We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 9 November 2012

Phải Chi VN Có Bức Tường Như Bá Linh Bị Sụp Đổ Thì Hay Biết Mấy

09.11.1989: Ngày Bức Tường Bá Linh Bị Sụp Đổ


Berlinermauer.jpg
 
Cuộc biểu tình lịch sử chưa bao giờ xảy ra vào ngày 9.10.1989 tại thành phố Leipzig thuộc Đông Đức cũ bùng nổ gây niềm phấn khởi cho những người yêu chuộng tự do nhưng đồng thời cũng gây bàng hoàng lo lắng do hình ảnh cuộc thảm sát Thiên An Môn vào tháng 6 vẫn còn trước mắt người dân Đức. Giới chính trị gia lo lắng đã đành, người dân từ trí thức cho đến quần chúng lao động ai ai cũng cầu mong không có tiếng súng nổ sau lời tuyên bố tanh mùi máu của Ergon Krenz[1] :“Sẽ triệt hạ tất cả những người gây rối loạn như tại Thiên An Môn“. Chỉ cần một tiếng súng vận mệnh thế giới có thể đã thay đổi. Người dân căng thẳng từng giờ từng phút hướng về Leipzig, thành phố về sau được xem là cái nôi của cuộc cách mạng ôn hòa không đổ máu chưa từng có tiền lệ. Leipzig trở thành một biểu tượng Tự Do của người Đức yêu chuộng Công Lý. Không những chỉ có một thứ hai 9.10 mà hàng loạt thứ hai hàng tuần sau đó, hàng vạn người đã xuống đường thầm lặng thắp nến cầu nguyện cho một nước Đức thống nhất, tự do. Tiếng súng đã không nổ ra. Phải chăng là „Phép Lạ“ do cầu nguyện mà ra hay lòng can đảm của nhân dân Đức đã chinh phục cảm tình của quân đội và công an? Lẽ phải cuối cùng đã thắng, đúng một tháng sau vào đêm 9 rạng sáng 10 tháng 11 Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị chính sức mạnh của quần chúng dựt sập.

