sơn được không?
Cô gái trả lời rất khó hiểu:
- Tôi không đi được, ai cho tôi vào? Rồi cô vừa gật đầu vừa nói tiếp: Nhưng nếu có ông giúp đưa được tôi lên chùa thì tốt quá. Tôi tên Thắm, Đỗ Lệ Thắm.
Đại kêu thầm trong đầu: Trời đất! Cái tên nghe kỳ cục, đã “đổ” lệ mà còn thắm nữa thì chắc cuộc đời cô bé này phải khóc dài dài. Không hiểu nghĩ sao Đại gật đầu quả quyết:
- Tôi hứa! Ngày mai sẽ đưa cô lên chùa.
Cô gái mừng rỡ nắm lấy tay Đại kêu lên:
- Thật hả? Ông chịu giúp đỡ đưa tôi lên chùa?
Đại cảm thấy một luồng khí lạnh chuyền qua thân khi bàn tay cô gái vừa chạm vào da thịt chàng. Đại rụt tay lại kêu lên:
- Trời đất sao tay cô lạnh thế này! Không khéo bị cảm mất, phòng cô ở đâu? Để tôi đưa cô về phòng nghỉ.
Cô gái trả lời không sao và đưa tay chỉ vào phòng chàng nói tiếp:
- Trước kia tôi ở phòng này nhưng bây giờ thì không phải nữa rồi. Nếu ông không ngại, tôi có thể vào thăm lại căn phòng của tôi không?
Đại cầm cây nến đứng qua một bên nhường lối:
- Cô cứ tự nhiên.
Cô gái đứng lên vừa đi vừa giao hẹn:
- Ông đã hứa ngày mai đưa tôi lên chùa là ông phải giữ lời hứa đấy nhé!
Đại gật đầu:
- Cô có thể tin ở tôi, một khi tôi đã hứa là tôi sẽ làm.
- Thế ông có thể cho tôi mượn sợi dây chuyền tượng Phật của ông không? Sáng mai ông lên lầu trên, cô gái đưa tay cao khỏi đầu chỉ thẳng lên trần: Phòng tôi ở trên này, tôi sẽ trả lại cho ông, ông sẽ biết chi tiết và lý do vì sao tôi thích được... ở chùa để nghe kinh, niệm Phật.
Đại đặt cây đèn nến lên nắp cây đàn Piano, tháo sợi dây chuyền đeo vào cổ cô gái nói:
- Nếu cô thích, tôi tặng cô đó! Mai mốt tôi “thỉnh” cái khác cũng được.
Cô gái kêu lên:
- Không được! Tôi không nhận được, tôi chỉ mượn tạm ông đêm nay để... làm tin cho chắc ăn ông không nuốt lời, sáng ngày mai chúng ta gặp nhau ở lầu trên, ông bắt buộc phải lấy lại sợi dây chuyền thôi! Rồi ông sẽ hiểu, bây giờ đừng hỏi gì nhiều, rồi cô cứ suýt xoa: Cám ơn ông, ông tốt quá! Tôi chưa thấy người đàn ông nào tốt như ông, họ toàn là kẻ xấu và độc ác. Rồi cô ngồi xuống bên cây đàn, mở nắp bấm bấm vài nốt nói: Tôi đàn tặng cho ông nghe một bài nhé! Cây đàn này của tôi, tôi đã từng học qua chắc đàn cũng không tệ lắm!
Đại cười gật đầu nhưng ngượng ngập khi nghĩ đến cái lỗ tai tồi tệ của mình, chàng nghe nhạc gì cũng như đàn khẩy tai trâu, chả phân biệt được hay dở là gì cả. Ai đàn chàng cũng thấy hay như nhau, mà ca sĩ nào hát chàng cũng nghe hết xẩy cả, miễn đừng tệ quá như trả bài là chàng “chấm”... đậu tuốt luốt. Bởi vậy, mỗi lần bạn bè đàn đúm bàn về thế giới âm nhạc là chàng bù trớt. Có lẽ vì vậy cho nên chàng đâu biết thưởng thức tiếng đàn của cô gái, hay vì quá mệt mỏi chàng ngả người xuống giường và “khò” lúc nào không hay, trong khi tiếng đàn của cô gái vẫn thánh thót vang lên lồng lộng không ngừng...
Cái cell phonne rung và reo lên từng hồi ở thắt lưng quần đánh thức Đại dậy. Cái hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Đại là bức ảnh bán thân của cô gái hồi đêm được vẽ bằng sơn dầu thật to treo ở góc phòng mà đêm hôm qua vì tối quá nên chàng không để ý, thì ra căn phòng này là của cô ta thật. Có lẽ đêm qua thức khuya quá nên mệt mỏi, chàng uể oải trả lời phôn:
- A lô!
- Đại đấy hở cháu?
Hình như tiếng bà cô, Đại ngồi bật dậy:
- Cô Hải hả? Sao cô biết số cell phone của cháu mà gọi?
- Cháu đang ở đâu? Đêm qua thức khuya lắm hay sao mà giờ này chưa dậy? Mẹ cháu vừa gọi cho cô xong, mẹ cháu bảo tối hôm qua cháu đến San Jose thăm cô mà sao hôm nay đã 12 giờ trưa rồi vẫn không thấy cháu gọi về nhà nên mẹ cháu sốt ruột gọi hỏi cô. Cô có biết gì đâu? Cô bảo cô chưa gặp cháu, mẹ cháu mới đưa số cell phone của cháu cho cô. Thế nào? Chắc là cháu đến khuya lắm hay sao mà không ghé cô?
Đại hốt hoảng ngồi bật dậy ngó dáo dác cảm thấy có điều gì không ổn, sợ bà cô lo lắng chàng nói dối:
- Xin lỗi cô! Hôm qua máy bay bị trễ quá nửa đêm, sợ mất giấc ngủ của cô chú và gia đình nên cháu về khách sạn, mệt quá nên ngủ quên, một chút xíu cháu sẽ chạy đến cô ngay được không? Bây giờ cháu đi chuẩn bị đây.
- Được rồi! Cô chờ, nhớ điện thoại về cho mẹ cháu kẻo bà sốt ruột, nhá!
Đại cúp máy xong trong lòng thắc mắc: Chết cha! Không biết mình đang ở nhà ai đây? Chẳng lẽ đêm qua gõ cửa lộn nhà? Tại sao chủ nhà lại tử tế cho người dẫn mình vào đây? Nhớ tới lời hẹn với cô gái đêm qua, chàng lật đật phôn về cho mẹ yên tâm xong vớ lấy cái túi xách đeo lên vai rón rén mở cửa phòng bước ra, chàng thận trọng từng bước một lần theo hành lang đến cầu thang để lên lầu trên. Tầng trên này rộng thênh thang, được ngăn làm đôi bằng một bức vách thật rộng và cao in hình bức tranh bãi biển rợp bóng dừa xanh trông thật mát con mắt, nơi Đại vừa bước lên là phân nửa lầu phía sau của ngôi nhà, dùng làm phòng giải trí và tập thể dục. Nhìn chung các dụng cụ, máy móc đồ chơi game, đồ tập thể dục mặc dù đã “démodé” có tới chục năm nhưng vẫn còn văn minh hơn cách bài trí trong phòng ngủ đêm qua, mặc dù các cửa sổ và cửa cái ăn thông ra baconny phía ngoài sân vẫn là hình vòng cung với lớp kiếng đủ màu xưa lắc. Tất cả đều phủ một lớp bụi mờ, chứng tỏ đã lâu không có ai đụng đến, vậy thì cô gái ở đâu? Đêm hôm qua rõ ràng cô gái nói với mình là cô ta ở tầng trên này mà, chẳng lẽ ở phòng phía ngoài? Đại nhanh chân đi dọc theo hành lang vòng ra phiá sau của bức tranh bãi biển là căn phòng phía bên ngoài hướng ra phía mặt tiền của ngôi nhà. Căn phòng này cũng rộng không kém gì phòng trong, nhưng trống trơn không có đồ đạc gì ngoài một cái tủ bằng gỗ gụ cẩn xà cừ kiểu VN để thờ, kê sát vách tường, dựa lưng vào mặt sau của bức tranh bãi biển ngăn đôi hai phòng, hướng thẳng ra cửa cái ăn thông với baconny bên ngoài mặt tiền của ngôi nhà.
Đại bước lại gần bàn thờ quan sát không khỏi giật mình suýt té ngửa khi nhìn thấy sợi giây chuyền của mình treo tòn ten trên tấm hình của cô gái đêm qua đặt trên bàn thờ, kế bên tấm hình cô gái là bức ảnh bán thân của một người đàn bà đã già mà khi nhìn kỹ chàng hết hồn lùi lại té lăn cù trên sàn nhà. Trời đất! Chính là bà lão đêm qua đã đưa chàng vào đây, ba chân bốn cẳng, chàng phóng thật nhanh xuống cầu thang quên cả việc lấy lại sợi dây chuyền của mình. Bất kể nhìn thấy chỗ nào có vẻ là “exit” chàng phóng vào ngay. Xuống đến tầng dưới cùng của ngôi biệt thự là chính điện của phòng tiếp khách rộng thênh thang, cao chót vót nhìn thẳng lên nóc nhà tròn hình cái tháp, được lợp bằng lớp kiếng đủ màu giống như kiếng của các cửa sổ và cửa cái vậy. Đại nheo mắt cúi xuống bởi ánh nắng chói chang xuyên qua lớp kiếng đủ màu rọi xuống làm chàng chói mắt. Đại thở hỗn hển, đưa tay vặn quả nắm của cửa chính để ra ngoài, nhưng chàng xoay thế nào cánh cửa cũng không chịu mở, chàng quay lại, đưa mắt quan sát những balconny chung quanh bên trong ngôi biệt thự, nhận ra cánh cửa căn phòng hồi đêm chàng ngủ và nơi đã ngồi tâm sự với cô gái đêm qua ở lầu một. Chàng bỗng dưng bình tỉnh trở lại, đi trở lên căn phòng thờ, đến trước bức hình cô gái lâm râm khấn vái:
- Cô Thắm! Tôi biết cô không phải là người ở chốn nhân gian này nữa! Không biết có phải trời run rủi không mà đêm qua tôi đã lạc vào căn nhà này để rồi được gặp cô. Tuy không hiểu vì lý do gì cô chưa được siêu thoát cho nên đã gửi gấm tâm sự cùng tôi. Những gì tôi đã hứa với cô đêm qua, tôi sẽ làm. Tuy nhiên việc trước mắt, xin cô giúp tôi mở được cửa để đi về nhà, sau đó tôi sẽ lên chùa Kim Sơn nhờ thầy lập đàn làm cỗ siêu độ cho cô và người đàn bà đêm qua đã dẫn tôi vào đây.
Chàng vừa khấn xong, bức ảnh của cô Thắm trên bàn thờ ngã nằm xuống hất tung sợi dây chuyền văng vào người chàng. Đại không sợ một chút nào hết mà còn nhanh tay hứng lấy sợi dây chuyền đeo trở lại vào cổ mình (chẳng phải đêm qua cô gái đã nói với chàng sáng nay trả lại sợi dây chuyền cho chàng hay sao?) Đại mở túi xách lấy ra một chiếc máy ảnh digital, lật tấm hình của Thắm lên, rút ra khỏi khung ảnh, đem ra chỗ sáng, vừa chụp vừa khấn: Xin cô phù hộ tôi chụp hình cô được rõ ràng để mang cô lên chùa an vị. Chụp xong, chàng lồng tấm ảnh trở lại khung kính, mắt chàng đập vào những hàng chữ đề phía sau tấm ảnh:
ĐỖ LỆ THẮM
Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1977 tại CA
Mất ngày 01 tháng giêng năm 1997 hồi 1 giờ 25 phút sáng tại CA
Đại lấy giấy bút ghi lại cẩn thận, đến bức ảnh bà già chàng cũng làm y như vậy. Khi đọc những hàng chữ phía sau tấm hình của bà già, chàng ngạc nhiên vô cùng khi thấy ngày, tháng, năm và giờ tử của hai người giống hệt nhau. Trước khi đặt hai tấm hình trả lại trên bàn thờ, Đại kéo ngăn tủ bàn thờ quan sát tìm kiếm, thấy có hộp quẹt, nhang và cây chổi lông gà. Chàng cẩn thận quét bụi bàn thờ sạch sẽ rồi mới đặt hai bức hình trở lại chỗ cũ, thắp ba nén nhang rồi mới quay mình bỏ đi. Lần này chàng thong thả vừa đi vừa quan sát, chàng nhận ra con đường dẫn vào nhà bếp. Nhưng chàng không dám bước trở lại con đường cũ đêm qua để ra bằng cửa sau nữa! Vì không biết bên trong ánh sáng như thế nào cho nên chàng cứ men theo hành lang chói ánh nắng trên trần rọi xuống bên trong phòng khách mà đi xuống chính điện đến ngay cửa chính cho nó... đỡ sợ.
Khi đã đứng trước hai cánh cửa chính ra vào của toà biệt thự, Đại nín thở run run đưa tay định mở nắm cửa thì cánh cửa đã tự động mở ra chờ đợi, Đại tuy có giật mình nhưng cũng nhanh nhẹn chui tọt ra ngoài ngay vì sợ chậm trễ cánh cửa đổi ý đóng sập lại thì chết. Chàng vừa bước ra khỏi ngưỡng cửa là cánh cửa tự động sập vào ngay, Đại đưa hai tay chận lấy ngực thở một cái phào. Chàng tò mò đưa tay vặn thử quả nắm để mở cửa xem sao, nhưng cánh cửa vẫn khoá chặt như chưa từng mở ra bao giờ. Trước khi quay lưng đi, Đại đưa tay “bái bai” và nói:
- Tạm biệt cô Thắm, tôi sẽ làm theo lời đã hứa với cô đêm qua.
Rồi Đại chạy nhanh ra xe “đề” máy cho xe lùi trở lại ra đường cái, con đường này chỉ đủ cho một chiếc xe chạy mà thôi! Nếu muốn quay đầu xe thì phải chạy qua cánh cổng sắt vào bên trong sân biệt thự rộng thênh thang mới có chỗ “U-turn” được, còn đậu như Đại chỉ có nước “de” thụt lùi mà thôi. Nhưng Đại đâu có care, thoát được ra khỏi ngôi nhà... kinh dị này là chàng mừng rồi. Ra đến đường cái, check lại cái số nhà chàng mới thấy mình hồ đồ, thì ra vì mưa bão che mắt đã làm chàng nhìn lộn số 574 ra thành số 524.
Về đến nhà bà cô, chàng dò hỏi mới biết, ngôi biệt thự đó của một gia đình người VN, đã bị một nhóm thanh niên bịt mặt (có lẽ là bạn bè xấu của người con trai lớn vì không biết chọn bạn mà chơi nên mới xảy ra thảm kịch). Đã đột nhập vào nhà uy hiếp chủ nhà để ăn cướp, cô con gái út phản kháng nên bị chúng bắn chết ngay tại chỗ, bà vú hoảng quá la lên cũng bị chúng bắn chết tốt. Đứa con trai nhìn thấy em gái mình chết thảm như vậy đã phát điên phải vào bệnh viện thần kinh một năm sau mới được xuất viện. Cha mẹ cô gái vì đau buồn không muốn nhìn ngôi nhà thấy lại cảnh xưa và cũng vì con trai họ, sợ nó nhìn thấy cảnh cũ lại phát bịnh trở lại nên cả gia đình đã chuyển sang Pháp ở với gia đình người con gái lớn. Căn nhà trương bảng bán mãi không được cũng thôi, thỉnh thoảng chủ nhà cũng cho người vào quét dọn, nhưng không biết họ nhìn thấy cái gì mà họ tông cửa chạy bán sống bán chết. Từ đó! Ngôi nhà bỏ không chẳng còn thấy ai lai vãng đến nữa ngoại trừ chủ nhà mà thôi! Nhưng chắc có lẽ cũng đã lâu lắm rồi họ không trở về ngôi nhà cho nên Đại mới nghe mùi ẩm mốc và bụi bám như vậy.
Ngay ngày hôm đó, để giữ đúng như lời đã hứa với Thắm đêm qua, chàng xúc tiến ngay việc đưa Thắm và người vú già lên chùa. Chàng in ra hai tấm hình ghi ngày sinh, ngày tử của hai người rồi nhờ thầy ở chùa Kim Sơn làm một mâm cơm, tụng kinh, niệm Phật xin an vị và làm lễ nhập tự cho Thắm và người vú già. Bản thân chàng cũng tự nguyện đọc cho nàng một tuần kinh để hồi hướng công đức cầu cho linh hồn Thắm sớm được siêu thoát về miền cực lạc.
Tôn Nữ Mặc Giao.

