We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 10 November 2012

“Nam Quốc Sơn Hà”: Chân lý chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam

   
(DR)

Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” được cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt.
Thời điểm ra đời bài thơ
Đây là một bài thơ lịch sử phổ biến nhất ở Việt Nam, phổ biến vì nó thể hiện được chân lý toàn vẹn lãnh thổ bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam, dù có nghiên cứu sử hay không, thì người Việt Nam ai mà không biết đến câu : « Sông núi nước nam vua nam ở ». Thế nhưng, đến hiện tại, bài thơ này còn nhiều điểm chưa thống nhất giữa các tài liệu về tác giả, thời điểm ra đời và một số câu chữ trong bài thơ.
Về thời điểm ra đời bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, hiện tại có hai thuyết khác nhau về thời điểm xuất hiện bài thơ, mà có lẽ là dựa chủ yếu vào hai tài liệu sau đây:
Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp thời Trần phần “Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt” chép:
“Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đem binh sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch. Hai bên đối lũy cùng cầm cự với nhau. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân hiện trên sông nói rằng: “Anh em thần, một tên là Hống, một tên là Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương, cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không theo được nên uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương hai anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc cứu sinh linh […] Đêm sau thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía nam sông Bình Giang tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông như Nguyệt lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình trên không, lớn tiếng ngâm rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
Quân Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau mà chạy, mạnh ai nấy chạy thoát thân, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống vì thế đại bại mà về”.
Trong khi đó, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê thì ghi: “Nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1 nghìn người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta (người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Sau đó quả nhiên như thế. (Hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em tên là Hát, đều là tướng giỏi của Triệt Việt Vương. [Triệu] Việt Vương bị [Hậu] Lý Nam Đế đánh bại mà mất nước. Nam Đế gọi cho làm quan, hai người đều nói: "Tôi trung không thờ kẻ làm vua đã giết hại chủ mình". Rồi ẩn mình trốn ở núi Phù Long, Nam Đế gọi mấy lần không chịu ra, mới hạ lệnh ai chém được thủ cấp hai người thì thưởng nghìn vàng)”.
Như vậy, một thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” xuất hiện khi vua Lê Đại Hành mang quân cự Tống năm 981, còn theo thuyết còn lại thì bài thơ ra đời khi Lý Thường Kiệt phụng mệnh vua Lý Nhân Tông mang quân chống giặc Tống xâm lăng hồi năm 1076-1077. Thế nhưng, khi đề cập đến bài thơ này đa số sách sử đều cho là gắn liền với trận đánh trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1076-1077. Như sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ hay Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim đều cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt.
Dù bài thơ xuất hiện dưới thời Lê hay thời Lý thì đến hiện tại chưa thấy tài liệu nào ghi rằng chính vua Lê Đại Hành hay tướng Lý Thường Kiệt sáng tác bài thơ hoặc đích thân họ đã ngâm bài thơ. Trong cả hai trường hợp các sách đều nói rằng là do ‘”thần nhân” ngâm lên để làm khiếp sợ giặc Tống. Nói về “thần nhân” ngâm bài thơ, thì các sách cũng thống nhất rằng đó là hai thần Trương Hống và Trương Hát. Mà chuyện về hai vị thần này thì còn nhiều điều mờ mịt dù rằng đền thờ hai vị là có thật.
Một bài thơ chống ngoại xâm
Dù là xuất hiện ở thời Lê Đại Hành hay thời Lý Thường Kiệt, thì bối cảnh lịch sử cũng là: đánh đuổi giặc ngoại xâm mà cụ thể ở đây là giặc Tống. Điều đáng chú ý đó là các sách đều ghi nhận là do thần nhân đọc hoặc được vang lên từ trong miếu thần nhân, và mục đích đều là: “đánh đuổi giặc ngoại xâm”, và kết quả đều là: thắng lợi.
Các sách có đề cập đến câu chuyện này đều ghi nhận, khi nghe bài thơ, quân Tống kinh hãi và chạy tán loạn. Vì sao lại sợ hãi đến thế? Trước tiên là vì bài thơ đến từ các thần nhân, trong chuyện Lê Đại Hành thì các thần đích thân ngâm, còn trong chuyện Lý Thường Kiệt thì bài thơ được vang lên từ trong miếu thần. Mà dẫu cho đó là mưu kế Lý Thường Kiệt, thì Lý Thường Kiệt cũng muốn nhờ đến oai thần mà làm khiếp sợ quân xâm lược và Lý Thường Kiệt đã làm được, oai linh của thần nhân đất Việt đã làm khiếp sợ quân thù.
Trong chuyện An Dương Vương mất nước vì để mất nỏ lẩy nỏ thần, sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần, chuyện đá biết nói cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp thịnh, thần minh giáng để xem đứa hóa; nước sắp mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong. An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không dè đặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư?”. Nói như thế thì thần ở đây chính là linh khí của núi sông, là lòng dân vậy, thần làm theo ý muôn dân, nếu dân hộ thì thần hộ. Oai thần ở đây chính là oai linh của núi sông Việt Nam. Giặc Tống kinh hãi oai thần tức là kinh hãi cái chí khí bất khuất của dân tộc Việt Nam vậy.
Vì sao quân Tống phải kinh hãi oai thần? Vì quân Tống đã làm trái đạo lý, mà trái đạo lý tức làm làm thần và người cùng oán vậy. Điều trái đạo lý của quân Tống đó là đã xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của một quốc gia.
Còn nhiều dị bản về nội dung bài thơ
Trước hết cần khẳng định rằng bài thơ này không có tên, mà cái tên “Nam Quốc Sơn Hà” là do đời sau mượn bốn chữ ở câu thơ đầu và cũng là tinh thần của cả bài thơ để đặt tên cho bài thơ.
Còn về nội dung của bài thơ, thì đến hiện tại cũng có nhiều dị bản. Đến như hai tài liệu chính yếu liên quan đến câu chuyện nêu trên cũng có chỗ khác nhau.
Lĩnh Nam Chích Quái ghi:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc Lỗ lại xâm phạm
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư
.
Dịch nghĩa :
Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
Điều đó đã được ghi rõ trong sách trời.
Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
Thì lưỡi gươm sắt sẽ chém tan như là chẻ tre vậy.
Còn Đại Việt Sử Ký toàn thư nhà hậu Lê chép:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Dịch nghĩa :
Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
Điều hiển nhiên đó đã được ghi rõ trong sách trời.
Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
Thì sẽ chuốt lấy bại vong.
Bản lưu hành rộng rãi trong hiện tại mà Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim cũng ghi :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Ta thấy có sự khác nhau là “phân định” và “định phận”. Nếu dùng chữ “định phận” thì có vẻ thụ động hơn, tức được trời đặt để. Trong khi đó, chữ “phân định” thì có tinh thần tự chủ hơn, tức cũng do trời sắp đặt, nhưng mà sắp đặt theo chân lý, theo điều hiển nhiên. Và cũng đúng thôi, xã hội Việt Nam từ thế kỷ 15 bắt đầu chịu sự thống trị của Nho Giáo, mà theo Nho Giáo thì trời là chân thiện mỹ, là đại diện cho sự hoàn hảo, trời luôn làm điều tốt, điều hợp đạo lý cho con người. Hơn nữa, Nho sĩ ai mà không biết câu “nhân định thắng thiên”, tức nếu người quyết tâm cao thì cũng làm lai chuyển được ý trời. Mộc bản triều Nguyễn, di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản tư liệu của nhân loại và được đưa vào chương trình "Ký ức thế giới” vào ngày 30-7-2009, cũng chép là “phân định”.
Như vậy, dung chữ “phân định” thì có vẻ hào hùng hơn và hợp lý hơn trong bối cảnh lịch sử là làm khiến sợ quân thù và khẳng định chủ quyền quốc gia như tinh thần mà bài thơ muốn truyền tải.
Trong các bản trên, ta thấy có sự khác biệt giữa “Bắc Lỗ”-giặc phương Bắc và “nghịch lỗ”-giặc nói chung. Như vậy, từ một đối tượng ngoại xâm cụ thể là giặc phương Bắc đã đi đến giặc ngoại xâm nói chung. Điều đó cho thấy lập trường rất rõ ràng của người Việt Nam, là không chỉ giặc phương Bắc, mà bất kỳ kẻ ngoại xâm nào cũng không được phép và không thể xâm lược Việt Nam, nếu xâm lược thì sẽ chuốt lấy bại vong.
Bàn về cách dịch bài thơ, sách giáo khoa ở Việt Nam và nhiều tài liệu khác điều chép bản dịch sau đây :
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.
Bản dịch này dung từ “vua” trong khi bản gốc là “đế”. Bản chữ Hán của bài thơ là :
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Ta thấy bản gốc là chữ 帝- Hoàng đế, còn vua thì phải là 王 – vương. Hoàng đế là ngôi cao nhất, ngôi có quyền phong cho nhiều người làm Vua, nhưng Vua thì không bao giờ có quyền phong cho ai làm Hoàng đế. Các vua của ta xưa nay để sánh ngang với triều đình phương Bắc đều xưng là hoàng đế. Tuy vậy, Nho Giáo của ta đề cao thuyết “trọng vương kinh bá”, tức chuộng việc cai trị tốt muôn dân trong nước chứ không có dã tâm đi hiếp đáp nước người, nên dân ta có vẻ đồng nhất hoàng đế và vua, như hay gọi vua Đinh Tiên Hoàng, vua Minh Mạng, hay vua Khang Hy, vua Càng Long …trong khi các vị này đều xưng là hoàng đế. Thế nhưng, nếu ở đây mà dịch Đế là Vua thì chưa thể hiện hết niềm tự tôn và tự tin rất mãnh liệt của tổ tiên ta.
Một bài thơ khẳng định chủ quyền quốc gia
Như vậy, dù còn nhiều tranh cãi về thời điểm ra đời, về tác giả và về nội dung bài thơ, nhưng có một thực tế lịch sử đó là bài thơ đã tồn tại từ bấy lâu nay trong sử sách chính thống và trong dân gian, đó là dù Lê Đại Hành hay Lý Thương Kiệt thì hai vị này cũng đã thật sự đánh bại giặc Tống. Và điều quan trọng hơn hết không phải là lạc vào trong các chi tiết huyền sử, mà cần hiểu được bài học mà tổ tiên ta muốn gửi gắm cho thế hệ sau.
Liên quan đến chủ đề này, giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille Cộng Hòa Pháp nhận định:
« Trước tiên tôi xin nhắc lại một bản dịch bài thơ mà tạm gọi là của Lý Thường Kiệt, bản dịch của cụ Nguyễn Đổng Chi :
Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc dám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
Người ta không biết bài thơ này có phải của danh tướng Lý Thường Kiệt hay không, nhưng chúng ta cần phân biệt huyền sử với khoa học lịch sử. Trong bối cảnh tranh chấp quyết liệt giữa người Việt dưới thời Lý và người Trung Quốc dưới thời Tống, thì ta có thể xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập tự chủ của người dân Việt Nam. Theo ý tôi, cái ý nghĩa lịch sử nó sâu sắc hơn là sự kiện lịch sử.
Xem lại bài thơ này ta thấy có ba điểm chính. Điểm đầu tiên là nguyên tắc độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam được phát biểu một cách rõ rệt. Thứ hai là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Và thứ ba là nguyên tắc về bổn phận thiêng liêng của người Việt là phải bảo vệ tổ quốc của họ. Đó là ba ý chính để có thể suy luận rằng đây có thể là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia Việt Nam.
Còn trong bối cảnh thời sự ngoại giao của dân tộc Việt Nam hiện nay và những vấn đề ta phải đương đầu, tôi nghĩ thế này, qua bài thơ ta thấy một chân lý lịch sử rõ rệt là : ai đi ngược lại ba nguyên tắc đó sẽ đi đến thất bại. Nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện giờ, ai đi ngược lại chính nghĩa, dựa vào võ lực để xâm lược một xứ nhỏ, đều sẽ thất bại trước lịch sử ».
Tóm lại, bài thơ Nam Quốc Sơn Hà là một lời khẳng định hùng hồn cho một chân lý của tạo hóa là : đất nước Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ, đó là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, bất chấp đó là ai, nếu đi ngược lại chân lý cuat tạo hóa là xâm lược lãnh thổ Việt Nam (hay của bất kỳ một quốc gia nào) thì chắc chắn sẽ chuốt lấy bại vong. Đây cũng chính là tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã được thực tế lịch sử minh chứng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

 Lê Phước

Lòng Dân :Chôn Nó đi (phần 5)

Lòng Dân(Chôn Nó đi, phần 5.)