Cấp thiết phải đến Leipzig để ngửi cho được mùi nến của tự do, phải thấy cho được những con đường, những tàng cây đã nâng niu che chở cho hàng vạn người chân yếu tay mềm nhưng can đảm sẵn sàng đương đầu với một hệ thống an ninh được xem là quỷ quyệt nhất trên hành tinh này, chỉ một vài ngày sau đó chuyến „hành hương“ Leipzig đã được thực hiện. Sau gần một đêm vượt qua những đoạn đường xa lộ gập gềnh của miền Đông Đức cũ xe chạy vào trung tâm thành phố Leipzig khi trời vừa hừng sáng. Mặt trời đã lên nhưng nhà cửa trong trung tâm thành phố Leipzig xem chừng vẫn còn ngái ngủ dưới bộ mặt loan lổ tro xám, tối tăm tàn tạ như khuôn mặt của một cô điếm già vừa mệt mỏi thức giấc sau một đêm bán mình cho lũ người thiếu nhân tính, một nhà hàng trông „bề thế“ ngay tại nhà ga chính của Leipzig được chọn để giải quyết nhu cầu vệ sinh cũng như để nghĩ ngơi ăn sáng. Dù bỡ ngỡ vì những khuôn mặt khó chịu của các cô tiếp viên cũng như không được phục vụ nhanh nhưng bữa ăn sáng tươm tất với giá cả thật rẻ cũng mau chóng đánh tan những cảm giác bực mình đang chực nỗi dậy sau hơn một thập niên được quên lãng.
Hơn hai mươi năm sau, trên một chuyến xe lửa đi từ miền Nam Đức xuyên suốt vùng đất Đông Đức cũ với trạm dừng chân ngắn tại thành phố Leipzig, người đi chỉ còn mơ hồ nhận ra những vùng thuộc Đông Đức cũ qua một vài cơ xưởng điêu tàn không được sữa sang. Ngoài ra, hầu như tất cả cơ sở vật chất tại vùng đất này đã được chính quyền Berlin trợ giúp tu bổ lại. Nhà ga Leipzig với ba tầng lầu cơ sở thương mại tấp nập người ra kẻ vào mua bán. Khu trung tâm thị tứ của Leipzig bừng sức sống, với những tiệm cà phê bày ghế ngoài trời, với những ban nhạc trẻ trung vui tươi trổ tài trên đường phố. Người ta không còn nhận ra một khuôn mặt đen tối nghèo đói của một Leipzig hai mươi năm trước.
Đến Berlin ngày nay người ta không còn nhận ra về mặt địa lý cũng như về mặt xã hội con người đâu là phần Đông Đức cũ Nơi từng được gọi là Thiên Đường của các nước anh em xã hội chủ nghĩa nay được cải tạo thật sự theo đúng nghĩa của nó, trở thành xã hội đầy Nhân bản, biến đổi hàng thế hệ người cộc cằn ích kỷ trở thành những con người bình thường, sống tử tế, nhân hòa thân ái cùng nhau.
Cuộc cải tạo nhân ái dành cho một xã hội bị vùi dập sau một vài thập niên sống sau Bức Tường Ô Nhục. Bức tường đã gây bao thảm cảnh đau thương để cho con phải xa cha, vợ phải xa chồng… biết bao ly tán và đã có biết bao nước mắt tuông chảy trong đau đớn thầm lặng vì những hờn căm tủi nhục!
Người dân lành không có một chọn lựa nào khác mà phải chấp nhận định mệnh qua những quy định chiến lược được ba nước đồng minh lớn là Hoa kỳ, Anh quốc, Pháp quốc và Nga sô đã phân chia khu vực để tiến vào Đức quốc triệt hạ quốc xã Đức. Gọi là đồng minh, nhưng quân đội hai phía, một bên là Nga sô và bên kia là Hoa Kỳ, Anh và Pháp quốc đều muốn nhanh chóng tiến về thủ đô Bá Linh, dành được cho mình càng nhiều đất càng tốt. Sau khi Chính quyền Quốc xã của Hitler bị đánh tan, thế chiến thứ hai chấm dứt, quân Nga sô chiếm trọn vùng đất mà sau này được gọi là Đông Đức. Phần đất còn lại Tây Đức đặt dưới sự kiểm soát của Anh, Pháp và Hoa kỳ. Điểm đặc biệt là “miếng bánh“ thủ đô Bá Linh nằm ngay trong phần đất Đông Đức được ba nước Anh, Hoa kỳ và Nga sô kiểm soát. Đức quốc được chia ra làm ba: Cộng Hòa Dân Chủ Đức – DDR đặt thủ đô tại Đông Bá Linh, Cộng Hòa Liên Bang Đức với thủ đô tại Bonn và Khu vực Đặc biệt Tây Bá Linh.
Tây Bá Linh ngay từ những ngày phôi thai là cái gai nhọn đối với khối Cộng sản Nga sô. Dưới con mắt của chính phủ Đông Bá Linh và Mạc Tư Khoa (Moscow), Tây Bá Linh là một “khối u, ung thư Tư bản Chủ nghĩa“ nằm trong một “thân thể lành mạnh trong sáng Xã hội Chủ nghĩa của DDR“. Để giải quyết rốt ráo vấn đề, vào tháng 11.1958 Nga sô dưới sự chỉ đạo của Tổng thư ký Nikita S. Chruschtschows đưa ra tối hậu thư, trong vòng 6 tháng quân đồng minh Tây phương phải rút ra khỏi Tây Bá Linh để biến phần đất này thành một khu vực tự do, tự trị và là khu vực phi quân sự. Quân Đồng minh Tây phương không chấp nhận tối hậu thư của Mạc Tư Khoa. Kết quả: Tây Bá Linh bị phong tỏa để cắt đường máu tiếp vận cho Khối ung thư Tư bản này. Để giữ vững Tây Bá Linh, Hoa kỳ lập cầu không vận tiếp tế và sau đó vào năm 1963 Tổng thống Hoa kỳ John F. Kenedy trước khi ông bị ám sát chết không lâu, đã đến Bá Linh hổ trợ tinh thần với câu nói lịch sử được nhắc nhở cho đến ngày nay “Ich bin ein Berliner – Tôi là một người dân Bá Linh“.
Điều gây bực bội cho Mạc Tư Khoa và Đông Bá Linh là “Cái khối ung thư“ Tây Bá Linh và phần đất tư bản Cộng Hòa Liên Bang Đức lại là khu vực thu hút người dân DDR. Theo thống kê cho thấy, từ tháng 9.1949 cho đến tháng 8.1961 đã có 2.691.270 người dân Đức từ DDR bỏ sang Tây Đức sinh sống. Vào những ngày đầu tháng 8.1961 tính ra có đến từ 1500 đến 2000 người hàng ngày rời bỏ thiên đường DDR sang phần đất tư bản. Làn sóng người tỵ nạn trong đó phần lớn là những người có chuyên môn với bằng cấp cao, cũng như giới thợ thuyền chuyên môn có tay nghề rời bỏ DDR, đã gây nên hậu quả kinh tế trầm trọng cho nước này. Mạc Tư Khoa và Đông Bá Linh không thể chần chờ nên phải ra tay. Vào ngày 13.8.1961 vào lúc mọi người còn say ngủ, quân đội DDR được huy động để bảo vệ cho chiến dịch xây dựng bức tường Bá Linh. Nỗi ô nhục cho Đức quốc, niềm đau cách ly gia đình, nỗi thống hận cho người dân Bá Linh, tất cả bắt đầu vào ngày 13.8.1961 này. Dưới những họng súng lăm lăm chờ nhả đạn, 1378 cây số hàng rào kẻm gai và mìn bẫy với tháp canh hệ thống báo động được xây dựng bao bọc DDR. Riêng khu vực thành phố Berlin một bức tường beton cao 4m20 dài 43 cây số cũng được dựng lên cắt đứt công ăn việc làm của 50 000 người Đông Đức vào thời đó hàng ngày sang làm việc tại Tây Bá Linh.
Bức tường cắt đôi đất nước ngày càng cao càng dài thì lại càng tỷ lệ thuận với máu và nước mắt của người dân Đông Đức. 17 triệu dân người Đông Đức kể từ đó bị cách ly với thế giới bên ngoài. Tiếng than oán vang lên tới trận trời xanh vì gia đình bị chia ly cách tán. Những thân xác bị lính canh DDR bắn gục nằm dọc theo bức tường ô nhục này là những bức hình thường xuyên được chính quyền Đông Bá Linh phổ biến nhằm cảnh cáo người dân. Hơn 200 mạng người dân vô tội bị giết dọc theo bức tường này chỉ vì một cái tội: muốn đi tìm tự do. Bức tường ô nhục là tiếng gọi không những chỉ dành riêng cho Mạc Tư Khoa và Đông Bá Linh những người cho lệnh nả súng vào những người dân chân yếu tay mềm, mà cũng còn dành cho chính phủ tại Bonn và quân đồng minh Tây phương. Lịch sử ngày hôm nay đã cho thấy rõ, chiến dịch xây tường vào ngày 13.8.1961 đã được Tình báo Tây phương nắm rõ và đã thông báo trước cho các chính phủ trách nhiệm. Chính phủ Bonn im lặng đồng tình và ngay chính John F. Kenedy cũng đã thốt lên “thà để cho tụi nó xây tường còn hơn xảy ra chiến tranh“.
Áp bức, bạo lực và tường cao mìn bẫy cũng không ngăn chận nỗi niềm ao ước tự do, được xum họp gia đình của người dân Đông Đức. Một số cuộc vượt tường thành công đã được ghi nhận đưa vào lịch sử như vụ vượt tường bằng đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước kéo theo nhiều toa tàu chở 6 người đàn ông, 10 phụ nữ và 7 trẻ em nhà ga Albrechtshof, vụ28 người đã thành công đào hầm vượt sang Tây Bá Linh vụ 14 người dân cướp thuyền đi dạo trên sông Spree thành công vượt sang phần phía tây dù bị công an biên giới nhắm bắn xối xả, vụ Công an biên phòng Đông Đức dùng đại liên bắn hàng loạt đạn nhưng không ngăn cản được hai gia đình dùng một chiếc xe Bus chạy tông tràn qua trạm kiểm soát Drewitz/Dreilinden, vụ 57 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã được người từ Tây Bá Linh giúp đỡ để đào hầm vượt thoát, vụ ba người dân Đông đức chất đầy sạn đá trên một chiếc xe chở đất rồi đâm nhào qua trạm kiểm soát danh tiếng Checkpoint Charlie, vụ hai chiếc máy bay loại nhẹ đã đáp xuống ngay trước mặt Tòa Quốc Hội ngày nay chở theo một người tỵ nạn và một vài người giúp đỡ đào thoát. Một số vụ đào thoát không thành công được mọi người biết đến như vụ Peter Fechter, một nhân công xây dựng 18 tuổi lợi dụng lúc xây bức tường vào ngày 17.8.1962 đã leo và nhào qua tường, anh bị bắn và bị thương nằm ngay trên tường. Cảnh sát biên phòng Tây Đức phải đành trố mắt trong vòng hơn một tiếng đồng hồ nhìn cảnh sát Đông Đức để mặc cho Fechter đổ máu rồi dần dần lịm chết, vụ Chris Gueffroy 20 tuổi thợ xây dựng bị bắn chết khi đang trèo qua tường, vụ Winfried Freudenberg 32 tuổi tự làm một chiếc khinh khí cầu với dự tính bay sang phần đất phía tây. Không thành công, anh đã bị rơi xuống Ehlendorf và chết tại chỗ.
Tổng kết cho đến ngày Bức tường ô nhục bị sụp đỗ đã có gần 960 người dân vô tội bỏ mình dọc theo hàng rào ngăn chận tự do này.
Mãi đến tháng 1.1989 Erich Honecker, chủ tịch nhà nước Đông Đức vẫn còn hợm hỉnh tuyên bố: “Tường sẽ còn đứng vững trong 50 năm tới, và cả 100 năm nữa, khi mà những căn nguyên cơ bản chưa được giải quyết.“. Lời tuyên bố kiêu căng của Honecker xem ra chẳng có một cơ sở vững chắc nào vì chỉ một vài tháng sau và 28 năm sau ngày bức tường được xây dựng, sinh viên, học sinh, công nhân, các bà nội trợ, những người hưu trí… đã đồng lòng không dùng vũ khí, không một tất sắc trong tay, chỉ dùng tay không phá sập bức tường ô nhục này.
Không cần phải là những ai đã từng sống trong cảnh ly tán, trong cùm ngục mà tất cả mọi người khi chứng kiến những khuôn mặt hớn hở, tươi vui, mãn nguyện của những người dân Đông Đức khi đặt những bước chân đầu tiên sang vùng đất tự do vào đêm 09.11.1989 đã hiểu được cái giá mà họ đã bỏ ra trong hàng tháng trường, can đảm đối đầu với hệ thống an ninh tinh vi quỷ quyệt, bất chấp bạo lực có thể xảy ra bất cứ khi nào đến từ phía nhà cầm quyền. Ôn hòa nhưng cương quyết người dân Đông Đức với hai bàn tay không nhưng được trang bị bằng những khối óc minh mẫn, bằng những trái tim rực cháy vì tự do đã thành công dựt sập Bức tường ô nhục Bá Linh đưa đến thống nhất đất nước.
Lịch sử sẽ khẳng định ai là người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc giải phóng Đông Đức ra khỏi bức màn sắt tăm tối. Câu trả lời chính xác nhất có lẽ chính là khát vọng Tự Do Dân Chủ, khát vọng Thống Nhất đất nước để cùng nhau xây dựng lại một đất nước bị Đảng và nhà nước Đông Đức phá nát từ của cải vật chất đến Đạo Đức con người của người dân Đức.
Nhìn vào một nước Đức thống nhất, tự tin về mặt chính trị đối nội lẫn đối ngoại, hùng mạnh về kinh tế nhưng chan hòa nhân tính ngày nay người ta không khỏi chạnh lòng nhớ đến đất nước Việt Nam với hoàn cảnh lịch sử tương tự.
Bức tường ô nhục Bá Linh bị sụp đổ, một nước Đức độc lập hãnh diện dương tầm mắt ngang hàng với các đại cường, bảo vệ từng quyền lợi nhỏ nhặt nhất cho đất nước và nhân dân của họ. Một Đức quốc Dân Chủ tự tin chấp nhận đua tranh chính trị với tất cả các đảng phái kể cả hậu thân của Đảng Cộng Sản Đức trước đây. Chính phủ chấp nhận sự quyết định của người dân qua lá phiếu để chọn người lảnh đạo đất nước kể cả những người thuộc „Die Linke“, hậu thân của Đảng Cộng Sản Đức. Người ta không tìm thấy cảnh tự hào của người chiến thắng hay mặc cảm là kẻ thua trận. Người dân chung sống không phân biệt, mọi người đều được luật pháp bảo vệ như nhau, người dân Đức đang được hưởng những ngày thanh bình thảnh thơi. Đạo đức xã hội, nhân cách con người ngày càng hoàn thiện trên toàn nước Đức.
Trong khi đó một Việt Nam được xem là hùng mạnh thì nay lần lượt đánh mất những mảnh đất, những biển đảo quý giá do tổ tiên để lại. Một Việt Nam thống nhất, không một tiếng súng nhưng những nghi kỵ vẫn còn đó, kẻ chiến thắng vẫn còn ngẫng đầu tự đắc người thua trận vẫn còn cúi đầu trong tủi nhục. Việt Nam lại đang bị sa lầy vào những cuộc chiến xem chừng không lối thoát: Cuộc chiến chống tham nhũng, nạn bè phái cửa quyền quan liêu. Cuộc chiến chống bất công, nghèo đói, khoảng cách giữa người nghèo kẻ giàu ngày càng gia tăng nhanh chóng. Đạo đức ngày càng tha hóa trên mọi miền đất nước. Được sống tử tế cùng nhau là niềm mong ước hiền hòa của người dân Việt Nam hiện nay xem ra vẫn còn quá xa vời.
Phương Tôn