Mẹ Bà Nó :Thành "Hồ" Như Rác !

Ơn Bác
Nhờ ơn Bác Việt Nam toàn Tiến sĩ.
Còn cháu ngoan được làm đĩ nuôi thân.
Bác giết người Quốc tế gọi danh nhân.
Cả thế giới nghe tên đều khiếp sợ.
Nhờ ơn Bác cháu được đi ở đợ.
Làm Ô Sin,làm gái gọi đứng đàng.
Ngày qua ngày cháu sống kiếp đi hoang.
Được Tự Do hơn cả thời Mỹ Ngụy.
Nhờ ơn Bác nhiều người mang gậy bị.
Đi khắp nơi để làm kẻ ăn mày
Hợ xin ăn để được sống qua ngày.
Ôi Hạnh .Phúc Ấm No thời Cộng Sản.
Tú Ba đình/Hà Nội.10-30-12
(Viết tặng Kỵ Binh Tăng Sinh.KBC-4183/1

----
Ông già bơi rác
Một người vô gia đang bới rác tìm thức - Ảnh: AFP
Thành phố Hồ Chí Minh quang vinh vẫn còn rất nhiều rác. Hồi thời trước, Sàigòn đã có nhiều rác, nhưng so với bây giờ thì…thua xa. Rác bây giờ chẳng những nhiều hơn mà còn…rải rác hơn. Điều này chẳng có gì khó hiểu hết. Bởi vì, trong chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, cái gì của ta cũng đều hơn của lũ chúng nó cả: rác của chúng nó là rác tư bản, rác ngụy, còn rác của ta là rác…nhân dân, do nhân dân, từ nhân dân mà ra. Có chính nghĩa, hơn là lẽ tất nhiên!

Vậy, ở một đống rác khá lớn nằm trên vỉa hè một con đừơng khá rộng trong thành phố, có một ông già ngồi ung dung như đang ngồi ở một nơi sạch sẽ! Ông già đó tuổi cỡ ngoài tám mươi, có chòm râu bạc giống râu bác Hồ. Ổng đội mũ tai bèo, mặc bộ đồ bà ba đen, mang dép cao su đúc. Ổng ngồi trên một ghế bằng nhựa nhỏ, thấp, loại ghế ngồi cho trẻ con. Ổng cầm cây gậy trúc dài bươi bươi rác, mắt nhìn châm chú chỗ đang bươi, mặc cho đàn ruồi bay lên đáp xuống như giành rác với ổng! Lâu lâu, ổng nói một mình: « Nó nằm lẩn đâu đây hè! Mẹ bà nó!.

Đường này lúc nào cũng đông ken. Xe đạp, xe gắn máy, xe hơi…hai luồng chen nhau chạy, giành mặt đường mà chạy, lòn lách lấn ép, bóp kèn inh ỏi. Chạy đầy đường như vậy mà chẳng ai nhìn thấy ở trên đỉnh đống rác cao nhòng đó có một ông già…Cho đến người đi bộ trên vỉa hè cũng chẳng thấy ai để ý đến ổng hết! Hơn hai chục năm sống quen với quá nhiều nghịch lý, con người ta không còn nhạy cảm trước những sự bất bình thường. Bởi vì cứ nhìn riết rồi quen con mắt, nên không thấy chướng, cứ nghe riết rồi quen lỗ tai nên không thấy ồn, cứ hửi riết rồi quen lỗ mũi nên không thấy hôi. Đó là một quy luật. Tiếp theo đó là một quá trình đi xuống dốc của con người, vừa nhanh vừa gọn, bởi vì nó dễ ợt hà!

Ông già lâu lâu ngừng bươi rác, móc túi lấy bọc ni-long thuốc rồi chậm rãi vấn hút. Điếu thuốc của ổng to bằng ngón tay cái, nên mỗi lần ổng nhả khói là thấy mù mịt, làm như đống rác đang ngún cháy vậy!

Trong khi ổng hút thuốc, ổng không bươi rác. Làm như hút thuốc là qua giai đoạn ổng nghỉ xả hơi! Ổng xoay người ra nhìn thiên hạ chạy loạn dưới đường giống như ổng đang ngồi xem kịch. Một lúc sau ổng nói một mình: « Thiệt…không giống ai hết!. » Mà thiệt! Người ta chạy đi đâu mà lúc nào cũng thấy chạy đầy đường. Người nào cũng hối hả. Người nào cũng bóp kèn. Kẹt không kẹt gì cũng thấy bóp kèn! Làm như nếu không bóp kèn thì xe sẽ…không chạy vậy!

Còn luật lệ giao thông thì hầu như không có. Mạnh ai nấy chạy. Tay mặt tay trái gì cũng…như nhau. Đàn ông đàn bà gì cũng chen lấn lòn ép…như nhau. Chẳng ai nhường ai hết. Đàn ông con trai có người ở trần bận quần xà-lỏn, có người lại mặc quần áo gin, bên trong có sơ-mi và áo gi-lê giống như đang ở xứ lạnh! Còn đàn bà con gái thì phần đông ăn mặc không để…hở một chỗ nào hết. Áo pô-lô ngắn tay, quần dài, găng tay cao tới…nách, đội kết loại đấu thủ dã cầu, mang kiến đen, bịt mặt bằng chéo vải thêu bông hoa hay có ren giống đàn bà á-rập! Nếu có mặc áo dài thì cũng mang găng tay ngắn, rồi đội kết, rồi kiến đen, rồi bịt mặt! Thành ra không nhìn ra được ai là ai hết!