Nhiều người than phiền là Lòng Dân hôm nay đã nguội lạnh. Hoặc gỉa, nhu nhược. Không còn thiết tha gì tới việc nước, rồi “mặc kệ nó” muốn làm gì thì làm. Muốn đến đâu thì đến!

Sự thật, có lẽ không phải như thế. Nhưng hãy công bằng mà nhìn lại cục diện Việt Nam trong vòng vài trăm năm qua mà thương, mà thấy là người dân Việt Nam ở mọi nơi đã nhận qúa nhiều cay đắng, bất hạnh. Truớc hết, họ đã phải đeo trên lưng qúa nhiều gánh nặng. Họ phải lao nhọc vì các nhà nước một cách qúa mức. Họ phải chấp nhận hy sinh nhiều lần hơn chúng ta tưởng tượng. Đổi lại, người dân đã bị các nhà cầm quyền đối xử một cách rất bất công, thô bạo. Trong đó, có nhiều khoảng thời gian việc đối xử không còn ở cấp độ bất công, nhưng là một phương thức đối xử bất nhân có hệ thống. Ấy là chưa kể đến sự việc bị các thế lực chính trị lợi dụng, lừa đảo lòng yêu nước của họ. Từ đó, lòng người không muốn chai đá cũng phải chai đá. Không muốn lạnh nhạt với thời cuộc thì cũng không có cách nào để phần khởi hơn.

Thật vậy, theo số liệu của lịch sử. Hoa kỳ lập quốc từ năm 1789, cũng nhờ binh ngoại và trải qua một cuộc nội chiến, nhưng nay vượt lên trên tất cả. Ở Việt nam, Nguyễn Ánh cũng đi cầu binh ngoại cũng đẩy người dân Việt Nam vào một cuộc nồi da xáo thịt trong nhiều năm.. Chiến tranh đã chấm dứt vào năm 1802 ( sau Hoa Kỳ khoảng 23 năm). Nhưng nay thì đếm từ cuối bảng đi lên. Tại sao? Có phải vì những lý do sau?

1. Lạm dụng quyền lực, dân lành bị chết oan, chết bằng muôn loại cực hình ai cũng thấy rợn người

Sau khi làm Tổng Thống, George Washington đã cả một đời lo cho dân, vì dân, vì nước mà xây dựng một nền móng dân chủ vững chắc cho tương lai dài của đất nước. Trong khi đó, sau khi yên vị, những Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, trở thành những Neron ở trời đông, đã lạm dụng quyền lực, chém giết hơn 200,000 ngàn người dân lành với mục đích xây dựng quyền lực cho đế chế quân chủ của dòng họ.

Đọc sử, nhìn con số dân lành bị chết oan, chết bằng muôn loại cực hình ai cũng thấy rợn người. Rồi thấy những hình phạt gián tiếp giáng xuống trên gia đình các nạn nhân, có ai không mủi lòng hoặc không lên án cái man rợ của những bạo chúa? Ấy thế mà, Sử xem ra cũng có chỗ bất công khi những kẻ giết người vì mục đích tư dục, không hề bị “lịch sử” phê phán, trừng phạt. Trái lại, còn được treo gương, đề tên ở trên đường phố của Việt Nam!

Tôi tin rằng, dân tộc Việt Nam không phải là giống dân mọi rợ, thờ thần bạo ác? Lại không thiếu tên tuổi của những người vì dân vì nước từ hơn 4000 năm qua, nhưng không thấy nhắc đến. Trái lại, tên tuổi của những bạo chúa giết người thô bạo lại được treo cao gía ngọc trên các đường phố Việt. Tại sao lại thế? Chỉ vì họ là vua quan chăng? Tôi không cho cái nhìn ấy là đứng đắn và quan trọng. Bởi lẽ, dù chỉ là một người chiến binh, một người nông dân áo vải đã hiến cả mạng sống của mình vì dân tộc, vì đất nước thì cái phẩm giá, cái nghĩa khí họ để lại cho non sông còn cao qúy và đáng trọng hơn ngàn lần xo với tên của những người chỉ có vị vua, quan mà chẳng có một chút công trạng nào với nước.

Có ai muốn đường phố Việt Nam vẫn mang tên những tội phạm bán nước Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc, Hồ chí Minh hay những kẻ giết người như Nguyễn văn Trỗi, Trường Chinh... sau khi chế độ bạo tàn này đã bị hạ bệ không? Nếu không, tại sao lại vẫn để những cái tên như Minh Mạng, Thiệu Trị, tự Đức trên các đường phố như là một cách vinh danh những hành động thô bạo, bất nhân? Nếu chúng ta tiếp tục bất minh như thề thì làm sao có thể ổn định được lòng người? Làm sao có thể hóa giải được những hiềm khích, to hay nhỏ, ỡ trong các sinh hoạt của đất nước?

Tôi chưa sang Đức, không biết ở đó có tên đường phố nào mang tên Hitler, Himmler không? Đừng bảo là những nhân vật này thuộc về lịch sử nên phải để lưu lại danh tánh nhá. Lịch sử thì có góc riêng của lịch sử như khi người ta nhắc đến Trần ích Tắc, Lê chiêu Thống. Theo đó, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cũng không có ngoại lệ. Nghĩa là những vua quan tàn bạo, hành ác cũng có một góc riêng trong lịch sử, nhưng tuyệt đối không thể đề danh, lưu lại trên các đuờng phố cho dân chúng chiêm ngưỡng hằng ngày. Bởi tội ác không thể là một tấm gương, không là một công nghiệp đáng lưu lại. Nhưng phải Chôn Nó Đi. Hơn thế, dưới góc nhìn khác, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức có hơn gì Trần ích Tắc, Lê chiêu Thống hay Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản trong việc đi cầu binh ngoại? Có chăng là họ chiếm đoạt được quyền lực còn Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc thì không?

Khi viết đến chuyện này có thể có nhiều người không thích. Hoặc gỉa, phản đối vì lý do “lịch sử” đã qúa xa. Tuy nhiên, khi nói về Lòng Dân, tôi không thể không xét đến. Bởi lẽ, nó là một trong những nguyên nhân chính yếu làm cho Lòng Dân không phải bị nguội lạnh, mà là tan nát. Bởi vì, từ nhát chém tàn bạo của Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đổ xuống trên đầu 200,000 ngàn người dân vô tội, đã đẩy người dân Việt vào trong cái nhìn dị biệt, nếu như không muốn nói là kình chống nhau. Họ kình chống nhau vì không hề biết đến những cội nguồn, căn nguyên của sự việc vua quan nhà Nguyễn ra lệnh chém giết người dân theo đạo Giatô là gì? Họ chỉ nghe một cách đơn gỉan là, theo lệnh vua, ai theo đạo Giatô là phải chết, phải bị xử trảm. Trong ký ức và sự hiểu biết của người dân thì kẻ bị xử trảm là kẻ phạm vào những tội đại ác như cướp của giết người hay là phản quốc. Nay người theo đạo Giatô, bị lên án tập thể, bị đuổi bắt, bị xử giảo hình, chắc là họ cũng phạm vào những loại tội này chăng? Câu hỏi đã không được giải đáp cho dân vào thời gian đó, nó trở thành một nghi án lạnh lùng với những người cùng thời.

Trong khi đó, không có vua quan nhà Nguyễn nào dám công khai nói ra sự thật là những người theo đạo Giatô phạm tội chết vì họ đã mang vào, truyền bá trên đất nước này, rồi cùng thực hiện cho họ cuộc sống luân lý một vợ một chồng. Cũng không có ông vua nhà Nguyễn nào dám nhìn nhận, nền luân lý một vợ một chồng là một bước tiến, là một canh tân vượt bực để cho xã hội bước vào một sức sống mới và đưa đất nước đi lên. Hoặc gỉa, đó là một nền luân lý rất đáng trân trọng và nên mang vào trong xã hội của ta để tự nó lần hồi khai phóng cuộc sống cho con người. Trái lại, họ đã thay nhau rao truyền dối trá. Đó là tà đạo. Đạo thờ ngoại nhân. Đạo theo thuyết Độc Thần (mà bỏ quên vua là thiên tử), gây rối loạn trong dân nên phải bị xử tội.

Việc vu khống này xem ra chỉ có một mục đích là che lấp, là ngăn chặn một Nguồn Sống Mới đang lan rộng trong dân, và trở thành một sự kiện lớn đả phá vào tận căn cái lề thói cổ đa thê của ta. Hoặc gỉa, nó muốn ngăn chặn ý tưởng giải phóng con người khỏi cuộc sống nô lệ. Hay công khai thách đố quyền lợi nhục dục của các vua quan đã truyền đời, tự cho mình “đặc quyền” có năm thê bảy thiếp và trăm cung phi, mà không đếm xia gì đến những nổi khổ của các nạn nhân. Nay bị va chạm, bị coi thường, lo mất quyền lợi, các triều này đã không ngại tạo ra lý lẽ và ra lệnh cấm đạo. Tệ hơn, còn muốn gạt những người theo đạo Gia-tô ra ngoài mọi sinh hoạt của xã hội một cách lâu dài, nếu như không muốn nói là vĩnh viễn bằng những sắc chỉ. Minh Mạng: (1820-1820) 7 Sắc Chỉ cấm đạo. Thiệu Trị ( 1840-1847) 2 sắc Chỉ. Tự Đức (1847-1883) 13 sắc chỉ. Tất cả đã trở thành những luật lệ miên viễn buộc người dân phải tuân theo trong thời nhà Nguyễn. Dĩ nhiên, khi nhà Nguyễn không còn thì những bản án này cũng vẫn còn gây tác động và ảnh hưởng trong lòng dân tộc.