[1] Ngày 18.10.1989 Ergon Krenz trở thành Tổng Bí Thư đãng Cộng sản Đông Đức, kế vị Erich Honecker. Trước đó khi được hỏi cảm tưởng về vụ thảm sát tại Quãng trường Thiên An Môn, Ergon Krenz tuyên bố: „Người ta phải làm gì đó để tái lập trật tự“.

Những Giấc Mơ Con Người Phật Giáo : Giải Trừ Pháp Nạn Do Bọn Tăng "QUỐC DOANH - NI" Nằm Vùng

  Chuyện Nước Nhà

Tôi có biết nhà sư Pháp định ở thiền viện phước sơn, ông này to mập và cách đi đứng nói năng õng ẹo,ông ta lịa cái thiền viền phứơc sơn do ông Bửu Chánh chủ trì, là tiến sĩ phật học hay đi thuyết pháp, Thiền viện này ở phước sơn cách Biên hòa chừng 20km , rẽ tay phai đi 3 km tới, đi qua trại heo Phú Sơn, thiền viện này diện tích 120 ha , nam nữ tu chung, trung bình tăng khoảng dưới 100 vị còn ni cô lên tới 200 ni , mỗi người có một cái cốc riêng  ai không có tiền ngài Bửu Chánh cho ở cốc của Chùa xây, ai có tiền thì cáp cho 300 m 2 tự xây dựng, ngoai tăng và ni ở ra còn có một số phật tử ho có duyên tu cũng đến đây xin đất xây nhà để ở, chùa này thuộc hệ phái nam tông ăn mặn, chùa này cũng nổi tiếng , phật tử giới giàu nhiều, đa phần ca sĩ diễn viên điện ảnh.và việt kiều

Trong này có nhiều nhà sư bị bệnh đồng tính luyến ái , cụ thể là nhà sư Chánh Định, hinh như ông này là cháu ruột của ông Bửu Chánh, ngay ngài Bửu Chánh cũng có những hiện  tượng đồng tính , như hay bắt các nhà sư trẻ , đẹp tới phong đấm bop cho mình và cho ở ngay gần nới ông ta ở để tiện phục vụ và rất cưng chiều mấy nhà sư này.
Chùa được rất nhiều việt kiều từ Mỹ về, tôi biết có chị tên Thu làm bên Y Chi ta khoe là bác sĩ nhưng nghe đồn chỉ là y tá gì đó thôi chị này hơn 60 tuổi nguoi miền nam chồng bỏ, không có con nhưng có đứa con nuôi, tánh tình ngạo mạn thường mang usd về cúng chúa nhưng không phải tien của chi ta mà là tiền quyên góp của bạn bè bên Mỹ.

diễn viên điện ảnh Việt Trinhcũng hay tới chùa này, cô ta cũng có 1 đứa con trai nam nay khoảng chừng vài tuoi gì đó nhưng không biết bồ đứa trẻ là ai, chùa này có nhiều cặp tăng hay ni yêu nhau mang bầu rồi xin ra ngoài đời, ngài Bửu Chánh đều cho ít tiền về quê làm ăn, nhưng cũng có những tăng hay ni không chịu ra đời có khi phải lạo thai ( nguồn tin này do mấy anh xe ôm khi chở những ni cô đi nao thai đã nói ra) chùa này rất được nhiều phật tử nước ngoài như Pháp Mỹ nhưng đông nhất là ở Mỹ hàng năm về cúng dường, Thiền viện này rất giàu xây truong thiền hơn 2 tỷ lâu rồi và luôn xây dựng đổi mới đạp cái này thay mới cái kia

thiền viện Phước sơn nhộn nhip quanh năm, hàng năm cứ vao ngày 1 tết âm  lịch thiền viện lại tổ chức lễ hôi khất thực , số lương sư khất thực lên tơi 1000 vị sư, đa phần các sư miền tây đến là nguoi khơ me, họ đi xung quanh Chùa thành một vòng tròn, ý nghĩa là để cho phật tử có điều kiện làm phươc cúng dường.

----------------
TĂNG QUỐC DOANH,
NI NẰM VÙNG 
 
Tờ báo “đạo” đăng dày chi chít chữ
Tiền cúng dường đếm thử, vài nghìn ra
Trang bày phô: thức nhậu, lẫu, cơm gà
Trang quảng cáo: “Cắt, nâng, bơm mới lạ”*
 
Bìa: mâm quả, Phật, sen, thầy tịnh tọa
Ruột: ngực, đùi khoe quảng cáo hát ca
Thầy giả lời khen ngợi Phật Di Đà
Trò gạ gẫm: -Đêm giúp “chùa”, khiêu vũ
 
Toàn bùa, “chú” rối mù hù đệ tử!
Toàn “tà sư” tu… hú giỏi đầu tư:
Nghèo nhân từ, giàu tiền, túi khư khư
Bán mọi thứ! Ai tu thầy cũng mặc!
 
Chú “tiểu tặc” lăng quăng. Hề đạo đắc?
“Ni, sư” ma làm giặc khắp các “chùa”
Nghiệp Thiện Lành thay bởi Nghiệp Xấu Xa
Ôi Nghiệp Quả! Sao vào “chùa” biến hóa?
 
Ý Nga, 8-11-2012.
                       