Hút tàn điếu thuốc, ông già lại quay về đống rác, châm chỉ bươi. Một lúc lại nói: « Mẹ bà nó! Tao bươi riết rồi cũng ra. Làm gì rồi cũng thấy!. »

Một cô gái nhỏ xách tới xô rác đổ xuống làm lũ ruồi lúc nhúc bay lên, thấy ông già ngồi đó, cô hỏi:

- Bộ ông không sợ hôi sao mà ngồi đó vậy?

Ông già cười mũi:

- Thời bây giờ, ở đâu mà không hôi không thúi, hả? Nó tràn đồng thì ngồi ở đâu cũng vậy thôi.

Cô gái lại hỏi:

- Thấy ông bươi bươi. Bộ ông mất cái gì hả?

Ông già ngừng tay, hỏi lại:

- Mất hả? Mất cái gì? Còn khỉ gì đâu mà mất !

- Vậy chớ ông bươi rác làm gì? Rác bây giờ đâu còn có gì đâu mà lượm.

Ông già cầm gậy trúc gõ gõ vào đống rác làm lũ ruồi hốt hoảng bay lên vù vù. Ổng hạ giọng:

- Tao bươi rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng mà hồi đó tao nuôi tao giấu trong nhà.

Có vẻ thấy ông già…khùng quá nên cô gái bỏ đi, vừa đi vừa nói:

- Họ là con người chớ bộ chuột bọ gì đâu mà ông tìm trong đống rác !

Ông già nhìn theo, nói lớn:

- Mà tao có nói tụi nó là con người đâu?

Tiếng của ông bị chìm lấp trong tiếng ồn hỗn tạp của đường phố, nên chẳng gợi được sự chú ý của ai hết. Ổng nhìn quanh, thở dài, rồi tiếp tục bươi…

Một thanh niên đang đi trên vỉa hè bỗng tấp vô đống rác vạch quần định đứng tiểu, một tay chống nạnh, trên môi phì phà điếu thuốc. Ông già nói lớn:

- Coi chừng! Nó phóng lên nó cắn sứt à!

Gã giật mình, vội vã buông quần bước đi như chạy. Vừa đi vừa nhìn lại, nét mặt còn đầy sợ hãi! Ông già không nhìn theo, cũng không cười. Làm như điều ông nói là điều có thật chớ không phải đùa. Cho nên nghe ổng nói tiếp:

- Cái lũ khốn nạn này có thứ gì mà tụi nó không đớp!

Ổng nói mà đầu gậy vẫn không ngừng bươi. Bầy ruồi nhặng vẫn bay lên đáp xuống, đáp xuống bay lên, lúc nha lúc nhúc…

Gần trưa, một người đàn bà đứng tuổi từ trong hẻm gần đó bước ra đi lại đống rác, thưa:

- Mời ông Hai về ăn cơm.

Ông già nói ‘ờ’ rồi chống gậy đứng lên đi. Người đàn bà cúi lấy cái ghế nhỏ, xách đi theo phía sau ông, im lặng. Cả hai đi lần vào hẻm.

Con hẻm mới vào thấy rộng thấy thẳng, hai bên có phố lầu hai ba từng kiến trúc hiện đại, từng nào cũng thấy có máy lạnh lòi ra coi rất…văn minh! Hai dải phố lầu này kéo dài vào hẻm độ ba bốn mươi thước.Sau đó là một khúc quanh thẳng góc, rồi con hẻm chỉ còn lại không tới hai thước bề ngang, chạy quanh co rồng rắn vào tuốt bên trong tiếp nối với những con hẻm nhỏ khác không biết từ đâu tới mà cũng thấy…rồng rắn quanh co! Ở đây, nhà cửa lụp xụp hẹp té, khác hẳn với mặt tiền đồ sộ lộng lẫy. Đó là một thế giới khác, một thế giới nghèo khó núp sau cái thế giới phồn vinh bên ngoài. Người ta không thể nghĩ rằng nó nằm ngay trong lòng thành phố, cái thành phố mang tên Người từ hơn hai mươi năm…

Ông già và người đàn bà bước vào một căn nhà nhỏ hẹp của khu hẻm rồng rắn. Ông già nói:

- Tao bươi hoài mà chưa gặp thằng nào hết.

Một người đàn ông trong nhà nói cho lấy có :

- Vậy hả ông Hai ?

- Tụi nó chui rúc lì lắm. Mẹ bà nó! Hồi đó mà tao biết như vầy, tụi nó có chung vô quần trốn, tao cũng cởi quần tao giũ cho chết cha tụi nó hết !

…Người đàn ông trong nhà là cháu của ông già bươi rác, kêu ổng bằng ông chú, còn người đàn bà là vợ hắn. Hai vợ chồng đã trộng tuổi nhưng chưa có con. Họ lảnh may gia công quần áo cho một công ty may mặc, nên trong nhà lúc nào cũng nghe tiếng máy may chạy xành xạch suốt ngày. Họ ngủ trên cái gác lửng nhỏ bằng hai chiếc chiếu, còn ông già thì có cái ghế bố kê trong góc nhà. Nhà nhỏ xíu nên chỉ có một bóng đèn điện treo ở giữa.

Hai vợ chồng người cháu đem người ông về nuôi trong nhà từ ngày ổng ra tù cách đây hơn bảy năm…

Theo lời kể lại của người cháu thì “ông chú” ngày xưa là một nhà doanh thương - đại doanh thương - Ổng độc quyền nhập cảng vỏ ruột xe gắn máy, xe hơi, xe máy cày. Ổng có mấy kho hàng lớn ở Khánh Hội, một văn phòng ba từng lầu ở Chợ Cũ, một vi-la to ở đường Phan Thanh Giản và một vi-la vừa vừa nằm khuất trên một đồi thông ở Đà Lạt. Vợ và hai con ổng đều ở bên Pháp để làm một “đầu cầu” bên đó. Còn bên này ổng có một bà nhỏ lo về giao tế, xã hội và nhân viên. Lâu lâu, ổng bay qua Âu Châu thăm vợ con và làm việc với các hãng chánh ở bên đó.

Ổng nhiều thế lực lắm. Người cháu nói:”Hồi đó, tôi đang làm thợ may cho nhà may X thì bị động viên. Vậy mà ổng kéo tôi ra cái rẹt! Có điều làm tôi không hiểu là ổng như vậy mà trong nhà ổng nuôi Việt Cộng không. Ngay như cái nhà trên Đà Lạt mà ổng dùng cho mấy ông lớn mượn, từ anh quản gia đến chị bếp đến mấy người làm vườn đều là cán bộ Việt cộng ráo.

Ổng nuôi họ như vậy cho đến năm 1973 họ mới lần lượt rút đi …”.
Hồi tháng tư 1975, ổng không di tản. Còn nói: ”Cách mạng chớ bộ ăn cướp giết người đâu mà sợ!”. Sau đó mấy người ổng nuôi có về thăm, ổng cũng đãi đằng hậu hỉ. Vậy mà khi cách mạng “đánh tư sản mại bản”, ổng cũng bị “đánh” tơi bời, tài sản bị tịch thâu hết còn bị đi tù cải tạo nữa. Vợ lớn của ổng chết ở bên Pháp, bà vợ nhỏ đi chui rồi mất tích ở biển Đông. Còn hai đứa con, sau này có người quen từ Paris về cho biết, đã phung phí hết tiền của mà ổng đã để cho họ bên đó rồi dọn nhà đi mất. Thành ra đi thăm nuôi ổng chỉ còn có vợ chồng người cháu thợ may

Khi ông chú được thả ra khỏi tù - nghĩa là Nhà Nước xét thấy ổng đã hoàn toàn được cải tạo - ổng đã trở thành một người khác: một người mất trí! Người cháu nói: “Hồi đem ổng về ở với tụi tôi, tôi cũng ngại. Sợ ổng chê. Nhưng rồi ổng vẩn ở tự nhiên, không phàn nàn gì hết, tụi tôi cũng mừng. Rồi lo không biết chịu đựng ổng nổi không. Nhưng rồi thấy ổng không có điên loạn như những người điên khác nên tụi tôi cũng yên tâm. Ổng không nói gì hết, tối ngày bắc ghế ngồi dưới mái hiên hút thuốc đọc sách hoặc ngồi cả giờ nhìn đường hẻm như người ta châm chú coi ti-vi! Vậy mà lâu lâu ổng cũng nói nhiều câu làm mình ngạc nhiên tưởng như ổng là người bình thường. Khi mình thử hỏi tiếp, khơi lại thời cũ thì ổng lại ngẩn ngơ. Thấy tội nghiệp! Thiệt ra, người ta chỉ thấy ổng điên là khi nào ổng đi bươi đống rác, cứ hai ba hôm là ổng đi bươi…”

Và như vậy, “ông Đại Doanh Thương” đó bây giờ ngồi bươi đống rác giống như ổng bươi lại dĩ vãng của ổng, một dĩ vãng mà rác rến vun đầy. Ổng đâu biết rằng, đối với Nhà Nước cách mạng, ổng cũng chỉ là một thứ rác rến mà Nhà Nước đã vứt bỏ trên lề xã hội, không hơn không kém …

TIỂU TỬ

TÀI LIỆU SỬ: NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TT NGÔ ĐÌNH DIỆM

THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
TÁI THIẾT MIỀN NAM

Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm
Một Lòng Vì Nước Vì Dân
(HOÀNG NGỌC THÀNH & NHÂN THỊ NHÂN ĐỨC)

TÀI LIỆU SỬ: NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TT NGÔ ĐÌNH DIỆM
HOÀNG NGỌC THÀNH & NHÂN THỊ NHÂN ĐỨC.