Dĩ nhiên, những Sắc Chỉ này là không đủ khả năng giết hết người theo đạo công giáo tại Việt nam. Cũng không có khả năng gạt họ ra ngoài mọi sinh hoạt của xã hội một cách vĩnh viễn. Nhưng nó đã có những ảnh hưởng tiêu cực kéo dài, tạo ra sự chia rẽ nghiêm trọng giữa những người cùng màu da, cùng tiếng nói, cùng chủng tộc, nhưng khác tôn giáo. Tệ hơn, nó có thể trở thành một diểm nhạy cảm cho nhửng thế lực chính trị lợi dụng, khích động. Tiếc rằng, những người kế vị của các triều này đã không có đủ một nhãn quan, một ý thức vì dân tộc để rút lại tất cả những sắc chỉ mang tính tiêu cực, đã hủy hoại, chôn vùi chính những cá thể và triều đình của họ, đã gây tai hoạ cho quốc gia, như là một lời xin lỗi, nhận sai lầm trước quốc dân để dần dần tẩy đi những oan khiên cho chính triều đại của họ,

2. Sau khi dành lại Độc Lập từ tay thực dân, người dân ở bên kia vỹ tuyến 17 được những gì?

Bên cạnh những hệ lụy từ lâu đời ấy, sau cuộc kháng chiến dành lại Độc Lập từ tay thực dân, ngoài những khẩu hiệu lẫy lừng, người dân ở bên kia vỹ tuyến 17 được những gì? Họ có được đời sống tự do, ấm no hạnh phúc, được công lý và luật pháp của một nước độc lập bảo vệ? Hay họ bị Hồ chí Minh cho ăn bánh vẽ, rồi bị nhào nặn thành những kẻ nô lệ với cuộc sống còn tồi tệ, thống khổ hơn cả những ngày sống dưói ách thực dân?

Cuộc kháng chiến gọi là dành Độc Lập mà vào phút chót Hồ chí Minh bỗng nắm được quyền lực không phải là do công lao của Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản mà có. Nhưng là do công sức của toàn dân, trong đó phải kể đến những cuộc chống thực dân đã có từ trước, tổn hại rất nhiều xương máu của người dân từ vụ binh biên ở kinh thành với vua Hàm Nghi, rồi đến những đoàn nghĩa quân lên đường vì nước chẳng vì vua quan như ông Phan Đình Phùng, Cao Thắng đến Hoàng Hoa Thám, Đề Thám, Nguyễn Trung Trực, Phan Liêm, Phan Tôn, Nguyễn thái Học, cô Giang, cô Bắc và các phong trào Đông Du, với cụ Phan bội Châu, Phan chu Trinh...mà có. Nhưng sau khi cưóp được chính quyền trong tay của chính phủ Trần trọng Kim, Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản, phần vì quyền lợi phe nhóm, phần vì phận làm nô lệ cho Nga, Tàu nên họ đã quay trở mũi giáo vào dân chúng.

Trước hết, để đền ơn nhân dân đã hy sinh xương máu trong cuộc tranh đấu dành lại độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, Hồ chí Minh, ngay sau khi nắm được chính quyền đã tổ chức một mùa đấu tố rực rỡ với chủ đề “cải cách ruộng đất”. Nói là cải cách ruộng đất cho nó có chữ vậy, thực chất đây là cuộc phỗng tay trên toàn bộ tài sản của đất nước vào tay đảng cộng sản. Cuộc đấu tố này đã được thực hiện ở trên đất bắc sau ngày ký Hiệp Định đình chiến 20-7-1954. Với cái chết oan khuất của hơn 170,000 ngàn người trên tổng số khoảng 14 triệu dân, HCM vĩnh viễn đi vào lịch sử Việt Nam như là một đồ tể vô tiền khoáng hậu. Nạn nhân của Hồ là những ai?

Thứ nhất, họ là những người dân yêu nước, đã từng nuôi ăn, cho ở đợ những tên tuổi từ Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Trường Chinh, Hoàng văn Hoan, Nguyễn duy Trinh, Trần quốc Hoàn, Võ Nguyên Giáp... cho đến các cấp nhỏ nhất tại các thôn xóm. Nghĩa là không có một đoàn đảng viên nào mà đã không sống nhờ vào lòng hảo tâm của những người mà chúng giết sau này. Người bị giết đầu tiên được nhắc đến tên là bà Nguyễn thị Năm ở Bắc Ninh. Người không được nhắc đến tên tuổi là những nông dân trên các cánh đồng, bằng cách này hay cách khác đều là những ân nhân nghìn đời của cộng sản.

Kế đến là nhiều cha mẹ, anh em ruột thịt và thân nhân, lối xóm của rất nhiều sỹ quan và cán binh, có người còn sống, có người đã chết trong chiến đấu, thuộc những đại đoàn chính quy, hậu cần, trong suốt thời kỳ kháng chiến. Họ là những ân nhân của cách mạng, đã từng tiếp tế lương thực gạo thóc, tiền bạc thức ăn cho Việt Minh trong suốt 9 năm kháng chiến. Nhưng được Hồ chí Minh đền ơn bằng cách lôi ra đấu tố vì là điền chủ, phú nông, lý trưởng, chánh tổng... với tội danh”. “tay sai của thực dân cài người vào tổ chức của ta. Nó tiếp tế cho ta là vì muốn nắm tin tức của ta. Thực tế chúng là những kẻ bóc lột dân ta”!

Rồi đến bản thân nhiều sỹ quan binh sỹ đã đi vào kháng chiến cũng không tránh được tai họa vì nghề đấu tố của HCM. Lý do, sau chiến tranh, người cán binh về thăm quê. Chưa gặp gia đình đã gặp đội đấu và đội “quần chúng nhân dân”. Các anh bị bắt giữ và bị hành quyềt với tội danh: “Nó là con địa chủ, có ăn có học ở thành phố, ở với tây, được cài vào trong đội quân của ta làm phản gián!”. Tôi có hai người thân nằm ở trong trường hợp này (trung tá Phạm Hàm va em là thiếu tá Phạm Hiến) quê ở Yên Mô, Ninh Bình. Bố ở nhà bị giết vì tội “việt gian”, con về thăm nhà cũng được Việt cộng cho đi tầu xuốt! Sau cùng là nông dân có vài sào ruộng và vài con trâu cũng từng góp gạo, góp của cho kháng chiến. Nhưng được đảng đôn lên hàng phú nông, thuộc giai cấp bóc lột và cũng nhận được một nhát dao ân huệ của Hồ chí Minh. Tính ra trong cả nước, không có ai mà không có tội. Hôm họp ở làng tôi, một làng đã vào tề ở ngoài bắc, sau vào nam lại lập ấp, cán bộ chắp tay sau đít, đi đi lại lại điểm mặt: “bà con liệu đấy, ở đây không ai mà không có tội, chỉ là nhà nước chưa tính tới phiên mà thôi!”

Gặp những cảnh bị đối xử bất nhân, bất công như thế đã đủ làm cho người dân lạnh nhạt, thờ ơ với việc nước chưa? Liệu còn có ngọn lửa nào, hay cuộc lừa phỉnh nào sẽ mãnh liệt hơn để cho lòng họ nóng lại hay không? Không, tôi tin là không có một ngọn lửa nào, không có một chiêu bài nào có thể làm cho lòng họ nóng lại, để họ tự đem chính bản thân của mình ra để phục vụ cho một chế độ tàn bạo ngay sau mùa đấu tố 1954 được nữa.

3. Trong khi đó, ở miền nam từ 1954-75, Lòng Dân cũng bị đập cho bơ phờ, tả tơi..

Cuộc chia đôi đất nước không làm cho lòng người ở miền nam yên tâm, dù ở đây chính quyền ra sức bảo vệ họ thay vì mở những cuộc đấu tố, cải cách như ở ngoài bắc. Tuy thế, nhiều lúc họ cũng chẳng biết số phận của mình sẽ ra sao. Nhìn chung, chính quyền, phần thì nỗ lực để vãn hồi an ninh trật tự đầy bè phái và hỗn loạn, sống như vô pháp vô cương do Bảo Đại để lại. Phần thì ra công ra sức xây dựng, đặt nền móng cho một định chế Dân Chủ sau khi thu hồi Độc Lập từ thay thực dân Pháp và bãi bỏ thể chế quân chủ đã tồn tại trên giải đất này từ thời lập quốc. Đã thế, còn lao nhọc chăm lo đến đời sống của người dân, hỗ trợ, ổn định cuộc sống cho hơn một triệu đồng bào di cư, trốn nạn cộng sản từ bắc vào nam. Đến khi mới có chút nắng, mang màu hy vọng cho một tương lai của đất nước trên đỉnh đầu thì các thế lực chính trị ăn bám theo Tây, nhưng đã mất quyền lực, hay vì ảo giác chính trị (muốn có quyền lực) lại tìm cách khuấy động lòng dân nổi lên đấu tố chính quyền, thay vì hướng dẫn người dân đi vào đường lối chính thống, thay đổi chính phủ bằng những lá phiếu theo điều kiện của luật pháp!

Một trong những vụ khuấy động lòng dân lớn rộng, nấp dưới tấm bình phong tôn giáo để che đạy mưu đồ chính trị có lợi cho cộng sản là phong trào “chống kỳ thị tôn giáo” do TT Thích Trí Quang lãnh đạo.(điều này lúc trước xem ra là cấm ky, nhưng nay thì chả còn ai phủ nhận khi xem những đoạn Video cũ) đưa đến cái chết của TT Thích quảng Đức làm rúng động thế giới. Tuy bị cáo buộc khá nhiều, nhưng sau nửa thế kỷ tính từ ngày nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền nam Việt Nam cáo chung với cái chết đau thương của TT Ngô đình Diệm và người bào đệ của ông, người ta đã không thể tìm ra những bằng chứng cụ thể, xác thực nào về việc chính quyền này kỳ thị tôn giáo. Thay vào đó là những chứng cứ cho thấy có bàn tay của Việt cộng nằm trong cấp lãnh đạo của phong trào này.

Sang đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ngọn lửa kỳ thị được cộng sản thổi bùng lên và lôi kéo được khá đông quần chúng miền trung tham dự, mà điển hình là trường hợp Thanh Bồ- Đức Lợi ở Đà nẵng, Nếu những vị lãnh đạo của hai tôn giáo lớn lúc bấy giờ là Công Giáo và Phật Giáo không sớm nhận ra đó là một âm mưu do Cộng sản cài đặt, và không dủ kiềm chế thì cuộc chiến về tôn gíao đã có thể bùng phát. Dù là lớn hay nhỏ thì cái tai họa cho dân tộc chắc không nhỏ và ảnh hưởng không phải chỉ là một khoảng thời gian.

Câu chuyện vẫn chưa chấm dứt ở đây. Ngoài biên, chiến trận mỗi lúc thêm khốc liệt. Hậu phương, thêm nhiều tổ chức đấu tranh vận động quần chúng, thanh niên sinh viên học sinh xuống đường đòi hòa bình, đấu tố chính quyền. Kết qủa, ngày 30-4-1975 đã đến. Nó đến trong nỗi bàng hoàng, hoảng sợ của mọi người, kể cả những người đã từng theo cộng khuấy động lòng dân đứng lên đấu tố chính quyền lúc trước. Tất cả đều trắng mắt ra để nhìn “mưa xa trên lá cờ đỏ” mà không dám có lấy nửa lời phản... kháng, hoặc đòi công lao! Lòng dân ra sao sau tháng tư đen?

4 Hoà bình rồi, đồng bào ơi! Nhưng dân phải ngậm đáng nuốt cay!

Hoà bình rồi, ra nắm tay nhau mà nhẩy son đố mì...Mừng chưa, người Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng! Mừng ơi, sau hai mươi năm chiến tranh mới có một ngày như hôm nay!

Câu chuyện hôm trước vui nhộn thế. Qua một đêm đen, sáng hôm sau đà ra khác. “Đả đảo Thiệu Kỳ, mua gì cũng có. Hoan hô Hồ chí Minh, mua cái đinh phải xếp hàng”! Hai câu đồng giao như tát nước vào mặt những kẻ mang ảo giác chính trị từng lôi kéo người dân, thanh niên sinh viên học sinh xuống đường đấu tố chính quyền, tiếp tay cho việc làm mất luôn miền nam. Rồi nó như một bài “Giáng” đã nói lên tất cả mọi sự thật phũ phàng về đời sống kinh tế của con người dưới chế độ cộng sản. Không phải chỉ là những ngày đầu, nhưng là khởi đầu của một cuộc tang thương nối tiếp.