*Giải phẫu “thẩm mỹ”
-- 
Trích Bài :

Hơn 2000 năm Phật giáo đồng hành cùng (Đảng VGCS)

--

(CS) “Phật giáo Việt Nam trải qua chặng đường lịch sử hơn 2000 năm hiển sinh trong đời sống tâm linh, văn hóa dân tộc Việt, với bản chất từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hòa bình, Phật giáo đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong di sản văn hóa Việt Nam, luôn đồng hành, gắn bó cùng dân tộc” 

Từ xuất thế đến nhập thế
Theo Hòa thượng Thích Gia Quang Phó tổng thư ký HĐTS, Chánh văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ những ngày đầu được truyền bá vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống bản địa, gắn bó với dân tộc về mặt tinh thần, đạo đức. Vì bản chất của Phật giáo là từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, yêu hòa bình, tôn trọng sự sống nên đã hòa nhập với văn hóa, đời sống con người Việt Nam - vốn có truyền thống hiếu nghĩa, vị tha, độ lượng, bình đẳng, bác ái.
Phật giáo luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc
Trong chiều dài lịch sử dân tộc, trong nhiều giai đoạn đất nước luôn bị ngoại bang xâm lược với ý đồ đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ, Phật giáo đã hòa cùng dòng chảy của vận mệnh dân tộc, kiên cường trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ, gìn giữ và xây dựng đất nước. Thực tế đã chứng minh sự đồng hành của Phật giáo Việt Nam cùng lịch sử dân tộc trong suốt hơn 2000 năm qua.
Từ những kỷ nguyên đầu tiên, khi dân tộc Việt Nam còn chịu sự thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc, triết lý sống của nhà Phật đã củng cố thêm tinh thần dân tộc, ý thức độc lập dân tộc của người Việt.
Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh đều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những công việc quan trọng của quốc gia. có vai trò trong công cuộc hộ quốc, an dân như Thiền sư Ngô Chân Lưu (Khuông Việt Đại sư), thiền sư Vạn Hạnh, đức Vua Trần Nhân Tông - sư Tổ Thiền phái Trúc Lâm… Phật giáo góp phần xây dựng triều đại nhà Lý - triều đại thuần từ, thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

“Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã được người Việt “thổi” vào trong nó tinh thần yêu nước cao độ, từ một tôn giáo xuất thế trở thành một tôn giáo nhập thế tích cực. Phật giáo đã đã góp phần quan trọng củng cố nhân tâm, đoàn kết cộng đồng.” - Hòa thượng Thích Gia Quang phân tích.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Phật giáo Việt Nam tiếp tục nêu cao ngọn cờ yêu nước, kề vai sát cánh cùng nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc. Các phật tử giác ngộ đã vận dụng tích cực giáo lý nhà Phật vào công cuộc kháng chiến bảo vệ ( Việt Gian CS ) dân tộc, giữ gìn đạo pháp. Nhiều nhà sư cởi áo cà sa khoác áo lính. Các chùa vận động tín đồ Phật tử hết mình tòng quân (MTGPMN) cứu  (Bolshevik) nước , trở thành cơ sở cách mạng (MTGPMN), dự trữ quân lương ( cho CS bắc việt xâm nhập), nuôi giấu cán bộ (VGCS). 
Đỉnh cao của tinh thần yêu nước, vì dân tộc của Phật giáo trong thời gian chống Mỹ cứu nước là sự kiện Bồ Tát Thích Quảng Đức  tự thiêu phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Phong trào cách mạng của đồng bào Phật giáo thời kỳ này đã góp phần quan trọng làm sụp đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
Đồng hành cùng (Đảng VGCS) dân tộc
HT.Thích Gia Quang đánh giá: Phật giáo luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Trong giai đoạn đầu khi mới du nhập vào Việt Nam, khi người Việt cần sức mạnh tín ngưỡng và niềm tin để khai sơn, lập địa, Phật giáo đã cùng người Việt chinh phục tự nhiên “cầu mưa thuận, gió hòa”; xây dựng kiến tạo cuộc sống của cư dân nông nghiệp. Trong giai đoạn Tổ quốc lâm nguy bởi ngoại xâm, để thoát ách đô hộ, Phật giáo phát huy tinh thần yêu nước, quyết bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn đạo Pháp, quyết giành lại hòa bình, độc lập tự chủ, đem lại an lạc, hạnh phúc cho nhân dân. 
Phật giáo Việt Nam hôm nay đã làm được nhiều việc lợi đạo, ích đời
Sau giải phóng miền Nam, đất nước hòa bình, non sông thu về một mối, các hệ phái Phật giáo Việt Nam được sinh hoạt trong một ngôi nhà chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam lại tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh. Phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội”, chính là càng thể hiện tính chất gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc.

Phật giáo Việt Nam hôm nay đã làm được nhiều việc lợi đạo, ích đời, thực hiện cứu khổ độ sinh, thông qua hoằng dương Phật pháp vận động Tăng ni, Phật tử cả nước sống trong chánh tín, sống tốt đạo đẹp đời đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhân đạo, từ thiện, thực hiện xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống văn minh, tiến bộ…


HT.Thích Gia Quang kết lại:  “Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng từ bi, hỉ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời, phấn đấu vì hạnh phúc và an vui cho con người. Từ đó đến nay và mãi mãi về sau, theo giáo lý của đạo Phật và truyền thống của các bậc tiền bối, Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy sự tron g sáng, tích cực của Phật giáo, đồng hành cùng dân tộc, cùng đất nước!”