MIỀN NAM TÁI THIẾT, CÒN CỘNG SẢN THÌ CHỈ LO GÂY CHIẾN, PHÁ HOẠI, KHỦNG BỐ & GIẾT HẠI ĐỒNG BÀO VÔ TỘI !!!
Chương này trình bày sự tái thiết miền Nam dưới quyền TT Ngô Đình Diệm với viện trợ Mỹ, và cũng phác họa sự xuất hiện các cơ quan Mỹ tại miền Nam. Trong khi ấy, Hồ chí Minh và đảng cộng sản tại Hànội đã vạch kế hoạch và bắt đầu cuộc chiến tranh cưỡng chiếm miền Nam.
TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM TÁI THIẾT MIỀN NAM
Sau khi bị chiến tranh tàn phá trong 9 năm 1945-1954, miền Nam từ bến Hải, tỉnh Quáng Trị, ở vỹ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mâu ở phía Nam, được tái thiết khá nhanh chóng. Đường bộ và xe lửa được sửa chữa, cầu cống tu bổ hay làm lại, vô số đồng ruộng lâu nay bỏ hoang được trồng trọt la.i. Nhiều trường học mới được xây cất tại nhiều nơi để đón nhận học sinh. Nhiều làng xóm trước kia tiêu điều, nay nhộn nhịp và phồn thi.nh. Chính phủ cũng thực hiện một vụ cải cách ruộng đất nữa. Chỉ trong vài năm, sau khi hòa bình vãn hồi, chính phủ Ngô Đình Diệm đã đổi mới bộ mặt miền Nam và có những thành tích đáng kể trong nhiều ngành. Sự sản xuất 3 triệu tấn vào năm 1957. Nam Việt Nam là một miền nông nghiệp, không có nhiều mỏ và kỹ nghệ như tại miền Bắc, nhưng chính phủ cũng khai thác mỏ than Nông Sơn. Nền giáo dục cũng phát triển ma.nh. Vào năm 1957, số sinh viên đại học lên đến 3,823, tăng 40% so với năm 1955, số học sinh trung học là 60,860 tại 136 trường trung học, cũng tăng 40%, còn số học sinh tiểu học là 671,585 học tại 3,473 trường tiểu học, tức gia tăng 60%. Các trường kỹ thuật và dạy nghiề có số học sinh tăng gấp đôi. Luật pháp của chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà quy định các trẻ em từ 6 đến 14 tuổi phải học cho đến hết ba năm đầu của bậc tiểu học, còn mọi công dân từ 13 đến 50 tuổi phải học đọc và viết trong thời gian 2 năm nếu mù chữ. Năm 1958, đường xe lửa xuyên VN từ Saigon chạy ra Huế, và giáp đến vỹ tuyến 17 hoạt động trở lại, và đường xa lộ Saigon – Biên Hòa cũng được khánh thành trong năm này. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng bắt đầu thực hiện một “kế hoạch 5 năm”, từ 1957 đến 1961, để kỹ nghệ hóa xứ sởû. Kế hoạch này làm gia tăng sự sản xuất lúa gạo trên 4 triệu tấn, cao su trên 70,000 tấn. Miền Nam bắt đầu xuất cảng không những lúa gạo và cao su mà cả những sản phẩm khác như heo nữa. Nhiều nhà máy dệt, nhà máy giấy, các viện bào chế dược phẩm, nhà máy ván ép, nhà máy điện với các máy móc và kỹ thuật tối tân nhất được xây cất. Nền giáo dục đạt được những thánh tích rất khả quan. Đến năm 1961, số trường và học sinh tiểu học tăng gấp đôi so với năm 1957, số trường và học sinh trung học tăng lên gấp 3 lần. TT Diệm cho mở thêm hại đại học: đại học công lập Huế và đại học tư thục thiên Chúa Đà Lạt, và số sinh viên tăng lên gấp bốn. Vào khoảng thời gian này, CS gia tăng mức độ khủng bố và chiến tranh, và vấn đề này sẽ được trình bày sau. Nhưng ông Diệm vẫn cho thực hiện kế hoạch 5 năm kế tiếp 1962-1967 và chú trọng nhiều đến lãnh vực kỹ nghệ. Trung tâm Nguyên Tử Đàlạt được khánh thành trong tháng 10/1963. Phần đầu của đập thủy điện Đa Nhim với năng xuất 60,000 kw được xây cất do tiền bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, cũng được khánh thành vài tháng sau. Bắt đầu niên khóa 1963-64, nghĩa là trước khi TT Diệm bị lật đổ và sát hại, Nam VN với dân số 14 triệu có trên một triệu rưỡi hay 69% số trẻ em 6-11 tuổi học tại 6,621 trường tiểu học và cộng đồng, 82,253 học sinh tại 519 trường trung học, 6,545 học sinh tại các trường kỹ thuật và dạy nhề và 20,118 sinh viên tại 2 đại học công lập Saigon và Huế và đại học tự thục Đà lạt.
Nói chung, công cuộc tái thiêt miền Nam thành công tốt đe.p. Nhiều quan sát viên ngoại quốc, như ông Bernard Fall chẳng hạn, nhận xét rằng tại miền Nam, sức sán xuất vượt hơn miền Bắc trong nhiều ngành như điện lực và vải chẳng hạn dù miền Bắc có dân số đông hơn, nhiều hầm mỏ và kỹ nghệ hơn miền Nam. Nền giáo dục miền Nam hơn hẳn miền Bắc: bậc tiểu và trung học miền Bắc chỉ gồm 10 năm còn ở miền Nam 12 năm, chưa kể phẩm chất huấn luyện và trình độ giáo chức miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Nguyên nhân là vì Hồ chí Minh và đảng CS nói rất hay, nhưng trong thực tế, họ không kính trọng và quan tâm đúng mức đến giáo dục và người trí thức. Đối với họ, “hồng” hơn “chuyên” và lương tiền thù lao người có học và có nghề đâu có hơn, có khi còn thua kẻ ít học nữa. Trong khi ấy, con cái các gia đình nghèo tại miền Nam có thể trở nên khá gỉa, nếu học giỏi, vào đại học và tốt nghiê.p. Giáo dục tại miền Nam cũng như tại các nước khác là một phương tiện tốt để tiến thân. Như thế, người ta khuyến học, ham học, nên kính trọng giáo dục và người có ho.c. Trong 9 năm ông Diệm cầm quyền, đời sống kính tế của dân chúng tại miền Nam rất ổn định, có thể nói là sung túc nữa, so với thời sau ông Diệm từ 1964 đến 1975 tại miền Nam, hay miền Bắc trước 1975, và cả sau khi thống nhất dưới chế độ CS từ 1975 đến nay. Gía cả các nhu yếu phẩm, gạo, cá thịt, đường, sữa, vải, xăng, thuốc men không lên xuống, xăng giữa giá 4 đồng 1 lít ..vv.. Nói chung, mức sống miền Nam hơn hẳn miền Bắc tái thiết với sự chi viện của phe cộng sản. Thí dụ lúc bấy giờ tại miền Bắc, xe đạp là một xa xí phẩm, người thường dân khó lòng tậu được vì lương tiền và lợi tức qúa thấp, còn tại miền Nam có thể nói xe đạp nằm trong tầm tay của đại đa số người dân, chưa kể đến xe tự động, hay xe gắn máy hoặc xe hơi. Chín năm dưới quyền TT Diệm có lẽ là khoảng thời gian khá nhất của dân tộc Việt Nam, từ 1945 đến nay, mặc dầu có nhược điểm và sai lầm như “gia đình trị” và chuyên chế….vv..
Miền Nam nhận viện trợ Mỹ qua sở USOM tức United States Operations Mission, tạm hiểu là phái đoàn công tác Hoa Kỳ. Sở USOM là chi nhánh tại Saigon của cơ quan AID tức Agency For International Development, tạm hiểu là con quan phát triển quốc tế của chính phủ Hoa Kỳ, phụ trách viện trợ các nước khác, để thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. USOM tại Saigon phái chuyên viên Mỹ đến giúp hày làm cố vấn cho hầu hết các ngành hoạt động của các cớ quan trong chính quyền miền Nam. Thí dụ, các giáo sư Mỹ thuộc đại học công lập Michigan, trong ấy có ông Wesley Fishel có nói đến trước đây, ăn lương theo hợp đồng ký với USOM giúp thành lập Viện Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo cán bộ hành chánh, và huấn luyện cảnh sát. Sau này, một học viện chuyên huấn luyện công an – cảnh sát cũng được thiết lập. Tiểu ban giáo dục của USOM giúp cho bộ giáo dục xây thêm trường, huấn luyện giáo chức, nhất là ở bậc tiểu học, chọn lựa sinh viên qua Hoa Kỳ du học hay giáo chức đi tu nghiệp.
Người Mỹ đứng đầu sở USOM thường có chức vụ là cố vấn hay chuyên viên kính tế tại toà đại sứ Mỹ ở Saigon. Tòa đại sứ Mỹ gồm nhiều tham vụ ngoại giao, cố vấn, tùy viên và nhiều nhân viên thừa hành dưới quyền đại sứ. Những đại sứ Mỹ ở Saigon có thể là các nhà ngoại giao chuyên nhiệp như các ông Donald Red Heath (7/1950-7/1955), Frederick Rheinhardt (5/1955-3/1957), Elbridge Durbrow (3/1957-12/1960), Frederick Nolting (5/1961-8/1961), hay tướng lãnh làm đại sứ như tướng Joe Lawton Collins (8/1954-6/1955) hay đại sứ như tướng Maxwell Taylor sau năm 1963, hay chính trị gia chuyên nghiệp như Henry Cabot Lodge (8/1963-7/1954, 7/1965-4/1967).
Đại sứ Mỹ lãnh đạo, nói chung, tất cả hoạt động của Hòa Kỳ tại Saigon và Nam VN. Tại tòa đại sứ, chính thức không thấy ai là nhân viên của CIA cả, nhưng thường vị đệ nhất tham vụ là trưởng nhiệm sở cùa CIA. Như trước kia, đại tá Edward Lansdale chính thức là một tùy viên không quân, nhưng nhiều người biết ông chỉ huy một phái đoàn công tác đặc biệt của sở trung ương tình báo Hoa Kỳ tức CIA. Tại tòa đại sứ, CIA là bộ phận quan trọng, nhất là tại các nước làm tiền đồn chống CS như miền Nam, vì phải thực hiện nhiều công tác mật và bán công khai. Hoa Kỳ càng can thiệp trực tiếp vào VN, nhiệm sở CIA tại Saigon càng trở nên đông đảo hơn và mở rộng phạm vi hoạt đô.ng. Khi hiệp định Geneva được ký kết trong tháng 7/1954, tại Saigon và miền Nam có tất cả 342 người Mỹ dân sự và quân sự. Nhưng dần dần chỉ nhiệm sở CIA không thôi đã có đến 70 người Mỹ từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) lên đến độ 300 điệp viên Mỹ, nam và nữ, nhiều người nói thông thạo tiếng Pháp và một số rành tiếng Việt nữa. Ngoài ra, còn có một số nhân viên người Việt làm việc toàn thời gian, hay là cộng tác viên đưa tin tức rồi nhận tiền hay không, và được tòa đại sứ đề cử nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, nhất là sau 1963. Tại Saigon, các điệp viên CIA thường đi xe hơi loại Ford Pinto, được cung cấp xăng miễn phí và sống thoải mái. Nhiệm sở CIA có trách nhiệm giúp đỡ chính phủ miền Nam tổ chức một hệ thống tình báo tối tân, huấn luyện các lực lượng bán quân sự cho các hoạt động mật, và thâu lượm tin tức về kẻ thù là CS Hanoi và CS quốc tế. Trong khi ấy, CIA cũng theo dõi ngầm các nhân vật chính trị và quân sự miền Nam để chi phối họ, và cả phe chống đối chính quyền. Sở CIA vừa làm công tác tình báo và phản gián để thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Những năm 1954-55, đại tá Edward Lansdale cầm đầu phái đoàn quân sự Saigon, tức toán đặc nhiệm của CIA, thực thi chính sách của chính quyền Eisenhower là giúp ông Ngô Đình Diệm chống lại thực dân Pháp và tay sai, để lập chính quyền tự chủ nhưng chống CS tại miền Nam. Đến năm 1963, CIA vận động các tướng đảo chánh và giết hại ông Diệm theo chủ trương của chính quyền Kennedy. Trong 9 năm cầm quyền, TT Diệm và cố vấn Nhu có đề phòng chặt chẽ, nhưng CIA cũng mua chuộc một số viên chức thân tín của chế độ làm việc trong dinh Độc Lập, gần gũi ông Diệm, ông Nhu và bà Nhu và cả ông Cẩn ở Huế nữa, để biết phản ứng và thái độ của các vị này trước tình thế, và đối với các đề nghị và kế hoạch của người Mỹ đưa ra. CIA cũng bí mật gắn máy thâu và phát thanh tối tân tại nhiều bộ, tổng, nha, cư xá và tại nhà của các vị cao cấp trong chính quyền, và ngay cả trong các bức tường dinh Độc Lâïp đang xây cất lại sau khi bị ném bom đầu năm 1962. Cả phe CS cũng ngầm làm việc này nữa.