Bước sang lĩnh vực chính trị, xã hội còn thê lương hơn nhiều: “Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do”. Nay thì những kẻ từng chống đối TT Ngô đình Diệm, hay TT Nguyễn văn Thiệu ở miền nam trước kia không còn cười được nữa. Bởi vì một bài “Giáng” khác của chế độ mới đã công bố toàn bộ sách lược của chế độ đối với người dân. Ai nghe thấy cũng đều ngậm đắng nuốt cay. Mà sự “ngậm đắng nuốt cay,” không cười được nửa không phải chỉ bắt đầu bằng câu đồng dao của thời đại khi Việt cộng đổi tên đường phố ở Sài Gòn. (Chẳng biết có phải là lòng trời đã xui khiến hay là tình cờ có sự trùng hợp mà đường Công Lý bị mất tên và thay bằng cái tên Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Và đường Tự Do thì được thay bằng cái tên Đồng Khởi!) để cho người ta nói chuyện diễu. Nhưng thực chất là từ ngày 30-4-1975 người dân sống trên phần đất ấy không được Công Lý bảo vệ và cũng chẳng có cuộc sống trong Tự Do. Bởi vì, sau những cuộc biểu tình đòi hòa bình, đấu tố chính quyền do cộng sản giật giây, giờ đây, người miền nam đến lúc nối theo nhau vào nhà tù. Dĩ nhiên, trong đó có rất nhiều những khuôn mặt “nhớn” từng chống TT Diệm và TT Thiệu lúc trước. Những tưởng “trở mình” là nên quan tướng nhớn, nào ngờ chỉ là ảo giác! Phần người dân thì hết nỗi thống khổ này chồng lên thống khổ khác. Bị ức chế bị chà đạp từ đời sống hàng ngày cho đến đời sống tinh thần trong tôn giáo. Hỏi xem bây giờ họ sẽ theo ai? Theo Ngô đình Diệm phục vụ con người, hay theo Hồ chí Minh mở cuộc đấu tố anh em? Hoặc là ì ra, muốn đến đâu thì đến?

Ở độ tuổi từ 50 trở lên thì có đầy đủ những chán chường ấy chất lên người, họ còn khát vọng gì cho tương lai nữa hay không? Chắc là không đâu nhỉ? Tuổi trẻ thì sao? “Vô tri thời bất mộ”. Người ta không thể mộ mến cái mà người ta không biết. Và cách để biết, để tri thì không có gì hơn được, hay bằng phương cách giáo dục cẩn thận, đứng đắn ngay từ trong học đường. Tiếc rằng, cả hai điều kiện căn bản này đều vắng bóng trong hệ thống giao dục và đào tạo của cộng sản từ năm 1954 ở ngoài bắc, và ở miển nam từ sau 30-4-1975.

a. Về lịch sử,

Học sinh không được học gì về lịch sử của dân tộc mình. Không biết hai bà Trưng chống cuộc ngoại xâm nào. Không biêt những tên Tô Định, Mã Viện tàn bạo với dân mình ra sao. Không biết chuyện “gò” Đống Đa mang ý nghĩa gì. Không biết Chi Lăng nơi chôn vùi Liễu Thăng ở nước nào. Không dám nói đến việc vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Trần Hưng Đạo triệt quân Nguyên... Lại miệt mài nhồi nhét vào đầu những cái gương “đuốc sống” tưởng tượng Lê văn Tám, Võ thị Sáu, Nguyễn văn Trổi, Bế văn Đàng, đánh Mỹ cứu nước... để khi thi môn sử, lỡ có đề án ra nhầm vào những nhân vật trên là cả lớp, cả trường, có khi cả khoá thi bị điểm Zêrô, điểm 1, điểm 2. Với một kết quả như thế thì tìm đâu ra lòng yêu nước của những thế hệ mới? Nên không lạ gì tập đoàn cộng sản từ Hồ chí Minh đến những cấp gọi là lãnh đạo hôm nay đều cúi đầu, cúc cung phục vụ cho chủ nhân Tàu với lòng độc ác tàn hại dân rất cao và không bao giờ thiếu. Trái lại, lúc nào cũng sẵn sàng. Bằng chứng, việc biểu lộ lòng yêu nước của những người trẻ Việt Nam hôm nay đã rất hiếm hoi. Đến khi họ tự tập trung với nhau lên tiêng trong những vụ việc về biên giới, biển đảo bị Trung cộng lần chiếm, đã không hề được các “quan chức” nhà nước hỗ trợ hay gỉa làm ngơ. Trái lại, từ những Điếu Cày, Tạ phong Tần..... đến Nguyễn chí Đức, Lê quốc Quân, Bùi Hằng, rồi Việt Khang, Lê Phương Uyên... cùng thét gào lên trong nức nở Việt Nam Tôi Đâu: Anh Là Ai ở trong chốn nhà lao!

b. Về nhân cách, lễ nghĩa.

Những dòng chử nắn nót treo ở trên tấm bảng đen và trên tường trong lớp học của học sinh miền nam trước kia thường là những dòng chữ tuyệt vời trong ý nghĩa giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Ngày nay học tập ngày mai giúp đời” hoặc là “nhiễu điều phủ lấy giá gương”... đã được nhà nước “cộng hoà xã hội chủ nghĩa” giải phóng, lột bỏ, quăng đi cho bằng hết. Rồi thay vào đó là lối giáo dục hết sức phản giáo dục với hàng chữ: “Sống và học tập theo gương bác hồ vĩ đại”. Thưa cô, gương của “bác” là gương gì ạ? Có Trung, có Hiếu, có Lễ, có Nghĩa, có Tín không ạ? Cô gíao thấp giọng:

- “bác có nhiều tấm gương lớn các cháu phải noi theo”. Trung Hiếu Lể Nghĩa Tín các chữ ấy đều có. Nhưng chỉ có chữ thôi phần thực hành thì không. Có em nào nom thấy bác làm giồ, thắp nhang cho ông bà cha mẹ bao giờ không? Thưa cô không ạ! Thế đấy, nên họ nói thì cứ mặc. Các em nhớ đấy, “bác còn nhiều cái gương khác nữa”. Trung thì không bán nước, Nhân thì không giết người. Lớn lên tự mình nhìn việc mà đánh gía. Nghe thế, lũ trẻ hoang mang, chẳng biết đâu mà mò. Về nhà, cha mẹ em cứ dạy là phải thảo hiếu cha mẹ và yêu thương đồng loại và yêu tổ quốc. Ai đúng, ai sai? Lạ, lạ qúa....Tiếng đầu đời không gọi cha gọi mẹ, mà gọi Sít ta lin!

Với những tấm gương ấy trong học đưòng, ngoài xã hội, cộng sản đã phá nát nền luân lý của dân tộc và của tôn giáo tại Việt Nam nên “nguời ta phải nói dối nhau mà sống” ( ĐB Trần quốc Thuận PCT QH khóa IX). Hầu như không tìm ra một câu nói thật nào với nhau, nhất là về phương diện quan điểm chính trị. Trong khi đó cuộc sống của xã hội càng ngày càng bị phủ ngập bởi những loại tội đại ác. Con giết cha, vợ giết chồng, tình nhân giết nhau, bạn học giết bạn học và cả học trò chém thầy, cô, vì không có điểm tốt. Phần thầy thì gạ tình trò đổi lấy điểm. Khi bước ra đường là đụng tiến sỹ, gái điếm. Bước vào nhà thương, ngõ hẹp thì thấy đầy dẫy những phòng nạo, cạo, hút thai công khai. Hỡi ơi, mỗi năm có đến hàng trăm ngàn vụ phá thai và nghĩa địa hài nhi thì mọc lên như nấm ở khắp nơi. Mà người cha không ai biết đến, trong khi người mẹ đa phần là trẻ vị thành niên, thậm chí có em, một năm đã phá thai đến ba, bốn lần! Một xã hội tốt đẹp, có trật tự, lễ giáo trước 1975, chỉ hơn ba mươi năm đạt đến những “thành tích” lẫy lừng này thì hẳn nhiên, không còn cái gương nào “tốt” hơn, “sáng” hơn hoặc là bằng với cái gương của Hồ chí Minh mà chế độ này đem treo và vào áp dụng ở khắp đầu đường, xó chợ!

Những điều làm ảnh hưởng đến Lòng Dân như tôi viết ở đây, tưởng là ghê gớm hay mới mẻ. Thật ra, nó cũ rích và tôi chỉ nói lên được đôi chút trong những nỗi thống khổ tận cùng của dân tộc ta trong vài trăm năm qua, không thể nói lên toàn cảnh được. Nên với gánh nặng tựa núi đá, cộng thêm cuộc khủng hoảng đạo lý và niềm tin do cộng sản tạo ra, cứ mãi đổ xuống trên thân thể người dân như thế. Họ chưa chết, chưa ra điên hết, còn được như hôm nay đã là may mắn, nói chi đến vấn đề bạc nhược, hay thờ ơ trước thời cuộc. Khi đàn gà phải cáo nấp ở trong góc chuồng, chi nghe thấy tiếng động nhỏ ở đâu đó là đã vỡ mật, cần chi phải nhìn thấy con cáo. Người Việt Nam ta hôm nay còn nằm ở trong hoàn cảnh bi đát hơn thế nhiều. Cũng may, nhờ kinh nghiệm từ thời phong kiến đến cộng hòa. Đặc biệt sau sáu mươi năm sống dưới chế độ bạo tàn cộng sản đã giúp họ thu vén cho mình một chút vốn liếng riêng. Rõ ràng, họ căm thù cộng sản đến tận xương túy, nhưng cũng không thể bồng bột vào cuộc đấu tố chúng để lãnh lấy thất bại. Nghĩa là, họ sẵn sàng đứng dậy để Chôn Nó Đi, nhưng sự sẵn sàng ấy phải có những điều kiện khả dĩ, nắm chắc thành công. Bởi lẽ, sau một thất bại lớn, cuộc sống còn thê lương hơn nhiều.

Tóm lại, Lòng Dân như một thúng bột. Gặp cơn gío lốc thì bay đi tứ tán. Bột bị phí phạm và không đem lại lợi ích. Nhưng nếu biết đem bột hoà chung với nước thì lại trở thành lương thực để nuôi sống con người.

Theo đó, chúng ta, không thể lên tiếng trách cứ dân tình là thiếu tri thức, ý thức về quốc gia hay thờ ơ với việc nước được. Trái lại, phải xác định rằng các chính quyền trong vài thế kỷ qua cũng như các thế lực mang ảo giác chính trị đã lừa dối lòng yêu quê hương của người dân qúa nhiều. Những thế lực này là nguyên nhân làm hỏng thúng bột. Làm bột bay đi tứ tán. Là nguyên nhân tạo ra sự lạnh nhạt trong lòng người dân. Và tệ hại hơn thế là, chính sự lạnh nhạt, thờ ơ của người dân hôm nay lại là con đường mở cho cộng sản tồn tại trên đất nước này.