----

Thượng Tọa Thích Trí Quang và Đại Tướng Minh

phatgiaomt

Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, sau 1975, bị CS đưa vào các trại tập trung ở miền Bắc như Hà Tây và Thanh Lâm (Thanh Hóa). Ở Thanh Lâm, ông được giam ở một biệt khu gồm 10 nhân vật cao cấp quân sự và hành chánh của VNCH, do đó sự tiếp xúc giữa ông và các đội lao công khổ sai rất hạn chế (Theo lời cựu Đại Tá Luật, nguyên Tỉnh Trưởng Ban Mê Thuột cho đến tháng 3/75 sang Mỹ theo diện HO năm 1993, hiện đang cư ngụ tại St. Peterburg, FL cho biết : Nguyễn Hữu Có đã làm ăng ten trong trại tù cộng sản. Hắn đã bán đứng nhiều chiến hữu để khỏi bị đi lao động).
tuongnguyenhuuco
TT Nguyễn Hữu Có
Tuy nhiên, một số đội đó đã tiếp xúc và nghe ông phân trần về riêng ông. Đọc xong bài tường thuật nầy, người ta sẽ thấy sự tráo trở của Thượng Tọa Thích Trí Quang (người chủ chốt của PGAQ trong các vụ biến loạn 1963, 1967 và 1975) ra sao, ngay cả với những Phật tử đặt hết lòng tín nhiệm vào ông. Nhưng đã quá trể. Người ta phải biết điều nầy từ 12 năm về trước. Hồ Văn Quang, một tù nhân bị khổ sai vừa mới tới Mỹ qua diện HO, đã được nghe ông kể chuyện như sau :
ttq
Thượng Tọa Thích Trí Quang
Khi còn ở Đài Loan, tôi đã nghe bài nói chuyện về việc từ chức của TT Thiệu về việc từ chức và trao quyền lại cho ông Trần Văn Hương. Tôi bay về Việt Nam. Trong tôi, điều chắc chắn là thế nào ông Hương cũng phải nhường chức Tổng Thống lại cho Đại Tướng Dương văn Minh. Khi về tới VN thì mọi chuyện coi như xong xuôị Với tình bằng hữu, tôi đã tìm đến tướng Minh để coi có việc gì làm không. Minh tiếp tôi niềm nở và câu đầu tiên Minh nói với tôi :
- Ồ ! Anh Có, sao anh đến chậm quá. Trong tình thế nầy anh em mình mỗi người phải góp một tay mới được. Thôi thì anh lên Tổng Tham Mưu phụ giúp với anh Vĩnh Lộc, rồi sau mọi việc sẽ tính…
Tôi thì ở Đài Loan mới về, nói thực thì mình cũng muốn cái chức Tổng Tham Mưu Trưởng lắm. Nếu Minh cho lập nội các thì thêm chức Bộ Trưởng Quốc Phòng càng tốt…Trong lòng tôi nghĩ vậy, nhưng rồi tôi chả đuợc nhắc đến gì vì mọi việc chính trị lúc bấy giờ đều do sự sắp xếp giữa Minh, ông Vũ Văn Mẫu và nhất là Thượng Tọa Thích Trí Quang. Tôi có cảm giác như lúc đó Thượng Tọa Thích Trí Quang mới chính là Tổng Thống, còn Minh chỉ là người giúp việc cho Thượng Tọa Thích Trí Quang mà thôị Tôi lên Tổng Tham Mưu, ở đây Vĩnh Lộc bảo tôi :
- Thôi anh về chơi đi, tình hình nầy chẳng có việc gì phải bàn cãi nữa đâụ Để chờ Tổng Thống Minh có quyết địh như thế nào, chứ anh mà ngồi đây thì uổng phí lắm. Tôi chạy đi chạy về, khi thì Dinh Độc Lập, khi thì Tổng Tham Mưu, khi thì đi với Minh vào Ấn Quang…Suốt ngày chạy liên miên, nhưng “Thầy” Trí Quang cứ bảo :
- Tổng Thống và các ông phải bình tĩnh vì mọi việc tôi đã sắp xếp đâu vào đấy rồị Phía bên kia người ta đã gặp tôi và đã bàn lập một phái đoàn gặp các ông mà bàn luận về việc hòa giải lập chính phủ liên hiệp trong vài ngày tới thôi, chậm nhất là vào ngày 29/4.
Minh và nội các chạy đi chạy về liên tục, nhất là Minh ngày nào cũng điện thoại hoặc đích thân gặp Thượng Tọa Thích Trí Quang để xem tình hình. Lắm lúc Thượng Tọa Thích Trí Quang gần như không muốn tiếp Minh mặc dầu Minh là đương kim Tổng Thống. Tội cho Minh ở giai đoạn nầy vì bản chất thật thà và quá ngây thơ trong cách làm chính trị của ông ta. Tôi hỏi Minh :
- Tổng Thống phải làm thế nào chứ ? Mình có thể gặp thẳng bên kia, chứ qua “thầy” mãi thì sự thể ngày chỉ trầm trọng thôi.
Ông Mẫu nói :
- Trung Tướng cứ nôn nóng mãị Chính trị chứ đâu phải quân sự mà cứ đánh ào ào tới là được.
Thich Tri Quang
Thich Tri Quang
Tôi nghĩ cũng buồn vì sức Minh có hạng trong khi tình hình quá rối ren. Minh kham không nổi thành ra mọi việc phải nhờ vào ông Mẫn và nhất là Thượng Tọa Thích Trí Quang. Sự có mặt của tôi như không gợi cho Minh một cái gì tin tưởng, do đó trong nội các mà ông Mẫn thành lập, mặc dầu còn nhiều chỗ còn trống nhưng vẫn không có tên tôị Tôi có hỏi Minh thì Minh trả lời:
- Thầy Trí Quang và ông Mẫu đang sắp xếp…
Cái chức Xử Lý Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực cũng có lẽ được Thượng Tọa Thích Trí Quang đưa ra vào giờ chót và ông Hạnh (đầu hàng CS từ lâu) đã thực hiện quyền hạn của mình lần đầu tiên vào sáng 30/4/1975 với lời tuyên bố tất cả các binh chủng phải hướng mủi súng lên không và chờ lệnh, không được hành động bất cứ việc gì nếu không có lệnh phát trên đài phát thanh…
Vào ngày chót, suốt chiều 29 rạng sáng 30/4, một đêm mà hoàn toàn chúng tôi không ngủ để đón chờ phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam…Như hồi nãy tôi nói, Minh làm việc với nội các tại Dinh Độc Lập rất ít mà tại Ấn Quang thì nhiều hơn… Tôi nói với Minh :
- Tổng Thống nên coi lại tình hình và phải có hướng khác, chứ tôi thấy thì hình như bên kia không hề đá động gì đến hòa giải hay thương thuyết gì rồi đó…
Minh, vẻ mặt u sầu, buồn buồn nhưng luôn luôn ngồi đứng không yên, hết gọi chỗ nầy,lại gọi chỗ kia và riêng số điện thoại của Thầy Trí Quang là sát tay của TT nhất. Khoảng 4g30 chiều 29/4/1975, tôi và Minh trở lại Ấn Quang gặp “Thầy” Trí Quang. “Thầy” vẫn tiếp tục nói câu :
- Tổng Thống đừng nôn nóng, mọi việc sáng nay tôi đã gặp được phía bên kia và họ nói là chậm lắm tối nay sẽ đến, và có lẽ ngày mai là chúng ta họp bàn với họ được rồi.
Mọi người ai cũng hồi họp chờ đợi, hết ngồi lại đứng, đi đi, lại lại… Mỗi người đều theo một ý nghĩ riêng trong chờ đợị Thời gian sao mà dài quá.
Một…haị..bạ..bốn giờ sáng, phía Ấn Quang vẫn im lặng như tờ. 4g30 sáng, Minh không thể chịu đựng nỗi nữa, nhấc điện thoại lên, bên kia đầu dây vẫn chưa có ai bắt…Sau chừng 4 lần “reng” thì tiếng Thượng Tọa Thích Trí Quang nhè nhẹ giọng Huế :
- Tổng Thống đó hả. Kính chào Tổng Thống. Mãi tới giờ này tôi vẫn chưa thấy gì cả, phía bên kia vẫn không đưa người tới và với tình hình quân sự hiện tại họ đã vào đô thành rồị Theo tôi giờ này giải pháp chính trị không thích hợp nữa và có lẽ vai trò của tôi không thể giúp ích gì cho Tổng Thống trong lúc nàỵ Bây giờ Tổng Thống còn là vị Đại Tuớng giỏi về quân sự thì Tổng Thống nên dùng cái lợi thế của Tổng Thống trong cách kết thúc đi. Xin kính chào tạm biệt Tổng Thống.
Minh buông máy thở ra chán nản, hai tay ôm lấy đầu, ngồi thin thít không nói một lờị Chúng tôi tất cả ngơ ngác. Cả phòng im phăng phắt mặc dầu bây giờ ngoài đường đang quá chộn rộn cho cảnh hỗn loạn cao điểm nhất của chiến tranh. Năm giờ sáng. Minh bảo chúng tôi :
- Thôi các ông ai về nhà nấy, tắm rửa, ăn sáng, ăn mặc chỉnh tề. Đúng 8 giờ sáng chúng mình gặp nhau tại đây để bàn chuyện tiếp…
Mọi việc tới đây kể như kết thúc mối tình giữa Thượng Tọa Thích Trí Quang và Minh, và nó cũng sẽ kết thúc cuộc đời chính trị của Minh trong vài giờ tớị
Tôi từ giã Minh và Dinh Độc Lập từ đó…
Và dĩ nhiên đã không có mặt trong nội các của Minh và Mẫn trong khi bàn giao hay ký kết văn bản đầu hàng vô điều kiện…
Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Diệm dày công gầy dựng đã tan theo hư không mà đi…
Saigon Nhỏ 26/8/1994

Chuyện Tàu nhưng việc ta : Trung Quốc, đấu tranh quyền lực


Những gì đang và sẽ xảy ra trước và sau
Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Tàu