CIA dần dần đột nhập vào các tổ chức, cơ quan bằng cách này hay cách khác. Trong vụ nhảy dù đảo chánh hụt 11/11/1960, vai trò của CIA cũng đáng nói đến. Một điệp viên CIA là ông George Carver, chính thức là viên chức USOM, lâu nay có bổn phận liên lạc với các phe phái chống đối chính quyền ông Diệm, nhận lời mời của luật sư Hoàng Cơ Thụy đến gặp những nhân vật dân sự của phe đảo chánh tại nhà ông. Trong khi ấy một cán bộ CIA khác, ông Russel Miller, liên lạc với các sĩ quan dù đang đảo chánh và nghe lén các tin tức bằng điện thoại giữa các đơn vị dù bao vây dinh Độc Lập và hành dinh của họ. Oâng George Carver muốn góp ý với phe đảo chánh là đánh chiếm ngay dinh Độc Lập và lật đổ TT Diê.m. Nhưng cả hai ông Geroge Carver và Russel Miller nhận được lệnh của đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow qua trưởng nhiệm sở CIA là William E. Colby rằng chính phủ Hoa Kỳ muốn phe đảo chánh điều đình với TT Diệm và không được đổ máu nữa. Sau khi đảo chánh thất bại, ông George Carver đem luật sư Hoàng cơ Thụy đến giấu tại một nhà an toàn của CIA tại Saigon, rồi sau đấy bỏ ông Thụy trong một túi vải lớn đựng thư để đưa ông ra khỏi Saigon và miền Nam, trong chiếc phi cơ của tùy viên không quân sự Mỹ.
Cơ quan trung ương tình báo CIA, từ trụ sở trung ương tại Langley, tiểu bang Virginia, có thể chỉ thị cho nhiệm sở CIA Saigon thực thiện một công tác mật nào đó, hay phái điệp viên đột lốt du khách, nhà báo, viên chức đến thực hiện công tác. Ngoài CIA, người Mỹ cũng có những sở tình báo khác như sở tình báo của bộ quốc phòng, bộ tư lệnh Mỹ Thái Bình Dương đóng tại Honolulu, tiểu bang Hạ Uy Di (Hawaìi), cũng có ngành tình báo nhắm vào quân sự, lục quân Mỹ và bộ tư lệnh MACV tại Saigon cũng có cơ sở tình báo. Còn bộ ngoại giao Mỹ cũng bao gồm một sở tình báo và nghiên cứu. Có khi các sở tình báo lại đưa ra những bản thẩm định tình thế khác nhau hay mâu thuẫn với nhau.
Phân quan trọng nhất của viện trợ Mỹ nhắm vào an ninh, tức sự tổ chức và trang bị cho quân đội miền Nam. Ông Diệm rất có tinh thần quốc gia, việc gì cũng hướng về truyền thống cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Trong việc thành lập quân đội cũng vậy, ông muốn có quân đội hoàn toàn VN, như ông Trần văn Đôn một trong những tướng đã đảo chánh ông, cũng thừa nhân. Nhưng Hoa Kỳ đe dọa cúp viện trợ nếu không tổ chức quân đội theo phương thức Mỹ, tức lập sư đoàn theo cấp số 3, mỗi sư đoàn gồm 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn gồm 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn gồm 3 đại đội, mỗi đại đội gồm 3 trong đội và mỗi trung đội gồm 3 tiểu đội với 11 binh sĩ cho mỗi tiểu đô.i. Tại miền Nam, trung bình 2 sư đoàn lập thành một quân đoàn. Toàn lãnh thổ miền Nam, từ biến Hải đến mũi Cà Mâu, gồm 42 tỉnh được chia làm 4 vùng chiến thuật cho quân đoàn, với bản doanh tại Đà Nẵng cho quân đoàn I, Pleiku cho quân đoàn II, Biên Hòa cho quân đoàn III, và Cần Thơ cho quân đoàn IV. Các quân đoàn được đặt dưới quyền bộ tổng tham mưu đóng tại trại Trần Hưng Đạo, gần phi trường Tân Sơn Nhất. Ngoài các sư đoàn bộ binh, còn có lữ đoàn rồi sư đoàn dù, thủy quân lục chiến, các đơn vị thiết giáp, pháo binh, công binh cùng với các tiểu đoàn biệt động quân, địa phương quân và dân vệ tại các tỉnh lỵ, quận và xã, và các binh chủng là hải quân và không quân. Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội.
Để huấn luyện và trang bị cho quân đội Việt, người Mỹ lập ra Military Assistance Advisory Group viết tắt là MAAG xin hiểu là toán cố vấn viện trợ quân sự dưới quyền tướng 2 sao. Dần dần người Mỹ đến nhiều hơn, với cả đơn vị phi cơ và trực thăng nên một bộ tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ được thành hình gọi là Military Assistance Command Vietnam, túc MACV có nhiệm vụ làm cố vấn cho chính quyền miền Nam về hành quân tác chiến. Những tổ chức trình bày trên đây là những cơ quan chính của người Mỹ, ngoài ra có những cơ sở phụ thuộc khác như bệnh viện hải quân, sở cung cấp hàng hóa PX, các câu lạc bộ sĩ quan, với các máy đánh bạc, hiệu ăn, hộp đêm …vv… Các cơ quan nói trên, từ tòa đại sứ, USOM, MAAG và MACV, thực hiện chương trình viện trợ Hoa Kỳ cho chính phủ Ngô Đình Diê.m. Số tiền viện trợ trong năm 1955 là 322.4 triệu Mỹ kim mà 87% của số tiền qua một chương trình gọi là Commodity hay Commercial Import Program tức CPI, xin hiểu là chung trình nhập cảng hàng hóa hay thương ma.i. Đại khái theo chương trình này, Hoa Kỳ cung cấp một số lượng mỹ kim cho chính phủ, bao nhiêu tùy theo nhu cầu từng năm. Chính phủ bán lại số mỹ kim cho các nhà nhập cảng Việt để lấy một số bạc Việt với gía hối xuất bằng ½ gía chính thức. Chính phủ dùng số bạc Việt này để trả lương cho bộ máy chính quyền và quân đô.i. Ngoài ra, chính phủ còn thu được một số tiền bạc khác từ quan thuế đánh vào hàng hóa nhập cảng. Trong những năm đó, mỹ kim được bán ra với gía 35 đồng một mỹ kim, mỗi mỹ kim hàng nhập cảng thâu thêm cho chính phủ trung bình số tiền bằng 18 mỹ kim quan thuế.
Chương trình CIP có mục đích tài chánh là đài thọ ngân sách chính phủ và ngăn chặn lạm phát, còn mục tiêu chính trị là cung cấp cho dân chúng miền Nam nói chung, và giới trung lưu và thượng lưu nói riêng, số hàng hóa tiêu dùng mà họ cần và có khả năng mua được, để lôi cuốn được sự ủng hộ của họ. Người Mỹ cũng muốn chứng minh rằng, là đồng minh của Hoa Kỳ, nhận viện trợ Mỹ, thì đời sống sung túc như vậy, trái với sự thiếu thốn và mức sống rất thấp của dân miền Bắc dưới chế độ CS.
Từ 1955 đến 1961, viện trợ kinh tế Mỹ lên đến 447 triệu mỹ kim, phần lớn qua chương trình CIP. Số tiền viện trợ chương trình này rất đầy đủ, nên chính phủ ông Diệm vào năm 1960 còn dư đến 216.4 triệu mỹ kim trong qũy CIP. Người ta phải công nhận rằng TT Diệm rất trọng của công, và sử dụng ngân sách viện trợ một cách thận trọng và cần kiê.m. Các chính quyền tay sai sau vụ đảo chánh đã phung phí số tiền dư lại nói trên rất nhanh chóng. Một số quan sát viên Việt và ngoại quốc, cũng như vua xứ Ma Rốc Mohammed V có nói về mối nguy cớ tùy thuộc qúa nhiều vào chỉ một đồng mình mà thôi. Lời chỉ trích này đúng. Người Mỹ có thể dùng viện trợ như một phương tiện vũ khí để chi phối chính quyền miền Nam, như trong vụ đảo chánh năm 1963, hay như TT Richard Nixon dùng để dọa ông Nguyễn văn Thiệu sau này. Có lẽ ông Diệm cần đánh thuế lợi tức cao, chứ không phải cho có lệ, đối với giới giàu có, như xuất nhập cảng, doanh thương, nhà thầu…vv.. để bớt phụ thuộc phần nào vào ngoại viện trợ, và cho thấy cố gắng tự túc, dùng trong hoàn cảnh khó khăn.
Nhưng tóm lại, TT Diệm đã thành công qúa sự mong đợi của người Mỹ đã ủng hộ ông. Họ bảo là ông Diệm đã làm được “phép lạ” cho miền Nam VN nhờ những đức tình quyết tâm, can đảm và tháo vát của ông, như thứ trưởng ngoai giao Mỹ Walter Robertson ca tụng ông trong tháng 6/1956. Uy tín của ông Diệm lên rất cao trong nước, tại các xứ không CS, từ 1956 đến 1959. Từ một chí sĩ lâu nay mơ ước thôi, ông đã đem lại quyền tự chủ cho ½ nước mà ông là nguyên thủ, và miền Nam được hầu hết các xứ không CS thừa nhận và bang giao trong sự kính tro.ng. Một số công du cũng làm tăng gía trị của ông. Vào tháng 5/1957, TT Dwight Eisenhower thân chinh ra đón ông tại phi trường, ông đọc diễn văn tại lưỡng viện quốc hội Mỹ, ông dự cuộc tiếp đón long trọng tại đô thị Nữu Ước (New York), ông cũng đi công du các xứ khác như Thái Lan, Uùc, Đại Hàn, Aán Độ. Lúc bấy giờ, ngay cả đế quốc CS Liên Xô, cũng coi TT Ngô Đình Diệm và miền Nam ngang hàng với chủ tịch Hồ chí Minh và miền Bắc CS đồng minh của họ, và cũng đề nghị để cả hai miền vào Liên Hiệp Quốc. Nhưng ông Diệm đâu có muốn được ngang vai vế với Hồ chí Minh, ông Diệm tự cho mình là tượng trưng, là người lãnh đạo toàn dân tộc và xứ sở, mong muốn diệt trừ CS để thống nhất đất nước. Oâng Diệm trở thành một đối thủ đáng sợ cho Hồ chí Minh và phe CS Hà Nô.i. Những thành tích của ông trong việc tái thiết miền Nam và xây dựng chính quyền là những điều bất lợi cho họ, có thế làm cho dân miền Bắc hướng về miền Nam, ước mong miền Nam giải phóng cho họ khỏi sự áp bức và bóc lột của chế độ CS. Và như thế, phe CS Hanoi không để miền Nam tái thiết trong nền hòa bình lâu dài được.