Như thế, muốn Chôn Nó Đi, chúng ta phải tìm cách vận động thế nào để cho bầu nhiệt huyết vì quê hương lại có dịp luân chuyển trong huyết quản con dân Việt Nam. Thí dụ, ngày xưa tầng lớp sỹ phu nắm giữ mọi trọng trách thúc đẩy nhân dân đi lên. Nay xem ra là đến thành phần tuổi trẻ phải gánh vác công việc này. Bởi lẽ, họ là những người viết blog riêng, vào các trang mạng xem thông tin. Họ nhận được nhiều nguồn tin đúng. Đọc được những quan điểm đứng đắn về biên giới, chủ quyền trên biển đông. Nhờ họ, những bản tin nhà nước đàn áp, bắt giam những người chống Trung cộng xâm lược, đến được với nhiều người. Đặc biệt là ở vùng nông thôn là nơi không có nhiều điều kiện tiêp cận với thông tin thật. Nay nhận được những bản tin, họ hiểu được chẳng bao lâu nữa Trung cộng sẽ vào chiếm đình làng. Hoặc gỉa, trực tiếp điều hành những công việc ngay tại xã thôn như chúng đang làm ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam như ở Nông Cơ, Tân Rai... nhưng khu khai thác quặng mỏ, khai thác rừng thuê mà không một người Việt Nam nào được phép đến, kể cả cán bộ cấp trung ương. Những bản tin này sẽ đưa người dân vào những ưu tư trước thời cuộc. Tầng lớp thanh niên thay thế lớp Sỹ Phu, trở thành những yếu tố chính cho một cuộc cách mạng mới mà toàn dân mong chờ để tiếp tay. Người dân dần thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn. Từ đó, bầu nhiệt huyết về quê hương sẽ trổi dậy.

Một khi bầu nhiệt huyết vì quê hương lại cháy lên trong Lòng Dân thì có xá chi việc loại trừ chế độ cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam. Trái lại, vẫn trách cứ, vẫn đổ lỗi cho dân, hoặc chỉ lợi dụng họ khi muốn qua cầu. Chúng ta sẽ đi vào ngõ cụt, không thể tìm được sức mạnh hỗ trợ từ đồng bào của mình. Nếu không có sức mạnh vạn năng từ Lòng Dân, không ai có thể làm nổi công việc lấp bể dời non.
 
 Bảo Giang

Việt Cộng : Đào Sâu Thêm Hố Hận Thù Nam Bắc

Hận Thù Nam Bắc


Năm ngoái, một ông bạn cải tạo về thăm quê hương sang có than thở về tinh trạng kỳ thị tại miền nam hiện nay. Ông bạn nói “ Nay tình trạng kỳ thị tại Sài Gòn thật là nặng nề, miền Nam đã bị Bắc Kỳ vào cai trị , họ lấy hầu hết nhà cửa ngoài phố và đẩy người miền Nam đi những vùng xa xôi khác ”, ông bạn này người miền Nam còn tôi người gốc miền Bắc, ông ta không thể nói hết lòng mình vì còn chút nể nang tôi.

Gần đây một bài viết của một người về Việt Nam cho biết tình trạng quê nhà, tác giả nói nay tại Sài Gòn người miền Bắc kéo vào rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, họ làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Đó là những cán bộ cao cấp và bà con thân thụộc của họ được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền….tác giả cho biết vào các cửa hàng lớn, các .. cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, nói tóm lại họ là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Mặc dù chưa được chứng kiến tận mắt nhưng tôi tin ngay lời tác giả trong bài viết..

Tuần vừa qua, một người bạn đã về thăm quê Nha Trang năm ngoái cũng cho tôi biết tại Nha Trang bây giờ toàn là Bắc Kỳ, họ giầu sụ, buôn to bán lớn, chiếm giữ hầu hết các cơ sở thương mại kinh tế của Nha Trang. Họ giữ các chức vụ nhiều lợi lộc, chiếm cứ hầu hết các khu phố xá sầm uất và đẩy những người cũ đi xa như vùng kinh tế mới hoặc những vùng đất quê mùa khô cằn như sỏi đá. Người bạn cũng xác nhận cho tôi thấy Nha Trang nay là một thành phố đã bị Bắc Kỳ cai trị và chiếm đoạt hết tài sản, những nguồn lợi béo bở của thị xã du lịch này. Nếu chúng ta hỏi những người đã về thăm các tỉnh khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, Biên Hoà… người ta cũng sẽ nói tình cảnh tương tự như thế.

Khi đọc bài viết và nghe người ta kể lại những sự thật phũ phàng như trên tôi tin ngay vì tôi cho rằng đó là những nhận xét khách quan vô tư nhất.

Ngược dòng thời gian 40 năm trước vào những ngày sau vụ Mậu Thân 1968, hồi ấy chúng tôi là sinh viên, được huấn luyện quân sự hai tuần và đưa vào Chợ Lớn canh gác theo chương trình Nhân Dân Tự Vệ. Một buổi tối đứng gác trên sân thượng của nhà thương gia trong khu phố Tầu, anh bạn cùng gác với tôi nhìn những dẫy phố nguy nga, sầm uất của Chợ Lớn , trước cảnh giầu sang tráng lệ của Tầu Chợ Lớn anh ta thốt lên.

“Đứng địa vị thằng Việt Cộng tao cũng đánh đến cùng, đằng nào cũng đã là thằng cùng mạt , chiếm được thì hưởng hết” Ý anh bạn muốn nói thằng nghèo đói sẽ đánh thí mạng cùi để cướp đoạt những tài sản của người giầu có, thế mà 7 năm sau, năm 1975 lời nói của anh ấy đã thành sự thật, thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi và đã cườp đươc tài sản của miền Nam giầu có.

Ngược dòng thời gian ba mươi bốn năm trước đây sau khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản rất cởi mở tươi cười với đồng bào miền Nam khiến người ta tin tưởng rằng hoà bình thống nhất rồi, hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Thế nhưng kẻ chiến thắng không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945. Vừa xua quân chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại… đem về Bắc, sự kiện này khỏi cần phải dẫn chứng vì thực tế đã chứng minh và ai cũng đều biết cả. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết. Họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác.

Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét gần sạch gần hết túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để chiếm nhà dân một cách hợp pháp. Chỉ sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức , sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại chế độ độc tài. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong ïgạo sinh sống.

Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học, đánh tư sản hai lần để chiếm nhà của bọn tư sản bóc lột cho cán bộ ở, ép buộc mọi tầng lớp nhân dân đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Những người đi vượt biên dù đi thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức, cho tới nay năm 2008 một người bạn mới ở Sài Gòn sang Hoa Kỳ đoàn tụ cho biết chính quyền không cho phép anh bán nhà mà phải để lại cho nhà nước , sau chạy chọt mãi với cán bộ địa phơơng mới bán được nhưng phải chia tam chia tứ anh chỉ được hưởng 1/5 trị giá căn nhà… … Thế rồi dần dần kẻ chiến thắng, tầng lớp thống trị vơ vét bóc lột người dân, tích lũy tiền bạc mua nhà cửa, bất động sản của những người cũ nay đã khánh tận phải bán của cải đi để lấy cơm ăn áo mặc, thành phần này thuộc loại“ Tư bản mại sản”. Người ta chê kẻ chiến thắng quá tham lam, họ đã được cả một đất nước to lớn mà vẫn chưa vừa lòng tham vô đáy còn đi chiếm từng căn nhà một.

Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, họ vơ vét bóc lột, tập trung tài sản của đất nước trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ cấp còn đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo . Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột này dẫu căm phẫn cũng đành ngậm đắng nuốt cay vì họ phải chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của bọn độc tài thống trị. Theo như lời kể của những người đã về thăm quê hương đã nói ở trên chúng ta có thể mường tượng ra cái hận thù Nam Bắc hiện nay nó sâu đậm như thế nào rồi..

Năm ngoái nhân ngày Quốc Hận, một viên chức chính quyền cũ nhìn những hình ảnh biểu tình, chống đối rồi thở dài bảo:

-Anh nghĩ xem, cái hận thù Nam Bắc biết bao giờ mới hết… Theo tôi nghĩ cái hận thù Nam Bắc nay không phải là chỉ mối hận của lớp người cũ đã bị tù đầy cải tạo mà nó thể hiện ở một bình diện rộng lớn bao quát hơn của cả một đất nước, của cả một khối quần chúng đông đảo, của những kẻ bị trị … đó là mối hận thù giữa kẻ bị trị và những bọn cầm quyền cai trị, giữa những kẻ bại trận và bọn thắng trận..

Người ta thường nói cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau của hai khối Cộng Sản và Tư bản . Những người khuynh tả cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam 1960-1975 là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lăng cũng như cuộc chiến tranh giành độc lập chống Pháp 1945-1954. Cũng có người cho rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, nghĩa là chính quyền hai Miền đã được các siêu cường uỷ nhiệm thực hiện.. nhưng nay thì sự thể đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có sung túc với một vựa lúa phì nhiêu. Thằng nghèo đói đã ra sức đánh thí mạng cùi để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… thằng nghèo đói chỉ biết dùng lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài. Nhiều người ngoài Bắc vào Nam nói “các anh không thể thắng được chúng tôi những thằng nghèo đói, thằng nghèo đói không sợ chết”. Sau di cư 1954, Hà Nội sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền nam, họ đã thèm thuồng cái vựa lúa này từ lâu..

Nay tại hải ngoại nhiều người chủ trương hoà giải với Cộng Sản Việt Nam, họ lý luận rằng cuộc chiến tranh ba mươi năm đã tàn phá đất nước nhiều rồi, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù. Luận điệu ấy thoáng nghe thật chan chứa tình thương yêu đồng loại, nhưng thực ra họ đã đặt sai đối tượng hoà hợp hoà giải vì có phải rằng khối người lưu vong hải ngoại hận thù Cộng Sản đâu? thực ra như chúng tôi đã trình bầy ở trên hận thù sâu sắc hiện nằm ngay trong lòng quần chúng miền Nam nước Việt, hận thù Nam Bắc hiện nay đang nằm trong lòng dân tộc, nó đã ăn sâu vào tận xương tủy kẻ bị trị nghèo nàn đói khổ..

Nay Cộng Sản Việt Nam vẫn cho thực hiện những phim tuyên truyền kết án chế độ địa chủ ác ôn như trong phim Áo Lụa Hà Đông nhưng trớ trêu và trơ trẽn thay chế độ của họ tự nhận là “Đảng của giai cấp công nhân” lại là một chế độ áp bức, bóc lột gấp trăm gấp ngàn lần thời kỳ địa chủ, cường hào ác bá thập niên 40 trở về trước. Đảng Cộng Sản ViệtNam hiện nay chính là một tập đoàn địa chủ giầu có ác ôn, hà hiếp bóc lột dân nghèo tàn nhẫn nhất chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà từ trước đến nay.

Một người mới về Việt Nam sang Mỹ cho biết chênh lệch giầu nghèo thì không thể tưởng tượng nổi, bọn nhà giầu không ai hơn là cán bộ cao cấp ăn chơi hưởng thụ tại những nhà hàng, khách sạn sang trọng hằng nghìn, hằng mấy nghìn đô la một đêm trong khi có nhiều bà mẹ tay trái thì bồng con, tay phải bán vé số .. chạy ăn từng bữa. Nay nhiều người chủ trương hoà giải với người Cộng Sản Việt Nam bằng một lối lý luận đạo đức giả “ xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước” nhưng họ không biết rằng người Cộng Sản có chịu xoá bỏ hận thù hay đào sâu thêm hận thù? người Cộng Sản xây dựng đất nước hay xây dựng cho chế độ của họ thêm vững mạnh bằng lưỡi lê và họng súng?