Phan Văn Song
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào

Tuần tới đây, tất cả sự chú ý của thế giới sẽ được tập trung vào Hoa kỳ, nơi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 6 tháng 11, nhưng sẽ có một hiện tượng khác cũng quan trọng không kém sẽ xảy ra hai ngày sau đó ở Beijing, Trung Hoa Cộng sản : Đại hội Đảng Cộng sản Tàu lần thứ 18 với sự thay đổi lãnh đạo -Tập CậnBình sẽ thay thế Hồ CẩmĐào.
Để Trung Hoa Cộng sản tiếp tục duy trì cái uy thế đệ nhị quyền lực kinh tế của hoàn cầu, thế giới phải trả một cái giá rất đắc ! Trung Hoa Cộng sản là một con hạm lớn, đói ăn, đói tiêu dùng, đói hưởng thụ với một nhà máy sản xuất khổng lồ cho thị trường quốc tế, nên đói năng lượng, cần rất nhiều nhiên liệu,(nhưng sử dụng còn rất hoang phí), đói nguyên liệu nên phải lao vào một cuôc chạy đua sống còn để đi tìm mua nguyên liệu, tạo một thị trường nhu cầu căng thẳng, làm tăng giá nhu yếu phẩm của thế giới từ nguyên liệu cho kỹ nghệ đến nông phẩm qua đến nhu yếu phẩm cho kỹ thuật mủi nhọn Vì thế mặc dù « cố tình » núp dưới một hình ảnh hiền hoà,, chỉ là một quốc gia thương mại, đầy thiện chí, bạn với tất cả các « quốc gia chậm tiến » trên thế giới, kết tình hữu nghị, chỉ tìm bạn để giúp đở, tài trợ và ngược lại, chỉ « xin khai thác mua lại » những nguyên liệu khoáng sản cho hệ thống sản xuất của mình, nhưng Trung Hoa Cộng sản, qua những hành động « thiếu tế nhị » và thái độ « kẻ cả nhà giàu » hằng ngày, đã bày rõ cho thiên hạ biết, để lòi ra một bộ mặt xâm lược, một tư tưởng bá quyền, một tham vọng nước lớn muốn thay thế Hoa kỳ để làm bá chủ thế giới và một uy thế của một thế lực « thuộc địa mới ».
Cũng như Hitler ngày xưa, với một mặc cảm “trả thù dân tộc”, và để che dấu tham vọng bá quyền của mình, Cộng sản Trung quốc cũng « cần phải lộng kiến đưa lên bàn thờ » một chủ nghĩa, một tư tưởng và một lý thuyết gia : Hitler sử dụng nhà tư tưởng, nhà triết học Friedrich Nietzsche (1844-1900), với một cái nhìn rất gay gắt về văn hóa tây âu vào cuối thế kỷ 19, cho rằng những giá trị luân lý, giá trị chánh trị, giá trị triết lý và ngay cả những giá trị tôn giáo ( thiên chúa giáo và do thái giáo) đã hoàn toàn suy sụp, cần phải sửa đổi lại - Umvertung aller Werte (đánh giá lại những giá trị - cách chơi chữ Werte –giá trị - sử dụng hai lần - tạm dịch qua Pháp ngữ Réévaluation des valeurs) và với một Quyết tâm tìm Sức mạnh - Wille zur Macht và để đi đến tạo thành một Siêu Nhân - Der Übermensch. Hitler dùng những tư tưởng triết lý của Nietzsche, cộng với tư tưởng của triết gia Arthur Shopenhauer (178 - 1860) người đã ảnh hưởng lớn đến tinh thần phò dân tộc Đức trong những sáng tác của nhạc sĩ Richard Wagner (1813 -1883) để làm nền tảng cho chủ nghĩa dân tộc Quốc Xã Đức.
Và cũng để có « danh gì với núi sông, và tạo tiếng thơm cùng với thế giới», Trung quốc cũng dựng lại hình ảnh và lộng kiến Đức Khổng Phu Tử, ( -551 TTC/ -479 TTC) người triết gia Á đông lừng lẩy của nhơn loại. Nhưng đây là một Khổng Phu Tử mới ! Một Khổng Phu Tử, đại diện cho một chủ nghĩa Hán, dưới một mặt nạ Văn Hóa Đại Hán, một nền Văn minh Đại Hán, và được dùng để quảng bá một tư tưởng Đại Hán cho một Trung quốc mới ! Đó là đối ngoại. Còn đối nội, đối với nhơn dân Trung Quốc, một Khổng Phu Tử mới cũng được dùng như một biểu tượng, một định nghĩa về một giá trị một con người mới, một người Hán mới, tuy được cộng sản hóa, nhưng vẫn giữ chất Hán, để giữ làm chất keo, tạo một « con người Hán thống nhứt trong một xã hội Trung Hoa mới, thống nhứt », có gắng tìm một chổ đứng trong một xã hôi Trung Hoa ngày nay, thực sự, đầy những đòi hỏi lý lịch địa phương và quyền tự quyết địa phưong dân tộc.
Tất cả phải được giải quyết trước ngày Đại Hôi XVIII nầy. Đại Hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải tìm cho được một con đường đi, tránh những chông gai bẩy sập « nội bộ », những bãi « mìn xã hội », để đến một con đường dẫn đến « một cái nhìn mới cho một mô hình Đảng Cộng sản mới » trong một không khí ổn định xã hội.
Sinh viên đại học Phục Đán ở Thượng Hải xếp hình búa liềm mừng đại hội Đảng 18.
« Sau Đại hội … » Mọi câu hỏi đều được một câu trả lời bắt đầu như vậy, cũng như ở Hoa kỳ tất cả đều mong chờ ngày “ Sau bầu cử Tổng thống …” vậy !
Nhưng đó là chuyện Tàu, còn Việt Nam ? Hình như ở Việt Nam cũng vậy, mọi trả lời đều được ngưng lại chờ đợi Đại hôi Đảng Công sản của Tàu. Nhưng nếu ở Hoa kỳ, bầu cử được giới truyền thông thông tin quảng bá rầm rộ, mọi công dân Huê kỳ, thâm chí mọi người dân các quốc gia khác trên thế giới, Âu châu, Nam mỹ, Úc, Phi và Á chấu đều chăm chú theo dỏi. Còn ở Trung quốc, ai ai cũng biết, thế giới cũng biết, Đại hội chỉ là một màn kịch diễn một bản kịch đã được viết sẳn, người sẽ thay thế ông Hu Jintao - Hồ CẩmĐào là ông Xi Jinping - Tập CậnBình. Người ta biết cả phải thay thế 7 người trên 9 người của Ban Thường Vụ của Bộ Chánh trị, và 60 % các ủy viên trung ương !.
Đó là Trung Quốc, nơi mà những cái gì mới nhứt, tiến tiến nhứt đang hoạt động trong một cơ chế cổ lổ xỉ nhứt. Thế kỷ 21 hoạt động trong một cơ chế cầm quyền của thời trung cổ. Nền khoa học hiện đại Âu Mỹ phục vụ cho một bộ máy cầm quyền thời Xuân Thu Chiến quốc Trung Hoa. ..
Đại hôi thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung quốc sẽ được tổ chức “ trong đệ nhị lục cá nguyệt năm 2012”, theo tuyên bố chánh thức, phản ảnh cái nghịch lý ấy của thế giới Ba Tàu. Đảng Cộng sản Trung Hoa, độc quyền, độc tôn, độc tài cầm quyền từ năm 1949 quy định từ nay sẽ thay đổi các thủ lãnh như sau: những lãnh tụ tối cao Đảng và Nhà nước (Tổng Bí thư đảng đồng thời kiêm Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chánh phủ và Chủ tịch quốc hội Nhơn dân) chỉ được hai nhiệm kỳ thôi, và không được cầm quyền trên 10 năm. Tuổi về hưu các ủy viên các cơ quan đầu nảo sẽ là 68 tuổi. Như vậy Trung quốc của năm 2012 sẽ là quốc gia có truyền thống cộng sản đầu tiên có rất nhiều thay đổi nhơn sự : sẽ thay thế 7 ủy viên của Ban Thường Vụ Bộ Chánh trị gồm 9 người (1). Và sẽ thay thế 60%, có thể 65% Trung ương ủy viên đảng. Nhưng thay thế những ai ? theo tiêu chuẩn nào ?... . Trả lời : Bí mật, bí mật và bí mật ! Luôn luôn nên nhớ rằng truyền thống của các Đảng Cộng sản, quốc tế, Nga, Tàu hay Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên gì gì … cũng bí mật cả. Nhưng không cấm, mặc cả, tiêu lòn, chơi xấu, chơi xỏ, chơi cú xí mứn, đánh cùi chỏ, sử dụng mánh mun, chơi xấu, chơi đòn chánh trị, dùng đòn quyền lực trao đồi, dùng tiền bạc mua bán, đồng minh, phe ta, phe địch … đủ cả mọi trò… miển sao cầm quyền, tham nhũng, ăn chia …hưởng lợi.
Còn đảng viên thường, đảng viên thường thì phải … chỉ biết vâng, biết dạ. Phải có dù, có ô, phải có đàn anh để che, đàn em để xài, phải có băng, có đảng, có gốc, có gác, phải có phe, có cánh. Nếu chẳng may, đảng viên nào có tí suy nghĩ, hay con tim, hay đầu óc, …chán quá, bất mãn, trả thẻ Đảng ? Khó lắm ! Ra đi biệt xứ ? Bỏ nghề bỏ nghiệp ? Chớ nếu còn muốn nghề muốn nghiệp, muốn kiếm việc làm, một cơ quan, một xí nghiệp… phải cần Đảng bộ giới thiệu che chở và sẽ đóng hụi.
Khi đã là đảng viên, nếu muốn ra khỏi Đảng Cộng sản ? khó lắm, khó hơn vào Đảng. Vào Đảng thì vào khi tuổi nhỏ, khi còn đi học, thường thường do các bí thư ( trường học, phường, huyện, cơ quan, công sở …) để ý thâu tuyển, rồi đối tượng đoàn, …đối tượng đảng. Nhưng nếu chẳng may suốt thời gian lớn lên không ai để ý hết, lớn lên, muốn tiến thân có công ăn việc làm tử tế, lên lương lên lộc, phải vào Đảng. Nộp đơn, chưa đủ. Phải có người bảo lãnh, sau một cuộc điều tra lý lịch, xem thành phần, cá nhơn , cha mẹ, xuất thân từ đâu … ba đời bần cố nông. Nói tóm lại Cộng sản đâu cũng vậy Việt Nam Tàu xêm xêm, một bài một bản.