CỘNG SẢN HÀ NỘI GÂY CHIẾN TRANH, KHỦNG BỐ & GIẾT HẠI DÂN LÀNH...
Đến nay, người ta có thể thấy rõ ràng rằng những sai lầm nghiêm trọng của Hồ chí Minh và đảng CS rất tai hại cho sự mở mang và sống còn của dân tộc Việt Nam, và làm cho tiềm lực của dân tộc bị suy yếu ! Tóm lại, Hồ chí Minh và đảng CS đã không dùng ý thức hệ để phục vụ quyền lợi ngắn hạn hay dài hạn của dân tộc VN, nhưng đã lợi dụng lòng yêu nước và sự hy sinh vì nền độc lập của xứ sở, để phục vụ ý thức hệ CS và quyền lợi của hai nưóc CS đàn anh là Liên Xô và Trung Cô.ng. Họ không muốn thấy là quyền lợi quốc gia, chứ không phải ý thức hệ, bất cứ ý thức hệ nào, CS cũng vậy, quyết định chính sách đối ngoại của các nước từ xưa tới nay. Họ quên rằng những năm 1945-46, lãnh tụ CS Xô Viết “ông nội Stalin” theo thi sĩ kiêm chính trị gia CS Tố Hữu gọi, và đảng CS Pháp đâu có thèm đếm xỉa gì đến dân tộc Việt, ông Hồ và phe CS Viê.t. Gương thống chế Broz Tito của Nam Tư sờ sờ trước mắt: là một người được Liên Xô đào tạo và huấn luyê.n. Oâng Broz Tito đã chống lại Stalin và Liên Xô, vì quyền lợi và nền tự chủ của nước Nam Tư của ông. Nhưng ông Hồ và đảng CS tuân theo hay noi theo việc làm của Liên Xô và Trung Cộng, họ phát động cải càch ruộng đất đẫm máu người Việt, như Stalin diệt phú nông Krulaks tại Liên Xô hay Mao diệt địa chủ tại Trung Quốc. Họ còn làm những việc hèn hạ hơn nữa như san bằng gò Đống Đa, nơi tướng giặc Tàu Sầm Nghi đống treo cổ tự vẫn vì bị quân đội của Hoàng Đế Quang Trung vây đánh ngặt qúa. VaØ có thể nói là họ dâng hiến lãnh thổ của dân tộc cho Trung Quốc, chứ không bảo vệ quyết liệt như miền Nam đã làm, theo tờ Tạp Chí Kinh Tiế Viễn Đông (Economic Far Eastern Review) đã tường thuâ.t. Lâu nay, Trung Cộng đòi giành các quần đảo Tây Sau, Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 4/9/1958, chế độ Bắc Kinh ra tuyên ngôn đòi chủ quyền trên tất cả quần đảo từ đảo Hải Nam trở xuống vịnh Thái Lan, xuyên qua vịnh Bắc Việt, tức là những quần đảo nói trên của VN. Chủ tịch Hồ chí Minh và đảng CS đã không phản đối. Nhưng ngày 14/9/11958, thủ tướng Phạm văn Đồng, một ủy viên của bộ chính trị đảng CS, lại gởi công hàm chính thức cho thủ tướng Trung cộng Chu ân Lai “công nhận và ủng hộ bản Tuyên Ngôn của cộng hòa nhân dân Trung quốc ngày 4/9/1958”. Như thế, Hồ chí Minh và đảng CS đã dâng lãnh thổ VN cho Trung cộng, đã chính thức thừa nhận việc cưỡng chiếm lãnh thổ VN của Bắc Kinh ! Họ muốn được chế độ Bắc Kinh viện trợ để gây chiến tranh thôn tính miền Nam.
Tại Hà Nội, Hồ chí Minh và các đồng chí thân cận của ông theo dõi rất kỹ lưỡng sự biến chuyển tình thế tại miền Nam. Họ hoạch định các kế hoạch để đối phó, nhất là sau khi thủ tuớng Diệm thắng lợi và ổn định được tình thế. Mục tiêu của họ là làm sao làm chủ luôn nửa phần kia của đất nước bằng mọi phương tiện, trong hòa bình với cuộc tuyển cử theo hiệp định Geneva nếu có thể, không thì dùng khủng bố và chiến tranh. Họ chỉ thị cho thi hành mật các mưu đồ gây rối loạn rồi tuyên truyền răng nhân dân bị áp bức nên bộc phát, tự động nổi dậy và nếu làm được và có mòi thành công, họ viết quyết nghị trên giấy tờ.
Ngay sau khi Hồ chí Minh đi gặp Chu ân Lai ở Nam Ninh về, vào tháng 7/1954, trong khi hội nghị Geneva đang tiếp diễn, ông và bộ chính trị soạn thảo ngay các kế hoạch khuynh đảo miền Nam. Lợi hại nhất trong các kế hoạch này là công tác tình báo và đột nhập vào chính quyền địch, nghĩa là các cơ cấu của miền Nam. Việc làm này là chọn lựa, đề cử, vận động, lôi cuốn một số cán bộ đảng viên hay phái đảng trà trộn trong số đồng bào di cư vào Nam, hoặc người miền Nam ở lại nằm vùng hay đổi vùng, để phục vụ bí mật cho bác và đảng. Công tác này được thi hành ngay lập tức, vô cùng khẩn cấp cho kịp với hiệp định Geneva. Chỉ thị mật được cấp tốc gởi vào Nam. Tại miền Nam, một số cán bộ đảng trung kiên, có nhiều tuổi đảng và thành tích đáng kể mới được giao phó công tác này trong các vùng họ còn kiểm soát, và ngay cả vùng Saigon – Chợ Lớn và các đô thị khác của miền Nam. Những cán bộ phụ trách này đã chọn lựa một số đảng viên hay cảm tình viên như cán bộ còn trẻ, độc thân, nam và nữ, một số thanh niên mới lập gia đình hay còn có con nhỏ nữa để làm điệp viên nằm vùng, sinh sống bình thường như người di cư hay như dân chúng địa phương, nhưng bí mật thâu lượm tin tức và thực hiện các công tác mà đảng sẽ giao phó. Hồ chí Minh và các đồng chí thảo luận với nhau nhiều lần về các kinh nhiệm của Liên Xô và đảng CS Xô Viết. Họ bàn rất nhiều về kế hoạch Lucy của đảng CS Xô Viết và rất ca ngợi kế hoạch này. Nguyên là sau cách mạng Nga 1917, đảng CS Xô Viết đã chỉ thị cho các đảng viên trẻ tuổi đang làm sĩ quan trong quân đội Đức vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội, đừng giải ngũ dù nước Đức bị bại trận, quân đội bị giảm xuống chỉ còn độ 100,000 người. Tren 20 năm sau, khi đệ nhị thế chiến bùng nổ năm 1939, số sĩ quan đảng viên CS đã trở thành những tướng lãnh trong quân đội Đúc, ngay trong cả bộ tổng tham mưu của lãnh tụ quốc xã Adolf Hitler. Họ đã cung cấp các kế hoạch hành quân, các bí mật quân sự của Đức quốc xã cho Liên Xô qua trung gian của một điệp viên khác tại Thụy Sĩ, tổ chức gián điệp ày mang tên Lucy, và góp phần rất đáng kể vào sự thắng trận của Liên Xô trong đệ nhị thế chiến (1939-45). Ngoài hệ thống gián điệp Lucy, một đảng viên CS Đức khác là ông Sorge vào đảng quốc xã Đức, được tín nhiệm và làm việc tại tòa đại sứ Đức ở Đông Kinh, thủ đô Nhật Bản, đã cho Liên Xô biết về ý đồ của Nhật, nên Stalin có thể đưa các sư đoàn tại Tây Bá Lợi Á về bảo vệ thủ đô Mạc Tư Khoa, chống lại được sự tấn công của quân đội Đức quốc xã năm 1941. Học hỏi kinh nghiệm Liên Xô và đảng CS Xô Viết, đảng CS tại Hanoi đã cho nhiều đảng viên nằm vùng tại miền Nam vào làm việc tại tất cả các cơ quan dân sự và quân sự. Một số đảng viên và cảm tình viên trước kia là tín đồ của các tôn giáo như Thiên Chúa, Phật Giáo, Tin Lành hay các giáo phái như Hòa Hảo và Cao Đài nay được lệnh trở lại thàønh những tín đồ rất ngoan đạo, hay những người trước kia chưa là tín đồ cũng làm vậy, để được sự tín nhiệm của các chức sắc các tôn giáo và giáo phái. Số điệp viên CS trà trộn tại miền Nam có thể lên đến nhiều nghìn, con số của CS, không biết có nói thêm không, là từ 20,000 đến 30,000 người. Họ đột nhập vào các ngành, hoặc làm sĩ quan, trong các binh chủng, họ làm mọi việc từ thấp lên cao, vào tận dinh tổng thống nữa. Từ 1975 khi CS Hà Nội cưỡng chiếm được miền Nam cho đến nay, chính quyền và đảng CS Hanoi đã tưởng thưởng công khai cho những điệp viên có nhiều thành tích vẻ vang, như Phạm xuân Aån, Vũ ngọc Nhạ, Hùynh văn Trọng, ni cô Huỳnh Liên, sư thích Trí Quang…vv… Trong 9 năm cầm quyền của ông Diệm, một trong số những điệp viên CS đáng kể nhất có lẽ là ông Phạm ngọc Thảo.
Ngoài việc xây dựng màn gián điếp cực kỳ bí mật và rộng lớn tại miền Nam, đảng CS cũng ra sức tôn giáo vận, nghĩa là vận động các chức sắc và tín đồ các tôn giáo ủng hộ cuộc chiến đấu của họ, hay phá rối bằng cách phao tin đồn thất thiệt, gây chia rẽ, hiềm khíùch và xung đột giữa các tôn giáo nhất là sau năm 1963 giữa Phật giáo và thiên Chúa giáo. Họ còn cho một số đảng viên vào làm tu sĩ, cũng như cho cán bộ cà răng để sống với đồng bào thiểu số. Trong khi ấy, họ cũng lo củng cố hệ thống đảng của họ từ thôn ấp, xã, quận, tỉnh, khu, tại các vùng lâu nay họ đã cai trị, hoặc các nơi trước kia Pháp kiểm soát và cho các cơ sở này rút lui bào bí mâ.t. Hồ chí Minh và bộ chính trị cũng học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô về vụ thống nhất vùng Tây Bá Lợi Á. Lúc bấy giờ vùng này bị phe Nga trắng chống CS kiểm soát với sự ủng hộ của các nước Tây phương sau cuộc cách mạng 1917 tại Nga, và cuộc nội chiến xảy ra tiếp theo đấy. Lenin và đảng CS Xô Viết đã lập ra chính đảng và chính phủ để chiến đấu cho “nền độc lập” của Tây Bá Lợi Á. Nhưng sau khi thôn tính đuợc vùng này, Lenin và đảng CS giải tán chính quyền và chính đảng tại vùng này. Một chính sách gần giống như vậy sẽ được xử dụng trong việc “giải phóng” miền Nam.