Nhiều người thuộc lớp trẻ cho rằng lớp người cũ, sĩ quan, viên chức chính phủ, cải tạo HO… đã chịu nhiều ngược đãi của Cộng Sản nên cho tới nay họ vẫn giữ lập trường hận thù Cộng Sản. Ngược lại giới trẻ đã không từng trải qua những cay đắng gian khổ của chiến tranh như tù đầy, loạn lạc vì họ còn nhỏ hoặc thậm chí chưa ra đời nên họ không có cái nhìn hằn học với người Cộng Sản như thế hệ cha ông của họ. Họ chủ trương hoà giải với Cộng Sản để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước vì nay Cộng Sản vẫn lớn tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên dĩ vãng, cùng nhau xoá bỏ hận thù..

Người Cộng Sản có thực sự xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hận thù hay đào sâu thêm cái hố hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Chúng ta hoà hợp hoà giải với Cộng Sản , đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng đất nước hay là để củng cố thêm quyền lực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy Cộng Sản Việt Nam vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một. Địa vị của Đảng vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng.

Nay Cộng Sản Quốc tế đã sụp đổ tan tành nhưng Cộng Sản Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn bám víu vào quyền lợi riêng tư của Đảng một cách trơ trẽn và ngoan cố, họ không biết rằng con người không thể nào quay ngược bánh xe lịch sử, không thể nào vặn ngược chiều kim đồng hồ. Để quay ngược bánh xe lịch sử họ vẫn ngoan cố bảo vệ Đảng, bảo vệ tập đoàn thống trị bằng bạo lực.

Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói “ Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân… Bạo tàn chỉ thắng lợi được một thời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành”.

Thật vậy lịch sử loài người tự cổ chí kim đã cho ta thấy rằng tất cả những triều đại, những chế độ tàn bạo, độc ác bất nhân cho dù có vững mạnh tới đâu cuối cùng cũng phải bị bánh xe lịch sử nghiền nát như tương như cám. Nay Cộng Sản Việt nam không chiu nhìn lại cái gương của quá khứ, nếu họ tiếp tục đào sâu hận thù Nam Bắc bằng lưỡi lê và họng súng, cho dù họ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng cuối cùng họ sẽ tự đào hố chôn mình...

Trọng Đạt

Cán Bộ Trộm Vặt: Chuyện Tham Nhũng Vặt

Chuyện Tham Nhũng Vặt
Tham nhũng vặt thành hệ thống
Thủ tục nhà đất vẫn gây nhiều bức xúc nhất cho người dân
Bạn thân,
Tham nhũng vặt có nghĩa là tham nhũng không nhiều, có nghĩa là không có giá trị tiền bạc cao... nhưng tham nhũng vặt là thứ có thể gặp ở bất cứ nơi nào.

Thí dụ, bạn từng ra trụ sở phường thì biết. Mình ngồi điền đơn, rút cây bút bi ra viết chút xíu để rồi nộp cho cán bộ. Người cán bộ cầm cây bút của chúng ta ghi thêm gì đấy, rồi nhẹ nhàng bỏ vào hộc tủ hay dắt vào túi ngực. Chúng ta chẳng hơi đâu mà đòi lại. Bởi vì, lỡ lời đòi lại, thế là rách việc ngay.

Hay khi thấy gói thuốc 555 dắt túi, cán bộ bảo cho một điếu, thế là phải hiểu, đưa luôn một gói là phải lẽ. Dĩ nhiên, đó là chuyện nhỏ thôi, nếu chuyện lớn thì giá không rẻ như điếu thuốc hay cây bút bi.


Nhưng đó là chuyện đời. Nan đề là chuyện trong lớp học, ở trường học.


Báo SVVN kể chuyện “Loại bỏ tham nhũng vặt trong giáo dục: Tham nhũng vặt khá phổ biến.”

Trong đó báo này có cuộc phỏng vấn TS Lê Đông Phương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đại học và nghề nghiệp (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Bộ GD - ĐT), và nhà giáo này cho rằng, việc tham nhũng vặt diễn ra khá phổ biến trong các trường học.

Với câu hỏi là: “Thưa, ông nhìn nhận thế nào về tình trạng tham nhũng vặt trong giáo dục ở Việt Nam?” vị Tiến sĩ Lê Đông Phương đáp:

“Nếu định nghĩa tham nhũng là lợi dụng quyền hạn, lợi dụng cương vị của mình để mưu cầu cái lợi vật chất cho riêng mình thì có thể nói, dạng đó trong giáo dục có khá nhiều. Ví dụ như việc thu tiền của học sinh để trang bị máy móc thiết bị, thu tiền của phụ huynh để mua máy laptop cho giáo viên… Có những cái rất hợp lý, ví dụ chuyện lắp đèn, lắp quạt, nhiều gia đình phụ huynh có điều kiện khá giả, họ không ngần ngại bỏ một vài trăm nghìn đồng để phòng học của con em được sáng sủa hơn, các cháu ngồi học đỡ nóng nực hơn. Nhưng tại sao năm nào trường cũng thu? Ta cứ hình dung, ở một lớp, nếu được trang bị quạt, đèn… thì chắc hẳn chí ít là cái đèn, cái quạt ấy cũng phải dùng được 3 - 4 năm. Cái đấy có thể xếp vào loại tham nhũng vặt và khá phổ biến. Hoặc câu chuyện giáo viên dạy thêm từ 4h30 sáng, thì đó cũng chính là lợi dụng cương vị, quyền hạn của mình. Trong giờ học chính khóa không dạy, chuyển sang dạy ngoài giờ. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng không phải giáo viên nào cũng như vậy. Ở những vùng miền cuộc sống khó khăn, có những thầy cô bỏ tiền túi của mình ra để phụ thêm bữa ăn trưa cho học sinh hay mua sắm đồ dùng dạy học cho các cháu...”

Thầy mà thế, cô mà thế... là học trò thê thảm. Đúng không? Có phải thế là trộm vặt?

Có phải trường học đã trở thành một trụ sở phường kiểu mới? Có phải đây là thiên đường xã hội chủ nghĩa của ông Hồ?

--

Các món ăn bổ dưỡng nhất hiện nay của Việt Nam!

Đức Đạt Lai  Đạt Ma  nói : “Cộng sản sinh ra từ đói nghèo và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực, chết đi trong sự khinh bỉ và nguyền rủa của toàn thể nhân loại

CÁC MÓN ĂN BỔ DƯỠNG NHẤT HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1. ĂN SƯƠNG : Hành động đĩ rạc, liếm trôn ngoại bang khắp 10 phương của Đảng Cộng Sản VN.
2. ĂN GIAN, ĂN CẮP, ĂN TRỘM, ĂN CƯỚP: Quốc sách của tập đoàn cộng sản VN.
3. ĂN MÀY, ĂN XIN, ĂN CHO: Chính sách ngoại giao của nhà nước VN.
4. ĂN HỐI LỘ, ĂN TIỀN, ĂN TẠP, ĂN THAM: Công việc hằng ngày của quan chức Cộng sản.
5. ĂN HẠI ĐÁI NÁT : Chỉ sự ngu dốt của toàn thể Tập Đoàn Cộng Sản VN.
6. ĂN BẨN, ĂN BỐC, ĂN CÁNH, ĂN BỚT, ĂN CHIA: Tập đoàn đưa phe cánh để rút ruột các công trình xây dựng…rồi ăn chia.
7. ĂN VỤNG, ĂN XỔI: Chính sách của Công An VN.
8. ĂN CỔ, ĂN GIỖ, ĂN TIỆC: Nơi mỗi buổi chiều gặp nhau của quan chức, công an sau khi ăn bẩn, giựt được tiền của dân.
9. ĂN CHƠI: Bia ôm karaoke nơi quan chức tham nhũng đến chơi để tránh bị chụp hình.
10. ĂN HIẾP, ĂN THIẾU, ĂN CHỊU: Ngón nghề của công an đối với dân. Món "ăn hiếp" hiện đang được sử dụng tối đa để trù dập các nhà dân chủ.
11. ĂN BÁM: Như con đỉa đeo theo hút máu. Đảng cộng sản ăn bám xương máu của nhân dân VN. Trên thế giới không có một đảng phái nào lại được quyền lãnh lương trên tiền thuế của dân nhiều như thế.
12. ĂN THỀ: Buổi lễ tuyên thệ để vào đảng cướp Cộng sản.
13. ĂN VẠ: Hành động đi rêu rao đòi kiện Mỹ bồi thường nạn nhân da cam.
14. ĂN KHỚP, ĂN NHỊP, ĂN Ý: Sủa cùng nhịp để tuyên truyền theo lệnh đảng và giả vờ thành nhiều người, ở nhiều nơi trên thế giới, rồi kẻ tung người hứng.
15. ĂN CỨT GÀ: xúi con nít ăn cứt gà.
16. ĂN ĐẶC SẢN ???, ĂN PHÂN : Món ăn đặc biệt của bà Dương Thu Hương gởi mỗi tháng 1 lần từ Paris về để tẩm bổ tập đoàn lãnh đạo cộng sản VN.
17. ĂN ĐÒN: Món ăn đặc biệt sắp tới đây chúng sẽ bị nhân dân cho ăn đòn
.

Trung Cộng, Nỗi Sợ Không Rời - Di sản chính trị của triều đại Hồ Ôn


Trung Cộng, nỗi sợ ám ảnh không rời Đảng CS Trung quốc; Đảng sợ cả cái bóng mình dưới đất và sợ cả chim bồ câu trên bầu trời Bắc Kinh. Điều này có thể thấy rõ đại hội trung ương đảng thứ 18 bắt đầu vào ngày 8 tháng 11, kéo dài hai tuần.

Chim bồ câu nói ở đây theo nghĩa đen, tức là những con chim mà con người hay nuôi thường cho tự do bay lượn trên bầu trời nhà mình ở các thành phố, chớ không theo nghĩa bóng là phương tiện truyền tin hay biểu tượng hoà bình gì cả.

Thế mà Trung Cộng cũng sợ. Trong Đại Hội Đảng CS sau khi triệt hạ, bất động hoá những đảng viên đồng chí như hình bóng mình nhưng khác phe chẳng hạn như Bạc Hy Lai, và những nhà bất đồng chánh kiến ngoài xã hội ở dưới đất, Đảng CS Trung Quốc lại còn làm những chuyện ruồi bu cười ra nước mắt nữa. Như ra lịnh cấm không cho một con bồ câu nào bén mãng trên bầu trời của các điện đền nơi Đảng CS họp đại hội kín để chuyển quyền cho tân lãnh đạo Đảng Nhà nước 10 năm một lần.

Vì nỗi sợ không rời, nỗi lo ám ảnh Đảng CS Trung Quốc đang thống trị một tỷ ba trăm triệu người trên quả Địa Cầu này. Đảng lo sợ những hiểm nghèo lơ lửng trên đầu những người cầm đầu đảng độc tài đảng trị toàn diện trên quốc gia dân tộc Trung Hoa có một lịch sử lâu dài, bền vững vạn lần hơn tuổi của Đảng CS ở Trung Quốc.

Dù cuộc họp trong cung điện, được canh gác chặt chẽ, và họp kín, Đảng vẫn thấy nguy cơ bị tấn công, phá hoại chập chờn từ trên trời xuống, duới dất lên, từ con người đến con vật và đồ vật nữa. CS lo sợ đến nỗi cấm luôn chim bồ câu hiền hòa, thân thiện, người nuôi như gia cầm lãn vãn trên bầu trời vùng Đảng CS họp đại hội.