Ở Tàu, từ năm 2007 đến 2012, trên 10 triệu đảng viên mới. Một Đảng khổng lồ với 80 triệu 600 ngàn đảng viên, gần bằng dân số cả nước Việt Nam ta, bằng dân số nước Đức, nhiều hơn nước Pháp… thành phần đảng viên rất trẻ, gồm 1/4 dưới 35 tuổi, 1/2 giữa 35 và 60 tuổi theo thống kê chánh thức ( Xinhua – Tân Hoa Xã ).
Một nghịch lý, chưa bao giờ các lãnh đạo Đảng (đặc biệt ở các địa phương).. bị chỉ trích công khai, thậm chí bị kiện cáo, như ngày nay, nhưng chưa bao giờ số người xin gia nhập đông lại như vậy
Những hậu duệ con cái của các đảng viên tuy phần đông đã có một tương lai đang chờ sẳn, nhưng ngày nay được khuến khích đi học. Một cái nhì mới, một nảo trạng mới, trọng « Hồng » nhưng lại quý « Chuyên », trọng bằng cấp. Mới ngày nào, giới trí thức, hay giới trẻ vừa đổ đạt xong, bằng cấp cao đều bị gọi là “tiểu tư sản”, và ruồng bỏ, ngày nay đang được cưng như trứng và tuyển dụng. Đảng Cộng sản « công nông » đang biến thành Đảng của « những trí tuệ, chất xám » « Đảng của Phẩm chất ». Đảng và Nhà nước là một, vì vậy Đảng đang cần chất xám, đang cần chuyên viên. Đê thành công trong việc tuyển chọn, Đảng cần phải huấn luyện, cần phải đào tạo ! Đại học ngoại quốc, Đại học trong nước, chưa đủ, Đảng Cộng sản Trung quốc có Đại học riêng của Đảng.
Muốn lãnh đạo một cơ quan Trung ương, quan trọng, muốn làm lãnh đạo đứng đầu một cơ quan quan trọng, cấp trung ương hay cấp địa phương, phải đi qua Trường Đại học Đảng. Những vị quan, những cán bộ cao cấp tương lai của chế độ Cộng sản phải được huấn luyện để, chẳng những nhuần nhuyễn tư tưởng Cộng sản Trung hoa, lão luyện với những bí quyết của đường lối chánh trị đương thời, mà còn phải được tôi luyện chuyên môn hóa trong ngành quản trị hành chánh nữa. Trường Đại học Đảng Thượng hải - Shanghai là một thí dụ, song song với Trường chánh trị Đảng thành lập từ thuở giao thời Đảng, Trường Quốc gia Hành chánh thành lập từ năm 1980, theo mô hình của Trường Quốc gia Hành Chánh Pháp (École Nationale d’Administration de France – ENA) (2). Những Giáo sư nổi tiếng nhứt của Trung quốc và của quốc tế đều được mời đến để giảng dạy. Trường Đại học Quảng Châu - Canton rất tự hào với ban giáo huấn gồm rất nhiều tên tuổi nổi danh của ngành giáo dục Hoa kỳ. Ở đây không có sự kiểm soát internet, sinh viên được sử dụng các mạng lưới thông tin một cách tư do, thoải mái. Không có một sự kiểm duyệt nào, sách báo đọc tự do, chỉ trích thả cửa, tự do ngôn luận. Vì đây là lò luyện của những cán bộ cao cấp, những thủ lãnh tương lai của chế độ.
Thế nhưng “ Phải biết vâng lời …” Luôn luôn nên nhớ nằm lòng 64 tiêu chuẩn trong chế độ đảng viên để tiến thân, từ trình đô học vấn, đến thâm niên trong Đảng, nhưng trung thành tuyệt đối là quan trọng, khi nhận công tác, tuân thủ, tuân lệnh để đi đến những kết quả bằng mọi giá, … trung thành và quá trình phấn đấu… để trung thành tuyệt đối với Đảng ? (3)
Thế nhưng, “ Trước năm 1990, một đảng viên từ cấp nhỏ nếu phấn đấu giòi có thể có cơ hội thăng cấp leo lên cao. Ngày nay, không thể có nữa !” Yang Jinseng, kinh tế gia, cựu nhà báo của cơ quan báo chí Xinhua - Tân Hoa Xã tâm sự, Và Anh chứng mình bằng câu chuyện của một quyển sách, bị cấm, tựa là Nghiên cứu những thành phần giai cấp xã hội ở Trung quốc, được phổ biến chui, bí mật đem từ Hong Kong vào, vì sách bị cấm xuất bản đến năm 2011, vì là sách chui nên rất đắt khách, ai aui cũng tìm đọc. Tác giả một đảng viên cao cấp, ai cũng biết nhưng không bao giờ gặp khó khăn mặc dù ông đã tố cáo một hiện tượng có thật của Đảng Cộng sản Trung quốc: một giai cấp « con ông cháu cha » thừa hưởng gia tài.
« Ngày nay không còn có hiện tượng leo thang giai cấp nữa. Những chổ ngon lành, ăn trên , ngồi trước đều được để dành cho các con ông cháu cha, đã được huấn luyện kỹ. Thế hệ mới sau nầy là sẽ là con quan làm tiếp tục quan, con nhà giàu sẽ giàu, và con nhà nghèo sẽ tiếp tục nghèo » Ở một xứ tư bản, người ta có thể hiểu, nhưng ở một quốc gia do Nhân dân làm chủ và Xã hội chủ nghĩa, thật sự có cái gì không ổn.
Thật vậy, những con quan, những cậu “công tử” – con những nhân vật Đảng có “lịch sử” của Đảng (taizi dang) – ngày nay thường giữ những chức vụ cao cấp trong bộ máy cầm quyền - (Một phần tư của Bộ chánh trị thuộc thành phần nầy) – hoặc là những lãnh đạo của các doanh nghiệp quốc doanh hay bán quốc doanh. Một nhóm thành phần khác cũng không kém phần quan trọng, đó là những lãnh đạo xuất thân từ những gia đình khiêm nhường hơn, nhưng với một sự nghiệp gắn bó với Đảng, suốt đời phục vụ đảng, từ nhỏ đoàn viên rồi đảng viên , nhóm tuanpai. Hai người đìển hình cho nhóm người nầy là vị đương kim Chủ tịch Hu Jintao - Hồ CẩmĐào và đương kim Thủ tướng Wen Jiabao – Ôn GiaBảo. Trái lại Chủ tịch tương lai Xi Jinping - Tập CậnBình, « cậu công tử đỏ », con của cựu cánh tay mặt của Cớ Thủ tướng Zhou Enlai – Chu ÂnLai thuộc nhóm trước, nhưng người Thủ tướng tương lai Li Keqiang – Lý KhắcTường, lại thuộc nhóm sau (4).
Có thể xảy ra một cuộc đấu tranh giai cấp không ? Chhác chắn là không, vì vấn đề giữ Đảng. Nếu có, thì có thể có những luồng tư tưởng khác nhau, hay những đấm đá bè phái, phe cánh – nhưng rất kín và nhứt thiết chánh thức là không có - những lục đục sẽ không thấy xảy ra. Nhưng tại sao có xìcăngđan Bo Xilai - Bạc HyLai ?
Trước khi bị trục xuất khỏi sân khấu chánh tri Bo Xilai – Bac HyLai, người đứng đầu thành phố Chongqing – Trùng Khánh với 33 triệu dân, thành phố đông dân nhứt Trung quốc, con của một lãnh tụ anh hùng nhơn dân Tàu, Bo Yibo, Bo Xilai là người hùng bảo vệ quyền lợi của dân công ( mingong), chống tham nhũng, chống những tập đoàn xây dựng nhà cửa, đầu tư…và người chống lại Bo mạnh nhứt, là Wang Yang, xếp tỉnh Guangdong nơi tâp trung các cơ sở thương mại tư bản. Wang Yang không có gốc gác, ca tụng tư bản chủ nghĩa, tự do doanh thương … Và mâu thuẩn thay, chính Bo lại là người bị loại khỏi Đảng Cộng sản, tội tham nhũng và tội « hoài cổ » nhớ Mao. “ Bo có thể làm sống lại cuộc Cách mạng Văn Hóa và nguy hiểm cho nền kinh tế Trung quốc” Thủ tướng Wen trả lời với báo chí. Miễn bàn !
Như vậy để chúng ta thấy rõ, là nhận định tình hình Đảng Cộng sản Tàu rất khó. Đặc biệt với nhản quan, với những hiểu biết và tiêu chuản Tây âu: ai là người cấp tiến, ai là kẻ bảo thủ, thế nào là bảo thủ? thế nào là cấp tiến ? còn tả / hữu lại còn khó nói nữa. Trước khi có xìcăngđan Bo Xilai, người ta vẫn cho Bo là cánh tả của Đảng Cộng sản Trung quốc, Bo là một Mao –ít, bảo vệ những quyền lợi xã hội, và thường được gọi là nhóm “Tân tả phái”. Bo có thành tích chống tham nhũng, nhưng lại rơi đài về tham nhũng ! Bị gài chăng ? .
Wen Jiabao, Thủ tướng người tự giới thiệu mình là Thủ tướng « Nhà nghèo », tự giới thiệu mình thuộc giai cấp nghèo, lúc nào cũng bảo vệ người nghèo, và đòi trừng trị nặng nề những ai tham những, gian thương, tuần vừa qua đang bị mạng luới thông tin Mỹ cho biết là gia đình giòng họ Wen Thủ tướng có trong tay gần 3 tỷ bạc dollars, do tiền làm ăn bất hợp pháp ;
Ai đúng ai sai ? Bo Xilai tham nhũng ? Wen Jiabao tham nhũng. ? Có lẽ sự thật là Đảng cầm quyền Trung Cộng cũng như Đảng cầm quyền Việt Cộng đều là một hệ thống Mafia làm ăn bất hợp pháp, đầy tham nhũng. .
Và thay đổi lãnh đạo cũng chỉ là một phần cũng cố cái ghế ngồi của Đảng Cộng sản mà thôi!
Và Xã hội chủ nghĩa ? và Chủ nghĩa Đại Hán? Tất cả chỉ tạo một bức màn khói để yên nhà, yên cửa, “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tồ chức cho Đảng yên, dẹp bất mãn quần chúng, bình thiên hạ.
Đảng Cộng sản mơ được trị vì một ngàn năm, của như lúc xưa Hitler mơ tạo dựng một “Một ngàn năm Đệ tam Reich” vậy !
Đại hội Đảng Tàu Cộng xong, Đảng Việt Cộng sẽ thái độ gì đây ?
Hay lại giở trò mang “cờ Trung quốc 6 sao” ra mừng Tập Chủ Tịch vừa nhậm chức, như ngày nào !
Và tiếp tục bắt ! Và tiếp tục nhốt ! Và tiếp tục xử tôi các Nhà đấu tranh Dân chủ Yêu nước ! Chống Tàu chống Đảng Cộng sản Việt Nam bán nước cho Tàu.
Rõ chán !
Hồi Nhơn Sơn những ngày chờ kết quả bầu cử Tổng thống Hoa kỳ.
Phan Văn Song