Trong những năm đầu sau hiệp định Genneva năm 1954, chính quyền Hồ chí Minh tại Hanoi phải lo tái thiết và đối phó với sự chống đối của dân chúng và giới trí thức như vụ nổi dậy của nông dân tại huyện Quýnh Lưu và vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Ban đầu, họ cũng hy vọng thôn tính được miền Nam, qua cuộc tổng tuyển cử dự trù vào năm 1956, nhưng ông Ngô Đình Diệm đã giành được chủ quyền tại miền Nam, buộc Pháp rút quân về nước và thành công trong việc tái thiết miền Nam. Nước Pháp có bổn phẩn thi hành hiệp định Geneva, nhưng Pháp không còn có quân hay thế lực gì tại miền Nam nữa cả. Như thế, khó lòng TT Ngô Đình Diệm chịu thi hành hiệp định Geneva tổ chức tổng tuyển cử. Ngoài nguyên nhân vì quyền lợi và sự tự do của dân tộc, ông Diệm còn có mối tư thù với CS vì đã giết anh ruột là Ngô Đình Khôi và con trai độc nhất của ông này. Tuy vậy, HoÀ chí Minh và đảng CS vẫn động viên cán bộ và phát động một cuộc đấu tranh chính trị bắt đầu từ tháng 7/1955, khi mà, theo hiệp định Geneva, hai miền Bắc và Nam phải tiếp xúc và thảo luận với nhau về tổng tuyển cử năm 1956.
Chính quyền miền Nam đã biết rõ về mưu đồ của đối phương. TT Diệm có một cộng tác viên có khả năng là ông Trần chánh Thành có nói đến trước đây. Oâng Thành đã từng tham gia kháng chiên, ông am hiểu thủ đoạn chính trị của CS nên đề nghị biện pháp đối phó thích hợp.
Đến mùa hè 1955, chính quyền phát đô.ntg một chiến dịch Tố Cộng toàn khắp miền Nam, nhất là các vùg trước kia do chính quyền CS kiểm soat. Chiến dịch Tố Cộng nhằm mục đích phân loại các hạng dân chúng để phát giác ra cơ sở và cán bộ CS “nằm vùng” hay “đổi vùng” và tổ chức các buổi lễ tại các thôn xóm để số cán bộ này công khai tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa CS, ly khai với đảng và tuyên thệ trở về với chính nghĩa quốc gia.
Theo thống kê của bộ Thông Tin và Thanh Niên dưới quyền bộ trưởng Trần Chánh Thành phụ trách chiến dịch Tố Cộng, cho đến tháng 5/1956, khoảng 94,041 cán bộ CS đã về hồi chánh với chính quyền quốc gia, 5613 cán bộ khác đầu thú, lấy được 119,454 vũ khí, 75 tấn tài liệu và tìm ra được 707 nơi chôn dấu vũ khí và độ 15,000 đến 20,000 người bị tình nghi là CS bị giữ trong các trại giam. Năm 1959, một giáo sư người Anh nói và hiểu biết tiếng Việt thông thạo, là ông Patrick J. Honey, được TT Diệm cho phép đi viếng thăm các trại giam những người CS hay bị tình nghi là CS. Oâng Honey tường trình rằng những kẻ bị giam giữ đã nói rằng đa số trong bọn họ không hề là CS hay thân cọâng. Điều này cho thấy trong bất cứ hoạt động quy mô nào của bất cứ chính quyền nào, chắc không thể tránh khỏi sai lầm được, không ít thì nhiều. Trong chiến dịch Tố Cộâng, có thể có những người bị tố oan vì tư thù, hay một lý do nào khác, hay vì một số viên chức của chính quyền muốn làm tiền họ …vv.. Ngoài ra còn có những thành phần dân chúng tham gia kháng chiến chống Pháp rồi ở lại, không tập kết ra Bắc, vì không thích CS. Những người này nay bị tố là cộng hay thân công. MoÄt số đảng viên bí mật lại lên tiếng hay kín đáo tố những người khác là CS để gây ra những vụ bắt giữ và tạo thêm thù hằn giữa dân chúng và chính quyền. Nhưng nhiều cán bộ thật sự CS có công tác phá rối trị an và bị bắt giữ, thẩm vấn cũng không bao giờ nhận họ là CS cả. Nhìn chung, chiến dịch Tố Cộng rất thành công, như tài liệu tổng kết kinh nghiệm của đảng CS trong năm 1963 đã thừa nhận:
“Từ 1957 đến 1958, tình thế dần dần đổi thay. Kẻ thù liên tục phá hoại sự thi hành hiệp định Geneva, củng cố và tăng cường một cách tích cực ngành an ninh quân sự và bộ máy hành chánh, từ trung ương xuống đến tận thôn xóm, ám sất tàn bạo dân chúng (tức cán bộ cộng sản) và thật sự đã phá hủy đảng ta (tức đảng CS Hà Nội của Hồ chí Minh lãnh đạo) một cách hữu hiệu…
Vào thời bấy giờ, phong trào đấu tranh chính trị, dù không bị đánh bại, đang gặp khó khăn càng gia tăng, và bị suy yếu dần, các căn cứ cửa đảng, dù chưa bị hủy diệt hoàn toàn, một bố bị suy yếu một cách đáng kể, trong vài khu vực, một cách trầm trọng.
Để chốngmột kẻ thù như vậy, không thể chỉ dùng đấu tranh chính trị đơn giản. Cần sử dụng thêm tranh đấu võ trang, không chỉ ở cấp thấp… kẻ thù không cho chúng ta chút nào yên ổn cả.
Vậy đến cuối năm 1959, khi chúng ta phóng them một cuộc đấu tranh võ trang phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị chống kẻ thù, cuộc tranh đấu ấy thể hiện ra là cuộc chiến tranh cách mạng tại miền Nam VN.”
Thật ra từ cuối năm 1956, khi thấy không có hy vọng gì thôn tính được miền Nam bằng đường lối tổng tuyển cử, bộ chính trị của đảng CS đã ra mặt lệnh cho đảng bộ tại miền Nam đánh phá các cơ sở của chính quyền miền Nam, bằng cách cảnh cáo, bắt có, ám sát và thủ tiêu các viên chức chính quyền từ thôn xóm đến thành thị, gây ra tình trạng bất ổn và khủng khiếp. Nhiều vụ khủng bố đã xảy ra liên tiếp tại nhiều nơi, trong tháng 7/1957, có 17 người bị CS giết hại tại Châu Đốc, một quận trưởng và gia đình bị phục kích bắn chết trên quốc lộ Mỹ Tho – Saigon ngày 10/101957, một tên khủng bố ném lựu đạn vào một quán cà phê tại Chợ Lớn gây thương tích cho 13 thường dân, và 12 ngày sau, 3 vụ nổ khác làm 13 người mỹ bị thương. Một đài phát thanh CS cũng bắt đầu hoạt động, lên tiếng là đại diện cho một thứ mặt trận cứu quốc kêu gọi dân chúng nổi dậy chống chính quyền cộng hòa dưới quyền tổng thống Diê.m. Quân khủng bố CS cũng nhắm vào người Mỹ khi nào có thể. Trong 3 tháng cuối của năm 1957, ít nhất có đến 75 viên chức hay thường dân bị bắt cóc hay ám sàt trong hơn 30 vụ khủng bố. Bắt đầu năm 1958, CS mở một chiến dịch khủng bố tại thôn quê, bắt cóc và ám sát các cán bộ hành chánh tại các thôn, xã, giáo viên, nhân viên y tế, canh nông, cảnh sát, và cũng bắt đầu tấn công những đồn bót nhỏ của dân vệ và địa phương quân để cướp vũ khí và phá hủy bộ máy chính quyền tại thôn quê, làm cho dân chúng khiếp sợ không dám ủng hộ chính quyền hợp pháp nữa. VaØo tháng 7/1958, một học gỉa Pháp, ông Bernard Fall, đăng một bài báo trình bày một loạt các vụ ám sát do CS gây ra từ tháng 4/1957 đến tháng 8/1958, và cho rằng đảng CS đã mở một cuộc chiến tranh mới. Chính quyền miền Nam cũng cho tòa đại sứ Mỹ biết là trong 2 năm 1958, 1959 và 5 tháng đầu của 1960, có 780 viên chức dân sự bị giết hại và 282 người bị bắt cóc. Nhưng các quan sát viên ngoại quốc cho rằng con số viên chức chính quyền miền Nam bị CS giết hại còn cao hơn thế nữa. Nhà ngoại giao Mỹ Douglas Pike nêu ra 11,700 vụ ám sát và 2.000 vụ bắt cóc từ 1957 đến 1960. Oâng Bernard Fall đưa ra con số 4,000 người bị sát hại từ tháng 5/1957 đến tháng 5/1961 và đến cuối 1963 là 13,000 người. Báo New York Times tính độ 3,000 viên chức bị giết và bắt cóc trong năm 1960 là 1,400 viên chức và thường dân. Oâng Bernard Fall cũng trình bày rằng có sự phối hợp nào đấy giữa những vụ khủng bố và chính quyền Hanoi. Sau khi CS Hanoi cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, các tài liệu của CS cũng như những lời phát biểu của các cán bộ CS, cho thấy mọi việc xảy ra tại miền Nam là do đảng CS Hà Nội quyết định và phát động cả !! Trong khi chiến dịch khủng bố tiếp diễn, các đơn vị CS được tổ chức tại miền Nam, hay đột nhập từ miền Bắc, mở các vụ đánh phá đường giao thông và phục kính quân đội của chính phủ. Thí dụ, ngày 26/9/1959, hai đại đội của sư đoàn 23 bị phục kích, một số binh sĩ bị giết và bị thương và mất gần hết vũ khí, ngày 25/1/1960, quân CS đột nhập vào trung đoàn bộ của trung đoàn 23, sư đoàn 21 đóng tại Tây Ninh, giết 23 binh sĩ và cướp nhiều vũ khí. Bốn ngày sau, quân CS chiếm thị xã Đồng Xoài cách độ 100 ki lô mét phét bắc Saigon, làm chủ thành phố này trong nhiều giờ và cướp một số tiền lớn của người Pháp. Cũng trong tháng giêng năm 1960, quân CS đánh phá vùng Cà Mâu, và miền đồng bằng sông Cửu Long. Trong tỉnh Kiến Hòa, đường giao thông giữa tỉnh lỵ Bến Tre với 6 trong số 8 quận bị cắt đứt. Cường độ khủng bố và đánh phá của CS leo thang khắp nơi. Mục đích của họ là hủy diệt chính quyền hợp pháp, làm dân chúng cực kỳ khiếp sợ, không còn dám ủng hộ chính quyền nữa. Họ cũng mong đợi chính quyền ban bố các biện pháp chống lại CS, kiểm soát dân chúng gắt gao hơn, để tố cáo là đàn áp dân chúng và gây thêm bât mãn, khiến cho dân chúng theo họ.