Một tuần lễ trước ngày Đảng CS TQ họp đại hội, Hồ cầm Đào chuyển quyền cho người kế vị Tập Cận Bình, ở Bắc Kinh, Đảng CS ở Bắc Kinh như lên cơn sốt lo sợ về an ninh. Bầu trời của Bắc Kinh, Đảng CS ra lịnh kiểm soát “đặc biệt nghiêm trọng”. Nào là cấm khinh khí cầu, cấm trực thăng đồ chơi, cấm chim bồ câu bay trên vùng trời Bắc Kinh nơi Đảng CS họp kín trong những hội trường của các cung điện đủ thư lính chìm nổi canh gác dày đặc, bảo vể an ninh từ xa và an ninh cận.

Đảng CS còn cấm luôn xe taxi không được mở cửa sau để tránh nguy cơ hoang tưởng dùng cửa này rải truyền đơn tuyên truyền chống phá nhà nước, lật đổ chánh quyền. Cấm tài xế taxi rước khách có hành lý.

Nhưng biện pháp cấm chim bồ câu bay trên bầu trời Bắc Kinh là dị hợm nhứt. TC với não trạng độc tài nên cả chim bồ câu, họ cũng sợ. Chim bồ câu CS cũng coi có thể là lực lượng thù địch, phương tiện lật đổ Đảng Nhà Nước. TC ra lịnh cho cư dân Bắc Kinh phải nhốt chim trong chuồng ở nhà suốt những ngày Đảng họp đại hội.

Biện pháp này tương đối mới theo thông tấn xã Reuters tường thuật dẫn lời một công nhân hồi hưu Li Zhonghe ở Bắc Kinh, Ông này nói ý nói không biết tại sao có lịnh ấy.

Bây giờ các thành phố TQ, kể cả Bắc Kinh, bồ câu là thú người dân thích nuôi và nuôi nhiều, nó trở thành loại gia cầm thân thiện, bè bạn với con người.

Trong thời kỳ Mùa Xuân Thiên An môn năm 1989,sinh viên đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở Bắc Kinh có sáng kiến dùng bồ câu mang truyền đơn làm bằng những ruban viết khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ, chống độc tài, đảng trị của CS. Nhưng mà những con chim hiền này chẳng hại ai cả.

Thế mà bây giờ đã gần ba thập niên, Đảng CSTQ có gần 80 triệu đảng viên, nắm tất cả quyển lực, phương tiện chiến tranh, trấn áp dân chúng vẫn còn sợ chim bồ câu “tuyên truyền lật đổ” đảng Nhà Nước.

Đảng CSTQ sợ chim bồ câu trên trời như sợ những đảng viên khác phe, những công dân bất đồng chính kiến. TC muốn triệt hạ, dẹp sạch hết để thời gian họp đại hội Đảng dân chúng im lặng như những nấm mồ, xã hội im vắng như trong nghĩa trang.

Trước Đại Hội Đảng lần thứ mười tám, đối với nội bộ đảng, phe mạnh trong đảng CS/TQ đã hạ thủ Bạc Hy Lai, lột chức ủy viên bộ chánh trị của trung ương Đảng, lột chức Bí Thư Đảng ở Trùng Khánh, bãi nhiệm chức dân biểu, khai trừ khỏi đảng, mở đường đưa ra toà xét xử đủ thứ tội hình, lạm quyền, tham nhũng, dâm ô, giết người. Diệt cỏ CS diệt tận gốc rể, Bắc Kinh xử tử hình hoãn thi hành hai năm Bà Cốc Khai Lai, vợ của Bạc hy Lai, xử cánh tay mặt của Bạc Hy Lai là Vương Lập Quân, Giám đốc công an tình Trùng Khánh, 15 năm tù.

Ngoài xã hội, TC làm đủ mọi cách và không từ bỏ cơ hội nào để bịt miệng đối lập. Tiêu biểu như TC kêu án 8 năm tù giam đối với một người trẻ là Cao Haibo, 27 tuổi, khi đưa ý kiến lên Internet, muốn thành lập Đảng Cộng Hoà Trung Quốc. Tòa án của TC ở Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam, gán cho tội “tuyên truyền và âm mưu lật đổ nhà nước.”

Ông Hu Jia, một người bất đồng chánh kiến ở Bắc Kinh bị TC bắt giam từ năm 2007, thả năm 2011, và bị quản thúc tại gia ở Bắc Kinh. Trước đại hội Đảng thứ 18, công an TC ở Bắc Kinh đến buộc Ông phải về quê quán nơi sinh ở An Huy, gần Thượng Hải, trong thời gian Đảng họp đại hội ở Bắc Kinh.

Thế mà chưa hết sợ, lãnh đạo Đảng còn chỉ thị đìều 1 triệu 4 trăm ngàn người tình nguyện từ ngoài Bắc Kinh vào tăng cường cho lực lượng quân đội và cảnh sát lo an ninh cho đại hội đảng.

Còn Đoàn Thanh Niên CS TQ thì làm một chuyện nực cười, “lên báo” Thanh Niên yêu cầu phải kiểm soát “cực kỳ” nghiêm nhặt việc mua bán, sử dụng máy bay, trực thăng đồ chơi, điều khiển từ xa để không làm lực lượng an ninh, phòng thủ và đại biểu dự đại hội không bị chia trí, trong 15 ngày đại hội.

Đảng CS lo sợ không duy trì được sự tăng gia kinh tế là thế chính thống cầm quyền của Đảng và sự ổn định chính trị là điều kiện cần và đủ để Đảng cai trị độc tài đảng trị toàn diện trên dân chúng và xã hội TQ.

TC sợ vì trong 30 năm qua, dù kinh tế mở cho đầu tư ngoại quốc vào, TQ trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Nhưng guồng máy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội của CS đã nóng gần như cứng liệt máy và Đảng Nhà Nước muốn hụt chân. Đang có triệu chứng báo hiệu mô thức kinh tế thị trường đặt trong tay một đảng phái chính trị duy nhất - mô hình TQ đã thất bại.

Đảng Nhà Nước độc tài đã biến tham nhũng thành quốc nạn. Đảng mất tính đấu tranh, trở thành một tổ chức tranh quyền cố vị, tham ô nhũng lạm. Vụ Bạc Hy Lai cho người dân thấy thối nát, bè phái hết thuốc chữa, đầy trong nội bộ đảng CS. Vụ TT Ôn Gia Bảo thu vén tài sản kếch sù 2,7 tỷ đô la, Tập Cận Bình sắp lên nắm quyền số 1 của TC, tài sản cũng cả tỷ Euros làm người dân thấy CS là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng.

Hàng hoá «made in China» của TC bị thế giới xem là nhãn hiệu hiểm nghèo. TC bị xem là một chế độ mới trổi dậy, nhà nước thì giàu, dân lại nghèo, xử sự trên trường quốc tế như một chánh phủ thiếu văn minh.

Xã hội TC suy đồi đạo đức, hố chia ngăn cách nghèo giàu, thành thị nông thôn không thể san lắp. Dân chúng nổi lên chống bất công, áp bức, cán bộ, đảng viên cuớp đất của dân, tàn phá môi sinh, môi trường một cách vô tội vạ. Tình hình đã trở thành giặc chòm, khắp nước, suốt bốn mùa xuân hạ thu đông. Một dấu hiệu của một cuộc nổ chụp suy tàn chế độ TC thành Tam Quốc hay hơn nữa./.

 
Vi Anh
-------
Di sản chính trị của triều đại Hồ Ôn

Đặng Duật VănNgười Dịch: Hu Zi
Hồ và Ôn (1986 và 2012)Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo nắm quyền trong 10 năm từ năm 2002 tới 2012. Trong 10 năm này đối với thế giới hay là Trung Quốc đều phát sinh biến hóa to lớn, cho nên ở thời điểm sắp kết thúc một thời đại như thế này, vấn đề đánh giá những thành tựu đạt được, những vấn đề còn lại và những di sản để lại cho thế hệ sau, không tâng bốc, cũng không bới móc sẽ là khảo nghiệm đối với lương tri và phán đoán của chúng ta.

Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào trong buổi nói chuyện ngày 23/7 có nói về phương hướng phát triển trong tương lai, nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải vững vàng đi trên con đường phát triển lâu dài đúng đắn mà đảng và nhân dân đã vạch ra, không được sợ hãi trước bất kỳ nguy hiểm nào, không được dao động trước bất cứ sự gây nhiễu nào. Giải phóng tư tưởng trước sau là vũ khí đầy sức mạnh đưa đảng và nhân dân tiến về phía trước, cải cách mở cửa trước sau là động lực thôi thúc mạnh mẽ sự nghiệp phát triển của đảng và nhân dân, chúng ta cần phải kiên trì con đường cải cách mở cửa, không đước cứng nhắc, không được ngưng trệ, đoàn kết mọi sức mạnh tập trung được, thúc đẩy mọi nhân tố tích cực có thể tập trung được, tin tưởng vào chiến thăng huy hoàng trước những khó khăn trắc trở trên con đường chúng ta bước đi.

Những lời trên dù là một phần nói về tương lai, nhưng cũng có thể xem là lời tổng kết quãng đường mà chúng ta đã đi trong 10 năm qua. Đảng Cộng sản Trung Quốc nghiên cứu lịch sử, đánh giá một thời đại, chúng ta cần phải có cảm nghĩ về lịch sử. Cảm nghĩ này chính là góc nhìn rộng lớn của chúng ta đối với lịch sử, từ góc nhìn của chúng ta về biến hóa của một thời đại. Những kết luận đúc rút được mới có khả năng không bị những biểu hiện trên bề mặt che phủ đi, mà là vượt qua sự trải nghiệm của logic lịch sử.
Đối với triều đại 10 năm của Hồ  Ôn, chúng ta có thể đánh giá qua 3 giai đoạn thời gian, bao gồm: cận đại, lập quốc và cải cách mở cửa. 10 năm này được phân bổ trong 3 giai đoạn trên như sau: 1/10, 1/6, 1/3.

Từ sau thời Thanh Mạt, đế quốc Trung Hoa bước vào thời kì ngủ say, đã thua cuôc trong cuộc canh tranh toàn diện với những nền văn minh mới nổi đầy sức mạnh. Từ chiến tranh Nha Phiến trở đi, bảo tồn sức mạnh dân tộc đã trở thành nhiệm vụ quan trọng nhất. Từ năm 1949 sau khi lập quốc, nhiệm vụ này coi như cơ bản hoàn thành, tự cường cũng bắt đầu từ đây. Cho đến thời cải cách mở cửa, 30 năm trước với những phong trào chính trị và bối cảnh chiến tranh lạnh của mối quan hệ quốc tế phức tạp, một lần nữa Trung Quốc lại mở to mắt quan sát thế giới, lại vấp phải vấn đề “bị khai trừ khỏi ngôi làng toàn cầu”, hòa nhập vào sân chơi quốc tế là hòa nhập vào thế giới văn minh phương Tây với những vấn đề dai dẳng và bị chỉ mặt nói tên.