Ghi chú:

(1) - Sau ngày Đại hội sẽ có quyết định Bộ chánh trị sẽ là 7 hay 11 người
(2) - xem Émilie Tran : « Trường đảng và phương pháp huấn luyện đào tạo cán bộ cao cấp tại Trung quốc » - “École du Parti en formation des élites dirigeantes en ChineCahiers internationauxde sociologie, n°122 Presses universitaires de France, Paris 2007.
(3) – Richard McGregor, “Đảng, Thế giới bí mật của những luật lệ Đảng Cộng sản Tàu” – “The Party : The Secret World of China’s Communist Rulers” Harpers Collins, NewYork, 2010.
(4) – xem Laurent Ballouhey, “ Con quan và …Chủ tịch » - « Fils de prince et ..président » và « người lãnh tụ trẻ nhứt » trong « Trung quốc, tình hình nguy ngập” – “Le plus jeune des dirigeants » dans « Chine, état critique », Manière de voir, n°123 juin/juillet 2012

Đảng Cộng sản Trung quốc, những con số :
80,6 triệu đảng viên
23,7% đảng viên dưới 35 tuổi ; 50,9% <35 – 60<tuổi ; 25,4% <60 tuổi ; 24% đàn bà
8,5% công nhơn ; 29,9%nông dân hay ngư dân ; 21,1% chủ nhơn xí nghiệp tư doanh
10,2% công nhơn viên nhà nước ; 18,1% hưu trí ; 2,8% sinh viên .
Ủy Ban Trung ương gồm 204 ủy viên (12 nữ) và 167 dự khuyết. 10% tốt ngiệp Đại học hay có du học hoặc đã phục vụ ở ngoại quốc. 5% từng lẵh đạo xí nghiệp.

Thành phần Con Ông cháu Cha :
Nhiều COCC đang giữ những chức vụ lớn trong đoanh thương : vài thí dụ
Hu Haifeng, con của Chủ tịch Hu Jintao, lãnh đạo Hảng Nuctech, chuyên sản xuất các cổng an toàn, sử dụng ở các phi trường, các cửa hàng, xe điện ngầm …) sau đó chuyển sang làm Tổng bí thư Đảng của Tập đoàn Tsinghua Holdings, cơ sở mẹ điều khiển Nuctech, và 20 hảng khác.
Con gái của Hu Chủ tịch, bà Hu Haiqing, là vợ của ông Mao Daolin, cựu chủ nhơn của cơ sở internet Sina.com.
Con trai của Thủ tướng Wen Jiabao, ông Wen Yunsong, là Chủ tịch tập đoàn quốc doanh China Satellite Communications (Satcom) ; con rễ Wen Thủ tướng, ông Lui Chunhang, sau khi tập việc ở Morgan Stanley, nay là Tổng Giám đốc Nha nghiên cứu và Thống kê của Ủy ban kiểm soát và điều chỉnh Ngân hàng.
Ông Wilson Feng, con nuôi của Chủ tịch Quốc hôi Nhơn dân Trung quốc Wu Bangguo ( số 2 cỏ Triều đình Vương quốc Trung Cộng) lãnh đạo một cơ quan đầu tư cọng tác với Ngân hàng kỹ nghệ và thương mại Hong Kong.

Nguồn Xinhua – Tân Hoa Xã – The New York Times 17 /05 : 2012.
Tài liệu nghiên cứu của Patrick Bochler phổ biến bởi Nguyệt san Le Monde Diplomatique số tháng 9 /2012

Bài Xem Nhiều