Để đối phó với sự khủng bố và tấn công của CS, TT Diệm từ đầu năm 1960 cho thực hiện trở lại chính sách phân loại và kiểm soát dân chúng một cách chặt chẽ. Ngày 6/5/1959, ông cho ban luật 10/59 thiết lập 3 tòa án quân sự và các tòa án này có quyền tuyên án tử hình, không được kháng tố, theo sắc lệnh 47 năm 1956 loại trừ CS ra ngoài vòng pháp luâ.t. Trong thực tế, như tài liệu Ngũ Giác Đài thừa nhận, luật 10/59 ít khi được áp dụng, chỉ dùng để xét xử làm gương một số kẻ khủng bố CS. Nhưng dĩ nhiên phe CS, một số nhà báo và viên chức Mỹ hay học gỉa, đã chỉ trích kịch liệt đạo luật này, cho rằng có tính cách chuyên chế và đàn áp.
Đảng CS Hanoi càng ngày càng tăng áp lực đối với chính quyền miền Nam. Họ dùng kinh nghiệm của đảng CS Xô Viết trong vụ thôn tính lại được vùng Tây Bá Lợi Á với việc lập ra hết Mặt Trận Giải Phóng đến đảng Nhân Dân Cách Mạng, rồi đến chính phủ giải phóng để tuyên truyền trong và ngoài nước rằng vì chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp nên dân chúng nổi dậy chống lại như vâ.y. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng HoÀ chí Minh và đảng CS không những có các thủ đoạn chính trị lợi hại và thâm độc mà còn giỏi về vận động và tuyên truyền. Một số người Việt và nhiều người ngoại quốc tin tưởng nào là Mặt Trận Giải Phóng, đảng Cách Mạng, rồi chính phủ giải phóng. Nhưng các tổ chức ấy chỉ là những công cụ chính trị của đảng CS và bị giải tán không thương tiếc, sau khi họ cưỡng chiếm xong miền Nam.
Vấn đề cuối cùng cần xét đến trong chương này là Hồ chí Minh và đảng CS phát động chiến tranh từ cuối 1956 đến 1975 để làm chủ được miền Nam và thống nhất đất nước, có lợi cho dân tộc không, trong ngắn hạn và dài ha.n. Trước hết, không ai muốn đất nước bị chia cắt cả, nhiều gia đình bị phân chia và ly tán. Thống nhất đất nước sau gần 20 năm chiến tranh, từ 1957 đến 1975 với có thể nói hàng mấy triệu người bị giết, hay trở thành phế nhân, hàng trăm nghìn góa phụ, con côi, hàng trăm nghĩn người mất tích trên biển cả vì vượt biên, có lợi cho dân tộc Việt Nam không ? Nước VN thống nhất từ trên 20 năm nay trở thành một trong những xứ nghèo khổ nhất thế giới, dưới chế độ chuyên chế áp bức và bóc lột của đảng CS và trên đà mất chủ quyền kinh tế đối với ngoại bang vì sự bất lực và tham nhũng của các cán bộ CS cao cấp. Tham nhũng, buôn lậu, bán nước bán dân, nhất là bất công xã hội, đĩ điếm, buôn bán xì ke ma túy để đầu độc giới trẻ và người dân, đầy rẫy khắp nước từ Bắc đến Nam. Đảng CS Hà Nội còn đang cầm quyền được ngày nay, đến nay, sau khi chế độ CS đã sụp đổ trên lãnh thổ Nga, và toàn cả Trung Đông Aâu, là nhờ bộ máy công an kiểm soát dân chúng rất chặt chẽ của họ. Nếu không có chiến tranh, hai miền Bắc và Nam cứ tái thiết và phát triển với ngoại viện của hai phe, hai miền nhất là miền Nam ngày nay chắc gì thua sút các con rồng kinh tế và kỹ thuật khác tái Á Châu. Sự thống nhất xứ sở chỉ là một vấn đề thời gian mà thôi. Trong 3 nước bị phân chia sau đệ nhị thế chiến (1939-1945), chiến tranh Đại Hàn chỉ kéo dài 3 năm (1950-1953), còn giữa hai nước Đức, Đông và Tây, đâu có chiến tranh và đổ máu nhưng đã thống nhất trong hòa bình. Nếu giữa hai miền Bắc và Nam VN không có chiến tranh nhưng hai miền thống nhất trong hòa bình như hai nước Đức, chắc đảng CS tại Hanoi phải mất chính quyền. Vì thế, họ dựa vào thủ đoạn và bạo lực, khủng bố và đổ máu dân tộc không thương tiếc, để làm chủ nhân toàn xứ và phục vụ quyền lợi của đảng CS..!
Chính vì sự phát động khủng bố và chiến tranh tại miền Nam làm cho tổng thống Ngô Đình Diệm phải yêu cầu tăng thêm viện trợ Mỹ. Hoa Kỳ thừa dịp này, thực hiện dần một chính sách thực dân tại miền Nam…
[Hoàng Ngọc Thành & Nhân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của TT Ngô Đình Diệm, chương 4, trang 126 147]
Để thay lời kết……
……Người ta thường đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên. Trong đời sống chính trị của một nước cũng vậy thôi. Khi sống dưới chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một số người bất mãn và chỉ trích những nhược điểm và sai lầm của chính quyền, điều này cũng đúng thôi. Họ mong muốn một chính quyền hữu hiệu và tốt đẹp hơn. Nhưng sau khi TT Diệm bị lật đổ và ám sát đầu tháng 11/1963, xứ sở mất chủ quyền, các chính quyền kế tiếp bất lực, người ta mới thấy không có lãnh tụ hay chế độ nào hoàn hảo cả, TT Diệm và chính quyền của ông cũng vậy thôi, với các sai lầm và nhược điểm NHƯNG KHÁ NHẤT so với các chính quyền khác tại miền Nam hay chế độ CS tại miền Bắc trước 1975 và ngay cả chế độ CS ngày nay ! Ngay cả những người Mỹ trước kia đả kích và chủ trương lật đổ TT Diệm cũng thay đổi nhận định về TT Diệm và chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước cảnh tượng các tướng cầm quyền chỉ làm tay sai cho ngoại bang, hết Pháp đến Hoa Kỳ, với mặt trái của CS Hanoi và con người cá nhân Hồ chí Minh được phơi bày với các tiết lộ của các đảng viên CS kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn, Vũ thư Hiên và cựu phó tổng biên tập viên báo Nhân Dân, đại tá Bùi Tín thì hình ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm là con người yêu nước, chống cả cộng sản và thực dân, dù Pháp hay Mỹ, hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền, với nếp sống đạo đức cá nhân, đã trở nên đáng kính hơn bất cứ nhân vật hiện đại nào từ 1945 đến nay ..!! Thời gian phán xét công bằng. Tổng Thống Ngô Đình Diệm có nhiều công hơn tội đối với dân tộc Việt Nam. Chỉ 7 năm sau khi ông bị ám sát, ngày 2/11/1970 TT Diệm được chính thức truy điệu long trọng tại Saigon và nhiều nơi khác trong nước. Dân tộc VN tưởng nhớ và ghi tạc sự đóng góp của ông trong sự nghiệp đấu tranh cho quyền tự chủ của dân tộc chống cả CS và thực dân trong mọi hình thức, công khai hay âm thầm, cũng như chính trị hay kinh tế. Trong sự nghiệp 9 năm phục vụ dân tộc VN của ông, nhiều thành tích về nội trị cũng đáng được tìm hiểu và trình bày, như vụ định cư năm 1954 – 55, hệ thống hành chánh, chính sách kinh tế dinh điền ..vv… Nhưng các soạn gỉa này (tức hai cụ Hoàng Ngọc Thành & Nhân Thị Nhân Đức, tác gỉa cuốn sử “Những Ngày Cuối Cùng Của TT Ngô Đình Diệm”) đã ở tuổi hơn 70+ rồi và không mong muốn gì hơn là hoàn thành được ấn bản bằng Anh ngữ và phát hành ấn bản bằng Pháp ngữ được chuyển ngữ tại Paris của tài liệu này.
Các soạn gỉa chỉ là tư nhân thích nghiên cứu sử học và không có quyền hành pháp, lập pháp hay tư pháp gì để “mời” những người có liên hệ đến sự can thiệp của Hoa Kỳ vào VN, vụ đảo chánh và ám sát TT Diệm và cố vấn Nhu đến để thẩm vấn và đối chứng như người ta đã làm lại Hoa Kỳ về vụ ám sát TT John F. Kennedy chẳng ha.n. Nhưng vì sống nhiều bằng lý tướng, tình yêu và vì công tâm trước lịch sử và dân tộc VN cũng như Hoa Kỳ, với các tài liệu đã hết “mật”, các sách báo về đề tài này đã xuất bản, những sự đóng góp của một số nhân chứng có thiện chí và các vụ phỏng vấn, chúng tôi xin phép trình bày những kết qủa đã thâu lượm đươ.c. Đây chỉ là bước đâu. Rồi đây, nhiều tài liệu “mật” khác của Hoa Kỳ sẽ được giải tỏa và thêm sự thật chính trị và ngoại giao khác chắc sẽ được công bố.
Đời sống của Tổng Thống Ngô Đình Diệm không được dài lâu và ông không hưởng nhiều lạc thú trên đời. Nhưng dân tộc Việt Nam sẽ nhớ lâu dài đến người yêu nước Ngô Đình Diệm ! Tài liệu này có lẽ là kỳ đài lịch sử đầu tiên cho Tống Thống Ngô Đình Diê.m. Rồi đây khi đất nước Việt Nam thanh bình và vắng bóng quân thù Cộng sản, sẽ có những kỳ đài khác, những trường học và đại lộ mang tên Ông……. Vĩnh việt Tổng Thống Ngô Đình Diệm !
[Hoàng Thị Ngọc Thành & Nhân Thị Nhân Đức, sách đã dẫn, trang 569-571]

Bài Xem Nhiều