Từ ví dụ trên có thể thấy rằng, tuy rằng 3 giai đoạn thời gian trên với những hoàn cảnh cụ thể, với nhiệm vụ và mục tiêu khác nhau, lại có cùng một đặc điểm hay là một sợi dây xuyên suốt, chính là từ lúc Trung Quốc mở to mắt quan sát thế giới, theo đuổi độc lập dân tộc và tự cường đất nước chính là sứ mạnh của tầng tầng lớp lớp người Trung Quốc. Chỉ là trong thời cận đại, thì quá trình hiện đại hóa là quá trình bị động, sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, quá trình này mới chuyển biến sang tự giác. Cho tới cải cách mở cửa, mục tiêu của quá trình học tập là trờ thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa chuyển thành quốc gia tư bản chủ nghĩa kiểu phương Tây.


Trên tuyến tư tưởng như vậy, triều đại chấp chính của bộ đôi Hồ Ôn là sự kéo dài của ba giai đoạn thời gian kể trên. Trong 10 năm qua, mục tiêu hùng cường đất nước đã thực hiện được, hiện tại địa vị của Trung Quốc trên thế giới có thể nói là chưa từng có trước đây. Đối với mục tiêu hiện đại hóa, cũng tự chủ hơn 3 giai đoạn kể trên, Trung Quốc ngoài việc học tập mô hình phát triển của Phương Tây còn tự tìm ra con đường mang màu sắc Trung Quốc, đưa dấu ấn Trung Quốc vào con đường hiện đại hóa đất nước.


Quá trình hiện đại hóa của Phương Tây là theo sự phát triển của phương thức sản xuất đi lên, tới thời điểm Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa thì bọn họ đã phát triển được cả hai, ba trăm năm rồi. Trung Quốc va chạm đồng thời học hỏi từ nền văn minh Phương Tây, từ văn minh canh nông và phương thức sản xuất lạc hậu tiến bước tới dòng chảy hiện đại (cận đại hóa) với mục tiêu là nâng cao sức mạnh của bản thân. Cho nên quá trình hiện đại hóa Trung Quốc trước thời lập nước Trung Quốc mới là quá trình chuyển hóa bị động chưa hoàn tất. So với ba khoảng thời gian trên, trong 10 năm qua thì tiến tình hiện đại hóa đã được đẩy nhanh, những đặc điểm của nó cũng rõ ràng hơn, mục tiêu và nội dung của công cuộc tự cường cũng trở nên tự giác hơn. Đồng thời có một đặc điểm không thể không nói tới là kĩ thuật mạng internet phát triển nhanh chóng vượt bậc, với những hình thức truyền thông mới xuất hiện đã mang tới kết quả là thay đổi triệt để mô hình sinh thái của xã hội Trung Quốc, có tác dụng thúc đẩy, nâng cao lớn lao ý thức dân chủ, dân quyền của nhân dân, đối với sự kiểm soát của đảng và chính phủ mà nói thì nó trở thành một sự thách thức. Về tổng thể, đảng và chính phủ mà trước hết là ở cấp cơ sở đứng trước sự thay đổi này chưa có sự thích ứng cần thiết. Họ vẫn đang dùng những thủ đoạn quản lí theo kiểu đối phó để chống lại sự đòi hỏi ngày càng tăng từ phía nhân dân. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại nổi cộm trong xã hội và những sự kiện biểu tình tập thể ngày càng gia tăng trong nước.


Cho nên từ góc nhìn 3 giai đoạn trên để đánh giá 10 năm vừa qua, có thế nói thành tựu to lớn, tuy nhiên có nhiều vấn đề còn tồn đọng. Giống như người già hay nói chuyện cũ, lại là những đánh giá thực sự cầu thị. Đằng sau những thành công chính là những vấn đề tồn tại cần phải giải quyết, đây chính là hai nửa không thể tách rời của một khối cầu. Cụ thể mà nói, 10 năm qua có ảnh hưởng to lớn không những với Trung Quốc mà còn với cả tưởng lai phát triển của thế giới, chủ yếu thể hiện ở những điểm sau:


 Nền kinh tế Trung Quốc có bước nhảy vọt về lượng với vị trí thứ hai thế giới, bắt đầu đứng vào hàng ngũ những nước có thu nhập trung bình, tỉ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm xuống. 10 năm trước GDP Trung Quốc vượt quá mốc 10 nghìn tỉ RMB, đứng ở vị trí thứ 6 toàn thế giới, sau 10 năm đã vươn lên vị trí thứ hai. Thu nhập bình quân đầu người từ 1000 USD năm 2002 lên 5414 USD vào năm 2011. Số lượng người nghèo giảm xuống còn 120 triệu. Ý nghĩa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai không chỉ ở chỉ số tăng trưởng GDP hay thu nhập bình quân đầu người mà nó là hiện tín hiệu trở lại của một nước lớn có nền lịch sử lâu đời, tín hiệu đặt nền móng thuận lợi để thực hiện mục tiêu tới năm 2020 xây dựng xong xã hội tiểu khang giàu có phồn vinh.


 Đưa ra một đường lối phát triển mới. Trong 10 năm qua với học thuyết phát triển khoa học kĩ thuật và xây dựng xã hội hài hòa làm đường lối nòng cốt dẫn dắt tư tưởng xã hội Trung Quốc. Trong thời kì xây dựng và hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, học thuyết giải đáp những thắc mắc về đường lối phát triển, giải quyết mệnh đề phát triển thời đại, tạo nên thực tiễn huy hoàng tươi sáng cho xã hội Trung Quốc. Đồng thời cũng chứng minh đảng Cộng sản Trung Quốc (sau đây gọi là Trung Cộng) có đủ khả năng đi cùng thực tế, phản ánh yêu cầu của thời đại, dẫn dắt sự phát triển của thời đại.


 Có những tiến bộ đầu tiên trong việc công khai lĩnh vực hành chính. Chính phủ hiện tại là một chính phủ công khai, minh bạch. Chỉ có thông tin, quyết sách của chính phủ được công khai minh bạch mới có thể làm giảm tới mức thấp nhất những quyết sách sai lầm và nạn tham ô hối lộ, kéo gần khoảng cách với nhân dân, từng bước cho người dân tham gia vào những quyết sách của chính phủ, dần xây dựng một chính phủ trong sạch và một nền chính trị trong sạch, nhất là với vai trò của chính phủ trong xã hội Trung Quốc hiện nay mà nói, công khai minh bạch rất quan trọng. Trong 10 năm qua, từ dịch cúm SARS bắt đầu công khai hóa cho tới sự công khai về ban hành các bộ luật, về ngân sách chính phủ, với sự phát triển của truyền thông thì quá trình công khai hóa của chính phủ có bước tiến bộ rõ rệt


 Quá trình gia nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới đã có bước tiến dài, từ đó Trung Quốc không thể quay lại thời kỳ đóng cửa như trước. Tuy rằng việc gia nhập WTO không phải chỉ là sự việc của 10 năm qua, nhưng trong thời gian này, với việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường đã đưa Trung Quốc đi tới con đường mở cửa về phía trước, càng thuận lợi hơn trong việc hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu, thu hút những cái hay của nền văn minh Phương Tây, thực hiện mục tiêu hiện đại hóa chúng ta từ trăm năm trước.


 Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành quả bước đầu. Với những thành công về với các hạng mục chính liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân như giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, nhà ở. Cải thiện phân phối thu nhập, giảm bớt mâu thuẫn xã hội do phân hóa giàu nghèo, thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như kích thích kinh tế tiêu dùng nội địa. Trong 10 năm qua, tuy xây dựng kinh tế vẫn là trung tâm của các hạng mục thì bên cạnh đó công cuộc xây dựng xã hội cũng có những bước tiến dài, ví dụ như bãi bỏ thuế nông nghiệp, bãi bỏ những khoản thu phụ ngoài học phí, xây dựng nền giáo dục nghĩa vụ, bãi bỏ lệ phí với thuốc men y tế, xây dựng được hệ thống bảo hiểm xã hội tuy còn ở mức độ thấp, từ đó cải thiện to lớn đối với dân sinh.


 Thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Quá trình đô thị hóa không những có vai trò trong nền kinh tế, nó còn đảm bảo cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong 20 năm tới, ngoài ra quá trình đô thị hóa còn biến đổi phương thức sinh sống, nhân sinh quan của người dân, sự biến đổi này là rất to lớn, không thể ước tính. Sự chuyển hướng của Trung Quốc có một nội dung quan trọng là chuyển từ văn minh canh nông sang nền văn minh công nghiệp, từ nông thôn chuyển sang thành thị, việc này cần quá trình đô thị hóa để hoàn thành. Trong 10 năm qua, tiến trình đô thị hóa tiến nhanh với mức tăng hơn 1% mỗi năm, ngày càng có nhiều nông dân bị cuốn vào cơn lốc đô thị hóa, hiện tại tỉ lệ dân số ở thành thị đã vượt quá 50%, hoàn thành sự biến chuyển của Trung Quốc từ nông thôn ra thành thị.


 Đưa ra những chủ trương mới về trật tự thế giới, địa vị quốc tế và sức ảnh hưởng được nâng cao rõ rệt. Là kết quả sau 10 năm phát triển tổng hợp sức mạnh đất nước, địa vị quốc tế và sức ảnh hưởng của Trung Quốc đã tiến thêm một bước. “Mô hình Trung Quốc” được giới thiệu, cục diện G2 được thảo luận, tiếng nói Trung Quốc trong các tổ chức quốc tế ngày càng có sức nặng hơn. Là một quốc gia mới nổi lên, cũng cần phải đưa ra một chủ trương trật tự thế giới có liên quan tới bản thân. Trung Quốc đã giới thiệu thuyết phát triển thế giới hài hòa ra với thế giới, ra sức phấn đấu vì mục tiêu một môi trường quốc tế hòa bình và phát triển, là một trong những lực lượng cầm đầu chính nghĩa quốc tế.


Nguồn bài viết của Đặng Duật Văn
Di sản chính trị của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo.

American Red Cross: Nước Mỹ trong tôi


Your help with Sandy is needed.
Your financial donation can make the biggest and most immediate impact.
                                                                              American Red Cross
Kính chuyển đọc, suy ngẫm và chuyển tiếp. Sau đó xin mời vào www.American Red Cross - www.redcross.org - điền tên và chi tiết cùng số tiền cứu trợ nạn nhân bão Sandy. 
Nhớ ghi rõ là để giúp nạn nhân Bão Sandy.Tùy khả năng quý vị có thể giúp bất cứ bao nhiêu tiền để lương tâm được thanh thản rằng ta đã không vô ơn với Chính Phủ và nhân dân Hoa Kỳ đã cưu mang, giúp đỡ ta khi mới tới đất Mỹ.

Riêng tôi muốn có một TỔ CHỨC của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản lạc quyên để giúp đỡ nạn nhân bão Sandy thì tỏ được lòng biết ơn rộng và sâu hơn là cá nhân. Tuy nhiên chờ mãi mà không thấy có tổ chức nào, hội đoàn nào lên tiêng nên đã làm theo cá nhân và kêu gọi cá nhân giúp đỡ vậy.

Mong lắm thay.

Kính
TDT
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

                                   Nước Mỹ trong tôi
                                                                                             Huy Phương

Nữ thần Tự Do ngụp lặn trong cuồng bão Sandy - 29 Oct. 2012

Theo bản thống kê dân số của Hoa Kỳ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung,” nhưng thực tế là vĩnh viễn.

Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.
Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 300 năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.
Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.
Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà. Một người Việt xa quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi. Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.
Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!
Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.
Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.
Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết.
Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.
Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.
Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại.
Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông Khổng Tử: “ Ở chung với người bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!” Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết. Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!
Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.
Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.
Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời sống này! Huy Phương 

Bài Xem Nhiều